Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

BÍ MẬT CỦA MỌI ÁC QUỶ

 


The Secret of All Demons
Tác giả:
Tiffani Gyatso
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Tôi nên bắt đầu bằng việc nói rằng thần thánh và ác quỷ thực sự tồn tại. Chúng ta biết rất rõ khi nào một trong hai đang thì thầm vào tai mình. Chúng trú ngụ trong tâm trí chúng ta, vũ trụ vô tận với không gian rộng lớn – những lỗ sâu, hố đen, thế giới và những góc khuất bí ẩn – nơi mà cái “tôi” du hành: tâm trí chúng ta có thể không chỉ giới hạn trong bộ não; thay vào đó, chúng bao trùm toàn bộ vũ trụ.

Ngoài những gì mà tất cả ác quỷ đều làm – thì thầm những câu hỏi thú vị vào tai chúng ta – chúng cảm thấy nhiệm vụ của mình là đặt câu hỏi về mọi thứ mà các vị thần bên trong chúng ta muốn khẳng định:

“Tại sao bạn lại làm điều này?” “Sẽ tốt hơn nếu…?” “Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn…?” “Bạn đã dám tưởng tượng…?” “Bạn có đủ dũng cảm không?” “Bạn có đủ tốt không?” “Bạn có thực sự tâm linh như bạn tự nhận không? Bạn thực sự không muốn điều gì khác sao?”

Tất cả những câu hỏi này có thể khiến chúng ta nghi ngờ bản thân, lòng tốt, những lựa chọn và đức tin của mình. Nếu đức tin của chúng ta vẫn vững vàng sau khi bị chất vấn như vậy, chúng ta sẽ có được cảm giác “thần thánh”, vượt trội và chiến thắng. Nhưng điều này khiến tôi tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu không có sự nghi ngờ? Liệu chúng ta có đạt được đức tin? Lòng dũng cảm sẽ ra sao nếu không có nỗi sợ hãi? Lòng tốt sẽ ra sao nếu không chứng kiến tất cả những đau khổ trên thế giới? Đây là những câu hỏi nảy sinh từ một quan điểm trung lập, không phán xét “tốt” hay “xấu”, mà chỉ đơn giản là cách chúng ta trôi chảy giữa các cực điểm trong suy nghĩ mà tâm trí chúng ta tạo ra. Điều này khiến tôi tự hỏi về vai trò của ma quỷ. Liệu tạo hóa có sai lầm khi cho phép những thái cực của ánh sáng và bóng tối trong cuộc sống hiện sinh của chúng ta nếu nó không hỗ trợ sự tiến hóa tâm linh của chúng ta?

Tôi không biết nền văn hóa nào mà không nói về “thiện” theo nghĩa thần thánh hoặc các vị thần, và “xấu” theo nghĩa ma quỷ, và tạo ra một hệ thống thần thoại kỳ ảo gồm các nguyên mẫu từ tất cả các “khuôn mặt” mà chúng có thể thể hiện. Điều đó thật hấp dẫn, nhưng trên hết, chúng là những sáng tạo của chính tâm trí chúng ta, không tồn tại ở bất cứ nơi nào khác ngoài bên trong chúng ta.

Các cõi của thần thánh và ác quỷ—thiên đường, luyện ngục, địa ngục—đều có bản chất của những giấc mơ. Theo quan điểm này, thần thoại là giấc mơ của thế giới. — Joseph Campbell (1904–87)

Thường thì, chúng ta đối mặt với thần thánh và ma quỷ như những thế lực bên ngoài, xem tất cả các xung đột và vấn đề mình gặp phải là do chúng gây hại, và tìm kiếm sự cứu rỗi từ một nơi nào đó khác – có lẽ là từ thiên đường? Một câu thành ngữ của người Polynesia được nhà văn người Mỹ Joseph Campbell trích dẫn cho rằng: chúng ta đang “đứng trên lưng cá voi, câu cá nhỏ”, hàm ý rằng chúng ta đang cưỡi trên nguồn gốc của hoạt động của mình, tức là nền tảng của sự tồn tại; chúng ta nhìn ra bên ngoài và thấy những vấn đề xung quanh, nhưng lại không nhận ra rằng chính chúng ta là nguồn gốc của tất cả. Quan điểm này đã gây ra nhiều rắc rối trên thế giới và chắc chắn đã định hình các nền văn hóa và hệ thống tín ngưỡng.

Ví dụ, hãy xem xét việc ham muốn sở hữu thân thể phụ nữ của đàn ông đã khiến họ phải che đậy thân thể phụ nữ như thế nào. Việc áp đặt những hạn chế lên phụ nữ thậm chí đã dẫn đến việc thiêu sống hàng ngàn phụ nữ thông thái trong thời kỳ Tòa án dị giáo. Sự ngoại hóa ham muốn này xuất phát từ niềm tin rằng bằng cách loại bỏ yếu tố bên ngoài, người ta có thể loại bỏ ham muốn bên trong. Nhưng liệu điều đó có thực sự đúng? Hay những nỗ lực của con người nhằm dập tắt tiếng nói của dục vọng chỉ dẫn đến việc họ khuếch đại tiếng nói của nỗi sợ hãi, trong quá trình đó biến con người thành những con quỷ mà họ muốn trấn áp?

Khi từ chối nuôi dưỡng một con quỷ, chúng ta mở ra cánh cửa cho một con quỷ đói khát khác. Khi khao khát mãnh liệt một điều gì đó hoặc một ai đó, chúng ta trở nên chịu ảnh hưởng của dàn đồng ca những tiếng nói trong đầu, của thần điện và ác quỷ. Tuy nhiên, bằng cách dừng lại để lắng nghe, quan sát và phân tích một cách tỉnh thức, chúng ta có cơ hội khám phá tất cả các hiện tượng khi chúng xuất hiện trong nhận thức của mình, chúng ta có cơ hội thấu hiểu và khả năng điều hướng thế giới nội tâm của mình mà không thiên vị hay ưu ái. Bằng cách đối mặt với con quỷ hay nghi vấn và nhận ra dục vọng trong sự tĩnh lặng sâu lắng của nhận thức, chúng ta có cơ hội hiếm hoi để trải nghiệm tình yêu, vượt ra ngoài trải nghiệm của nỗi sợ hãi và sự ràng buộc. Khi chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi đánh mất chính mình trong trải nghiệm của dục vọng, chúng ta có thể đầu hàng trước sự tan biến của bản sắc mà chúng ta đã quá bận rộn bảo vệ.

Nhưng chúng ta không thể siêu thoát vào sự hợp nhất thần thánh huyền bí nếu không đối mặt với những con quỷ sâu thẳm nhất bên trong mình. Giống như những người canh giữ cánh cửa dẫn đến thiên đường, thiên đường nội tâm, người ta phải vượt qua những thử thách của chúng để xứng đáng được bước vào. Thế giới mà chúng ta nhìn thấy là sự phản chiếu của chính chúng ta. Nếu tôi xung đột với các vị thần và ác quỷ bên trong mình, thì tôi sẽ nhìn toàn bộ thế giới như một chiến trường. Nếu tôi có thể ngồi thiền định, làm im lặng những tiếng nói và hình ảnh hỗn loạn bên trong, thì tôi có cơ hội tìm thấy sự bình yên với thế giới và với những người khác.

Có một câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ về ba sinh vật uống nước sông: một vị thần uống phải thần dược; một người phàm uống phải nước; và một ác quỷ uống phải bùn đất. Những gì bạn nhận được là kết quả của ý thức của chính bạn. — Joseph Campbell

Làm thế nào người ta có thể đạt được sự bình yên khi con quỷ chỉ bị nhốt trong những ngóc ngách ẩn khuất của tiềm thức—không được nghe thấy, không được chế ngự; không được chuyển hóa cũng không được hòa nhập?

Hai câu chuyện, một từ Bhutan và một từ thần thoại Hy Lạp, có thể minh họa quá trình chuyển hóa này.

Vào thế kỷ thứ bảy, Tây Tạng là một cường quốc quân sự dưới sự cai trị của vị vua vĩ đại Songtsen Gampo. Ông muốn tiến vào vương quốc Bhutan láng giềng, nhưng mỗi lần thử đều gặp phải thiên tai. Quan sát hình dạng của những ngọn núi và hồ nước ở đó, nhà vua nhận ra rằng toàn bộ đất nước bị bao phủ bởi thân thể của một nữ quỷ. Songtsen Gampo không muốn giết bà ta, vì điều này trái với đạo đức Phật giáo, thay vào đó ông đã khống chế bà ta bằng cách xây dựng 13 ngôi chùa (một số câu chuyện nói là 108 ngôi chùa) trên khắp Bhutan trên một phần thân thể của bà ta để chuyển hóa cơn thịnh nộ của bà ta, vốn là năng lượng thuần túy, thành sự bảo vệ của Phật pháp. Năng lượng sẽ vẫn như cũ, nhưng được hướng đến việc loại bỏ những tổn hại mà bà ta gây ra và giúp bà ta hỗ trợ tất cả chúng sinh thực hành điều thiện.

Câu chuyện khác kể về Persephone, cô con gái xinh đẹp của nữ thần sinh sản Hy Lạp, Demeter. Một ngày nắng đẹp, khi Persephone đang hái hoa, Hades, chúa tể của địa ngục, nhìn thấy nàng và, vì yêu say đắm, đã bắt cóc nàng xuống địa ngục. Ban đầu, Persephone chống cự, rồi khóc lóc, sau đó gần như nhịn đói để phản đối. Cuối cùng, nàng bị lừa ăn sáu hạt lựu và, bằng cách đó, một phần của Persephone trở thành nữ hoàng của thế giới ngầm. Mẹ nàng, Demeter, tuyệt vọng tìm kiếm sự trở về của con gái, nhưng nàng chỉ có thể đến thăm mẹ vào một số tháng trong năm. Những chuyến thăm này làm Demeter rất hạnh phúc, và mùa xuân sẽ nở rộ trong vẻ đẹp tươi tốt của nó. Nhưng ngay khi Persephone trở về thế giới ngầm, Demeter đã bỏ bê đất đai, mang đến cái ôm xám xịt của mùa đông.

Điều thú vị là trong cả hai câu chuyện, cái ác không chết mà biến đổi, và môi trường cũng biến đổi bởi sự thay đổi trong góc nhìn.

Khi ở trong địa ngục, chúng ta cảm thấy những con quỷ bên trong đã chiếm lấy: chúng gặm nhấm chúng ta từ bên trong và tiếng nói của tội lỗi, sự ràng buộc, hay sự giận dữ vang vọng dữ dội, không cho chúng ta được nghỉ ngơi. Bản năng đầu tiên của chúng ta là chạy trốn, tuy nhiên vì sự giày vò nằm trong chính chúng ta nên nó theo chúng ta đến bất cứ đâu. Chúng ta có thể lãng mạn hóa việc thiền định trong hang động như một vị đạo sĩ thánh thiện, nhưng vòng luân hồi nằm ngay trung tâm của bản thể chúng ta, ngay nơi chúng ta đang ngồi.

Đối mặt với thực tế khó chịu này, một số người trong chúng ta cảm thấy buộc phải tạo ra một câu chuyện mới cho cuộc sống đầy rắc rối của mình, hoặc chúng ta tìm kiếm những sự xao nhãng mới lạ để tránh đối mặt với con quỷ đang gào thét. Nhìn vào bóng tối của chính mình không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, đặc biệt là khi không có gì đảm bảo sẽ thoát ra mà không bị tổn thương. Có thể mất nhiều năm, và ngay cả khi đó kết quả vẫn không chắc chắn. Trong những lúc như vậy, các vị thần dường như im lặng và cảm giác cô lập bao trùm.

Tuy nhiên, khi ký ức về sự hiện diện của các vị thần vẫn còn đọng lại, ngay cả trong bóng tối tĩnh lặng, chúng ta hướng về những lời cầu nguyện tha thiết. Tôi chưa bao giờ cầu nguyện với các nữ thần một cách thành tâm như trong những năm tháng đen tối của chính mình, khi tìm thấy trong bản thân năng lượng và sức mạnh của một vì sao được thúc đẩy bởi nhu cầu mãnh liệt muốn đến gần hơn với thần thánh bên trong tôi. Bóng tối mà một người có thể chịu đựng tỷ lệ thuận với niềm hạnh phúc mà người đó sẵn sàng trải nghiệm. Không có màn đêm, người ta không bao giờ có thể trân trọng ngày; không có nỗi sợ hãi, người ta không bao giờ có thể khám phá ra lòng dũng cảm. Chiến trận tạo nên anh hùng, và những trận chiến nội tâm sinh ra những anh hùng thầm lặng. Tất nhiên, tôi không ủng hộ chiến tranh để giành chiến thắng, nhưng tôi thừa nhận tính tất yếu của chúng.

Vẻ đẹp của sự cân bằng trong vũ trụ là ý nghĩa thực sự của sự hài hòa: của mùa xuân và mùa đông; ngày và đêm; ma quỷ và đền thờ; địa ngục và trí tuệ thiêng liêng; sự sống và cái chết.

Trong hàng nghìn năm, bộ ba thần thánh Brahma, Vishnu và Shiva của đạo Hindu đã tượng trưng cho sự sáng tạo, sự lan tỏa và sự hủy diệt. Bộ ba thần thánh này cũng được phản chiếu bên trong chúng ta. Đạo Hindu cũng đề cập đến sự đối lập của nhị nguyên, Shiva và Shakti, mà chúng ta trải nghiệm bên trong và trong nhận thức về thế giới của mình. Chúng ta phải đối mặt với những quyết định và đấu tranh giữa "thiện" và "ác". Chúng ta định hướng các quyết định trong cuộc sống dựa trên những gì chúng ta nghĩ sẽ mang lại ít đau khổ và nhiều hạnh phúc hơn, đó là la bàn đơn giản của chúng ta.

Trong khi đó, các nhà giả kim từ lâu đã chỉ ra vàng nằm trong các kim loại nặng và hành trình huyền bí sâu sắc của sự thiêu đốt, nung chảy, chưng cất tâm linh - sự biến đổi không có cái chết, cho đến khi quá trình giả kim đạt đến đỉnh điểm trong viên đá triết học huyền thoại, linh hồn bất tử.


Figure 1: Machig Labdron

Chúng ta cần xem xét điều gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu chúng ta chọn cách trốn tránh hoặc cố gắng kìm nén những con quỷ trong mình. Tuy nhiên, vẫn còn đó câu hỏi làm thế nào để đối mặt với chúng, bởi vì chúng vẫn sở hữu sức mạnh hủy diệt khủng khiếp.

Một phương pháp thực hành sâu sắc và thiết thực, tương tự như phương pháp chod của Phật giáo Tây Tạng, được gọi là “nuôi dưỡng những con quỷ trong mình”, được sáng tạo bởi nữ tu yoga Machig Labdron vào thế kỷ 11 và đã được hiện đại hóa bởi vị thầy Phật pháp người Mỹ Lama Tsultrim Allione.

Thầy của Machig Labdron, Dampa Sangye, hướng dẫn bà: “Hãy thú nhận tất cả những lỗi lầm tiềm ẩn của con! Hãy đến gần những điều mà con thấy ghê tởm! Bất cứ ai mà con nghĩ rằng con không thể giúp đỡ, hãy giúp họ! Bất cứ điều gì mà con đang bám chấp, hãy buông bỏ! Hãy đến những nơi khiến con sợ hãi, chẳng hạn như nghĩa trang! Chúng sinh vô biên như bầu trời, hãy nhận thức điều đó! Hãy tìm thấy Đức Phật bên trong chính mình. Trong tương lai, giáo pháp của con sẽ rực rỡ như mặt trời chiếu sáng trên bầu trời!”

Việc thực hành nuôi dưỡng những con quỷ bên trong bắt đầu bằng việc nhận biết cảm xúc giận dữ, thù hận, sợ hãi hoặc buồn bã – bất cứ điều gì giày vò bạn – và xác định vị trí chúng được tích trữ trong cơ thể. Với bước đầu tiên này, trong nỗ lực làm cho năng lượng trở nên cụ thể hơn, người ta tưởng tượng kích thước, màu sắc, kết cấu, âm thanh, mùi và tất cả các chi tiết về hình dáng của nó. Ở giai đoạn này, người ta có thể vẽ ra con quỷ. Bây giờ chúng ta đã cho nó một khuôn mặt, người ta bắt đầu hỏi con quỷ: “Ngươi muốn gì?” “Ngươi thực sự muốn gì?” Bất kể câu trả lời là gì, bạn hãy hình dung việc cho con quỷ này ăn bất cứ thứ gì nó thèm muốn – thường là mật ngọt ấm áp từ trái tim sùng kính nhất, tuôn trào và bao trùm lấy con quỷ này.

Với hình ảnh này, hãy nuôi dưỡng sự hiểu biết sâu sắc về nỗi buồn và sự giận dữ đã duy trì con quỷ này và đón nhận nó bằng tình yêu thương vô bờ bến và sự không sợ hãi. Trong quá trình này, con quỷ sẽ biến đổi thành thứ được gọi là đồng minh, sau đó bạn có thể cho phép nó thực hiện một lời thề long trọng về sự hướng dẫn và bảo vệ dành cho bạn.

Bạn có thể tìm thấy thông tin chi tiết đầy đủ về cách thực hành này trong sách và video trên YouTube của Lama Allion. Tuy nhiên, trên hết, hãy để sức mạnh dẫn dắt của trực giác đưa bạn đến với mình—ánh sáng lấp lánh ẩn sau những đám mây giông đen tối mà chúng ta có được thông qua việc thực hành thiền định tĩnh lặng và chiêm nghiệm không phán xét. Hãy thừa nhận vị trí của vạn vật trong vũ trụ, tôn trọng nó, nhận ra nó, chấp nhận nó, và di chuyển uyển chuyển như một vũ công giữa những con sóng và cánh cổng mà cuộc sống, tối cao hơn tất cả mọi thứ, có thể mang đến cho trải nghiệm của bạn./.

https://www.buddhistdoor.net/features/the-secret-of-all-demons/

 

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

ĐẠO PHẬT KHÔNG PHẢI LÀ VIỆC ĂN THUẦN CHAY

Buddhism Isn’t About Being Vegan[i]
Tác giả:
Jennifer Keishin Armstrong
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***



Hãy hỏi mọi người họ biết gì về những Phật tử, đặc biệt là những người chưa bao giờ gặp gở những Phật tử, và bạn thường gặp một vài câu trả lời đơn giả. Họ yên hòa. Họ tử tế. Họ rất dễ tính. Họ không uống rượu. Và họ không ăn thịt.

Than ôi, không có thực tập, tôn giáo hay khác hơn, bảo đảm với bạn về bất cứ điều gì về những thứ này. Thiền tập là tuyệt vời, nhưng không phải là phép mầu. Như một người nào đó đã từng thực tập Zen Phật Giáo 12 năm qua, tôi biết điều này rất rõ.

Nó nói rằng, trong khi nhiều hành giả Phật tử khắp thế giới thực hành tối thiểu trong một hy vọng nào đó để trở thành yên bình hơn, tử tế hơn và định tâm hơn, để cuối cùng là nguyên tắc cụ thể hơn – không ăn thịt – là khá xa đối với việc quán chiếu của ngay cả những học sinh và giáo viên nghiêm khắc. (cùng giống với việc uống rượu, nhưng đó vào những lúc khác.”

Siddhartha Gautama (tức là  Đức Phật Thích Ca), người lập ra  Đạo Phật hơn 2.500 năm trước ở Ấn Độ. Khoảng 535 triệu người xác định như những hành giả Phật tử khắp trên thế giới ngày nay. Những thái độ về việc ăn chay rất rộng rãi trong những người ấy, mặc dù một nguyên tắc chính của Phật Giáo là không làm tổn hại chúng sanh – trong thực tế. Những người Phật tử thệ nguyện bảo vệ chúng sanh. Vậy thì tại sao tất cả những người Phật tử kể cả tôi không là những người ăn chay?

Không phải tất cả những Phật từ là ăn chay (Vegetarian) hay ăn chay (vegan) thuần.[ii] | Eileen W. Cho. Câu trả lời, nếu bạn là người thích những câu trả lời, thì đó là rất mơ hồ, không có một đáp án duy nhất. Một số bậc thầy và học giả nói rằng chính  Đức Phật ủng hộ một sự ăn chay kiêng cử. Những người khác nói rằng những hành giả phải tránh thịt chỉ khi nó bị giết một cách đặc biệt cho họ. Nói tóm lại, có nhiều cách để diễn dịch giới thứ nhất là “tránh lấy đi mạng sống,” nếu bạn thích những sự diễn dịch cứng nhắc.

Nhưng Phật Giáo nổi tiếng không quan tâm trong những câu trả lời hời hợt hay những sự diễn dịch cứng nhắc. Vì vậy vấn đề tại sao tất cả những người Phật tử không phải là những người ăn chay đi xuyên qua trọng tâm của điều gì có nghĩa là một người Phật tử. Nó giới thiệu một quy tắc rõ ràng với một giá trị đi đôi – ăn chay hay không – trong một sự thực hành vốn né tránh vô điều kiện việc tuân thủ theo những mệnh lệnh và dạy những người đi theo đi vượt qua những gì tuyệt đối. Mặc dù không sát sinh là một giáo lý cốt lõi của sự thực hành này, nhưng Trung đạo — việc tránh xa các thái cực — cũng quan trọng không kém. Phật giáo có xu hướng dạy cho các hành giả hiện đại phải cân nhắc đến những sự phức tạp của cuộc sống ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa muôn loài, và những sắc thái tinh tế trong từng hoàn cảnh cá nhân khi đưa ra các lựa chọn đạo đức, thay vì áp dụng các câu châm ngôn một cách thiếu suy nghĩ. Đó lại chính là điều mà nhiều tôn giáo chính dòng thường làm, và là lý do tại sao chúng thường dẫn đến xung đột và chia rẽ. Đó là kiểu tư duy đã dẫn tới chủ nghĩa cực đoan tôn giáo — như việc những người tự nhận là tín đồ Cơ Đốc giáo sát hại các bác sĩ phá thai, hay những kẻ đánh bom liều chết hành động nhân danh Hồi giáo.

Nói vậy không có nghĩa là Phật giáo là một tôn giáo tự do vô tổ chức. 'Các nguyên tắc đạo đức ở đây là những chủ đề để quán chiếu, chúng được tạo ra để thử thách chúng ta mỗi ngày,' Ethan Nichtern, một giáo thọ Phật giáo và là tá[iii]c giả của nhiều cuốn sách, bao gồm cuốn The Road Home: A Contemporary Exploration of the Buddhist Path (Đường Về Nhà: Một Cuộc Khám Phá Đương Đại Về Con Đường Phật Giáo)[1], chia sẻ. 'Thế giới này rất phức tạp, và ngay khi bạn chấp nhận sự phức tạp đó, các lựa chọn của chúng ta sẽ không còn là trắng hay đen nữa. Đồng thời, cốt lõi là chúng ta phải sống chung với thử thách đó. Điều này không có nghĩa là những giáo lý này không đưa ra định hướng nào cả.

Trong thực tế, giáo huấn nhà Phật chứa đựng một số ngôn ngữ rõ ràng nhất, trong tất cả những tôn giáo quan trọng của thế giới, về chủ đề sự sống của thú vật. Giới thứ nhất cũng thường được diễn dịch như “không sát sanh” hay “không tổn hại,” áp dụng cho tất cả chúng sanh” – không chỉ cho loài người, mà là bất cứ hình thức sống nào cảm thấy đau đớn. Kinh Lăng Già lên án gay gắt việc ăn thịt, trong đó chỉ rõ rằng 'nếu chúng ta sát hại [các chúng sinh] và ăn thịt chúng thì cũng giống như sát hại và ăn thịt cha mẹ của chính mình' bởi vì 'tất cả nam giới đều là cha của ta, và tất cả nữ giới đều là mẹ của ta'.



 Phật giáo có xu hướng dạy cho các hành giả hiện đại phải cân nhắc đến những sự phức tạp của cuộc sống ngày nay. | A. Jesse Jiryu Davis

Bob Isaacson, một hành giả Phật giáo sống tại San Diego, người đã ăn chay trường nhiều năm và từng là luật sư nhân quyền, đã thành lập nhóm vận động Dharma Voices for Animals (Tiếng nói Chánh pháp cho Động vật) vào mười năm trước, sau khi nhận thấy nhiều trung tâm Phật giáo nơi ông tham dự các sự kiện hoặc khóa tu không hề phục vụ các bữa ăn chay (vegetarian), chứ chưa nói đến thuần chay (vegan). Ông đã nghe qua mọi lời lý sự biện bạch của các Phật tử để biện minh cho việc ăn thịt, và đã viết rất chi tiết về các giáo lý Phật giáo đề cập đến chủ đề này (has written in detail about Buddhist doctrine that addresses the topic.)[iv].

Các lò mổ nằm ngoài tầm mắt, nên cũng khuất khỏi tâm trí,” ông nói. “Vì vậy, điều mà bạn thường nghe mọi người nói là, ‘Tôi đâu có giết con vật đó.’ Nhưng chính bạn đang cắn vào da thịt nó, đang nhai và đang nuốt nó. Bạn đang tham gia một cách mật thiết vào cái chết và sự đau khổ của con vật.” Ông cũng chỉ ra khái niệm “Chánh mạng” (nghề nghiệp chân chính) trong Phật giáo, điều khuyên các Phật tử nên mưu sinh theo cách tạo ra nhiều điều tốt đẹp nhất và gây ra ít tác hại nhất. Một trong số ít những sinh kế mà Đức Phật đặc biệt chỉ rõ là không chính mạng chính là đồ tể (sát hại động vật). “Nếu bạn ăn một con vật, thì phải có ai đó giết nó,” Isaacson nói. “Tại sao lại ép người khác phải sát hại một con vật cho bạn?

Không phải tất cả những người Phật tử ăn chay đều là thuần chay, mặc dù một số tranh luận rằng nếu bạn đang cắt thịt để cứu chúng sanh, thì nó chỉ có nghĩa cũng như cắt sửa và trứng. Alan Dale, người sáng lập cộng đồng trên mạng Phật Giáo Thuần Chay[v] (Vegan Buddhism), [Ông ấy] ví việc tiêu thụ các sản phẩm từ sữa như hành vi trộm cắp — một hành động khác mà các giới luật Phật giáo đặc biệt cảnh báo chống lại. “Chẳng phải chúng ta đang đánh cắp mạng sống của những loài động vật này sao?” ông nói. “Chúng ta đang lấy trộm trứng của chúng. Chúng ta đang ăn cắp sữa của chúng, thứ vốn dĩ phải thuộc về những chú bê con.

Mặc dù bất kỳ Phật tử nào cũng khó có thể lập luận để phản đối việc ăn chay, nhưng việc ăn thịt vẫn còn phổ biến trong giới hành giả vì một vài lý do. Tại Tây Tạng, nơi một nhánh Phật giáo lớn được hình thành vào thế kỷ thứ 7, việc ăn thịt đã gắn liền sâu sắc vào văn hóa đến mức ngay cả hầu hết các vị Lạt-ma, hay các bậc thầy dẫn dắt, cũng là những người ăn thịt, và họ không dạy ăn chay như một yêu cầu bắt buộc. Một lý do khác khiến các giáo thọ Phật giáo có thể không nhấn mạnh việc ăn chay là vì, dù không sát sinh và từ bi với chúng sanh là những niềm tin cốt lõi của tôn giáo này, thì sự phản đối của Đức Phật đối với chủ nghĩa khổ hạnh cũng vậy. Ngài quan niệm con đường của mình là một sự lựa chọn ôn hòa thay thế cho các phương pháp tu tập tâm linh khác thời bấy giờ vốn đòi hỏi những thái cực khắc nghiệt về thể xác từ các tín đồ. Chẳng hạn, các tín đồ Kỳ Na giáo (Jain giáo) ăn chay và thậm chí không ăn cả các loại củ (rễ), vì họ tin rằng việc nhổ chúng lên khỏi mặt đất sẽ làm tổn hại đến cây trồng và các vi sinh vật xung quanh. Bản thân Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng đã bắt đầu ăn thịt theo lời khuyên của bác sĩ sau khi bị nhiễm viêm gan B — nhưng ngài vẫn khuyến khích các Phật tử trên khắp thế giới ăn chay nếu có thể: 'Chúng ta phải tôn trọng mọi hình thức của sự sống'.

Chúng ta đưa ra những lựa chọn khác nhau, có những ưu tiên khác nhau trong suốt cuộc đời và cố gắng luôn ý thức được sự phụ thuộc lẫn nhau – cách mà những lựa chọn của chúng ta ảnh hưởng đến cơ thể, gia đình và thế giới xung quanh.

Nhiều Phật tử ăn thịt viện dẫn một điều răn từ trường phái Phật giáo Theravada nói rằng các tín đồ có thể ăn thịt động vật không bị giết riêng cho họ. Nhưng Isaacson chỉ ra rằng quy định này được đặt ra cho thời điểm và địa điểm mà các nhà sư đi khất thực từng nhà để kiếm sống. Ông giải thích: “Nếu một gia đình đang ăn, bạn có thể lấy một vài miếng thức ăn trên đĩa.” Điều đó chỉ áp dụng nếu bạn là một nhà sư.

Thực tế là, hầu hết những điều này chỉ là tranh cãi nhỏ nhặt, như thể chúng ta đều là luật sư trong phiên tòa nghiệp báo. Đôi khi mọi chuyện đơn giản như thế này: Phật tử vi phạm giới luật—lấy những thứ không thuộc về mình, uống rượu bia, nói năng sai trái—nhưng vẫn tiếp tục thực hành để cố gắng trở nên tốt hơn. Điều tương tự cũng đúng với việc lựa chọn ăn thịt. Tôi đã từng ăn chay, ăn cá và không ăn thịt đỏ vào nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình tu tập Phật giáo của mình. Tôi có thể đưa ra những lời biện minh cho tất cả, kể cho bạn nghe về các bác sĩ, lý do sức khỏe và những kẽ hở trong giáo lý Phật giáo. Nhưng không thể phủ nhận một sự thật rằng ăn ít động vật và các sản phẩm từ động vật hơn có nghĩa là ít đau khổ hơn.

Chúng ta đưa ra những lựa chọn khác nhau, có những ưu tiên khác nhau trong suốt cuộc đời và cố gắng luôn ý thức được sự phụ thuộc lẫn nhau – cách mà những lựa chọn của chúng ta ảnh hưởng đến cơ thể, gia đình và thế giới xung quanh. Ngay cả chế độ ăn bán chay – từ việc ăn chay vào thứ Hai đến việc đơn giản là chọn Impossible Burger [vi](bánh kẹp với thịt nhân tạo) thường xuyên hơn – cũng giúp giảm bớt đau khổ. Bạn không cần phải chọn phe nào để làm điều tốt hơn một chút, và ý thức thường hướng chúng ta đến điều tốt đẹp hơn.

Tôi không phải là người ăn chay trường 100%, và hiện tại tôi cũng không ăn chay hoàn toàn, nhưng khi tôi chọn Impossible Burgers, một phần là do thói quen ăn uống của mình. Việc đưa ra một sự phân loại nhị nguyên—ăn chay hay không—thậm chí có thể khiến những người không tự nhận mình là người ăn chay hoàn toàn không muốn cân nhắc các lựa chọn thực phẩm từ thực vật trong chế độ ăn uống hàng ngày của họ.



 "Phật giáo khuyến khích con người không ngừng nỗ lực để trở nên tốt đẹp hơn.". | AFP via Getty Images

Tôi cũng thỉnh thoảng uống rượu, nói dối và cư xử thiếu tử tế hơn mức cần thiết. Tôi không thể biện minh cho những lựa chọn này từ góc độ Phật giáo hay con người, nhưng việc thực hành Phật giáo khuyến khích tôi không ngừng cố gắng để trở nên tốt hơn, để đạt được sự cân bằng.

Anne Carolyn Klein, giáo sư nghiên cứu tôn giáo tại Đại học Rice và là giám đốc sáng lập kiêm Lạt ma thường trú tại Chùa Tây Tạng Dawn Mountain ở Houston, từng kể với tôi về một khóa tu ở Ấn Độ. Bà và những người khác tham dự đã cẩn thận đi thành hàng một ngoài trời để hạn chế tối đa việc giết côn trùng. “Chúng tôi không hủy bỏ khóa tu chỉ vì sợ giết côn trùng,” bà nói về những sự thỏa hiệp vốn có trong hầu hết mọi hành động trên Trái đất. “Người ta làm hết sức mình, và điều thật sự quan trọng là làm hết sức mình chứ không nói rằng, ‘Ồ, dù sao cũng phải giết vài con côn trùng, nên chắc là ổn thôi.’ Điều đó không ổn. Chúng ta làm những việc không ổn, và chúng ta nhận ra rằng chúng không ổn.”

Từ quan điểm Phật giáo, không có lý lẽ thuyết phục nào ủng hộ việc ăn thịt. Tại sao không phải tất cả Phật tử đều ăn chay hoặc thuần chay? Bởi vì Phật tử không hoàn hảo. Việc tu tập chỉ đơn giản là khuyến khích chúng ta không ngừng cố gắng để trở nên tốt hơn.

Ẩn Tâm Lộ, ngày 11/08/2026


Các quan điểm được thể hiện trong các bài viết ý kiến là của tác giả và không phản ánh chính sách hoặc lập trường của LIVEKINDLY.

Jennifer Keishin Armstrong

https://www.livekindly.com/buddhism-isnt-about-being-vegan/




[i] Ăn thuần chay (Vegan) không có sản phẩm từ động vật.

[ii] Vegetarianăn chay (có thể ăn trứng, sữa), còn Veganăn chay thuần (kiêng tuyệt đối mọi sản phẩm từ động vật).

[iii] “Được xây dựng trên nền tảng của lòng từ bi, những lời dạy của Nichtern mang đến một nền giáo dục sâu sắc, sáng rõ và toàn diện về sự tự nhận thức, tính tương thuộc và sự giác ngộ.”
Publisher’s Weekly

Ngay lúc này, bạn có cảm thấy như đang ở nhà? Hay bạn đang cảm nhận một nỗi lo âu hay sự bất định lơ lửng đâu đây—một sự bất an ngầm ẩn khiến bạn thấy có chút không thoải mái, chút xao nhãng và mất kết nối với những người xung quanh?

Trong cuốn sách The Road Home (Đường về nhà), Ethan Nichtern khám phá hành trình mà mỗi chúng ta trải qua để tìm lại nơi mình thuộc về. Đúc kết từ các nghiên cứu đương đại về thiền định, chánh niệm cùng kinh nghiệm của một giảng sư và hành giả Phật giáo, Nichtern mô tả bằng những thuật ngữ tươi mới và có sức lay động sâu sắc về trải nghiệm hiện sinh cơ bản vốn là nguồn gốc của sự tìm kiếm tâm linh—và cả khía cạnh đối nghịch đầy nguy hiểm của nó: chủ nghĩa vật chất tâm linh. Ông hé lộ cách mà cuộc tìm kiếm sự tự nhận thức của mỗi cá nhân gợn sóng lan tỏa vào các mối quan hệ, cộng đồng và toàn xã hội. Đồng thời, tác giả cũng giải thích chính xác cách thức mà bằng việc hướng sự chú ý đến những gì đang diễn ra xung quanh và bên trong chính mình, chúng ta có thể tăng cường cảm giác kết nối với tha nhân, và cùng lúc đó, thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn những mô thức cá nhân lẫn tập thể về lòng tham ái, sự thờ ơ và tính vô tâm. 

[v] Vegan Buddhism (Phật giáo Thuần chay) là một xu hướng phát triển hướng tới lối sống vị tha và từ bi hơn, tuân theo giới luật đầu tiên của Phật giáo là không sát sinh (tiếng Pali, Phạn: ahimsa - bất hại).

Khác với người ăn chay thường (vẫn có thể dùng sữa, trứng), một Phật tử thuần chay (Vegan Buddhist) góp phần xóa bỏ sự đau khổ của động vật bằng cách không ăn thịt, trứng, sữa hoặc tiêu thụ bất kỳ sản phẩm nào khác có nguồn gốc từ động vật.

[vi] Impossible Burger được thiết kế trong phòng thí nghiệm để mô phỏng chính xác 100% hương vị, mùi thơm, độ dai và thậm chí là có thể "chảy nước sốt màu đỏ" (rỉ máu) y như một miếng thịt bò thật khi nướng trên vỉ.



Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

NHỮNG NGƯỜI BẠN, KHÔNG PHẢI THỰC PHẨM

friends, not food
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Khi Đức Phật dạy chúng ta không được sát sinh, Ngài không hề ngoại lệ đối với những loài động vật mà chúng ta thích ăn. Mặc dù nhiều Phật tử ăn thịt, Bob Isaacson của tổ chức Dharma Voices for Animals (Tiếng nói Chánh pháp cho Động vật) lập luận rằng họ không nên ăn thịt.

bob isaacson

18 may 2019



Nếu bạn dừng người dân trên đường phố Chicago hoặc London và hỏi họ liệu Phật tử có ăn chay không, câu trả lời phổ biến nhất bạn nhận được có lẽ là "có". Quan niệm chung, ít nhất là ở phương Tây, là vì Phật giáo dựa trên sự tôn kính sự sống, nên những người theo đạo không ăn thịt động vật. Và mặc dù đúng là các trường phái Đại thừa thường khuyến khích chế độ ăn chay, nhưng thực tế là đa số Phật tử vẫn ăn thịt.

Tuy nhiên, Đức Phật không hề làm ngơ trước nỗi đau khổ của động vật, như nhiều người vẫn thường nghĩ. Giới luật đầu tiên mà Ngài dạy là “không sát sinh”. Trong đó, Đức Phật không chỉ giới hạn giáo lý về lòng từ bi đối với con người, mà còn bao gồm tất cả chúng sinh – tất cả những sinh vật có thể cảm nhận được nỗi đau.

Trong các kinh điển Đại thừa, chẳng hạn như kinh Lăng Già (Lankavatara), Đức Phật tự nhận mình là người ăn chay và mong muốn các đệ tử của mình noi theo gương Ngài: “Này Đại Huệ (Mahamati), nếu không ai ăn thịt vì bất kỳ lý do gì, thì sẽ không có kẻ hủy diệt sự sống.”

Tôi nên lựa chọn như thế nào để tránh gây ra hoặc tiếp tay cho sự đau khổ của những sinh linh khác?

Trong Kinh tạng Pali – nền tảng giáo lý của Phật giáo Theravāda (Nam truyền), chúng ta tìm thấy kinh Jīvaka (Trung Bộ Kinh 55) thảo luận về "Ba điều thanh tịnh" (Tam tịnh nhục). Tại đây, nhằm dung hòa mối quan hệ tương thuộc giữa tăng đoàn và cộng đồng cư sĩ, đồng thời bảo vệ mạng sống của các chúng sinh, Đức Phật đã chỉ dạy các tu sĩ của mình rằng: khi đi khất thực, họ không được phép ăn những miếng thịt động vật được đặt vào bình bát nếu họ thấy, nghe, hoặc nghi ngờ (một ranh giới rất thấp) rằng con vật đó bị giết để phục vụ riêng cho họ. Kinh Jīvaka không bàn đến tính luân lý của việc người cư sĩ tiêu thụ động vật; do đó, kinh này không thể được sử dụng để biện minh cho điều đó, và cũng không thể biện minh cho việc tu sĩ tiêu thụ động vật khi không trong bối cảnh đi khất thực.

Để biện minh cho thói quen ăn uống của mình, một số người thực hành Phật pháp phương Tây thích nói rằng, “chúng ta có sự lựa chọn.” Tất nhiên chúng ta có quyền lựa chọn có ăn thịt động vật hay không, nhưng liệu chúng ta có sự lựa chọn hay không lại là câu hỏi sai. Câu hỏi đúng đắn là câu hỏi đạo đức: Tôi nên lựa chọn như thế nào để tránh gây ra hoặc ủng hộ sự đau khổ cho các chúng sinh khác?

Một số người tu tập Phật pháp cố gắng biện minh cho thói quen ăn uống của họ bằng cách nói rằng việc chúng ta có ăn thịt động vật hay không không liên quan gì đến Phật pháp, nhưng vì việc ăn thịt động vật quyết định sự sống hay cái chết của các chúng sinh khác, nên nó nhất thiết nằm ở cốt lõi của Phật pháp. Khi một người cắn, nhai và nuốt cánh gà tây hoặc ức gà, người đó trực tiếp và mật thiết tham gia vào cái chết của sinh vật đó. Cả gà tây lẫn gà ta đều không muốn bị giết thịt rồi bị một Phật tử ăn. Có bao nhiêu tỷ động vật sẽ chết trong năm nay để nuôi sống khoảng một tỷ Phật tử trên thế giới?

Một số Phật tử tin rằng miễn là họ không tự tay giết những con vật mà họ ăn, thì không có vấn đề gì. Nhưng trong giáo lý Bát Chánh Đạo về chánh mạng, Đức Phật đã liệt kê năm nghề nghiệp cần tránh, bao gồm giết mổ động vật và chăn nuôi động vật để giết mổ. Bằng cách cấm Phật tử chăn nuôi động vật để giết mổ, Đức Phật đã vạch ra ranh giới đạo đức không phải ở việc có cắt cổ con vật hay không, mà là ở việc có kiềm chế hay không tham gia vào một chuỗi hoặc quá trình dẫn đến cái chết của động vật. Những người vỗ béo động vật để giết mổ và những người cắn, nhai và nuốt các bộ phận cơ thể của chúng đều là một phần của chuỗi hoặc quá trình giết mổ. Nếu không có những người ăn thịt chúng, sẽ không có con vật nào bị giết mổ.

Việc trực tiếp giết mổ động vật vi phạm giới thứ nhất cũng như các giáo lý khác của giới luật. Làm sao một người tu tập Phật pháp có thể ăn thịt động vật khi biết rằng những người làm việc ở lò mổ, những người trực tiếp giết mổ, đang tích lũy những nghiệp chướng rất mạnh mẽ và bất lành? Những người lao động này, ít nhất là ở Hoa Kỳ, chủ yếu là người da màu, bao gồm cả người nhập cư, thường đến từ Mỹ Latinh, những người có rất ít lựa chọn và ít khả năng tự vệ. Hơn nữa, công việc ở lò mổ nằm trong số những công việc có mức lương thấp nhất và bẩn thỉu nhất trong thế giới công nghiệp hóa.

Tốt hơn hết là nên bắt đầu loại bỏ các sản phẩm từ động vật khỏi chế độ ăn uống của bạn một cách từ từ hơn là không bắt đầu chút nào.

Người ta ước tính rằng người phương Tây ăn mười nghìn con vật trong suốt cuộc đời. Theo một báo cáo của Liên Hợp Quốc, ngành công nghiệp thịt gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu (thông qua phát thải khí carbon dioxide, methane và nitrous oxide) nhiều hơn tất cả xe hơi, xe tải, SUV, máy bay và tàu thuyền trên thế giới cộng lại. Việc sản xuất một chế độ ăn dựa trên thịt cần lượng nước gấp hơn mười lần so với chế độ ăn chay hoàn toàn, và động vật nuôi ở Mỹ thải ra lượng phân gấp 130 lần so với dân số loài người. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường, nước thải từ các trang trại công nghiệp gây ô nhiễm sông hồ của chúng ta nhiều hơn tất cả các nguồn công nghiệp khác cộng lại.

Nếu bạn không thể ngừng ăn thịt, gà và cá cùng một lúc, hãy thử: 1) ăn chay hoặc thuần chay một, hai hoặc ba ngày một tuần, 2) ăn bữa sáng hoặc bữa trưa không có thịt mỗi ngày, hoặc 3) khi bạn bè và gia đình đến ăn tối, hãy chuẩn bị một bữa ăn chay hoặc thuần chay. Tốt hơn là nên bắt đầu loại bỏ các sản phẩm từ động vật khỏi chế độ ăn uống của bạn một cách từ từ hơn là không bắt đầu chút nào.

Việc không ăn thịt động vật là một hành động vui vẻ thể hiện sự ủng hộ sự sống và tình yêu thương. Đó là một hành động của lòng nhân ái, lòng từ bi và niềm vui đồng cảm. Đó cũng là một hành động của sự hào phóng để mang lại sự sống cho những sinh vật dễ bị tổn thương nhất - những loài động vật mà cuộc sống của chúng phụ thuộc trực tiếp vào những lựa chọn mà chúng ta đưa ra.

Các loài động vật nuôi mà chúng ta ăn thường bị nhốt riêng lẻ, khiến việc dành thời gian với chúng như với chó và mèo trở nên rất khó khăn. Nhưng khi chúng ta làm quen với gà tây, gà ta, lợn và bò, chúng ta sẽ thấy rằng mỗi con vật là một cá thể riêng biệt với tính cách, sở thích và khát vọng sống mạnh mẽ như bất kỳ con người nào. Những con vật này thông minh, nhạy cảm và giàu tình cảm, chúng hình thành mối liên kết với nhau và với người chăm sóc.

Không thể phủ nhận rằng động vật phải chịu đựng rất nhiều trên đường đến bàn ăn của chúng ta. Vì người ta không thể đến thăm một trang trại công nghiệp hay lò mổ để chứng kiến sự kinh hoàng và đau đớn mà không gặp phải sự bảo vệ nghiêm ngặt như nhà tù với dây thép gai và hàng rào điện, chó canh gác và ổ khóa, nên gần như không thể tận mắt chứng kiến mức độ đau khổ. Các tập đoàn đa quốc gia điều hành ngành kinh doanh hàng tỷ đô la này không muốn công chúng chứng kiến những gì chắc chắn là địa ngục trần gian đối với động vật.

Nhờ những người phụ nữ và đàn ông dũng cảm, những người đã dùng máy quay giấu kín để ghi lại những gì thực sự xảy ra phía sau hàng rào dây thép gai, giờ đây tất cả chúng ta đều có được cái nhìn toàn cảnh. Nếu bạn ăn thịt động vật và tự nhận mình là Phật tử, xin hãy dừng lại mười phút, như một sự thực hành chân lý cao quý thứ nhất, và xem một trong những video này, chẳng hạn như "Nếu các lò mổ có tường kính, tất cả chúng ta sẽ ăn chay", do Paul McCartney thuyết minh, hoặc "Hãy gặp gỡ thịt của bạn", do Alec Baldwin thuyết minh.

Nếu bạn ăn thịt động vật, xin hãy hiểu rằng chúng không muốn lòng thương xót của bạn; chúng chỉ muốn bạn đừng ăn thịt chúng.



bob isaacson

Bob Isaacson là chủ tịch kiêm đồng sáng lập của Dharma Voices for Animals (Tiếng nói Chánh pháp cho Động vật), một tổ chức quốc tế Phật giáo bảo vệ quyền và vận động cho động vật.

https://www.lionsroar.com/friends-not-food/

 

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

PHỎNG VẤN VỚI Dr. NIDA CHENAGTSANG: PHÚC LẠC VÀ TÍNH DỤC TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

 Lyudmila Klasanova

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***


Trang bìa của cuốn sách: Karmamudra: The Yoga of Bliss. – 
(Thủ ấn Hành Động – Yoga Phúc Lạc).

PHẦN 1- Vén Màn Bí ẩn Về Yoga Phúc Lạc
Demystifying the Yoga of Bliss

 "Yoga Phúc Lạc (The Yoga of Bliss) đề cập đến pháp tu yoga tính dục cổ xưa của Phật giáo, được biết đến với tên gọi Karmamudra (tiếng Tây Tạng: lekyi chagya - Nghiệp ấn – Thủ ấn Hành Động), sử dụng các kỹ thuật đặc trưng nhằm chuyển hóa khoái lạc thông thường thành con đường giải thoát khỏi khổ đau trong vòng sinh tử luân hồi. Là một phương pháp mật thừa, pháp tu này đã trở thành một phần cốt lõi trong truyền thống tôn giáo Tây Tạng kể từ khi Phật giáo truyền du vào vùng đất này. Chủ đề đầy hấp dẫn này chính là nội dung cốt truyện trong cuốn sách mới của Tiến sĩ Nida Chenagtsang mang tên Karmamudra: The Yoga of Bliss (Sexuality in Tibetan Medicine and Buddhism) [Thủ ấn Hành Động: Yoga Phúc Lạc (Tính dục học trong Y học Cổ truyền và Phật giáo Tây Tạng)]."

Sinh ra tại vùng đất truyền thống Amdo thuộc Tây Tạng, Tiến sĩ Nida là người đồng sáng lập kiêm giám đốc y khoa của Sorig Khang International: Quỹ Y học Cổ truyền Tây Tạng. Ông là một bác sĩ Tây Tạng, một giảng viên yoga và thiền định, đồng thời là tác giả của nhiều cuốn sách đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau. Cuốn sách mới nhất của ông được phát hành bởi Sky Press, một nhà xuất bản chuyên tâm vào việc quảng bá nghệ thuật y học cổ truyền Tây Tạng. Tác phẩm này đã ra mắt lần đầu tiên trong khuôn khổ Đại hội Y học Cổ truyền Tây Tạng Sorig thường niên lần thứ 6, diễn ra từ ngày 20 đến 22 tháng 4 tại thành phố Pisa, Ý, và được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 25 tháng 4.

Với cuốn sách đặc biệt này, Tiến sĩ Nida nhằm mục đích làm sáng tỏ một số hiểu lầm liên quan đến pháp tu yoga tính dục của Phật giáo Tây Tạng, đồng thời khám phá cả những quan điểm y sinh học hiện đại lẫn quan điểm truyền thống của Tây Tạng về sức khỏe và sự an lạc trong đời sống tình dục.

Dr. Nida Chenagtsang during his teachings

Buddhistdoor Global: Điều gì đã truyền cảm hứng cho ông viết cuốn Karmamudra: The Yoga of Bliss. – (Thủ ấn Hành Động – Yoga Phúc Lạc)?

Dr. Nida Chenagtsang: Khi tôi học Phật giáo Kim Cang thừa, tôi luôn có những thắc mắc về chủ đề này. Là một người trẻ tuổi, tôi cảm thấy đây là một pháp thực hành rất quan trọng nhưng tôi không được tiếp cận với những giáo lý này, vì vậy tôi rất tò mò. Sau này, khi tôi được tiếp cận với những giáo lý này, tôi phát hiện ra rằng có rất nhiều sự nhầm lẫn và hiểu lầm xung quanh chủ đề này, vì vậy tôi quyết định rằng việc truyền bá thông tin đúng đắn là rất quan trọng. Ban đầu, tôi đã viết một số lời giải thích bằng tiếng Tây Tạng, dưới dạng thơ, dành cho cộng đồng người Tây Tạng—tôi đã đưa một số phần vào cuốn sách. Sau đó, tôi thấy rằng cũng có rất nhiều sự nhầm lẫn giữa những người thực hành Phật giáo Kim Cang thừa phương Tây, thậm chí có lẽ còn nhiều hơn ở phương Đông, vì vậy tôi quyết định viết về Karmamudra bằng tiếng Anh nữa. Động lực chính của tôi khi viết cuốn sách này là để làm sáng tỏ những sự nhầm lẫn và chương đầu tiên trực tiếp giải quyết tất cả những quan niệm sai lầm phổ biến.

BDG: Những phẩm chất nào đòi hỏi cho việc thực hành Karmamudra?

DNC: Đối với bất kỳ pháp tu nâng cao nào, sự chuẩn bị đều là điều bắt buộc. Đối với Ati Yoga (Đại Viên Mãn - Dzogchen), có các chủ đề tiền đề, và đối với Mahamudra (Đại Thủ Ấn) cũng tương tự như vậy. Ngay cả để thấu hiểu tánh Không (shunyata) theo Kinh thừa (Sutrayana), hành giả cũng cần hội tụ rất nhiều phẩm chất. Đối với phần lớn các pháp tu Karmamudra (Thủ ấn Hành Động), bạn cần phải có một nền tảng vững chắc về các bài tập yoga Tsa Lung (Kinh mạch và Khí), và trước khi thực hành Tsa Lung, lại có các pháp tu tiền đề khác. Yuthok Yonten Gonpo, vị tổ sư của nền y học cổ truyền Tây Tạng, đã truyền dạy các phương pháp Karmamudra khác nhau — một hệ thống dành cho những người đã được đào tạo về yoga Tsa Lung, và một hệ thống khác dành cho những người chưa từng được đào tạo về các loại yoga này. Điều này vô cùng độc đáo, bởi vì trong hầu hết các truyền thống khác, chỉ khi làm chủ được các pháp tu Tsa Lung nâng cao thì người ta mới có thể bước vào thực hành Karmamudra.

Ngày nay, nhiều vị đạo sư cho rằng không còn ai có đủ trình độ cao thâm về Tsa Lung (Khí mạch), và do đó không một ai có đủ tư cách để thực hành Karmamudra (Thủ ấn Hành Động). Tuy nhiên, Ngài Yuthok đã không đồng ý với quan điểm này và đã truyền dạy Karmamudra theo hai hệ thống khác nhau. Phương pháp dành cho những người không thực hành Tsa Lung chính là chủ đề trong cuốn sách của tôi. Dĩ nhiên, Ngài Yuthok không hề nói rằng chúng ta không cần bất kỳ phẩm chất hay sự rèn luyện chuẩn bị nào. Đối với hệ thống thứ hai này, các điều kiện tiên quyết bao gồm các pháp tu tiền hành Ngöndro, Đạo Yoga (Bổn sư tương ưng pháp), và Kyerim (Giai đoạn Phát sinh). Điểm mấu chốt ở đây là việc rèn luyện yoga nâng cao với các kinh mạch và khí hóa không còn là điều bắt buộc nữa. Đây chính là cách tiếp cận vô cùng đặc biệt của Ngài Yuthok khi trình bày về Karmamudra, giúp nó trở nên thực tế và dễ tiếp cận hơn đối với con người thời hiện đại.

 



Yuthok Yabyum. Image courtesy of Dr. Nida Chenagtsang

BDG: Cuốn sách của bạn được dành tặng cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là những người đã bị lạm dụng dưới danh nghĩa của các truyền thống tâm linh và tôn giáo. Bằng cách nào những giáo lý về Karmamudra có thể giúp ích cho những người đó và bảo vệ họ khỏi sự lạm dụng như vậy?

DNC: Lý do tôi dành tặng cuốn sách này cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục là vì tôi có rất nhiều bệnh nhân và bạn bè là nạn nhân của vấn đề này, tôi đã chứng kiến tận mắt những chấn thương tâm lý và nỗi đau mà nó mang lại cho cuộc sống của họ. Thật không may, một số trường hợp trong số này lại xảy ra ngay trong truyền thống Phật giáo Kim Cang thừa Tây Tạng. Khi mọi người tìm kiếm nguyên nhân của sự lạm dụng này, họ thường đi đến kết luận rằng vấn đề nằm ở chính bản thân truyền thống đó. Tôi muốn làm rõ rằng vấn đề không nằm ở hệ thống giáo lý hay pháp tu Karmamudra(Thủ ấn Hành Động), mà vấn đề nằm ở việc một số cá nhân cụ thể đã trục lợi và sử dụng sai lệch các giáo lý này. Bản thân hệ thống này đã bị nhiều giáo thọ (người thầy) lạm dụng, và điều đó đã gây ra sự hoang mang, nhầm lẫn sâu sắc cho các môn sinh. Vì tình yêu dành cho truyền thống này, tôi muốn chia sẻ những thông tin rõ ràng về pháp tu này, để các môn sinh có thể nhận biết được khi nào truyền thống đang bị lợi dụng và làm giả.

Dĩ nhiên, thật khó để sửa chữa những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng một nền giáo dục đúng đắn chính là phương pháp tốt nhất để ngăn chặn các hành vi lạm dụng tiếp diễn trong tương lai. Theo truyền thống, những giáo lý này vốn được giữ bí mật để tránh những hiểu lầm tiềm ẩn hoặc việc lạm dụng từ những người không đủ phẩm chất. Tuy nhiên ngày nay, tôi nghĩ chính sự bí mật này lại vô tình góp phần vào việc lạm dụng và trục lợi. Nếu các môn sinh không có được thông tin rõ ràng, họ sẽ không thể tự mình phân định được khi nào bản thân đang bị lợi dụng. Tôi thật sự hy vọng rằng nhiều người trẻ sẽ đọc cuốn sách này và hiểu biết về pháp tu Karmamudra chân chính.


PHẦN 2- TÍNH DỤC TRONG TRUYỀN THỐNG PHT GIÁO TÂY TẠNG

Sexuality in the Tibetan Buddhist Tradition: An Interview with Dr. Nida Chenagtsang, Part Two

TÍnh dục trong Phật giáo Tây Tạng là một chủ đề đầy hấp dẫn nhưng cũng không kém phần tranh nghị. Cuốn sách mới xuất bản gần đây mang tên Karmamudra: The Yoga of Bliss  [Thủ ấn Hành Động: Yoga Phúc Lạc (Tính dục trong Y học và Phật giáo Tây Tạng)] đã truyền cảm hứng cho tôi thảo luận về chủ đề này với chính tác giả của nó—vị bác sĩ Tây Tạng nổi tiếng thế giới, đồng thời là bậc thầy hướng dẫn yoga và thiền định, Tiến sĩ Nida Chenagtsang. Cuốn sách của ông nhằm mục đích xua tan những quan niệm sai lầm về vị trí của tính dục trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm trình bày về 'pháp tu kết hợp' hay 'yoga phúc lạc', còn được gọi là Karmamudra, theo truyền thống y học Tây Tạng của dòng Yuthok Nyingthig. Karmamudra bao gồm các bài tập yoga, sử dụng năng lượng tình dục và hợp nhất trạng thái cực khoái với thiền định. Pháp tu độc đáo này cung cấp những phương pháp đơn giản để làm việc với đam , từ đó chuyển hóa dục vọng thành nguồn suối của sự gia trì, sức khỏe và tăng trưởng tâm linh.

Buddhistdoor Global đã phỏng vấn Tiến sĩ Nida về các quan niệm đối với tình dục và sức khỏe tình dục trong Y học Tây Tạng, cũng như về một trong những dự án gần đây của ông: Pure Land Farms (Trang trại Tịnh độ) – nơi nhằm mục đích lan tỏa tri thức về Sowa Rigpa (Y học cổ truyền Tây Tạng).

 

Buddhistdoor Global: Tính dục và tình dục mật tông có vị trí gì trong truyền thống Phật Giáo Tây Tạng?

Dr. Nida Chenagtsang: Ở phương Tây, có một sự hiểu lầm lớn rằng từ 'tantra' đồng nghĩa với tình dục. Thực chất, Tantra là về sự rèn luyện tâm linh chân chính; nó bao trùm mọi khía cạnh trong trải nghiệm cuộc sống của con người, mà tình dục chỉ là một phần trong đó. Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, chúng tôi có rất nhiều loại pháp tu khác nhau giúp chúng tôi làm việc với tất cả các khía cạnh khác nhau của tiến trình cuộc sống đầy năng động và rộng lớn này. Ví dụ, có Sáu Pháp Yoga của dòng Naropa (Lục pháp Naropa), giải quyết trạng thái thức, trạng thái ngủ và trải nghiệm cái chết của chúng ta. Có rất nhiều kiểu người khác nhau, mỗi người có tính cách và thói quen khác nhau—chẳng hạn, có những người thích ngủ nhiều hoặc là những người có giấc mơ rất sống động, vì vậy đối với họ, việc tập trung vào Tịnh Quang Yoga (Yoga Ánh sáng trong giấc ngủ sâu) hoặc Mộng Yoga (Yoga Giấc mơ) là điều rất tốt. Những người khác lại có nỗi sợ hãi sâu sắc xung quanh tiến trình cận tử và thế giới bên kia, vì vậy họ nên rèn luyện các pháp tu về cái chết như Bardo Yoga (Yoga Thân trung ấm) và Phowa Yoga (Yoga Chuyển di thần thức). Hoàn toàn tương tự như vậy, Karmamudra (Thủ Ấn Hành Động) là pháp tu hoàn hảo dành cho những người không biết cách xử lý hoặc làm việc một cách đúng đắn với năng lượng và ham muốn tình dục của mình, để nguồn lực mạnh mẽ này có thể được chuyển hóa và trở nên hữu ích, thay vì mang tính hủy hoại. Các pháp tu Kim Cang thừa được thiết kế để giải quyết các nhu cầu khác nhau trong cuộc sống; không bắt buộc mọi người đều phải thực hành tình dục tantra.



Yuthok yab-yum. Image courtesy of Dr. Nida Chenagtsang

BDG: Bạn nghĩ gì về những tuyên bố trong một số bộ kinh mật tông Phật giáo rằng chính đại lạc của sự hợp nhất tình dục đã giúp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đạt được giác ngộ?

DNC: Theo nhiều kinh điển Mật tông, chẳng hạn như Kinh Thời Luân (Kalachakra Tantra) và Kinh Bí Mật Tập Hội (Guhyasamaja Tantra), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã hóa hiện thành một trong những vị Bổn tôn tối cao thuộc tầng Tối Thượng Du Già Mật tông (Anuttarayoga Tantra), và sau đó Ngài đã truyền thụ các giáo lý về sự hợp nhất tình dục. Chúng ta không thể khẳng định chắc chắn liệu đây có phải là con đường dẫn Ngài đến sự giác ngộ tối hậu hay không, hay Ngài đã nhận ra rằng đây cũng là một phương pháp để đạt được quả vị tâm linh sau khi bản thân đã đắc đạo, nhưng Ngài đã truyền lại những giáo lý này cho chúng ta. Tôi không quá chắc chắn về phần đó, nhưng dù thế nào đi nữa, theo Phật giáo Kim Cang thừa, không có gì nghi ngờ về việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có mối liên hệ nào đó với các giáo lý này. Dĩ nhiên, những người tu theo Hiển tông Kinh Thừa (Sutrayana) không đồng ý với điều này—đây là một chủ đề thảo luận lớn. Nhưng như tôi đã đề cập trong cuốn sách của mình, Đức Thích Ca vốn là một hoàng tử, Ngài đã kết hôn, đã làm cha, nên dĩ nhiên Ngài hiểu rất rõ về tình dục. Việc Ngài tích hợp điều này vào con đường tâm linh của mình ở mức độ nào thì lại khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn của Mật tông (Tantrayana) hay Hiển tông, và dĩ nhiên, đó là một chủ đề lớn và đầy tranh nghị."

BDG: Sức khỏe tình dục theo truyền thống Yuthok Nyingthig là gì?

 DNC: Sức khỏe tình dục là một chủ đề thuộc về Sowa Rigpa (Y học Tây Tạng); nó không liên quan trực tiếp đến Yuthok Nyingthig. Trong y học Tây Tạng, chúng tôi thảo luận về các lối sống khác nhau, một trong số đó là lối sống "thường nhật", tức là đề cập đến các hành vi hàng ngày của chúng ta. Y học Tây Tạng không hề cho rằng tình dục là khía cạnh duy nhất hay quan trọng nhất trong cuộc sống, nhưng nó thừa nhận rằng tình dục là một phần tự nhiên của đời sống đối với người cư sĩ. Các văn bản y học truyền thống cũng mô tả các loại vấn đề sức khỏe cụ thể có thể phát sinh đối với những người xuất gia (tăng ni)—những người hoàn toàn không tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục nào. Do đó, tình dục được coi là rất quan trọng, cả trong việc phòng ngừa bệnh tật lẫn trong việc điều trị một số loại bệnh cụ thể. Đây là một câu hỏi mang tính y khoa, không phải tâm linh. Sức khỏe tình dục hiện nay cũng đang trở thành một chủ đề lớn trong nền khoa học y tế hiện đại—các chứng rối loạn chức năng tình dục, các vấn đề tâm căn (tâm lý biểu hiện qua thể xác), hay các rắc rối tâm lý kết nối với tình dục đều là những vấn đề đang được thảo luận trong y học hiện đại, và y học cổ truyền Tây Tạng đã không hề phớt lờ chủ đề quan trọng này. Trong câu hỏi của bạn, bạn đang hỏi về truyền thống Yuthok Nyingthig, nhưng cuốn sách của tôi không chỉ viết về Yuthok Nyingthig, nó còn nói về Sowa Rigpa được giảng dạy trong Tứ Bộ Y Học Mật Điển (Four Tantras)—bốn tập sách vốn là nền tảng của y học cổ truyền Tây Tạng. Với tư cách là một bác sĩ, tôi cảm thấy điều quan trọng là phải thảo luận về tình dục—không chỉ từ góc độ tâm linh, mà còn từ góc độ y khoa.

BDG: Một trong những dự án gần đây của ông là việc thành lập Pure Land Farms (Trang trại Tịnh độ), một thánh địa rộng 10 mẫu Anh (khoảng 4 hecta) tại Topanga, California. Ông có thể cho chúng tôi biết về mục tiêu của dự án này không? Ông có kế hoạch đưa các giáo lý về Karmamudra vào chương trình hoạt động tại đây không?

DNC: Tôi vẫn luôn tự gọi mình là một 'người nông dân' của Sowa Rigpa, đi gieo những hạt giống y học Tây Tạng trên khắp thế giới. Vì vậy, ước mơ của tôi luôn là có được một trang trại thật sự với một khu vườn bách thảo chứa đầy các loài cây chữa bệnh, nơi tôi có thể giáo dục mọi người về các loại thảo mộc cũng như sản xuất các công thức thảo dược Tây Tạng. Một mục tiêu khác của dự án Tịnh Độ (Pure Land) là thành lập một ngôi trường chính quy về y học Tây Tạng, nơi các học viên nghiêm túc có thể đào tạo chuyên sâu và công chúng có thể đến tham gia các buổi hội thảo, chuyên đề ngắn hạn. Chúng tôi cũng đang xây dựng một ngôi đền tên là Yuthok Ling ('nơi chốn' hoặc 'cõi' của Ngài Yuthok) để tổ chức các khóa tu, giáo giới và thực hành nhóm thường kỳ nhằm tiếp nối dòng mạch của truyền thống Yuthok Nyingthig độc đáo này. Với tinh thần bất phân phái của Ngài Yuthok, ngôi đền chùa dĩ nhiên sẽ mở cửa cho hành giả thuộc mọi truyền thống. Khi tôi trở lại Hoa Kỳ trong chuyến lưu diễn giảng dạy hàng năm vào tháng 9 này, tôi sẽ dành ba ngày để truyền dạy về Karmamudra (Thủ ấn Hành Động) từ cuốn sách mới của mình. Trang Trại Tịnh Độ (Pure Land Farms) là một nơi rất độc đáo. Nó hoàn toàn mang tính nông thôn và hẻo lánh, nhưng vì nằm ngay rìa Los Angeles nên rất dễ tiếp cận. Nơi đây có thể trở thành một thánh địa chữa lành thật sự cho những người thành thị bận rộn. Điều này rất phù hợp với truyền thống Yuthok, vốn là con đường của sự tích hợp chứ không phải là sự cô lập, và là con đường đặc biệt thích hợp cho con người thời hiện đại—những người không giống như các hành giả thời cổ đại./.

See more

Sorig Khang International
Pure Land Farms