Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Bạn có phải là người sống theo
thói quen không? Trong số những chiếc cốc cà phê trong bếp của bạn, có chiếc
nào bạn đặc biệt yêu thích, dù chiếc nào cũng có thể dùng được không? Bạn có tạo
ra những nghi thức cá nhân—chẳng hạn như cách bạn đọc báo, thưởng thức một ly
rượu vào buổi tối, hay thực hiện việc vệ sinh cá nhân—mang lại cho bạn cảm giác
yên tâm rằng cuộc sống vẫn đang diễn ra đúng như nó nên thế không?
Nếu câu trả lời của bạn cho bất
kỳ câu hỏi gợi mở nào ở trên là “có”, thì, thưa bạn đọc thân mến, rất có thể bạn
đã từng là một con mèo trong kiếp trước. Và với riêng tôi, không có vinh dự nào
cao hơn thế!
Chúng tôi, loài mèo, là những
sinh vật ưa thói quen nhất. Những chỗ nằm phơi nắng yêu thích, giờ ăn, nơi ẩn nấp,
và cột cào móng đều là những điều mang lại cho chúng tôi niềm hài lòng mỗi
ngày. Và chính vì nhiều con người cũng yêu thích nếp sống đều đặn nên chúng tôi
mới cân nhắc cho phép họ ở chung nhà—chứ chưa nói đến việc giữ họ lại như những
“nhân viên” phục vụ cho mình.
Dĩ nhiên,
cũng có những xáo trộn mà tất cả chúng ta đều thích thú. Cuộc sống sẽ tẻ nhạt
biết bao nếu thiếu đi, chẳng hạn, việc thỉnh thoảng được nếm thử một món ngon
mới—như cái ngày bà Trinci đến Jokhang với vẻ đắc thắng, mang theo một khay
lasagna cà tím nướng cho mọi người cùng thưởng thức. Hoặc
như màn giải trí buổi sáng ở Café Franc, khi một quý ông châu Á kiên nhẫn bẻ
chiếc bánh mì nướng bữa sáng của mình thành từng miếng nhỏ, phết bơ và mứt cam
lên từng miếng một, rồi dùng đũa để ăn chúng.
Những sự việc như thế là những
phút đổi gió đáng hoan nghênh. Nhưng khi những biến cố quan trọng hơn đe dọa
phá vỡ nhịp sống quen thuộc và dễ chịu, thì đó lại là một chuyện hoàn toàn
khác. Tôi đang nói đến sự thay đổi—một chủ đề ưa thích của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Và như chính Đức Phật đã nói, đó là điều duy nhất không bao giờ thay đổi trong
cuộc sống.
Nói thay cho phần lớn loài mèo
và con người, có lẽ sẽ đúng khi nói rằng sự thay đổi là điều chúng ta thà để xảy
ra với những kẻ khác hơn là với chính mình. Nhưng than ôi, dường như không có
cách nào tránh khỏi nó.
Bạn cứ ở đó, tin rằng cuộc sống
quen thuộc của mình—với tất cả những nghi thức và thói quen đem lại cảm giác
yên tâm—sẽ tiếp diễn mãi mãi. Rồi bất ngờ, từ đâu đó, như một con chó pit bull
dại dột, sùi bọt mép bị thả rông, hay một hình mẫu quỷ dữ nào đó đột ngột xuất
hiện ngay trước mặt trên vỉa hè, mọi thứ bỗng chốc bị đảo lộn hoàn toàn.
Hành trình tự mình khám phá ra sự thật này của tôi bắt đầu
một cách khá bình lặng vào một buổi sáng nọ, khi tôi thong dong bước ra từ buổi
thiền sáng cùng Đức Thánh Thiện vào
văn phòng trợ lý điều hành mà chẳng chút nghi ngại gì.
Ban đầu chẳng có gì được nói ra
cả. Ngày làm việc hôm đó cũng bắt đầu như bao ngày khác, với tiếng chuông điện
thoại reo vang và các cuộc họp như thường lệ, rồi người tài xế đến để đưa Ngài
ra sân bay. Tôi biết ngài sẽ đi vắng trong hai tuần để thăm bảy quốc gia ở Châu
Âu. Đã sống tại Jokhang hơn tám tháng và chứng kiến Ngài thường xuyên có những
chuyến công du nước ngoài, tôi đã quen với việc ngài phải đi lại như vậy. Mỗi
khi ngài đi vắng, các nhân viên của Ngài luôn đảm bảo rằng tôi được chăm sóc
chu đáo.
Thường thì là vậy. Tuy nhiên,
vào lần này, mọi chuyện lại diễn ra hoàn toàn khác. Đến giữa buổi sáng hôm đó,
hai người đàn ông mặc bộ đồ bảo hộ lấm lem sơn bước vào văn phòng. Chogyal dẫn
họ vào khu phòng nghỉ mà tôi ở cùng với Đức Thánh Thiện; tại đó, họ nhanh chóng dựng thang và phủ bạt nhựa
lên khắp sàn nhà.
Sự biến dạng kinh hoàng nhanh
chóng ập đến ngay sau đó. Ảnh và những bức tranh thangka bị gỡ xuống khỏi tường,
rèm cửa bị tuốt khỏi cửa sổ, đồ đạc thì được phủ kín bằng vải bạt. Chỉ trong
vòng vài phút, Nơi trú ẩn bình yên của tôi đã biến thành một đống hỗn độn không
thể nhận ra.
Chogyal bế tôi lên, tôi cứ ngỡ
là để dỗ dành. Tôi đinh ninh rằng ông ấy sẽ xin lỗi vì sự xáo trộn này, nói với
tôi rằng những người thợ sơn sẽ xong việc nhanh thôi, và khẳng định rằng tổ ấm
của tôi sẽ sớm trở lại yên bình như cũ. Thế nhưng, sự việc sau đó chỉ càng trở
nên tồi tệ hơn.
Bế tôi quay lại văn phòng, ông ấy
đặt tôi vào trong một chiếc hộp gỗ xấu xí vừa mới xuất hiện trên bàn làm việc của
mình. Chiếc hộp làm từ gỗ đẽo thô, nhỏ đến mức tôi khó lòng xoay người nổi bên
trong. Trước khi tôi kịp phản kháng, ông ấy đã cài chặt chiếc nắp bằng lưới kim
loại và xách cả chiếc hộp xuống cầu thang.
Tôi không biết mình cảm thấy điều
gì mãnh liệt hơn – sự phẫn nộ hay nỗi khiếp sợ. Lúc đầu, sự phẫn nộ chiếm ưu thế
hơn cả. Đây chính là một vụ bắt cóc! Sao ông ta dám tự tiện đến thế! Ông ta
quên mất tôi là ai rồi sao?! Lại còn ngay lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa mới quay
đi nữa chứ! Trong tất cả mọi người, lại là Chogyal vốn thường ngày nhân hậu!
Ông ta đã rơi vào tầm ảnh hưởng của thế lực hắc ám nào rồi? Nếu Ngài biết chuyện
gì đang xảy ra, tôi tin chắc Ngài đã ngay lập tức chấm dứt hành động này.
Chogyal đi băng qua một khu vực
của Tu viện Namgyal mà tôi vốn đã quen thuộc, trước khi tiếp tục dấn bước vào một
con đường mà tôi chưa từng đi qua. Vừa đi, ông ấy vừa lẩm nhẩm tụng kinh với vẻ
thong dong như thường lệ, cứ như thể chẳng có chuyện gì bất thường đang xảy ra
cả. Thỉnh thoảng ông ấy lại dừng lại để trò chuyện ngắn ngủi, vài lần còn giơ
chiếc lồng lên để những người khác nhìn tôi như thể nhìn một sinh vật triển lãm
trong sở thú. Qua khe hở giữa hai thanh gỗ, tôi nhìn ra ngoài với ánh mắt hừng
hực giận dữ, chỉ kịp thấy loáng thoáng những tà áo cà sa đỏ và những đôi chân
mang dép lê. Nếu có thể vung móng và tặng cho họ một trận cào nảy lửa, tôi chắc
chắn đã làm rồi.
Chogyal vẫn tiếp tục bước đi.
Và rồi đột nhiên, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi rằng chuyện này đã từng xảy
ra trước đây.
Không phải với cá nhân tôi — ít
nhất là không phải trong kiếp sống cụ thể này. Nhưng đã có một thời điểm trong
lịch sử, khi những cá nhân ưu tú thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu bị giật mình
lôi ra khỏi nhà và bị áp giải trên những cỗ xe hướng về một tương lai mịt mù.
Như những ai am hiểu lịch sử Châu Âu hẳn đã đoán ra, tôi đang ám chỉ đến cuộc
Cách mạng Pháp.
Liệu chuyện đó có gì khác so với
những gì đang xảy ra với tôi lúc này không? Phải chăng ông Chogyal vốn hiền
lành đã biến hình thành một Robespierre phiên bản Tây Tạng đầy nham hiểm? Cái
cách ông ta đem tôi ra phô trương với những người chúng tôi gặp, chẳng phải
chính xác là những gì đã xảy ra khi những quý tộc khốn khổ bị đưa đi diễu phố
trên những cỗ xe ở Paris, để rồi đối mặt với số phận rùng rợn bên chiếc máy
chém đó sao — một nghi lễ kinh khiếp mà tôi vừa mới nghe được khi Tenzin nhai
nhồm nhoàm chiếc bánh mì kẹp vào giờ ăn trưa chỉ mới tuần trước.
Đột nhiên, tôi cảm thấy sợ hãi;
nỗi sợ ấy cứ lớn dần theo từng bước chân của Chogyal khi ông tiến sâu vào vùng
lãnh thổ lạ lẫm. Có thể chẳng có chiếc máy chém nào chờ đợi ở cuối hành trình cụ
thể này, nhưng lần đầu tiên tôi tự hỏi: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu đây không phải
là một sự nhầm lẫn? Nếu như có một kế hoạch nào đó đã được thông qua với sự đồng
thuận của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma thì sao?
Có lẽ Ngài đã đưa ra một lời nhận
xét đầy ẩn ý nào đó khiến các trợ lý hiểu lầm rằng ngài không còn muốn tôi
quanh quẩn bên cạnh nữa. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi bị giáng cấp từ 'Mèo của Đức
Đạt Lai Lạt Ma' xuống thành một con 'Mèo nhà vùng McLeod Ganj' tầm thường?
Khu vực chúng tôi đang đi qua
trông thật xập xệ. Qua khe hở của chiếc lồng gỗ, tôi quan sát thấy những vỉa hè
đầy bùn đất và những khu vườn trơ trụi, những mùi hôi nồng nặc và tiếng trẻ con
khóc la. Chogyal rẽ khỏi con lộ chính và tiếp tục đi dọc theo một con đường mòn
dẫn đến một tòa nhà bê tông xấu xí. Khi ông ấy bước tiếp, tôi chỉ kịp nhận ra rằng
chúng tôi đang ở trong một dãy hành lang hở với các căn phòng nằm dọc hai bên.
Một vài cánh cửa đang khép hờ, để lộ ra những căn phòng nơi cả gia đình đang
quây quần, ngồi bệt dưới sàn quanh những đĩa thức ăn.
Kẻ bắt giữ tôi lôi một chiếc
chìa khóa từ trong áo choàng ra và mở khóa một cánh cửa, rồi bước vào phòng và
đặt chiếc lồng xuống sàn nhà.
-'Về nhà rồi, nhà mình là nhất,' ông ấy vui vẻ nói, vừa
mở lớp lưới kim loại, vừa nhấc tôi ra và đặt thân hình nhỏ bé đang run rẩy của
tôi lên thứ rõ ràng là tấm chăn bông của ông ấy. 'Mày sẽ phải ở lại với tao
thôi, HHC ạ, cho đến khi thợ sơn làm xong việc,' ông giải thích và vuốt ve tôi
theo cái cách cứ như thể thay vì bắt tôi trải qua thử thách kinh khủng nhất đời,
ông ấy chỉ vừa mới dắt tôi đi dạo 20 phút vậy. 'Chắc cũng không quá một tuần
đâu.'"
Cả một tuần luôn sao!
-‘Họ đang sơn lại tất cả mọi thứ, từ tường, trần nhà,
khung cửa sổ cho đến cửa ra vào. Đến khi họ làm xong, nơi đó sẽ trông như mới vậy.
Trong lúc chờ đợi, mày có thể tận hưởng một kỳ nghỉ với tao. Và cháu gái tao,
Lasya, sẽ chăm sóc cho mày.'
Một cô bé khoảng mười tuổi, với
đôi mắt sắc lẹm và những ngón tay lấm lem bùn đất, từ bên ngoài xuất hiện rồi
quỳ thụp xuống sàn nhà. Ngay lập tức, con bé bắt đầu rít lên với tôi bằng một
tông giọng cao vút, cứ như thể tôi vừa là kẻ ngốc lại vừa bị nặng tai vậy.
Lẻn về phía đầu giường với đôi
tai cụp sát ra sau và cái đuôi rũ rượi, tôi bò tót vào trong chăn. Ít nhất thì
mùi hương của Chogyal vương trên tấm trải
giường vẫn còn chút quen thuộc. Tôi ẩn mình trong bóng tối để tìm nơi trú ẩn.
Tôi đã nằm lì ở đó suốt ba ngày
kế tiếp, cố gắng ngủ nướng càng nhiều tiếng đồng hồ càng tốt. Tôi chỉ chịu chui
ra ngoài để giải quyết những nhu cầu cấp thiết nhất của bản thân, rồi lại nhanh
chóng quay trở về, cuộn tròn thành một quả banh lông khổ sở.
Chogyal đi làm gần như cả ngày,
và Lasya cũng sớm chán nản với việc cố gắng chơi đùa cùng một con mèo chẳng
thèm phản ứng gì. Những lần ghé thăm của con bé thưa thớt dần và cũng chóng
vánh hơn. Dần dà, âm thanh sinh hoạt thường nhật của các gia đình và mùi hương
nấu nướng cũng trở nên quen thuộc hơn. Sau ba ngày sống trong trạng thái nửa tỉnh
nửa mê giữa bóng tối chập choạng, tôi chợt nhận ra một điều: mình đang phát
chán.
Thế là vào ngày thứ tư, khi
Lasya đến vào lúc cuối chiều, tôi đã chui ra khỏi chăn và lần đầu tiên nhảy xuống
sàn nhà. Tại đó, chúng tôi đã khám phá ra một trò chơi mới hoàn toàn tình cờ.
Khi tôi cọ mình vào bàn chân phải của con bé, ngón chân cái của nó vô tình trượt
vào trong tai trái của tôi, còn những ngón khác thì nằm ở bên ngoài. Bằng cách
ngọ nguậy các ngón chân, con bé đã ngẫu hứng tạo ra một bài mát-xa tai thật tuyệt
vời — tôi thấy mình bắt đầu kêu gừ gừ đầy biết ơn. Cả Đức Đạt Lai Lạt Ma lẫn bất
kỳ nhân viên nào của ngài đều không có thói quen cho ngón chân cái vào tai tôi,
nhưng như tôi vừa khám phá ra lúc này, cảm giác đó hoàn toàn sảng khoái. Tai
trái nhanh chóng được thay bằng tai phải, và khi nhìn lên khuôn mặt đang khúc
khích cười của Lasya, lần đầu tiên tôi hiểu ra rằng hạnh phúc của mình không hề
phụ thuộc vào việc phải ở trong một môi trường cụ thể nào cả.
Tôi tiến về phía cửa rồi bước
ra hành lang. Với Lasya đi theo trông chừng, tôi rón rén bước về phía sau tòa
nhà. Ngay căn phòng kế bên, một người phụ nữ cùng ba đứa trẻ đang ngồi trên
sàn, vừa khuấy một chiếc nồi đặt trên bếp đơn, vừa đồng thanh hát một bài đồng
dao nào đó. Sau khi lắng nghe họ suốt ba ngày qua trong lúc họ chuẩn bị đủ loại
món ăn, cuối cùng tôi cũng thấy tò mò muốn được tận mắt nhìn thấy họ. Khác xa với
những loài quỷ dữ ồn ào trong trí tưởng tượng của tôi, trông họ có vẻ nhỏ bé và
bình dị hơn nhiều.
Khoảnh khắc tôi xuất hiện, họ dừng ngay việc đang làm và
quay lại nhìn chằm chằm. Không còn nghi ngờ gì nữa, tin tức về sự xuất hiện của
tôi đã lan truyền khắp hành lang. Phải chăng bằng cách nào đó họ đã bị choáng
ngợp khi thấy mình đang đứng trước sự hiện diện của "Mèo của Đức Đạt Lai Lạt
Ma"? Tôi tin chắc chắn là như vậy!
Cuối cùng, một trong những đứa
trẻ, chừng tám tuổi, bắt đầu cử động. Lấy ra một miếng thịt mềm nhỏ từ trong nồi
nấu, cậu bé thổi nhẹ cho nguội trước khi tiến đến mời tôi ăn. Tôi khịt mũi ngửi
một cách đầy do dự.
Đây không phải là món bò bít tết
(filet mignon) của quán Café Franc. Nhưng tôi đang đói. Nó có một mùi hương mời
gọi kỳ lạ. Và khi tôi nhận lấy miếng thịt từ tay cậu bé rồi nhấm nháp một cách
đầy suy tư, tôi phải thừa nhận rằng nó mang lại một hương vị cực kỳ đậm đà.
Tiếp tục lên đường, Lasya và
tôi băng qua sân sau—một dải đất trống trơ trụi và hoang vắng—để đến một bức tường
cao khoảng một mét. Khi tôi nhảy lên trên bức tường, tôi ngạc nhiên khi thấy
mình đang nhìn qua một bãi đất trống hướng về phía sân bóng đá ở đằng xa. Hai đội
thiếu niên đang tranh đấu trong bụi bặm để giành lấy một quả bóng được làm từ những
chiếc túi ni lông vò nát và buộc chặt lại bằng dây thừng. Giờ thì tôi đã hiểu
tiếng hò hét và phấn khích mà tôi nghe thấy khi còn nằm trong chăn bắt nguồn từ
đâu.
Lasya ngồi vắt vẻo bên cạnh tôi
để xem trận đấu, đôi chân cô ấy đung đưa trên bức tường. Cô ấy dường như quen
biết các cầu thủ và thỉnh thoảng lại cất tiếng reo hò cổ vũ. Ngồi xuống cạnh
cô, tôi dõi theo trận đấu đang diễn ra: đó là trận bóng đá đầu tiên của tôi, và
so với nhịp sống tĩnh lặng tại Jokhang, nó thật sự đầy lôi cuốn.
Tôi chẳng mấy để ý rằng hoàng
hôn đang buông xuống, cho đến khi ngước lên và thấy những ngọn nến cùng đèn dầu
được thắp sáng trong những ngôi nhà xung quanh. Hương thơm từ hàng tá bữa cơm tỏa
ra theo làn gió chiều, hòa cùng tiếng chén đũa lách cách,
tiếng cười đùa và cả tiếng cãi cọ, tiếng nước chảy và tiếng tivi. Tất cả những
thứ này thật khác biệt so với những hình ảnh và âm thanh nơi bục cửa sổ yêu
thích của tôi trong phòng Đức Ngài. Nhưng tôi không thể phủ nhận rằng có một
nguồn năng lượng sống động ở nơi này—nơi mà mọi khía cạnh của cuộc sống đều được
phơi bày rõ rệt ngay giữa không gian mở.
Mặt trời dần lặn xuống dưới đường
chân trời, và bầu trời trở nên tối hơn. Lasya đã trở về với gia đình mình từ
lâu, để lại mình tôi ngồi vắt vẻo trên bức tường, đôi bàn chân thu lại gọn gàng
dưới bụng.
Đúng lúc này, tôi nhận thấy một
sự chuyển động bên hông tòa nhà, một cái bóng uyển chuyển lướt đi nhẹ nhàng bên
cạnh chiếc thùng phuy 150 lít. Một con mèo! Và không chỉ là một con mèo bất kỳ,
mà là một kẻ to lớn và cơ bắp lạ thường, với những vằn đen hiện rõ mồn một. Tôi
không mảy may nghi ngờ rằng đó chính là chú mèo mướp vằn hổ oai vệ mà tôi đã thấy
lần đầu bên kia sân chùa, dưới ánh sáng xanh của sạp hàng ngoài chợ. Tôi không
đoán nổi anh ta đã ngồi trên chiếc thùng đó quan sát mình bao lâu rồi. Nhưng những
hành động của anh ta khiến tôi chẳng thể nghi ngờ gì về sự quan tâm mà anh ta
dành cho mình.
Lướt đi trực tiếp băng qua sân
sau khô cằn từ bên này sang bên kia, anh ta hoàn toàn lờ tôi đi, cứ như thể tôi
không hề tồn tại. Liệu anh ta còn có thể lộ liễu hơn được nữa không?
Bất thình lình, tim tôi đập loạn
nhịp. Với bất cứ ai nhìn vào, tôi có vẻ chỉ là một con mèo đang ngồi điềm tĩnh
trên bức tường. Nhưng tâm trí và cảm xúc của tôi thì đang rối bời trong sự phấn
khích. Cái cách mà anh chàng mèo mướp bước đi đầy vẻ quyền uy băng qua sân đã khẳng định rõ ràng rằng đây là lãnh địa của anh ta. Việc
anh ta dám mạo hiểm đi xa đến tận chùa Jokhang cho thấy anh ta rõ ràng là một
con mèo có vị thế nhất định. Phải rồi, những vằn mướp đen dọc thân (mackerel
tabby) có thể ám chỉ nguồn gốc khiêm tốn. Thế nhưng, lãnh thổ của anh ta đã mở
rộng đến một quy mô thật sự ấn tượng.
Và anh ta đang cố tình gây chú
ý với tôi! Tôi không mảy may nghi ngờ rằng anh ta sẽ quay lại. Dĩ nhiên không
phải tối nay rồi. Như thế thì lộ liễu quá. Nhưng... ngày mai thì sao?
Khi Chogyal đi làm về và xuất
hiện ở hành lang một lúc sau đó, Lasya đã nắm lấy tay anh ấy và dẫn ra để xem
tôi đang ngồi đâu.
-“Thật vui khi thấy mày ở bên ngoài đấy, HHC!” Vừa bế
bổng tôi lên, anh ấy vừa gãi nhẹ dưới cằm tôi. “Mọi thứ đã trở lại bình thường
rồi.”
Khoảnh khắc đó tôi đang trải
qua rất nhiều cảm xúc. Tuy nhiên, "bình thường" chắc chắn không nằm
trong số đó.
Ngày hôm sau, tôi gần như chẳng
thể đợi nổi cho đến khi Lasya đến vào buổi chiều. Tôi đã dành cả buổi sáng để
chải chuốt sao cho bộ lông trắng dày của mình trở nên bóng mượt rạng ngời. Tai
đã được rửa sạch kỹ càng, ria mép lung linh, tôi còn thực hiện màn "kéo
đàn cello" (tiếng mèo gừ gừ) với một sự hăng hái đặc biệt—mang phong
cách allegro vivo (nhanh, sống động) hơn là adagio (chậm
rãi), dành cho những ai trong số các bạn vốn đã quen thuộc với bản concerto nổi
tiếng của Dvořák.
Ngay khi Lasya vừa mở cửa, tôi
đã lao ra ngoài. Tôi trở lại bức tường với một dáng vẻ cố gắng tỏ ra rằng mình
chỉ tình cờ, thậm chí là ngẫu nhiên có mặt ở đó. Một lần nữa, một trận bóng đá
đang diễn ra sôi nổi trên sân đấu phía dưới. Từ những căn phòng phía sau tôi,
những âm thanh của cuộc sống gia đình giờ đây đã trở nên quen thuộc lại vang
lên. Lasya ngồi gần đó vài phút để đọc sách giáo khoa, trước khi chạy ngược vào
trong nhà.
Từ khóe mắt, tôi nhìn thấy nó. Cái bóng xuất hiện trên thùng phuy 40
gallon. Đứng dậy, tôi duỗi thẳng hai chân trước, rồi đến lưng một cách ung dung
thoải mái trước khi nhảy khỏi tường và giả vờ như đi vào trong.
Như tôi đã rất mong đợi, điều này đã khiến người hâm mộ của tôi không thể
cưỡng lại được.
Anh ấy lặng lẽ rời khỏi trống và bước đi sao cho đường đi của chúng tôi
chắc chắn sẽ giao nhau. Khi đã ở khoảng cách vừa đủ, chúng tôi dừng lại. Lần đầu
tiên, tôi nhìn thẳng vào đôi mắt màu hổ phách sáng rực ấy.
-“Chúng ta đã từng gặp nhau ở đâu đó rồi phải không?” anh ấy hỏi, mở đầu
bằng câu tán tỉnh sáo rỗng nhất trong lịch sử.
-“Tôi không nghĩ vậy.” Tôi cố gắng nhấn nhá giọng điệu sao cho vừa đủ
khích lệ, mà không tỏ ra quá dễ dãi.
-“Tôi chắc chắn là tôi đã gặp anh trước đây rồi.”
Tôi biết chính xác anh ta đã nhìn thấy tôi ở đâu nhưng không có ý định
nói cho anh ta biết tôi đã bị cuốn hút đến mức nào khi thoáng thấy anh ta. Ít
nhất là không phải lúc này.
-“Có vài người Himalaya ở đây,” tôi đáp, khẳng định dòng dõi cao quý, dù
không được ghi chép lại, của mình. “Đây là lãnh địa của anh à?”
-“Khắp nơi, tận Jokhang,” anh ta nói. “Và xuống phố chính đến các quầy
hàng ở chợ.”
Các quầy hàng ở chợ chỉ cách điểm đến ưa thích của tôi một dãy nhà. “Còn
quán Café Franc thì sao?” tôi hỏi.
-“Cô điên à? Ông chủ ở đó ghét mèo.”
-“Món ăn ngon nhất vùng Himalaya, theo Cẩm nang ẩm thực Hayder,” tôi đáp
lại một cách lạnh lùng.
Anh ta chớp mắt. Chẳng lẽ anh ta chưa từng gặp một người thuộc tầng lớp
thượng lưu bao giờ sao? Tôi tự hỏi.
-“Làm sao mà anh có thể đến gần…?”
-“Anh biết câu nói ‘Quan trọng là quen biết ai’ chứ?”
Anh ta gật đầu.
-“Không đúng,” tôi mỉm cười bí ẩn. “Phải là ‘Quan trọng là ai hiểu bạn.’”
Một lúc sau, anh ấy dừng lại, nhìn chằm chằm. Tôi có thể thấy sự tò mò
trong mắt anh ấy.
-“Cô có lời khuyên nào cho một chú mèo tam thể đến từ khu phố nghèo
không?” anh ấy hỏi.
Ôi, thật ngọt ngào!
-“‘Vậy thì hãy đội chiếc mũ vàng lên, nếu điều đó có thể lay động nàng,’”
tôi bắt đầu, trích dẫn lời đề từ cuốn sách mà Tenzin cho là tiểu thuyết hay nhất
nước Mỹ—The Great Gatsby. “Nếu anh có thể nhảy cao, hãy nhảy cao vì nàng, / Cho
đến khi nàng kêu lên ‘Người yêu ơi, người yêu đội mũ vàng, người yêu nhảy cao,
/ Em phải có anh!’”
Anh ta nhíu mũi trầm ngâm. “Câu đó từ đâu ra vậy?”
-“Một cuốn sách thì tôi biết.”
Anh ấy bắt đầu bước đi.
-“Anh đi à?” Tôi gọi, lại một lần nữa thán phục dáng vẻ rắn chắc của anh ấy.
-“Đi lấy mũ,” anh ấy đáp.
Sáng hôm sau không thấy anh đâu, nhưng tôi chắc chắn mình sẽ gặp lại anh
vào chiều hôm đó. Chưa bao giờ tôi cảm thấy sự say đắm lãng mạn đến thế, một sự
pha trộn chóng mặt, dễ bùng nổ giữa khao khát, lo lắng và sức hút mãnh liệt khó
tả. Sáng hôm đó tôi mải mê đến nỗi hầu như không để ý khi Chogyal về nhà vào giờ
ăn trưa thay vì buổi tối. Tôi cũng chẳng mấy chú ý khi anh ấy lấy chiếc lồng vận
chuyển từ dưới gầm giường ra. Mãi đến khi anh ấy bế tôi vào trong đó, tôi mới
nhận ra chuyện gì đang xảy ra.
-“Các họa sĩ đã hoàn thành công việc sớm hơn dự kiến,” ông ta giải thích,
như thể tôi nên vui mừng về điều đó. “Biết rằng cô không vui khi ở đây, tôi
nghĩ cô sẽ muốn trở về càng sớm càng tốt.”
Một cách không chút khách sáo, tôi bị đưa trở lại Jokhang.
Không còn nghi ngờ gì nữa, việc trang trí lại đã thành công rực rỡ. Những
căn phòng quen thuộc giờ đây sáng bóng với lớp sơn mới, các thiết bị được đánh
bóng sáng loáng, và mọi thứ đều như trước đây, nhưng sạch sẽ và được tân trang
lại. Thay đổi duy nhất được thực hiện là dành riêng cho tôi: hai chiếc gối hình
chữ nhật được bọc bằng vải lông cừu màu nâu nhạt và đặt trên bệ cửa sổ để tôi cảm
thấy thoải mái hơn.
Tenzin đã rất vui mừng khi tôi trở về, mùi thơm từ đôi tay vừa được rửa sạch
bằng dung dịch tẩy rửa chuyên dụng của ông ấy là một lời nhắc nhở nồng nàn rằng
tôi đã về nhà. Loại thức ăn cho mèo mà tôi yêu thích nhất đã được bày ra để tôi
thưởng thức.
Chiều hôm đó, khi các nhân viên của Đức Thánh Thiện về nhà, để lại tôi
trong sự yên tĩnh, lẽ ra tôi phải cảm thấy mãn nguyện vì những tổn thương ở khu
dân cư đông đúc McLeod Ganj đã qua đi. Nhưng tôi lại không cảm thấy như vậy.
Tôi rất muốn quay lại đó! Tôi nhớ nhung chàng mèo hổ quá! Cơ hội gặp lại
nhau của chúng tôi là bao nhiêu nếu tôi cứ mãi ở trong tháp ngà ở Jokhang? Liệu
chàng có nghĩ rằng sự vắng mặt đột ngột của tôi có nghĩa là tôi không còn hứng
thú với chàng nữa? Một chú mèo tam thể oai phong như chàng chắc chắn sẽ có rất
nhiều người hâm mộ. Nhưng nếu chàng từ bỏ tôi trước khi chúng tôi có cơ hội gặp
nhau thì sao?
Khi nghĩ về khoảng thời gian ở nhà Chogyal, những kỷ niệm cứ như một giấc
mơ đã phai mờ, tôi cũng phải thừa nhận mình thật ngốc nghếch khi dành trọn ba
ngày nằm dưới chăn. Thật là một cơ hội bị bỏ lỡ! Thật lãng phí! Tôi chỉ có thể
tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu tôi ra khỏi chăn vào ngày đầu tiên, thay vì
ngày thứ tư. Tôi có thể đã có những trải nghiệm gì, và mối quan hệ với con mèo
trong mơ của tôi có thể đã phát triển như thế nào. Thay vào đó, tôi đã tự tước
đoạt cơ hội đó bằng sự tự thương hại ngớ ngẩn của mình.
Ngày hôm sau, Đức Đạt Lai Lạt Ma trở về nhà. Ngài chỉ cần bước vào phòng,
và mọi thứ lại trở nên tốt đẹp. Nỗi lo lắng về các mối quan hệ và sự tự trách
móc – tất cả những tổn thương đó dường như hoàn toàn không còn ý nghĩa gì nữa
khi Đức Thánh Thiện ở đây. Trước khi Ngài nói một lời nào, sự hiện diện của
Ngài với vẻ bình an tuyệt đối dường như đã xua tan mọi suy nghĩ tiêu cực, chỉ
còn lại một cảm giác an lạc sâu sắc.
Được Tenzin và Chogyal dẫn đi tham quan căn phòng được trang hoàng lại, Đức
Đạt Lai Lạt Ma rạng rỡ niềm vui.
“Rất tốt! Tuyệt vời!” Ngài liên tục nói như vậy khi họ chỉ ra những tay nắm
cửa bằng đồng mới và các biện pháp an ninh được cải thiện.
Ngay khi họ rời đi, Ngài bước
tới vuốt ve tôi. Một cảm giác ấm áp quen thuộc lan tỏa trong tôi khi Ngài nhìn
vào mắt tôi và khẽ thì thầm vài câu mật ngôn.
-“Ta
biết dạo này con đã trải qua một khoảng thời gian khó khăn,” Ngài nói
sau một lúc. “Người bạn tốt của con, bà Trinci, sẽ đến chuẩn bị bữa trưa. Ta chắc
bà ấy sẽ có món gì đó thật ngon dành riêng cho con.”
Dù chưa từng nghe nói về vị
khách của Đức Thánh Thiện vào ngày hôm đó, tôi cũng sẽ nhận
ra ông là một người rất đặc biệt, bởi bên cạnh vẻ mong manh tinh tế của một cụ
già nhỏ bé trong áo cà sa, còn có một khí chất điềm tĩnh đầy uy lực.
Có vẻ như kế hoạch di chuyển của
ông đã bị gián đoạn bởi một cuộc đình công của công đoàn ở Pháp. Khi Đức Đạt
Lai Lạt Ma dẫn ông đến một chiếc ghế bành êm ái, Ngài bày tỏ sự cảm thông với vị
khách về những khó khăn của việc đi lại.
Nhưng Thích Nhất Hạnh—được phát âm là “Tick Nyut Han”—một
thiền sư, người thầy, vị đạo sư được yêu mến và là tác giả của nhiều cuốn sách
tuyệt vời—đã nhẹ nhàng gạt đi những khó khăn. “Biết
đâu những cơ hội nào có thể nảy sinh từ sự trì hoãn này? Tôi chắc bạn đã quen
thuộc với câu chuyện Thiền về người nông dân và con ngựa của ông ấy chứ?”
Đức Thánh thiện ra hiệu cho ông
tiếp tục.
-“Câu chuyện diễn ra vào một thời đã xa ở Nhật Bản,
khi một con ngựa không chỉ đơn thuần là một con ngựa, mà còn là thước đo của sự
giàu có.”
Đức Đạt Lai Lạt Ma khẽ gật đầu. Lúc này, Thích Nhất Hạnh cũng đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của tôi.
-“Người nông dân này có được con ngựa đầu tiên của
mình, và tất cả dân làng xung quanh đều đến chúc mừng ông. ‘Hẳn ông phải rất tự
hào khi sở hữu một con ngựa tuyệt vời như vậy!’ họ đều nói.
-“Nhưng người nông dân, hiểu được phần nào về tầm
quan trọng của sự bình thản (tâm quân bình), chỉ mỉm cười và nói: ‘Cứ chờ xem.’
-“Ngay sau đó, con ngựa phá chuồng và chạy mất vào
vùng quê. Dân làng bày tỏ sự cảm thông với người nông dân. ‘Thật là một bi kịch
khủng khiếp! Một mất mát lớn lao! Làm sao có thể vượt qua chuyện này được?’
-“Người nông dân lại chỉ mỉm cười và nói: ‘Cứ chờ
xem.’
-“Chưa đầy một tuần trôi qua, người nông dân thức dậy
và thấy con ngựa đã quay trở lại—còn dẫn theo hai con ngựa hoang. Ông dễ dàng dắt
chúng vào chuồng và đóng cổng lại phía sau. Dân làng hầu như không thể tin vào
những gì đã xảy ra. ‘Đây thật là vận may tuyệt vời! Một lý do để ăn mừng lớn!
Ai mà có thể tin chuyện như vậy lại có thể xảy ra chứ?’
-“Tất nhiên, người nông dân chỉ mỉm cười và nói: ‘Cứ
chờ xem.’
-“Con trai ông bắt đầu công việc thuần hóa hai con ngựa
hoang. Đó là công việc nguy hiểm, và trong quá trình ấy, cậu bị hất ngã khỏi một
con ngựa và gãy chân. Việc này xảy ra ngay trước mùa thu hoạch, và không có sự
giúp đỡ của con trai, người nông dân phải đối mặt với một thử thách lớn trong
việc thu gom mùa màng.
-“‘Thật là khó khăn biết bao,’ dân làng nói với ông.
‘Mất đi sự giúp đỡ của con trai vào lúc này—hầu như không có bất hạnh nào lớn
hơn thế.’”
-“‘Cứ chờ xem,’ người nông dân chỉ nói vậy.
“Vài ngày sau, quân đội triều
đình cử binh lính đến từng làng để tập hợp những thanh niên khỏe mạnh, đủ sức
chiến đấu. Hoàng đế đã quyết định phát động chiến tranh và đang huy động quân
lính. Nhưng vì con trai người nông dân bị gãy chân, nên cậu được miễn nghĩa vụ.”
Thích Nhất Hạnh mỉm cười. “Câu
chuyện cứ thế tiếp diễn.”
Đức Thánh thiện nhìn ông với nụ
cười tán thưởng. “Một minh họa thật đẹp.”
-“‘Vâng,’” vị khách đồng ý. “Tốt hơn rất nhiều so với
việc liên tục phản ứng trước sự thay đổi như thể chúng ta bị cuốn vào một kiểu
bi kịch đầy tính vị kỷ. Lên xuống như tàu lượn siêu tốc vậy.’”
-“Quả thật,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Chúng ta thường quên rằng chỉ
là vấn đề thời gian trước khi mọi thứ thay đổi—và một lần nữa, góc nhìn lại dịch
chuyển.”
Dù thật khó để thừa nhận, khi lắng
nghe cuộc trò chuyện giữa hai vị lãnh đạo tinh thần vĩ đại này, tôi nhận ra
mình khó có thể không phản ứng trước những thay đổi gần đây trong hoàn cảnh của
chính mình.
Tôi đã từng giận dữ với Chogyal
tội nghiệp đến mức nào, trong khi tất cả những gì ông ấy muốn chỉ là chăm sóc tôi. Vào lúc đó, tôi thậm chí còn tưởng tượng ông ấy giống như một kẻ cách mạng khát máu!
Rồi đến phản ứng sau đó của
tôi—nằm li bì trên giường suốt ba ngày. Thật đáng thương biết bao, phải không?
Tôi đã biết rõ mình đã bỏ lỡ một cơ hội như thế nào khi tự chôn mình dưới chiếc
chăn của Chogyal.
-“Bi kịch vị kỷ.” Nếu tôi nhìn lại chính mình bằng sự
trung thực không né tránh nhưng vẫn đầy lòng từ bi, liệu có phải đây không phải
là cách mô tả chính xác quãng đời dài mà tôi đã sống hay sao?
-“Rất thường xuyên,” Đức Thánh thiện nói, “khi tôi gặp
gỡ mọi người—các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, nghệ sĩ và những người khác—họ nói
với tôi rằng điều tưởng chừng là tồi tệ nhất từng xảy ra với họ, khi nhìn lại bằng
kinh nghiệm, lại hóa ra chính là điều tốt đẹp nhất.”
-“Chúng ta bị buộc phải mở ra một con đường mới,” Thích
Nhất Hạnh nói. “Một con đường có thể dẫn đến sự hài hòa và viên mãn hơn, nếu
chúng ta cho phép điều đó.”
-“Đúng vậy, đúng vậy,” Đức Đạt Lai Lạt Ma đồng tình.
-“Ngay cả khi hoàn cảnh trở nên tồi tệ nhất,” vị
khách tiếp lời, “chúng ta vẫn có thể tìm thấy những cơ hội mới.”
Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm trong giây lát trước khi nói: “Khoảnh khắc đen tối nhất trong đời
tôi là khi phải rời Tây Tạng. Nếu Trung Quốc không xâm lược đất nước chúng tôi,
có lẽ tôi vẫn còn ở Lhasa. Nhưng vì cuộc xâm lược đó, tôi đã ở đây, và nhiều vị
tăng ni khác cũng đã đến. Và trong năm mươi năm qua, Phật pháp đã lan tỏa khắp
thế giới. Tôi nghĩ điều đó đã mang lại một đóng góp hữu ích.”
-“Tôi hoàn toàn chắc chắn về điều đó,” Thích Nhất Hạnh
đáp. “Có lẽ chính nhờ sự kiện xảy ra cách đây năm mươi năm mà hôm nay chúng ta
mới gặp nhau ở đây.”
Và cũng nhờ đó mà tôi là HHC,
tôi nghĩ thầm.
Và cũng nhờ đó mà bạn, độc giả
thân mến, đang cầm cuốn sách này trên tay.
Tối hôm đó, với chiếc bụng no
căng món gan gà băm thơm ngon của bà Trinci, tôi ngồi
trên bệ cửa vừa được đệm lại, nhìn ra ánh sáng xanh đang phát ra từ phía bên
kia quảng trường.
Một làn gió nhẹ mang theo hương
thơm thoang thoảng của rừng thông và những khóm đỗ quyên rực rỡ, cùng với tiếng
tụng kinh vang vọng, ngân dài đầy ám ảnh của các vị tăng đang hành lễ.
Tôi thấy mình đang nhìn vào tảng
đá trống nơi tôi đã lần đầu nhìn thấy con mèo mướp giống hổ. Con mèo mướp của
tôi. Con mèo mà tôi đã rất hy vọng…
Khoan đã. Tôi tự dừng lại. Đây
chẳng phải là một trường hợp điển hình của “bi kịch vị kỷ” hay sao?
Tôi hơi hài lòng vì đã kịp tự
nhận ra trước khi đi xa hơn. Và rồi tôi nhận ra rằng việc “hơi hài lòng với
chính mình” cũng rất có thể lại rơi vào cùng một loại “bi kịch vị kỷ”.
Ôi, cái việc rèn luyện tâm trí
theo Phật giáo này! Chẳng lẽ chúng ta không thể tự lừa dối mình về bất cứ điều
gì sao? Dù chỉ một chút xíu, nhỏ xíu thôi cũng không được ư?
Tôi nhớ đến Thích Nhất Hạnh: sự
điềm tĩnh, sức mạnh và sự giản dị của ông.
Tôi nhìn vào bóng tối trong trầm
tư, hướng về ánh sáng xanh đang cháy ở phía xa bên kia quảng trường.
“Cứ chờ xem.”./