Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

GÓC NHÌN CỦA PHẬT GIÁO VỀ LÒNG HIẾU THẢO

A Buddhist perspective on Filial Piety

Tác giả:  Chin Kee Thou
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



                                                                ***

Nhìn chung, lòng hiếu thảo đòi hỏi con cái phải dành tình yêu thương, sự tôn kính, phụng dưỡng và kính trọng đối với cha mẹ cùng những người bề trên khác trong gia đình, chẳng hạn như ông bà hoặc anh chị lớn. Những hành động thể hiện lòng hiếu thảo bao gồm việc vâng lời cha mẹ, chăm sóc khi họ già yếu, và làm việc chăm chỉ để chu cấp cho họ những tiện nghi vật chất như thức ăn, tiền bạc hoặc sự chăm sóc ân cần.

Quan niệm này xuất phát từ thực tế là cha mẹ đã ban tặng mạng sống cho con cái, đồng thời nuôi nấng họ suốt những năm tháng trưởng thành bằng việc chu cấp thức ăn, giáo dục và các nhu cầu vật chất. Sau khi nhận được tất cả những ân huệ này, con cái vì thế sẽ mãi mang nợ cha mẹ. Để ghi nhận món nợ ngàn đời này, con cái phải tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ suốt đời mình.

Lòng hiếu thảo được coi là một đức tính cốt lõi trong nền văn hóa Trung Hoa và các quốc gia Đông Á khác, và đây cũng là chủ đề chính của nhiều câu chuyện trong tuyển tập nổi tiếng "Nhị thập tứ hiếu" (二十四孝 - 24 tấm gương hiếu thảo). Những câu chuyện này mô tả cách con cái thể hiện các phong tục hiếu thảo trong quá khứ.

01- Lòng hiếu thảo cảm động đến thần linh: Đại Đế Ngu Thuấn.
02- Đích thân nếm thử thuốc của mẹ: Vua Hán Văn Đế.
0
3- - Mẹ cắn ngón tay, lòng con đau xót: Tăng Tham (Tăng Tử).
0
4- - Mặc áo bông lau, chịu đựng mẹ kế tàn nhẫn: Mẫn Tử Khiên.
0
5- Gánh gạo đường xa phụng dưỡng cha mẹ: Tử Lộ (Trọng Do).
06- Bán mình làm nô lệ để chôn cất cha: Đổng Vĩnh.
07- Kiếm sữa nai chữa bệnh cho cha mẹ: Diễm Tử (Đàm Tử).
08- Làm thuê làm mướn nuôi mẹ: Giang Cách.
09- Giấu quýt đem về biếu mẹ: Lục Tích.
10- Nuôi mẹ chồng bằng sữa của chính mình: Đường phu nhân.
11- Cho muỗi hút máu để cha ngủ ngon giấc: Ngô Mông.
12- Nằm trên băng lạnh bắt cá chép cho mẹ kế: Vương Tường.
13- Chôn con cứu mẹ: Quách Cự.
14- Tay không đấu hổ cứu cha: Dương Hương.
15- Từ quan đi tìm mẹ: Chu Thọ Xương.
16- Lo lắng bệnh tình, nếm phân của cha: Dữu Khiêm Lâu.
17- Mặc quần áo sặc sỡ, giả làm trò cười mua vui cho cha mẹ: Lão Lai Tử.
18- Hái dâu chia hai giỏ phụng dưỡng mẹ: Thái Thuận.
19- Quạt gối mùa hè, sưởi chăn mùa đông: Hoàng Hương.
20- Suối phun nước ngọt, cá chép nhảy lên bờ: Giang Thi.
21- Khóc bên mộ mẹ mỗi khi trời nổi sấm sét: Vương Bầu (Vương Duy Viên).
22- Khắc gỗ thờ cha mẹ: Đinh Lan.
23- Khóc đến mức măng mọc từ lòng đất mùa đông: Mạnh Tông.
24- Đích thân cọ rửa bồn vệ sinh cho mẹ: Hoàng Đình Kiên.

 Bà Đường cho mẹ chồng bú sữa

Lòng Hiếu Thảo Trong Đạo Phật

Trong bài luận văn của ông Quảng Hưng có tiêu đề “Lòng hiếu thảo trong Phật giáo nguyên thủy” (đăng trên Tạp chí Đạo đức Phật giáo, Trung tâm Nghiên cứu Phật học, Đại học Hồng Kông), ông đã viết về kết quả khảo cứu các văn bản Phật giáo sơ kỳ của mình. Việc phân tích các đoạn văn liên quan đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng lòng hiếu thảo là một trong những khía cạnh quan trọng của các giáo lý đạo đức Phật giáo nguyên thủy. Lòng hiếu thảo đã được các Phật tử Ấn Độ thời kỳ đầu thực hành như một cách để báo đáp công ơn đối với cha mẹ; như một hành vi đạo đức thiện lành cốt lõi; và như là Giáo pháp, một trật tự của xã hội. Và trên cơ sở này, bài luận cũng chứng minh rằng các Phật tử Ấn Độ sơ kỳ thực hành lòng hiếu thảo không phải như một sự “thỏa hiệp với đạo đức hiếu thảo của đạo Bà-la-môn”, mà là một giáo lý quan trọng do chính Đức Bổn Sư (Đức Phật Thích Ca) truyền dạy.

Có một vài bài kinh trong Kinh tạng Pali đặt trọng tâm rất lớn vào lòng hiếu thảo và việc thể hiện sự tôn kính đối với cha mẹ:

“Này các Tỷ-kheo, có hai người không thể dễ dàng đền ơn được. Hai người đó là ai? Chính là mẹ và cha.

Dù cho một người có cõng mẹ trên một vai và cõng cha trên vai kia, và [trong khi làm như vậy] người đó có tuổi thọ đến trăm năm, sống đến trăm tuổi; và nếu người đó có phụng dưỡng cha mẹ bằng cách thoa dầu thơm, mát-xa, tắm rửa, và xoa bóp tay chân cho họ, và ngay cả khi cha mẹ tiểu tiện, đại tiện ngay trên vai mình, thì người con ấy vẫn chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ, cũng chưa trả hết ơn cho họ.

Dù cho người con có tôn phong cha mẹ lên làm những bậc chúa tể và quân vương tối cao trên cõi đại địa bao la tràn ngập bảy thứ trân bảo này, thì người đó vẫn chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ, cũng chưa trả hết ơn cho họ. Vì cớ sao? Vì cha mẹ đã giúp ích rất nhiều cho con cái; họ nuôi nấng, cho ăn và chỉ cho con cái thấy thế giới này.

Nhưng, này các Tỷ-kheo, nếu cha mẹ không có đức tin, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ có đức tin; nếu cha mẹ sống không đạo đức, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ sống có giới hạnh; nếu cha mẹ bỏn xẻn keo kiệt, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ lòng rộng rãi phát tâm bố thí; nếu cha mẹ không có trí tuệ, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ có trí tuệ: bằng cách như vậy, người con ấy đã làm đủ để đền ơn cha mẹ, đã trả hết ơn cho họ, và đã làm nhiều hơn cả mức đủ để báo hiếu.” [chương Hai Pháp của Tăng Chi Bộ Kinh.]

Vì vậy, “Phụng dưỡng cha và mẹ… đây là điềm lành tối thượng (phước báu lớn nhất)”. [Kinh Đại Hạnh Phúc (Kinh Điềm Lành) ll/4, (Sn. 262)].

Đó thật sự là một nghĩa cử cao đẹp của Ghatikara (Kỳ-bà-ca-la), một vị đệ tử của Đức Phật Ca Diếp (Kassapa). Ông đã thể hiện lòng hiếu thảo của mình để phụng dưỡng cha mẹ già yếu và mù lòa, chấp nhận hy sinh và trì hoãn việc xuất gia giã từ ngôi nhà để sống đời không gia đình. “Jotipala (Nặc-đề-ba-la) hỏi Ghatiḳara: ‘Này Ghatiḳara bạn thân mến, giờ đây khi bạn đã được nghe Giáo pháp này rồi, tại sao bạn không xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống cuộc đời không gia đình?’ – ‘Jotipala bạn thân mến, bạn không biết rằng tôi còn phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu và mù lòa của mình hay sao?’ ” [Kinh Ghatikara số 81 (Trung Bộ Kinh, ii, 48)].

Tuy nhiên, giống như việc làm từ thiện mà thiếu đi trí tuệ, việc báo hiếu bằng những hành vi bất thiện (không lành mạnh) sẽ không mang lại bất kỳ lợi ích nào, ngược lại còn tạo ra ác nghiệp và thậm chí khiến người đó bị tái sinh vào các cõi khổ đau (ác đạo).

“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ mà làm những điều phi pháp, làm những điều bất chính. Rồi vì những hành vi phi pháp, bất chính đó, các cai ngục địa ngục kéo anh ta quăng vào địa ngục. Liệu người đó có được lợi ích gì khi nói rằng: ‘Tôi làm điều phi pháp, làm điều bất chính là vì cha mẹ tôi. Xin các cai ngục đừng [quăng] tôi vào địa ngục!’? Hay cha mẹ anh ta có giúp ích được gì cho anh ta khi nói rằng: ‘Nó làm điều phi pháp, làm điều bất chính là vì chúng tôi. Xin các cai ngục đừng [quăng] nó vào địa ngục!’?”

Bạch tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất), không thể được. Ngay cả khi người đó đang khóc lóc thảm thiết, các cai ngục vẫn sẽ quăng anh ta vào địa ngục.” [Kinh Dhanañjāni số 97 (Trung Bộ Kinh.ii, 187)].

Lòng biết ơn và tôn kính Mẹ

"Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân làm nổi bật nỗi đau đớn và sự hy sinh của người mẹ trong suốt thời gian mang thai. Đức Phật bảo ngài A-nan: 'Hãy lắng nghe kỹ, Ta sẽ giảng chi tiết cho ông. Thai nhi nằm trong bụng mẹ mười tháng. Mẹ trải qua bao cay đắng! Tháng thứ nhất, sự sống thai nhi mỏng manh như giọt sương trên cỏ: rất dễ tan biến trước trưa'."

"Tháng hai, phôi thai đông tụ như váng sữa. Tháng ba, nó như cục máu đông. Tháng tư, hình hài giống con người. Tháng năm, năm bộ phận (tay, chân, đầu) thành hình. Tháng sáu, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) phát triển. Tháng bảy, 360 xương khớp và 84.000 lỗ chân lông hình thành. Tháng tám, trí tuệ và chín lỗ (cửu khiếu) thành hình. Tháng chín, thai nhi biết hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn của mẹ như đào, lê, rễ cây và ngũ cốc."

“Trong thân người mẹ, năm tạng (chứa đựng) rủ xuống, sáu phủ (truyền hóa) quấn quanh hướng lên trên. Ba ngọn núi này hiện ra như thể núi Tu Di, núi Nghiệp và núi Huyết. Những ngọn núi tương tự này hợp lại tạo thành một dãy núi với các đỉnh cao và thung lũng sâu. Cũng như vậy, máu của mẹ từ các tạng phủ đông đặc lại tạo thành một chất duy nhất, trở thành thức ăn nuôi dưỡng thai nhi.”


“Vào tháng thứ mười của thai kỳ, thân thể thai nhi hoàn thiện và sẵn sàng chào đời. Nếu đứa trẻ vô cùng hiếu thảo, nó sẽ ra đời với hai tay chắp lại kính cẩn và cuộc sinh nở sẽ bình an, tốt lành, người mẹ không bị thương tổn hay đau đớn. Tuy nhiên, nếu đứa trẻ bản tính quá ngỗ ngược, đến mức có thể phạm vào năm tội nghịch, nó sẽ làm tổn thương tử cung, xé nát tim gan, hoặc mắc kẹt vào xương của mẹ. Khi đó, việc sinh nở sẽ đau đớn như ngàn nhát dao cắt, hay vạn thanh kiếm sắc nhọn đâm vào tim. Đó là những nỗi đau đớn khi sinh ra một đứa trẻ ngang ngược, nghịch ngợm.”

Bài kinh này cho thấy tầm quan trọng của người mẹ trong việc mang thai và sinh nở, đồng thời lòng kính trọng cùng sự biết ơn đối với người mẹ là vô lượng, không thể đong đếm được.

Tình yêu vô điều kiện của người mẹ dành cho con được Phật giáo tôn kính ở mức cao nhất và được dùng làm hình ảnh ẩn dụ cho tâm từ (metta) trong Kinh Từ Bi: “Như một người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình bằng cả mạng sống, cũng vậy, hãy nuôi dưỡng một tâm hồn bao la không giới hạn đối với tất cả chúng sinh.” (Sn. 149).

Do đó, trong Kinh tạng Pali cũng có nhiều bài kinh nói về việc thể hiện sự tôn kính đối với đấng sinh thành theo thứ tự từ ngữ là "mẹ và cha", đặt người mẹ lên trước người cha.

“Này các Tỷ-kheo, những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với Phạm Thiên. (2) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với các bậc đạo sư đầu tiên. (3) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với các vị thiên thần đầu tiên. (4) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với những bậc xứng đáng được cúng dường.

‘Phạm Thiên’, này các Tỷ-kheo, là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Bậc đạo sư đầu tiên’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Vị thiên thần đầu tiên’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Bậc xứng đáng được cúng dường’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. Vì sao vậy? Vì cha mẹ đã giúp ích rất nhiều cho con cái: họ sinh thành, nuôi dưỡng và chỉ cho con cái thấy thế giới này.”

Cha và mẹ được gọi là “Phạm Thiên”, và cũng được gọi là “những bậc đạo sư đầu tiên”. Họ xứng đáng nhận được những phẩm vật cúng dường từ con cái, bởi vì họ luôn thương xót con cái của mình.

Do đó, người hiền trí nên kính trọng và đối xử với cha mẹ bằng sự tôn kính. Người con nên phụng dưỡng cha mẹ với thức ăn và đồ uống, với quần áo và giường nằm, bằng cách xoa bóp, tắm rửa và rửa chân cho họ. Nhờ sự phụng dưỡng cha mẹ như vậy, người hiền trí sẽ được ca ngợi ngay trong đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được sinh về cõi trời lạc cảnh. (Tăng Chi Bộ Kinh, II, 71).

Cha và mẹ được gọi là
Những bậc "Phạm Thiên", những "bậc đạo sư đầu tiên"
Và là những bậc "xứng đáng được tôn kính",
Bởi vì họ luôn đem lòng từ bi thương xót
Đối với đàn con trong gia đình của mình.
Do đó, người hiền trí nên tôn kính cha mẹ,
Đối xử với họ bằng sự trân trọng xứng đáng,
Chu cấp cho họ thức ăn và đồ uống,
Dâng tặng họ quần áo và giường nằm,
Thoa dầu thơm và tắm rửa cho họ
Và cũng cúi xuống rửa chân cho họ.
Khi một người thực hiện sự phụng dưỡng như thế
Đối với mẹ và cha của mình,
Các bậc hiền triết sẽ ngợi khen người đó ngay tại đời này
Và ở đời sau, người ấy sẽ được vui hưởng lạc cảnh trên cõi trời.

(trích từ Kinh Phật Thuyết Như VậyKinh Tăng Chi Bộ)

“Này các Tỷ-kheo, bằng cách đối xử chân chính đối với bốn hạng người, người hiền trí, người có năng lực, người thiện lành sẽ giữ cho bản thân mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại; người ấy sẽ không bị khiển trách và vượt ra ngoài sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời người ấy tích lũy được rất nhiều công đức. Bốn hạng người đó là ai?

(1) Đối xử chân chính đối với mẹ mình…
(2) Đối xử chân chính đối với cha mình…
(3) Đối xử chân chính đối với Đức Như Lai…
(4) Đối xử chân chính đối với đệ tử của Đức Như Lai…

Bằng cách đối xử chân chính đối với bốn hạng người này, người hiền trí, người có năng lực, người thiện lành sẽ giữ cho bản thân mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại; người ấy sẽ không bị khiển trách và vượt ra ngoài sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời người ấy tích lũy được rất nhiều công đức.”

Một người biết đối xử chân chính đối với mẹ và cha của mình, đối với Đức Như Lai bậc giác ngộ, hoặc đối với đệ tử của Ngài, sẽ tích lũy được rất nhiều công đức. Nhờ vào hành vi đạo đức chân chính đó đối với cha và mẹ, các bậc hiền triết sẽ ngợi khen người ấy ngay tại đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được vui hưởng lạc cảnh trên cõi trời. (Tăng Chi Bộ Kinh, II, 4).

“Này các Tỷ-kheo, xem xét năm lý do này, cha và mẹ ước nguyện có một người con trai sinh ra trong gia đình. Năm lý do ấy là gì?

(1) ‘Được chúng ta nuôi dưỡng, nó sẽ phụng dưỡng lại chúng ta.
(2) Hoặc nó sẽ gánh vác công việc thay cho chúng ta.
(3) Truyền thống dòng họ của chúng ta sẽ được duy trì và kéo dài.
(4) Nó sẽ gìn giữ và quản lý tài sản thừa kế.
(5) Hoặc là, khi chúng ta đã qua đời, nó sẽ làm các lễ cúng dường (tích phước) để hồi hướng cho chúng ta.’ (Tăng Chi Bộ Kinh, III, 43).

Kinh Dhammika (2/14) có giảng rằng: “Một người nên phụng dưỡng cha mẹ một cách chân chính, và cũng nên hành trì một sinh kế chân chính (chánh mạng). Một cư sĩ có tâm tỉnh giác, tinh tấn thực hành giáo pháp này, sau khi qua đời sẽ được tái sinh vào cõi chư thiên được gọi là cõi Tự Quang (tự phát hào quang).” (Kinh Tập, 404).

Trong Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Sigālovāda Sutta) – bài kinh đưa ra lời khuyên về đạo đức cho một cư sĩ trẻ tuổi tên là Thi-ca-la (Sigāla) liên quan đến sáu phương (bốn phương chính, phương trên và phương dưới) mà anh ta vẫn thường lễ bái để tưởng nhớ lời cha dặn. “Có năm cách một người con cần phải phụng dưỡng cha mẹ mình như là phương Đông [tức là phương mặt trời mọc hay phương của sự sinh thành]: ‘Đã được cha mẹ nuôi dưỡng, nay con sẽ phụng dưỡng lại cha mẹ; con sẽ gánh vác các bổn phận thay cho cha mẹ; con sẽ giữ gìn dòng dõi và truyền thống của gia đình; con sẽ sống sao cho xứng đáng với phần tài sản được thừa kế; và con sẽ làm lễ cúng dường, bố thí hồi hướng cho cha mẹ khi các ngài qua đời.’

Có năm cách mà cha mẹ, khi được con cái phụng dưỡng như phương Đông như vậy, sẽ khởi tâm thương xót và đối xử lại với con: cha mẹ ngăn chặn con làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy cho con một nghề nghiệp, cưới gả một nơi xứng lứa vừa đôi cho con, và đến thời điểm thích hợp sẽ trao lại tài sản thừa kế cho con.” (Trường Bộ Kinh, III, 192).

Hậu quả của những đứa con bất hiếu

Bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng đều yêu thương, chăm chút con cái của mình với mong muốn chúng sẽ báo đáp lại bằng lòng hiếu thảo. Tuy nhiên, có những đứa trẻ sinh ra đã mang bản tính ngang ngược và ngỗ nghịch, “nếu đứa trẻ bản tính quá ngỗ ngược, đến mức có thể phạm vào năm tội nghịch, nó sẽ làm tổn thương tử cung, xé nát tim gan, hoặc mắc kẹt vào xương của mẹ. Khi đó, việc sinh nở sẽ đau đớn như ngàn nhát dao cắt, hay vạn thanh kiếm sắc nhọn đâm vào tim. Đó là những nỗi đau đớn khi sinh ra một đứa trẻ ngang ngược, nghịch ngợm.” (Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân). Luôn có những hậu quả thảm khốc cho những hành vi bất thiện như vậy.

Này các Tỷ-kheo, bằng cách đối xử sai trái đối với bốn hạng người, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc sẽ tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy sẽ đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp (tội lỗi). Bốn hạng người đó là ai?

(1) Bằng cách đối xử sai trái đối với mẹ mình, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(2) Bằng cách đối xử sai trái đối với cha mình, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(3) Bằng cách đối xử sai trái đối với Đức Như Lai, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(4) Bằng cách đối xử sai trái đối với đệ tử của Đức Như Lai, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

Kinh tạng Pali (Tăng Chi Bộ, Kinh Tập và Trường Bộ Kinh) nói về hậu quả của việc bất hiếu:

Do đối xử sai trái đối với bốn hạng người này, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc sẽ tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp. Một người đối xử sai trái đối với mẹ và cha mình, đối với Đức Như Lai bậc giác ngộ, hoặc đối với đệ tử của Ngài, sẽ tích lũy vô số ác nghiệp. Nhờ vào hành vi đạo đức sai trái đó đối với cha và mẹ, các bậc hiền triết sẽ phê phán người ấy ngay tại đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy phải đọa vào các cõi khổ đau. (Kinh Tăng Chi Bộ - AN II, 5)

“Nếu một người có đủ khả năng nhưng lại không phụng dưỡng mẹ hay cha mình khi họ đã già yếu, tuổi xuân đã qua, kẻ đó nên được biết đến là một kẻ hạ liệt (kẻ bị xã hội ruồng bỏ). Người nào đánh đập hoặc dùng lời lẽ lăng mạ cha mẹ, anh chị em, hay mẹ chồng/mẹ vợ của mình, ngươi nên biết kẻ đó là một kẻ hạ liệt.” (Kinh Kẻ Hạ Liệt - Vasala Sutta - Sn. 124 & 125)

Dù có cuộc sống giàu có, khá giả nhưng lại không phụng dưỡng cha mẹ khi họ đã già yếu và qua rồi tuổi thanh xuân — đây chính là một nguyên nhân dẫn đến sự bại vong (sụp đổ) của một người. (Kinh Bại Vong - Parabhava Sutta - Sn. 98)

“Như vậy, do không bố thí tài sản cho người nghèo khó... việc thiếu tôn kính đối với cha mẹ, đối với các bậc sa-môn, bà-la-môn và đối với các bậc trưởng thượng trong gia tộc ngày càng gia tăng. Hệ quả là, tuổi thọ và dung sắc của con người bị giảm sút; con cái của những người vốn có tuổi thọ dài hai thế kỷ rưỡi (250 năm) giờ đây chỉ có thể sống đến một trăm năm.” (Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống - Cakkavatti Sihananda Sutta - DN.iii, 71)

Đạo luật Phụng dưỡng Cha mẹ 1995 - của Singapore - Chương 167B:

Trong xã hội hiện đại với dân số già và tỷ lệ sinh thay thế thấp, nhiều người cao tuổi sẽ phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của nhà nước trong những năm tháng cuối đời, đặc biệt là những người không có con cái. Tuy nhiên, nhiều người con dù có khả năng chăm sóc lại chọn cách bỏ bê cha mẹ. Điều này đã thúc đẩy nhà nước ban hành Đạo luật Phụng dưỡng Cha mẹ (MPA), cung cấp cho cha mẹ cao tuổi hoặc túng thiếu đang sống tại Singapore một kênh pháp lý để yêu cầu sự phụng dưỡng từ con cái nếu họ không thể tự nuôi sống (tức là tự lo liệu) bản thân.

Tóm tắt ngắn gọn, theo quy định về các lệnh phụng dưỡng của Đạo luật MPA, tòa án có thể đưa ra một lệnh phụng dưỡng nếu xét thấy việc người con phải cấp dưỡng cho cha mẹ là công bằng và hợp lý; đồng thời người con đó có đủ khả năng chu cấp cho cha mẹ sau khi đã đảm bảo các nhu cầu của bản thân, của vợ/chồng và con cái họ; và người cha/mẹ đó, dù đã tự mình nỗ lực, vẫn không thể tự nuôi sống bản thân bằng công việc, tài sản hay từ bất kỳ nguồn thu nhập nào khác.

Khi ban hành lệnh phụng dưỡng vì lợi ích của cha mẹ, tòa án sẽ xem xét tất cả các tình tiết của vụ việc, bao gồm (nhưng không giới hạn ở) nhu cầu tài chính của người cha/mẹ, có tính đến các chi phí hợp lý về nhà ở và y tế; thu nhập, năng lực kiếm tiền, tài sản và các nguồn tài chính khác của người cha/mẹ, cũng như cách thức mà người cha/mẹ đó đã tiêu dùng khoản tiền tiết kiệm hoặc làm hao tán các nguồn lực tài chính của mình; cùng với những khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần của họ.

Tòa án cũng sẽ cân nhắc đến thu nhập, năng lực kiếm tiền, tài sản và các nguồn tài chính khác của người con, các chi phí phát sinh trong việc nuôi dưỡng vợ/chồng và con cái của người con, cùng với những đóng góp và sự chu cấp (dù là tài chính hay bằng hình thức khác) mà người con đó đã thực hiện để phụng dưỡng cha mẹ từ trước đến nay.

Liệu đây có phải là một đạo luật tốt để bắt buộc con cái phải thực hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ già yếu của họ, ít nhất là ở phương diện hỗ trợ tài chính hay không?

Lòng hiếu thảo là một đức tính trong Phật giáo bao gồm sự tôn kính đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tổ tiên. Đây là những người sở hữu trí tuệ quan trọng cùng những góc nhìn độc đáo về cuộc sống mà chúng ta có thể học hỏi. Lắng nghe những người lớn tuổi giúp họ cảm thấy được tôn trọng và kính trọng. Họ đã chăm sóc chúng ta, và xứng đáng nhận được điều tương tự để đáp lại.


Người đóng góp: Trần Kế Tổ (Chin Kee Thou)
Người đóng góp chịu trách nhiệm về bất kỳ sự sơ suất nào, dù là về mặt thực tế hay các khía cạnh khác.

https://buddhismanddailyliving.wordpress.com/2021/07/05/a-buddhist-perspective-on-filial-piety/

 

HIẾU THẢO CHÍNH LÀ TU DƯỠNG TÂM LINH

Filial Piety as Spiritual Cultivation

National Headquarters  September 13, 2019 | 

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


Chúng ta hãy trân trọng, biết ơn và báo đáp tình yêu thương của cha mẹ. Hiếu thảo trên thực tế là điều mang lại quả báo tốt đẹp nhất trong cuộc đời.

Pháp Sư Cheng Yen

 

Hiếu đạo – đức hạnh tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ – là một nguyên tắc đạo đức quan trọng trong Phật giáo. Pháp sư Cheng Yen thường lấy đây làm chủ đề trung tâm trong các bài giảng của bà, chỉ ra rằng hiếu thảo là một phần không thể tách rời của quá trình tu tập tâm linh.

Có biết bao điều để chúng ta tri ân nếu quán chiếu về những hy sinh của cha mẹ trong quá trình nuôi nấng ta khôn lớn trưởng thành. Trước hết, chúng ta nên trân quý sự vị tha của người mẹ, sự cam lòng chịu đựng những nỗi nhọc nhằn trong thai kỳ; sự đau đớn của mẹ lúc vượt cạn – nỗi đau xé ruột gan ấy lập tức tan biến ngay khi nhìn thấy gương mặt ta; và việc mẹ luôn đặt sự bình an, hạnh phúc của ta lên trên bản thân mình, ngay cả khi mẹ đã về già.

Trên thực tế, tình yêu thương vô điều kiện và không ngừng nghỉ của cả cha lẫn mẹ chính là biểu hiện của lòng đại bi; ân đức của họ sâu dày đến mức khó lòng báo đáp, như Đức Phật đã giảng giải cho các môn đồ từ hàng ngàn năm trước:

Ta bảo các con, này các tỳ-kheo, có hai hạng người không dễ gì báo đáp. Hai hạng người đó là ai? Là mẹ và cha. Dù cho các con có cõng mẹ trên một vai, cõng cha trên vai còn lại suốt 100 năm, và chăm sóc hai người bằng cách thoa dầu, đấm bóp, tắm rửa, lau chùi tay chân cho họ, và ngay cả khi họ có đại tiểu tiện ngay trên vai các con đi chăng nữa, thì bằng cách đó, các con vẫn chưa thể đền đáp hay báo hiếu xong cho cha mẹ mình. Dù cho các con có đưa cha mẹ lên ngôi vị thống trị tối cao khắp vùng đất bao la này, nơi tràn ngập bảy thứ trân bảo, thì bằng cách đó, các con vẫn chưa thể đền đáp hay báo hiếu xong cho cha mẹ. Vì sao lại như vậy? Vì cha mẹ đã làm rất nhiều điều cho con cái. Họ chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa con cái vào cuộc đời này.

Kinh Tri Ân (Kataññu Sutta) [Tăng Chi Bộ Kinh]

Hiếu thảo như một cách để báo đáp ân đức sâu dày của cha mẹ mới chỉ là điểm khởi đầu cho những gì bao hàm trong pháp môn tu tập tâm linh này. Nếu chúng ta xét đến giáo lý luân hồi của đạo Phật ( doctrine of rebirth,), thì mỗi một chúng sanh hữu tình đều có thể từng là cha hay là mẹ của chúng ta trong một tiền kiếp:

“Vòng luân hồi là vô thủy (không thể tìm thấy điểm bắt đầu). Một điểm khởi đầu là không thể thấy biết được, khi những chúng sinh bị màn vô minh che lấp, bị sợi dây ái dục trói buộc, cứ mãi luân hồi và trôi lăn (beings hindered by ignorance and fettered by craving ). Thật không dễ gì tìm được một chúng sanh trong quá khứ chưa từng một lần làm mẹ của các con... Thật không dễ gì tìm được một chúng sanh chưa từng làm cha […].”

Kinh Mata [Tương Ưng Bộ]

Vì vậy, lòng hiếu thảo của chúng ta đối với cha mẹ cần phải mở rộng để ôm trọn tất cả chúng sinh; nhờ đó, tâm từ bi của chúng ta sẽ tăng trưởng đến vô biên.

Hãy biết ơn cha mẹ và tất cả chúng sinh mỗi ngày. Trong mọi việc bạn làm, đừng bao giờ khiến họ phải thất vọng.

Pháp Sư Cheng Yen

Thực hành lòng hiếu thảo cũng là một cách để tạo thiện nghiệp và tích lũy phước báu, như Pháp Sư Cheng Yen đã giảng dạy qua bài kinh sau đây về lời chỉ dạy của Đức Phật dành cho một người con tuy hiếu thảo nhưng nghèo khó.

Vào thời Đức Phật, có một chàng trai nghèo không có ruộng đất cũng chẳng có tiền bạc, nhưng lại phải chăm sóc cha mẹ đã già yếu và bệnh tật. Anh dành toàn bộ thời gian của mình để phụng dưỡng cha mẹ và đi xin thức ăn để nuôi sống họ. Nghe tin Đức Phật đang thuyết pháp về việc tu tập tâm linh và bố thí từ thiện, [suy ngẫm] về hướng đi của cuộc đời mình, anh đã đến gặp Đức Phật để cầu xin sự chỉ dạy.


Đảnh lễ một cách tôn kính, chàng trai thưa với Đức Phật về hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan của mình: "Toàn bộ thời gian của con đều dành để chăm sóc cha mẹ. Cha mẹ con vừa yếu lại vừa bệnh, và con cần phải đảm bảo cho họ có đủ cái ăn. Bạch Đức Phật, con không có thời gian để tu tập tâm linh, cũng không có phương tiện để bố thí, vậy làm sao con có thể tạo ra phước báu khi trong tay không có gì để cho đi?"

Nghe thấy hoàn cảnh ngặt nghèo của anh, Đức Phật đã an ủi: "Con đã và đang tạo ra phước báu rồi đó!" Chàng trai trẻ, người vốn đang phải phụ thuộc vào lòng hảo tâm của người khác để nuôi sống cha mẹ, tỏ ra bối rối. Anh hoài nghi hỏi lại: "Làm sao có thể như vậy được ạ? Con thậm chí còn không thể làm việc để nuôi dưỡng cha mẹ. Con đã và đang nuôi sống họ bằng việc đi ăn xin mà."

Đức Phật giải thích: “Ngoài việc khất thực, con dành trọn thời gian bên cha mẹ, chăm sóc họ bằng sự kính trọng và yêu thương: đây, tự thân nó, đã là một hình thức tu hành. Không giống như một số người có thể bỏ rơi cha mẹ trong tình cảnh như vậy, con không bỏ rơi họ. Con đang tích lũy công đức. Ngoài ra, bằng việc khất thực để nuôi cha mẹ, con đã cho họ thấy hiếu đạo là gì. Con đã khơi gợi lòng trắc ẩn của họ và cho họ cơ hội để cúng dường. Khi khất thực, con cũng tạo thiện duyên với mọi người.”

Vì vậy,” Đức Phật thuyết phục chàng trai thêm, “khi con cho mọi người thấy cách con thực hành hạnh hiếu, vốn là con đường tu tập của con, con đang tạo ra phước báu to lớn cho các đời sau. Đó là lý do tại sao trong các kiếp tương lai, con không chỉ giàu có, mà còn có phương tiện để giúp đỡ người khác và làm việc từ thiện. Nếu con chăm sóc những người có hoàn cảnh khó khăn theo cách con đang chăm sóc cha mẹ mình bây giờ, con sẽ có thể giúp đỡ được nhiều người hơn nữa. Đó chính là đang bước đi trên Con đường Bồ Tát, con đường dẫn đến một tương lai tươi sáng. Ngay bây giờ, con đang lát viên gạch đầu tiên cho Con đường Bồ Tát (Bodhisattva Path) của mình bằng chính lòng hiếu thảo của con.”

Chàng trai trẻ vô cùng hạnh phúc khi biết rằng mình đã và đang tu tập, đang tạo ra phước báu. Cuối cùng anh đã hiểu rằng ngay cả việc xin thức ăn cũng có thể mang lại niềm vui cho người khác và cho họ một cơ hội để bố thí. Anh cảm thấy được an ủi khi biết điều này; được khích lệ để tiếp tục phụng dưỡng cha mẹ, anh sẽ tiếp tục đi xin thức ăn với lòng tôn kính như anh đã từng làm trước đây.

Nếu chúng ta muốn tu hành tâm linh, chúng ta cần phải thực hành lòng hiếu thảo đối với cha mẹ mình. Bằng cách đó, chúng ta phát triển lòng tôn kính đối với tất cả mọi người, điều vốn cốt lõi cho việc tu tập. Khi có của cải hoặc sức lực để giúp đỡ những người gặp khó khăn, chúng ta hãy nỗ lực chăm sóc họ bằng chính sự tôn kính mà chúng ta dành cho cha mẹ mình. Đây chính là cách một người bước đi trên Con đường Bồ Tát.

Về cốt lõi, Pháp Sư Cheng Yen muốn chúng ta hiểu rằng hiếu đạo chính là “nền tảng của đạo làm người” và là biểu hiện của “bản tính lương thiện nguyên thủy của con người”. Tác động tích cực của nó sẽ lan tỏa rộng khắp đến cộng đồng, toàn xã hội và toàn thế giới.

Làm sao để chúng ta có thể báo đáp công ơn của cha mẹ? Bằng cách thấu hiểu tâm tư cùng kỳ vọng của cha mẹ, từ đó biết trân trọng chính bản thân mình và sống một cuộc đời có tự trọng./.

 

https://tzuchi.us/blog/filial-piety-as-spiritual-cultivation

 

CHĂM SÓC NGƯỜI KHÁC CHÍNH LÀ CHĂM SÓC CHÍNH MÌNH.

Caring for Others is Caring for Ourselves

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Vì sao nó giúp chúng ta bộc lộ phiên bản tốt nhất của chính mình.

Giúp đỡ người khác thường được xem là một việc tốt nên làm. Không bắt buộc nhưng có thể tùy chọn. Tuy nhiên, theo nhiều nhà tâm lý học (many psychologists,), giúp đỡ người khác mang lại những lợi ích lớn cho sức khỏe. Nó củng cố cảm giác gắn kết tổng thể của chúng ta với người khác, đáp ứng những nhu cầu tâm lý cơ bản nhất của chúng ta. Vì vậy, giúp đỡ người khác không phải là điều tùy chọn. Nó rất cần thiết cho hạnh phúc tổng thể của chúng ta.

Từ thuở ban đầu, Phật giáo cũng coi việc giúp đỡ người khác là một thành phần không thể thiếu của hạnh phúc đích thực. Dưới đây là một vài quan điểm về lý do tại sao giúp đỡ người khác cũng chính là giúp đỡ chính mình.

1. Điều đó mang lại cho chúng ta sức mạnh và lòng can đảm.

Tất cả chúng ta đều cảm thấy tuyệt vời sau khi gọi điện cho một người bạn để cho họ biết rằng ta luôn ở bên cạnh họ, hoặc khi ta khích lệ một người thân trong gia đình đang trải qua giai đoạn khó khăn. Các nhà tâm lý học gọi cảm giác này là 'ngọn lửa ấm áp' (“warm glow.” )[1].

Phật giáo nhìn nhận ước muốn nhìn thấy người khác hạnh phúc là khía cạnh cao cả và thiêng liêng nhất trong trái tim con người. Trong khi một số thái độ tiêu cực, chẳng hạn như than vãn, có thể khiến chúng ta cảm thấy nhỏ bé và bất lực, thì khao khát giúp đỡ người khác lại giúp chúng ta khơi dậy lòng can đảm và trí tuệ của chính mình. Khi chúng ta nâng đỡ người khác, ta cũng được truyền cảm hứng để đối mặt và giải quyết những vấn đề đau đầu của chính bản thân.

Phật giáo nhìn nhận ước muốn nhìn thấy người khác hạnh phúc là khía cạnh cao cả và thiêng liêng nhất trong trái tim con người.

Giáo thọ Phật giáo Daisaku Ikeda[2] từng chia sẻ ( shares:):

Khi chúng ta quan tâm và chăm sóc người khác—nghĩa là giúp họ khơi dậy nguồn sinh lực của chính mình—thì sinh lực của bản thân chúng ta cũng sẽ tăng lên. Khi chúng ta giúp mọi người mở rộng cảnh giới cuộc sống của họ, cảnh giới cuộc sống của chính chúng ta cũng được mở rộng theo.

Trong một nghiên cứu ( study) gần đây của Đại học Columbia, các nhà nghiên cứu đã thiết lập một không gian trực tuyến, nơi những người tham gia có thể chia sẻ ẩn danh các câu chuyện và vấn đề cá nhân của họ.

Những người tham gia được đánh giá dựa trên mức độ hữu ích của họ trong việc bày tỏ sự đồng cảm và dành những lời động viên cho nhau. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những lợi ích tích cực nhất về mặt cảm xúc và nhận thức lại thuộc về những người trao đi sự giúp đỡ, chứ không phải những người chỉ nhận nó. Ví dụ, những ai giúp đỡ người khác vượt qua cảm xúc tiêu cực sẽ trở nên vững vàng hơn trong việc tự định hướng và làm chủ cảm xúc của chính mình.

Nói một cách đơn giản, giúp đỡ người khác chính là cách khơi dậy những điều tốt đẹp nhất bên trong chúng ta.



2. Điều đó giúp chúng ta nhìn nhận mọi việc một cách toàn diện hơn.

Cảm giác cô đơn hay bất lực thường có mối liên hệ chặt chẽ ( linked ) với việc chúng ta quá tập trung vào bản thân mình. Tuy nhiên, khi chúng ta mở rộng lòng mình để nâng đỡ một ai đó, chúng ta sẽ tạm rời mắt khỏi những rắc rối của chính mình để nhìn ra thế giới rộng lớn hơn. Hoạt động này gắn liền với việc giảm bớt chứng trầm cảm và nâng cao chỉ số hạnh phúc toàn diện.

Nó cũng mang lại cho chúng ta một góc nhìn mới về các vấn đề của bản thân, đồng thời gia tăng quyết tâm giải quyết chúng. Đôi khi, việc chỉ đơn thuần khao khát tiền bạc hay địa vị không thể tạo ra nguồn động lực sâu sắc mà chúng ta cần để đạt được ước mơ. Nhưng nếu động lực của chúng ta là "Tôi muốn đạt được điều này để truyền cảm hứng cho người khác", chúng ta sẽ tìm thấy thêm sức mạnh và lòng dũng cảm để vượt qua những lúc khó khăn nhất.

Trong tập great podcast, tuyệt vời này, luật sư nhân quyền Tanya Henderson đã chia sẻ lý do cô quyết định theo học trường luật: Cô muốn truyền cảm hứng cho hai cậu con trai nhỏ của mình. Cô biết rằng nếu bản thân không theo đuổi ước mơ, cô sẽ không thể khích lệ các con tự tin theo đuổi ước mơ của chúng sau này. Vài năm sau khi tốt nghiệp trường luật, cô đã thành lập Mina’s List, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên đào tạo phụ nữ tại Afghanistan tham gia tranh cử và giành chiến thắng vào nghị viện. Tính đến nay, họ đã giúp đỡ được tám người phụ nữ giành được ghế trong Nghị viện Afghanistan.

Vì vậy, chúng ta hãy cùng dang tay nâng đỡ và đồng hành cùng người khác. Đó chính là cách để chúng ta khơi dậy phiên bản dũng cảm nhất và hạnh phúc nhất của chính mình.


 

https://buddhability.org/purpose/caring-for-others-is-caring-for-ourselves/#:~:text=own%20agonizing%20problems.-,Buddhism%20sees%20this%20desire%20to%20see%20others%20become%20happy%20as,our%20own%20life%20force%20increases.

 



[1] "Warm glow": Hiệu ứng "ngọn lửa ấm áp" hoặc "ánh hào quang ấm áp". Đây là thuật ngữ tâm lý học và kinh tế học hành vi, chỉ cảm giác vui sướng, mãn nguyện nội tâm khi ta làm một việc thiện nguyện, vị tha.

[2] Daisaku Ikeda luôn được thế giới nhìn nhận là một lãnh đạo cư sĩ Phật giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20 và 21.

 

NGƯỜI PHẬT TỬ CHƯA TỪNG SỢ HÃI THỜI GIAN

 – Tuổi già có thể trở thành sức mạnh trong xã hội hiện đại như thế nào.

 Buddhists Have Never Feared Time – How Aging Can Be A Power In Modern Society


Tác giả:
Karoline Gore
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***
1- Thấu hiểu Kinh Khổ Tính (Kinh Dukkhatā).
2- Dòng chảy liên tục của sinh - tử (Sự tiếp diễn liên tục của sống và chết).
3- Một sự sắp đặt có tính tương hỗ (Mối quan hệ qua lại/Hai chiều).

***

Cách thức cấu trúc xã hội phân hóa theo độ tuổi đã thay đổi một cách căn bản trong thập kỷ qua. Số liệu thống kê từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) chỉ ra rằng số lượng công dân cao tuổi (trên 65 tuổi-will be over the age of 80) trên toàn cầu sẽ vượt quá số người dưới 15 tuổi, và đến năm 2050, tỷ lệ người trên 80 tuổi sẽ tăng thêm 5%. Tác động của điều này đã và đang được cảm nhận rõ rệt trên khắp thế giới; các quốc gia phát triển cao ở phương Tây đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng hưu trí, trong khi các xã hội đa thế hệ thường thấy ở Đông Á lại đối mặt với tình trạng trì trệ kinh tế khi giới trẻ ngày càng phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc tỷ lệ người thân lớn tuổi nhiều hơn (greater proportion of elderly relatives).

Tác giả cộng tác: Karoline Gore

Giữa bối cảnh này, những người theo đạo Phật có thể sẽ có một cái nhìn lạc quan; tuổi tác chưa bao giờ là một thử thách hay điều gì đáng sợ. Tuy nhiên, liệu điều này có thể ứng dụng vào thế giới hiện đại ngày nay hay không?


Figure 1: Một bức chân dung tuyệt đẹp về một sư cô lớn tuổi với gương mặt mãn nguyện đang cầu nguyện trước Bảo tháp Bodnath (Boudhanath), thủ đô Kathmandu, Nepal vào ngày 9 tháng 9 năm 2017.

 

Lưu ý của Biên tập viên: Nhiều truyền thống Phật giáo có một niềm tin kiên định vào khái niệm tái sinh và sự liên tục của các kiếp sống. Liên quan đến điều này là sự thấu hiểu về Tánh Không (Shunyata - Không và Đồng nhất). Điều này cũng mang lại sự an ủi cho chúng ta khi đối mặt với tuổi già, cũng như khi những người chúng ta yêu thương — và các vị Thầy của chúng ta — bước sang kiếp sống tiếp theo. Dưới đây là một video từ kênh YouTube chị em True Rebirth: https://Youtube.com/@truerebirth/"

Related:


 

1- Thấu hiểu Kinh Khổ Tính (Kinh Dukkhatā).

(Lưu ý: "Dukkhata Sutra" hay Dukkhatā Sutta là bài kinh ngắn trong Tăng Chi Bộ Kinh giảng giải về 3 loại tính chất của khổ gồm Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ).

"Cốt lõi trong cách tiếp cận của Phật giáo đối với sự lão hóa là những phương pháp được nêu trong Kinh Dukkhata (Kinh Khổ tính). Một bài phân tích về cách Phật giáo (of the Buddhist approach to aging) đối diện với tuổi già được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford đã chỉ ra rằng, phần lớn thái độ đối với việc già đi ở phương Tây chỉ tập trung vào việc giảm thiểu đau khổ. Nỗi sợ tuổi già thường gắn liền với sự mất mát; mất đi bạn bè, cảm xúc, cảm giác, ký ức, v.v. Việc bước sang những năm tháng tuổi già đồng nghĩa với việc mất đi sự tự chủ, sự thay đổi, và tất cả những hệ lụy đi kèm với điều đó."

Figure 2: "Đọc Kinh điển là một tu tập cốt lõi dành cho mọi lứa tuổi."

Trong Kinh Dukkhata (Kinh Khổ tính), có chép rằng:

'Này các tỷ-kheo, có ba loại khổ này. Ba loại nào? Khổ do đau đớn thể xác (Khổ khổ), khổ do các pháp hành/sự tồn tại có điều kiện (Hành khổ), và khổ do sự thay đổi/biến hoại (Hoại khổ).'

Điều này từ lâu đã là kim chỉ nam cho các Phật tử, giúp làm dịu đi phần lớn sự bất an đối với cái chết. Chúng giúp định hình lại nhận thức về cuộc sống và các giai đoạn của đời người, và làm thế nào để khi an trú trong hiện tại, thời gian và tuổi tác không còn là rào cản. Sợ hãi là một trong những 'chất độc' được chuyển hóa bằng chánh niệm. (Khi chúng ta duy trì chánh niệm, nỗi sợ hãi sẽ được giảm thiểu, bao gồm cả nỗi sợ già đi). Điều này giúp kiểm soát phản ứng trước những thử thách mà cuộc sống đặt ra và giữ vững sự lạc quan, cho dù đó là thông qua những sự thích nghi cần thiết để tìm lại sự tự chủ, hay việc thay đổi các mối quan hệ xã hội (the adaptations needed to find independence).


2
- Dòng chảy liên tục của sinh - tử (Sự liên tục giữa sự sống và cái chết)

Quan niệm cho rằng sự sống và cái chết là hai phần của cùng một hành trình vốn khá quen thuộc ngay cả bên ngoài Phật giáo. Các giáo lý hiện đại một lần nữa khẳng định điều đó; trong một buổi hỏi đáp với Geshe Damdul Namgyal do Ni sư Thubten Chodron xuất bản, bài viết đã nhấn mạnh rằng kiếp sống này giống như một hạt giống và kiếp sống tiếp theo chính là một mầm cây.

Trong thế giới quan này, có một nguyên tắc then chốt đối với các Phật tử, đó là giữ cho mình luôn năng động khi về già. Giờ đây, hơn bao giờ hết, thế giới đang rất cần trí tuệ cho các thế hệ trẻ. Bằng cách tiếp tục duy trì sự năng động trong gia đình và cộng đồng, các Phật tử có một cơ hội vô giá để truyền lại trí tuệ cho thế hệ mai sau, đồng thời bảo đảm rằng 'hạt giống' của họ sẽ trở thành 'mầm cây' tiếp theo.

Figure 3: Hình ảnh một thiện nữ Phật tử đang an nhiên chánh niệm bên xâu chuỗi trường.

3- Một sự sắp đặt có tính tương hỗ (Mối quan hệ qua lại/Hai chiều).

Một khía cạnh then chốt khác cần được làm rõ về việc già đi trong cộng đồng Phật giáo, đó chính là việc phụng dưỡng và chăm sóc các bậc thân sinh lớn tuổi. Như tờ World Tribune đã nhấn mạnh, chăm sóc người thân cao tuổi là một đức hạnh trong đạo Phật; đó vừa là trách nhiệm, vừa là một cơ hội lớn. Việc đồng hành và hỗ trợ để chuỗi tương tục sống - chết ấy được tiếp diễn hanh thông sang kiếp sống tiếp theo là một niềm vinh hạnh, và cũng là cách trọn vẹn nhất để tri ân một mối duyên tình cốt nhục.

Kinh Báo Hiếu (Kinh Bổn Nguyện Công Đức Của Cha Mẹ)

Tại Trung Quốc và Nhật Bản, các Kinh Báo Hiếu (Kinh Vu Lan và Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân) cho đến nay vẫn vô cùng phổ biến, đặc biệt là trong giới hộ pháp biện giáo Phật giáo. Việc quá chú trọng vào các tu viện đôi khi có thể khiến các Phật tử ít để tâm đến mái ấm gia đình mà hướng nhiều hơn về các truyền thống chung, tuy nhiên, các chương kinh điển vẫn luôn chỉ rõ truyền thống thực hiện bổn phận thiêng liêng này.

Hơn nữa, theo chuyên trang Guide to Buddhism, Đức Phật từng dạy rằng:
"Vì người đã nuôi nấng ta, ta sẽ phụng dưỡng lại người."

Điều này cũng có thể mở rộng ra ngoài phạm vi gia đình. Việc tình nguyện và hỗ trợ các bậc trưởng bối lúc cuối đời sẽ bảo đảm truyền thống đó được tiếp nối, và về lâu dài, khi chính những người hỗ trợ ấy bước vào tuổi già, họ cũng sẽ nhận lại sự chăm sóc như vậy. Giống như mọi truyền thống tôn giáo khác, thực hành luôn là yếu tố cốt lõi – vì vậy, việc bảo đảm giữ vững sợi dây liên kết sống động với Kinh điển và các nguyên lý của Kinh là điều vô cùng quan trọng.

Thế giới đang ngày càng già đi. Số lượng người sống thọ qua tuổi 65 ngày một tăng lên khi nền y tế được cải thiện và xã hội trở nên hiện đại hơn. Đối với các Phật tử, những người có cái nhìn khá bình thản và tỉnh táo trước tuổi già và cái chết, thì đây chính là một cơ hội. Bằng cách củng cố những bài học cốt lõi trong Kinh điển cùng các nguyên lý trong đời sống Phật giáo, các Phật tử có thể đóng một vai trò then chốt trong việc định hướng và giúp đỡ xã hội mới này./.


 

Antique Buddhas

August 1, 2026 at 10:02 pm

Cảm ơn bạn đã chia sẻ bài viết đầy cảm hứng này. Tôi rất trân trọng cách bài viết nhìn nhận sự lão hóa dưới lăng kính Phật giáo — như một cội nguồn của trí tuệ, lòng từ bi và cơ hội thăng tiến tâm linh, thay vì là một điều gì đó đáng sợ. Những chiêm nghiệm về vô thường và tính tương tục của việc tu tập mang lại một lời nhắc nhở an ủi rằng, mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có thể làm sâu sắc thêm hiểu biết của chúng ta về Chánh pháp, đồng thời tăng trưởng năng lực mang lại lợi lạc cho tha nhân.

Bài viết đã nhắc nhở một cách tuyệt đẹp rằng, dù thân thể tự nhiên biến đổi theo thời gian, nhưng những phẩm chất như lòng trắc ẩn, chánh niệm và tuệ giác vẫn có thể tiếp tục thăng hoa. Cảm ơn bạn đã truyền tải những giáo lý nâng đỡ tinh thần này một cách vô cùng sâu sắc và đầy khích lệ, khơi gợi niềm cảm hứng cho người đọc đón nhận tuổi già bằng lòng biết ơn, phẩm giá và niềm tự tin vào trí tuệ vượt thời gian của Đức Phật.

https://buddhaweekly.com/buddhists-have-never-feared-time-how-aging-can-be-a-power-in-modern-society/