Nguyên tác: Valentines Day For Buddhists
Tác giả: JUSTIN WHITAKER
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Hoặc: “Tìm kiếm tình yêu (lời khuyên) ở tất cả
những nơi sai lầm”*
Tôi từng có dịp hướng dẫn một nghiên cứu về chủ đề “Phật giáo và
tình yêu.” Câu hỏi mà sinh viên của tôi trăn trở là: “Đâu là mối quan hệ tình
cảm lãng mạn lý tưởng theo quan điểm Phật giáo?”
Khi đó, chúng tôi có trong tay:
1-những
cuốn sách do người phương Tây đương đại viết cho người phương Tây về thực hành
Phật giáo;
2-rất nhiều tư liệu lịch sử và
các công trình học thuật; và
3-cả những Phật tử thực hành
đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau để trò chuyện trực tiếp về chủ đề này.
Các cuốn sách đương đại đưa ra khá nhiều lời khuyên tương đối
hay, dù đôi khi sáo mòn: hãy yêu bản thân trước khi có thể yêu người khác, nuôi
dưỡng lòng từ bi, chấp nhận sự vô thường, nhận ra nhu cầu của chúng ta đối với
cộng đồng và sự đồng hành, v.v., v.v.
Sau đó, chúng tôi chuyển sang các công trình học thuật và kinh
điển sớm. Và ở đây thì nảy sinh một vấn đề. Mối quan hệ tình cảm lãng mạn lý
tưởng trong phần lớn những văn bản đó là: đừng có một mối quan hệ nào cả.
“Đời sống tại gia thì bụi bặm và chật chội,” Đức Phật đã cảnh
báo, “hãy lấy gốc cây làm nhà — sống một mình, hoặc cùng với những người bạn
thiện tri thức.”
Và tình trạng đó kéo dài trong gần như toàn bộ 2.500 năm lịch sử
Phật giáo. Những nhân vật lớn, các bậc thánh, các vị Bồ-tát, v.v. thì hơn 90%
là các tu sĩ xuất gia không lập gia đình, và cũng hơn 90% là nam giới.
Người ta có thể nhìn vào một trong những jataka — các câu chuyện
tiền thân của Đức Phật, thường được trình bày như những truyện ngụ ngôn đạo đức
— chẳng hạn câu chuyện về Hoàng tử Vessantara, khi vị Bồ-tát (Đức Phật trong
một đời quá khứ) đã hoàn thiện hạnh bố thí bằng cách thực sự đem cho đi các con
của mình, rồi đến cả người vợ. Trong cái kết “có hậu”, vị Bồ-tát được đoàn tụ
lại với vợ và các con.
Và một phần của câu chuyện là việc từ bỏ vợ con là vô cùng khó
khăn; nhưng chính điều đó lại càng làm nổi bật sự tận hiến còn lớn lao hơn của
vị Bồ-tát đối với mục tiêu giác ngộ.
Câu chuyện về đời sống (cuối cùng) của Đức Phật cũng mang cấu
trúc tương tự: ở tuổi hai mươi chín, ngay sau khi vừa có con với người vợ của
mình, Ngài rời bỏ cả hai để đi tìm giác ngộ. Kết cục — như thường thấy — là
Ngài chứng đạt giác ngộ, truyền dạy con đường tu tập cho người con trai và, về
sau, dù ban đầu còn do dự, cũng truyền dạy cho người vợ cũ của mình.
Kinh Sigālovāda (kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt) thường được trích
dẫn và đôi khi được gọi là “bài kinh về đạo đức của người tại gia”, có đoạn nói
như sau về mối quan hệ giữa vợ và chồng:
“Này người tại gia trẻ tuổi, người chồng nên đối đãi với người
vợ — được xem như hướng Tây — theo năm cách như sau:”
“(i)
bằng cách đối đãi với vợ một cách lễ độ;
(ii) bằng cách không khinh
thường vợ;
(iii) bằng cách chung thủy với
vợ;
(iv) bằng cách giao quyền quản
lý cho vợ;
(v) bằng cách cung cấp cho vợ
các vật trang sức.
Người vợ, khi được chồng đối đãi như hướng Tây theo những cách
ấy, sẽ thể hiện lòng quan tâm đối với chồng theo năm cách:
(i)
nàng chu toàn tốt các bổn phận của mình;
(ii) hiếu khách đối với thân
quyến và người hầu;
(iii) giữ lòng chung thủy;
(iv) gìn giữ, bảo vệ những gì
chồng mang về;
(v) khéo léo và siêng năng
trong việc thực hiện các bổn phận.”
“Theo năm cách ấy, người vợ bày tỏ sự quan tâm của mình đối với
người chồng, người đã đối đãi với nàng như hướng Tây. Như vậy, hướng Tây được
người chồng che chở, làm cho an ổn và vững chắc.”
Thật là lãng mạn. Hãy lễ độ. Đừng khinh thường. Hãy chung thủy.
Có lẽ những người theo chủ nghĩa nữ quyền có thể tìm thấy chút điểm tích cực
trong việc “trao quyền quản lý cho vợ”; và vâng, cuối cùng thì ở điều thứ năm,
cũng xuất hiện một thứ gì đó na ná với điều mà ngày nay chúng ta tìm kiếm trong
sự lãng mạn: đồ trang sức, lấp lánh.
Về phần người vợ, sự lãng mạn được giản lược xuống còn việc bảo
vệ những món trang sức ấy, giữ lòng chung thủy và tỏ ra hiếu khách, cùng với
không chỉ một mà đến hai điều liên quan đến “bổn phận của nàng.” Có lẽ một
trong những điều này đã được nói ra kèm theo một cái nháy mắt và một cái gật
đầu chăng?
(Ghi
chú: từ góc độ học thuật, khả năng này không phải là không có cơ sở, như
Richard Gombrich đã lập luận trong tác phẩm Đức Phật Nghĩ Gì (What the Buddha
Thought), rằng trong ít nhất một bài kinh, văn bản có ám chỉ đến một điều gì đó
hiện diện ngay trước mặt Đức Phật, điều mà Ngài đã ra hiệu bằng cử chỉ; tuy nhiên,
chi tiết này đã bị thất lạc trong quá trình biên tập lại kinh văn bởi những
người chỉ quan tâm đến việc ghi chép cho đúng lời.)
Ngay cả trong một trong những câu chuyện tình yêu nổi tiếng nhất
của Phật giáo thời kỳ đầu — cuộc hôn nhân giữa Vua Pasenadi và Hoàng hậu
Mallikā — chúng ta cũng thấy không ít điều khiến người đọc phải chau mày. Trước
hết, Mallikā là “vị hoàng hậu được sủng ái” của nhà vua, điều này đồng nghĩa
với việc còn có nhiều vị hoàng hậu khác.
Vào thời điểm bà qua đời, nhà vua đang ngồi cùng với Đức Phật,
và khi nghe tin dữ, nhà vua “ngồi đó trong đau khổ, lòng quặn thắt, vai rũ
xuống…”. Phản ứng của Đức Phật là giải thích rằng mọi nỗi buồn mà nhà vua đang
cảm nhận rốt cuộc đều là vô ích, và sau đó sử dụng “câu chuyện của bà để quán
chiếu về cái chết và sự hoại diệt.”
Bạn có thể tìm thấy một sự trình bày xuất sắc về Mallikā cũng
như về đời sống của các Phật tử khác trong tác phẩm Những Người Phật tử: Thông
Hiểu Phật giáo Qua Đời Sống của Những Hành Giả (Buddhists: Understanding
Buddhism Through the Lives of Practitioners (rất đáng đọc!)).
Dù thế nào đi nữa, từ các kinh văn, chúng ta cũng không thu nhận
được nhiều điều có thể giúp ích cho những người phương Tây đang khắc khoải vì
tình yêu. Các văn bản ra đời muộn hơn — với các ḍākinī và những phối ngẫu Mật
tông — cũng không khá hơn là bao: phụ nữ xuất hiện một cách gần như huyền ảo,
hỗ trợ người nam trên hành trình tâm linh của anh ta, rồi lại biến mất.
Và nếu bạn quan tâm đến những lời lẽ còn mạnh mẽ hơn nữa trong
việc lên án sự hấp dẫn tính dục, hãy đọc tác phẩm Bodhicaryāvatāra (Con đường
sống của Bồ-tát) của Śāntideva — một văn bản do một vị tăng viết cho các vị
tăng.***
Cuối cùng, chúng tôi thử trò chuyện với một vài Phật tử đang
thực hành ngoài đời thực. Ở đây, chúng tôi lại vấp phải những chướng ngại mới.
Trước hết, đây không phải là những điều người ta thường nói với người lạ, nên
cần phải bỏ ra một chút công sức để gợi chuyện. Nhưng rồi những câu chuyện bắt
đầu xuất hiện, chẳng hạn như:
“Tôi có yêu chồng mình không ư?” — khi được hỏi, một phụ nữ lớn
tuổi trả lời — “Tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện đó theo cách ấy. Ý tôi là, ông
ấy làm việc cũng khá chăm chỉ, và không uống rượu quá nhiều. Vậy thì… vâng, tôi
đoán là tôi yêu ông ấy.”
Dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm của tôi, trong phần lớn
lịch sử châu Á, hôn nhân đã và vẫn là vấn đề của sự cần thiết mang tính thực
dụng, chứ không phải là sự thỏa mãn cá nhân theo cách mà chúng ta hiểu trong
lịch sử phương Tây rất gần đây.
Tin không vui là rất ít nội dung trong Phật giáo được nhắm trực
tiếp đến việc hình thành và duy trì các mối quan hệ tình cảm lãng mạn tốt đẹp,
vì vậy chúng ta buộc phải chắp vá những nguyên lý Phật giáo vốn rất tuyệt vời —
như từ bi, biết ơn, chấp nhận, buông bỏ — rồi đóng gói lại để phục vụ cho quan
niệm lãng mạn của phương Tây. Một số học giả và bình luận viên chỉ ra rằng điều
này hoặc là làm rẻ đi Phật giáo, hoặc đơn giản là chiếm dụng các thuật ngữ thời
thượng của Phật giáo cho những mục đích không thuộc về Phật giáo.
Tin tốt là điều này có thể buộc chúng ta phải suy nghĩ lại cách
thức mà mình tìm kiếm “người ấy.” Và chúng ta vẫn có thể tìm thấy và tận hưởng
tình yêu trong khuôn khổ cái nhìn toàn diện của Phật giáo, trong đó bao gồm
việc quán chiếu về bản chất của cái chết và sự hoại diệt nơi người bạn đời, và đôi
khi — xin lưu ý là không phải lúc nào cũng vậy — quán tưởng người ấy như một
đống thịt đang phân rã, với ruột gan, máu huyết và xương cốt.
Now go have a Happy Valentine’s Day.
Cập nhật năm 2019: Như đã lưu ý bên dưới, đây là một bài viết từ
năm 2016; và mặc dù tôi không thể bổ sung thêm nhiều điều từ góc độ học thuật
hay lịch sử (xem phần bình luận của bài gốc để có thêm những bổ sung và ý tưởng
hay), tôi vẫn có thể chia sẻ một mẩu giai thoại mang tính khích lệ.
Điều này nảy sinh từ một sự quán chiếu của tôi vào mùa hè năm
ngoái,**trong khi đi du lịch tại Trung Quốc (lần thứ tư tôi đến đó), và suy
ngẫm về cách mà việc sống và du hành trong một nền văn hóa xa lạ có thể mở rộng
cảm nhận của chúng ta về “cái tôi”, bằng cách mang lại những góc nhìn từ bên ngoài,
hoặc những cách nhìn khác thay thế cho cách nhìn quen thuộc của chính mình.
Tức là, với tư cách một người Mỹ (lại còn là người da trắng và
nam giới), tôi được nuôi dưỡng trong một môi trường khiến tôi mặc nhiên xem lối
sống của mình/của chúng tôi là chuẩn mực, còn mọi lối sống khác thì ở những mức
độ khác nhau đều bị coi là “khác biệt”. Trong chuyến đi Trung Quốc năm nay, tôi
đã đối diện với vô số cách mà Trung Quốc vận hành xã hội theo những phương thức
khiến nước Mỹ trông mới là bên “khác biệt.”
Khi suy ngẫm về điều này, tôi dần có được một kiểu cái nhìn thứ
ba — dù vẫn còn sâu sắc bị định hình bởi nền giáo dục Mỹ của mình, và bởi chính
những trải nghiệm tại Trung Quốc — trong đó tôi thấy sự tương tác năng động
giữa các xã hội, vừa ảnh hưởng lẫn nhau vừa chịu ảnh hưởng từ nhau, không bên
nào là “đặc quyền,” cũng không bên nào là “khác biệt.”
Và, dù nghe có vẻ lạ, tôi đồng thời suy ngẫm về việc tình yêu
cũng có thể làm được điều tương tự: khi chúng ta rời khỏi trạng thái “độc
thân”, và thậm chí vượt qua cả giai đoạn đầu của sự say đắm với người bạn đời
(tựa như khi ta chỉ là một du khách thoáng qua ở một vùng đất mới). Ở bình diện
trải nghiệm, tôi rời khỏi việc chỉ còn là “tôi”, để bước vào một trải nghiệm
năng động rộng lớn hơn.
Vì vậy, có lẽ Phật giáo không cung cấp một lời khuyên thật phong
phú cho những người ở thế kỷ 21 đang tìm kiếm tình yêu; nhưng biết đâu chính
tình yêu lại có thể giúp chúng ta nhận ra một số chân lý của Phật giáo — trong
trường hợp này, đó là chân lý rằng bất kỳ dạng “cái tôi” nào mà ta tưởng mình
có, rốt cuộc cũng chỉ là một ảo tưởng.
*2016 phiên bản ban đầu của bài viết này
** Nếu bạn biết các nghiên cứu hay về quan niệm hôn nhân ở châu
Á và/hoặc cụ thể là trong Phật giáo châu Á, xin hãy cho tôi biết. Trải nghiệm
của tôi phần lớn dựa trên bằng chứng giai thoại từ việc sống và du lịch tại sáu
quốc gia châu Á, và phỏng vấn những người từ khoảng sáu quốc gia khác.
Khi tìm kiếm thêm, tôi đã tìm đọc và đọc bài “Cultural
perspectives on romantic love” của K.K. và K.L. Dion (Personal Relationships, 3
(1996)); “A Cross-Cultural Perspective on Romantic Love” của W.R. Jankowiak và
E.F. Fisher (Ethnology, Vol. 31, No. 2 (Apr 199)); cùng một vài công trình
khác. Nhưng mặc dù những công trình này ủng hộ sự khác biệt rõ rệt giữa quan
niệm “tình yêu theo văn hóa phương Tây (chủ nghĩa cá nhân)” và quan niệm “tình
yêu theo văn hóa châu Á (chủ nghĩa tập thể)”, chúng khó có thể coi là mang tính
quyết định.
*** Amod Lele, người đã nghiên cứu sâu về tác phẩm của
Śāntideva, đã gợi ý trong bài viết gốc của tôi rằng tác phẩm ấy không nhất
thiết chỉ dành cho tăng sĩ, lưu ý rằng một số bản dịch có thể khiến điều này
kém rõ ràng hơn./.
https://www.patheos.com/blogs/americanbuddhist/2019/02/valentines-day-for-buddhists-a-warning.html




