‘Đừng hiểu sai lời Phật.
What Buddha actually taught about “rebirth” and life after
death. “Don’t misunderstand the Buddha.”
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Một trong những hiểu lầm lớn nhất về giáo lý Phật giáo là
những gì Đức Phật dạy về cái chết. Ngài dạy Bát Chánh Đạo như một phương pháp để
thoát khỏi luân hồi và khổ đau — đó là lý do tại sao Ngài thường từ chối nói về
“cuộc sống sau khi chết[1]”, vì điều đó không quan trọng
đối với “cuộc sống thánh thiện”, nhưng điều này không có nghĩa là Ngài phủ nhận
vòng luân hồi. Thực tế, Ngài đang cố gắng dạy chúng ta cách thoát khỏi bánh xe
khổ đau thông qua vô số kiếp sống.
Đúng là Phật giáo phủ nhận một cái “ngã” hay “linh hồn” bất
biến — nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại. Bản chất của tồn tại
là sự biến đổi. Điều chúng ta là hôm nay đã trở thành quá khứ vào ngày mai.
Chúng ta không còn giống như mình của mười năm trước, và cũng không hoàn toàn
giống như chính mình của năm nay. Đức
Phật dạy rằng cái “cái tôi” (bản ngã) mà chúng ta hiểu theo cách thông thường
là không đúng — chứ không phải là chúng ta không tồn tại, hay sẽ hoàn toàn
không còn tồn tại. Mà đúng hơn, chúng ta chưa bao giờ tồn tại theo cách mà
chúng ta vẫn tưởng về sự tồn tại ấy.
Rõ ràng Đức Phật đã thấu hiểu không chỉ thế giới của
chúng ta mà còn cả sự phức tạp của sự tồn tại.
“Vì
thật sự có một thế giới khác, nên người giữ quan điểm ‘không có thế giới khác’
là người có tà kiến…”
— Đức
Phật, → Trung Bộ Kinh, trang
i.402, Kinh Không Thể Sai Lầm
(hay Kinh Chắc Chắn Đúng)
Majjhima Nikaya i.402, Kinh Apannaka Sutta, bản dịch của Peter Harvey.
Sự
hiểu lầm bắt đầu từ đây.
Một trong những hiểu lầm quan trọng là “điều gì” được tái
sinh. Trong Phật giáo, giáo lý về vô thường phủ nhận khả năng tồn tại của một
“linh hồn” thường hằng, bất biến — nhưng đây cũng là giới hạn của ngôn ngữ. Bởi
vì mọi thứ luôn thay đổi, nên không có gì là “vĩnh viễn”. Trong nhiều bài kinh (Sutta), điều được tiếp
nối và “di chuyển” qua đời sống hiện tại cũng như các đời sống tương lai là
dòng tương tục của tâm thức. Trong
Kinh Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm (Bhayabherava
Sutta - MN 4), Đức Phật được
mô tả là nhớ lại các đời sống quá khứ của chính mình.
Thật
vậy, tái sinh được mô tả là một yếu tố quan trọng của Chánh Kiến — một trong những
giáo lý nền tảng của Đức Phật trong Bát Chánh Đạo — trong Kinh Đại Tứ Thập (Mahācattārīsaka Sutta (MN 117).
Nói cách khác, không phải Đức Phật không tin vào tái
sinh, nhiều cõi giới hay các đời sống quá khứ — mà là, xét ở mức tối hậu, những
điều đó không phải là điều quan trọng nhất đối với người đang tìm kiếm đời sống
thánh thiện (Holy Life / phạm hạnh).
Nổi tiếng nhất là việc Đức Phật từ chối trả lời câu hỏi:
“Sau khi chết, Như Lai còn tồn tại hay không?”
Vì sao Ngài không trả lời câu hỏi về cái chết và đời sống
sau khi chết — điều khiến rất nhiều chúng sinh lo lắng? Trong Kinh Tiểu
Mālunkyā (Cula-Malunkyovada
Sutta (MN 63), Đức Phật nói:
“Và
tại sao những điều ấy không được Ta tuyên bố? Bởi vì chúng không liên quan đến
mục đích, không phải là nền tảng của đời sống thánh thiện.”
Do đó, vì chúng sinh vốn dễ rơi vào lo âu và chấp thủ — đặc
biệt là sự chấp thủ vào thân thể — chúng ta có thể hiểu sai “sự im lặng” của Đức
Phật. Một đệ tử của Đức Phật là Yamaka đã hiểu sai
giáo lý, cho rằng Đức Phật dạy rằng sau khi chết thì không có gì “tồn tại” nữa.
Trong Kinh Yamaka Sutta, sự hiểu lầm nguy hiểm này đã được điều chỉnh và làm
sáng tỏ.
Trong nhiều bài kinh (Sutta), tái sinh được mô tả một
cách rõ ràng.
Rõ ràng từ các kinh điển sơ kỳ rằng tái sinh được thừa nhận
như một phần của giáo lý Duyên khởi
— trong đó “sinh” được nêu cụ thể là một mắt xích quan trọng. Các truyện Tiền Thân (Jataka Tales) — kể về những tiền kiếp của Đức Phật — cũng
mô tả rõ việc Đức Phật nhớ lại các đời sống trước đây của mình.
Trong các kinh sutta cổ, sự tái sinh được mô tả bằng nhiều
thuật ngữ khác nhau, bao gồm Punagamana,
Punavasa, Punanivattati, Abhinibbatti.
Các Kinh (Sutta) cụ thể đề cập đến tái sinh như một hiện
tượng có thật gồm: Kinh Mahakammavibhanga (Trung Bộ Kinh – MN
136), Kinh Upali (MN 56), Kinh
Kukkuravatika (MN 57), Kinh Moliyasivaka (Tương Ưng Bộ Kinh – SN
36.21), Kinh Sankha (SN 42.8).
Kinh Yamaka – điều chỉnh lại những hiểu lầm về cái chết
Yamaka là một kinh có ý nghĩa sâu sắc. Ngay cả những người
Phật tử đôi khi cũng hiểu sai Pháp khi bàn về điều gì cấu thành nên sự sống và
cái chết. Vì cách chúng ta nhận thức về
thế giới và cuộc sống chính là trọng tâm của giáo lý, nên tham ái và chấp thủ
chính là nguyên nhân gây ra khổ đau. Nỗi sợ cái chết và bệnh tật cũng là một dạng
“khổ” như vậy.
Trong Kinh Yamaka, Tỳ-kheo Yamaka đã bị sửa sai rất nhanh:
“Đừng nói vậy, hiền
hữu Yamaka. Đừng xuyên tạc Thế Tôn. Không nên xuyên tạc Thế Tôn, vì Thế Tôn sẽ
không nói rằng: ‘Một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng
chung thì bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’”
Vacchagotta về Lửa — “loại bỏ các niềm tin cố
chấp”
Trong Trung Bộ Kinh 72 “Vacchagotta về Lửa”, chúng ta thấy
rằng ngay cả những đệ tử tận tụy nhất của giáo Pháp
cũng có thể bị nhầm lẫn:
“Như
Lai đã loại bỏ mọi quan điểm cố chấp. Vì Như Lai đã thấy: ‘Như vậy là sắc, như
vậy là sự sinh khởi của sắc, như vậy là sự đoạn diệt của sắc. Như vậy là thọ,
như vậy là sự sinh khởi của thọ, như vậy là sự đoạn diệt của thọ. Như vậy là tưởng,
như vậy là sự sinh khởi của tưởng, như vậy là sự đoạn diệt của tưởng. Như vậy
là các hành, như vậy là sự sinh khởi của các hành, như vậy là sự đoạn diệt của
các hành. Như vậy là thức, như vậy là sự sinh khởi của thức, như vậy là sự đoạn
diệt của thức.’
Chính
vì vậy, Như Lai được giải thoát nhờ sự chấm dứt, sự phai nhạt, sự đoạn diệt, sự
buông bỏ và từ bỏ mọi sự đồng nhất hóa, mọi lo âu, và mọi chấp ngã, chấp thủ,
hay khuynh hướng ngầm của ngã mạn—ta nói vậy.”
“Thưa Tôn giả
Gotama, khi tâm của một vị khất sĩ được giải thoát như vậy, họ tái sinh ở đâu?”
“‘Họ
tái sinh’ không phù hợp, này Vaccha.”
“Vậy
thì họ không tái sinh sao?”
“‘Họ
không tái sinh’ cũng không phù hợp, này Vaccha.”
“Vậy
họ vừa tái sinh vừa không tái sinh sao?”
“‘Vừa
tái sinh vừa không tái sinh’ cũng không phù hợp, này Vaccha.”
“Vậy
họ không phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh sao?”
“‘Không
phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh’ cũng không phù hợp, này
Vaccha.”
Về sau trong kinh, Đức Phật giải thích cho cư sĩ
Vacchagotta bằng thí dụ về ngọn lửa:
“Này
Vaccha, ông nghĩ sao? Giả sử có một ngọn lửa đang cháy trước mặt ông. Ông có biết
rằng: ‘Ngọn lửa này đang cháy trước mặt tôi’ không?”
“Bạch Đạo Sư Gotama,
có, con biết như vậy.”
“Nhưng này Vaccha,
giả sử người ta hỏi ông: ‘Ngọn lửa đang cháy trước mặt ông này, nó dựa vào cái
gì mà cháy?’ thì ông sẽ trả lời thế nào?”
“Bạch Đạo Sư Gotama,
con sẽ trả lời như sau: ‘Ngọn lửa đang cháy trước mặt con cháy nhờ nương vào cỏ
và củi làm nhiên liệu.’”
“Này
Vaccha, giả sử ngọn lửa đang cháy trước mặt ông bị tắt. Ông có biết rằng: ‘Ngọn
lửa trước mặt tôi đã tắt’ không?”
“Bạch Đạo Sư Gotama,
có, con biết như vậy.”
“Nhưng này Vaccha,
giả sử người ta hỏi ông: ‘Ngọn lửa trước mặt ông đã tắt đó: nó đã đi về hướng
nào—đông, nam, tây hay bắc?’ thì ông sẽ trả lời thế nào?”
“Bạch Đạo Sư Gotama,
điều đó không thích hợp. Ngọn
lửa ấy nương vào cỏ và củi làm nhiên liệu. Khi nhiên liệu ấy cạn kiệt, và không
còn thêm nhiên liệu nào nữa, thì ngọn lửa được xem là đã tắt do không còn nhiên
liệu.”
“Cũng
vậy, này Vaccha, bất kỳ sắc nào mà nhờ đó một Như Lai có thể được mô tả đều đã
bị đoạn tận tận gốc, như gốc cây dừa bị chặt, bị xóa bỏ, và không còn khả năng
sinh khởi trong tương lai. Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi sự quy định dựa
trên sắc. Các Ngài sâu xa, vô lượng, khó dò lường, như đại dương. ‘Các Ngài tái sinh’, ‘Các Ngài không tái
sinh’, ‘vừa tái sinh vừa không tái sinh’, ‘không phải vừa tái sinh cũng không
phải không tái sinh’—tất cả những điều này đều không áp dụng.”
“Bất
kỳ thọ… tưởng… các hành… hay thức nào mà nhờ đó một Như Lai có thể được mô tả đều
đã bị đoạn tận tận gốc, như gốc cây cọ bị chặt, bị xóa bỏ, và không còn khả
năng sinh khởi trong tương lai. Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi sự quy định
dựa trên thức. Các Ngài sâu xa, vô lượng, khó dò lường, như đại dương. ‘Họ tái sinh’, ‘họ không tái sinh’, ‘vừa
tái sinh vừa không tái sinh’, ‘không phải vừa tái sinh cũng không phải không
tái sinh’—tất cả những điều này đều không áp dụng.”
Kinh Yamaka
Tôi được nghe như vầy: vào một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất
đang trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Bấy giờ, một tà kiến đã khởi lên nơi Tôn giả Yamaka rằng:
“Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo
đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu
vong, và không còn tồn tại sau khi chết.”
Một số đông các Tỳ-kheo nghe rằng: “Người ta nói Tôn giả
Yamaka đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một
vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt,
tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’”
Vì vậy, họ đã đi đến gặp Tôn giả Yamaka. Khi đến nơi, họ
chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi và chào đón thân tình, họ
ngồi xuống một bên. Khi
đã ngồi xuống một bên, họ nói với Tôn giả Yamaka: “Này
hiền giả Yamaka, có phải đúng là nơi hiền giả đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo
như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc,
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại
sau khi chết’ không?”
“Vâng, các hiền giả. Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng
dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ
bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.”
“Đừng
nói vậy, hiền giả Yamaka. Đừng xuyên tạc Thế Tôn. Không nên xuyên tạc Thế Tôn,
vì Thế Tôn sẽ không nói rằng: ‘Một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi
thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi
chết.’”
Nhưng mặc dù Tôn giả Yamaka đã bị các Tỳ-kheo đó khiển
trách như vậy, ông — vì tính cố chấp và chấp thủ — vẫn giữ vững tà kiến ấy:
‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn
tại sau khi chết.
Khi các Tỳ-kheo không thể khiến Tôn giả Yamaka từ bỏ tà
kiến của mình, họ đứng dậy rời chỗ ngồi và đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất. Khi đến
nơi, họ nói với ngài: “Thưa Tôn giả
Xá-lợi-phất, tà kiến này đã khởi lên nơi Tôn giả Yamaka: ‘Theo như tôi hiểu
Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi
thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi
chết.’ Nếu Tôn giả vì lòng từ bi, đến khuyên
Tôn giả Yamaka thì thật tốt.
Tôn giả Xá-lợi-phất đồng ý bằng cách im lặng.
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất rời nơi ẩn cư, đến
gặp Tôn giả Yamaka, và khi đến nơi, hai bên chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi
những lời thăm hỏi và chào đón, ngài ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống, ngài nói với Tôn giả Yamaka: “Hiền giả Yamaka, có phải đúng là nơi hiền giả
đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo
đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu
vong, và không còn tồn tại sau khi chết’ không?
“Vâng, thưa tôn giả
Xá-lợi-phất. Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và
không còn tồn tại sau khi chết.
“Hiền giả Yamaka, theo hiền giả, sắc có phải thường hằng
hay vô thường?
“Vô thường, thưa hiền giả.
“Và cái gì vô thường đó có mang lại an lạc hay khổ đau?
“Khổ đau, thưa hiền giả.
“Và có nên xem những gì vô thường, khổ đau, dễ biến đổi
là: ‘Cái này là của tôi. Cái này là tự ngã của tôi. Cái này là tôi’ không?
“Không, thưa hiền giả.
“Thọ có phải thường hằng hay vô thường?
“Vô thường, thưa hiền giả.
“Các hành có phải thường hằng hay vô thường?
“Vô thường, thưa hiền giả.
“Thức có phải thường hằng hay vô thường?
“Vô thường, thưa hiền giả.
“Và cái gì vô thường đó có mang lại an lạc hay khổ đau?
“Khổ đau, thưa hiền giả.
“Và có nên xem những gì vô thường, khổ đau, dễ biến đổi
là: ‘Cái này là của tôi. Cái này là tự ngã của tôi. Cái này là tôi’ không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem sắc là Như Lai không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả có xem thọ là Như Lai không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả có xem tưởng là Như Lai không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả có xem các hành là Như Lai không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả có xem thức là Như Lai không?
“Không, thưa hiền giả.
“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai hiện hữu
trong sắc… hay ngoài sắc… trong thọ… hay ngoài thọ… trong tưởng… hay ngoài tưởng…
trong các hành… hay ngoài các hành… trong thức… hay ngoài thức không?”
“Không, thưa hiền giả.”
“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai là sắc-thọ-tưởng-hành-thức
không?”
“Không, thưa hiền giả.”
“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai là sắc-thọ-tưởng-hành-thức
không?”
“Không, thưa hiền giả.”
“Hiền giả có xem Như Lai là cái gì không có sắc, không có
thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức không?”
“Không, thưa hiền giả.”
“Vậy này hiền giả Yamaka — khi hiền giả không thể xác định
Như Lai là một chân lý hay thực thể ngay cả trong đời này — thì có nên tuyên bố
rằng: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận
các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không
còn tồn tại sau khi chết’ không?”
“Trước đây, hiền giả Xá-lợi-phất, tôi đã ngu si mà giữ lấy
tà kiến đó. Nhưng bây giờ, sau khi nghe lời giải thích của hiền giả về Pháp,
tôi đã từ bỏ tà kiến ấy, và đã thông suốt được Pháp.
“Vậy này hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi hiền giả như
sau: Một vị Tỳ-kheo, một bậc tỳ-kheo đáng tôn kính, đã đoạn tận các lậu hoặc: thì khi thân
hoại mạng chung, sau khi chết, huynh sẽ
trả lời thế nào?”
“Khi được hỏi như vậy, tôi sẽ trả lời: ‘Sắc thì vô thường…
Cảm thọ… Tri giác… Hình thành… Ý thức cũng vô thường. Cái gì vô thường thì khổ.
Cái gì khổ thì đã chấm dứt và đi đến kết thúc.’
“Rất tốt, hiền giả Yamaka ạ. Rất tốt. Trong trường hợp
đó, tôi sẽ đưa cho huynh một
phép ẩn dụ để giúp bạn hiểu điểm này sâu hơn nữa. Giả sử có một chủ nhà hoặc
con trai của một chủ nhà — giàu có, thịnh vượng, sở hữu nhiều tài sản — được
canh gác rất kỹ lưỡng. Rồi giả sử có một người nào đó xuất hiện, mong muốn điều
không đem lại lợi ích cho mình, mong muốn điều không có lợi cho mình, mong muốn
làm mất an toàn của người ấy, mong muốn giết người ấy. Người này sẽ nghĩ: ‘Sẽ
không dễ dàng để giết người này bằng bạo lực. Nếu ta lén lút tiến vào rồi giết
người ấy thì sao?’”
“Vậy người ấy sẽ đến gặp chủ nhà hoặc con trai của chủ
nhà và nói: ‘Xin Ngài nhận tôi làm người hầu, thưa Ngài.’ Nghe vậy, chủ nhà hoặc
con trai của chủ nhà sẽ nhận người này làm người hầu.”
“Khi đã được nhận làm người hầu, người ấy sẽ thức dậy vào
buổi sáng trước chủ nhà, đi ngủ vào buổi tối chỉ sau chủ nhà, làm mọi việc mà
chủ nhà ra lệnh, luôn hành động để làm hài lòng chủ nhà, nói năng lễ phép với
chủ nhà. Rồi chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà sẽ coi người ấy như bạn bè, người
đồng hành, và đặt lòng tin vào người ấy. Khi người hầu nhận ra: ‘Chủ nhà hoặc
con trai của chủ nhà tin tưởng tôi,’ thì khi gặp chủ nhà ở nơi vắng vẻ, người ấy
sẽ giết ông bằng một con dao sắc bén.
“Vậy bạn nghĩ sao, bạn Yamaka ạ? Khi người ấy đến gặp chủ
nhà hoặc con trai của chủ nhà và nói: ‘Xin Ngài nhận tôi làm người hầu, thưa
Ngài’: chẳng phải lúc đó người ấy đã là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là
kẻ giết người, chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ
giết tôi’. Và khi, được nhận làm người hầu, người ấy thức dậy vào buổi sáng trước
chủ nhà, đi ngủ vào buổi tối chỉ sau chủ nhà, làm mọi việc mà chủ nhà ra lệnh,
luôn hành động để làm hài lòng chủ nhà, nói năng lễ phép với chủ nhà: chẳng phải
lúc đó người ấy vẫn là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là kẻ giết người, chủ
nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ giết tôi’. Và khi
người ấy gặp chủ nhà ở nơi vắng vẻ và giết ông bằng một con dao sắc bén: chẳng
phải lúc đó người ấy vẫn là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là kẻ giết người,
chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ giết tôi.’”
“Vâng, hiền hữu của
tôi.”
“Cũng tương tự như vậy, một người chưa được hướng dẫn,
bình thường — không tôn trọng bậc thánh, không tinh thông hay rèn luyện theo
Pháp của họ; không tôn trọng những người liêm chính, không tinh thông hay rèn
luyện theo Pháp của họ — lại cho rằng sắc (thân) là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu
sắc, hoặc sắc có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong sắc.”
“Người ấy cho cảm thọ là tự ngã…
“Người ấy cho tri giác là tự ngã…
“Người ấy cho các hành (hình thành tâm lý) là
tự ngã…
“Người ấy cho ý thức là tự ngã, hoặc tự ngã sở
hữu ý thức, hoặc ý thức có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong ý thức.”
“Người ấy không thấy sắc vô thường, đúng như nó hiện hữu,
là ‘sắc vô thường.’ Người ấy không thấy cảm thọ vô thường, đúng như nó hiện hữu,
là ‘cảm thọ vô thường.’ Người ấy không thấy tri giác vô thường… Người ấy không
thấy các hành vô thường… Người ấy không thấy thức vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘thức
vô thường.’
“Người ấy không thấy sắc khổ, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc
khổ.’ Người ấy không thấy cảm thọ khổ… Người ấy không thấy tri giác khổ… Người ấy
không thấy các hành khổ… Người ấy không thấy ý thức khổ, đúng như nó hiện hữu,
là ‘ý thức khổ.’
“Người ấy không thấy sắc là vô ngã, đúng như nó hiện hữu,
là ‘sắc vô ngã.’ Người ấy không thấy cảm thọ vô ngã… Người ấy không thấy tri
giác vô ngã… Người ấy không thấy các hành vô ngã… Người ấy không thấy thức vô ngã, đúng như nó hiện hữu, là ‘ thức
vô ngã.’
“Người ấy không thấy sắc là do tạo tác, đúng như nó hiện
hữu, là ‘sắc do tạo tác.’ Người ấy không thấy cảm thọ do tạo tác… Người ấy
không thấy tri giác do tạo tác… Người ấy không thấy các hành do tạo tác… Người ấy
không thấy ý thức do tạo tác, đúng như nó hiện hữu, là ‘ý thức do tạo tác.’
“Người ấy không thấy sắc là sát hại, đúng như nó hiện hữu,
là ‘sắc sát hại.’ Người ấy không thấy cảm thọ sát hại… Người ấy không thấy tri
giác sát hại… Người ấy không thấy các hành sát hại… Người ấy không thấy thức sát hại, đúng như nó hiện hữu, là ‘ thức
sát hại.’”
“Người ấy bám chấp vào sắc, dính mắc vào sắc, và xác định
nó là ‘cái tôi.’ Người ấy bám chấp vào cảm thọ… Người ấy bám chấp vào tri giác…
Người ấy bám chấp vào các hành… Người ấy bám chấp vào thức, dính mắc vào thức, và xác định nó là ‘cái tôi.’ Năm uẩn bám
chấp này — bám chấp vào, dính mắc vào — dẫn đến mất mát lâu dài và khổ đau cho
người ấy.
“Còn người đệ tử được hướng dẫn tốt, của những bậc thánh
— người tôn trọng bậc thánh, tinh thông và rèn luyện theo Pháp của họ; người
tôn trọng những người liêm chính, tinh thông và rèn luyện theo Pháp của họ —
thì không cho rằng sắc là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu sắc, hoặc sắc có trong tự
ngã, hoặc tự ngã có trong sắc.
“Người ấy không cho cảm thọ là tự ngã…
Người ấy không cho tri giác là tự ngã…
Người ấy không cho các hành là tự ngã…”
“Người ấy không cho ý thức là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu
ý thức, hoặc ý thức có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong thức.”
“Người ấy thấy sắc là vô thường, đúng như nó hiện hữu, là
‘sắc vô thường.’ Người ấy thấy cảm thọ vô thường… Người ấy thấy tri giác vô thường…
Người ấy thấy các hành vô thường… Người ấy thấy ý thức là vô thường, đúng như
nó hiện hữu, là ‘ thức vô thường.’
“Người ấy nhận biết hình tướng gây căng thẳng, như nó thật
sự hiện hữu, là ‘hình tướng gây căng thẳng.’ Người ấy nhận biết cảm thọ gây
căng thẳng… Người ấy nhận biết tri giác gây căng thẳng… Người ấy nhận biết những
tạo tác (hoặc cấu tạo) gây căng thẳng… Người ấy nhận biết thức gây căng thẳng,
như nó thực sự hiện hữu, là ‘thức gây căng thẳng.’
“Người ấy nhận biết hình tướng không phải tự ngã, như nó thật
sự hiện hữu, là ‘hình tướng không phải tự ngã.’ Người ấy nhận biết cảm thọ
không phải tự ngã… Người ấy nhận biết tri giác không phải tự ngã… Người ấy nhận
biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) không phải tự ngã… Người ấy nhận biết thức
không phải tự ngã, như nó thực sự hiện hữu, là ‘thức không phải tự ngã.’
“Người ấy nhận biết hình tướng tạo tác, như nó thật sự hiện
hữu, là ‘hình tướng tạo tác.’ Người ấy nhận biết cảm thọ tạo tác… Người ấy nhận
biết tri giác tạo tác… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) tạo tác…
Người ấy nhận biết thức tạo tác, như nó thật sự hiện hữu, là ‘thức tạo tác.’
“Người ấy nhận biết hình tướng sát hại, như nó thật sự hiện
hữu, là ‘hình tướng sát hại.’ Người ấy nhận biết cảm thọ sát hại… Người ấy nhận
biết tri giác sát hại… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) sát hại…
Người ấy nhận biết thức sát hại, như nó thật sự hiện hữu, là ‘thức sát hại.’
“Người ấy không bám chấp vào hình tướng, không dính mắc
vào hình tướng, không xác định hình tướng là ‘tự ngã của ta.’ Người ấy không
bám chấp vào cảm thọ… Người ấy không bám chấp vào tri giác… Người ấy không bám
chấp vào các tạo tác… Người ấy không bám chấp vào thức, không dính mắc vào thức,
không xác định thức là ‘tự ngã của ta.’ Năm uẩn bám chấp này — không bám chấp,
không dính mắc — dẫn đến hạnh phúc lâu dài và an lạc của người ấy.
“Như vậy, hiền hữu Xá Lợi Phất, những người có những người như huynh làm bạn đồng hành trong đời sống thanh tịnh, dạy bảo họ, khuyên nhủ họ bằng lòng từ, mong muốn hạnh phúc và lợi ích của họ. Vì bây giờ, khi tôi đã nghe lời giải thích về Pháp từ hiền hữu, tâm tôi — nhờ không còn bám chấp/không còn phụ thuộc — đã được giải thoát khỏi các ô nhiễm tâm.”/.
***
CÁC BÀI LIÊN QUAN
1-Luân Hồi Và Nghiệp Rất
Quan Trọng Trong Phât Giáo
2- Giấc Mơ Về Tái Sanh, Liệu Luân Hồi Có Thật Không?
3- Tái Sanh Vs Luân Hồi: Nghiệp Vận Hành Như Thế Nào?
[1] Tứ Đồng: đồng giới, đồng nguyện, đồng tín, đồng thí - "Này cả hai gia
chủ, nếu cả vợ lẫn chồng ước mong lúc nào cũng nhìn thấy
nhau cho đến hết kiếp sống này và còn muốn tiếp tục nhìn thấy
nhau trong kiếp sống tương, thì phải có cùng một niềm tin, một lòng rộng
lượng như nhau, noi theo một nền đạo đức như nhau, thực hiện được
một trí tuệ như nhau; [được như thế] thì cả hai sẽ nhìn thấy
nhau cho đến hết kiếp sống này và sẽ còn nhìn thấy nhau trong kiếp sống
tương lai".Kinh
"Làm thế nào để gặp lại nhau trong các kiếp sống tương lai" (Nakulapita-Sutta-Anguttara Nikaya, II,
61-62, PTS, 1885-1910)


