Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
“Có mặt trái nào khi trở thành
con mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma không?”
Chỉ riêng việc đặt ra câu hỏi này
có thể đã nghe thật lố bịch, hoặc thể hiện sự vô ơn thấp kém đến mức có lẽ bạn
muốn gạt phắt tôi đi ngay lập tức như một con mèo được nuông chiều quá mức — kiểu
mèo mặt tẹt, lông dài với vẻ lạnh lùng kiêu kỳ, luôn tạo cảm giác rằng chẳng điều
gì trên đời này có thể đủ tốt đối với chúng.
Nhưng khoan đã, độc giả thân mến.
Chẳng phải mọi câu chuyện đều có hai mặt sao?
Đúng là trong lịch sử, hẳn có rất
ít con mèo được hưởng những điều kiện tuyệt vời vô song như tôi. Không chỉ mọi
nhu cầu vật chất của tôi đều được đáp ứng và mọi ý thích đều được chiều chuộng
— đôi khi còn trước cả khi chính tôi nhận ra chúng — mà thế giới tinh thần của
tôi cũng trở nên sinh động nhờ vô vàn vị khách cùng các hoạt động phong phú
xoay quanh mình. Về mặt tình cảm, thật khó tưởng tượng có thể được yêu thương,
tôn sùng và cưng chiều nhiều hơn bởi những con người mà ngược lại, tôi cũng
dành cho họ sự gắn bó chân thành nhất từ tận đáy lòng.
Và về mặt tâm linh, như bạn đã
biết, chỉ cần Đức Thánh Thiện bước vào một căn phòng thôi, mọi
hình tướng và mọi ý niệm thông thường dường như đều tan biến, chỉ còn lại cảm
giác bình yên sâu thẳm kéo dài mãi. Với việc tôi dành phần lớn
mỗi ngày ở bên cạnh ngài, ngủ mỗi đêm dưới chân giường của ngài, và trải qua biết
bao giờ phút trong lòng ngài, hẳn tôi phải là một trong những con mèo hạnh phúc
và mãn nguyện nhất trên hành tinh này.
Vậy thì, xin hỏi thật, mặt trái
của tất cả những điều đó nằm ở đâu?
Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thường
giải thích, sự phát triển nội tâm là điều mà mỗi người chúng ta phải tự chịu
trách nhiệm. Người khác không thể khiến ta trở nên chánh niệm hơn để có thể cảm
nhận trọn vẹn tấm thảm phong phú của những trải nghiệm đời thường. Tương tự,
người khác cũng không thể ép buộc ta trở nên kiên nhẫn hay tử tế hơn, cho dù sự
kiên nhẫn và lòng tử tế có thể góp phần lớn lao vào hạnh phúc của ta đến đâu đi
nữa. Còn việc cải thiện khả năng tập trung khi thiền định thì hiển nhiên là điều
mà chính chúng ta phải tự mình thực hiện.
Và thế là chúng ta đi đến cốt
lõi của vấn đề, nguyên nhân cho nỗi bực bội vừa đáng xấu hổ vừa không thể chối
cãi của tôi.
Ngày này qua ngày khác, tôi ngồi
trong những buổi tiếp kiến cùng Đức Ngài, lắng nghe những trải nghiệm thiền định
của các hành giả cao cấp, trong khi biết rõ rằng bản thân mình không thể thiền
nổi quá hai phút mà không bị phân tâm. Chưa từng có tuần nào trôi qua mà tôi
không nghe kể về những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của ý thức do các yogi thực hiện
khi đang ngủ hoặc thậm chí — tạm thời thôi — đã chết về mặt lâm sàng. Thế nhưng
mỗi đêm, khi chính tôi nhắm mắt lại, tôi nhanh chóng rơi vào trạng thái mê ngủ
nặng nề và vô thức hoàn toàn.
Nếu tôi sống với một gia đình
dành nhiều thời gian xem truyền hình như cách Đức Đạt Lai Lạt Ma dành cho việc
thiền định, và tâm trí của họ cũng xao động chẳng kém gì tâm trí tôi, thì đôi
khi tôi nghĩ rằng có lẽ mình sẽ không phải đau đớn nhận thức rõ những giới hạn
của bản thân đến thế. Nếu tôi được bao quanh bởi những con người tin rằng chính
người khác hay sự vật trong đời khiến họ hạnh phúc hoặc bất hạnh — thay vì thái
độ của họ đối với những con người hay sự vật ấy — thì có lẽ tôi đã được xem là
con mèo khôn ngoan nhất trần đời.
Nhưng tôi không sống như vậy.
Vì thế, tôi không thể trở thành
con mèo ấy được.
Thay vào đó, có những lúc tôi cảm
thấy mình kém cỏi đến mức dường như việc cố gắng trở thành một “bodhicatva”
chân chính cũng thật vô nghĩa. Kỹ năng thiền định nghèo nàn của tôi. Những dòng
suy nghĩ tiêu cực cứ lặp đi lặp lại theo thói quen. Sống ở Jokhang chẳng khác
nào một kẻ tí hon đứng giữa những người khổng lồ! Chưa kể tôi
còn đủ mọi thiếu sót cá nhân khác — như mặt tối của sự thèm ăn tham lam mà ngày
nào tôi cũng phải đấu tranh chống lại — và cả những khiếm khuyết về thể chất, lộ
rõ ngay khi tôi bắt đầu bước đi vì đôi chân sau run rẩy, khập khiễng của mình.
Và còn nỗi đau nhói buốt ấy nữa
— như một hạt cát sắc cạnh cọ xát ngay nơi sâu thẳm lòng tự trọng của tôi — rằng
dòng dõi hoàn hảo của tôi, ôi than ôi thay, lại không có giấy tờ chứng nhận, và
có lẽ sẽ mãi mãi như thế cho đến tận cuối thời gian. Thật khó để tiếp tục tin rằng
mình khác biệt, đặc biệt, hay thậm chí — dám nói ra không nhỉ — mang dòng máu quý
tộc, khi chẳng có nổi một tờ giấy nào để chứng minh điều đó.
Đó chính là những suy nghĩ đang
ngập tràn trong đầu tôi khi một buổi sáng nọ, tôi lững thững đi xuống đường đến
Café Franc để tìm một bữa ăn an ủi. Len qua những chiếc bàn đông đúc, tôi dừng
lại để chạm mũi chào hỏi Marcel, kẻ từ sau khi Kyi Kyi xuất hiện đã trở nên
thân thiện với tôi hơn trước. Tôi rộng lượng ban cho Franc một tiếng gừ khe khẽ
đầy trìu mến khi ông cúi xuống vuốt ve mình. Rồi nhanh nhẹn tránh sang một bên
để không vướng chân anh bồi bàn trưởng Kusali — người đang giữ thăng bằng ba
đĩa thức ăn trên mỗi cánh tay — tôi nhảy lên vị trí quen thuộc giữa những cuốn
tạp chí thời trang bóng loáng và phóng tầm mắt nhìn xuống “nhà hát riêng” của
mình.
Ở đó là hỗn hợp quen thuộc của
những khách vãng lai — người đi bộ đường dài, những kẻ Tìm Kiếm, các “Greenie”
và những người nghỉ hưu mang giày thể thao.
Nhưng sự chú ý của tôi lập tức bị thu hút bởi người đàn
ông ngoài 30 tuổi đang ngồi một mình ở chiếc bàn ngay bên cạnh, đang đọc cuốn “Sinh Học Của Niềm Tin” (The Biology of Belief) của Bruce Lipton. Khuôn mặt tươi tắn và
điển trai, với đôi mắt màu hạt dẻ, vầng trán cao và mái tóc xoăn đen, anh ta đọc
với một tốc độ cho thấy một trí tuệ dữ dội ẩn sau cặp kính đọc sách hơi mang vẻ
mọt sách.
Sam Goldberg là một trong những khách quen lâu năm hơn của
quán cà phê. Đến McLeod Ganj một tháng trước đó, ngay khi phát hiện ra Café
Franc, anh đã nhanh chóng trở thành khách ghé thăm mỗi ngày. Franc cũng không mất
nhiều thời gian để tự giới thiệu mình.
Hai người họ đã trao đổi vài câu chuyện xã giao thông thường,
qua đó tôi biết được rằng Sam đang nghỉ ngơi sau khi bị sa thải khỏi công việc ở
Los Angeles. Anh ta đang ở McLeod Ganj trong một khoảng thời gian chưa xác định.
Anh đọc trung bình bốn cuốn sách mỗi tuần. Anh là một người viết blog “thâm
niên” về các chủ đề thân–tâm–trí (mind/body/spirit). Và anh có hơn 20.000 người
theo dõi trực tuyến.
Tuy nhiên, chính trong một cuộc trò chuyện vào tuần trước
mà một khả năng mới đầy thú vị đã xuất hiện. Trong khoảng lặng giữa đợt khách
giữa buổi sáng và giờ ăn trưa, Franc đã kéo ghế ngồi đối diện Sam — một vinh dự
mà ông rất hiếm khi dành cho khách hàng.
-“Hôm
nay anh đang đọc gì vậy?” ông hỏi, vừa đẩy một ly latte miễn phí về phía Sam.
-“Ồ,
cảm ơn ông! Thật tốt bụng quá.” Sam liếc nhanh vào ly cà phê — và chỉ rất
thoáng qua nhìn Franc — trước khi quay lại nhìn vào cuốn sách. “Đây là bản chú
giải của Đức
Đạt Lai Lạt Ma về Bát Nhã Tâm Kinh,” anh nói. “Một trong những
bản kinh điển và cũng là cuốn tôi rất thích. Tôi đã đọc nó cả chục lần rồi.
Cùng với Trái Tim của Hiểu Biết của Thích Nhất Hạnh, tôi thấy đây là những
tác phẩm hữu ích nhất giúp mở khóa ý nghĩa của bản kinh này.”
-“Duyên
khởi là một chủ đề khó,” Franc nhận xét.
-“Khó
nhất,” Sam đồng ý. “Nhưng để hiểu rộng hơn thì cũng khó đi xa hơn Hai mươi tám bài kệ Đại Thủ Ấn của Tilopa gửi
Naropa hay Con đường chính yếu của các bậc chiến thắng của Đạt
Lai Lạt Ma đời thứ nhất Panchen Lama. Những câu kệ của Tilopa rất giàu chất trữ
tình, và thơ ca đôi khi có thể truyền tải một ý nghĩa vượt xa ngôn từ. Còn giáo
pháp của Panchen Lama thì mộc mạc hơn nhiều. Nhưng sức mạnh và sự rõ ràng của
chúng lại chính là điều bạn cần khi thiền định về một đối tượng vi tế như vậy.”
Franc im lặng nghiền ngẫm điều đó một lúc rồi nói, “Điều
đó làm tôi ngạc nhiên đấy, Sam. Có vẻ như bất cứ chủ đề nào tôi hỏi anh, anh
cũng có thể liệt kê ra nửa tá cuốn sách liên quan, kèm theo cả một bài phê bình
đầy đủ.”
-“Ồ,
k-k-k-k-không đâu.” Những vệt hồng thoáng hiện trên chiếc cổ nhợt nhạt của Sam.
-“Tôi
đoán là anh phải cập nhật liên tục mọi thứ cho blog của mình chứ?”
-“Thật
ra, blog là kết quả”—Sam liếc nhanh về phía Franc nhưng không thật sự chạm ánh
mắt—“chứ không phải là nguyên nhân.”
-“Anh
vốn luôn là một con mọt sách à?”
-“Điều
đó có ích nếu ông làm
trong ngành. N-ng-ngành
mà tôi từng làm, ý tôi là vậy.”
-“Và
đó là ngành gì vậy?” Franc hỏi một cách tự nhiên.
-“Bán
sách.”
-“Ý
anh là…?”
-“Tôi
từng làm việc cho một chuỗi nhà sách.”
-“Điều
đó… thú vị đấy.” Tôi nhận ra ánh lóe trong mắt Franc. Đó cũng chính là ánh mắt
tôi từng thấy khi ông phát hiện ra tôi là mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
-“Tôi
phụ trách một khu vực sách về tâm thức–thân thể–tinh thần,” (mind/body/spirit) Sam tiếp tục. “Nên phải luôn cập nhật tất cả
các đầu sách mới.”
-“Hãy
nói cho tôi biết,” Franc nói, nghiêng người về phía trước, chống khuỷu tay lên
bàn. “Việc chuyển sang sách điện tử và máy đọc sách có nghĩa là chấm dứt các hiệu
sách không?”
Sam khẽ ngồi thẳng người lại trên ghế trước khi cố gắng
nhìn thẳng vào mắt Franc trong trọn vẹn một giây.
-“Không
ai có quả cầu pha lê để nhìn tương lai, nhưng tôi nghĩ thật ra vẫn có một số cửa
hàng sẽ phát triển tốt. Những cửa hàng chuyên bán một loại sách nhất định. Có lẽ
là tổ chức thêm các sự kiện nữa.”
-“Như
các quán cà phê sách à?”
-“Chính
xác.”
Franc nhìn Sam thật kỹ một lúc lâu trước khi nói: “Mấy
tháng vừa rồi, tôi đã
nghĩ đến việc đa dạng hóa kinh doanh của mình. Có khu vực đó trong quán, tách
riêng so với các bàn khác, nhưng lại ít được sử dụng,” ông vừa nói vừa chỉ về phần quán hơi cao hơn một
chút, ánh sáng dịu hơn, nơi các bàn thường bỏ trống. “Hàng ngày tôi có nhiều
khách du lịch ghé qua, có thể họ muốn mua một cuốn sách, mà xung quanh đây chẳng
có chỗ nào bán cả. Vấn đề là tôi chẳng biết gì về việc quản lý hiệu sách—và tôi
cũng không quen ai biết cả, cho đến bây giờ.”
Sam gật đầu.
-“Vậy,
ông nghĩ sao về ý tưởng này?”
-“Đây
chính xác là kiểu nơi mà tôi có thể hình dung một hiệu sách sẽ phát triển tốt.
Như anh nói, chẳng có đối thủ cạnh tranh nào cả. Không
tổn hại gì khi mà sóng điện thoại di động chập chờn ở những vùng này, làm cho
việc tải sách điện tử trở nên khó khăn."
Franc chen vào: “Rất nhiều khách hàng của chúng ta vốn đã
rất quan tâm đến các sách về tâm thức/thân thể/tinh thần. Họ thường xuyên đọc
những cuốn đó ngay ở đây mà.”
Sam xen vào: “Nếu họ đến để trải nghiệm toàn diện, ông có thể mở rộng trải nghiệm đó bằng cách thêm
việc mua sách mới, CD, có thể là cả quà tặng nữa.”
-“Các
món đồ Phật giáo và đồ lưu niệm Ấn Độ.”
-“Chỉ
những món chất lượng tốt thôi.”
-“Tất
nhiên rồi.”
Suốt cả ba giây, Sam giữ ánh nhìn của Franc. Ánh lấp lánh
trong mắt Franc đã chuyển thành sự hứng khởi trọn vẹn. Ngay cả sự rụt rè thường
thấy của Sam dường như cũng tan biến.
Rồi Franc hỏi: “Anh sẽ
thiết lập nó giúp tôi chứ?”
-“Ý ông là—?”
-“Và
quản lý nó. Với tư cách là quản lý hiệu sách của tôi.”
Sự hứng khởi nhanh chóng biến mất trên khuôn mặt của Sam.
-“À,
điều đó thật… thật… thật tốt khi yêu cầu,
nhưng tôi không thể đâu.” Những vết nhăn sâu hiện lên giữa hai lông mày của
anh. “Ý tôi là, tôi chỉ ở đây vài tuần thôi mà.”
-“Anh đâu có công việc nào để quay lại đâu,” Franc
nhắc nhở anh, hơi thẳng thắn. “Tôi đang đề nghị anh một công việc ở đây.”
-“Nhưng
visa của tôi—”
Franc vẫy tay ra hiệu bỏ qua: “Tôi có một người có thể lo
tất cả thủ tục giấy tờ.”
-“Và
chỗ ở—”
-“Có
một căn hộ ở tầng trên,” Franc nói. “Tôi có thể đưa phần đó vào thỏa thuận.”
Nhưng thay vì giải tỏa những băn khoăn của Sam, Franc dường
như chỉ làm chúng thêm rối. Sam cúi mặt xuống khi một làn đỏ hiện lên, trước
tiên ở cổ, rồi dần dần, không ngừng, lan rộng ra hai gò má.
-“Tôi
thật sự không thể làm được,” anh nói với Franc. “Ngay cả khi mọi thứ khác đều…
”
Franc nghiêng người về phía trước trên ghế, nhìn chằm chằm
anh. “Tại sao lại không?”
Sam nhìn sàn nhà với vẻ bất lực.
-“Anh có thể nói với tôi mà,” Franc nói, giọng dịu
lại.
Sam lắc đầu chậm rãi.
Sau một khoảnh dừng, Franc thử một cách tiếp cận khác.
“Tin tôi đi—tôi là một Phật tử.”
Sam mỉm cười buồn.
-“Tôi
sẽ không bỏ qua đâu”—Franc cố gắng kết hợp cả sự đồng cảm lẫn quyết tâm trong
giọng nói của mình.
—“cho đến khi anh nói
với tôi.”
Ông ngả
người ra sau trên ghế, như thể chuẩn bị cho một chờ đợi lâu dài. Làn đỏ trên má
Sam càng trở nên đậm hơn. Rồi, sau khoảng dừng dài nhất từ trước đến nay, mắt vẫn
nhìn xuống sàn, Sam thì thầm: “Khi cửa hàng ở Century City đóng cửa, tôi bị sa
thải.”
-“Anh đã nói rồi mà.”
“Vấn đề là, không phải ai cũng bị sa thải. Một vài người
được giữ lại và chuyển công việc khác.” Sam cúi đầu, đầy hổ thẹn.
-“Và anh đang nghĩ—?”
-“Nếu
tôi giỏi công việc của mình, tôi cũng đã được giữ lại rồi.”
- “Vậy
họ chỉ giữ lại những người làm việc xuất sắc, đúng không?” giọng Franc căng
lên. “Lý do gì khác nữa? Chi phí sa thải họ? Hay vì họ là nhân viên lâu năm?”
Sam nhún vai. “Chắc vậy. Hầu hết là thế. Nhưng ông cũng thấy mà… tôi tệ với mọi người đến mức
nào. Tớ sẽ chẳng hợp với việc đó đâu, Franc.” Cuối cùng anh cũng cố liếc thật nhanh về phía Franc. “Hồi
đi học, lúc chia đội thể thao thì tớ luôn là đứa bị chọn cuối cùng. Lên đại học,
tôi chẳng bao giờ hẹn hò được với ai. Tôi không phải kiểu người giỏi giao tiếp.
Tôi sẽ làm hỏng mọi thứ mất.”
Khi Franc nhìn dáng vẻ đáng thương của Sam trước mặt
mình, một nụ cười tinh quái đầy ẩn ý thoáng hiện trên môi anh. Không nói lời
nào, ông ra hiệu cho Kusali mang cho mình một ly
espresso.
-“Ừ,
tôi đồng ý,” ông đáp
sau một lúc. “Hãy tưởng tượng sẽ tai hại thế nào nếu để một người thuộc lòng thể
loại sách theo kiểu ngược đời đi đặt toàn bộ đơn hàng cho cửa tiệm. Hoặc nếu
khách hỏi anh về một chủ đề nào đó, và anh lại đưa cho họ nửa tá lựa chọn khác nhau. Thật
đúng là thảm họa!”
-“Không
phải vậy—”
-“Giả
sử có ai đó bước vào đây muốn chọn một đội thể thao, và người đầu tiên họ nhìn
thấy lại là anh.”
-“Ông biết là tôi không có ý—”
-“Hoặc,
trời cứu chúng ta, một cô gái độc thân bước vào đây đang đi tìm một buổi hẹn
hò!”
-“Vấn
đề là nói chuyện với người khác,” Sam đáp lại, gần như gay gắt. “Tôi không giỏi
chuyện đó.”
-“Anh nói chuyện với tôi mà.”
-“Ông không phải khách hàng.”
-“Tôi
chưa bao giờ ép ai phải gọi cappuccino, và tôi cũng không mong anh phải ‘bán hàng’ quá mức, nếu anh đang nghĩ vậy,” Franc nói.
Hai người nhìn thẳng vào nhau một cách bình tĩnh trước
khi Franc nói:
-“Hoặc
ý tưởng mở hiệu sách này sẽ thành công, hoặc là không. Tôi tin anh là người phù hợp cho công việc này, ngay cả
khi chính anh không tin điều đó.”
Cuộc trò chuyện đó diễn ra vào cuối tuần trước, và dù
Franc đã cố gắng hết sức, nó vẫn kết thúc mà không có sự cam kết nào từ Sam. Từ
đó đến nay, Sam vẫn đến quán cà phê mỗi ngày, nhưng không ai nhắc lại chủ đề đó
nữa. Tôi tự hỏi Franc sẽ còn giữ được bao lâu. Vì tôi không hề nghi ngờ rằng ông sẽ lại đem chuyện này ra bàn một lần nữa.
Kể từ cuộc trò chuyện với Sam, Franc đã gọi một vài thợ
lành nghề đến đo đạc không gian mà ông đang
cân nhắc để mở hiệu sách, đồng thời bàn bạc về các phương án kệ sách và trưng
bày. Nhưng liệu ông có
thể khiến Sam thay đổi ý định không?
Thực ra, khả năng thuyết phục của Franc trở nên không còn
quan trọng. Không lâu sau khi tôi đến quán vào buổi sáng hôm đó và thấy Sam
đang say mê về chủ đề sinh học tế bào và biểu sinh học (epigenetics), thì người
xuất hiện trong quán cà phê lại chính là Geshe Wangpo.
Như Franc nhanh chóng phát hiện ra, việc có một người thầy
vừa là lợi ích vừa là thử thách. Lợi ích thì phi thường, nhưng yêu cầu cũng khắc
nghiệt không kém. Và khi người thầy của bạn là một vị lạt ma nghiêm khắc như Geshe Wangpo, thì cả hai mặt
của “lưỡi kiếm” ấy đều sắc như dao cạo. Mỗi
tối thứ Ba, Franc tham dự các buổi học về Con Đường Giác Ngộ tại ngôi chùa trên
đồi, nhưng vào những thời điểm khác, Geshe Wangpo lại bất ngờ xuất hiện trong đời
sống của anh, mang theo những biến chuyển có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống.
Trong một lần khác, những rắc rối nghiêm trọng với đội
ngũ nhân viên phục vụ đã khiến Franc rơi vào trạng thái bối rối và tuyệt vọng.
Geshe Wangpo đã gọi điện cho ông— một việc chưa từng xảy
ra trước đó và cũng không hề được báo trước — và trong một cuộc gọi ngắn gọn nhất,
ra lệnh rằng ông phải
trì tụng mantra Tara Lục (Green
Tara) mỗi ngày hai giờ. Đến cuối
tuần đó, các vấn đề nhân sự của Franc một cách khó hiểu đã tự nhiên được giải
quyết ổn thỏa.
Trong một dịp khác, Franc vừa đặt điện thoại xuống sau cuộc
nói chuyện với cha mình, người đã gọi đường dài từ giường bệnh ở San Francisco.
Suốt mười phút trước đó, Franc đã cố giải thích vì sao ông không thể về thăm nhà lúc này. Khi ông quay
lại phát hiện Geshe Wangpo đang đứng ngay phía
sau mình. Vị lạt ma lập
tức ra lệnh, không hề do dự, rằng việc thăm cha phải được đặt lên hàng đầu. Ngài hỏi Franc đang nghĩ mình là loại người
con gì khi nói với một người cha già yếu, mong manh rằng mình quá bận để gặp
ông? Ông nghĩ mình nợ ai sự sống
này? Ông muốn có kiểu cha mẹ như thế nào trong những kiếp tương lai — những người
thờ ơ và bỏ mặc ông như chính ông đang dự định đối xử, hay những người thật sự
quan tâm đến hạnh phúc của ông? Và,
nhân tiện, Ngài cũng
nhắc Franc nên mua cho cha mình những món quà chất lượng tốt từ cửa hàng miễn
thuế.
Nửa giờ sau, Franc đã đặt vé về nhà.
Hôm nay, khi Geshe Wangpo xuất hiện trong quán cà phê vào
khoảng thời gian vắng khách giữa buổi sáng, Ngài liếc nhìn qua hàng loạt bàn trống trước khi
đi thẳng về phía nơi Sam Goldberg đang ngồi một mình đọc sách.Có một năng lượng
mạnh mẽ trong cách ngài di
chuyển khắp căn phòng, như thể ngài không
phải là một vị tu sĩ khoác áo màu nâu đỏ xuất hiện trong quán, mà là một thực
thể hoàn toàn uy nghi hơn — có lẽ giống một con quái vật khổng lồ màu xanh đen,
phun lửa, như những hình ảnh được vẽ trong các bức thangka ở chùa.
-“Tôi
có thể ngồi đây không?” ngài hỏi,
kéo chiếc ghế đối diện Sam Goldberg.
-“V-vâng.
Được chứ.” Hầu như tất cả các bàn xung quanh đều trống, nhưng nếu Sam thấy yêu
cầu này kỳ lạ thì anh không hề để lộ ra. Thay vào đó, anh lại tiếp tục đọc cuốn
sách của mình.
Sau khi đã ngồi thoải mái, Geshe Wangpo không có ý định
giữ im lặng.
-“Anh đang đọc gì vậy?”
Sam Goldberg ngẩng lên. “Một cuốn sách về… ờ, epigenetics
(biểu sinh học).”
Vị lạt ma
liếc nhìn ba cuốn sách bìa mềm xếp cạnh chiếc cốc cà phê rỗng của Sam Goldberg. -“Anh thích
đọc sách à?”
Sam gật đầu.
Tôi tự hỏi liệu Franc đã nói với Geshe Wangpo về ý tưởng
mở hiệu sách của mình sau buổi học tuần đó hay chưa, nhưng điều đó có vẻ khó xảy
ra. Geshe Wangpo luôn khuyến khích các học trò của mình tự lực. Còn Sam
Goldberg thì hoàn toàn không biết Geshe Wangpo là ai, ngoài việc xem ngài như một vị tu sĩ có phần quá thẳng thắn và
chủ động.
-“Điều
đó rất hữu ích,” Geshe Wangpo nói với Sam Goldberg, “là chia sẻ hiểu biết của
mình với người khác. Nếu không thì, có ý nghĩa gì khi sở hữu nó?”
Sam Goldberg ngẩng lên nhìn vị lạt ma — và giữ ánh mắt ấy. Đây không phải cái
nhìn lướt qua như thường lệ, mà là sự giao nhau kéo dài đến mức gần như bất thường. Điều gì trong gương mặt của Geshe Wangpo đã
giữ lấy ánh nhìn của anh? Có phải đó là điều gì mang lại cảm giác yên tâm, như
thể ẩn dưới vẻ nghiêm khắc của vị tu sĩ Tây Tạng là một sự từ bi sâu xa và an
toàn? Hay đơn giản là Geshe Wangpo đang giữ ánh nhìn của Sam bằng sức mạnh nhân
cách mà ngài vốn
nổi tiếng? Hay có lẽ đang hình thành một
kết nối khác — một điều gì đó khó lý giải hơn, vượt ra ngoài những cách hiểu
thông thường?
Dù là gì đi nữa, khi Sam Goldberg cuối cùng trả lời, anh
không còn chút rụt rè thường thấy. “Thật
lạ là ngài lại
nói vậy. Chủ quán ở đây đã hỏi tôi có muốn điều hành một hiệu sách cho ông ấy
không.” Anh khẽ chỉ về khu vực trống mà Franc đang dự
định sử dụng.
“Anh có muốn không?” vị
Lạt Ma hỏi.
Sam nhăn mặt. “Tôi nghĩ
mình sẽ không giỏi việc đó đâu.”
Vẻ mặt của Geshe Wangpo
vẫn không thay đổi. Ngài thử lại. “Anh có muốn không?”
-“Tôi không thể làm ông ấy
thất vọng. Ông ấy sẽ phải đầu tư rất nhiều tiền vào hàng tồn kho và các kệ
trưng bày. Nếu mọi chuyện đổ bể vì tôi…”
-“Tôi hiểu rồi, tôi hiểu
rồi.” Geshe Wangpo nghiêng người về phía trước. “Nhưng anh có muốn không?”
Một nụ cười nhỏ, pha
chút áy náy nhưng không thể cưỡng lại được hiện lên trên khóe miệng Sam.
Trước khi anh kịp nói lời
nào, Geshe Wangpo đã bảo ông: "Vậy thì anh phải làm thôi!"
Nụ cười của Sam càng rạng
rỡ hơn. “Tôi đã suy nghĩ về điều đó. Rất nhiều. Nó có thể là một... khởi đầu mới
đầy thú vị. Nhưng tôi vẫn còn một số băn khoăn.”
-“Băn khoăn là gì vậy?”
Vị Lạt Ma nhíu mày đầy kịch tính.
-“Những băn khoăn?” Sam
tra từ điển đồng nghĩa trong đầu. “Những nghi ngờ. Những lo ngại. Những điều
không chắc chắn.”
-“Đó là chuyện bình thường,”
ngài nói với anh ta. Rồi, để nhấn mạnh, ngài ta nói lại lần nữa, sâu hơn, to
hơn và chậm hơn: “Bình thường.”
-“Tôi đang phân tích cơ
hội –“ Sam bắt đầu giải thích.
Nhưng Geshe
Wangpo cắt ngang anh ta. “Quá nhiều suy
nghĩ là không cần thiết.
Sam nhìn chằm chằm vào ngài,
ngạc nhiên khi nghe câu hỏi về nhận thức bị gạt bỏ một cách hời hợt như vậy.
"Anh chưa từng thấy tôi tiếp xúc với người khác," ngài tiếp tục.
"Những người bình thường."
Để hai tay vào hông, vị
lạt ma ngồi nhỗm tới trong chỗ của ngài. “Có một vấn đề?”
Sam nhún vai. "Có lẽ
có thể nói đó là vấn đề về lòng tự trọng."
-“Lòng tự trọng?”
-“Khi anh nghĩ mình
không đủ khả năng.”
Geshe Wangpo không
tin. “Nhưng anh đọc rất nhiều sách. Anh có kiến thức mà.”
-“Không phải vậy.”
-“Trong Phật giáo”—vị Lạt
Ma ngửa đầu ra sau đầy thách thức—“chúng tôi sẽ nói rằng anh lười biếng.”
Phản ứng của Sam lần này
hoàn toàn trái ngược với thường lệ. Sắc mặt anh tái nhợt.
-Tự thất vọng, nghĩ rằng
anh không đủ sức, cho rằng ‘tôi không thể làm việc này.’ Đây là tâm hồn yếu
kém. Anh phải làm việc để chiến thắng nó.”
-“Tôi không có ý muốn lựa
chọn,” Sam phản đối yếu ớt.
-“Vậy thì anh phải chọn
cách vượt qua. Điều gì sẽ xảy ra nếu anh cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu
đuối? Anh sẽ nuôi dưỡng sự yếu đuối. Kết quả là một tâm trí thậm chí còn yếu đuối
hơn trong tương lai. Thay vào đó, anh phải trau dồi sự tự tin!”
Geshe Wangpo ngồi thẳng
lưng trên ghế, nắm chặt tay đặt trên bàn. Sức mạnh dường như tỏa ra từ ngài theo
mọi hướng.
-Ngài nghĩ tôi có thể?”
-“Anh phải như thế! Vị lạt
ma nói với anh một cách mạnh mẽ. “Khi anh nói với mọi người, anh phải nói với họ
với đối mắt mở to và một giọng mạnh mẽ.”
Sam đang cố gắng ngồi thẳng
lưng hơn trên ghế.
-Anh đã đọc Hướng dẫn lối
sống của Bồ tát?”
Sam gật đầu.
“Nó nói rằng sự tự tin
nên được áp dụng vào những hành động lành mạnh. Đó là điều bạn sẽ làm ở đây, phải
không—những hành động lành mạnh? Bạn phải quyết định ‘Chỉ mình tôi sẽ làm điều
đó.’ Đây chính là sự tự tin trong hành động.”
-Đôi mắt mở to và một giọng
mạnh mẽ?” Sam hỏi lớn tiếng một cách đáng chú ý.
Vị lạt ma gật đầu. “Như
thế này.”
Đáp lại sức mạnh của
Geshe Wangpo, một cảm giác mới dường như đang đến với Sam. Anh ngồi thẳng hơn.
Tư thế của anh tự tin hơn. Thay vì nhìn xuống, anh nhìn thẳng vào mắt Geshe
Wangpo. Không có lời nào được nói ra, nhưng trong sự im lặng, một hình thức
giao tiếp khác, trực quan hơn dường như đang diễn ra. Như thể Sam nhận ra rằng
tất cả những vấn đề về lòng tự trọng của anh chẳng qua chỉ là những ý niệm anh tự
đặt ra về bản thân, những ý niệm mỏng manh như giấy ăn. Những ý niệm tạm thời,
và giống như bất kỳ ý niệm nào khác, sẽ xuất hiện, tồn tại và biến mất.
Những ý tưởng ấy, khi có
mặt vị sư này, đã được thay thế bằng những ý tưởng khác, lạc quan và yêu đời
hơn.
Sau một hồi lâu, anh mới
lên tiếng. "Tôi không biết tên ngài," anh nói.
-“Geshe Acharya Trijang Wangpo.”
-“Phải chăng đây không
phải là tác giả của cuốn ‘Con đường đến sự hợp nhất của việc không còn học hỏi
nữa’, do Stephanie Spinster dịch?”
Vị Lạt ma ngồi dựa lưng
vào ghế, khoanh tay trước ngực và liếc nhìn Sam với ánh mắt thách thức đầy
nghiêm khắc. "Anh biết nhiều lắm đấy," ông ta nói.
Khi tôi trở về Jokhang
vào chiều hôm đó, tôi chìm đắm trong suy nghĩ về những điều mà Geshe Wangpo đã
nói. Tôi cũng ngạc nhiên như Sam khi nghe rằng trong Phật giáo, thiếu tự tin được
coi là một hình thức lười biếng, một tâm trí yếu đuối cần phải khắc phục. Tôi
không thể không nhớ lại cảm giác bất lực của chính mình khi nói đến việc thực
hành Phật pháp nói chung và thiền định nói riêng. Và làm thế nào mà, khi sống ở
Jokhang và thường xuyên được nhắc nhở về những giác ngộ siêu việt có thể đạt được,
việc thực hành thiền định của tôi lại quá hạn chế đến nỗi dường như chẳng đáng
để tiếp tục.
Nhưng như vị Lạt ma của
Franc đã nói, điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu
đuối? Kết quả nào có thể xảy ra ngoài sự yếu đuối trong tương lai? Có một logic
không thể tránh khỏi, dù có phần khó chịu, nhưng cùng với đó là một cảm giác mạnh
mẽ kỳ lạ về sự tự tin.
Tối hôm đó, khi tôi ngồi
thiền trên bệ cửa sổ, hai chân trước khép gọn dưới thân, mắt nhắm hờ và ria mép
dựng đứng, trước khi tập trung vào hơi thở, tôi nhớ lại lời của Geshe Wangpo.
Tôi tự nhắc nhở mình rằng
tôi đang sống với một hình mẫu hoàn hảo, rằng tôi được bao quanh bởi những người
ủng hộ việc tu tập của mình. Không có hoàn cảnh nào tốt hơn hoàn cảnh của tôi để
phát triển thành một bồ tát mèo chân chính (a
true bodhicatva).
Chỉ mình tôi phải làm điều
này!
Liệu tôi có đạt được trạng
thái giác ngộ hoàn toàn sau buổi thiền định đó? Phải chăng sự thay đổi thái độ
của tôi là nguyên nhân dẫn đến niết bàn tức thì? Thưa độc giả, tôi sẽ nói dối nếu
nói như vậy. Thiền định của tôi không cho thấy dấu hiệu cải thiện tức thì,
nhưng có lẽ quan trọng hơn, cảm xúc của tôi về nó đã thay đổi.
Từ lúc đó, tôi quyết định
rằng mình sẽ không coi mỗi buổi thiền không tốt là lý do để bỏ cuộc. Tôi sẽ
không đánh giá trải nghiệm của bản thân dựa trên những thành tựu phi thường mà
các vị khách của Đức Thánh Thiện đã đạt được. Tôi là một người như Ngài, với những
thiếu sót và yếu điểm của riêng mình, nhưng cũng giống như Sam, tôi có những điểm
mạnh của riêng mình. Tôi sẽ thiền định, nói một cách ẩn dụ, với đôi mắt mở to
và giọng nói mạnh mẽ. Có thể tôi chưa nắm vững tất cả các hướng dẫn về thiền định
tập trung, nhưng tôi biết khá nhiều điều.
Thưa quý độc giả, câu
chuyện này còn có phần kết. Tất nhiên rồi – đó mới là phần hay nhất, phải
không? Món quà bất ngờ. Cú xoay người uyển chuyển. Khi nói đến những sự thay đổi
đột ngột, tôi chính là kiểu người như vậy.
Đây chính là một cuốn
sách như vậy.
Và, sau khi đã cùng tôi
đi đến tận đây, dù muốn hay không, bạn tôi ơi, chắc chắn bạn là kiểu độc giả
như thế!
Trước tiên, một lời thú
nhận.
Tôi đã cảm thấy bất an
vào ngày nghe Sam kể về những lời tự nghi ngờ ngày càng trầm trọng của anh ấy,
khi anh ấy giải thích cảm giác bất tài của mình với Franc. Việc bị sa thải khỏi
hiệu sách càng làm nổi bật cảm giác bị từ chối khi là người cuối cùng còn lại
trong các buổi tuyển chọn đội thể thao. Việc anh ấy không tìm được tình yêu ở đại
học chỉ càng củng cố thêm câu chuyện về một kẻ lạc lõng đáng thương. Thực tế là
nhiều chuyên gia giỏi giang lại không có năng khiếu thể thao, hay việc một số
phụ nữ xinh đẹp nhất lại hạnh phúc bên những người đàn ông mọt sách nhất, dường
như không làm thay đổi những niềm tin tự hủy hoại bản thân của anh ấy. Xét về
trí thông minh của anh ấy, lời giải thích đó thật kỳ lạ và thậm chí đáng cười nếu
không phải vì nỗi đau mà nó rõ ràng đã gây ra cho chính anh ấy.
Thế nhưng, khi tôi lắng
nghe cách anh ấy kết hợp một loạt những trải nghiệm rời rạc để tạo nên một câu
chuyện bi thương phức tạp về bản thân, tôi không thể tránh khỏi một nhận thức
đau đớn: Tôi cũng giống như vậy.
Chẳng phải tôi đã để một
suy nghĩ tiêu cực khơi mào một suy nghĩ hoàn toàn không liên quan sao? Vừa mới
suy ngẫm về kỹ năng thiền định kém cỏi của mình thì tôi lại chuyển sang tự
trách mình thiếu kỷ luật trong việc ăn uống.
Khi ngắm nhìn hình hài của
mình, tôi thường nghĩ về dáng đi kỳ cục do chấn thương ở chân. Điều này dẫn đến,
một cách tất yếu và đáng buồn, những ký ức đầu tiên của tôi và vấn đề về dòng
dõi gia đình.
Sau cú sốc mà Geshe
Wangpo mang lại, tôi đã khám phá ra một động lực ngược lại: những suy nghĩ tích
cực cũng nhân lên – và tạo ra những hiệu quả tuyệt vời ngoài sức tưởng tượng.
Có một câu nói được cho
là của Goethe, rất được các nhà sản xuất nam châm tủ lạnh, thiệp chúc mừng và
các vật phẩm trang trí truyền cảm hứng khác yêu thích. Câu nói đó là: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc mơ ước bạn
có thể làm, hãy bắt đầu. Sự táo bạo chứa đựng thiên tài, sức mạnh và phép màu.”
Mặc dù Tenzin nói với tôi rằng Goethe chưa bao giờ viết điều như vậy, nhưng những
lời này lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ.
Khi tôi bắt đầu tự tin
hơn về việc thực hành thiền định của mình, tôi nhận thấy nó ảnh hưởng đến rất
nhiều thứ khác. Tôi sẽ không ăn hết từng miếng gan gà băm nhỏ của bà Trinci chỉ
vì nó có sẵn. Tôi sẽ bước vào các cuộc gặp gỡ với những vị khách quý nhất của Đức
Thánh Thiện với vẻ tự tin, oai vệ.
Tại sao tôi lại không
nên làm vậy?
Và điều kỳ lạ nhất:
Tashi và Sashi, hai đứa trẻ đường phố trở thành sa di mà Đức Thánh Thiện đã dặn
dò phải đặc biệt chăm sóc tôi, vẫn tiếp tục đến thăm tôi trong phòng thăm viếng
của Jokhang thỉnh thoảng. Thường thì chúng sẽ ngồi trên sàn nhà khoảng năm phút
và gãi cổ cho tôi.
Đôi khi họ sẽ đọc mật ngôn.
Một buổi chiều nọ, vài
ngày sau khi thái độ của tôi thay đổi, họ tình cờ đến thăm. Theo thông lệ, tôi
nằm lên một tấm thảm cầu kỳ, tay chân dang rộng, để họ có thể vuốt ve bụng tôi.
Đúng lúc đó, Chogyal bước
vào phòng.
-“Rất đẹp.” Ông gật đầu
với hai cậu bé sa di và mỉm cười.
-“Nó đã lớn thành một
con mèo xinh đẹp,” Tashi nói.
-“Đây là giống mèo
Himalaya,” Chogyal nói với họ, cúi xuống xoa bóp những đầu tai mềm mại như
nhung của tôi. “Thông thường, chỉ những người giàu mới đủ khả năng mua những
con mèo như thế này.”
Sashi nhìn xa xăm một
lúc trước khi nói, “Mẹ của con mèo này từng thuộc sở hữu của người giàu.”
-“Thật sao?” Chogyal nhướng
mày.
-“Mặc dù chúng tôi sống ở
khu nghèo, nhưng chúng tôi vẫn thường thấy mẹ nó đi dọc theo bức tường từ ngôi
nhà lớn—”
-“Ngôi nhà rất lớn,”
Tashi chen vào. “Có cả bể bơi riêng nữa!
-“Cô mèo ấy đến đó để
ăn,” Sashi nói.
-“Một ngày nọ, chúng tôi
đi theo cô ấy đến chỗ những chú mèo con—” Tashi bắt đầu.
-“Đó là cách chúng tôi
tìm thấy chúng,” Sashi nói tiếp.
-“Ở ngôi nhà đó có vài
chiếc Mercedes bóng loáng,” Tashi nhớ lại. “Và một người hầu mà công việc duy
nhất của anh ta là đánh bóng chúng!”
Chogyal đứng thẳng người.
“Thật thú vị. Có vẻ như HHC cuối cùng cũng là giống thuần chủng. Nhưng anh biết
đấy, lời thề của chúng ta, những người theo đạo Phật, là không nhận bất cứ thứ
gì trừ khi được cho đi một cách tự nguyện. Tôi tự hỏi liệu có thể liên lạc với
gia đình mà cô mèo ấy xuất thân để đề nghị trả tiền cho họ không?”/.