Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

CHƯƠNG 12: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



 ***

Các chuyến thăm của nguyên thủ quốc gia hầu như luôn tạo ra một sự náo nhiệt tại Cung điện Jokhang. Trong những ngày trước đó, các sĩ quan tình báo với vẻ mặt nghiêm nghị sẽ muốn xem xét kỹ lưỡng từng ngăn tủ trong khu phức hợp. Trưởng ban lễ tân sẽ họp bàn về những chi tiết nhỏ nhất. Người ta đã nỗ lực hết sức để đảm bảo mọi tình huống bất ngờ đều được tính đến, từ vị trí của các đội an ninh trên các mái nhà gần đó đến chất liệu giấy vệ sinh được cung cấp cho các vị khách VIP, nếu cần thiết.

Đó là lý do tại sao tôi hoàn toàn bất ngờ vào ngày Đức Thánh Thiện tiếp đón một vị khách không chỉ là lãnh đạo quốc gia mà còn là một nữ hoàng thực sự.

Không hề có sự chuẩn bị cầu kỳ nào trước đó. Chỉ có một chuyến thăm an ninh kín đáo nửa tiếng trước, điều này thật trớ trêu, bởi vì tôi biết rằng vị khách hoàng gia đặc biệt này là người mà Đức Thánh Thiện rất muốn gặp. Trước đây, tôi đã nghe ngài nói về cả hoàng hậu trẻ và chồng bà với những lời lẽ trìu mến. Bà không chỉ vô cùng xinh đẹp mà còn là vợ của vị vua của quốc gia Phật giáo duy nhất trên thế giới nằm ở dãy Himalaya.

nhiên, tôi đang nói về hoàng hậu của Bhutan.

Đối với những độc giả không dành thời gian đi học để nghiên cứu các bản đồ vùng Himalaya – liệu những người như vậy có tồn tại không? – Bhutan là một quốc gia nhỏ nằm phía đông Nepal, phía nam Tây Tạng và hơi phía bắc Bangladesh. Đó là nơi mà bạn có thể đã bỏ qua nếu một miếng cá hồi hun khói rơi từ bánh mì bagel của bạn xuống sai vị trí trên bản đồ. Điều tương tự cũng có thể nói về một nửa số quốc gia ở châu Âu, nhưng nếu bỏ sót Bhutan thì đó sẽ là một sự thiếu sót khủng khiếp, bởi vì, đơn giản là, nó là nơi gần Shangri-la nhất trên Trái đất. Một vương quốc xa xôi và biệt lập, không thể xuyên thủng sau dãy Himalaya, cho đến những năm 1960, Bhutan không có tiền tệ quốc gia hay điện thoại, và truyền hình chỉ xuất hiện vào năm 1999. Cuộc sống của người dân theo truyền thống tập trung vào việc trau dồi sự giàu có nội tâm hơn là sự sung túc vật chất. Chính nhà vua Bhutan, vào những năm 1980, đã thiết lập một hệ thống đo lường sự tiến bộ của quốc gia dựa trên Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNP) thay vì Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP).

Bhutan, vùng đất của những ngôi đền mái vàng nằm cheo leo trên những vách đá hiểm trở, của những lá cờ cầu nguyện tung bay trên những vực sâu hun hút, và của những nhà sư tụng kinh trong những ngôi đền cổ kính từ thế kỷ thứ bảy ngập tràn hương trầm, thấm đẫm một vẻ đẹp kỳ diệu. Và có một sự hiện diện đặc biệt của vị hoàng hậu trẻ khi bà xuất hiện trong phòng của Đức Thánh Thiện.

Tôi đang ngồi ở chỗ quen thuộc trên bệ cửa sổ, ngủ gật dưới ánh nắng ban mai, thì nghe Lobsang xướng tên bà. Nghe thấy cụm từ “Nương Nương”, tôi lăn người nằm ngửa và để đầu thò ra khỏi mép bệ cửa sổ.

Ngay cả khi nhìn bà ấy lộn ngược, tôi vẫn có thể thấy bà ấy là một người vô cùng thanh tao. Nhỏ nhắn, làn da vàng óng, mái tóc dài đen mượt, bà ấy toát lên vẻ đẹp tinh tế quyến rũ. Trong bộ kira truyền thống của Bhutan—một chiếc váy dài đến mắt cá chân được thêu thùa cầu kỳ— bà ấy trông gần như giống một búp bê. Tuy nhiên, cách bà ấy di chuyển lại rất tự nhiên và không gượng ép, toát lên sự ấm áp sâu sắc.

Tôi chứng kiến bà ấy dâng chiếc khăn trắng truyền thống lên Đức Thánh Thiện, khuôn mặt cúi gằm và hai tay chắp lại trước ngực trong một cử chỉ thành kính. Sau nghi thức trao đổi, bà ấy liếc nhìn quanh phòng trước khi ngồi xuống—và lập tức nhìn thấy tôi.

Ánh mắt chúng tôi chạm nhau và dù chỉ nhìn nhau trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng một điều quan trọng đã được truyền đạt. Tôi lập tức biết rằng bà ấy là một trong số chúng ta.

 

Một người yêu mèo.

Khi bà ấy ngồi xuống, tôi có cảm giác như bà ấy cọ xát trên tấm kira và vỗ nhẹ lên đùi bà để chờ đợi điều sắp xảy ra. Lăn khỏi bệ cửa sổ, tôi đáp xuống thảm và thực hiện động tác chào mặt trời, duỗi thẳng hai chân trước một cách thoải mái, rồi thực hiện động tác chào mặt trời ngược, run rẩy hai chân sau kèm theo cái đuôi lắc lư, trước khi tiến đến chỗ bà ấy ngồi. Nhảy lên đùi bà ấy, tôi nằm yên ngay lập tức, và bà ấy bắt đầu vuốt ve cổ tôi, như những người bạn cũ mà chúng tôi biết một cách trực giác rằng chúng tôi là như vậy.

Chỉ có một số ít người sở hữu khả năng thấu hiểu bẩm sinh về sự thay đổi tâm trạng của loài mèo: những gì chúng ta muốn vào lúc này có thể hoàn toàn khác với những gì chúng ta mong muốn chỉ vài khoảnh khắc trước đó. Một số người biết rằng họ không nên vuốt ve mèo cho đến khi chúng tôi buộc phải quay lại và đưa ra một lời cảnh báo sắc bén, thường nhắm vào ngón trỏ. Một số ít người hiểu rằng chỉ vì chúng ta đã ngấu nghiến một hộp gà tây nướng với vẻ ngon lành vào một ngày nào đó không có nghĩa là chúng ta có chút hứng thú nào khi nhìn thấy món ăn tương tự vào ngày hôm sau.

Chẳng phải Winston Churchill từng nói rằng mèo là một câu đố, ẩn chứa một điều bí ẩn, bên trong là một bộ lông mềm mại đáng yêu sao? Không phải à? Tôi nhớ là mới đây mình đã đọc được điều gì đó tương tự trong một bài báo về ông ấy. Và nếu ông ấy không nói ra, thì chắc chắn ông ấy cũng nghĩ như vậy. Cần phải báo cho Wikipedia biết!

Và rồi còn có Albert Einstein, người được cho là đã nói rằng âm nhạc và mèo là lối thoát duy nhất khỏi những khổ đau của cuộc sống. Lưu ý rằng, về chủ đề các loài động vật nuôi khác, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế kỷ 20 lại im lặng một cách kỳ lạ. Tôi sẽ để bạn đọc tự rút ra kết luận của riêng mình.

Chúng tôi, những chú mèo, không phải là những con thú máy móc có thể được huấn luyện để nhảy lên, ngồi xuống, hoặc tiết nước dãi khi nghe mệnh lệnh hay tiếng chuông reo. Bạn đã từng nghe về con mèo của Pavlov chưa?

Điểm này của tôi là chính xác. Chính tư tưởng này là không thể tưởng tượng.

Không, những con mèo thật sự là một huyền bí, đôi khi ngay cả chính chúng ta. Hầu hết mọi người muốn đối xử với chúng tôi với sự tôn trọng dành cho những ai đã thêm vào quá nhiều vào tổng lượng toại nguyện của con người trong khi đòi hỏi quá ít. Chỉ một số rất ít người thật sự thấu hiểu chúng tôi. Và hoàng hậu Bhutan là đứng đầu trong thiểu số ấy.

Sau một vài cử chỉ xả giao, bà chụm những đầu ngón tay vào nhau và xoa bóp trán của tôi với những móng tay của bà, gởi đi sự rùng mình cơn rùng mình sung sướng tận cùng đi xuống từ xương sống của tôi đến tận cùng đầu mút đang tê rần của chiếc đuôi của tôi.

Tôi đáp lại bằng tiếng gừ trầm ấm của nàng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, người đang lịch sự hỏi thăm sức khỏe của nhà vua và các thành viên hoàng gia Bhutan khác, nhìn sang tôi. Ngài có thói quen hỏi khách đến thăm xem họ có phiền khi tôi ở trong phòng không. Dường như một số người bị dị ứng với một thứ gì đó mà chắc hẳn phải dữ dội như phản ứng với sô cô la nấm cục Bỉ, cà phê Ý, hay nhạc Mozart chẳng hạn. Hoàng hậu rất quan tâm đến tôi nên Đức Đạt Lai Lạt Ma không cần phải hỏi, nhưng gật đầu về phía tôi, ngài nói: “Điều này thật đặc biệt. Tôi chưa bao giờ thấy cô nàng lại nhanh chóng quý mến ai như vậy! Chắc hẳn cô nàng rất thích bà.”

-“Và tôi rất thích nó,” Hoàng hậu Nương Nương đáp. “Nó thật tuyệt vời!”

-“Sư tử Tuyết nhỏ bé của chúng ta.”

-“Tôi chắc chắn nó mang lại cho người nhiều niềm vui.” Bà hoàng dùng đầu ngón tay xoa bóp đôi tai đen như than của tôi với độ mạnh vừa phải.

Đức Thánh Thiện cười khúc khích. “Nó có cá tính tuyệt vời!”

Cuộc trò chuyện tiếp tục; hoàng hậu thảo luận về nhiều thực hành Phật pháp khác nhau. Trong khi họ trò chuyện, bà tiếp tục những lời an ủi đầy yêu thương, và chẳng mấy chốc tôi đã rơi vào trạng thái hạnh phúc nửa tỉnh nửa mê, với cuộc trò chuyện giữa hai người như đang lơ lửng trên đầu tôi.

Trong những tuần gần đây, tôi đã nỗ lực hết sức để thực hành thiền định hàng ngày, sau lời nhắc nhở nghiêm khắc của Geshe Wangpo. Tôi cũng đã nhiều lần đến chùa, tham dự các buổi giảng dạy của nhiều vị lạt ma cao cấp. Mỗi lần, một khía cạnh khác nhau của việc tu tập Phật pháp được thảo luận. Và trong mỗi dịp đó, việc tu tập dường như rất quan trọng.

Rèn luyện tâm trí là nền tảng của mọi hoạt động Phật giáo, và chúng ta được khuyến khích phát triển khả năng tập trung mạnh mẽ không chỉ khi thiền định mà còn bằng cách thực hành chánh niệm suốt cả ngày. Như một vị lạt ma đã giải thích, nếu chúng ta không nhận thức một cách khách quan về những suy nghĩ của mình từng khoảnh khắc mà thay vào đó lại tham gia vào từng suy nghĩ đó, thì làm sao chúng ta có thể bắt đầu thay đổi chúng? Ông nói: “Bạn không thể quản lý những gì bạn không theo dõi”. Chánh niệm, dường như, là một thực hành nền tảng.

Một vị thầy khác giải thích rằng sáu ba la mật hoàn hảo chính là cốt lõi của truyền thống Phật giáo. Nếu chúng ta không thực hành bố thí, trì giới và nhẫn nhục, chỉ cần kể ra ba trong số đó thôi, thì việc học kinh sách hay tụng niệm thần chú có ý nghĩa gì? Vị thầy nói rằng, nếu thiếu đức hạnh, thì mọi hoạt động Phật pháp khác của chúng ta đều sẽ không có ý nghĩa gì.

Một vị Lạt Ma khác giải thích rằng trí tuệ về bản chất của thực tại là điều làm nên sự khác biệt giữa giáo lý của Đức Phật với tất cả các giáo lý khác. Ngài nhấn mạnh rằng thế giới hiện ra trước mắt chúng ta chỉ là ảo ảnh, và để hiểu được chân lý vô cùng tinh tế này cần rất nhiều sự lắng nghe, suy ngẫm và thiền định (văn, tư, tu). Chỉ những ai hiểu được chân lý một cách trực tiếp và phi khái niệm mới có thể đạt được niết bàn.

Khi tư tưởng của tôi đan dệt vào trong và ra ngoài với đối thoại giữa hoàng hậu và Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi nhớ lại giáo huấn mà tôi đã nghe chỉ mới đêm trước. Nơi đó trong ngôi đền ánh sáng dịu nhẹ, với vô số  Đức Phật và Bồ tát nhìn xuống chúng tôi trong hình tướng của những bức tượng và tranh thờ treo trên tường, một trong những hành giả du già tôn kính nhất của tu viện Namgyal đã diễn tả những thực hành tantra phong phú của truyền thống mật tông, kể những phần tập trung vào Tara Trắng và  Đức Phật Dược Sư. Mỗi sự thực hành diễn ra với những văn bản, hay nghi quỹ của nó, để trì tụng, cùng với sự quán tưởng và những mật ngôn tương ứng.

Những tantra nào đó là quan trọng quyết định, nếu chúng ta mong  ước thành tựu Giác Ngộ một cách nhanh chóng.

Ai không như thế?

Càng học hỏi về Phật Giáo Tây Tạng, thì tôi càng nhận ra rằng tôi biết rất ít ỏi về nó. Không cần phải hỏi, những giáo huấn rất thú vị và hấp dẫn, và luôn luôn có những thực tập mới mẻ và bí ẩn sắp xảy ra. Nhưng tôi cũng cảm thấy bối rối.

Chỉ mơ màng về cuộc đối thoại tiếp diễn ở phía trên, nhưng tôi trở lại hoàn toàn ý thức khi tôi nghe hoàng hậu nói, “Thưa Đức Thánh Thiện, có quá nhiều sự thực tập trong truyền thống của chúng ta. Nhưng thứ nào là quan trọng nhất?

Giống như bà đang đọc được tâm ý của tôi! Đó là câu hỏi của tôi, mặc dù tôi đã không quá lắm lời. Đó là điều mà tôi muốn biết!

Đức Thánh Thiện không do dự. “Không cần phải hỏi, điều quan trọng nhất là thực tập tâm bồ đề.”

Bà khẳng định: “Nguyện vọng thành tựu Giác Ngộ nhằm đề hướng dẫn tất của chúng sanh đến cùng thể trạng ấy.”

Ngài gật đầu. “Tâm Giác Ngộ này dựa trên lòng đại bi thanh tịnh, mà điều này lại dựa trên lòng đại từ thuần khiết. Trong mỗi trường hợp phương tiện trong sạch không tách rời, không thiên vị. Vô điều kiện. Và phương tiện lớn làm lợi ích tất cả chúng sanh, không chỉ là một nhóm nhỏ xảy ra như chúng ta hiện tại.

Từ nhận thức của chúng ta, cung cách duy nhất để thụ hưởng thể trạng hạnh phúc thường xuyên và tránh mọi khổ đau là thành tựu Giác Ngộ. Đây là tại sao tâm bồ đề được xem là động cơ vị tha nhất. Chúng ta mong muốn thành tựu Giác Ngộ không chỉ cho chính chúng ta nhà để hổ trợ tất cả các chúng sanh khác đạt đến cùng thể trạng ấy.

“Một động cơ rất thử thách.”

Đức Thánh Thiện mĩm cười. “Dĩ nhiên! Đó là công việc của cả cuộc đời để chuyển hóa tâm Giác Ngộ chỉ từ một ý tưởng dễ thương thành một niềm tin sâu sắc chân thành. Khi chúng ta bắt đầu nó có thể cảm giác giống như chúng ta đúng là đang hành động. Chúng ta có thể nghĩ, Tôi đang tự lừa dối chính mình à, đang cố gắng để giả vờ như tôi có thể trở thành một  Đức Phật và hướng dẫn tất cả chúng sanh đi đến Giác Ngộ? Nhưng từng bước một, chúng ta phát triển sự thấu hiểu. Chúng ta thấy rằng những người khác đã làm như vậy rồi.

Chúng ta phát triển sự tự tin vào chính những năng lực của chúng ta. Chúng ta tu tập để trở nên ít tập trung vào mình hơn và tập trung vào những người khác hơn.

“Tôi một lần đã nghe một định nghĩa thú vị về một con người thánh thiện: ‘Một con người thánh thiện là một người nào đó nghĩ nhiều về người khác hơn chính họ.’ Điều này thật lợi lạc, bà có đồng ý không?”

Hoàng hậu nương nương gật đầu trước khi trầm ngâm, “Đồng thuận với một lý tưởng về tâm bồ đề là một việc. Nhưng phải nhớ nghĩ để đem nó vào trong sự thực hành...”

-Vâng, chánh niệm về tâm bồ đề là lợi ích nhất. Chúng ta có thể áp dụng nó và rất nhiều những hành vi của thân, khẩu và ý. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta là phong phú với khả năng để thực hành tâm bồ đề - và mỗi lần chúng ta là như thế, như  Đức Phật nói, tác động tích cực trên tâm thức của chúng ta là vượt khỏi mọi sự đo lường.”

“Tại sao to lớn như thế, thưa Đức Thánh Thiện?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma nghiêng mình về phía trước. “Năng lực của đạo đức là mạnh mẽ mạnh mẽ hơn năng lực của tiêu cực. Và không có đạo đức nào to lớn hơn tâm bồ đề. Khi chúng ta trau dồi tâm thức này là chúng ta đang tập trung vào những phẩm chất nội tại, không phải những thứ bên ngoài.  Chúng ta đang nhớ lại sự hạnh phúc cát tường của người khác, không phải nghĩ về chính mình. Bà thấy, điều này là một nhận thức bao quát, không bị giới hạn vào tương lai ngắn hạn của kiếp sống này. Nó ngược lại những suy nghĩ thông thường của chúng ta. Chúng ta đang thiết lập tâm thức chúng ta vào một tiến trình phát triển rất khác biệt, rất năng lực.”

“Ngài nói rằng cuộc sống hằng ngày là rất phong phú với những cơ hội để thực tập phải không?”

Đức Thánh Thiện gật đầu. “Mỗi lần chúng ta làm điều gì đấy dễ thương cho một người khác, ngay cả nếu nó là một việc thường lệ mà người ta mong đợi, thì chúng ta có thể làm việc ấy với suy nghĩ ‘Bằng hành động này của tình thương, hay trao tặng hạnh phúc, nguyện cho tôi thành tựu Giác Ngộ để giải thoát tất cả chúng sanh.’ Mỗi lần chúng ta thực hành bố thí, cho dù đó là một sự cúng dường, hay từ thiện, hay nuôi dưỡng một con mèo, thì chúng ta cũng có thể suy nghĩ tương tự như vậy.”

Vào lúc ấy tôi ngáp một hơi dài. “Đức Đạt Lai Lạt Ma và hoàng hậu cùng cười lớn. Rồi thì, khi bà nhìn xuống vào đôi mắt ngọc lam của tôi, hoàng hậu nương nương nói, “Đó là nghiệp, có phải không, đã đem mọi người và những chúng sanh khác vào trong cuộc sống của chúng ta?”

Đức Thánh Thiện gật đầu. “Nếu có một sự liên kết rất mạnh mẽ, đôi khi cùng chúng sanh ấy có thể trở lại lần này và lần nữa,...”

“Đôi khi người ta nghĩ rằng thật ngớ ngẫn khi trì tụng mật ngôn lớn tiếng vì lợi ích của những con vật.”

“Không, không ngớ ngẫn,” Đức Thánh Thiện nói. “Điều này có thể rất lợi ích. Chúng ta có thể tạo nên – bà nói thế nào? - một dấu ấn thiện nghiệp tốt lành vào dòng tương tục tâm thức của một chúng sanh vốn có thể chín muồi khi nó gặp những điều kiện đúng đắn tốt đẹp trong tương lai. Có những câu chuyện trong kinh về vấn đề những thiền giả nói mật ngôn lớn tiếng vào những con chim như thế nào. Trong các kiếp sống tương lai, những con chim hướng tâm về giáo pháp và có thể thấy được Giác Ngộ.

-“Vậy thì Sư Tử bé nhỏ này phải có những dấu ấn nghiệp vô cùng tốt đẹp nào đó?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma mỉm cười hạnh phúc. “Không nghi ngờ gì nữa?”

Rồi thì hoàng hậu nói điều gì đó dường như không bình thường. Càng bất thường hơn, với cảm nhận muộn màng. “Nếu bà từng có những con mèo của chính bà,” bà lẩm bẩm, “thật vô cùng danh dự để cho những con mèo một ngôi nhà.”

Đức Thánh Thiện chặp hai tay vào nhau. “Tốt quá!” ngài nói.

-“Tôi nói thật đấy!”

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn đôi mắt bà với một biểu lộ của lòng thương vô bờ bến. “Tôi sẽ nhớ,” ngài nói.

Vài buổi sáng sau đó, tôi tự tin nhún nhảy vào văn phòng của trợ lý cấp cao. Những chiếc phone im lặng, thư từ hàng ngày chưa đến, và trong khoảng lặng bất thường của hành động, Chogyal đã làm những cốc trà, mà hai người đàn ông thường thưởng thức với vài miếng bánh mì bơ Scotland, do bà Trinci gởi tặng.

“Chào buổi sáng, HHC,” Chogyal chào mừng, khi tôi co mình lại dựa vào đôi chân phủ cà sa của ông. Ông khom mình xuống vuốt ve tôi.

Tenzin dựa lưng vào ghế của ông. “Cô nàng đã ở với chúng ta bao lâu rồi, ông thể nói không?”

Chogyal nhún vai. “Một năm?”

-“Lâu hơn thế.”

-Trước Kyi Kyi.”

-“Trước Kyi Kyi lâu mà.” Tenzin cắn một miếng bánh mì đường với phong thái ngoại giao. “Có phải khoảng thời gian vị giáo sư Oxford thăm viếng không?”

-“Tôi có thể nói với huynh một cách chính xác.” Chogyal nghiêng về phía trước tới máy vi tính của ông và tìm lại trên lịch.

-“Có nhớ không? Đó là ngày Đức Thánh Thiện từ Mỹ trở về.”

-“Đúng đấy!”

-“Đó là mười ba, mười bốn, ..., mười sáu tháng trước.”

-“Lâu vậy à?”

-“Vô thường,” Chogyal nhắc ông ta, bún ngón tay của ông.

-“Hmmm”

-“Có bất cứ lý do nào không-?”

-“Tôi chỉ nghĩ thế,” Tenzin nói, “cô nàng không còn là một con mèo con. Khi nó được chích ngừa, người ta gợi ý là nên đem nó đi triệt sản. Và cấy một con chip điện tử.”

-“Tôi sẽ ghi chú lại để liên lạc với bác sĩ thú y,” Chogyal nói, thêm việc này vào danh sách việc cần làm hàng ngày của mình. “Chiều thứ Sáu tôi sẽ có thời gian đưa cô nàng ấy đi khám.”

Chiều thứ Sáu hôm đó, tôi ngồi trên đùi Chogyal ở ghế sau xe của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và người lái xe—Càng ít nói về ông ta càng tốt— đã lái xe đưa chúng tôi từ Jokhang đến phòng khám thú y hiện đại ở Dharamsala. Không cần lồng nhốt, giỏ đựng đồ hay tiếng kêu gào mất văn minh. Xét cho cùng, tôi là Mèo của Đức Thánh Thiện. Trên đường xuống đồi, tôi chăm chú quan sát khung cảnh đang diễn ra, ria mép khẽ rung lên vì tò mò. Nếu có gì cần được an ủi, thì đó chính là Chogyal, vì ông ôm chặt lấy tôi một cách lo lắng, lẩm bẩm những câu mật ngôn dưới hơi thở.

Bác sĩ Wilkinson, một bác sĩ thú y người Úc cao lớn, nhanh chóng đưa tôi lên bàn khám, rồi tiến hành mở miệng tôi, chiếu đèn vào tai và kiểm tra thân nhiệt, một việc làm khá là xúc phạm.

-“Thời gian dường như trôi đi quá nhanh,” Chogyal nói với ông ấy. “Cô Mèo đã ở bên chúng tôi lâu hơn chúng tôi tưởng.”

-“Cô nàng đã được tiêm phòng đầy đủ rồi,” bác sĩ thú y trấn an ông. “Đó là điều quan trọng nhất. Cô ấy đã giảm cân một chút so với lần cuối tôi gặp, điều này là cần thiết. Bộ lông của cô ấy rất tốt.”

-“Chúng tôi muốn gắn chip định vị cho nó. Và triệt sản nữa.”

-“Cấy chip định vị”—Bác sĩ Wilkinson vừa xoa bóp người tôi—“luôn là một ý kiến hay. Chúng tôi thường xuyên nhận được những thú cưng bị lạc, và chúng tôi không có cách nào liên lạc được với chủ nhân của chúng. Thật đau lòng.”

Ông ta dừng lại, hai tay không còn cử động nữa. “Nhưng chúng ta phải hoãn việc triệt sản lại một thời gian.” Lông mày của Chogyal nhíu lại. “Chúng ta không nghĩ đến chuyện này ngay bây giờ—”

-“Sáu tuần. Có thể là một tháng.” Bác sĩ thú y nhìn ông ta với ánh mắt đầy ẩn ý.

Chogyal vẫn không hiểu. "Lịch phẫu thuật của ông đã kín hết rồi à?"

Bác sĩ Wilkinson lắc đầu mỉm cười. "Hơi muộn để triệt sản rồi, ông bạn," ông nói với Chogyal. "Con mèo của Đức Thánh Thiện sắp làm mẹ rồi."

-“Chúng ta sẽ đặt tên cho chúng là gì?” là phản ứng của người lái xe khi Chogyal báo tin trên đường về nhà.

Chogyal nhún vai. Tôi đoán ông ta đang bận tâm đến những chuyện khác. Chẳng hạn như làm sao để báo tin cho Đức Thánh Thiện.

-“Micey-Tungs?” người lái xe đề nghị./.

 

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

PHẬT GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO KHÁC

Buddhism and Other Religions
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

1-   Phật giáo khác với các tôn giáo thế giới khác như Kitô giáo như thế nào?

Có nhiều điểm chung giữa Phật giáo và các tôn giáo thế giới khác về các vấn đề đạo đức, chẳng hạn như không giết hại người khác, không trộm cắp, v.v. và về mặt tích cực là thực hành lòng hào phóng, từ bi, v.v. Đạo đức chỉ là giai đoạn sơ bộ và là phương tiện để đạt được mục đích. Mặc dù thiết yếu, nhưng chỉ riêng đạo đức không dẫn đến sự giải thoát của một người.

Phật giáo khác với các tôn giáo khác ở ba điểm:

(a) Phật giáo không đòi hỏi niềm tin vào một “thần sáng tạo”.

(b) Phật giáo dạy giáo lý vô ngã (vô linh, vô bản ngã), có nghĩa là không có bản chất vĩnh hằng hay trường tồn nào trong chúng sinh.

(c) Phật giáo cũng dạy giáo lý duyên khởi (paticcasamuppada), có nghĩa là không có gì tồn tại độc lập, mà chỉ tồn tại phụ thuộc vào các sự kiện có quan hệ nhân quả khác. Do đó, có thể nói rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo.

Một số người cho rằng Phật giáo là một triết học, nhưng Đức Phật không chỉ thuyết giảng những lý thuyết triết học hay trí tuệ suông. Giáo pháp (giáo lý của Đức Phật) đề cập đến thực tại và những chân lý có thể được kiểm chứng bằng kinh nghiệm cá nhân. Không giống như triết học, giáo pháp dẫn đến việc loại bỏ mọi hình thức khổ đau và giải thoát khỏi sự tồn tại có điều kiện. Người ta có thể tranh luận không ngừng về việc Phật giáo là một tôn giáo hay một triết học; điều đó không quan trọng - nó là một lối sống. Trên thực tế, một số giáo lý cổ xưa rất phù hợp với tư tưởng khoa học hiện đại, do đó bạn thậm chí có thể gọi nó là một 'Khoa học về cuộc sống' ('Science of Life).

Cốt tủy của đạo Phật được tóm tắt trong bài kệ cổ tuyệt đẹp sau đây:
Sabba papassa akaranam

  • kusalassa upasampada: Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành
    Sacittapariyodapanam
  • etam Buddhana sasanam: Giữ tâm ý trong sạch, Chính lời chư Phật dạy.

2-   Đức Phật có phải là một vị thần hay là một hóa thân được phái xuống trần gian để giáo dục nhân loại?

Quan điểm này không được ủng hộ trong bất kỳ kinh sách nào. Thuật ngữ Phật có nghĩa là "người giác ngộ" - người tỉnh thức được thực tại của cuộc sống. Đức Phật đã khẳng định rằng để đạt được mục tiêu Phật quả vô cùng khó khăn, Ngài phải trải qua quá trình tu tập tâm linh gian khổ bằng nỗ lực của chính mình qua hàng ngàn kiếp sống. Ngài sinh ra làm người, sống làm người và chết làm người.

Các văn bản có đề cập rằng đã có nhiều vị Phật trên thế giới trước Đức Phật Gotama, người mà chúng ta noi theo giáo lý, và sẽ còn nhiều vị Phật nữa sau này. Tất cả đều khám phá ra cùng một Chân lý, chân lý này luôn tồn tại dù có Phật hay không để tiết lộ nó.

3-   Phật giáo có phải là một nhánh của Ấn Độ giáo không?

Nhiều ý tưởng trong Phật giáo, chẳng hạn như niềm tin vào luân hồi và nghiệp báo, đã phổ biến ở Ấn Độ trước thời Đức Phật. Trên thực tế, Hoàng tử Siddhartha Gotama, tên gọi của Đức Phật trước khi giác ngộ, đã tham gia vào nhiều hoạt động của Ấn Độ giáo dưới thời Ngài.

Tứ Diệu Đế, về cơ bản là cốt lõi trong giáo lý của Đức Phật, là đặc điểm độc đáo của Phật giáo. Ba đặc tính của sự tồn tại, đó là Vô thường (vô thường), Khổ (khổ) và Vô ngã (vô ngã) không có trong Ấn Độ giáo.

Một số người theo đạo Hindu coi Đức Phật là một hóa thân, nhưng điều này không được người theo đạo Phật chấp nhận rộng rãi, vì họ cho rằng giáo lý của Ngài khác với giáo lý Hindu. Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chứ không phải xuất thân trong việc quyết định địa vị và sự tiến bộ của một người trong cuộc sống./.

Bài liên hệ: PHẬT GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO

https://www.londonbuddhistvihara.org/teachings/buddhism-and-other-religions/

 

NAM MÔ VÔ LƯỢNG NHÃN PHẬT

 Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

● NAM MÔ VÔ LƯỢNG NHÃN PHẬT

NAMO ANANTANETRA BUDDHA
(Đức Phật Vô Lượng Nhãn / Đức Phật sở hữu vô số Huệ nhãn khác nhau)

Danh hiệu này được cung kính dâng lên Ngài bởi Ngài sở hữu vô số Huệ nhãn (Mắt tâm linh) mà không một ai khác trong toàn cõi Vũ trụ này có được!

  • "Ananta" ~ nghĩa là Vô lượng, Vô biên hoặc Bất khả tư nghị (không thể bàn bàn, nghĩ bàn),
  • "Netra" ~ nghĩa là Mắt hoặc Tầm nhìn Tâm linh (Huệ nhãn/Thiên nhãn),
    Số lượng Huệ nhãn mà Ngài sở hữu là không thể đếm xuể đối với nhân loại bình thường (Tiếng Phạn: Manussa), các vị Chư thiên (Tiếng Phạn: Devas), hay các bậc Phạm thiên cao quý (Tiếng Phạn: Brahmas) nếu chúng ta cố gắng đếm chúng, vượt xa mọi sự so sánh thông thường, bao gồm cả...

• Ngài có 2 Con mắt Người bình thường
• Ngài có 108 Huệ nhãn
• Ngài có 1.000 (Tiếng Phạn: Sahasra - Thiên) Huệ nhãn
• Ngài có 100.000 (Tiếng Phạn: Laksha - Lạc-xoa/Ức) Huệ nhãn
• Ngài có 10.000.000 (Tiếng Phạn: Koti - Câu-chi) Huệ nhãn
• Ngài có \(10^{12}\) (Tiếng Phạn: Koti Laksha) Huệ nhãn
• Ngài có \(10^{18}\) (Tiếng Phạn: Nayuta - Na-do-tha) Huệ nhãn
• Ngài có \(10^{140}\) (Tiếng Phạn: Asaṁkhyeya - A-tăng-kỳ) Huệ nhãn
• Ngài có Vô lượng (Tiếng Phạn: Ananta - Vô biên) Huệ nhãn

● Nguyên nhân cốt lõi khiến Ngài có vô lượng Huệ nhãn như vậy là vì trong vô số kiếp quá khứ khi hành Bồ tát đạo (Bồ-tát Ma-ha-tát), Ngài đã từng hy sinh đôi mắt của mình vì lợi ích của chúng sinh. Việc tự nguyện hiến dâng đôi mắt là một công đức vô lượng vô biên, một việc làm cực kỳ nan giải mà chúng sinh bình thường trong vòng luân hồi (Tiếng Phạn: Samsara) khó lòng thực hiện được.
Bên cạnh đó, có thể nói rằng Ngài đã chữa lành các bệnh về mắt cho hàng ngàn bệnh nhân mù lòa, đồng thời khai mở cho họ hiểu biết về tầm nhìn tâm linh (Thiền định với tất cả các Luân xa hoặc các tầng Thiền định khác nhau).

● Một số Huệ nhãn tiêu biểu của Đức Phật trong số vô lượng Huệ nhãn đó có thể được kể đến như sau:


01• Phật Nhãn (Phật Tự Tính Tuyệt Đối Giác Ngộ Nhãn)
02• Pháp Nhãn (Vĩnh Hằng Pháp Giới Nhãn)
03• Nhất Thiết Trí Nhãn / Tối Thượng Toàn Trí Nhãn (Vô Thượng Biến Tri Nhãn)
04• Bát Nhã Nhãn (Đại Trí Tuệ Nhãn)
05• Thiên Nhãn / Thần Thông Tuyệt Đối Nhãn (Tuyệt Đối Thần Tính Nhãn)
06• Thanh Nhãn (Cực Huyền Lam Chân Thật Nhãn / Mắt xanh nguyên bản)
07• Bi Nhãn (Đại Bi Mẫn Nhãn)
08• Tịch Tĩnh Nhãn / An Lạc Nhãn (Thanh Bình An Tịnh Nhãn)
09• Chân Thật Nhãn / Như Thật Nhãn (Chân Lý Nhãn)
10• Tinh Tấn Nhãn / Khải Hoàn Nhãn (Chiến Thắng Nhãn)
11• Hiền Giả Nhãn (Hiền Đức Cao Quý Nhãn)
12• Lực Nhãn (Thần Lực Biến Hóa Nhãn / Sở hữu các loại thần lực)
13• Tha Tâm Nhãn (Tâm Ý Sở Kiến Nhãn / Nhìn thấu tâm trí)
14• Trí Nhãn (Tri Kiến Nhãn / Liễu tri vạn pháp)
15• Giác Tuệ Nhãn (Căn Tính Trí Tuệ Nhãn)
16• Chứng Ngộ Nhãn / Liễu Giải Nhãn (Thấu Suốt Sự Thật Nhãn)
17• Thanh Tịnh Nhãn (Thần Thánh Thuần Khiết Nhãn)
18• Viên Mãn Thanh Tịnh Nhãn (Minh Triết Kiến Tánh Nhãn / Nhìn rõ không chướng ngại)
19• Nhĩ Căn Nhãn (Văn Thanh Sở Kiến Nhãn / Nhìn thấy âm thanh)
20• Tư Duy Nhãn (Ý Niệm Sở Kiến Nhãn / Nhìn thấu suy nghĩ)
21• Huyễn Hóa Nhãn (Thấu Kiến Huyễn Cảnh Nhãn / Nhìn thấu các ảo tưởng)
22• Nội Chứng Nhãn / Tối Thượng Linh Giác Nhãn (Đại Tâm Linh Nhãn)
23• Vô Úy Nhãn (Khủng Bố Bất Nhiễm Nhãn / Không sợ hãi)
24• Hàng Ma Nhãn / Tồi Tà Nhãn (Tồi Phá Ma Chướng Nhãn / Tiêu diệt cái ác)
25• Nhật Luân Nhãn (Quang Minh Như Nhật Nhãn / Tỏa sáng như mặt trời)
26• Nguyệt Luân Nhãn (Tịnh Quang Như Nguyệt Nhãn / Tỏa sáng như mặt trăng)
27• Hư Không Nhãn (Biến Mãn Hư Không Nhãn)
28• Tinh Tú Nhãn (Biến Chiếu Tinh Bản Nhãn / Nhìn thấu các chòm sao)
29• Vũ Trụ Nhãn (Vũ Trụ Biến Hiện Nhãn / Mắt vũ trụ bao la)
30• Thập Phương Nhãn (Thập Phương Sở Kiến Nhãn / Nhìn khắp mười phương)
31• Diệu Kiến Nhãn / Thiện Kiến Nhãn (Thanh Tịnh Cao Quý Nhãn)
32• Thế Gian Kiến Nhãn (Biến Kiến Chư Thế Giới Nhãn / Nhìn khắp các thế giới)
33• Phổ Kiến Nhãn / Nhất Thiết Kiến Nhãn (Vô Sở Bất Kiến Nhãn / Cái nhìn toàn cảnh)
34• Tam Thế Tam Thời Nhãn (Đại Thời Gian Nhãn / Nhìn thấu Quá khứ - Hiện tại - Vị lai)
35• Vô Tỷ Nhãn / Vô Đẳng Đẳng Nhãn (Vô Song Độc Nhất Nhãn / Không gì sánh bằng)
36• Điện Quang Nhãn (Tích Lịch Lôi Điện Nhãn / Uy lực như sấm chớp)
37• Uy Đức Nhãn / Oai Thần Nhãn (Đại Quang Vinh Oai Nghiêm Nhãn)
38• Chếu Minh Nhãn (Quang Minh Khải Chiếu Nhãn / Ánh sáng soi rọi)
39• Hào Quang Nhãn (Biến Chiếu Hào Quang Nhãn / Tỏa rạng muôn nơi)
40• Huỳnh Diệu Nhãn (Diệu Quang Rực Rỡ Nhãn / Ánh sáng huy hoàng)
41• Nguyện Vọng Nhãn / Như Ý Nhãn (Thỏa Mãn Sở Nguyện Nhãn / Nhìn thấu và đáp ứng ước nguyện)
42• Chúng Sanh Kiến Nhãn (Hữu Tình Mạng Căn Nhãn / Nhìn thấu căn tính và mạng sống chúng sanh)
43• Sắc Tướng Kiến Nhãn (Phổ Kiến Chư Sắc Tướng Nhãn / Nhìn rõ mọi hình tướng, vạn vật)
44• An Lạc Nhãn / Hoan Hỷ Nhãn (Tối Thượng Pháp Lạc Nhãn / Mang lại sự hỷ lạc vô biên)
45• Cát Tường Nhãn (Hạnh Vận Đại Phúc Nhãn / Mang lại may mắn)
46• Phúc Đức Nhãn / Phúc Hựu Nhãn (May Mắn Phúc Báo Nhãn)
47• Tuyệt Diệu Nhãn / Trang Nghiêm Nhãn (Tuyệt Đối Mỹ Diệu Nhãn / Vẻ đẹp thanh tịnh tuyệt đối)
48• Thịnh Vượng Nhãn / Tự Tại Nhãn (Phú Cường Tự Tại Nhãn / Sự phồn vinh và tự tại vô biên)
49• Chiến Thắng Nhãn / Tối Thắng Nhãn (Khải Hoàn Vô Địch Nhãn)
50• Giải Thoát Nhãn (Cứu Cánh Ly Khổ Nhãn / Đưa đến sự tự do, giải thoát hoàn toàn)
51• Thiền Định Nhãn / Tam Muội Nhãn (Thâm Nhập Thiền Na Nhãn)
52• Luân Xa Khải Ngộ Nhãn (Thất Luân Giác Tỉnh Nhãn / Khai mở trọn vẹn 7 luân xa)
53• Đại Nhãn / Tối Đại Nhãn (Vượt Lên Trên Mọi Sự Vĩ Đại Nhãn)
54• Nghiệp Quả Sở Kiến Nhãn / Kiến Nghiệp Nhãn (Phổ Kiến Vạn Hạnh Nhãn / Nhìn rõ mọi hành vi và nghiệp báo)
55• Mạn Đà La Nhãn (Luân Viên Cụ Túc Nhãn / Nhìn thấu các đồ hình và cấu trúc vũ trụ)
56• Nhiếp Phục Nhãn / Tự Tại Biến Hóa Nhãn (Nhiếp Thụ Ảnh Hưởng Nhãn / Uy lực chuyển hóa, nhiếp phục chúng sanh)
57• Ngũ Sắc Diệu Nhãn / Cực Sắc Nhãn (Muôn Màu Rực Rỡ Nhãn)
58• Chân Như Nhãn / Như Thật Nhãn (Thấu Kiến Thực Tướng Nhãn / Nhìn thấu bản chất của thực tại)
59• Tối Thắng Nhãn / Vô Thượng Nhãn (Vi Diệu Tối Ưu Nhãn)
60• Vô Ngại Nhãn / Bất Khả Tồi Phá Nhãn (Vô Sở Chướng Ngại Nhãn / Cái nhìn xuyên thấu, không gì ngăn cản được)
61• Bất Thối Chuyển Nhãn (Bất Đọa Lạc Nhãn / Cái nhìn kiên định, không bao giờ sa ngã)
62• Cứu Cánh Nhãn / Chí Cao Nhãn (Tối Thượng Cực Đại Nhãn)
63• Vô Lượng Nhãn (Vô Biên Bất Tận Nhãn)
64• Thần Lực Nhãn / Vạn Năng Nhãn (Nhiếp Thụ Chư Lực Nhãn / Sở hữu mọi nguồn năng lượng và sức mạnh)
65• Kỳ Diệu Nhãn / Trang Nghiêm Sở Kiến Nhãn (Tuyệt Đỉnh Tráng Lệ Nhãn)
66• Hy Hữu Nhãn (Kinh Diễm Linh Diệu Nhãn / Thần kỳ, hiếm có)
67• Thần Biến Nhãn (Thiên Gia Diệu Huyền Nhãn / Phép mầu kỳ diệu của cõi trời)
68• Thức Nhãn (Tâm Thức Liễu Tri Nhãn / Nhìn thấu các tầng tâm thức)
69• Thọ Mạng Kiến Nhãn (Biến Kiến Mạng Căn Nhãn / Nhìn thấu thọ mạng của chúng sanh)
70• Bản Ngã Sở Kiến Nhãn (Hữu Tình Linh Hồn Nhãn / Nhìn thấu tự tánh và linh hồn của chúng sanh)
71• Túc Mạng Nhãn (Tiền Kiếp Sở Kiến Nhãn / Nhìn thấu tất cả các đời sống quá khứ)
72• Vị Lai Tái Sanh Nhãn (Hậu Thế Biến Kiến Nhãn / Nhìn thấu tất cả các kiếp tái sanh tương lai...
73• ... của tất cả chúng sanh hữu tình trong tam giới) (Lưu ý: Dòng 72 và 73 cấu thành một câu hoàn chỉnh)
74• Pháp Giới Duy Độ Nhãn (Không Gian Không Tước Nhãn / Nhìn xuyên thấu các chiều không gian, các cõi)
75• Vô Song Nhãn / Vô Đẳng Nhãn (Độc Nhất Vô Nhị Nhãn / Không thể so sánh)
76• Ba La Mật Nhãn (Viên Mãn Vạn Hạnh Nhãn / Nhìn thấy sự hoàn hảo tuyệt đối của các công hạnh)

Chí tâm đảnh lễ Nam Vô Lượng Nhãn Phật (Anantanetra Buddha) cùng vô lượng Huệ nhãn của Ngài.....!

Sự xuất hiện & Lần đầu tiên được nhắc đến ~
Kinh Phật Thuyết Danh Hiệu Chư Phật
(Tiếng Phạn: Buddhabhāṣita-buddhanāma-sūtra).
Giới thiệu: Kinh điển này tôn xưng 1.000 danh hiệu của các Đức Phật khác nhau khắp mười phương thế giới.

 


 

 

 

 






 

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG


 

BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG

 

Tuệ Uyển biên tập

 

A-      Bodhgaya (Bồ-đề Đạo-tràng) có nghĩa thật sự là "Vùng đất Gaya của sự Giác ngộ".

Tên gọi này được ghép từ hai thành tố trong tiếng Phạn và tiếng Pali:

  • Bodh (बोध): Nghĩa là "Giác ngộ" hoặc "Thức tỉnh" (cùng gốc từ với Bodhi / Bồ-đề).
  • Gaya (गया): Là tên của một địa danh cổ xưa tại bang Bihar, Ấn Độ.

Nguồn gốc lịch sử của tên gọi

Tên gọi "Bodhgaya" thực chất chỉ mới xuất hiện phổ biến từ thế kỷ 18 để phân biệt vùng đất tâm linh này với thành phố Gaya mang tính chất Nền tảng Ấn Độ giáo (Hindu giáo) nằm cách đó 16km.

Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế và suốt nhiều thế kỷ sau đó, mảnh đất này được biết đến qua các tên gọi cổ xưa mang ý nghĩa rất đặc biệt:

  • Uruvela (Ưu-lâu-tần-loa): Nghĩa là "Bãi cát rộng", tên gốc của ngôi làng nơi Đức Phật tu hành trước khi đắc đạo.
  • Sambodhi (Tam-bồ-đề): Nghĩa là "Chính đẳng Chính giác" hay "Giác ngộ hoàn toàn". Đây là cái tên cổ nhất được khắc trên các trụ đá của Hoàng đế Ashoka từ thế kỷ thứ 3 TCN.
  • Vajrasana (Kim Cang Tòa): Nghĩa là "Ngai kim cương". Từ này chỉ chính xác vị trí bên dưới gốc cây Bồ-đề, nơi Đức Phật đã ngồi phát nguyện không đứng dậy cho đến khi tìm ra chân lý. Bodhimanda (Bồ-đề Đạo-tràng): Nghĩa là "Vùng đất xung quanh cây giác ngộ". Đây chính là nguồn gốc của từ Hán-Việt "Đạo-tràng" mà chúng ta dùng ngày nay.
  • Mahabodhi (Đại Bồ-đề): Nghĩa là "Sự giác ngộ vĩ đại", hiện nay là tên của Quần thể đền Mahabodhi nổi tiếng tại đây.

Tóm lại, Bodhgaya không đơn thuần là một cái tên địa lý, mà là danh từ biểu tượng khẳng định đây là nơi nhân loại lần đầu tiên chứng kiến sự ra đời của một vị Phật hoàn toàn tỉnh thức.

B- Lịch sử xây dựng Quần thể đền Mahabodhi (Đền Đại Giác Ngộ) là một hành trình dài hơn 2.300 năm, trải qua nhiều giai đoạn kiến tạo, bị hủy hoại bởi chiến tranh và được hồi sinh một cách kỳ diệu.

1. Nền móng đầu tiên của Hoàng đế Ashoka (Thế kỷ thứ 3 TCN)

Khoảng năm 250 TCN, Hoàng đế Ashoka (vua A Dục) của vương triều Maurya vĩ đại đã đến chiêm bái cội Bồ-đề. Ông quyết định xây dựng một ngôi đền nhỏ có mái che dạng kim cương (Vajrasana) đặt ngay tại vị trí Đức Phật ngồi thiền để tôn vinh sự kiện Ngài đắc đạo. Ngài cũng cho dựng một cột đá sa thạch có khắc hình sư tử đứng hiên ngang cạnh gốc cây.

2. Sự bổ sung của triều đại Sunga (Thế kỷ thứ 1 TCN)

Đến thời kỳ triều đại Sunga, các cấu trúc đá bắt đầu bao quanh khu vực đền. Điểm nhấn lớn nhất của thời kỳ này là hệ thống hàng rào lan can bằng đá sa thạch cổ bao bọc xung quanh cây Bồ-đề và tòa Kim Cang. Các bức phù điêu trên hàng rào chạm khắc vô cùng tinh xảo hình ảnh các vị thần, hoa sen và các câu chuyện tiền thân của Đức Phật (Kinh Bản Sanh).

3. Diện mạo tháp nhọn vĩ đại thời Gupta (Thế kỷ thứ 5 - 6)

Ngôi đền hình tháp nhọn cao 52 - 55 mét như chúng ta thấy ngày nay không phải làm bằng đá, mà được xây dựng lại hoàn toàn bằng gạch nung vào khoảng thế kỷ 5 - 6 dưới triều đại Gupta. 

  • Kiến trúc đột phá: Đền Mahabodhi áp dụng kiểu kiến trúc kim tự tháp cụt, chịu ảnh hưởng từ các bảo tháp bậc thang cổ vùng Gandhara. Ngôi tháp chính được bao quanh bởi 4 ngọn tháp phụ nhỏ hơn ở 4 góc, tạo thành một tổng thể uy nghi hướng thẳng lên trời xanh.
  • Giá trị khảo cổ: UNESCO công nhận đây là một trong những công trình kiến trúc bằng gạch cổ nhất còn sót lại ở miền Đông Ấn Độ.

4. Thời kỳ suy tàn và bị chôn vùi (Thế kỷ 12 - 19)

Vào thế kỷ thứ 12, khi làn sóng xâm lược tràn vào miền Bắc Ấn Độ, các tu viện Phật giáo bị phá hủy, các nhà sư phải lá dời đi nơi khác. Đền Mahabodhi rơi vào cảnh hoang tàn và dần bị bao phủ bởi các lớp bùn đất của những trận lụt sông Niranjana. Qua nhiều thế kỷ, ngôi đền gần như biến mất dưới dạng một ngọn đồi đất lớn phủ đầy cây bụi.

5. Cuộc đại trùng tu và hồi sinh (Cuối thế kỷ 19)

Vào những năm 1880, chính phủ thuộc địa Anh phối hợp với các nhà khảo cổ, đứng đầu là Ngài Alexander Cunningham, đã tiến hành một cuộc đại khai quật quy mô lớn.

  • Họ đã dọn dẹp hàng nghìn tấn đất đá, tìm lại cội Bồ-đề (đã chết và được trồng lại bằng một nhánh chiết từ Sri Lanka) và phục dựng lại toàn bộ hình dáng ngôi đền gạch theo đúng các mô tả trong nhật ký hành hương của ngài Huyền Trang (thế kỷ thứ 7).
  • Năm 2002, toàn bộ quần thể chính thức được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Gần đây nhất, phần đỉnh tháp của đền đã được dát thêm 300 kg vàng do hoàng gia và Phật tử Thái Lan cúng dường./.

 

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

VƯỢT RA NGOÀI CẦU NGUYỆN: VÌ SAO PHẬT TỬ CÓ THỂ ĐỨNG BÊN CẠNH CÁC TÔN GIÁO KHÁC

 Beyond Prayer: Why Buddhists Can Stand Side by Side with Other Faiths

Tác giả: Jamyang Puntsogon
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

Bạn đã bao giờ thấy các vị tăng hay ni Phật giáo lặng lẽ tham gia một buổi gặp gỡ liên tôn giáo, cùng nắm tay hoặc cúi đầu bên cạnh những người đang cầu nguyện với Thượng đế hay các vị thần linh khác chưa? Một câu hỏi thường được đặt ra là: Liệu họ có đang phản bội Phật giáo không? Hay họ, dù vô tình, đang cầu nguyện cho một vị thần linh ngoại đạo nào đó?

Mối bận tâm này, dù dễ hiểu, nhưng lại xuất phát từ một sự hiểu lầm căn bản về thực hành Phật giáo. Để tháo gỡ điều đó, chúng ta cần nhìn lại nguồn gốc của Phật giáo và những cách biểu hiện đa dạng của nó trong suốt lịch sử.

Giáo lý Nguyên thủy: Hướng dẫn, Không phải Cầu xin

Trước hết, trong những giáo lý Phật giáo sớm nhất được bảo tồn trong Kinh Pāli, Đức Phật lịch sử, Thích Ca Mâu Ni, không dạy việc cầu nguyện với những thực thể vô hình để xin được bảo hộ, may mắn hay sức khỏe. Ngài cũng không khuyên dựa vào sự can thiệp của các chư thiên hay thần linh nam hay nữ. Thực hành cốt lõi là tự chịu trách nhiệm: thiền định, hành vi đạo đức và tu dưỡng trí tuệ để hiểu bản chất của khổ đau và giải thoát.

Như một học giả đã nhận xét: “Phật tử không cầu nguyện với bất kỳ thực thể tâm linh nào trong bối cảnh nguyên thủy. Con đường là hiểu nhân quả, chứ không phải cầu xin.”

Cầu Nối Của Các Truyền Thống Sau Này

Tuy nhiên, nếu bạn đến thăm các ngôi chùa khắp châu Á, bạn sẽ thấy nhiều Phật tử tham gia vào những hoạt động trông giống như cầu nguyện—dâng lễ vật trước tượng, tụng kinh cầu xin những vị đấng từ bi như Quán Thế Âm Bồ tát (Avalokiteshvara). Đây là sự tiến hóa của truyền thống. Các trường phái Phật giáo phát triển hàng thế kỷ sau khi Đức Phật viên tịch đã kết hợp những thực hành sùng kính này. Chúng thường đóng vai trò như một cầu nối khéo léo cho những người quen thuộc với việc cầu nguyện sùng kính, cung cấp một điểm khởi đầu quen thuộc để dần dần làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về thiền định và trí tuệ.


Vậy, Họ Đang Làm Gì Trong Một Vòng Tròn Cầu Nguyện Liên Tôn?

Khi một Phật tử hiện đại—tu sĩ hay cư sĩ—đứng một cách tôn kính bên cạnh những người thuộc các tín ngưỡng khác, điều gì đang diễn ra bên trong họ? Nếu họ đang tụng kinh, rất có thể đó là một kinh điển truyền thống ghi lại những lời dạy của Đức Phật hoặc bày tỏ khát vọng hòa bình phổ quát. Nếu họ im lặng, họ thường đang thực hành thiền định: tu tập chánh niệm, lan tỏa lòng từ ái (metta), hoặc thực hành lòng thương xót bi mẫn (karuna).

Không có xung đột nội tâm, không có cảm giác chiến đấu về mặt tâm linh với một “vị thần ngoại lai”. Tư duy lo sợ rằng

• Đức Phật có thể bị xúc phạm,

• hoặc rằng một tín ngưỡng nay phải chiến thắng một tín ngưỡng khác,

được xem là phản ánh của một “tâm trí phân biệt” và sự bất an cá nhân. Nó phản ánh sự non nớt về mặt tinh thần của cá nhân đó.

Đối với một Phật tử có trí tuệ, các hệ thống tín ngưỡng khác nhau (hay còn gọi là tôn giáo) được hiểu là những phương tiện do con người tạo ra, cố gắng truyền tải những chân lý sâu sắc về thân phận con người.

Tập Trung Vào Bản Chất Hơn Hình Thức

Phật giáo cuối cùng khuyến khích nhìn vượt ra ngoài hình thức nghi lễ để đến với bản chất của những phẩm chất được vun đắp. Bản chất mà Phật giáo trân trọng là các đức tính khác nhau. Chẳng hạn như bốn tâm vô lượng là lòng thương xót (từ), lòng trắc ẩn (bi), niềm vui trân trọng (hỉ) và sự bình đẳng (xả). Cũng như các phẩm chất như bố thí, đạo đức, nhẫn nại, siêng năng và kiên trì, tâm an nhiên, trí tuệ, v.v.

Đức Phật được tôn kính không phải như một vị thiên thần, mà như một bậc giác ngộ đã hoàn thiện trọn vẹn những phẩm chất phổ quát này. Ngài đã giác ngộ và vượt thoát khỏi những điều kiện khổ đau mà chúng ta đang bị mắc kẹt.

Điều quan trọng là, truyền thống cho rằng  Đức Phật đã trau dồi những phẩm chất này qua vô số kiếp sống, không nhất thiết phải khi được nhận diện là một "Phật tử". Ngài có thể thuộc một tôn giáo khác, hoặc thậm chí là một loài khác. Do đó, mục tiêu cuối cùng không phải là một nhãn hiệu, mà là sự hoàn thiện những đức tính này.

Theo cách đó, một con khỉ mà chúng ta thấy hôm nay có thể trở thành một vị Phật trong tương lai. Tương tự như vậy, anh chị em của chúng ta thuộc các tôn giáo khác cũng vậy.

Hành Trình Chung Hướng Đến Tốt Lành

Từ góc nhìn này, bất cứ ai—bất kể tôn giáo, chủng tộc hay xuất thân—nếu thật sự vun đắp tình yêu thương, lòng bi mẫn, trí tuệ, v.v., đều đang bước trên con đường mà Phật giáo công nhận và tôn vinh. Hành trình hướng đến những giá trị tốt đẹp là một hành trình chung của nhân loại.

Đây là lý do tại sao Phật tử sẵn sàng nói “có” khi tham gia vào các việc thiện, nói năng tử tế và cùng nhau chiêm nghiệm những khoảnh khắc tôn kính hòa bình. Họ chỉ tự nhiên nói “không” với những lời mời gọi hướng đến những hành động bất thiện.

Lòng từ bi yêu thương không phải là đặc điểm riêng của Phật giáo; đó là khả năng phổ quát.

Như một người thực hành giải thích, “Không có nỗi sợ rằng lòng từ bi yêu thương của một tôn giáo khác sẽ nuốt chửng bạn. Tình yêu mà một người Phật tử hướng tới là bao trùm tất cả. Nó không thiên vị và hòa quyện với tất cả những gì tốt đẹp.” Bằng cách này, tình yêu trở nên đủ rộng lớn để bao hàm và tôn vinh lòng thành kính của anh chị em thuộc mọi tín ngưỡng.

Hình ảnh người Phật tử ngồi thiền tĩnh lặng giữa những lời cầu nguyện của người khác không phải là sự nhượng bộ, mà là sự đoàn kết sâu sắc—một sự nhận thức rằng ẩn dưới những hình thức tìm kiếm khác nhau của chúng ta là một khát vọng chung về một thế giới tốt đẹp hơn, nhân ái hơn. Một mong muốn được giải thoát khỏi khổ đau.

Cầu mong tất cả đều bình an và hạnh phúc.

***

https://bodhi-bowl.com/2026/01/14/beyond-prayer-why-buddhists-can-stand-side-by-side-with-other-faiths/

 

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

BỒ TÁT GIỚI VÀ NỐI KẾT VỚI THỆ NGUYỆN CỦA 5 GIA ĐÌNH PHẬT

 Khắc phục sai lầm trong Pháp, thanh lọc nghiệp và khôi phục cam kết. 

Bodhisattva Vow and the Bonding Aspiration of the 5 Buddha Families: Reversing Dharma Downfalls, Purifying Karma, and Restoring Commitments

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***



Hình 1: Pháp Luân (Dharmachakra bên trái thường được biết là Pháp Tạng) là một vị Bồ Tát đã lập 48 thệ nguyện trước Đức Phật Lão Tử thời bấy giờ. Nhờ những thệ nguyện cao cả này, ngài đã đạt được Giác Ngộ hoàn toàn và trở thành Phật A Di Đà. Ngày nay, chúng ta cũng lập những thệ nguyện tương tự, với nguyện vọng Bồ Đề Tâm cũng được Giác Ngộ để có thể giúp đỡ tất cả chúng sinh.

Bài tụng niệm ngắn hàng ngày nào có thể đảo ngược mọi nghiệp xấu và sa ngã của chúng ta? Tại sao nên tụng niệm mỗi ngày, hoặc ít nhất là vào ngày 10 và ngày 25 mỗi tháng âm lịch? Tại sao giới nguyện Bồ Tát lại vô cùng quan trọng trong việc đảo ngược sa ngã và tịnh hóa? Tại sao năm nguyện ước kết hợp của 5 gia đình Phật lại có sức mạnh to lớn đến vậy? Chúng ta sẽ trả lời những câu hỏi này, và kết thúc bằng một bài tụng niệm ngắn gọn, hay về Giới luật Bồ Tát cô đọng và 5 nguyện ước kết hợp, giúp tịnh hóa mọi nghiệp xấu và sa ngã.

“Lý tưởng nhất là, đối với các nghi thức tịnh hóa như giới nguyện Bồ Tát, hãy đứng trước bàn thờ có hình ảnh Tam Bảo: Phật Pháp và Tăng. Nếu không có bàn thờ, chỉ cần quán tưởng Tam Bảo trước mặt bạn.”

A- BA BÀI NIỆM TỤNG HÀNG NGÀY TỊNH HÓA MỌI TỘI LỖI

Ba bài thực hành ngắn hàng ngày giúp chúng ta tịnh hóa những tội lỗi và nghiệp chướng tiêu cực mỗi ngày. Những bài niệm này được khuyến khích cho hầu hết Phật tử và là bắt buộc đối với những người đã phát nguyện. Bài thứ nhất, Quy y Tam Bảo, dành cho tất cả Phật tử. Bài thứ hai, lời cam kết và lời thệ nguyện Bồ Tát giúp đỡ tất cả chúng sinh, là điều bắt buộc đối với Phật tử Đại thừa. Bài thứ ba, 5 thệ nguyện nối kết với 5 gia đình Phật, dành cho hầu hết Phật tử Kim Cang thừa và là điều cần thiết cho bất kỳ ai đã thọ giới cao hơn.

Cả ba bài tụng ngắn hàng ngày này, cùng nhau và riêng lẻ, giúp tịnh hóa mọi sai lầm và nghiệp xấu, loại bỏ chướng ngại vật bên ngoài và bên trong, đồng thời làm mới nguyện vọng của chúng ta. Chúng thường được tụng thành tiếng, với nội dung ngắn gọn.

“Lý tưởng nhất là nên làm lễ phát nguyện trước bàn thờ, nhưng nếu bạn không ở gần bất kỳ điện thờ nào, xâu chuỗi có thể thay thế cho cả ba. Các hạt của xâu chuỗi tượng trưng cho Tăng đoàn, hạt lớn nhất (hạt Guru) tượng trưng cho Đức Phật, và toàn bộ xâu chuỗi tượng trưng cho Pháp. Tương tự, một kinh điển hoặc sách hướng dẫn tu tập cũng có thể được coi là sự thay thế cho cả tam bảo. Hoặc, đơn giản là hãy hình dung Đức Phật, Pháp và Tăng đoàn trước mặt bạn khi làm lễ phát nguyện.”

1 – Quy y Tam Bảo

Điều đầu tiên là Quy y Tam Bảo. Đây là một thực hành hằng ngày đối với mỗi Phật tử. Nó khẳng định lại rằng nơi nương tựa duy nhất của chúng ta là Đức Phật Giác Ngộ, Giáo pháp của Đức Phật và Cộng đồng Phật Giáo.

Việc lạy Tam Bảo (bằng thể xác hoặc bằng tâm trí) là bước khởi đầu của mọi pháp tu tập Phật giáo.”

2- Thệ nguyện Bồ Tát

Lời nguyện Bồ Tát là lời nguyện định nghĩa ý nghĩa của việc trở thành một Phật tử Đại thừa — một Phật tử khao khát Giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Đây là điều quan trọng nhất trong tất cả các điều răn.

Chính nhờ những phương pháp được mô tả trong thệ nguyện mà chúng ta có thể đạt được mục tiêu của một Bồ Tát, đó là đạt được Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Ngay cả khi chúng ta không tuyên thệ lời nguyện trong thực hành hằng ngày, ít nhất chúng ta cũng thực hành bảy điều của Bồ Tát. Để đảm bảo tránh khỏi sa ngã và nghiệp xấu, chúng ta phát nguyện và sống theo lời nguyện này.



Hình 2: Tất cả chư Phật trong mọi thời đại đều đạt được Phật quả thông qua nguyện vọng Bồ đề tâm — và con đường Bồ tát cùng các giới luật. Trong hình này, là Bồ tát Quán Thế Âm, biểu tượng rạng rỡ của Bồ tát Giác Ngộ.

3 – Năm Lời nguyện kết nối với 5 Gia đình Phật

Đối với những người thực hành nghiêm túc Con Đường Tia Chớp của Kim Cương thừa, chúng ta cũng tịnh hóa những sa ngã và nghiệp xấu này bằng 5 Lời nguyện kết nối với 5 Gia đình Phật. Bằng cách tuyên xưng điều này mỗi ngày — hoặc ít nhất hai lần một tháng vào ngày 10 và 15 âm lịch — chúng ta nhắc nhở bản thân về phương pháp để đạt được Giác ngộ. 5 Lời nguyện kết nối gần như là một “hướng dẫn” hoặc lời nhắc nhở về những gì chúng ta nên làm mỗi ngày. Bất kể bạn thực hành vị Phật hay Bổn tôn tâm thể nào, chúng ta luôn luôn ghi nhớ cả 5 Gia đình Phật và ý nghĩa của chúng.

Không có nghi lễ nào trong số này yêu cầu lễ nhập môn hay quán đảnh— nhưng nếu bạn đã trải qua lễ nhập môn, chúng là bắt buộc. Nếu không, chúng là những thực hành đầy nguyện vọng tốt đẹp giúp tịnh hóa nghiệp chướng và loại bỏ chướng ngại của chúng ta.

Khi bạn tham gia lễ quán đảnh, đây sẽ là những lời nguyện bạn đọc cùng với vị thầy, mặc dù chúng sẽ dài hơn và có thể được đọc bằng tiếng Phạn, tiếng Tây Tạng hoặc các ngôn ngữ khác. Bạn có thể thêm tên của mình để cá nhân hóa nếu muốn, có thể là tên khai sinh hoặc pháp danh nếu bạn có.

Ngay cả khi bạn chưa được quán đảnh (nhập môn hay khai tâm), đây vẫn là một nghi thức tuyệt vời, giúp tăng cường sức mạnh và tịnh hóa tâm hồn.



Hình 3: "Khi thọ nhận các giới nguyện và tự làm mới (tự quán chiếu) các giới này hằng ngày, như các giới nguyện Ngũ Trí Như Lai (Ngũ Bộ Phật) và Giới Bồ Tát, chúng ta quán tưởng chư Phật, toàn thể ruộng phước đức (tích lũy công đức) và các bậc Đạo sư của mình ở ngay trước mặt. Trong bức ảnh là Đức Tôn Giả Garchen Rinpoche. Ở góc nhỏ chèn thêm là Đức Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu (Ushnisha Vijaya – hình ảnh từ một pháp hội về Đức Tôn Thắng Phật Mẫu). Phía sau nền là hàng trăm tôn tượng Phật và các phẩm vật cúng dường được bày biện phía trước. Ngài tay cầm một chiếc Kinh luân chứa hàng triệu câu thần chú — chiếc kinh luân vốn nổi tiếng luôn được xoay trong tất cả các sự kiện của Ngài — để phóng tỏa năng lượng của các câu thần chú từ bi đến khắp thảy chúng sinh."

A- LỜI HỨA NGUYỆN TRƯỚC BA VIÊN NGỌC QUÝ

Bạn thực hiện nguyện vọng này trước Tam Bảo, cho dù bạn có bàn thờ hay không. Bạn tưởng tượng Tam Bảo hiện ra trước mặt bạn. Nếu bạn có một vị Đạo Sư hay người thầy, bạn cũng thực hiện lời hứa nguyện trước mặt người thầy của mình, ngay cả khi người thầy ở xa.

1-Bốn Năng Lực Tịnh Hóa: Ba phương pháp này cũng đại diện cho bốn năng lực  của sự tịnh hóa, lần lượt là:Quy Y Lực (nương tựa), Hối lỗi lực (ăn năn), Đối trị lực (khắc phục) và Đoạn tạ lực (quyết tâm).

2-Dựa vào Quy y: Trước hết là Quy y. Quy y của chúng ta chính là “thực hành quy y”. Chúng ta quy y vào Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng.

3-Hối hận – Lời thú tội: Thứ hai là Hối hận, đó là lời thú tội. Chúng ta thú tội trước Tam Bảo, giúp tịnh hóa nghiệp xấu. Một phần của lời thú tội cũng là “lời hứa sẽ không phạm phải” những sai lầm này trong tương lai.

4-Phương thuốc – Lời nguyện Bồ Tát: điều thứ ba là Phương thuốc. Phương thuốc chính là thệ nguyện Bồ Tát. Lời nguyện này tịnh hóa mọi nghiệp chướng và sa ngã.

"Một phương pháp thực hành TỨ LỰC SÁM HỐI chính là pháp tu Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasattva). Trong khi giữ tâm an trụ vào bốn năng lực: Y chỉ (Nương tựa), Phá hoại (Hối lỗi), Đối trị (Phương thuốc) và Đoạn tạ (Cam kết chừa bỏ), chúng ta sẽ trì tụng bài thần chú tịnh hóa đầy oai lực của Đức Kim Cương Tát Đỏa bằng tiếng Phạn:"

Om Benza Sato Sama Ya
Manu Pala Ya
Benza Sato Te No Pa Tistha
Dridho Me Bhava
Suto Kayo Me Bhava
Supo Kayo Me Bhava
Anu Rakto Me Bhava
Sarva Siddhi Mem Prayatsa
Sarva Karma Su Ca Me
Cittam Shri Yam Kuru Hung
Ha Ha Ha Ha Ho
Bhagavan Sarva Tathagata
Benza Ma Me Munza Benza Bhava
Maha Samaya Sato Ah

Varjasattva 100 syllable

https://www.youtube.com/watch?v=3kkJ07xoQdU&list=PLIdROkqAzq9Djr0n47OA7lKXyZDou4R_L&index=5

1-   Đoạn tạ (Cam kết chừa bỏ) – Các giới nguyện gắn kết với Ngũ Trí Như Lai

Điều thứ tư chính là Resolve (Đoạn tạ / Cam kết chừa bỏ). Năm lời hứa nguyện gắn kết với Ngũ Bộ Phật (Ngũ Trí Như Lai) chính là sự Thực hành Cam kết này. Thông qua tâm nguyện này, chúng ta không chỉ tiến bước một cách tích cực hướng tới các thành tựu tâm linh, mà còn tự nhắc nhở bản thân trong từng bước đi. Chúng ta cam kết đạt đến sự viên mãn trong sự hành trì của mình. Thuở ban đầu, có thể chúng ta chưa hoàn hảo, nhưng giống như một câu thần chú, chúng ta lặp đi lặp lại lời nguyện này hằng ngày, để những lời hứa ấy luôn khắc sâu trong tâm trí. Mặc dù lời nguyện có đề cập đến vị Phật của từng bộ (gia đình Phật), nhưng lời nguyện này được thực hiện trước toàn thể gia tộc Phật đó, và đặc biệt là trước các vị Phật Cha (Phật Phụ) và Phật Mẹ (Phật Mẫu):



Hình 4: Năm vị Phật Thiền Định. Năm nguyện ước được dâng lên cho Năm vị Phật đã thành tựu trong kiếp trước và trở thành Phật. Ví dụ, Phật Di Đà (thứ hai từ phải sang, màu đỏ) là vị Phật đã giác ngộ nhờ những lời nguyện trước đây của Ngài (48 lời nguyện). (Trong vũ trụ học Phật giáo, có vô số kiếp hay chu kỳ thời gian, rất phù hợp với những gì chúng ta biết về Vũ trụ. Trong mỗi kiếp đều có những vị Phật khác nhau hiện đang ở trong cõi Tịnh Độ của họ để giúp đỡ chúng ta: Phật Di Đà (màu đỏ) ở Tây Tịnh Độ, Phật Bất Không Thành Tựu (màu xanh lá cây) ở Bắc Tịnh Độ, Phật A Súc Bệ (màu xanh lam) ở Đông Tịnh Độ, Phật Bảo Sanh (màu vàng) ở Nam Tịnh Độ, Phật Tỳ Lô Giá Na  (màu trắng) ở Trung Tịnh Độ. Họ đã giác ngộ nhờ những lời nguyện cao cả của mình. Với NĂM LỜI NGUYỀN, chúng ta cũng nguyện trở nên giác ngộ thông qua hành vi của năm vị Phật.)

2-Năm vị Phật Mẫu

Khi chúng ta phát năm lời nguyện, chúng ta cũng đồng thời phát nguyện lên năm vị Phật Mẫu: Tara, năm vị Phật Mẫu có vị thế ngang hàng — thường được gọi là các vị Phật phối ngẫu, nhưng gọi chính xác hơn là các vị Phật Mẫu Trí tuệ Bát Nhã (Prajna):

1-Mamaki: Ma-ma-ki Phật Mẫu (hoặc Mã Mã Kê Phật Mẫu)
2-
Pandaravasini: Bạch Y Phật Mẫu (hoặc Bạch Y Quán Âm / Phàn-đà-ra-hoa-tây-ni). Sắc đỏ, phương Tây.
3-
Locana: Phật Nhãn Mẫu (hoặc Phật Nhãn Phật Mẫu / Lô-xá-na Phật Mẫu). Sắc xanh dương, phương Đông.
4-
Green Tara: Lục Độ Mẫu (hoặc Lục Độ Phật Mẫu). Sắc xanh lá cây, phương Bắc.
5-
White Tara: Bạch Độ Mẫu (hoặc Bạch Độ Phật Mẫu) hoặc Akashadhatvishvari: Hư Không Pháp Giới Tự Tại Mẫu (hoặc Pháp Giới Tự Tại Phật Mẫu). Sắc trắng, trung ương.

Trong Phật giáo Đại thừa, các vị Phật Mẫu đại diện cho Trí tuệ Viên mãn và là không thể thiếu. Trong Phật giáo, Phật Mẫu biểu trưng cho Trí tuệ Viên mãn, trong khi Phật Phụ biểu trưng cho Từ bi Viên mãn. Cả hai đều là những đối tác ngang hàng, đóng vai trò là các phương tiện tu tập trong Phật giáo Đại thừa. Điều thường bị hiểu lầm là khái niệm cho rằng ngay cả khi bạn tu tập theo một vị Phật duy nhất, ví dụ như Đức Phật A Di Đà, Ngài không bao giờ tách rời khỏi vị Phật Mẫu ngang hàng với Ngài là Pandara (Bạch Y Phật Mẫu). Hoặc, nếu bạn chọn Lục Độ Mẫu (Green Tara) làm pháp tu duy nhất, Ngài cũng không bao giờ tách rời khỏi vị Phật Phụ ngang hàng là Đức Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi). Đây là những hóa thân, thị hiện để cứu độ chúng ta tùy theo thiên hướng và căn cơ của mỗi người.


Hình 5: Năm vị Phật Mẫu Trí tuệ Bát Nhã (Dhyani Prajna) xếp từ trái sang phải:
Đức Locana sắc xanh dương ở phương Đông, Đức Mamaki sắc vàng ở phương Nam, Đức Bạch Độ Mẫu (White Tara) hoặc Akashadhatvishvari sắc trắng ở phương Trung tâm. Đức Pandaravasini sắc đỏ ở phương Tây, Đức Lục Độ Mẫu (Green Tara) sắc xanh lá ở phương Bắc. Trong một số mạn-đà-la phục vụ cho các pháp tu đặc biệt, vị trí phương Trung tâm và phương Đông sẽ được hoán đổi cho nhau, khi đó Đức Bạch Độ Mẫu sẽ ở phương Đông và Đức Locana sẽ ở phương Trung tâm.

3-Năm Nguyện Vọng và Thệ Nguyện

Năm Nguyện vọng được hướng đến từng vị trong năm Bộ Phật, những đấng đại diện cho tất cả chư Phật, Bồ Tát và Phật Mẫu thuộc mọi thời kỳ. Trong Phật giáo, năm Bộ Phật đại diện cho một Mạn-đà-la, hay còn gọi là bản đồ của Vũ trụ. Mỗi Bộ Phật đại diện cho một trong năm loại trí tuệ giúp chuyển hóa năm món độc (ngũ độc) gồm: si ám, sân hận, kiêu mạn, tham ái và đố kỵ. Bằng cách phát lời nguyện ước này, về cơ bản chúng ta đang khẳng định tâm nguyện muốn đoạn trừ hoàn toàn năm món độc và chứng đắc năm loại trí tuệ viên mãn.

  • Phương Trung tâm là gia đình Phật (Như Lai Bộ) của Đức Phật Tỳ-Lô-Giá-Na (Vairochana) và Phật Mẫu Hư Không Pháp Giới Tự Tại Mẫu (Akashadhatvishvari), những đấng tịnh hóa tâm Si ám bằng Pháp Giới Thể Tánh Trí.
  • Phương Đông là Bộ Kim Cương (Kim Cương Bộ) của Đức Phật A-Súc-Bệ (Akshobhya) và Phật Nhãn Phật Mẫu (Locana), những đấng chuyển hóa tâm Sân hận bằng Đại Viên Kính Trí.
  • Phương Nam là Bộ Bảo Sinh (Bảo Bộ) của Đức Phật Bảo Sanh (Ratnasambhava) và Phật Mẫu Mamaki, những đấng chuyển hóa tâm Kiêu mạn bằng Bình Đẳng Tánh Trí.
  • Phương Tây là Bộ Hoa Sen (Liên Hoa Bộ) của Đức Phật A Di Đà (Amitabha) và Bạch Y Phật Mẫu (Pandaravasini), những đấng hàng phục tâm Tham ái bằng Diệu Quan Sát Trí.
  • Cuối cùng, phương Bắc là Bộ Nghiệp Lực hay Bộ Hành Động (Yết-ma Bộ) vô cùng quan trọng của Đức Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi) và Đức Lục Độ Mẫu (Green Tara), những đấng dùng Thành Sở Tác Trí để chuyển hóa độc tố của tâm Đố kỵ, ghen tị.

Cùng với lời phát nguyện, chúng ta cũng khẳng định các pháp hành trì bổ trợ. Ví dụ, lời phát nguyện hướng lên Bộ Bảo Sinh chính là thực hành bốn hạnh bố thí (Tứ Chủng Bố Thí).



Hình 6: Một mạn-đà-la có thể được xem như một bản đồ để tâm thức khám phá. Đây là Mạn-đà-la của Ngũ Trí Như Lai: Phía trên màu đỏ (phương Tây) là Đức Phật A Di Đà, ở trung tâm màu trắng là Đức Phật Tỳ-Lô-Giá-Na, phía bên phải màu xanh lá (phương Bắc) là Đức Phật Bất Không Thành Tựu, phía dưới màu xanh dương (phương Đông) là Đức Phật A-Súc-Bệ, và phía bên trái màu vàng (phương Nam) là Đức Phật Bảo Sanh. Trong một số truyền thừa, Đức Tỳ-Lô-Giá-Na và Đức A-Súc-Bệ sẽ hoán đổi vị trí cho nhau (tùy theo quán tưởng trong giáo pháp của truyền thừa đó), nhưng nhìn chung, đây là phương hướng chuẩn của các Cõi Tịnh độ và các Bộ Phật.

4-Văn bản Trì tụng: 3 Pháp tu Làm tươi mới

Chúng ta bắt đầu trì tụng bằng cách hướng về trước bàn thờ có tôn tượng/hình ảnh của Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), hoặc quán tưởng các Ngài đang thị hiện ngay trước mặt mình. Biểu tượng đại diện cho Tam Bảo trên bàn thờ thường là:

  • Một cuốn Kinh văn (hoặc văn bản in) — đây thường là một bộ Kinh, hoặc Văn bản Nghi quỹ hành trì (Sadhana) mà bạn tập trung quán tưởng trong lúc tu tập. Vật phẩm này đại diện cho Giáo ngữ Giác ngộ (Khẩu Giác Ngộ) của Đức Phật, và cần phải được đặt ở vị trí "cao nhất" trên bàn thờ, thậm chí cao hơn cả tôn tượng. Đây là lý do vì sao trong các tu viện Tây Tạng, bạn luôn nhìn thấy các bộ Kinh sách được đặt ở vị trí cao hơn các pho tượng.
  • Nếu bạn có một Tháp Phật trên bàn thờ (một bảo tháp nhỏ hoặc hình ảnh bảo tháp), vật phẩm này đại diện cho Thân của Đức Phật. (Nếu bạn không có Tháp Phật, thì tôn tượng hoặc hình ảnh Đức Phật của bạn sẽ đại diện cho cả Tam Bảo).
  • Một tôn tượng hoặc hình ảnh Đức Phật — hoặc hình tướng Phật Giác Ngộ mà bạn hành trì theo truyền thừa của mình. Vật phẩm này đại diện cho Tăng đoàn Giác Ngộ và “Tâm” của Đức Phật. Tăng đoàn Giác Ngộ bao gồm tất cả chư Phật, Bồ Tát, các vị Daka và Dakini Giác Ngộ, Bổn tôn (Yidam), và các vị Hộ Pháp Giác Ngộ, bất kể pháp hành trì cá nhân hay Bổn tôn của bạn là ai. (Một pho tượng cũng có thể đại diện cho cả Tam Bảo bao gồm Phật, Pháp và Tăng nếu đó là vật phẩm duy nhất trên bàn thờ của bạn). 

\


Hình 7: Năm vị Phật Mẫu Trí tuệ Bát Nhã (Dhyani Prajna) xếp từ trái sang phải:
Đức Locana sắc xanh dương ở phương Đông, Đức Mamaki sắc vàng ở phương Nam, Đức Bạch Độ Mẫu (White Tara) hoặc Akashadhatvishvari sắc trắng ở phương Trung tâm. Đức Pandaravasini sắc đỏ ở phương Tây, Đức Lục Độ Mẫu (Green Tara) sắc xanh lá ở phương Bắc. Trong một số mạn-đà-la phục vụ cho các pháp tu đặc biệt, vị trí phương Trung tâm và phương Đông sẽ được hoán đổi cho nhau, khi đó Đức Bạch Độ Mẫu sẽ ở phương Đông và Đức Locana sẽ ở phương Trung tâm.

Nếu bạn không có bất kỳ vật phẩm nào trong số này, hãy quán tưởng các Ngài hiện diện ngay trước mặt trong lúc hành thiền để chứng minh cho lời phát nguyện của bạn.

Chúng ta bắt đầu bằng pháp Quy y, sau đó là phát nguyện Bồ-tát — bao gồm cả Quy y và Sám hối tội chướng. Đây là một bước quan trọng để tịnh hóa nghiệp tiêu cực. Tiếp theo, chúng ta cùng trì tụng năm Lời hứa Gắn kết (Năm Lời Nguyện Trói Buộc) hướng lên năm Bộ Phật. Cuối cùng, chúng ta kết thúc bằng Giáo lý Bốn tâm vô lượng (Tứ Vô Lượng Tâm) vô cùng quan trọng và phần Hồi hướng Tâm Bồ-đề. Tại phần này, bạn cũng có thể phát thêm những lời cầu nguyện và tâm nguyện cao đẹp của riêng mình

Trì tụng

Con phát Lời nguyện Bồ-tát và Quy y ba lần để Làm tươi mới Tâm nguyện của mình. (Tùy chọn: thêm tên hoặc Pháp danh của bạn vào đây: “Con, [tên/Pháp danh của bạn], phát Lời nguyện…” và tiếp tục. Bạn chỉ cần xướng tên của mình ở đoạn bắt đầu).

Con xin quy y Tam Bảo,
sám hối các lỗi lầm,
tùy hỷ công đức chúng sinh,
và hướng tâm về sự giác ngộ của chư Phật.
Con xin quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn Tối thượng
Cho đến khi con đạt được giác ngộ,
Và để thành tựu lợi lạc cho chính mình cùng chúng sinh
Con xin phát khởi Tâm Bồ-đề.
Sau khi đã phát khởi Tâm Bồ-đề tối thượng,
Con xin cung thỉnh tất cả chúng sinh làm thượng khách
Để cùng bước vào những thực
hành diệu hạnh giác ngộ tối thắng và hỷ lạc.
Nguyện cho con chứng đắc quả vị Phật để lợi lạc quần sinh.

Con xin quy y Tam Bảo,
Sám hối mọi tội chướng đã qua,
Tùy hỷ công đức của hết thảy chúng sinh,
Và hướng tâm đến
quả vị giác ngộ của chư Phật.

Con xin quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn Tối thượng
Cho đến khi con đạt được giác ngộ.
Để thành tựu lợi lạc cho chính mình cùng chúng sinh,
Con xin phát khởi Tâm Bồ-đề.

Sau khi đã phát khởi Tâm Bồ-đề vô thượng,
Con xin cung thỉnh tất cả chúng sinh làm thượng khách
Để cùng bước vào những diệu hạnh giác ngộ tối thắng và hỷ lạc.
Nguyện cho con chứng đắc quả vị Phật để lợi lạc quần sinh.

Giờ đây, con xin trì tụng năm Lời nguyện Gắn kết hướng lên năm gia đình Phật ba lần để tăng trưởng năng lượng cho pháp hành trì của mình.

Từ ngày hôm nay trở đi, con xin giữ các lời nguyện phát xuất từ gia đình Phật Bộ.  Đối với Tam Bảo tối thượng là Phật, Pháp và Tăng,

Con nguyện sẽ thọ trì một cách thanh tịnh chày kim cương, linh và thủ ấn của gia đình Kim Cang vĩ đại, tối thắng, và con nguyện sẽ thọ trì một cách thanh tịnh các cam kết đối với Đạo .

Con nguyện sẽ luôn thực hành bốn hạnh bố thí[1], mỗi ngày sáu thời; đây là những cam kết hỷ lạc hướng lên gia đình Bảo Sinh vĩ đại, tối thắng.

Đối với gia đình Hoa Sen thanh tịnh, vĩ đại được phát khởi từ sự giác ngộ vô thượng, con nguyện sẽ thọ trì từng giáo pháp hiển lộ, bí mật, và của Ba Thừa (Tam Thừa).

Đối với gia đình Hành Động (Yết-ma Bộ) vĩ đại, tối thắng, con nguyện sẽ giữ gìn thanh tịnh từng lời nguyện mà con được ban trao, và thực hành cúng dường nhiều nhất trong khả năng của mình.

Con xin phát khởi Tâm Bồ-đề thánh thiện, vô thượng; và vì lợi lạc của tất cả chúng sinh, con nguyện sẽ giữ gìn trọn vẹn mọi tâm nguyện của mình không có ngoại lệ.

Con nguyện sẽ giải thoát những chúng sinh chưa được giải thoát, cứu độ những chúng sinh chưa được cứu độ, ban hơi thở an bình cho những chúng sinh đang kiệt cùng khổ đau, và dẫn dắt muôn loài đồng đến bến bờ Niết-bàn.

Nguyện cho chúng sinh hữu tình đầy đủ phước lạc và nhân của phước lạc. (Tâm Từ)
Nguyện cho chúng sinh hữu tình thoát ly khổ đau và nhân của khổ đau. (Tâm Bi)
Nguyện cho chúng sinh hữu tình không rời hỷ lạc, vượt mọi ưu sầu. (Tâm Hỷ)
Nguyện cho chúng sinh hữu tình an trú xả tâm, lìa xa ghét thương bám chấp. (Tâm Xả)

Nguyện nhờ năng lượng của những lời tán thán và thỉnh nguyện này hướng lên các Ngài,
Con xin hồi hướng công đức của các lời nguyện vọng
và thệ nguyện này cho đại nguyện Giác ngộ vì lợi lạc của hết thảy chúng sinh hữu tình. Xin các Ngài hãy tiêu trừ mọi bệnh tật, nghèo đói, tai ương, xung đột và tranh chấp khắp muôn phương nơi con và chúng sinh đang sinh sống, đồng thời làm cho Chánh pháp cùng mọi điều cát tường được hưng thịnh.

Nguyện cho hết thảy chúng sinh đều được lợi lạc.


 

References

Common Bonding Practices for the Five Buddha Families:

https://studybuddhism.com/en/advanced-studies/prayers-rituals/vows/common-bonding-practices-for-the-buddha-families

 

Leave a Comment

https://buddhaweekly.com/bodhisattva-vow-and-the-bonding-aspiration-of-the-5-buddha-families-reversing-dharma-downfalls-purifying-karma-and-restoring-commitments/

 


[1] Tứ Chủng Bố Thí:1/tái thí, 2/pháp thí,3/vô úy thí,4/ Từ thí: Ban rải tình yêu thương, lòng từ bi, sự cảm thông và năng lượng tích cực đến với vạn vật.