Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Các chuyến thăm của
nguyên thủ quốc gia hầu như luôn tạo ra một sự náo nhiệt tại Cung điện Jokhang.
Trong những ngày trước đó, các sĩ quan tình báo với vẻ mặt nghiêm nghị sẽ muốn
xem xét kỹ lưỡng từng ngăn tủ trong khu phức hợp. Trưởng ban lễ tân sẽ họp bàn
về những chi tiết nhỏ nhất. Người ta đã nỗ lực hết sức để đảm bảo mọi tình huống
bất ngờ đều được tính đến, từ vị trí của các đội an ninh trên các mái nhà gần
đó đến chất liệu giấy vệ sinh được cung cấp cho các vị khách VIP, nếu cần thiết.
Đó là lý do tại sao tôi
hoàn toàn bất ngờ vào ngày Đức Thánh Thiện tiếp đón một vị khách không chỉ là
lãnh đạo quốc gia mà còn là một nữ hoàng thực sự.
Không hề có sự chuẩn bị
cầu kỳ nào trước đó. Chỉ có một chuyến thăm an ninh kín đáo nửa tiếng trước, điều
này thật trớ trêu, bởi vì tôi biết rằng vị khách hoàng gia đặc biệt này là người
mà Đức Thánh Thiện rất muốn gặp. Trước đây, tôi đã nghe ngài nói về cả hoàng hậu
trẻ và chồng bà với những lời lẽ trìu mến. Bà không chỉ vô cùng xinh đẹp mà còn
là vợ của vị vua của quốc gia Phật giáo duy nhất trên thế giới nằm ở dãy
Himalaya.
Dĩ nhiên,
tôi đang nói về hoàng hậu của Bhutan.
Đối với những độc giả
không dành thời gian đi học để nghiên cứu các bản đồ vùng Himalaya – liệu những
người như vậy có tồn tại không? – Bhutan là một quốc gia nhỏ nằm phía đông
Nepal, phía nam Tây Tạng và hơi phía bắc Bangladesh. Đó là nơi mà bạn có thể đã
bỏ qua nếu một miếng cá hồi hun khói rơi từ bánh mì bagel của bạn xuống sai vị
trí trên bản đồ. Điều tương tự cũng có thể nói về một nửa số quốc gia ở châu
Âu, nhưng nếu bỏ sót Bhutan thì đó sẽ là một sự thiếu sót khủng khiếp, bởi vì,
đơn giản là, nó là nơi gần Shangri-la nhất trên Trái đất. Một vương quốc xa xôi
và biệt lập, không thể xuyên thủng sau dãy Himalaya, cho đến những năm 1960, Bhutan
không có tiền tệ quốc gia hay điện thoại, và truyền hình chỉ xuất hiện vào năm
1999. Cuộc sống của người dân theo truyền thống tập trung vào việc trau dồi sự
giàu có nội tâm hơn là sự sung túc vật chất. Chính nhà vua Bhutan, vào những
năm 1980, đã thiết lập một hệ thống đo lường sự tiến bộ của quốc gia dựa trên Tổng
Hạnh phúc Quốc gia (GNP) thay vì Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP).
Bhutan, vùng đất của những
ngôi đền mái vàng nằm cheo leo trên những vách đá hiểm trở, của những lá cờ cầu
nguyện tung bay trên những vực sâu hun hút, và của những nhà sư tụng kinh trong
những ngôi đền cổ kính từ thế kỷ thứ bảy ngập tràn hương trầm, thấm đẫm một vẻ
đẹp kỳ diệu. Và có một sự hiện diện đặc biệt của vị hoàng hậu trẻ khi bà xuất
hiện trong phòng của Đức Thánh Thiện.
Tôi đang ngồi ở chỗ quen
thuộc trên bệ cửa sổ, ngủ gật dưới ánh nắng ban mai, thì nghe Lobsang xướng tên
bà. Nghe thấy cụm từ “Nương Nương”, tôi lăn người nằm ngửa và để đầu thò ra khỏi
mép bệ cửa sổ.
Ngay cả khi nhìn bà ấy lộn
ngược, tôi vẫn có thể thấy bà ấy là một người vô cùng thanh tao. Nhỏ nhắn, làn
da vàng óng, mái tóc dài đen mượt, bà ấy toát lên vẻ đẹp tinh tế quyến rũ.
Trong bộ kira truyền thống của Bhutan—một chiếc váy dài đến mắt cá chân được
thêu thùa cầu kỳ— bà ấy trông gần như giống một búp bê. Tuy nhiên, cách bà ấy
di chuyển lại rất tự nhiên và không gượng ép, toát lên sự ấm áp sâu sắc.
Tôi chứng kiến bà ấy
dâng chiếc khăn trắng truyền thống lên Đức Thánh Thiện, khuôn mặt cúi gằm và
hai tay chắp lại trước ngực trong một cử chỉ thành kính. Sau nghi thức trao đổi,
bà ấy liếc nhìn quanh phòng trước khi ngồi xuống—và lập tức nhìn thấy tôi.
Ánh mắt chúng tôi chạm
nhau và dù chỉ nhìn nhau trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng một điều quan trọng
đã được truyền đạt. Tôi lập tức biết rằng bà ấy là một trong số chúng ta.
Một người yêu mèo.
Khi bà ấy ngồi xuống,
tôi có cảm giác như bà ấy cọ xát trên tấm kira và vỗ nhẹ lên đùi bà để chờ đợi
điều sắp xảy ra. Lăn khỏi bệ cửa sổ, tôi đáp xuống thảm và thực hiện động tác
chào mặt trời, duỗi thẳng hai chân trước một cách thoải mái, rồi thực hiện động
tác chào mặt trời ngược, run rẩy hai chân sau kèm theo cái đuôi lắc lư, trước
khi tiến đến chỗ bà ấy ngồi. Nhảy lên đùi bà ấy, tôi nằm yên ngay lập tức, và bà
ấy bắt đầu vuốt ve cổ tôi, như những người bạn cũ mà chúng tôi biết một cách trực
giác rằng chúng tôi là như vậy.
Chỉ có một số ít người sở
hữu khả năng thấu hiểu bẩm sinh về sự thay đổi tâm trạng của loài mèo: những gì
chúng ta muốn vào lúc này có thể hoàn toàn khác với những gì chúng ta mong muốn
chỉ vài khoảnh khắc trước đó. Một số người biết rằng họ không nên vuốt ve mèo
cho đến khi chúng tôi buộc phải quay lại và đưa ra một lời cảnh báo sắc bén,
thường nhắm vào ngón trỏ. Một số ít người hiểu rằng chỉ vì chúng ta đã ngấu
nghiến một hộp gà tây nướng với vẻ ngon lành vào một ngày nào đó không có nghĩa
là chúng ta có chút hứng thú nào khi nhìn thấy món ăn tương tự vào ngày hôm
sau.
Chẳng phải Winston
Churchill từng nói rằng mèo là một câu đố, ẩn chứa một điều bí ẩn, bên trong là
một bộ lông mềm mại đáng yêu sao? Không phải à? Tôi nhớ là mới đây mình đã đọc
được điều gì đó tương tự trong một bài báo về ông ấy. Và nếu ông ấy không nói
ra, thì chắc chắn ông ấy cũng nghĩ như vậy. Cần phải báo cho Wikipedia biết!
Và rồi còn có Albert Einstein, người được cho là đã nói rằng
âm nhạc và mèo là lối thoát duy nhất khỏi những khổ đau của cuộc sống. Lưu ý rằng,
về chủ đề các loài động vật nuôi khác, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế kỷ 20 lại
im lặng một cách kỳ lạ. Tôi sẽ để bạn đọc tự rút ra kết luận của riêng mình.
Chúng tôi, những chú
mèo, không phải là những con thú máy móc có thể được huấn luyện để nhảy lên, ngồi
xuống, hoặc tiết nước dãi khi nghe mệnh lệnh hay tiếng chuông reo. Bạn đã từng
nghe về con mèo của Pavlov chưa?
Điểm này của tôi là
chính xác. Chính tư tưởng này là không thể tưởng tượng.
Không, những con mèo thật
sự là một huyền bí, đôi khi ngay cả chính chúng ta. Hầu hết mọi người muốn đối
xử với chúng tôi với sự tôn trọng dành cho những ai đã thêm vào quá nhiều vào tổng
lượng toại nguyện của con người trong khi đòi hỏi quá ít. Chỉ một số rất ít người
thật sự thấu hiểu chúng tôi. Và hoàng hậu Bhutan là đứng đầu trong thiểu số ấy.
Sau một vài cử chỉ xả
giao, bà chụm những đầu ngón tay vào nhau và xoa bóp trán của tôi với những
móng tay của bà, gởi đi sự rùng mình cơn rùng mình sung sướng tận cùng đi xuống
từ xương sống của tôi đến tận cùng đầu mút đang tê rần của chiếc đuôi của tôi.
Tôi đáp lại bằng tiếng gừ
trầm ấm của nàng.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, người
đang lịch sự hỏi thăm sức khỏe của nhà vua và các thành viên hoàng gia Bhutan
khác, nhìn sang tôi. Ngài có thói quen hỏi khách đến thăm xem họ có phiền khi
tôi ở trong phòng không. Dường như một số người bị dị ứng với một thứ gì đó mà
chắc hẳn phải dữ dội như phản ứng với sô cô la nấm cục Bỉ, cà phê Ý, hay nhạc
Mozart chẳng hạn. Hoàng hậu rất quan tâm đến tôi nên Đức Đạt Lai Lạt Ma không cần
phải hỏi, nhưng gật đầu về phía tôi, ngài nói: “Điều này thật đặc biệt. Tôi
chưa bao giờ thấy cô nàng lại nhanh chóng quý mến ai như vậy! Chắc hẳn cô nàng
rất thích bà.”
-“Và tôi rất thích nó,” Hoàng
hậu Nương Nương đáp. “Nó thật tuyệt vời!”
-“Sư tử Tuyết nhỏ bé của
chúng ta.”
-“Tôi chắc chắn nó mang
lại cho người nhiều niềm vui.” Bà hoàng dùng đầu ngón tay xoa bóp đôi tai đen
như than của tôi với độ mạnh vừa phải.
Đức Thánh Thiện cười
khúc khích. “Nó có cá tính tuyệt vời!”
Cuộc trò chuyện tiếp tục;
hoàng hậu thảo luận về nhiều thực hành Phật pháp khác nhau. Trong khi họ trò
chuyện, bà tiếp tục những lời an ủi đầy yêu thương, và chẳng mấy chốc tôi đã
rơi vào trạng thái hạnh phúc nửa tỉnh nửa mê, với cuộc trò chuyện giữa hai người
như đang lơ lửng trên đầu tôi.
Trong những tuần gần
đây, tôi đã nỗ lực hết sức để thực hành thiền định hàng ngày, sau lời nhắc nhở
nghiêm khắc của Geshe Wangpo. Tôi cũng đã nhiều lần đến chùa, tham dự các buổi
giảng dạy của nhiều vị lạt ma cao cấp. Mỗi lần, một khía cạnh khác nhau của việc
tu tập Phật pháp được thảo luận. Và trong mỗi dịp đó, việc tu tập dường như rất
quan trọng.
Rèn luyện tâm trí là nền
tảng của mọi hoạt động Phật giáo, và chúng ta được khuyến khích phát triển khả
năng tập trung mạnh mẽ không chỉ khi thiền định mà còn bằng cách thực hành
chánh niệm suốt cả ngày. Như một vị lạt ma đã giải thích, nếu chúng ta không nhận
thức một cách khách quan về những suy nghĩ của mình từng khoảnh khắc mà thay
vào đó lại tham gia vào từng suy nghĩ đó, thì làm sao chúng ta có thể bắt đầu
thay đổi chúng? Ông nói: “Bạn không thể quản lý những gì bạn không theo dõi”.
Chánh niệm, dường như, là một thực hành nền tảng.
Một vị thầy khác giải
thích rằng sáu ba la mật hoàn hảo chính là cốt lõi của truyền thống Phật giáo.
Nếu chúng ta không thực hành bố thí, trì giới và nhẫn nhục, chỉ cần kể ra ba
trong số đó thôi, thì việc học kinh sách hay tụng niệm thần chú có ý nghĩa gì?
Vị thầy nói rằng, nếu thiếu đức hạnh, thì mọi hoạt động Phật pháp khác của
chúng ta đều sẽ không có ý nghĩa gì.
Một vị Lạt Ma khác giải
thích rằng trí tuệ về bản chất của thực tại là điều làm nên sự khác biệt giữa giáo
lý của Đức Phật với tất cả các giáo lý khác. Ngài nhấn mạnh rằng thế giới hiện
ra trước mắt chúng ta chỉ là ảo ảnh, và để hiểu được chân lý vô cùng tinh tế
này cần rất nhiều sự lắng nghe, suy ngẫm và thiền định (văn, tư, tu). Chỉ những
ai hiểu được chân lý một cách trực tiếp và phi khái niệm mới có thể đạt được niết
bàn.
Khi tư tưởng của tôi đan
dệt vào trong và ra ngoài với đối thoại giữa hoàng hậu và Đức Đạt Lai Lạt Ma,
tôi nhớ lại giáo huấn mà tôi đã nghe chỉ mới đêm trước. Nơi đó trong ngôi đền
ánh sáng dịu nhẹ, với vô số Đức Phật và
Bồ tát nhìn xuống chúng tôi trong hình tướng của những bức tượng và tranh thờ
treo trên tường, một trong những hành giả du già tôn kính nhất của tu viện
Namgyal đã diễn tả những thực hành tantra phong phú của truyền thống mật tông,
kể những phần tập trung vào Tara Trắng và
Đức Phật Dược Sư. Mỗi sự thực hành diễn ra với những văn bản, hay nghi
quỹ của nó, để trì tụng, cùng với sự quán tưởng và những mật ngôn tương ứng.
Những tantra nào đó là
quan trọng quyết định, nếu chúng ta mong
ước thành tựu Giác Ngộ một cách nhanh chóng.
Ai không như thế?
Càng học hỏi về Phật
Giáo Tây Tạng, thì tôi càng nhận ra rằng tôi biết rất ít ỏi về nó. Không cần phải
hỏi, những giáo huấn rất thú vị và hấp dẫn, và luôn luôn có những thực tập mới
mẻ và bí ẩn sắp xảy ra. Nhưng tôi cũng cảm thấy bối rối.
Chỉ mơ màng về cuộc đối
thoại tiếp diễn ở phía trên, nhưng tôi trở lại hoàn toàn ý thức khi tôi nghe
hoàng hậu nói, “Thưa Đức Thánh Thiện, có quá nhiều sự thực tập trong truyền thống
của chúng ta. Nhưng thứ nào là quan trọng nhất?
Giống như bà đang đọc được
tâm ý của tôi! Đó là câu hỏi của tôi, mặc dù tôi đã không quá lắm lời. Đó là điều
mà tôi muốn biết!
Đức Thánh Thiện không do
dự. “Không cần phải hỏi, điều quan trọng nhất là thực tập tâm bồ đề.”
Bà khẳng định: “Nguyện vọng
thành tựu Giác Ngộ nhằm đề hướng dẫn tất của chúng sanh đến cùng thể trạng ấy.”
Ngài gật đầu. “Tâm Giác
Ngộ này dựa trên lòng đại bi thanh tịnh, mà điều này lại dựa trên lòng đại từ
thuần khiết. Trong mỗi trường hợp phương tiện trong sạch không tách rời, không
thiên vị. Vô điều kiện. Và phương tiện lớn làm lợi ích tất cả chúng sanh, không
chỉ là một nhóm nhỏ xảy ra như chúng ta hiện tại.
Từ nhận thức của chúng
ta, cung cách duy nhất để thụ hưởng thể trạng hạnh phúc thường xuyên và tránh mọi
khổ đau là thành tựu Giác Ngộ. Đây là tại sao tâm bồ đề được xem là động cơ vị
tha nhất. Chúng ta mong muốn thành tựu Giác Ngộ không chỉ cho chính chúng ta
nhà để hổ trợ tất cả các chúng sanh khác đạt đến cùng thể trạng ấy.
“Một động cơ rất thử
thách.”
Đức Thánh Thiện mĩm cười.
“Dĩ nhiên! Đó là công việc của cả cuộc đời để chuyển hóa tâm Giác Ngộ chỉ từ một
ý tưởng dễ thương thành một niềm tin sâu sắc chân thành. Khi chúng ta bắt đầu
nó có thể cảm giác giống như chúng ta đúng là đang hành động. Chúng ta có thể
nghĩ, Tôi
đang tự lừa dối chính mình à, đang
cố gắng để giả vờ như tôi có thể trở thành một
Đức Phật và hướng dẫn tất cả chúng sanh đi đến Giác Ngộ? Nhưng từng bước
một, chúng ta phát triển sự thấu hiểu. Chúng ta thấy rằng những người khác đã
làm như vậy rồi.
Chúng ta phát triển sự tự
tin vào chính những năng lực của chúng ta. Chúng ta tu tập để trở nên ít tập
trung vào mình hơn và tập trung vào những người khác hơn.
“Tôi một lần đã nghe một
định nghĩa thú vị về một con người thánh thiện: ‘Một con người thánh thiện là một
người nào đó nghĩ nhiều về người khác hơn chính họ.’ Điều này thật lợi lạc, bà
có đồng ý không?”
Hoàng hậu nương nương gật
đầu trước khi trầm ngâm, “Đồng thuận với một lý tưởng về tâm bồ đề là một việc.
Nhưng phải nhớ nghĩ để đem nó vào trong sự thực hành...”
-Vâng, chánh niệm về tâm
bồ đề là lợi ích nhất. Chúng ta có thể áp dụng nó và rất nhiều những hành vi của
thân, khẩu và ý. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta là phong phú với khả năng để
thực hành tâm bồ đề - và mỗi lần chúng ta là như thế, như Đức Phật nói, tác động tích cực trên tâm thức
của chúng ta là vượt khỏi mọi sự đo lường.”
“Tại sao to lớn như thế,
thưa Đức Thánh Thiện?”
Đức Đạt Lai Lạt Ma
nghiêng mình về phía trước. “Năng lực của đạo đức là mạnh mẽ mạnh mẽ hơn năng lực
của tiêu cực. Và không có đạo đức nào to lớn hơn tâm bồ đề. Khi chúng ta trau dồi
tâm thức này là chúng ta đang tập trung vào những phẩm chất nội tại, không phải
những thứ bên ngoài. Chúng ta đang nhớ lại
sự hạnh phúc cát tường của người khác, không phải nghĩ về chính mình. Bà thấy,
điều này là một nhận thức bao quát, không bị giới hạn vào tương lai ngắn hạn của
kiếp sống này. Nó ngược lại những suy nghĩ thông thường của chúng ta. Chúng ta
đang thiết lập tâm thức chúng ta vào một tiến trình phát triển rất khác biệt, rất
năng lực.”
“Ngài nói rằng cuộc sống
hằng ngày là rất phong phú với những cơ hội để thực tập phải không?”
Đức Thánh Thiện gật đầu.
“Mỗi lần chúng ta làm điều gì đấy dễ thương cho một người khác, ngay cả nếu nó
là một việc thường lệ mà người ta mong đợi, thì chúng ta có thể làm việc ấy với
suy nghĩ ‘Bằng hành động này của tình thương, hay trao tặng hạnh phúc, nguyện
cho tôi thành tựu Giác Ngộ để giải thoát tất cả chúng sanh.’ Mỗi lần chúng ta
thực hành bố thí, cho dù đó là một sự cúng dường, hay từ thiện, hay nuôi dưỡng
một con mèo, thì chúng ta cũng có thể suy nghĩ tương tự như vậy.”
Vào lúc ấy tôi ngáp một
hơi dài. “Đức Đạt Lai Lạt Ma và hoàng hậu cùng cười lớn. Rồi thì, khi bà nhìn
xuống vào đôi mắt ngọc lam của tôi, hoàng hậu nương nương nói, “Đó là nghiệp,
có phải không, đã đem mọi người và những chúng sanh khác vào trong cuộc sống của
chúng ta?”
Đức Thánh Thiện gật đầu.
“Nếu có một sự liên kết rất mạnh mẽ, đôi khi cùng chúng sanh ấy có thể trở lại
lần này và lần nữa,...”
“Đôi khi người ta nghĩ rằng
thật ngớ ngẫn khi trì tụng mật ngôn lớn tiếng vì lợi ích của những con vật.”
“Không, không ngớ ngẫn,”
Đức Thánh Thiện nói. “Điều này có thể rất lợi ích. Chúng ta có thể tạo nên – bà
nói thế nào? - một dấu ấn thiện nghiệp tốt lành vào dòng tương tục tâm thức của
một chúng sanh vốn có thể chín muồi khi nó gặp những điều kiện đúng đắn tốt đẹp
trong tương lai. Có những câu chuyện trong kinh về vấn đề những thiền giả nói mật
ngôn lớn tiếng vào những con chim như thế nào. Trong các kiếp sống tương lai,
những con chim hướng tâm về giáo pháp và có thể thấy được Giác Ngộ.
-“Vậy thì Sư Tử bé nhỏ
này phải có những dấu ấn nghiệp vô cùng tốt đẹp nào đó?”
Đức Đạt Lai Lạt Ma mỉm
cười hạnh phúc. “Không nghi ngờ gì nữa?”
Rồi thì hoàng hậu nói điều
gì đó dường như không bình thường. Càng bất thường hơn, với cảm nhận muộn màng.
“Nếu bà từng có những con mèo của chính bà,” bà lẩm bẩm, “thật vô cùng danh dự
để cho những con mèo một ngôi nhà.”
Đức Thánh Thiện chặp hai
tay vào nhau. “Tốt quá!” ngài nói.
-“Tôi nói thật đấy!”
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn
đôi mắt bà với một biểu lộ của lòng thương vô bờ bến. “Tôi sẽ nhớ,” ngài nói.
Vài buổi sáng sau đó,
tôi tự tin nhún nhảy vào văn phòng của trợ lý cấp cao. Những chiếc phone im lặng,
thư từ hàng ngày chưa đến, và trong khoảng lặng bất thường của hành động,
Chogyal đã làm những cốc trà, mà hai người đàn ông thường thưởng thức với vài
miếng bánh mì bơ Scotland, do bà Trinci gởi tặng.
“Chào buổi sáng, HHC,”
Chogyal chào mừng, khi tôi co mình lại dựa vào đôi chân phủ cà sa của ông. Ông
khom mình xuống vuốt ve tôi.
Tenzin dựa lưng vào ghế
của ông. “Cô nàng đã ở với chúng ta bao lâu rồi, ông thể nói không?”
Chogyal nhún
vai. “Một năm?”
-“Lâu hơn thế.”
-“Trước Kyi Kyi.”
-“Trước Kyi Kyi lâu mà.”
Tenzin cắn một miếng bánh mì đường với phong thái ngoại giao. “Có phải khoảng
thời gian vị giáo sư Oxford thăm viếng không?”
-“Tôi có thể nói với
huynh một cách chính xác.” Chogyal nghiêng về phía trước tới máy vi tính của
ông và tìm lại trên lịch.
-“Có nhớ không? Đó là
ngày Đức Thánh Thiện từ Mỹ trở về.”
-“Đúng đấy!”
-“Đó là mười ba, mười bốn,
..., mười sáu tháng trước.”
-“Lâu vậy à?”
-“Vô thường,” Chogyal nhắc
ông ta, bún ngón tay của ông.
-“Hmmm”
-“Có bất cứ lý do nào
không-?”
-“Tôi chỉ nghĩ thế,”
Tenzin nói, “cô nàng không còn là một con mèo con. Khi nó được chích ngừa, người
ta gợi ý là nên đem nó đi triệt sản. Và cấy một con chip điện tử.”
-“Tôi sẽ ghi chú lại để
liên lạc với bác sĩ thú y,” Chogyal nói, thêm việc này vào danh sách việc cần
làm hàng ngày của mình. “Chiều thứ Sáu tôi sẽ có thời gian đưa cô nàng ấy đi
khám.”
Chiều thứ Sáu hôm đó,
tôi ngồi trên đùi Chogyal ở ghế sau xe của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và người lái xe—Càng
ít nói về ông ta càng tốt— đã lái xe đưa chúng tôi từ Jokhang đến phòng khám
thú y hiện đại ở Dharamsala. Không cần lồng nhốt, giỏ đựng đồ hay tiếng kêu gào
mất văn minh. Xét cho cùng, tôi là Mèo của Đức Thánh Thiện. Trên đường xuống đồi,
tôi chăm chú quan sát khung cảnh đang diễn ra, ria mép khẽ rung lên vì tò mò. Nếu
có gì cần được an ủi, thì đó chính là Chogyal, vì ông ôm chặt lấy tôi một cách
lo lắng, lẩm bẩm những câu mật ngôn dưới hơi thở.
Bác sĩ Wilkinson, một
bác sĩ thú y người Úc cao lớn, nhanh chóng đưa tôi lên bàn khám, rồi tiến hành
mở miệng tôi, chiếu đèn vào tai và kiểm tra thân nhiệt, một việc làm khá là xúc
phạm.
-“Thời gian dường như
trôi đi quá nhanh,” Chogyal nói với ông ấy. “Cô Mèo đã ở bên chúng tôi lâu hơn
chúng tôi tưởng.”
-“Cô nàng đã được tiêm
phòng đầy đủ rồi,” bác sĩ thú y trấn an ông. “Đó là điều quan trọng nhất. Cô ấy
đã giảm cân một chút so với lần cuối tôi gặp, điều này là cần thiết. Bộ lông của
cô ấy rất tốt.”
-“Chúng tôi muốn gắn
chip định vị cho nó. Và triệt sản nữa.”
-“Cấy chip định vị”—Bác
sĩ Wilkinson vừa xoa bóp người tôi—“luôn là một ý kiến hay. Chúng tôi thường
xuyên nhận được những thú cưng bị lạc, và chúng tôi không có cách nào liên lạc
được với chủ nhân của chúng. Thật đau lòng.”
Ông ta dừng lại, hai tay
không còn cử động nữa. “Nhưng chúng ta phải hoãn việc triệt sản lại một thời
gian.” Lông mày của Chogyal nhíu lại. “Chúng ta không nghĩ đến chuyện này ngay
bây giờ—”
-“Sáu tuần. Có thể là một
tháng.” Bác sĩ thú y nhìn ông ta với ánh mắt đầy ẩn ý.
Chogyal vẫn không hiểu.
"Lịch phẫu thuật của ông đã kín hết rồi à?"
Bác sĩ Wilkinson lắc đầu
mỉm cười. "Hơi muộn để triệt sản rồi, ông bạn," ông nói với Chogyal.
"Con mèo của Đức Thánh Thiện sắp làm mẹ rồi."
-“Chúng ta sẽ đặt tên
cho chúng là gì?” là phản ứng của người lái xe khi Chogyal báo tin trên đường về
nhà.
Chogyal nhún vai. Tôi
đoán ông ta đang bận tâm đến những chuyện khác. Chẳng hạn như làm sao để báo
tin cho Đức Thánh Thiện.
-“Micey-Tungs?” người
lái xe đề nghị./.












