Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

LUÂN LÝ TÌNH DỤC TRONG PHẬT GIÁO

Buddhist Sexual Ethics

Tác giả: Winton Higgins
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

Buddhist Sexual Ethics » A Rejoinder



***

Các truyền thống tôn giáo giúp chúng ta tìm thấy những định hướng căn bản trong nhiều khía cạnh của cuộc sống. Khía cạnh quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta chính là cách chúng ta tương tác với người khác. Giữa muôn vàn điều khác, điều này đồng nghĩa với việc các tôn giáo thường có rất nhiều điều để nói về đạo đức tình dục. Vậy Phật giáo thúc đẩy những chuẩn mực đạo đức tình dục nào? Trong lĩnh vực này, truyền thống của chúng ta lên tiếng một cách lặng lẽ hơn so với các tôn giáo khác, điều này có thể khiến những người mới tiếp cận tự hỏi liệu Phật giáo có hề đề cập đến chủ đề này hay không. Trên thực tế, Phật giáo lên tiếng một cách khá kiên định. Khi mở đầu chủ đề này, tôi sẽ làm nổi bật những câu hỏi liên quan đến các vấn đề được đặt ra bởi các phong trào giải phóng khác nhau — như phong trào phụ nữ, phong trào của người đồng tính nam và đồng tính nữ (gays and lesbians), và của các nhóm thiểu số tình dục quy mô nhỏ hơn. Tôi nghĩ mình sẽ không quá sai lầm khi nói rằng tất cả các phong trào này, dù mục tiêu của họ có là gì đi nữa, thì đều đang đối diện với các hình thức định kiến khác nhau, cũng như với bạo lực và những sự xâm hại dựa trên các định kiến đó.

Định kiến chống lại phụ nữ và các nhóm thiểu số tình dục thường được củng cố bởi một số đặc điểm tâm lý xã hội tiêu chuẩn, chẳng hạn như sự bất dung chấp đối với sự khác biệt và sự bất an sâu sắc thường thấy ở những người tự coi mình là ‘bình thường’ nhưng lại không hoàn toàn chắc chắn về điều đó. Tuy nhiên, một thành phần quan trọng trong ‘bản hòa tấu độc hại’ này chính là các hình thức định kiến, sự cấm đoán và sự dồn nén có liên quan đến chủ nghĩa tôn giáo độc thần cực đoan.

Giống như tất cả các tôn giáo khác, Phật giáo giữ một lập trường đạo đức mạnh mẽ trong các vấn đề của con người, và đặc biệt là đối với hành vi tình dục. Cách diễn đạt phổ biến nhất về đạo đức Phật giáo chính là ngũ giới (năm giới cấm):

Con xin vâng giữ điều học là:

1-Tránh xa việc sát sanh / thực hành lòng từ bi.
2-
Tránh xa việc lấy của không cho / thực hành lòng rộng lượng (bố thí).
3-
Tránh xa việc tà dâm / thực hành sự biết đủ (tri túc).
4-
Tránh xa việc nói dối / thực hành truyền thông chân thật.
5-
Tránh xa việc sử dụng các chất say / thực hành chánh niệm.


Các giới luật này mang hình thức của sự tự nguyện và cam kết mang tính cá nhân. Chúng không phải là những điều răn; vì không có thượng đế trong Phật giáo, nên không có ai để ban hành những điều răn đó.

Các giới luật này thể hiện những nguyên tắc cơ bản chứ không phải là những quy tắc cứng nhắc, mang tính luật pháp mà bất kỳ một hành vi nào cũng mặc nhiên rơi vào bên trong hay bên ngoài đó. Giống như mọi hệ thống đạo đức không mang tính cực đoan nào, Phật giáo cung cấp cho chúng ta các nguyên tắc hướng dẫn chung, đồng thời không hề miễn trừ nghĩa vụ của chúng ta trong việc đưa ra các phán đoán đạo đức phù hợp cho mỗi tình huống mang ý nghĩa đạo đức mà mình gặp phải. Phán đoán đạo đức không bao giờ là việc áp dụng một quy tắc một cách mù quáng.

Năm giới luật tạo thành một chỉnh thể thống nhất – mỗi giới luật đều hỗ trợ cho các giới khác. Để hiểu thế nào là ‘tà dâm’, bạn cần phải nhìn vào bốn giới còn lại. Theo tinh thần chung của toàn bộ năm giới, ‘tà dâm’ có nghĩa là bất kỳ hành vi tình dục nào có yếu tố bạo lực, thao túng hoặc lừa dối – những hành vi dẫn đến đau khổ và rắc rối. Ngược lại, hành vi tình dục đúng đắn được nền tảng trên lòng từ bi, sự rộng lượng, tính trung thực, cùng sự tỉnh táo về tâm trí lẫn cảm xúc – những hành vi mang lại kết quả tốt đẹp.

Giới thứ ba về tà dâm (hành vi tình dục sai trái) thực chất là hoàn toàn thừa thãi – nếu trong đời sống tình dục, chúng ta hành xử một cách phi bạo lực, không lấy những gì không được cho một cách tự nguyện, không lừa dối và không hành động từ những trạng thái tâm thức mê lầm và vô trách nhiệm, thì đằng nào chúng ta cũng không thể phạm vào giới thứ ba. Đạo đức tình dục vốn rất nghiêm khắc của Phật giáo vẫn sẽ trọn vẹn mà không cần đến giới thứ ba. Nó thật sự có mặt ở đó chỉ nhằm mục đích nhấn mạnh. Tình dục là một năng lượng rất mạnh mẽ, là tâm điểm của nhiều thèm muốn, phù phiếm và mê lầm. Nó đòi hỏi phải có một giới nguyện của riêng mình! Nếu chúng ta có xu hướng tự biến mình thành kẻ ngốc, hành động ngu ngốc và mang tính hủy hoại – và tất cả chúng ta đều có xu hướng này – thì chúng ta rất dễ biểu hiện điều đó trong đời sống tình dục của mình. Mặt khác, mỗi người trong chúng ta cũng có xu hướng ngược lại là hành động xuất phát từ lòng thân ái, sự rộng lượng và trí tuệ. Nhờ vào việc rèn luyện đạo đức và thiền định, đời sống tình dục của chúng ta cũng có thể biểu hiện một cách mạnh mẽ xu hướng này. Vì thế, giới thứ ba thể hiện một đạo đức tình dục nghiêm khắc và đầy thách thức. Điều này lại càng không hề dễ dàng đối với bất kỳ ai lớn lên với giới tính nam và là người dị tính trong một xã hội như thế này, với tất cả sự nhào nặn trong những thái độ coi phụ nữ như công cụ (vật hóa) và săn mồi, cùng với những nỗi sợ hãi sâu sắc về cái gọi là sự lệch lạc!

Chúng ta hãy cùng nhìn vào tinh thần của các giới nguyện nói chung trước khi quay trở lại với chủ đề tình dục. Tự do là lời hứa tối hậu của sự thực hành Phật giáo – của việc rèn luyện đạo đức cũng như hai sự rèn luyện vĩ đại còn lại, là thiền định và trí tuệ (Tam vô lậu học: Giới – Định – Tuệ). Tự do có nghĩa là buông bỏ những ám ảnh, sự cưỡng chế và những rào cản tâm lý do sự định hình tâm thức của chúng ta tạo nên, và từ đó giải phóng bản thân để phản hồi một cách thích hợp trong bất kỳ và mọi tình huống. Thông qua việc kiềm chế, tự do thường biểu hiện dưới dạng khả năng nói "không" trước một sự cưỡng chế mang tính thói quen hay được tiếp nhận từ bên ngoài, trước một ham muốn, xu hướng hay sự phụ thuộc. Đôi khi tự do lại biểu hiện dưới dạng nói "có", một tiếng "có" vượt lên trên những nỗi sợ hãi, định kiến và rào cản mang tính thói quen hoặc được tiếp nhận từ bên ngoài.

Chúng ta có thể đối xử với người khác và các yếu tố khác trong môi trường sống của mình như những đối tượng để tính toán, khai thác và tiêu thụ, hoặc chúng ta có thể nhìn nhận người khác như cách chúng ta nhìn nhận chính mình. Tất cả các tôn giáo lớn ít nhiều đều thể hiện đạo đức của vế sau (giống như "quy tắc vàng" của Kitô giáo: "hãy làm cho người khác những gì bạn muốn họ làm cho mình"). Phật giáo thể hiện điều đó một cách thuần túy. Các giới nguyện là một sự rèn luyện trong việc yêu thương chính mình và người khác, được biểu hiện qua ý định hành xử một cách thiện xảo nhằm giải phóng tất cả chúng ta. Tự do khỏi điều gì và để làm gì? Theo thuật ngữ Phật giáo truyền thống, đó là tự do khỏi sự trói buộc, khổ đau, tổn hại và hiểm nguy, và tự do để chịu trách nhiệm cho sự an lạc của chính mình, cũng như đóng góp vào sự an lạc của người khác.

Vì vậy, hãy quay trở lại với giới thứ ba. Ở Ấn Độ cổ đại, giới nguyện này dưới hình thức phủ định (cấm đoán) thường được hiểu một cách quy ước là một lệnh cấm chống lại hành vi bắt cóc, hiếp dâm và ngoại tình. Nó cũng luôn mang hàm ý bổ sung rằng chúng ta tôn trọng những cam kết tình dục của mình. Nếu chúng ta đã phát nguyện giữ giới phạm hạnh (không quan hệ tình dục), chúng ta nên kiêng tình dục chừng nào lời nguyện đó còn hiệu lực. Nếu chúng ta đã giao ước bước vào một mối quan hệ một vợ một chồng, chúng ta chỉ quan hệ tình dục trong phạm vi mối quan hệ đó. Bất kỳ điều gì khác ngoài việc này đều sẽ là sự lừa dối.

Nhưng phạm vi của nguyên tắc này, đặc biệt là ngày nay, rõ ràng rộng hơn nhiều và bao gồm các hành vi vi phạm mà phong trào phụ nữ và các phong trào khác đã chính trị hóa một cách đúng đắn. Một ví dụ quan trọng là quấy rối tình dục, rất phổ biến hiện nay khi phụ nữ và nam giới cùng chia sẻ không gian công cộng – nơi làm việc, trường đại học, v.v. Ở những nơi mà quan hệ quyền lực chiếm ưu thế, bản thân các quan hệ quyền lực đó có yếu tố giới tính, và cơ hội cũng như sự khuyến khích về mặt văn hóa đối với hành vi lạm dụng là phổ biến. Trong số những điều khác, quấy rối tình dục gây tổn hại và liên quan đến việc chiếm đoạt những thứ không được cho phép, dựa trên một giả định sâu xa – và ảo tưởng – trong sự định hình tư tưởng của nam giới về việc phụ nữ luôn sẵn sàng quan hệ tình dục.

Cưỡng hiếp trong hôn nhân có sự tương đồng đáng kinh ngạc. Tương tự như vậy là các loại phim khiêu dâm bạo lực và kỳ thị phụ nữ, tạo ra môi trường thù địch và không an toàn cho phụ nữ, đồng thời gây ra những trạng thái tâm lý ngu dốt và ma quỷ ở nam giới, bao gồm cả ảo tưởng về bản chất của phụ nữ và những gì họ muốn. Vì vậy, cả hai giới đều chịu tổn hại. Việc xuất bản hoặc sử dụng phim khiêu dâm tình dục hóa sự lệ thuộc của phụ nữ rõ ràng vi phạm giới luật thứ ba. Nhưng không phải tất cả phim khiêu dâm đều như vậy, và các tài liệu khiêu dâm khác cũng có thể vô hại.

Tôn giáo bản địa và kỹ thuật xã hội

Cho đến nay, trong bài viết này, tôi không nghĩ rằng Phật giáo trong thực tiễn đưa ra những kết luận khác biệt đáng kinh ngạc về hành vi tình dục so với các phiên bản cân bằng hơn của các tôn giáo lớn khác. Nhưng các tôn giáo khác cũng có danh sách những điều cấm kỵ, những hành vi tình dục bị cấm. Một số phản đối việc khỏa thân một phần hoặc toàn bộ, hoặc thủ dâm, hoặc mặc quần áo trái giới tính, hoặc bạo dâm, hoặc đồng tính luyến ái, hoặc sùng bái vật thể, hoặc quan hệ tình dục trước hôn nhân, hoặc quan hệ tình dục bằng miệng, hậu môn hoặc tập thể, hoặc quan hệ tình dục có sử dụng biện pháp tránh thai. Phật giáo nổi tiếng với thói quen đưa các điểm thực hành và giáo lý vào danh sách. Vậy danh sách các hành vi tình dục không đứng đắn của Phật giáo ở đâu?

Câu trả lời ngắn gọn và súc tích. Phật giáo (lần này!) không có danh sách. Lý do Phật giáo không có danh sách rất quan trọng. Có hai loại tôn giáo "thuần túy" – tôn giáo dân tộc và tôn giáo phổ quát. Tôn giáo dân tộc tìm cách điều chỉnh nhiều khía cạnh dân sự của một bộ lạc hoặc dân tộc cụ thể, và đặc biệt là điều chỉnh sự sinh sản về mặt sinh học và văn hóa của bộ lạc đó. Do đó, nó quy định đủ loại quy tắc liên quan đến hôn nhân, gia đình, vai trò giới tính, nuôi dạy con cái, v.v. Do Thái giáo hoàn toàn có thể được xem là một ví dụ điển hình về tôn giáo dân tộc.

Ngược lại, một tôn giáo phổ quát không quan tâm đến đời sống dân sự của các dân tộc thiểu số, vượt lên trên chủ nghĩa đặc thù văn hóa và đứng ngoài các vấn đề liên quan đến sự duy trì nòi giống. Người ta sinh ra trong một tôn giáo dân tộc, nhưng cách duy nhất để thật sự gia nhập một tôn giáo phổ quát như Phật giáo là thông qua sự cải đạo cá nhân. Bạn có thể cải đạo sang một tôn giáo phổ quát từ bất kỳ xuất phát điểm dân tộc nào.

Bất kỳ tôn giáo dân tộc nào cũng chứa đựng cái mà chúng ta có thể gọi – theo cách nhìn hiện đại thế tục – là yếu tố kỹ thuật xã hội. Những người làm kỹ thuật xã hội, cả về tôn giáo lẫn thế tục, đều có nhiệm vụ điều tiết mối quan hệ giữa nam và nữ để sinh ra nhiều trẻ em nhằm duy trì nòi giống và thậm chí mở rộng bộ lạc, đồng thời đảm bảo trẻ em được chăm sóc và được hướng dẫn đúng cách vào phong tục tập quán và các vai trò truyền thống (giới tính và các vai trò khác) của bộ lạc. Những người làm kỹ thuật xã hội muốn thao túng con người để năng lượng tình dục của họ được hướng vào việc sinh con, chứ không bị lãng phí vào các hoạt động tình dục không nhằm mục đích sinh sản (cái mà truyền thông ngày nay gọi là "tình dục giải trí"). Một vị Thượng đế hoặc nhà nước theo đuổi kỹ thuật xã hội thường ban hành các luật lệ hình sự hóa, kỳ thị và coi thường tình dục không nhằm mục đích sinh sản.

Ví dụ, Kitô giáo là một tôn giáo phổ quát trong Tân Ước, nhưng lại gắn liền với nhiều yếu tố kỹ thuật xã hội của một tôn giáo dân tộc trong Cựu Ước, vốn lên án (theo tôi hiểu) những hoạt động không nhằm mục đích sinh sản như ngoại tình, thủ dâm, đồng tính luyến ái, v.v. Vì vậy, Kitô giáo đưa ra một quan điểm phân đôi. Một số người theo Cựu Ước coi việc quan hệ tình dục không nhằm mục đích sinh con, những thú vui và những người thực hành nó là một nghề nghiệp là tai ương. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Kitô giáo khác công khai sống trong các mối quan hệ đồng tính nữ hoặc đồng tính nam và dũng cảm giương cao ngọn cờ khoan dung. Phật giáo là một trường hợp thuần túy của tôn giáo phổ quát, không có yếu tố kỹ thuật xã hội nào. Đến nỗi nó thậm chí không có nghi lễ kết hôn. Hôn nhân là một vấn đề dân sự ở các nước Phật giáo, nó không liên quan gì đến thực hành tâm linh. Kinh điển Phật giáo cũng không chứa đựng khái niệm "gia đình thánh" với các vai trò giới tính được quy định nhằm hạ thấp phụ nữ.

Nếu bạn muốn kết hôn ở một quốc gia Phật giáo, chính quyền dân sự sẽ tổ chức lễ cưới chính thức phù hợp. Sau đó, cô dâu chú rể có thể đến gặp một vị sư để xin lời chúc phúc, thường là những lời khuyên nhẹ nhàng về cách để cuộc hôn nhân được hạnh phúc. Ajahn Chah, bậc thầy thiền định Phật giáo vĩ đại của Thái Lan hiện đại, đã có rất nhiều cặp vợ chồng mới cưới đến tu viện của ông để xin lời chúc phúc. Ông thường nói với họ: “Các con đã trao tay mình cho nhau. Bàn tay của các con có năm ngón. Hãy coi chúng như năm giới luật. Hãy thực hành các giới luật đó trong hôn nhân của mình, và đó sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Đó là tất cả những gì các con cần.”

Đức Phật thực chất là cơn ác mộng tồi tệ nhất của những người muốn can thiệp vào xã hội. Ngài không chỉ không hề lên án quan hệ tình dục không nhằm mục đích sinh sản (do đó không có danh sách những điều cấm kỵ), mà còn truyền cảm hứng cho hàng ngàn người xuất gia tu hành độc thân và từ bỏ hoàn toàn việc sinh con. Điều này không phải vì ngài không tán thành tình dục hay trẻ em, mà trong thời đại mà người không sống độc thân thường phải nuôi nấng, cho ăn mặc và chỗ ở nhiều con, nên ít có tự do hay thời gian cho việc theo đuổi tâm linh, thì việc sống độc thân rất có ý nghĩa đối với nhiều người có khát vọng tâm linh. Không cần phải nói, sự lựa chọn không còn quá khó khăn ở các nước phát triển ngày nay, nơi có sẵn các biện pháp tránh thai và việc kiếm sống dễ dàng hơn nhiều.

Phật giáo và Lòng Khoan Dung

Phật giáo không hề phản đối tình dục. Nếu được thực hành khéo léo theo tinh thần của các giới luật, nó có thể mang lại rất nhiều hạnh phúc. Như một trong những người thầy thiền mà tôi yêu thích đã tóm tắt, không có gì sai khi nhẹ nhàng hòa mình vào dục vọng, miễn là cả hai đều cảm nhận được giai điệu và trái tim đều rộng mở. Thật vậy, tôi nghĩ Phật giáo có lẽ cải thiện đời sống tình dục của chúng ta thông qua việc tu tập thiền định, nơi chúng ta học được kỹ năng cốt lõi của chánh niệm – giữ cho trái tim, tâm trí và thân thể cùng hiện diện trong cùng một thời điểm. Vì vậy, khi cơ thể bạn đang tận hưởng những giây phút tuyệt vời bên người yêu, tâm trí bạn sẽ không phải đau khổ vì ám ảnh về các chi tiết của tờ khai thuế chẳng hạn – nó cũng được tự do tham gia vào cuộc vui.

Qua nhiều năm, tôi đã có cơ hội tiếp xúc với một số trung tâm Phật giáo nói tiếng Anh ở các nước phương Tây, và tôi rất ấn tượng trước sự hiện diện không hề gây vấn đề gì của người đồng tính nam và nữ ở đó. Theo truyền thống, xu hướng tình dục của họ không phải là vấn đề và khía cạnh này trong bản sắc của họ được khẳng định một cách thẳng thắn như bất kỳ ai khác. Cấu trúc ham muốn tình dục của mỗi người là độc nhất vô nhị, và khi chúng ta gạt bỏ những cân nhắc về kỹ thuật xã hội, thì không có lý do gì để đặt một cấu trúc ham muốn nào đó lên trên những cấu trúc khác, miễn là tất cả đều có thể được sống theo tinh thần của giới luật.

Thái độ đúng đắn của Phật giáo đối với các nhóm thiểu số về giới tính khác cũng tương tự. Tôi đã kiểm chứng điều này bằng cách truy cập trang web của Salon Kitty, một cơ sở địa phương rất kỹ tính tự mô tả mình là "một trong những nhà chứa BDSM hàng đầu thế giới". BDSM là viết tắt của trói buộc, kỷ luật và bạo dâm - khổ dâm. Trên thực đơn chính của Salon Kitty có một tuyên bố về đạo đức, trong đó nêu rõ nghĩa vụ chăm sóc và trách nhiệm tổng thể của "người thống trị" đối với "người phục tùng", đặc biệt là xung quanh vấn đề hiển nhiên là sự đồng thuận. Một phần của tuyên bố đạo đức nói rằng: Sự đồng thuận ngụ ý trách nhiệm của người thống trị trong bất kỳ cảnh BDSM nào là theo dõi sức khỏe của người phục tùng để đảm bảo rằng người phục tùng ổn định và sự đồng thuận vẫn còn hiệu lực.

Người đóng vai trò thống trị cũng có trách nhiệm đảm bảo rằng người đóng vai trò phục tùng không đồng ý với hành vi nào không có lợi cho lợi ích lâu dài của họ. Cả hai bên không nên lạm dụng rượu bia hoặc ma túy vì điều này có thể làm suy giảm khả năng phán đoán…

Sau đây là mô tả về cơ chế rút lại sự đồng ý ngay lập tức – bằng cách nói ra một “từ an toàn” đã được thỏa thuận trước – điều này sẽ ngay lập tức chấm dứt quy trình đang được đề cập.

Tiếp theo là tuyên ngôn đạo đức: Để tận hưởng những khả năng mà thế giới BDSM mang lại, trước hết người ta phải khám phá ra sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Tuyên ngôn này bao gồm các yếu tố của cả năm giới luật, kể cả giới luật cuối cùng. Trên cơ sở tuyên ngôn này, chúng ta có thể kết luận rằng Salon Kitty gần gũi với Phật pháp hơn những kẻ cực đoan, những kẻ phá hoại hạnh phúc theo chủ nghĩa kỹ thuật xã hội thuộc nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau!

Kết luận

Phật giáo có một đạo đức tình dục mạnh mẽ, nhưng không phải là một đạo đức hà khắc. Điểm chính của đạo đức này là không gây hại trong một lĩnh vực của cuộc sống mà chúng ta có thể gây ra rất nhiều tổn thương bằng cách hành động bạo lực, thao túng hoặc lừa dối. Những điều này và việc vi phạm các giới luật khác – ác ý, lấy của không được cho, nói dối và đờ đẫn – là những điều cấm kỵ trong thực hành tình dục theo Phật giáo. Bởi vì tính chất phổ quát của nó, Phật giáo chắc chắn không chấp nhận những định kiến và sự kìm hãm liên quan đến kỹ thuật xã hội, sự tái tạo của bộ lạc.

Dĩ nhiên, người ta có thể gặp những Phật tử xuất thân từ truyền thống có vấn đề với tình dục không nhằm mục đích sinh sản như đồng tính luyến ái, cũng như chúng ta gặp những người vẫn còn băn khoăn về bình đẳng giới. Nhưng kiểu định kiến hay thành kiến này chỉ xuất phát từ một nền văn hóa dân tộc hoặc truyền thống quốc gia cụ thể. Bạn có thể tự tin nói với bất cứ ai bày tỏ những thái độ như vậy rằng chúng không liên quan gì đến Phật pháp cả.

Đồng thời, mỗi người trong chúng ta phải tự đánh giá xem nên dành bao nhiêu năng lượng và thời gian cho tình dục, cho dù kỹ năng thực hành tình dục của chúng ta có giỏi đến đâu. Tình dục đứng ở vị trí nào trong thứ tự ưu tiên eo hẹp mà chúng ta phải áp dụng trong cuộc sống bận rộn, khi hầu hết chúng ta đều chật vật tìm thời gian để ngồi thiền mỗi ngày, tham gia các buổi thiền nhóm hàng tuần và đi tĩnh tâm? Một phần câu trả lời sẽ phụ thuộc vào ý nghĩa đạo đức của cam kết của chúng ta với người bạn tình. Nhiều người cố gắng biến những cam kết và mối quan hệ này thành trọng tâm ý nghĩa đạo đức trong cuộc sống của họ, như Ajahn Chah gợi ý. Đây dường như là cách tốt nhất để sống một cuộc sống trọn vẹn giữa một người tu tập tâm linh và một người có đời sống tình dục bình thường.


Winton Higgins

(Bài thuyết trình dành cho Unibuds, Queer Dharma, Hội Phật giáo Đại học Macquarie và Hội những người bạn của Wat). 

https://www.buddhanet.net/winton_s/

 

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

PHẨM 16: Kinh Đại Thừa Đại Bi Phân Đà Lợi

 


LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

PHẨM 16: Kinh Đại Thừa Đại Bi Phân Đà Lợi

Phẩm 16: ĐẠI SƯ LẬP NGUYỆN

Này thiện nam tử, bấy giờ Bà-la-môn Hải Tế suy nghĩ:

 -Ta đã khuyến hóa nhiều ức na-do-tha trăm ngàn chúng sinh đến với đạo Giác ngộ Vô thượng. Hôm nay, trong đại chúng này, các vị đại sĩ ở đây, đều đã lập diệu nguyện chọn lấy cõi Phật thanh tịnh, chỉ trừ Phi-do-tỳ-sư-nữu, trong Hiền kiếp các vị ấy cũng đều xa lìa cõi đời xấu ác. Ta nghĩ, nên ở trong cõi đời xấu ác đem pháp vị ban phát cho mọi chúng sinh, phải nên kiên cố dũng mãnh đem tiếng rống của Sư tử như thế khiến cho đại chúng Bồ-tát được chứng kiến việc chưa từng có, lại còn khiến cho tất cả chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la và người đời cùng chắp tay làm lễ cung kính đối với ta, khiên Đức Phật Thế Tôn khen ngợi “Hay thay” và thọ ký cho ta, cả các Đức Phật Thế Tôn hiện trụ thế vì chúng sinh thuyết pháp trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới khắp mười phương, khi nghe ta rống tiếng sư tử, cũng khen ta “Hay thay” và cũng đều thọ ký cho ta đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, cùng sai sứ giả đến đem lời an ủi khích lệ cho ta, khiến đại chúng ở đây đều được nghe thấy. Ta sẽ ở đây, vì đời sau lập thệ nguyện thành tựu đầy đủ tâm đại bi của Bồ-tát, khiến về sau, cho đến khi ta đạt được đạo quả Bồ-đề nếu có chúng sinh nào được nghe lời nguyện của ta thì họ cũng thấy được việc hết sức hy hữu. Lại nữa, sau này như có Bồ-tát nào thành tựu đầy đủ tâm đại bi thì cũng khiến họ lập nguyện nhận lấy cõi Phật như vậy để chứng đắc đạo quả Bồ-đề. Trong thế giới ấy, những chúng sinh không biết Chánh pháp, sống nơi tối tăm, bệnh tật, bị trói buộc, chìm đắm theo sinh tử thì các vị Bồ-tát ấy sẽ cứu vớt, dẫn dắt, vì các chúng sinh ấy thuyết giảng đạo pháp. Cho đến sau khi ta nhập Niết-bàn, các Đức Phật Thế Tôn trong vô biên cõi Phật nhiều không thể lường tính, không thể nghĩ bàn, đều ở trước chúng Bồ-tát xưng tụng, tán thán ta, lại vì các Bồ-tát ấy thuyết giảng về những thệ nguyện của ta, khiến các Bồ-tát đều tiếp nhận được diệu lực của tâm đại bi, nghe được lời nguyện của ta là được nghe một việc chưa từng có, đối với chúng sinh, họ đều dấy khởi tâm đại bi, phát nguyện như ta hôm nay không khác, tức cũng thành tựu đạo quả Bồ-đề nơi thế giới xấu ác có đủ năm thứ ô trược ở trong bốn dòng nước dữ cứu thoát muôn loài mù tối, đem Ba thừa giáo pháp hóa độ họ, cho đến khi đạt được đạo quả Niết-bàn.

Này thiện nam tử, quốc sư Bà-la-môn Hải Tế suy nghĩ về tâm nguyện đại bi đầy đủ như thế rồi, bèn sửa lại y phục, bày vai áo bên phải, đi đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai. Ngay khi ấy có hàng ức na-do-tha trăm ngàn chư Thiên nơi hư không tấu lên hàng ức thiên nhạc, mưa xuống thiên hoa và đồng thanh khen ngợi:

 -Hay thay! Hay thay! Bậc Đại trượng phu đang đi đến chỗ Đức Thế Tôn để phát diệu nguyện, đem nước trí tuệ diệt trừ mọi thứ phiền não, khổ buộc của chúng sinh trong cõi đời.

Bấy giờ, tất cả đại chúng đều chắp tay hướng về Đại sư đồng thanh tán thán:

-Hay thay! Hay thay! Bậc được trí tuệ vi diệu, đem lại lợi ích nhiều cho chúng con. Ý nghĩa mầu nhiệm trong thệ nguyện bền vững của Ngài chúng con muốn được nghe.

Khi Đại sư đến chỗ Đức Thế Tôn, gối phải vừa quỳ xuống đất, thì nơi cõi Phật Sanđề-lam cùng cả ba ngàn Đại thiên thế giới đều hiện đủ sáu cách chấn động. Mọi thứ chuông, linh, loa, trống tự nhiên vang lên. Chim chóc, muông thú đều phát ra âm thanh êm dịu, các loại cây khô trên thế gian đều ra hoa lá. Tất cả chúng sinh trụ nơi đại địa trong ba ngàn đại thiên thế giới này, hoặc đã được khuyên phát tâm Bồ-đề, hoặc chưa được khuyên, ngoại trừ ba nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tất cả đều đạt được những tâm: tâm lợi ích rộng lớn, tâm thuần thiện, tâm không oán hại, ganh ghét, tâm không uế trược, tâm Từ bi, tâm chưa từng có thảy đều sung mãn. Các chúng sinh trụ trên đều được thấy hoan hỷ, nên dùng các loại hoa, hương, âm nhạc, cờ phướn, lọng báu, y phục với âm thanh êm dịu cúng dường khen ngợi, vì họ muốn được nghe thệ nguyện của Đại sư. Cho đến cả chư Thiên cõi trời A-ca-ni-trá cũng xuống cõi Diêm-phù-đề trụ giữa hư không, mang theo cấc thứ thiên hoa, thiên hương, cờ phướn, dù lọng... để cúng dường vì muốn được nghe lời phát nguyện ấy. Bấy giờ, Bà-la-môn Hải Tế chắp tay đọc kệ ngợi khen Đức Bảo Tạng Như Lai:

An trụ Tam-muội như Phạm vương
Dung quang uy nghiêm như Đế Thích
Bố thí tài sản như Luân vương
Giữ gìn châu báu như Thần chủ.
Đức hiền hòa, rống tiếng Sư tử
Kiên cố, chẳng động như Tu-di
Dứt mọi sân giận tâm như biển
Hiện nhẫn, tốt xấu tâm như đất.
Như dòng nước lớn diệt cấu uế
Rừng kết sử đã thiêu đốt sạch
Như gió lướt không chút vướng mắc
Mở bày chân thật như Đại thiên.
Tuôn mưa pháp vũ như Long vương
Chúng sinh thế gian thảy sung mãn
Như Luận sư hàng phục ngoại đạo
Hương đức tỏa ngát như hoa Trời.
Âm thanh hòa nhã như Phạm thiên
Như Đại y vương trừ khổ não
Tâm bình đẳng khắp như mẹ hiền
Như cha lành nhiếp phục muôn loài.
Như kim cang phá trừ oán kết
Chặt đứt nhanh ái như kiếm thần
Là thuyền trưởng cứu vớt chúng sinh
Là bậc Giác ngộ ba trí tuệ.
Như mặt trăng tỏa sáng trong, dịu
Như mặt trời muôn hoa người nở
Bốn quả quý sinh từ cây quý
Thánh chúng vây quanh như phượng hoàng.
Ý ngài sâu rộng như biển cả
Tâm luôn bình đẳng như cỏ cây
Quán tánh các pháp thảy đều không
Tùy thuận, hòa hợp như dòng nước.
Phật đã thọ ký cho bao người
Thành tựu diệu tướng đủ đại bi
Con cũng khuyên hóa vô lượng chúng
Nay xin Phật thọ ký cho con
Đời năm trược thành bậc giác ngộ
Đưa chúng sinh đến nẻo giải thoát

Thiện nam tử, Đại sư Bà-la-môn Hải Tế dùng kệ tán dương Đức Bảo Tạng Như Lai rồi tức thì tất cả đại chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, người đời đều khen ngợi:

-Hay thay! Hay thay!”.

Đại sư lại bạch Phật:

- Thưa Đức Thế Tôn, con đã khuyến hóa được nhiều ức na-do-tha trăm ngàn chúng sinh đến với đạo Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Những chúng sinh ấy, mỗi người đã quan sát và nhận lấy cõi Phật vi diệu đem tâm ý thanh tịnh vun trồng các căn lành, dễ dàng trong việc hóa độ chúng sinh. Một ngàn bốn trăm người: như đồng tử Nguyệt Man... đều thông hiểu bốn bộ Tỳ-đà-la... Đức Như Lai đã thọ ký cho họ trong Hiền kiếp sẽ thành Chánh giác. Các bậc Trượng phu đó cũng đem Ba thừa giáo pháp hóa độ các chúng sinh nhiều tham dục, sân giận, ngu si, chấp ngã khiến họ an trụ nơi ba thứ giáo pháp ấy. Nhưng rồi các vị ấy cũng rời bỏ cõi thế gian xấu ác, phiền não, kết sử nặng nề, cũng lìa bỏ chúng sinh tạo nghiệp vô gián, bài báng Chánh pháp, hủy hoại Thánh hiền, theo tà kiến, từ bỏ bảy thứ tài sản Thánh thiện, không biết phụng dưỡng cha mẹ, không biết kính trọng Sa-môn, không biệt đãi Bà-la-môn, không biết làm ân, không biết tạo phước đức, không sợ quả báo đời sau, không cầu ba đức lành nơi cõi trời, người, tạo ba việc bất thiện, theo mười nghiệp ác, bị tất cả thiện tri thức ruồng bỏ, tất cả bậc trí tuệ đều chê trách, bị dòng nước dữ phiền não trong ba cõi cuốn trôi, mất hút trong sông tro nung đốt trong sinh tử, do ngu si, mê mờ che phủ, nên lìa bỏ các nghiệp lành. Những chúng sinh như vậy, thế giới của chư Phật không dung nạp, ruồng bỏ nên đến tập hợp ở thế gian này. Do lìa bỏ căn lành, luôn tích tập các căn chẳng lành, bị khốn đốn nơi tà đạo, sống trong cảnh sinh tử khổ não mênh mông. Thế giới Ta-bà, trong Hiền kiếp, tuổi thọ của con người chuyển đến mức một ngàn năm, thì vào lúc ấy, các hạng trí giả và các bậc trượng phu xuất chúng kia cũng đều bỏ rơi các chúng sinh xấu ác kia. Bấy giờ, những chúng sinh đó cũng sẽ bị nhân duyên sinh tử trong ba cõi bức bách, sẽ rơi vào tình trạng không người cứu độ, không có đích để hướng đến, không có chỗ quy y, bị khổ nạn vây hãm. Bỏ rơi các chúng sinh như vậy để nhận lấy cõi Phật tịnh diệu, chọn lấy chúng sinh tâm ý thanh tịnh dễ hóa độ, đã vun trồng các căn lành, tinh tấn không biếng trễ, từng gần gũi cúng dường chư Phật để hóa độ. Thưa Đức Thế Tôn, sự việc thế có nên chăng?

Đức Bảo Tạng Như Lai bảo:

-Đúng thế! Đúng thế! Này bậc Đại sư, Ta tùy theo chỗ lập nguyện của họ xin chọn cõi Phật trang nghiêm như thế nào mà thọ ký cho họ như thế!

Đại sư Hải Tế thưa:

-Bạch Đức Thế Tôn, tâm con dao động như tàu lá chuối, tình ý ưu tư, thân thể tiều tụy. Tất cả các vị Đại Bồ-tát này đều phát tâm đại bi, nhưng lại xa lánh cõi xấu ác đầy dẫy, bỏ rơi tất cả chúng sinh đang ở chốn tối tăm. Bạch Đức Thế Tôn, vào đời vị lai, trải qua một hằng hà sa số a-tăng-kỳ rồi qua hai hằng hà sa số a-tăng-kỳ, đến phần còn lại của hằng hà sa số a-tăng-kỳ thứ ba trong kiếp Hiền, đợi đến khi thọ mạng của người đời còn một ngàn năm, con có thể vào thời điểm ấy sống nơi sinh tử mà thành hạnh Bồ-tát, không dùng nguyện lực mà sẽ thực hành sáu Ba-la-mật để hóa độ chúng sinh, đúng như Đức Phật đã dạy: “Nên đem tài vật mà bố thí, đó là pháp Bố thí ba-la-mật”. Khi con thực hành Bố thí ba-la-mật nếu có chúng sinh theo con cầu xin các vật cần dùng thì con sẽ cung cấp đầy đủ các thứ ăn uống, y phục, vật dụng để nằm ngồi, vườn rừng, phòng xá, đồ trang sức, hương hoa, thuốc men chữa bệnh, cờ phướn, dù lọng, của tiền, ngựa voi, xe cộ, vàng bạc, các thứ ngọc báu Ma-ni trân châu, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, mai khôi, cùng các thứ báu khác... Vì luôn thương tưởng đến chúng sinh nên con hoan hỷ thực hành bố thí như thế, nhằm hóa độ chúng sinh nên không mong cầu quả báo, vì dốc để nhiếp phục chúng sinh nên luôn bố thí đầy đủ. Nếu có chúng sinh cầu xin những thứ rất khó lìa bỏ, con cũng đáp ứng cho họ, như là cầu xin nô tỳ, làng xóm, thành ấp, cung điện, ngôi vua, thê thiếp, con cái, cả tay, chân, mắt, mũi, tai, lưỡi, da dẻ, máu, thịt, xương tủy, cả đến thân mạng... vì luôn thương tưởng chúng sinh nên con rất hoan hỷ đem bố thí những thứ như vậy, không cầu phước báo, chỉ nhằm nhiếp phục hóa độ chúng sinh. Con sẽ thực hành pháp Bốthí ba-la-mật như thế. Từ trước, chưa từng có Bồ-tát nào cầu đạo Giác ngộ Vô thượng có thể hành Bố thí ba-la-mật như thế. Về sau, cũng không có Bồ-tát nào cầu đạo quả Bồ-đề tối thượng, thực hiện được cuộc đại thí như vậy. Trong vô lượng a-tăng-kỳ ức na-do-tha trăm ngàn kiếp, tại những nơi sinh ra, con luôn dốc cầu đạo Giác ngộ Vô thượng, thực hành Bố thí ba-la-mật. Con sẽ làm cho các vị Bồ-tát có đủ tâm đại bi sau này muốn cầu đạo quả Giác ngộ Tối thượng, hành hạnh Bồ-tát cũng sẽ phát tâm thực hiện Bố thí ba-la-mật như vậy. Khi con thực hành Trì giới ba-la-mật, vì dốc cầu đạo quả Giác ngộ Vô thượng nên luôn hành trì giới luật, tu tập những hạnh khó làm, hạnh khổ vô cùng, như trước đã nói. Ở nơi cảnh giới không đọa lạc, quán thân ta là vô ngã, đó là Nhẫn nhục ba-la-mật, con sẽ tu tập pháp Nhẫn nhục ba- la-mật như đã nói ở trên. Lại nhàm chán các pháp hữu vi là khổ, không, thấy rõ các pháp vô vi tịch tĩnh nên dốc tu tập đạo Vô thượng không thoái chuyển, đó là Tinh tấn ba-la-mật. Đối với tất cả các nẻo tạo tác đều lìa bỏ, hành trì bình đẳng tâm không, đó là Thiền ba-la-mật. Thật sự thấu rõ tánh của các pháp vốn không sinh nên không diệt, đó là Bát-nhã ba-la-mật. Trong vô lượng a-tăng-kỳ ức na-do-tha trăm ngàn kiếp, con sẽ đem hết dũng lực kiên trì để thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Trước con, không có Bồ-tát nào cầu đạo Giác ngộ Vô thượng đủ dũng lực kiên cố hành trì Bát-nhã ba-la-mật như con. Sau này, cũng không có Bồ-tát nào khi cầu đạo Chánh đẳng Chánh giác Tối thượng đủ dũng lực, kiên cố để thực hành Bát-nhã ba-la-mật như con đã làm. Đối với các Bồ-tát đầy đủ tâm đại bi nơi đời vị lai, cầu đạo Bồ-đề Vô thượng, muốn tạo lập được công đức trí tuệ, thì khi con mới phát tâm, sẽ vì họ mà thị hiện tâm đại bi cho đến khi vào Niết-bàn. Để các vị Bồ-tát kia chứng kiến được điều chưa từng có, nên con không xem nhẹ việc tu hành bố thí, trì giới. Con không dựa nơi nhẫn nhục, không nhớ nghĩ về tinh tấn, không an trụ nơi thiền-na, không tham đắm nơi trí tuệ, không phân biệt ngã và ngã sở, không cầu quả báo. Tất cả chúng sinh bị bỏ rơi nơi cõi không Phật, nghèo kiệt về bảy thứ của cải thánh thiện, tạo nghiệp Vô gián, bài báng Chánh pháp, hủy hoại Thánh hiền, đều theo tà kiến, tích tập các căn chẳng lành, bị đọa lạc nơi biển khổ mênh mông, bị các thứ tà đạo làm cho khốn đốn, nên con đem hết dũng lực để thực hiện các pháp Ba-la-mật. Để làm cho mỗi mỗi chúng sinh có được hạt giống thiện căn thì dù cho trong mười đại kiếp phải bị thống khổ nơi địa ngục A-tỳ, con cũng cam chịu. Đối với các hàng súc sinh, ngạ quỷ, Dạ-xoa, người khốn cùng... con cũng thực hành hạnh khổ ấy. Cũng để cho tất cả chúng sinh có được hạt giống thiện căn, từ nay cho đến hết giới hạn của kiếp Hiền, con sẽ nhiếp phục, hóa độ họ không biết mệt mỏi, dù họ mất hết chánh niệm, tâm ý luôn bị khổ não thiêu đốt. Con chẳng cầu phước báo vinh hoa của cõi trời, người, ngoại trừ khi là Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ sinh nơi cõi trời Đâu-suất để chờ chứng đạo quả Bồ-đề.

Bạch Đức Thế Tôn, con nguyện ở mãi trong sinh tử, thân cận với chư Phật nhiều như số vi trần, trong một cõi Phật, đem vô số các vật cần dùng nhiều như số vi trần nơi một cõi Phật để cúng dường cho từng vị Phật, ở mỗi mỗi vị Phật, sẽ đạt được công đức nhiều như số vi trần nơi một thế giới Phật. Con đem đạo Bồ-đề khuyến hóa cho vô số chúng sinh nhiều như số vi trần trong cõi Phật. Đối với hàng Bích-chi-phật thừa, Thanh văn thừa cũng khuyến hóa như vậy, tùy theo ý muốn của chúng sinh mà chỉ dạy. Nếu ở thế giới nào không có Phật con nguyện làm Tiên nhân, dùng các nghiệp thiện để giáo hóa khiến họ an trụ nơi thần thông. Như có chúng sinh theo tà kiến phụng thờ trời Đại tự tại, con nguyện hiện thân như trời Đại tự tại đem nghiệp lành khuyến hóa họ.

Hoặc hiện thân Na-la-diên Nhật Nguyệt cho đến hiện cả hình tướng Phạm thiên đem pháp thiện để khuyến hóa. Hoặc hóa hiện hình tượng Ca-lâu-la, để khuyên hóa loài chim Ca-lâu-la tu các hạnh thiện, thậm chí con còn hiện cả hình tướng loài thỏ để giáo hóa đối với những chúng sinh đói khát, con nguyện đem cả máu thịt để bố thí khiến họ được no đủ. Nếu có chúng sinh phạm các tội, con nguyện đem thân mạng mình chịu tội thay để cứu độ họ. Bạch Đức Thế Tôn, vào đời vị lai, con nguyện đem hết dũng lực tu tập các hạnh nguyện khó nhằm hóa độ những chúng sinh đã mất hết căn lành, sẽ vì họ mà chịu các thứ khổ nạn thống thiết trong sinh tử. Cho đến trải qua một hằng hà sa số a-tăng-kỳ kiếp, tới phần còn lại của hằng hà sa số a-tăng-kỳ kiếp thứ hai, bắt đầu vào Hiền kiếp, bấy giờ đồng tử Nguyệt Mạn thành tựu quả Bồ-đề Vô thượng, hiệu là Ca-la-ca-tôn-đà Như Lai, con nguyện dùng tuệ nhãn nhìn thấy các Đức Phật Thế Tôn hiện trụ thế, chuyển pháp luân trong hàng ngàn cõi Phật với số thế giới nhiều như vi trần khắp mười phương. Từ đó, bước đầu con sẽ giáo hóa các chúng sinh xa lìa thiện căn, tích tập các căn chẳng lành, nghèo thiếu về bảy thứ Thánh tài, tất cả bị bỏ rơi nơi thế giới không có Phật tạo nghiệp vô gián, bài báng Chánh pháp, hủy hoại Thánh hiền cho đến bị bức bách trong nẻo tà đạo, khốn khổ nơi biển sinh tử mênh mông. Trước tiên, con vì những chúng sinh này mà ca ngợi đạo Giác ngộ Tối thượng, rồi đem đạo ấy để khuyến hóa, khiến họ an trụ trong đó, lần lượt tu tập Bố thí ba-la-mật, cho đến Trí tuệ ba-la-mật, tạo được hạt giống thiện căn nơi Niết-bàn vô thượng cho những chúng sinh ấy, cứu họ ra khỏi cõi ác, an lập nơi phước đức, trí tuệ, từ đó, đưa họ đến chỗ các Đức Phật Thế Tôn hiện trụ thế để được thọ ký đạo quả Chánh giác Vô thượng đạt được Tam-muội, Đà-la-ni, Nhẫn nhục, chứng đắc địa thứ nhất. Đó là con trước đã khuyến hóa chỉ dẫn những chúng sinh kia lập nguyện chọn lấy cõi Phật trang nghiêm, rồi theo ý nguyện họ đã chọn lấy cõi Phật trang nghiêm như thế.

Lúc ấy, mới vào Hiền kiếp, trong ngày xuất hiện ở đời của đức Ca-la-ca-tôn-đà Như Lai, xin cho con được thấy các Đức Phật Thế Tôn hiện trụ thế vì chúng sinh thuyết pháp trong hàng ngàn cõi Phật với vô số thế giới nhiều như vi trần khắp mười phương. Đức Ca-la-ca-tôn-đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc thành Phật chưa lâu, con sẽ đến nơi chỗ Ngài, đem các thứ vật dụng để cúng dường, cung kính thưa hỏi về pháp xuất gia tu giới, để trở nên người nghe biết nhiều tu tập các pháp môn Tam-muội, thuyết phấp hơn hết, ngoại trừ Đức Như Lai. Vào lúc đó, con sẽ dốc sức hóa độ các chúng sinh nào khô kiệt căn lành, tích tập căn bất thiện, rơi trong đường tà kiến, tạo nghiệp Vô gián... chịu bao nỗi khổ não, luôn vì họ thuyết pháp. Sau ngày mặt trời Phật lặn rồi, con sẽ thực hiện vô số Phật sự, kể cả thời Đức Ca-na-ca Mâu-ni Đức Phật Ca-diếp... trụ thế thuyết pháp, con cũng đi đến trú xứ của các ngài làm đủ mọi Phật sự như thế. Lần hồi cho tới khi kiếp người thọ một ngàn năm, con dùng ba thứ phước địa để an lập chúng sinh. Qua thời gian này con vãng sinh lên cõi trời, vì chư Thiên thuyết giảng đạo pháp để hóa độ họ, cho đến khi chúng sinh ở cõi Ta-bà thọ một trăm hai mươi tuổi, họ vô cùng ngu tốì, kiêu mạn, dựa vào sắc tướng, ỷ vào dòng giống, không hiểu biết, mang nhiều ganh ghét, giận dữ, sống nơi năm thứ ô trược tối tăm, đầy những tham dục, nhiễm đắm, sông theo những điều phi pháp, tin theo tà kiến điên đảo, không có bảy thứ tài sản của bậc Thánh, bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính Sa-môn và Bà-la-môn, chẳng biết làm ân, không tạo phước đức, chẳng sợ quả báo ở đời sau, không tu ba thứ phước địa, không cầu đạo quả của Ba thừa, không tu ba nghiệp lành, chuyên làm ba điều ác, chẳng tu mười nghiệp lành, lại ưa tạo mười hành vi bất thiện, bị bốn thứ điên đảo che lấp, sống trong bốn việc phá giới, thuận theo bốn thứ ma, trôi theo bốn dòng nước dữ, thường bị năm triền cái, sáu tình làm cho hôn ám, mê muội, chìm đắm nơi tám tà tạo vô số tội lỗi, luôn dấy khởi các kết sử, không cầu phước báo nơi cõi trời, người, bị các tà kiến, điên đảo dẫn dắt, tạo nghiệp vô gián, bài báng Chánh pháp, hủy hoại Thánh hiền, xa lìa các thiện căn, bướng bỉnh, thô bạo, chẳng biết ân nghĩa, thấy người làm việc thiện thì sinh tâm ác chê bai, trí tuệ kém cõi, ít học hỏi, hay quên, các căn không đầy đủ thiếu dũng lực, thân tướng suy nhược, tiều tụy. Họ luôn gần gũi với bạn xấu. Bệnh hoạn khiến họ khốn đốn, xấu xí, nhìn nhau không biết xấu, không chút hổ thẹn, lại còn khủng bố lẫn nhau. Trong khoảng một bữa ăn ngắn, thân khẩu ý của họ đã tạo ra nhiều nghiệp ác. Do làm ác được khen ngợi nên chấp theo thường kiến, đoạn kiến, sinh tâm tham đắm nơi thân năm ấm, tâm tham luyến năm dục, sinh vui thích, tâm dao động, tâm kinh dể, tâm oán hận, tâm uế trược, tâm thô bỉ, tâm giận dữ, tâm chẳng điều phục, tâm chẳng giữ gìn, tâm chẳng hòa nhã, tâm chạy theo việc phi pháp, tâm không an trụ, tâm cầu xin nhờ cậy, tâm tán loạn, tâm hãm hại nhau, tâm lìa pháp lành, tâm không báo đáp, tâm có mưu toan, tâm tiêu diệt điều thiện, tâm không phát sinh điều thiện, tâm chẳng cầu Niết-bàn tịch tĩnh, tâm chẳng biết cúng dường, tâm tích tập tất cả các thứ trói buộc, tâm cho sinh lão bệnh tử không do nhân duyên, tâm thọ lãnh các phiền não, tâm chấp nhận tất cả các thứ chướng ngại, tâm hủy hoại cờ Chánh pháp, tâm dựng lập cờ tà kiến, tâm hay chỉ trích, hủy hoại nhau, tâm ăn nuốt lẫn nhau, tâm tự đề cao mình, tâm gây khốn khó cho kẻ khác, tâm ganh ghét dữ dội, tâm giết hại nhau, tâm ham muốn không biết chán, tâm thấy người khác có của thì ghét ganh, tâm không biết ân, tâm trộm cắp, tâm tà dâm, tâm dối gạt, tâm không dấy khởi thệ nguyện lành. Đó là những điều chúng sinh thời ấy có, trong đó, chúng sinh tuần tự nghe được những âm thanh như: âm thanh địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; âm thanh bệnh, lão, tử; âm thanh mưu hại tạo nạn; âm thanh xiềng xích, gông cùm, trói buộc, giam cầm; âm thanh tra khảo đau đớn; âm thanh nói chuyện thị phi; âm thanh mạ lỵ, âm thanh xuyên tạc; âm thanh hủy hoại mọi người; âm thanh trộm cắp; âm thanh chiến tranh; âm thanh đói kém; âm thanh tham dục, tà dâm; âm thanh vọng ngữ; âm thanh cuồng si; âm thanh nói thêu dệt; âm thanh ác khẩu; âm thanh nói hai lưỡi; âm thanh ganh ghét; âm thanh tích chứa điều xấu; âm thanh tranh giành; âm thanh chấp ngã âm thanh yêu ghét; âm thanh vừa ý không vừa ý; âm thanh yêu thương phải chia lìa, ghét bỏ phải gặp gỡ; âm thanh buôn bán; âm thanh mặc cả mua bán với nhau; âm thanh ở trong thai; âm thanh xú uế; âm thanh lạnh, nóng; âm thanh đói, khát; âm thanh mệt mỏi; âm thanh bệnh tật, đau đớn; âm thanh trồng trọt; âm thanh của vô số các thứ nghiệp lo buồn; âm thanh đủ các thứ khổ bức bách; âm thanh của vô số các thứ dịch bệnh. Các chúng sinh ở đây lần lượt cùng nghe bốn mươi lăm thứ âm thanh ấy, bỏ mất các căn lành, thiếu thiện tri thức, tâm ác đầy dẫy, cả cõi Ta-bà bấy giờ chúng sinh là như thế bị tất cả các vị Bồ-tát từ bỏ, ở thế giới không có Phật, nên không biết bố thí, trì giới, tu định, không tu theo nghiệp thiện mà tích tập các pháp bất thiện. Con sẽ đem tám Thánh đạo tế độ muôn loài qua khỏi biển sinh tử đến thành vô úy. Bấy giờ chúng sinh do duyên kết nhiều nghiệp ác nặng nề nên cõi Ta-bà của Phật : rất là xấu ác vì ở đây không còn việc tu tạo phước đức, gieo giống thiện căn. Đất đai khắp nơi hóa ra chất mặn, hoặc cằn cỗi, đất đá, núi non lồi lõm không bằng phẳng, nhiều côn trùng độc hại như: muỗi, ruồi, rắn độc, cùng chim, thú dữ. Lại có gió trái thời nổi lên dồn dập, mưa to không phải lấc, tạo mọi thô nhám uế tạp đủ loại, rồi mưa đá, sương mù kéo theo tai họa. Đất đai cũng sinh ra các thứ cây cỏ xấu. Cành lá hoa trái, các giống ngũ cốc, các thứ dùng để ăn uống nuôi thân của chúng sinh đều trái thời vụ, nhiễm bẩn, độc hại. Các chúng sinh kia ăn uống các thứ đó đều tăng trưởng sự thô ác, giết hại, dối trá, huyên thuyên thị phi, chẳng cung kính nhau, sinh tâm sợ hãi, tâm ganh ghét, tâm muốn hãm hại nhau. Họ uống máu, ăn thịt, dùng da làm áo, thích mang binh khí, chém giết hủy hoại, ỷ thị nơi sắc tộc, giàu sang, theo thuật toán số, phóng ngựa, gảy đàn, người người đánh nhau, ganh tỵ ngạo mạn, tu tập theo cấc pháp tà, chịu vô số khổ. Bấy giờ, con sẽ từ cõi trời Đâu-suất hạ sinh, nhằm hóa độ cho chúng sinh có được căn lành thuần thục nên con nhập thai nơi phu nhân bậc nhất của dòng vua Chuyển luân tối thượng. Khi đó, con sẽ phóng ánh sáng thanh tịnh tỏa chiếu khắp thế giới Ta-bà, trên đến tận cõi trời A-ca- ni-trá, dưới đến cùng tận nền Kim luân, khiến cho chúng sinh ở thế giới Ta-bà ấy, hoặc tại địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, hoặc trên cõi trời, hoặc trong loài người, tại sắc giới, Vô sắc giới, Hữu tưởng, Vô tưởng, Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ, đều được các loài chúng sinh đó thảy trong thấy ánh sáng kia chạm vào thân thể khiến cho tất cả chán nỗi khổ trong vòng sinh tử, thích cầu đạo Niết-bàn cho đến trụ nơi tâm diệt hết mọi thứ phiền não. Đó là bước đầu tiên con gieo hạt giống đạo Giác ngộ giải thoát. Nguyện con mười tháng ở trong thai mẹ biết chọn lựa được tất cả các pháp để thâm nhập vào tất cả các pháp môn, đó là môn Vô sinh, môn Không, môn Tam-muội. Lại nữa, nếu con ra khỏi thai, đắc quả vị Phật thì những chúng sinh chán lìa sinh tử mà con đã hóa độ đó, khiến cho suốt trong mười tháng đều thấy con ngồi kiết già nơi thai, nhất tâm với chánh định như ngọc Ma-ni hiển hiện. Mãn mười tháng, khi sinh, con đem tất cả phước đức nơi Tam- muội đã được tích tập khiến cho khắp thế giới Ta-bà đều hiện đủ sáu cách chấn động, trên lên tận cõi trời A-ca-ni-trá, dưới xuống tận cõi Kim luân. Lúc này, các chúng sinh sống ở cõi Ta-bà, hoặc tại địa ngục, cho đến trong loài người thảy đều tỉnh ngộ. Con sẽ từ hông bên phải của mẹ ra đời, lại dùng ánh sáng vi diệu chiếu khắp thế giới Ta-bà, không đâu là không tỏa đến, cũng lại giác ngộ cho tất cả chúng sinh chưa trồng căn lành, hoặc đã gieo trồng hạt Niết-bàn. Đối với các chúng sinh đã gieo hạt giống Niết-bàn rồi thì khiến phát sinh mầm mống Tam-muội, lập thệ nguyện. Khi chân con vừa giẫm lên đất thì khiến cho thế giới Ta-bà này có đủ sáu cách chấn động từ nền Kim luân lên đến cõi trời A-ca-nitrá, tất cả chúng sinh đang sống trên mặt đất, nơi hư không, dưới nước thuộc noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh trong năm nẻo đều được giác ngộ. Các chúng sinh chưa phát sinh mầm mống, lập nguyện thì sẽ khiến họ phát sinh. Đã lập thệ nguyện rồi thì khiến họ được Bất thoái chuyển, an trụ nơi Ba thừa.

Nguyện khi con ra đời tại thế giới Ta-bà thì các vị Đại phạm, Ma vương, Đế Thích, Nhật Nguyệt, Hộ thế, cùng chư Thiên, Long vương, A-tu-la, Dạ-xoa, La-sát, Rồng, hóa hiện oai đức lớn, tất cả cùng đến cúng dường con. Nguyện cho con vừa ra đời liền đi bảy bước, liền tập hợp tất cả phước đức nơi Tam-muội để thuyết pháp, khiến cho các đại chúng đó đều được an trụ nơi Ba thừa. Trong đại chúng này, nếu có người cầu Thanh văn thừa con sẽ hóa độ khiến trụ nơi sau cùng thì được giải thoát. Hoặc có người cầu Bích-chi-phật thừa thì sẽ khiến cho tất cả đều được pháp nhẫn Hiển minh hoa. Có chúng sinh cầu pháp Đại thừa vô thượng thì sẽ khiến cho tất cả đều đạt được pháp tam-muội Kim cang trì hải bất động. Nhờ pháp Tam-muội này nên họ chứng được bậc Tam địa.

Khi con muốn được tắm thì khiến cho vị Long vương tối thắng trong đại chúng này đến tắm rửa cho con, các chúng sinh nào được thấy con tắm thì khiến cho họ được trụ nơi Ba thừa, có được công đức như đã nói.

Khi còn là đồng tử dạo chơi và các hành động khác chỉ là nhằm thị hiện để giáo hóa chúng sinh. Như ở nơi cung điện cùng đám thể nữ thọ hưởng năm dục lòng sinh nhàm chán, nửa đêm vượt thành ra đi, vứt bỏ ngọc anh lạc cùng các thứ đồ trang sức nơi thân. Vì để hàng phục các đám dị học như Ni-kiền-đà-già-la-ca..., nên con mặc Pháp phục đến bên gốc cây Bồ-đề. Những chúng sinh thấy con đến nơi ấy thì con sẽ tập hợp tất cả phước đức để thành tựu diệu lực Tam-muội, vì những chúng sinh này thuyết giảng đạo pháp, khiến tất cả họ đều dốc cầu đạo quả Tam thừa. Trong số này nếu có người đã gieo sẵn giống Thanh văn thì khiến cho tất cả chúng sinh đó đạt quả thuần thục, ở đời cuối cùng theo con sẽ được hóa độ. Những ai cầu quả vị Bíchchi-phật thừa thì khiến cho tất cả đều được pháp nhẫn Hiển minh hoa. Hoặc có chúng sinh vun trồng hạt giống Đại thừa thì khiến đều đạt được pháp tam-muội Kim cang trì hải bất động, nhờ pháp Tam-muội này nên họ chứng đác bậc Tam địa. Con sẽ tự tay dùng cỏ bày cạnh gốc cây Bồđề làm tòa ngồi Kim cang, ngồi kiết già, thân ngay, ý chính sẽ vào cõi thiền bất động khiến cho hơi thở ra vào an trụ trong vắng lặng. Ngày ngày con chỉ một lần con xuất định, ăn nửa hạt mè, còn nửa hạt đem bố thí cho người. Trong thời gian ấy, con sẽ tu hạnh khổ như vậy, khiến cho khắp thế giới Ta-bà lên đến cõi trời A-ca-ni-trá, ai nghe tên con đều tìm đến cúng dường, tất cả đều chứng kiến việc tu tập khổ hạnh của con.

Trong số chư Thiên này, nếu người cầu Thanh văn thừa, thưa Đức Thế Tôn, con nguyện giúp họ tiêu trừ được hết các thứ phiền não trói buộc, nơi thân sau cùng ấy theo con được độ thoát. Có người cầu Bích-chi-phật thừa cũng như trước đã nói, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn- na-la, Ma-hầu-la-dà, Ngạ quỷ, Tỳ-xáda, Cưu-bàn-trà, Tiên nhân đạt ngũ thông... đến cúng dường con thì tất cả các chúng ấy đều chứng minh cho việc tu tập khổ hạnh của con.

Nếu những ai cầu đạo quả Thanh văn thừa... cũng như trước đã nói. Đối với pháp tu khổ hạnh của đám dị học ở bốn châu thiên hạ này thì khiến cho chư Thiên và hàng phi nhân đến nói rõ cho họ: “Việc tu tập khổ hạnh của các ông không đạt được qua báo lớn, lại không phải là điều chưa từng có! Nơi đó địa phận của ta có vị Bồ-tát nhất sinh bổ xứ đang tu khổ hạnh, lại nhập thiền định tâm xả bỏ mọi thứ ràng buộc, thân xa lìa mọi hành động, hơi thở ra vào đều vắng lặng, mỗi ngày xuất định một lần, ăn nửa hạt mè. Tu khổ hạnh như vậy thì đạt quả báo rất lớn, đạt được lợi ích lớn, giáo hóa rộng khắp, chẳng bao lâu sẽ thành đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Các ông không tin lời ta thì hãy đến đó mà xem!”. Bạch Đức Thế Tôn, con nguyện cho tất cả những người ấy bỏ các tu tập của mình, đi đến tận nơi xem con tu khổ hạnh, nếu có kẻ đã gieo hạt giống Thanh văn... (như trước đã nói.)

Nếu có các hàng quốc vương, quần thần, trăm quan, dân chúng, tại gia, xuất gia thì khiến cho tất cả đều đi đến chỗ con chiêm ngưỡng cúng dường, nếu có ai cầu quả vị Thanh văn thừa (như trước đã nói.)

Như có người nữ thấy sự khổ hạnh của con đi đến cúng dường thì khiến đời sau họ không còn thọ thân nữ nữa, trong số này có người cầu Thanh văn thừa (như trước đã nói.)

Nếu có các loài cầm thú thấy con tu khổ hạnh thì khiến cho chúng với thân ấy là thân sau cùng, sau khi qua đời không còn trở lại thọ thân súc sinh nữa. Như có loài nào đã phát tâm cầu đạo quả Thanh văn thừa thì chỉ còn một đời theo con để được hóa độ. Hoặc có cầu quả Bích-chi-phật thừa... (như trước đã nói). Các loài súc sinh, ngạ quỷ cũng đều như vậy. Bấy giờ, con ngồi kiết già tu khổ hạnh như thế, khiến cho hàng ức na-do-tha trăm ngàn chúng sinh chứng kiến sự khổ hạnh của con như là được gặp một sự kiện chưa từng có. Những chúng sinh này đã ở trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp gieo hạt giống giải thoát. Con tu khổ hạnh như vậy là nơi quá khứ không có chúng sinh, hay hàng thuật số dị học, hàng Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, Đại thừa vô thượng, nào có thể tu tập được. Sau con, cũng không có chúng sinh, thuật số, dị học, cho đến Đại thừa nào có thể thực hành được như thế. Khi chưa thành đạo quả Chánh giác, con đã làm những việc của bậc Trượng phu hàng phục ma vương và quyến thuộc của chúng, phá trừ mọi phiền não. Con thành đạo quả Bồ-đề tối thượng rồi, sẽ khiến cho chúng sinh ở đó nghe pháp lần thứ nhất đắc quả A-la-hán, nghe pháp lần thứ hai cũng được quả A-la-hán. Như vậy con thuyết pháp lần thứ ba, thứ tư cũng khiến họ đắc quả A-la-hán. Con sẽ vì từng chúng sinh một thị hiện trăm ngàn pháp thần thông khiến họ an trụ nơi chánh kiến, thuyết giảng trăm ngàn vô lượng nghĩa pháp môn đầy đủ, tùy sự lãnh hội của mỗi người mà được đạo quả. Phiền não của chúng sinh như núi cao, con nhất định sẽ dùng chày trí tuệ Kim cang để đập tan, thuyết giảng giáo pháp Ba thừa, vì mỗi một chúng sinh nên lặn lội hàng trăm do-tuần thuyết giảng đạo pháp đem họ về nẻo Vô úy. Hoặc có người muốn xuất gia trong pháp của con thì nguyện của họ không bị những trở ngại như yếu kém, thất niệm, phóng túng, cuồng si, ngang ngạnh, kiêu mạn, ngu tối, trói buộc do phiền não, tâm tán loạn. Nếu có người nữ muốn xuất gia trong pháp của con để học đạo, thọ đại giới thì thành tựu nguyện lớn. Nguyện cho bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưubà-di của con luôn được cúng dường. Nguyện cho chư Thiên và các quỷ thần thấy được bốn Thánh đế. Các chúng Dạ-xoa, Rồng, A-tu-la và các súc sinh thọ tám trai giới và tu tập phạm hạnh.

Thưa Đức Thế Tôn, con thành tựu đạo quả Bồ-đề rồi, nếu có chúng sinh khởi tâm sân hận đối với con, hoặc dùng đao, gậy, lửa, đá đến chỗ của con, nhằm tàn hại hoặc nhục mạ con bằng lời lẽ thô tục, lại còn bài báng nói xấu con khắp mười phương, bỏ độc dược vào đồ ăn uống, đưa cho con thì con sẽ nhận chịu hết các nghiệp quả còn sót lại, như thế để thành tựu đạo quả Bồ-đề Vô thượng. Con thành Bậc Chánh Giác rồi, nếu chúng sinh đối với con trước đây có oán thù, hiềm khích gì, nay mang theo đồ chém giết, các thứ binh khí, dùng những lời lẽ nhục mạ, dùng các thức ăn độc hại đến chỗ con, khiến cho thân con chảy máu, thì con đem tâm đại bi với tiếng nói êm dịu của Phạm thiên, giống như tiếng chuông, tiếng trống, tiếng sấm động để vì chúng sinh đó thuyết giảng giáo pháp về Tam-muội giới văn đem lại cho họ tâm thanh tịnh, khiến họ được an trụ trong nghiệp lành, cải hối nghiệp ác, được đầy đủ tịnh giới. Nguyện cho chúng sinh đó không đánh mất đạo quả giải thoát, xa lìa tham dục dứt sạch lậu, tận trừ chướng ngại của nghiệp báo còn sót lại nơi đời trước.

Thưa Đức Thế Tôn, con thành đạo quả Bồ-đề rồi, hàng ngày, theo số lỗ chân lông trên thân thể con sẽ hiện ra từng ấy vị Hóa Phật có đủ ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân và tám mươi vẻ đẹp. Con sẽ sai các vị Hóa Phật kia đến cõi không có Phật, đến cõi Phật thanh tịnh, đến cõi Phật có đủ năm thứ ô trược nữa. Chúng sinh ở trong các thế giới đó tạo nghiệp Vô gián, bài báng Chánh pháp, hủy hoại Thánh hiền cho đến tích tập các căn chẳng lành. Trong số chúng sinh này, có kẻ cầu Thanh văn thừa, có kẻ cầu Duyên giác thừa, có kẻ cầu Đại thừa, cho dù là giới luật thiếu sót, oai nghi không đủ, phạm các tội căn bản, tâm ý luôn bị thiêu đốt, sai trái với đạo lành, rơi vào vòng luân chuyển vô tận, bị tà đạo làm khốn khổ, chìm đắm trong biển sinh tử mênh mông, con cũng khiến cho từng vị Hóa Phật, hàng ngày vì hàng ức na-do-tha trăm ngàn chúng sinh như thế mà tùy duyên thuyết giảng đạo pháp. Nếu có chúng sinh phụng thờ trời Mahê-thủ-la thì cũng tùy theo đấy hiện hình tướng trời Ma- hê-thủ-la để thuyết pháp, cho họ, tán dương cõi Phật nơi thế giới Ta-bà, khuyến hóa các chúng sinh đó thệ nguyện hồi hướng, nếu họ được nghe danh hiệu con thì khiến họ nguyện sinh về thế giới của con.

Thưa Đức Thế Tôn, như các chúng sinh ấy, lúc sắp mạng chung, nếu con không hiện ra trước mặt họ để thuyết pháp khiến họ phát sinh tâm thiện thì vào đời vị lai con không chứng đắc đạo quả Giác ngộ Vô thượng. Nếu các chúng sinh này sau khi qua đời bị đọa vào ba nẻo ác, không sinh vào thế giới của con để được thọ thân người thì vô lượng pháp mà con đã tu tập lãnh hội sẽ diệt mất hết, mọi Phật sự đều không thành tựu. Với các chúng sinh phụng thờ thần Na-ladiên cũng vậy. Khi con thành tựu đạo quả Bồ-đề rồi, nơi tất cả cõi Phật có những chúng sinh tạo nghiệp Vô gián... bị tà đạo làm khốn khổ, chìm đắm trong vòng sinh tử mênh mông, thì nguyện cho họ sau khi lâm chung được sinh về thế giới của con, tùy theo nghiệp cũ mà thọ thân tướng thô kệch, mạo diện xấu xí như Tỳ-xá-già, lại thất niệm, nhiều lỗi lầm, phá giới, uế tạp, lắm bệnh, đoản mạng, các thứ xấu ác này làm tổn giảm thọ mạng. Vì những chúng sinh này nên con ở nơi bốn châu thiên hạ trong thế giới Ta-bà, vào một lúc nọ từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ thị hiện sinh ra, lớn lên, làm đồng tử dạo chơi, học tập các thứ ngành nghề kỹ xảo, xuất gia tu khổ hạnh, hàng phục Ma vương, thành đạo Bồ-đề Vô thượng, chuyển pháp luân, thực hiện đầy đủ mọi Phật sự ở bốn châu thiên hạ rồi mới nhập Niết-bàn để lại xá-lợi.

Thưa Đức Thế Tôn, con thành đạo Bồ-đề rồi, sẽ dùng một loại âm thanh để thuyết giảng chánh pháp. Các chúng sinh nào cầu Thanh văn thừa nghe Phật thuyết pháp liền hiểu được Pháp tạng của Thanh văn. Có chúng sinh cầu Duyên giác thừa thì khiến họ lãnh hội được pháp Nhân duyên. Nếu các chúng sinh cầu Đại thừa vô thượng thì nghe Phật nói pháp liền hiểu rõ về pháp Đại thừa thuần nhất không xen tạp. Chúng sinh nào chưa đủ công đức, muốn cầu đạo quả Bồ-đề, thì khiến họ hiểu rõ về pháp môn Bố thí. Nếu có chúng sinh thiếu phước đức, Cầu sinh lên cõi trời thọ hưởng diệu lạc, nghe Phật thuyết pháp lần lượt hiểu rõ về Giới. Chúng sinh nào tâm giận dữ, sợ hãi lẫn nhau nghe Phật nói phấp thì lãnh hội đầy đủ về pháp môn Từ. Nếu có những chúng sinh ưa tạo nghiệp giết hại, thì sẽ khiến họ hiểu rõ được phép môn Bi. Kẻ có tâm tham lam keo kiệt, ganh ghét thì khiến họ lãnh hội được pháp môn Hỷ. Những chúng sinh nào cậy sắc, ỷ mạnh lòng dục uế tạp thì khiến họ hiểu rõ được pháp Xả. Kẻ có tâm tham đắm ái dục nghe Phật nói pháp liền lý giải được pháp Quán bất tịnh. Chúng sinh nào cầu học Đại thừa mà kiêu mạn, loạn tâm, nghe Phật giảng pháp thì đạt được pháp Thân niệm xứ. Kẻ thiếu trí tuệ cầu được sáng suốt thì nghe Phật nói pháp liền lý giải được pháp Nhân duyên. Kẻ học hỏi thiếu kém nghe Phật giảng pháp thì khiến họ đạt được pháp chẳng quên mất các pháp tổng trì. Các chúng sinh bị rơi vào rừng rậm tà kiến nghe Phật nói pháp thì lãnh hội được pháp Không. Nếu các chúng sinh bị nhiều suy tưởng che lấp tâm ý, nghe Phật nói pháp liền đạt được pháp môn Vô tướng. Kẻ có những nguyện không thanh tịnh che lấp tâm ý, nghe Phật nói pháp liền đạt được pháp Vô nguyện.

Kẻ thân ý không trong sạch thì khiến họ lãnh hội được pháp thân ý nhu hòa. Kẻ bị những hành động tán loạn che lấp tâm ý thì khiến họ hiểu rõ được pháp, chẳng quên mất tâm Bồđề. Kẻ chứa sân si, tham dục, che lấp tâm tư, nghe Phật nói pháp lãnh hội được pháp dứt mọi oán kết. Kẻ khốn khổ vì bị hủy diệt tâm ý thì khiến họ hiểu rõ về pháp vốn không. Kẻ tâm bị não hại thì khiến họ lãnh hội thì được pháp không ganh ghét. Kẻ quên nghiệp lành thì đạt được pháp chiếu soi sáng suốt. Kẻ tạo tác theo nghiệp ma thì lãnh hội được pháp thanh tịnh. Kẻ chìm đắm trong lý luận sai khác thì khiến họ hiểu rõ được con đường giải thoát. Kẻ bị các kết sử trói buộc tâm ý thì rõ được pháp dứt bỏ xa lìa. Kẻ bị lôi cuốn trong thiên kiến tà đạo thì khiến họ hiểu rõ được pháp trở lại đường chínhề Kẻ có tâm cầu pháp Đại thừa thì rõ được pháp chẳng thoái chuyển. Kẻ chán sinh tử thì rõ được pháp ưa hạnh Bồ-tát. Kẻ chưa rõ được cảnh giới thiện, nghe Phật nói pháp liền hiểu được pháp của cảnh giới thiện. Kẻ không ưa nghĩ đến căn lành thì khiến hiểu hoan hỷ. Các chúng sinh tâm chống đối nhau nghe Phật nói pháp thì lần lượt sáng tỏ, vô ngại. Kẻ thường hành theo nghiệp ác thì lãnh hội được pháp tế độ. Kẻ sợ hãi đại chúng thì khiến đạt được pháp tam-muội Sư tử tướng. Kẻ bị bốn thứ ma che lấp tâm ý thì lãnh hội được pháp tam-muội Thủ-lăng-nghiêm. Kẻ không thấy ánh sáng nơi quốc độ Phật thì khiến đạt được vô số tam-muội Quang minh trang nghiêm. Kẻ có tâm yêu ghét thì lãnh hội được pháp Giải thoát và tâm xả. Kẻ không biết Phật pháp sáng tỏ thì khiến đạt được pháp tam-muội Nhất tràng. Người nào xa lìa trí tuệ lớn thì nghe Phật nói pháp thì đạt được tam-muội Pháp cự. Kẻ bị khốn cùng trong ngu si mờ tối thì khiến đạt được pháp tam-muội Nhật đăng quang minh. Kẻ không có khả năng giảng giải giáo pháp, nghe Phật nói pháp liền được vô số công đức ứng đối. Có các chúng sinh xem xét các sắc hòa hợp không bền chắc, như bọt nước, nghe Phật nói pháp liền được tammuội Na-la-diên. Kẻ tâm ý khuynh động thì khiến đạt được tam-muội Kiên lao quyết định. Kẻ bỏ thệ nguyện trước thì khiến đạt được tam-muội Kiên cố. Kẻ thoái chuyển các thần thông thì khiến đạt được tam-muội Kim cang. Các chúng sinh nào đối với Bồ-đề tràng sinh nghi hoặc, nghe Phật nói pháp liền hiểu rõ về Kim cang đạo tràng. Các chúng sinh nào tâm nhàm chán các pháp không, nghe Phật nói pháp liền được tam-muội Kim cang. Kẻ muốn biết tâm của loài khác thì khiến biết được nẻo hành xử. Kẻ muốn biết căn nghiệp của người khác thì khiến thông tỏ được. Kẻ nói chẳng hiểu nhau thì khiến đạt được nẻo ngôn từ thông tỏ. Kẻ chưa đạt được pháp thân, nghe Phật nói pháp liền hiểu rõ, phân biệt các thân. Kẻ mong gặp Như Lai thì khiến đạt được tam-muội Bất tuần. Kẻ phân biệt về các nhân duyên thì khiến đạt được tam-muội Vô tranh. Kẻ có tâm nghi ngờ về Chuyển pháp luân thì khiến đối với việc Chuyển pháp luân tâm đạt thanh tịnh. Kẻ phát sinh tà hạnh không tin nhân quả thì khiến thì khiến lãnh hội rõ các pháp và thuận theo nhân duyên. Kẻ dấy khởi thường kiến về một cõi Phật nghe Phật nói pháp liền phân biệt rõ về vô lượng cõi Phật. Kẻ chưa gieo nhân tướng tốt thì khiến đạt được vô số tam-muội Trang nghiêm. Kẻ không phân biệt được âm thanh thì nghe Phật nói pháp liền được hiểu rõ, phân biệt các loại ngôn ngữ, âm thanh. Kẻ cầu được Nhất thiết chủng trí nghe Phật nói pháp liền được tammuội Vô sở phân biệt pháp giới. Người đối với đạo pháp bị thoái chuyển thì khiến đạt được tammuội Kiên cố. Kẻ không thông đạt pháp tánh thì khiến lãnh hội thấu đạt. Người xả bỏ thệ nguyện thì khiến có được tam-muội Bất thoái. Có chúng sinh nào hay phân biệt lẫn lộn các đạo pháp, nghe Phật nói pháp thì hiểu rõ các đạo pháp không còn lẫn lộn. Kẻ cầu được trí như hư không thì khiến lãnh hội được tam-muội Vô sở hữu. Kẻ chưa đầy đủ các pháp Ba-la-mật thì khiến an trụ nơi Ba-la-mật thanh tịnh. Các chúng sinh chưa có đầy đủ bốn nhiếp pháp, nghe Phật nói pháp liền đạt được tam-muội Diệu thiện nhiếp thủ. Kẻ chưa trụ nơi phạm hạnh thì khiến được an trụ nơi pháp bình đẳng. Kẻ chưa đầy đủ ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề nghe Phật nói pháp liền được trụ nơi tam-muội Xuất thế. Kẻ nào có tâm nghi ngờ về vô sinh pháp nhẫn thì khiến đạt được tam muội Quyết định. Kẻ nào quên mất pháp đã nghe thì khiến đạt được tam-muội Chẳng mất niệm. Có các chúng sinh không thích đối với những người thuyết pháp, nghe Phật nói pháp liền được Tuệ nhãn thanh tịnh không còn hồ nghi. Kẻ chưa cung kính, tin tưởng Tam bảo thì khiến có được tam-muội Công đức tăng trưởng. Các chúng sinh đói khát mưa pháp thì khiến được tam-muội Pháp vũ. Có các chúng sinh dấy khởi đoạn kiến đôi với Tam bảo, nghe Phật nói pháp liền được tam-muội Các báu trang nghiêm. Kẻ không tạo nghiệp trí tuệ thì khiến lãnh hội lý vô sinh. Kẻ bị các thứ phiền não ràng buộc thì khiến lý giải không môn. Kẻ có tâm xem nhẹ tất cả các pháp thì khiến đạt được tam-muội Trí ấn. Kẻ chưa biết đầy đủ công đức của Như Lai thì khiến có được tam-muội Thế gian giải thoát. Kẻ đối trước chỗ Phật chưa tích chứa công đức thì khiến đạt được vô số thần túc biến hóa. Kẻ chưa nghĩ đến việc thuyết giảng các pháp môn một cách rốt ráo thì nghe Phật nói pháp liền thông suốt tất cả các pháp đồng một pháp giới. Kẻ chưa hiểu rõ về tất cả kinh điển thì khiến đạt được tam-muội Thật tướng các pháp bình đẳng. Kẻ xa lìa pháp lục hòa kính thì khiến lãnh hội tất cả pháp tướng. Có các chúng sinh không tinh tấn đối với pháp môn giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, nghe Phật nói pháp liền được thần túc tự tại. Kẻ không siêng năng tu hạnh Bồ-tát thì liền khiến đạt được trí tuệ tinh tấn. Có các chúng sinh muốn phân biệt nhập vào Như Lai tạng, nghe Phật nói pháp, hoàn toàn không nghe theo kẻ khác, liền phân biệt nhập vào Như Lai tạng. Các chúng sinh nào chưa từng được thấy kinh Bản sinh, nghe Phật nói pháp liền đạt được pháp tam-muội Hiện khắp mọi chốn. Kẻ chưa thấy đầy đủ mười lực của Như Lai thì khiến đạt được tam-muội Vô hoại. Kẻ nào chưa có được bốn vô sở úy thì khiến đạt được tammuội Vô tận ý. Kẻ chưa thấy đầy đủ pháp bất cộng của Phật thì khiến có được tam-muội Bất cộng pháp. Có các chúng sinh chưa được đầy đủ tri kiến không ngu si, nghe Phật nói pháp liền đạt được tam-muội Nguyệt cú. Các chúng sinh nào chưa biết tất cả các pháp môn Phật pháp, nghe Phật nói pháp liền đạt được tam-muội Ấn thanh tịnh dứt mọi cấu uế. Các chúng sinh nào chưa lãnh hội được Nhất thiết trí, nghe Phật nói pháp liền đạt được tam-muội Thiện hữu. Các chúng sinh nào chưa thành tựu được tất cả Phật sự, nghe Phật nói pháp liền được tam-muội Vô lượng bất tận ý. Các chúng sinh như vậy đối với Phật pháp đều được tin hiểu. Có các Bồ-tát tâm ngay thẳng không dối trá, nghe Phật thuyết pháp liền được tám vạn bốn ngàn pháp môn, tám vạn bốn ngàn các Tam-muội, bảy vạn năm ngàn môn Đà- la-ni. Có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Đại Bồ-tát tu tập pháp Đại thừa, nghe giảng nói pháp này cũng được vô lượng công đức như vậy an trụ nơi bậc Bất thoái chuyển. Cho nên các Đại Bồ-tát muốn đạt được vô số trang nghiêm bền chắc phải phát nguyện chẳng thể nghĩ bàn, tăng thêm tri kiến chẳng thể nghĩ bàn để tự trang nghiêm. Đó là dùng tướng tốt để trang nghiêm nơi thân, dùng lời nói lành như ý để trang nghiêm nơi miệng, khiến cho mọi người hoan hỷ. Dùng pháp Tam-muội bất thoái chuyển để trang nghiêm nơi tâm. Do niệm trang nghiêm nên không mất tất cả các môn Đà-la-ni. Do tâm trang nghiêm nên phân biệt rõ các pháp. Do niệm trang nghiêm nên hiểu được các nghĩa vi tế. Do tâm thiện trang nghiêm nên đạt được thệ nguyện kiên cố, tinh tấn, theo nguyện của mình đưa đến bờ bên kia. Do chuyên tâm trang nghiêm nên vượt qua các cấp bậc. Dùng hành vi xả bỏ tất cả các vật để trang nghiêm bố thí. Dùng sự trong sạch không nhơ để trang nghiêm trì giới. Dùng tâm đối với tất cả chúng sinh không phân biệt cao thấp để trang nghiêm nhẫn nhục. Dùng tất cả sự việc đã thành tựu để trang nghiêm tinh tấn. Dùng tất cả các pháp Tam-muội thần thông tự tại để trang nghiêm thiền định. Dùng sự hiểu biết về nguyên do của các kết sử để trang nghiêm tuệ. Dùng hành động đi đến tất cả chỗ ở của chúng sinh để trang nghiêm Từ. Dùng việc trang nghiêm Từ. Dùng việc không lìa bỏ tất cả chúng sinh để trang nghiêm Bi. Dùng thái độ không nghi hoặc đối với tất cả các pháp để trang nghiêm Hỷ. Dùng việc xem sự khen chê là không hai để trang nghiêm Xả. Dùng sự thể hiện các pháp Tam-muội tự tại thông suốt để trang nghiêm thần thông. Dùng việc được kho báu vô tận để trang nghiêm phước. Dùng việc hiểu rõ tâm niệm hiện có của tất cả chúng sinh để trang nghiêm trí. Dùng việc đem phấp thiện giác ngộ cho tất cả chúng sinh để trang nghiêm giác. Dùng việc đạt được mắt trí tuệ sáng suốt để trang nghiêm minh. Dùng sự ứng đối hợp pháp nghĩa để trang nghiêm biện tài. Dùng sự hàng phục chúng ma cùng đám dị học để trang nghiêm vô úy. Dùng chỗ đạt được công đức vô thượng nơi Phật để trang nghiêm đức. Dùng a-tăng-kỳ biện luận, thuyết pháp vì chúng sinh khắp nơi để trang nghiêm pháp. Dùng việc soi chiếu về tất cả pháp Phật để trang nghiêm minh... Dùng sự soi chiếu về mọi biến hóa nơi tất cả các cõi Phật để trang nghiêm quang. Dùng việc giảng nói về biến hóa không lầm lẫn để trang nghiêm lúc thuyết pháp. Dùng sự chỉ dạy luôn thích ứng để trang nghiêm cho việc giảng dạy trao truyền. Dùng chỗ đạt được bốn thần túc đến bờ bên kia để trang nghiêm sự thần biến. Dùng chỗ hội nhập pháp bí mật của Phật để trang nghiêm Như Lai. Dùng trí không tùy thuộc kẻ khác, được tất cả kính thuận để trang nghiêm tự tại. Dùng việc theo đúng như lý mà tu hành khắp mọi nơi chốn không thoái chuyển để trang nghiêm pháp thiện.

Vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh cầu pháp Đại thừa, con dùng một câu pháp với âm thanh trong lành diệt trừ được nhiều điều bất thiện, có đầy đủ các pháp thiện, khiến cho các Đại Bồ-tát đối với các pháp đạt được trí tuệ, không nhờ vào các nhân khác, thành tựu pháp quang minh lớn lao, chóng thành Bậc Chánh Giác Tốì Thượng. Bạch Đức Thế Tôn, lại nữa trong các thế giới khác, chúng sinh tạo nghiệp vô gián cho đến phạm các tội căn bản, tâm ý luôn bị phiền não thiêu đốt, hoặc có người cầu Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, vô thượng Đại thừa, nguyện sinh về thế giới của con, cho dù họ đã tích tập các nghiệp chẳng lành, thô bạo, ưa làm việc ác, ngang ngược điên đảo, không thu nhiếp tâm ý, thì con cũng sẽ vì các chúng sinh ấy với tám muôn bôn ngàn (84.000) căn tánh khác nhau tâm ý loạn động mà thuyết giảng sâu rộng về tám muôn bốn ngàn (84.000) pháp tụ. Trong số này, nếu có chúng sinh cầu Đại thừa vô thượng thì con sẽ vì họ thuyết giảng rộng pháp Ba-la-mật, từ Đàn ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Có chúng sinh cầu Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, chưa gieo trồng thiện căn, mà cầu thoát khỏi sinh tử thì con sẽ khiến họ an trụ nơi ba pháp quy y sau mới khiến tu học nơi sáu pháp Ba-la- mật. Các chúng sinh ưa việc sát sinh thì khiến an trụ giới không sát sinh. Các chúng sinh tham lam thì khiến an trụ nơi giới không trộm cắp. Các chúng sinh tham đắm việc phi pháp thì khiến an trụ nơi giới không tà dâm. Những chúng sinh vọng ngữ thì khiến an trụ nơi giới không nói dối. Các chúng sinh ưa nẻo tối tăm, ô trược thì khiến an trụ nơi giới không uống rượu. Đối với các chúng sinh có đủ năm thứ bệnh này, con sẽ khiến họ dứt bỏ hẳn và an trụ nơi giới cấm Ưu-bà-tắc. Chúng sinh không ưa pháp thiện, con sẽ khiến họ trong một ngày đêm an trụ nơi Tám trai giới. Những chúng sinh có ít thiện căn, con sẽ khiến họ đến gần với pháp xuất gia giữ mười giới để được an trụ nơi phạm hạnh. Hoặc có chúng sinh thích cầu pháp thiện, con sẽ khiến họ đến với pháp thiện thọ cụ túc giới, an trụ nơi phạm hạnh đến cùng.

Con sẽ vì các chúng sinh tạo nghiệp vô gián cho đến loại không thu nhiếp tâm ý ấy mà dùng vô số pháp môn thị hiện thân túc, thuyết giảng văn nghĩa, mở bày chỉ dạy các ấm, giới, nhập, vô thường, khổ, không, vô ngã, khiến họ trụ ở yên ổn nơi Niết-bàn vi diệu, tịch diệt. Con sẽ vì bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thuyết giảng giáo pháp như vậy. Nếu có người ưa luận nghị, con vì họ thị hiện các pháp nghị luận... Cho đến có người cầu giải thoát, con sẽ vì họ thị hiện không luận. Hoặc như có người không ưa pháp thiện, con sẽ vì họ thuyết giảng các pháp gần gũi chúng Tăng. Đối với nngười ưa pháp thiện, con sẽ vì họ thuyết giảng pháp trì tụng, tu tập thiền định, hướng đến giải thoát. Con vì mỗi một chúng sinh mà trải qua hàng trăm ngàn do-tuần, không sử dụng thần túc, dùng không biết bao nhiêu thứ câu lời nghĩa lý và phương tiện quyền biến để hóa độ, cam chịu sự khó nhọc này cho đến khi vào Niết-bàn, thậm chí do diệu lực của thệ nguyện, con sẽ phải giảm một phần trong năm phần thọ mạng của mình.

Khi sắp nhập Niết-bàn con sẽ làm vụn ngọc thân xá-lợi thành như nửa hạt cải, vì thương xót chúng sinh, sau đó con đi vào Niết-bàn. Xin nguyện sau khi con nhập Niết-bàn, chánh pháp trụ thế được một ngàn năm, tượng pháp trụ thế được năm trăm năm./.

Xong Phẩm 16.

TƯ DUY QUA KINH VĂN: HƯỚNG TỚI MỘT THẦN HỌC PHẬT GIÁO PHÊ PHÁN VỀ TÍNH DỤC

Thinking through Texts: Toward a Critical Buddhist Theology of Sexuality by José Ignacio Cabezón

Thinking through Texts: Toward a Critical Buddhist Theology of Sexuality¹

José Ignacio Cabezón[1]
University of California
Santa Barbara

Frederick P. Lenz Distinguished Lecture
Naropa University, September 23, 2008

***



Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với trường Đại học Naropa vì đã trao cho tôi vinh dự trở thành Giảng viên Danh dự Lenz đầu tiên của trường, và cũng vì sự đón tiếp nồng hậu trong chuyến thăm này. Tôi rất kính trọng Naropa – từ ban quản lý, giảng viên đến sinh viên. Gần một nửa số sinh viên cao học của tôi tại UC Santa Barbara là cựu sinh viên Naropa, vì vậy tôi hiểu rõ chất lượng giáo dục mà họ nhận được ở đây trong lĩnh vực Nghiên cứu Phật giáo. Nói chung, Naropa là một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu ở Bắc Mỹ đang nỗ lực tích hợp lý thuyết và thực hành Phật giáo vào giáo dục đại học. Là một người tiên phong trong dự án này, trường Đại học là hình mẫu cho các tổ chức đang vật lộn với những vấn đề phức tạp về vai trò mà Phật giáo có thể và nên đóng trong trường đại học. Một phần lý do tôi chấp nhận lời mời tử tế của các bạn là vì một lý do ích kỷ: để học hỏi từ các bạn – để tận mắt chứng kiến di sản Phật giáo có ý nghĩa như thế nào đối với các bạn và cách các bạn dung hòa khía cạnh Phật giáo trong bản sắc của mình với sứ mệnh giáo dục rộng lớn hơn. Điều đó, tất nhiên, đặt tôi vào vai trò của một sinh viên và người quan sát, một vai trò mà tôi rất vui khi được đảm nhiệm trong suốt chuyến thăm của mình. Nhưng tối nay, tôi đảm nhận một vai trò hơi khác: vai trò của cái mà Jacques Lacan gọi là “chủ thể được cho là biết”. Vậy nên, giờ đây tôi xin được thực hiện trách nhiệm của một “chủ thể được cho là biết” như vậy bằng cách đi vào nội dung chính của bài nói chuyện.

Trước tiên, một vài thông tin tiểu sử ngắn gọn, một vài điều về bản thân tôi có liên quan đến bài phát biểu hôm nay – đó là tôi yêu thích văn bản (kinh luận). Trong tất cả những món quà tuyệt vời mà các vị thầy Tây Tạng đã ban tặng cho tôi, không gì quý giá hơn sự rèn luyện mà tôi nhận được trong việc đọc văn bản. Tôi không chỉ nói đến khả năng đọc các văn bản này bằng ngôn ngữ gốc, mặc dù điều này cũng không hề nhỏ, mà quan trọng hơn, là khả năng suy ngẫm về văn bản: suy ngẫm về ý nghĩa của văn bản, nhưng cũng suy ngẫm về ý nghĩa của thế giới dưới ánh sáng của truyền thống văn bản vĩ đại của Ấn Độ - Tây Tạng, để đi đến sự hiểu biết về thế giới – về bản chất của chúng ta, về trách nhiệm của chúng ta, về điều gì tạo nên một cuộc sống có ý nghĩa – trong sự đối thoại với các văn bản kinh điển của Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng. Điều này, như tôi đã học được từ các vị thầy của mình, không chỉ đơn thuần là hiểu nghĩa đen của các văn bản vĩ đại, mà còn là tham gia vào truyền thống kinh điển một cách phê phán: đặt câu hỏi về nó, sử dụng lý luận để xác định xem liệu và bằng cách nào (nếu có) nó có giá trị, và sẵn sàng đấu tranh với các nhà tư tưởng vĩ đại trong quá khứ với tinh thần tìm tòi tự do. Trong mô hình này, các văn bản không phải là điểm kết thúc của sự suy ngẫm, mà là điểm khởi đầu, và các bậc thầy vĩ đại thời xưa không phải là những “người đàn ông da nâu đã chết” (dead brown men) vô nghĩa, mà là những người bạn đối thoại sống động, có tư tưởng được phản ánh trong các tác phẩm của họ, có thể giúp chúng ta tái cấu trúc cuộc sống để dẫn đến sự thịnh vượng của bản thân, người khác và cộng đồng nơi chúng ta sinh sống. Nhiệm vụ này – nhiệm vụ tư duy phê phán về thế giới thông qua các văn bản Phật giáo – chủ yếu là nhiệm vụ của các nhà luận lý học Phật giáo, nhưng như các bạn sẽ thấy ở phần tiếp theo, tôi cũng tin rằng đó là nhiệm vụ của tất cả Phật tử. Hôm nay, tôi hy vọng sẽ chứng minh tầm quan trọng của công việc này thông qua một lăng kính rất cụ thể – đó là lăng kính về tình dục (và cụ thể hơn là đạo đức tình dục) – một lăng kính đặc biệt hữu ích bởi những vấn đề mà nó buộc chúng ta phải đối mặt. Đến đây là hết phần mở đầu mang tính tự sự. Và bây giờ, theo lời của Salt-N-Pepa, “Hãy cùng nói về tình dục!”

Vào một ngày tháng Sáu ấm áp năm 1997, tôi bước vào khách sạn Fairmont ở San Francisco để tham dự một cuộc gặp với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vài tháng trước đó, một nhóm Phật tử đồng tính nam và đồng tính nữ đã yêu cầu được diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma để thảo luận về quan điểm của ngài về đồng tính luyến ái và yêu cầu làm rõ những phát ngôn mà ngài đã đưa ra, những phát ngôn mà những người tổ chức cho là gây khó chịu.[2] Cuộc gặp kéo dài một giờ rất hiệu quả. Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu bằng việc nhắc lại sự phản đối của ngài đối với sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tình dục và cam kết của ngài đối với “quyền con người đầy đủ” cho người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới.[3] “Xã hội không nên từ chối con người dựa trên xu hướng tình dục của họ,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Phong trào đấu tranh giành quyền con người đầy đủ của các bạn là hợp lý và logic.” Ngài nói thêm rằng, trong xã hội nói chung, “không có hại gì trong các hành vi tình dục được cả hai bên đồng thuận… Việc bất cứ ai coi thường người đồng tính là sai trái.”

Nhưng rồi cuộc thảo luận chuyển từ vấn đề chung sang vấn đề cụ thể – từ những gì được chấp nhận trong xã hội nói chung sang những gì được chấp nhận (hoặc không) trong truyền thống Phật giáo. Dựa trên một đoạn văn rất chi tiết – một văn bản – từ học giả Tây Tạng thứ mười lăm Tsong kha pa, Đức Thánh Thiện đã giải thích những gì tác phẩm nói về “hành vi tình dục sai trái” – loại tình dục mà, như một trong mười điều bất thiện, được coi là một điều xấu xa về mặt đạo đức. Trong số những điều khác, công thức của Tsong kha pa cấm quan hệ tình dục giữa nam giới (nhưng không, như chúng ta sẽ thấy, giữa nữ giới), nó cũng cấm thủ dâm một mình, cả quan hệ tình dục bằng miệng và hậu môn giữa nam và nữ, và thậm chí cả quan hệ tình dục vào ban ngày. Mặt khác, nó không cấm một người đàn ông đã kết hôn sử dụng dịch vụ của gái mại dâm, và cho phép đàn ông dị tính đạt cực khoái tối đa năm lần mỗi đêm. Để tránh hiểu nhầm rằng sự phân định ranh giới giữa tình dục được phép và bất hợp pháp này là đặc trưng riêng của Tsong kha pa, tôi xin nói rằng những cách diễn đạt rất tương tự được tìm thấy trong nhiều văn bản quan trọng của Tây Tạng được viết trước và sau ông, bao gồm cả Gampopa và Dza Patrul chẳng hạn. Quan trọng hơn, mọi yếu tố trong cách diễn đạt của Tsong kha pa đều có cơ sở trong các nguồn Phật giáo Ấn Độ.

Sau khi giải thích văn bản của Tsong kha pa, Đức Thánh Thiện tiếp tục nói về “khả năng hiểu những giới luật này trong bối cảnh thời gian, văn hóa và xã hội… Nếu đồng tính luyến ái là một phần của chuẩn mực được chấp nhận [ngày nay], thì có thể nó sẽ được chấp nhận… Tuy nhiên, không một cá nhân hay bậc thầy nào có thể định nghĩa lại giới luật. Tôi không có thẩm quyền định nghĩa lại những giới luật này vì không ai có thể đưa ra quyết định đơn phương hay ban hành sắc lệnh… Việc định nghĩa lại như vậy chỉ có thể xuất phát từ các cuộc thảo luận của tăng đoàn[4] trong các truyền thống Phật giáo khác nhau. Việc định nghĩa lại các vấn đề [đạo đức] không phải là chưa từng có trong lịch sử Phật giáo, nhưng nó phải được thực hiện ở cấp độ tập thể.”[5] Đức Thánh Thiện kêu gọi nghiên cứu và đối thoại thêm về chủ đề này, và kết luận bằng cách nhắc lại thực tế rằng, dù khái niệm về hành vi sai trái tình dục được định nghĩa như thế nào, nó không bao giờ có thể được sử dụng để biện minh cho sự phân biệt đối xử với người đồng tính.

Trong những năm sau cuộc gặp gỡ với Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi đã hưởng ứng lời kêu gọi của Ngài về việc nghiên cứu sâu hơn về vấn đề tình dục, và sắp hoàn thành một chuyên khảo về chủ đề này. Ban đầu, tôi hình dung đây là một cuộc khám phá về lịch sử đạo đức tình dục trong Phật giáo Ấn Độ - Tây Tạng – cách truyền thống này hình thành nên quan niệm cụ thể về hành vi tình dục sai trái – nhưng dần dần tôi đi đến kết luận rằng để hiểu đầy đủ các khía cạnh đạo đức của vấn đề, cần phải có một cách tiếp cận rộng hơn về tình dục. Tôi nhận ra rằng quan điểm của Tây Tạng về “hành vi tình dục sai trái” chỉ có thể được hiểu bằng cách trước tiên hiểu được những gì các học giả Tây Tạng coi là hiển nhiên – quan điểm của họ về cơ thể con người, tình dục và ham muốn tình dục nói chung. Tôi cũng nhận ra rằng, cách tiếp cận rộng hơn đó sẽ đòi hỏi phải xem xét các văn bản Ấn Độ và Tây Tạng nói gì về những vấn đề như sự phân biệt giới tính trong các câu chuyện vũ trụ học Phật giáo, bản chất của cơ thể và hành vi tình dục, tâm lý của sự kích thích tình dục, các biện pháp can thiệp kinh điển để đối phó với ham muốn tình dục, và cấu trúc giáo lý về “lệch lạc” tình dục, hay nói cách khác là “đồng tính”. Như vậy, điều bắt đầu như một nghiên cứu khá hẹp về sự tiến hóa lịch sử của một học thuyết cụ thể - đó là về hành vi sai trái tình dục - đã phát triển thành một cuốn sách rộng hơn nhiều về tình dục trong truyền thống Phật giáo Ấn Độ - Tây Tạng.

Mặc dù vấn đề tình dục rất quan trọng đối với truyền thống Phật giáo, nhưng không có tác phẩm kinh điển nào duy nhất đề cập đến tình dục một cách toàn diện. Trong khi có những tuyển tập hay bộ sách, được gọi là saṃgraha, về nhiều chủ đề khác nhau trong văn học Ấn Độ và Tây Tạng, thì không có tác phẩm nào giống như maithuna saṃgraha[6] (một tuyển tập về tình dục). Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là thu thập tài liệu từ nhiều văn bản riêng lẻ thuộc các thời kỳ và thể loại khác nhau. Đây chính là nguồn tư liệu cho nghiên cứu của tôi. Nhưng theo tinh thần mà tôi vừa đề cập, hiểu được những gì các văn bản nói về tình dục chỉ là một nửa chặng đường. Nửa còn lại, tất nhiên, là đánh giá tài liệu này: đưa nó vào sự xem xét phê bình. Tôi sẽ giải thích thêm về điều đó trong chốc lát.

Khi vừa bắt đầu lắp ghép các mảnh ghép trong bức tranh toàn cảnh về tình dục qua các văn bản Phật giáo, tôi chợt nhận ra rằng các Phật tử phương Tây đương đại chắc hẳn đã đưa ra những kết luận nào đó về các vấn đề này. Vì vậy, tôi đã tìm đến nguồn tri thức vạn năng – mạng Internet – để xem mọi người đang thảo luận những gì về chủ đề Phật giáo và tình dục. Tôi muốn trích dẫn ba ví dụ để minh họa cho những gì mình đã tìm thấy.

  Người bình luận thứ nhất viết: “Vậy danh sách các hành vi tình dục sai trái của Phật giáo nằm ở đâu? Câu trả lời rất ngắn gọn và ngọt ngào. Phật giáo (chỉ duy nhất lần này!) không hề có một danh sách nào cả.”[7]

  Tương tự như vậy, một blogger khác chia sẻ: “Điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa Phật giáo và các tôn giáo khác là việc thiếu vắng một danh sách các hành vi tình dục bị cấm đoán. Không giống như các tôn giáo khác nghiêm cấm đồng tính luyến ái, quan hệ tình dục có sử dụng biện pháp tránh thai, cải trang giới tính, v.v., Phật giáo không hề liệt kê các hành vi tình dục bị cấm.”[8]

Cả hai tác giả này rõ ràng đều không biết đến sự tồn tại của một hệ thống văn bản học thuật đồ sộ trong Phật giáo bàn về hành vi tình dục sai trái (tà dâm) – một hệ thống văn bản vốn 'liệt kê' chi tiết về các đối tượng, cơ quan cơ thể, thời gian và địa điểm không phù hợp, rồi đi sâu vào phân tích vô cùng tỉ mỉ về việc người Phật tử có thể và không thể quan hệ tình dục khi nào, ở đâu, bằng cách nào và với ai. Trong các nguồn tài liệu khác, chúng ta còn tìm thấy những danh sách dài về cả nam giới lẫn nữ giới bị từ chối thọ giới xuất gia chỉ dựa trên xu hướng tình dục, bản dạng giới và cấu trúc giải phẫu học cơ quan sinh dục của họ. Vì vậy, trái ngược hoàn toàn với những gì các blogger của chúng ta lầm tưởng, các danh sách cấm đoán đó có rất nhiều.

Trong ví dụ thứ ba và cũng là ví dụ cuối cùng, tác giả lại nhận thức được sự phân tích vô cùng chi tiết về hành vi tình dục sai trái (tà dâm) trong các nguồn tài liệu học thuật; bởi lẽ thực chất, đây là một bài đánh giá trên trang Amazon.com về bản dịch tác phẩm Lam rim chen mo (Giác ngộ Thứ Đệ Đại Luận) của ngài Tsongkhapa.

  • Tại đây, tác giả của bài viết nhận xét về những lời chỉ dạy của ngài Tsongkhapa: “Tôi cảm thấy rằng đó không phải là những giáo lý chân thật mà tôi từng được biết về Phật giáo. Ví dụ, trong phần giảng giải về tình dục… tôi không chắc tác phẩm này [tức tác phẩm của ngài Tsongkhapa] trung thành với truyền thống Phật giáo Tây Tạng đến mức nào.”

Khi phải đối mặt với thực tế về cách các văn bản học thuật xử lý vấn đề đạo đức tình dục, phản ứng của người viết này là gạt phăng nó đi: 'Chắc chắn đây không thể là bản chất của Phật giáo Tây Tạng.' Thật mỉa mai làm sao khi gần sáu trăm năm sau khi ngài Tsongkhapa viết nên tác phẩm nổi tiếng của mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma – người được cho là đại diện xuất chúng nhất của Phật giáo Tây Tạng – lại lật mở chính cuốn sách này khi ngài chuẩn bị cùng các Phật tử phương Tây thảo luận về chủ đề tình dục. Rõ ràng, một đại diện tiêu biểu của truyền thống Tây Tạng vẫn nghĩ rằng tác phẩm Giác Ngộ Thứ Đệ Luận (Lam rim chen mo) hoàn toàn 'trung thành với truyền thống'.

Tóm lại, những gì tôi tìm thấy trong hành trình khảo sát khắp mạng Internet là các Phật tử phương Tây hoặc là không hề biết đến những gì truyền thống Ấn Độ và Tây Tạng cổ điển bàn về tình dục, hoặc là nếu có biết, họ cũng sẵn sàng gạt bỏ nó đi vì nó không hề phù hợp với những định kiến sẵn có của họ về bản chất thực sự của truyền thống Phật giáo."

Khi nghiên cứu của tôi tiến triển và tôi bắt đầu chia sẻ một số kết quả tìm kiếm của mình với những khán giả không chuyên (chẳng hạn như các cư sĩ Phật tử phương Tây tại các trung tâm Phật pháp), tôi nhận thấy một mô-típ tương tự đang diễn ra. Trước hết, tôi phát hiện ra rằng nhiều người không biết – và một số đơn giản là không quan tâm – về những gì các văn bản kinh điển lớn nói về tình dục. Do các văn bản này được biên soạn ở một nơi chốn và thời đại cách xa chúng ta, tôi nhận ra rằng nhiều Phật tử phương Tây chỉ đơn thuần xem chúng có rất ít giá trị định hướng cho đời sống tình dục của chúng ta trong thế giới hiện tại. (Để phản hồi lại điều này, tôi thường tự hỏi tại sao các đồng đạo của mình lại sẵn lòng, và thậm chí là tha thiết, tiếp thu từng chi tiết nhỏ trong hướng dẫn thiền định của các bậc thầy cổ điển, nhưng lại nhanh chóng rũ bỏ lời khuyên của chính những bậc thầy đó khi đề cập đến các vấn đề tình dục.)

Dù vậy đi nữa, tôi dần nhận ra một sự gián đoạn căn bản giữa những gì truyền thống Phật giáo cổ điển đề cập về tình dục và những gì các Phật tử phương Tây đương đại tin tưởng về chủ đề này. Tôi nhận ra rằng phần lớn nền tảng và nhiều tư tưởng mà tôi vốn xem là điều hiển nhiên thì khán giả của tôi lại hoàn toàn không biết đến, hoặc giả là họ thẳng thừng bác bỏ chúng và coi là 'phi Phật giáo'. Chính vì vậy, một phần mục đích trong dự án của tôi đã chuyển sang tính giáo hóa, thậm chí có thể nói là mang tính 'giáo lý căn bản': nhằm khai tâm cho độc giả Phật tử phương Tây về những gì các văn bản Ấn Độ và Tây Tạng cổ điển luận bàn về chủ đề tính dục. (Tất nhiên, liệu các quan điểm của những tác giả cổ điển này có hợp lý hay không lại là một câu hỏi khác – điều mà tôi sẽ đề cập đến ngay sau đây.) Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi nhận ra mục tiêu đầu tiên trong dự án của mình phải mang tính cung cấp thông tin, mô tả, tra cứu thư tịch và sư phạm.

Giờ đây, trong khi một số người bạn của tôi đơn thuần là gạt bỏ những gì văn bản cổ điển đề cập, thì những người khác lại có một phản ứng khác—một phản ứng khiến tôi hoang mang không kém. Phản ứng đó có thể được tóm gọn trong hai từ: 'miễn cưỡng chấp nhận'. Sau khi nhận thức được về truyền thống cổ điển, nhóm thứ hai này đã sẵn sàng—dù có phần khiên cưỡng—để chạy theo xu hướng của một hệ thống đạo đức tình dục khắt khe hơn và sống cuộc đời mình theo đúng nghĩa đen của các văn bản học thuật, mà tôi nghĩ rằng họ chưa hoàn toàn nhận ra điều đó thật sự có nghĩa là gì. Để cung cấp cho bạn một cái nhìn tổng quan rất ngắn gọn, việc đọc và hiểu theo nghĩa đen các nguồn tài liệu Ấn Độ và Tây Tạng sẽ chỉ ra rằng:

  Đồng tính luyến ái nam bị nghiêm cấm, nhưng đồng tính luyến ái nữ thì không.

  Không có hình thức quan hệ nào được phép ngoại trừ quan hệ ngả âm đạo - dương vật, và hình thức này cũng chỉ được phép thực hiện vào ban đêm.

  Đàn ông có gia đình đi mua dâm là điều có thể chấp nhận được.

  Chế độ đa thê được phép tồn tại.

  Người chồng có quyền đối với cơ thể của vợ mình vào mọi thời điểm, ngoại trừ một trường hợp duy nhất – khi người vợ thọ trì các giới luật một ngày (Bát quan trai giới). Ngay cả khi đó, người phụ nữ vẫn mất đi quyền từ chối các đòi hỏi tình dục của chồng nếu cô ấy chưa nhận được sự đồng ý trước của chồng để đi thọ giới.

  Và cuối cùng, nhiều đối tượng khác nhau sẽ bị từ chối cho thọ giới xuất gia dựa trên bản dạng giới/xu hướng tình dục hoặc các đặc điểm giải phẫu học của họ – trong đó đàn ông chủ yếu bị từ chối dựa trên những ham muốn tình dục lệch chuẩn, còn phụ nữ chủ yếu bị từ chối dựa trên cấu trúc giải phẫu cơ quan sinh dục khác thường.

Những ai sẵn sàng chấp nhận các giáo lý về tình dục của truyền thống học thuật theo nghĩa đen cũng đồng nghĩa với việc họ đang cam kết sống theo các nguyên tắc chỉ dẫn này. Nhưng liệu đây có thật sự là kiểu đạo đức tình dục mà chúng ta muốn chấp nhận—một cuộc sống bị chi phối bởi các chuẩn mực Ấn Độ từ nhiều thế kỷ trước hay không? Nếu không, đâu sẽ là giải pháp thay thế? Và có lẽ điều quan trọng hơn cả là làm thế nào chúng ta chứng minh được tính hợp lý của một hệ thống đạo đức tình dục khác biệt (mà tôi cho là công bằng hơn)?"

Tóm lại, khi bắt đầu tương tác với các cộng đồng Phật giáo ngoài đời thực (và trên không gian mạng) tại phương Tây, tôi nhận thấy có ba vấn đề cần phải được giải quyết: (1) sự hiểu sai thông tin một cách phổ biến về những gì văn bản truyền thống đề cập, (2) xu hướng gạt bỏ truyền thống văn bản một cách tùy tiện, và (3) khi không gạt bỏ, họ lại chấp nhận truyền thống đó theo nghĩa đen một cách máy móc mà không thấy có nhu cầu cần phải suy ngẫm hay phản biện.

Nằm ở trung tâm của những vấn đề này là một bài toán cơ bản hơn mà tất cả các tôn giáo đều phải đối mặt: vấn đề về thẩm quyền kinh điển. Chúng ta nên dành bao nhiêu niềm tin cho những lời dạy cổ xưa của truyền thống? Các giáo lý và giáo điều này nên có sức ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống của chúng ta? Trước khi tiếp tục với chủ đề đạo đức tình dục, cho phép tôi phác thảo một phương pháp – phương pháp của riêng tôi, nhưng tôi tin rằng cũng là một cách tiếp cận đậm chất Phật giáo – để giải quyết vấn đề thẩm quyền này. Phương pháp của tôi khá đơn giản để phát biểu, nhưng thường rất khó để áp dụng vào thực tế. Nó có thể được tóm tắt qua ba điểm cơ bản sau:

(1) Là những người con Phật, chúng ta cam kết dấn thân vào việc học hỏi Chánh pháp và giáo lý. Mặc dù các bậc thầy phần lớn là những người truyền trao nguồn tri thức này, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở những gì các thầy chỉ dạy, mà thay vào đó, như bậc thánh vĩ đại Atisha (A-đề-sa) đã dạy, chúng ta phải luôn sẵn lòng 'cầu học nhiều hơn nữa'. Nền tảng cho việc học hỏi này chính là các bản văn cổ điển của Ấn Độ và Tây Tạng.

Quay lưng lại với truyền thống kinh luận vĩ đại này — dù bằng cách từ chối nghiên cứu hay chỉ đơn giản là gạt bỏ những gì chúng ta đã học — chính là quay lưng lại với ngọc báu của giáo pháp, nguồn nương tựa chân thật. Điều quan trọng không kém là việc này cũng tạo ra một vết rạn nứt không thể hàn gắn giữa các hình thái Phật giáo của chính chúng ta (phương Tây) với các hình thái Phật giáo của châu Á; bởi vì dĩ nhiên, trong hầu hết các hình thái Phật giáo Á Đông, kinh luận luôn là nguồn chỉ dẫn quan trọng.

Do đó, theo quan điểm của tôi, việc trốn tránh thực tại (giấu đầu vào cát) và từ chối đối mặt với truyền thống kinh luận — dù điều này có khó khăn đến mấy trong một số trường hợp — không phải là một lựa chọn đúng đắn. Việc nghiên cứu kinh luận rồi lại tìm cách che giấu một cách tùy tiện (quét dưới thảm) tất cả những khía cạnh của truyền thống khiến chúng ta cảm thấy không thoải mái cũng không phải là giải pháp. Khi quy y với tư cách là một người con Phật, theo một nghĩa nào đó, chúng ta đang kết hôn với truyền thống này. Chúng ta đang cam kết gắn bó với toàn bộ truyền thống, bao gồm cả những điều chưa hoàn hảo của nó, giống như cách chúng ta cam kết gắn bó với trọn vẹn một người bạn đời trong một mối quan hệ. Điều này không có nghĩa là chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước những khuyết điểm của truyền thống, hay chúng ta không nỗ lực để làm cho nó tốt đẹp hơn — mà hoàn toàn ngược lại — nhưng nó có nghĩa là ở một mức độ nào đó, chúng ta chấp nhận truyền thống như một chỉnh thể, dù tốt hay xấu.

(2) Một khi đã tìm hiểu xem truyền thống nói gì, chúng ta phải phản tư (suy ngẫm) một cách nghiêm túc về điều đó. Đây chủ yếu là trách nhiệm của các nhà trí thức Phật giáo – hay chúng ta có thể gọi là các "nhà luậnhọc" hay luận sư Phật giáo. Nhưng các Phật tử/hành giả không phải là học giả không nên bằng lòng với việc được "mớm" sẵn sự thật bởi những người tự xưng là đại diện và diễn giải truyền thống – giống như chim non được nuôi dưỡng bằng thức ăn mửa ra từ diều của chim mẹ. Trái lại, họ nên đặt các luận điểm luận lý học (thần học) của những chuyên gia dưới sự phân tích, giữ cho các luậnluôn trung thực, đồng thời buộc họ phải có trách nhiệm với cả truyền thống lẫn lý trí.

Điều này không nhằm hạ thấp tầm quan trọng của đức tin, nhưng như bậc hiền triết vĩ đại của Ấn Độ là Sư Tử Hiền (Haribhadra), khi chú giải tác phẩm Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (Ornament of Realization) của Ngài Di Lặc, đã nhắc nhở chúng ta rằng: có nhiều loại niềm tin khác nhau. Loại đức tin vốn chấp nhận ngay lập tức bất cứ điều gì nghe được – ngay cả khi điều đó đến từ một nguồn có thẩm quyền, chẳng hạn như bậc thầy của mình – được coi là một loại đức tin thấp kém hơn. Ngược lại, loại đức tin cao hơn là loại không bắt đầu bằng niềm tin tức thời, mà bắt đầu bằng sự hoài nghi. Đó là một đức tin khởi đầu từ sự nghi ngờ, rồi sau đó sử dụng năng lực của lý trí để vượt qua sự nghi ngờ ấy và xác chứng chân lý. Loại đức tin cao hơn này, không giống như loại trước, được coi là không thể lay chuyển. Không điều gì có thể phá vỡ được nó. Và một khi chúng ta đã đạt đến loại đức tin kiên định này về một điểm giáo lý nhất định, thì dĩ nhiên chúng ta phải nội hóa chân lý của giáo lý đó thông qua việc thực hành thiền định, để cuộc sống của chúng ta trở thành những biểu hiện liền mạch của chính chân lý này.

(3) Quá trình phản tư (Phản chiếu sâu sắc), theo cách hiểu truyền thống, có phạm vi tương đối hẹp. Phản tư – điều mà trong tiếng Phạn được gọi là cintā – là một quá trình phân tích nhằm kiểm chứng các học thuyết bằng cách xác định xem chúng có nhất quán với nhận thức của chúng ta về thế giới hay không, và liệu chúng có hợp lý hay không – nghĩa là, liệu có thể đưa ra những lý do chính đáng để chấp nhận chúng hay không.

Tôi muốn lập luận rằng ngày nay chúng ta đang có trong tay những công cụ khác – ví dụ như phân tích lịch sử – và những khái niệm khác vốn không xuất hiện nhiều trong Phật giáo cổ điển – ví dụ như các khái niệm về "công lý" và "bình đẳng" – những điều cũng quan trọng không kém trong nhiệm vụ đánh giá một cách phê phán đối với truyền thống này. Hơn thế nữa, nhiều công cụ phê phán đã được phát triển ở phương Tây trong những thập kỷ qua – thuộc các lĩnh vực như phân tích diễn ngôn, nghiên cứu giới tính, lý thuyết queer (đồng tính học), và nghiên cứu văn hóa – không phải là không có ích khi áp dụng vào việc phản tư các giáo lý Phật giáo, mặc dù ở điểm này tôi nghĩ chúng ta phải có chút thận trọng trong cách tiếp thu các góc nhìn lý thuyết đó.

Đó là toàn bộ ba luận điểm của tôi. Nói một cách ngắn gọn, những gì tôi coi là có thẩm quyền đối với các Phật tử (hoặc ít nhất là đối với những Phật tử thuộc khuynh hướng của tôi), là những giáo lý và thực hành có nguồn gốc văn bản rõ ràng, nhưng đồng thời cũng phải có khả năng bảo vệ được bằng lý trí và một cách công khai. Một giáo lý có thẩm quyền trong truyền thống Ấn-Tạng không đơn thuần vì Đức Phật đã nói ra điều đó, bởi vì người ta thừa nhận rằng Đức Phật đã nói nhiều điều không thể chấp nhận theo nghĩa đen. Một điều gì đó cũng không đương nhiên có thẩm quyền chỉ vì một bậc đại sư đã (hoặc đang) nói như vậy, bởi truyền thống không phải là không bao giờ sai lầm. Thay vào đó, một điều là chân thật và đáng để chúng ta tôn kính khi, theo lời của Tsongkhapa, "nó đã được phân tích và vượt qua thử thách của lập luận không tì vết". Đến cuối cùng, thẩm quyền của một tuyên bố mang tính giáo lý hoặc đạo đức Phật giáo – liệu chúng ta có lý do chính đáng để tin vào điều gì đó hay sống cuộc đời mình dựa trên một nguyên tắc nhất định hay không – được quyết định bởi việc liệu nó có vượt qua thử thách phê phán một cách nguyên vẹn hay không. Điều này đôi khi đặt chúng ta vào vị thế phải tranh luận với chính những vị thầy của mình, với các bậc thánh đại trí của Ấn Độ, và thậm chí với chính Đức Phật. Nhưng cứ để như vậy đi. Khi đôi khi tôi thấy mình bất đồng quan điểm với Tsongkhapa, Vô Trước (Asanga) hay Đức Phật, tôi tự nhắc nhở bản thân rằng chính những vĩ nhân này cũng từng bất đồng với những người đi trước họ, họ đã lên tiếng vì những gì họ tin tưởng, và không ai trong số họ yêu cầu chúng ta phải bước theo họ một cách mù quáng.

Vì vậy, một lần nữa: (1) chúng ta có bổn phận phải học hỏi truyền thống cổ điển, (2) chúng ta phải tiếp thu truyền thống đó một cách có phê phán, và (3) chúng ta nên làm điều đó bằng cách sử dụng tất cả các công cụ sẵn có, bao gồm cả các công cụ của học thuật hiện đại. Sau khi khép lại phần thảo luận bên lề này, chúng ta hãy một lần nữa hướng sự chú ý vào chủ đề đạo đức tình dục để xem các nguyên tắc này được vận dụng như thế nào trong trường hợp cụ thể này. Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma gợi ý, tại cuộc gặp của chúng tôi ở San Francisco, rằng một vài khía cạnh nhất định trong giáo lý về tà dâm (hành vi tình dục sai trái) – ví dụ như việc chấp nhận đàn ông có gia đình mua dâm từ những người bán dâm – là có vấn đề theo các tiêu chuẩn ngày nay, ngài rõ ràng đang ngụ ý rằng giáo lý này chứa đựng những yếu tố đặc thù về mặt văn hóa và lịch sử, những yếu tố mà theo tiêu chuẩn ngày nay chúng ta sẽ coi là không chỉ lỗi thời, mà thật sự còn có vấn đề về mặt đạo đức. Khái quát hơn, theo tôi thấy, những nhận định của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mở ra khả năng tái tư duy về toàn bộ giáo lý tà dâm, khuyến khích chúng ta đặt các chuẩn mực đạo đức trong các văn bản cổ điển dưới cùng một kiểu xem xét phê phán nghiêm ngặt giống như bất kỳ khía cạnh nào khác của truyền thống Phật giáo. Trong dự án lớn hơn của mình, tôi đã cố gắng thực hiện điều này một cách rất chi tiết. Trong vài phút ngắn ngủi còn lại, cho phép tôi đưa ra một tóm tắt ngắn về các phát hiện của mình.

Chúng ta hãy cùng nhớ lại xem giáo lý về tà dâm (hành vi tình dục sai trái) đã được định hình như thế nào trong phiên bản chi tiết nhất của nó. Các tác giả kinh viện của chúng ta nói rằng tình dục là phi đạo đức nếu nó liên quan đến những đối tượng, bộ phận, thời gian và địa điểm không phù hợp. Các văn bản này cho biết, đối tượng không phù hợp là tất cả "những người phụ nữ được bảo hộ" (những cô gái vẫn còn nằm trong sự bảo bọc của cha mẹ, phụ nữ đã kết hôn, v.v.); ngoài ra, đối tượng không phù hợp cũng bao gồm cả các bé trai, đàn ông và người lưỡng tính. Danh sách các đối tượng không phù hợp này loại trừ rõ ràng những người bán dâm hoặc kỹ nữ, ít nhất là chừng nào họ được thuê trực tiếp chứ không phải thông qua một bên trung gian. "Bộ phận không phù hợp" dùng để chỉ miệng, hậu môn, bàn tay, và giữa hai đùi của bạn tình – điều này có nghĩa là việc đưa dương vật vào bất kỳ lỗ mở hay nếp gấp da nào khác ngoài âm đạo. "Thời gian không phù hợp" dùng để chỉ cả những khung giờ ban ngày lẫn những thời điểm cụ thể trong đời sống của người bạn tình nữ – ví dụ như khi người phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt, đang cho con bú hoặc khi cô ấy đã thọ nhận các giới nguyện một ngày (Bát quan trai giới). Cuối cùng, dưới mục "địa điểm không phù hợp", chúng ta tìm thấy một danh sách các địa điểm không được phép quan hệ tình dục – một danh sách bao gồm các thánh địa, không gian công cộng, và ngoài ra còn có cả số lần cho phép đạt cực khoái (tối đa năm lần trong một đêm).

Giờ đây, một phần của quá trình phản tư có phê phán đối với một giáo lý như vậy bao gồm việc chú ý đến những chi tiết tinh tế của văn bản, bao gồm cả "những khoảng trống" của nó – tức là những gì còn thiếu sót. Ví dụ, một điều hoàn toàn không rõ ràng ngay từ cái nhìn đầu tiên là đối tượng người nghe được giả định ở đây chỉ là nam giới. Từ ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản này, rõ ràng là chưa từng có ai khác ngoài nam giới được hướng tới, hoàn toàn không nói đến phụ nữ. Trường hợp về những gì cấu thành hành vi tà dâm đối với phụ nữ đơn giản là không được các tác giả Ấn Độ hay Tây Tạng cổ điển xem xét đến. Bản thân điều đó đã là một lý do chính đáng cho thấy tại sao cách định hình cổ điển về đạo đức tình dục cần phải được tư duy lại.

Việc đánh giá có phê phán đối với giáo lý này cũng bao gồm việc thấu hiểu bối cảnh mà những ý tưởng đó được xây dựng nên. Ví dụ, chúng ta không thể mặc định rằng các quy tắc được tìm thấy ở đây được đưa ra vì cùng những lý do khiến cho chính các hành vi đó trở nên không phù hợp đối với chúng ta ngày nay. Mặc dù nhiều yếu tố được đề cập trong các văn bản có vẻ hợp lý đối với con người hiện đại – ví dụ như việc trẻ em và vợ của người khác là những đối tượng cấm kỵ trong quan hệ tình dục – chúng ta không thể giả định rằng các nhà tư tưởng Ấn Độ cổ đại đã vận hành dựa trên cùng những giả định khiến cho các hành vi như ấu dâm và ngoại tình trở nên có vấn đề đối với chúng ta ngày nay. Cụ thể, không có dấu hiệu nào cho thấy các văn bản này có bất kỳ khái niệm nào tương tự như "lạm dụng tình dục" – nơi mà nạn nhân, ví dụ, là đứa trẻ. Thay vào đó, khi một người đàn ông quan hệ tình dục với một cô gái trẻ hoặc vợ của người khác, bên bị xâm phạm quyền lợi lại là những người giám hộ: tương ứng là cha mẹ của cô gái và người chồng. Ngày nay, chúng ta vận hành dưới một thế giới quan rất khác biệt, một thế giới quan nhìn nhận trẻ em và phụ nữ là những chủ thể có ý chí độc lập, đồng thời cũng hiểu rõ những tác hại lâu dài của các hành vi như lạm dụng tình dục trẻ em. Nhưng đây không phải là thế giới quan đã thúc đẩy các tác giả của chúng ta, và việc thấu hiểu khía cạnh "bối cảnh" này là một phần quan trọng của quá trình phê phán.

Cũng cần lưu ý rằng có một số hành vi đáng bị lên án về mặt đạo đức mà chúng ta mặc nhiên thừa nhận là sai trái lại hoàn toàn không được đề cập trong cách định hình giáo lý này. Ví dụ, hành vi hiếp dâm không được nhắc đến một cách rõ ràng. Mặc dù một số văn bản có nói về "những cách thức" không phù hợp để có được bạn tình (chẳng hạn như dùng mưu mẹo, và cả dùng vũ lực), nhưng tôi đã đề cập đến thực tế là quyền của người chồng đối với thân thể của người vợ vốn được coi là điều hiển nhiên, khiến cho bất kỳ khái niệm nào về "hiếp dâm trong hôn nhân" đều không thể tồn tại. Điều tương tự dường như cũng đúng đối với quyền của một người đàn ông đối với người bán dâm mà anh ta đã trả tiền. Một khi người phụ nữ đã "thuộc về" một người đàn ông – dù là vĩnh viễn (thông qua hôn nhân) hay tạm thời (thông qua một hợp đồng tình dục) – người phụ nữ đó đơn giản là mất đi quyền nói "không". Một lần nữa, các tác giả cổ đại đã vận hành dưới một tập hợp các tiền giả định rất khác biệt so với những tiền giả định mà chúng ta đang vận hành ngày nay.

Luận điểm rộng hơn ở đây là việc đọc kỹ văn bản, một cách đọc sẵn sàng đón nhận những điểm vắng bóng và những khoảng trống, đồng thời cam kết bóc tách bối cảnh, chính là những yếu tố quan trọng trong quá trình phản tư có phê phán. Tất nhiên, phân tích lịch sử cũng đóng vai trò như vậy. Chúng ta tìm thấy điều gì khi giáo lý về tà dâm được đặt dưới sự xem xét kỹ lưỡng về mặt lịch sử? Theo tôi, đây là một trong những kết quả thú vị nhất trong nghiên cứu của mình. Để tóm gọn một câu chuyện dài và phức tạp, những gì chúng ta tìm thấy là các đề cập sớm nhất về tà dâm trong kinh điển Phật giáo hoàn toàn không biết đến sự phân chia thành bốn yếu tố gồm: đối tượng, bộ phận/lỗ mở, thời gian và địa điểm. Thay vào đó, trong các nguồn kinh văn sớm nhất – tức là trong các kinh nguyên thủy (sutra) – tà dâm đơn thuần được hiểu là hành vi ngoại tình: một người đàn ông quan hệ tình dục với vợ của người khác. Mặc dù cách định hình này vẫn mang tính lấy nam giới làm trung tâm do ý chí của phụ nữ bị ngó lơ (không có đề cập nào về việc phụ nữ quan hệ tình dục với đàn ông đã có gia đình), nhưng cách diễn đạt đơn giản hơn này của giáo lý, ít nhất là theo góc nhìn của tôi, thanh thoát hơn và cũng hiệu quả hơn. Tôi nói "hiệu quả hơn" vì tôi thấy việc cố gắng quản lý chi li đời sống tình dục của con người là một chiến lược thất bại. Những danh sách cấm đoán vụn vặt chỉ càng kích thích trí tưởng tượng của con người hoạt động hết công suất, khi họ bắt đầu nghĩ ra những cách để lách luật trên câu chữ.

Vậy câu hỏi lịch sử hiển nhiên đặt ra là: Nếu học thuyết ban đầu về hành vi tình dục sai trái đơn giản và thanh lịch như vậy, thì khi nào và tại sao nó lại trở nên phức tạp và hạn chế hơn – nghĩa là, khi nào chúng ta tìm thấy sự chuyển đổi sang “phương thức cơ quan/lỗ hổng”? Câu trả lời cho câu hỏi “khi nào” rất đơn giản. Chúng ta không tìm thấy bất kỳ ví dụ nào về cách diễn đạt chi tiết hơn về hành vi tình dục sai trái trước thế kỷ thứ ba sau Công nguyên. Câu trả lời cho câu hỏi “tại sao” đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ về danh tính của các tác giả Ấn Độ đã biên soạn các phiên bản phức tạp hơn của học thuyết này. Những tác giả đó, trước hết, là các nhà sư độc thân, và thứ hai, là các triết gia kinh viện – những người suy nghĩ theo kiểu liệt kê, và muốn bao quát mọi khía cạnh. Và tại sao các nhà thần học như Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu) và những người khác lại bắt đầu xây dựng đạo đức tình dục cho người thế tục chính xác như vậy? Tôi tin rằng họ đã chọn những thuật ngữ này – bạn tình, cơ quan, lỗ hổng, thời gian và địa điểm – bởi vì đó là những thuật ngữ mà họ quen thuộc. Và tại sao họ lại quen thuộc với những phạm trù này? Bởi vì chúng là những phạm trù được sử dụng để thảo luận về việc vi phạm các quy tắc trong giới luật tu viện, Vinaya. Do đó, phân tích lịch sử cho thấy các tác giả Ấn Độ bắt đầu đọc đạo đức tình dục của người thế tục thông qua lăng kính kỷ luật tu viện, áp dụng các chuẩn mực tu viện (như việc dương vật được phép và không được phép đưa vào đâu) vào các quy tắc ứng xử của người thế tục. Trong sự hăng hái muốn diễn giải chi tiết, tôi cho rằng họ đã đi quá xa, một mặt bỏ lại phía sau cách diễn đạt trước đó, trang nhã và đơn giản hơn về hành vi sai trái tình dục, mặt khác lại áp dụng không phù hợp đạo đức tình dục của người thế tục thông qua bộ lọc kỷ luật tu viện. Kết quả cuối cùng là làm cho tình dục của người thế tục ngày càng trở nên hạn chế và giống tu viện hơn.

Ngay cả sau khi chúng ta đã hoàn thành nhiều phân tích khác nhau về những điểm tinh tế của các văn bản, bối cảnh và lịch sử của chúng, vẫn còn nhiệm vụ phải đưa học thuyết này vào sự xem xét lý tính. Điều này rõ ràng có thể có nhiều hình thức. Hãy để tôi đưa ra một ví dụ để bạn hiểu ý tôi.

Chúng ta có thể tự hỏi, mục đích của học thuyết này là gì ngay từ đầu? Tại sao người thường nên tránh các hành vi sai trái về tình dục? Câu trả lời có lẽ gồm hai phần: tránh những hành động gây hại cho bản thân và tránh những hành động gây hại cho người khác. Giờ đây, rõ ràng tại sao một hành vi như ngoại tình – quan hệ tình dục với vợ/chồng của người khác – lại được coi là một điều xấu xa về mặt đạo đức. Nó gây hại cho người khác bằng cách dẫn đến nỗi đau tâm lý và trong nhiều trường hợp dẫn đến sự tan vỡ của các mối quan hệ ổn định. Nó gây hại cho bản thân vì nó đặt sự thỏa mãn ngắn hạn của bản thân lên trên hạnh phúc của người khác. Tất nhiên, việc tránh ngoại tình cũng mang lại lợi ích xã hội. Nhưng những lợi ích nào có thể đạt được từ bộ quy tắc tình dục học thuật phức tạp và hạn chế hơn? Lý do nào có thể được đưa ra để hạn chế tình dục chỉ được thực hiện vào ban đêm bằng cách giao hợp dương vật-âm đạo? Lý do Phật giáo nào có thể được đưa ra để buộc những người đồng tính nam (và nói chung hơn, những người làm việc ban đêm!) phải sống độc thân trong khi cho phép đàn ông dị tính đạt cực khoái năm lần mỗi đêm và phụ nữ đồng tính nữ hoàn toàn tự do tình dục? Điều này có hợp lý không? Có công bằng không? Đây là những loại câu hỏi mà một phân tích có lý lẽ về học thuyết cần phải đặt ra.

Khi chúng ta kết hợp các khía cạnh khác nhau này – ngữ văn học, lịch sử, duy lý – lại với nhau, tôi tin rằng đây là kết luận mà chúng ta đạt được:

1. Không có cơ sở kinh thánh nào cho cách diễn đạt học thuyết mang tính hạn chế và kinh viện hơn. Đó là sự bịa đặt của các tu sĩ độc thân, những người đã áp đặt các chuẩn mực tu viện vào đời sống tình dục của người thế tục một cách không phù hợp. Những người làm điều này là những học giả và thánh nhân vĩ đại, nhưng về vấn đề này, họ đơn giản là đã sai.

2. Học thuyết này, cả trong phiên bản đơn giản hóa ban đầu và phiên bản học thuật chi tiết hơn sau này, đều mang tính trọng nam (ưu tiên nam giới), và do đó là bất công. Bất kỳ đạo đức tình dục nào đáng giá đều phải coi phụ nữ và người chuyển giới là những chủ thể đạo đức.

3. Và cuối cùng, hoàn toàn độc lập với các tiêu chí lịch sử hoặc các tiêu chí khác, học thuyết chi tiết hơn không thể được biện minh trên cơ sở lý tính.

Vậy điều này dẫn chúng ta đến đâu? Nó đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải suy nghĩ lại về đạo đức tình dục theo cách vừa hợp lý vừa công bằng – theo cách không ưu tiên nam giới dị tính, xem xét quyền tự quyết của phụ nữ và người đồng tính, và không phân biệt đối xử với bất kỳ ai dựa trên sở thích tình dục hay cấu tạo cơ thể của họ. Chi tiết của một nền đạo đức tình dục công bằng hơn này dĩ nhiên vẫn cần được hoàn thiện, nhưng theo tôi, tối thiểu nó phải dựa trên các nguyên tắc chung như bình đẳng giới, trên các quan điểm giáo lý Phật giáo – ví dụ, thừa nhận rằng cơ thể là phương tiện cho khoái lạc, nhưng khoái lạc tình dục (giống như tất cả các khoái lạc giác quan) có thể là nguồn gốc của sự chấp trước. Một nền đạo đức như vậy cũng phải dựa trên các nguyên tắc đạo đức Phật giáo chung như cam kết không gây hại.

Và vì vậy, tôi xin kết thúc ở đây: không phải với những câu trả lời đầy đủ, mà là với những gợi ý – những gợi ý về một đạo đức tình dục Phật giáo công bằng cho thời đại chúng ta nên như thế nào. Và tôi để lại cho các bạn những gợi ý này với hy vọng rằng các bạn sẽ suy ngẫm về điều này, và khi làm như vậy, các bạn sẽ chấp nhận lời mời của tôi để cùng tham gia vào nhiệm vụ vô cùng thú vị này: suy nghĩ về tình dục thông qua truyền thống kinh điển Phật giáo vĩ đại.

Một lần nữa xin cảm ơn lời mời chân thành, và cảm ơn tất cả mọi người vì sự kiên nhẫn và quan tâm.

Footnotes

Ornament

https://info-buddhism.com/Buddhism-Sexuality-Cabezon.html



[1] José Ignacio Cabezón là một học giả lỗi lạc quốc tế về Phật giáo Tây Tạng, đồng thời chính là người vinh dự được bầu chọn làm Giảng viên khách mời xuất sắc Lenz đầu tiên (First Lenz Distinguished Lecturer) phối hợp tổ chức bởi Đại học Naropa và Quỹ Lenz.
[2] Steve Peskind, một thành viên của Hội Phật giáo Đồng tính, điều phối viên của Dự án Phật giáo phòng chống AIDS, và là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất về sự cần thiết phải đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma về vấn đề này, đã chính thức yêu cầu cuộc gặp mặt trong một bức thư gửi Ngài vào tháng 1 năm 1997. Cùng tháng đó, một bài báo trên tờ báo cộng đồng người đồng tính nam và nữ của San Francisco, Bay Area Reporter, đã đề cập đến tranh cãi; và vào tháng 4, tờ San Francisco Examiner đã đăng một bài viết dài về chủ đề này. Xem Dennis Conkin, “Những bình luận ‘không phù hợp’ về người đồng tính của Đức Đạt Lai Lạt Ma gây bất hòa ở San Francisco,” Bay Area Reporter tập 27, số 2 (ngày 9 tháng 1 năm 1997), trang 1415; Julie Chao, “Lời nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma làm tổn thương người đồng tính,” San Francisco Examiner (ngày 13 tháng 4 năm 1997), mục C3, trang 1.
[3] Để biết thêm thông tin về tuyên bố trước đó của Đức Đạt Lai Lạt Ma về vấn đề này, hãy xem http://www.ilga.org/news_results.asp?LanguageID=1&FileCategory=1&ZoneID=7&FileID=782. [3]|
[4] Tăng đoàn là cộng đồng gồm các Phật tử tăng ni và cư sĩ.
[5] Những trích dẫn khác nhau này được lấy từ một tài liệu do bà Eva Herzer biên soạn ngay sau cuộc gặp, “Biên bản cuộc gặp giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và các nhà lãnh đạo đồng tính nam và nữ, San Francisco, ngày 11 tháng 6 năm 1997”, chưa được công bố.
[6] hành động gom góp, hệ thống hóa toàn bộ các mảnh ghép tri thức rải rác từ nhiều thể loại kinh văn khác nhau (như Luật tạng, Kinh điển và Mật tục) liên quan đến cơ thể học, tâm lý học kích thích, hành vi tính dục và các phương pháp tu luyện năng lượng giới tính
[7] Tác giả Winton Higgins thảo luận về chủ đề Đạo đức Tình dục Phật giáo trong bài viết được đăng tải trên nền tảng BuddhaNet [6]. Bài viết cung cấp góc nhìn về các vấn đề đạo đức liên quan đến tình dục trong bối cảnh thực hành Phật giáo [6]. Xem bài viết gốc tại Buddhanet.
[8] Dưới đây là phần việt dịch thông tin nguồn tham khảo (footnote số 7) từ bài viết ⁠Thinking through Texts: Toward a Critical Buddhist Theology of Sexuality của học giả José Ignacio Cabezón: [1]