Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

CHƯƠNG 11: LỢI ÍCH CỦA BẢN VĂN

BẢO TÁNH LUẬN

Nguyên tác: Chapter 11: The Benefits Of The Text
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***


 [377] Bảo Tánh Luận chỉ ra rằng tất cả chúng sinh đều sở hữu bản tính Phật (buddha essence). Bốn điểm chính của Bảo Tánh Luận là:
(1)
những phẩm chất này biểu hiện như thế nào;
(2)
những phẩm chất nào phát triển khi đạt giác ngộ;
(3)
những phẩm chất nào sẽ phát triển từ giác ngộ; và
(4)
những phẩm chất đó tiếp tục giúp đỡ tất cả chúng sinh như thế nào.
Bốn điểm này được gọi là bốn điều không thể nghĩ bàn, bởi vì hầu hết chúng sinh — kể cả các Bồ Tát — không thể trực tiếp hiểu được những điểm này.

[378] Những điểm này là không thể nghĩ bàn, nhưng những người có trí tuệ — nghĩa là những người có trí thông minh, sự tinh tấn và niềm tin — sẽ trở thành pháp khí để tiếp nhận vô số phẩm chất của Phật. niềm tin sâu sắc, nguyện vọng chân thành, và một sự hiểu biết gián tiếp về những phẩm chất này là một điều kiện tốt, bởi vì nhờ đó người ta trở thành pháp khí để đạt được tất cả các phẩm chất của sự giải thoát và sự viên mãn của Đức Phật. Vì vậy, Bảo Tánh Luận giống như bước đầu tiên hướng tới việc chứng ngộ các phẩm chất của một vị Phật, bởi vì nó mang lại cho ta niềm tin rằng ta thực sự có thể đạt được giác ngộ.

Những người có sự quan tâm đến các phẩm chất này đang gieo trồng khu vườn của niềm hoan hỷ trong tâm mình, và từ những phẩm chất ấy tất cả các đức hạnh sẽ sinh trưởng. Điều này giống như khi ta trồng một rễ cây, từ đó một thân cây sẽ mọc lên và phát triển. Tuy nhiên, nếu không trồng rễ cây, thì không có hy vọng có được một cây xanh. Khi một gốc rễ đức hạnh rất mạnh mẽ đã được gieo trồng, nó sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi đạt được sự chứng ngộ. Người có loại đức hạnh này vượt trội hơn đức hạnh của bất kỳ chúng sinh nào khác, bởi vì chính đức hạnh ấy sẽ đưa họ đến những phẩm chất giác ngộ. Vì vậy, nghiên cứu và thiền định về Bảo Tánh Luận mang lại lợi ích lớn hơn so với việc thực hành bố thí, hành vi thiện xảo hay nhẫn nhục. Chủ đề của bản văn này rất quý báu, bởi vì nếu một người nghiên cứu bản văn này, chắc chắn nó sẽ giúp người ấy đạt đến Phật quả.

Mặc dù bản văn này không thể nghĩ bàn đối với những chúng sinh bình thường, nhưng nếu một người học giáo pháp này với niềm tinthực hành theo đó, thì người ấy sẽ đạt được Phật quả.

[379] Giả sử một Bồ Tát thực hành đại bố thí để đạt được giác ngộ. Mỗi ngày, vị ấy dâng cúng những cõi đất bằng vàng được trang hoàng bằng châu báu nhiều như số nguyên tử trong các cõi Phật. Nếu một Bồ Tát khác chỉ cần nghe những lời của bản văn này và hiểu rằng giáo pháp này thật sự là nguyên nhân trực tiếp đưa đến giác ngộ, rồi với niềm tin và cảm hứng mạnh mẽ phát khởi tâm đạt đến giác ngộ, thì vị Bồ Tát này sẽ có công đức lớn hơn vị Bồ Tát đang thực hiện những sự cúng dường to lớn kia.

[380] Một ví dụ thứ hai cho thấy rằng ngay cả công đức của việc giữ gìn giới hạnh vô cùng thanh tịnh cũng không thể sánh bằng cảm giác niềm tin đối với giáo pháp này. Nếu một người phát nguyện đạt đến giác ngộ bằng cách giữ gìn hạnh kiểm hoàn toàn thanh tịnh của thân, khẩu và ý trong vô số kiếp, đến mức mọi hành động xấu ác đều được từ bỏ một cách tự nhiên, rồi đem so sánh với một người được truyền cảm hứng bởi bản văn này, có nhiệt tâm lớn, niềm hoan hỷ lớn, niềm tin và lòng sùng kính, thì công đức của người sau sẽ lớn hơn rất nhiều.

[381] Giả sử có một người thực hành thiền định (định) để dập tắt ngọn lửa của các phiền não, những thứ dẫn đến sự tồn tại trong ba cõi của luân hồi (samsara). Nhờ sự thiền định này, người ấy đã dập tắt được ngọn lửa của các phiền não. Nếu so sánh người này với một người nghiên cứu và thực hành bản văn này, thì lợi ích của việc nghiên cứu và thực hành bản văn này sẽ lớn hơn so với việc chỉ thực hành thiền định (định).

[382] Làm sao có thể nói rằng công đức của việc chỉ nghe giáo pháp này và khởi lên sự quan tâm cùng niềm tin đối với nó lại lớn hơn công đức đến từ đại bố thí, hành vi thiện xảo (giới hạnh), hay thiền định? Câu trả lời là: bố thí mang lại sự giàu có, thực hành hạnh lành thiện xảo (giới hạnh) mang lại sự tái sinh vào các cõi cao, và thực hành thiền định giúp làm giảm các phiền não. Tuy nhiên, Bảo Tánh Luận giảng dạy những điểm không thể nghĩ bàn, những điều có thể dẫn đến trí tuệ (prajna). Khi trí tuệ (prajna) phát triển, những che chướng của một người sẽ giảm dần, và nhờ đó sự hiểu biết cùng các phẩm chất của sự chứng ngộ sẽ phát sinh — đây chính là những bước đầu tiên hướng tới Phật quả. Vì vậy, nghe giáo pháp này và phát khởi sự quan tâm đối với nó sẽ dẫn đến thành tựu Phật quả, nên sự phát triển trí tuệ (prajna) cao quý hơn sự phát triển của các đức hạnh khác.

Còn có một lợi ích khác của giáo pháp này. Uttara Tantra dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng Phật tánh ấy bị che phủ bởi những che chướng tạm thời. Tuy nhiên, những che chướng này có thể được loại bỏ, để giác ngộ hiển lộ. Khi điều này xảy ra, không phải là một trạng thái trống rỗng, mà người ấy sẽ phát triển đầy đủ các phẩm chất của sự giải thoát và sự viên mãn. Khi đã sở hữu những phẩm chất này, thì một cách tự nhiên, không cần cố gắng và không gián đoạn, người ấy sẽ hoạt động vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Những gì được giảng dạy trong Bảo Tánh Luận thuộc về lĩnh vực tri kiến đặc biệt của tất cả chư Phật. Nhưng nếu một người nghe và học giáo pháp này, người ấy sẽ bắt đầu hiểu rằng mình vốn đã có hạt giống của Phật quả trong chính bản thân, và khi biết điều đó, người ấy sẽ có niềm tin vững chắc rằng mình có thể trở thành Phật. Vì vậy, khi nghe giáo pháp này và tin tưởng vào nó, điều đó sẽ trở thành nguyên nhân đưa đến việc thành Phật. Nếu một người hiểu được bốn điều không thể nghĩ bàn, thì sự hiểu biết này sẽ một cách tự nhiên và không cần gắng sức làm phát sinh những phẩm chất như nguyện vọng mạnh mẽ, tinh tấn, chánh niệm, thiền định (định), trí tuệ (prajna), v.v. Những phẩm chất này sẽ tự nhiên sinh khởi, và tâm Bồ-đề (bodhicitta) — ước nguyện đạt giác ngộ để giải thoát tất cả chúng sinh — sẽ ngày càng phát triển.

[388] Khi chúng ta đã hiểu những giáo pháp này, chúng ta sẽ không còn thối chuyển, và công đức mà chúng ta đã tích lũy sẽ được hoàn thiện nhờ sự thực hành năm ba-la-mật còn lại. Điều này là vì khi chúng ta học giáo pháp này với tâm nguyện, chúng ta sẽ phát triển một phẩm chất đối nghịch với cách suy nghĩ phân biệt “ta” và “người khác.” Nhờ vậy, giáo pháp này có thể diệt trừ tư duy ba phần (tam luân) — tức là ý niệm về người làm, hành động và đối tượng. Khi những tư tưởng phân biệt này được vượt qua, chúng ta sẽ trở nên viên mãn và thanh tịnh.

[389] Thông qua năm ba-la-mật gồm bố thí, trì giới (hạnh lành), nhẫn nhục, thiền định và tinh tấn, công đức được tích lũy.
-
Công đức từ bố thí được tích lũy qua việc cho đi.
-
Công đức từ hạnh lành thiện xảo (trì giới) được tích lũy bằng cách giữ gìn giới hạnh thật thanh tịnh.
-
Công đức của nhẫn nhục và thiền định phát sinh từ sự thực hành thiền tập.
-
Công đức từ tinh tấn đến từ sự siêng năng nỗ lực thực hành tất cả các phẩm chất khác.

[390] Lợi ích tiếp theo của việc hiểu giáo pháp này và thực hành đúng đắn là nó giúp loại bỏ các che chướng.

Che chướng về nhận thức là những che chướng do tư duy tam luân gây ra, nghĩa là khi ta phân chia mọi hành động thành ba phần: chủ thể, đối tượng và hành động giữa chúng.

Ví dụ, trong bố thí:
-
Đối tượng bên ngoài có thể là người nghèo,
-
Chủ thể có thể là một vị Bồ Tát,
-
Hành độngvật được cho đi.

Nếu tin rằng ba yếu tố này là thật có và độc lập, thì hành động bố thí sẽ trở nên không thanh tịnh và từ đó tạo ra che chướng về nhận thức.

Các che chướng cảm xúc là những tư tưởng tiêu cực, chẳng hạn như tham lam, những thứ có thể ngăn cản việc thực hành bố thí. Những che chướng này ngăn chúng ta đạt đến giác ngộ, và khi còn chúng thì không có cách nào đạt được giải thoát. Ngay cả khi siêng năng thực hành các ba-la-mật, những che chướng này vẫn không thể được loại bỏ hoàn toàn. Cách duy nhất để loại bỏ các che chướng là thông qua trí tuệ (prajna). Vì vậy, sự thực hành trí tuệ bát nhã là vô cùng quan trọng. Chúng ta có thể phát triển trí tuệ bát nhã bằng cách nghiên cứu các kinh (sutra) hoặc các luận (shastra) về những giáo lý thâm sâu liên quan đến chân lý tuyệt đối. Đây là lý do việc nghiên cứu các chủ đề thâm sâu là nguyên nhân để phát triển trí tuệ bát nhã, và cũng là lý do việc học Bảo Tánh Luận rất quan trọng.

Bảo Tánh Luận Được Soạn Thảo Như Thế Nào.

[392] Trước hết, Bảo Tánh Luận được ngài Vô Trước (Asanga) trước tác dựa trên những lời dạy của Đức Phật Di Lặc (Maitreya). Bản văn này dựa trên lời dạy của Đức Phật và được viết phù hợp với các kinh điển (sutra), đặc biệt là hai bộ kinh nói về chân lý tuyệt đối.

Thứ hai, ngoài việc dựa vào lời dạy của Đức Phật, ngài Vô Trước còn dựa vào lập luận logic để làm sáng tỏ những nghi ngờ. Ngài cũng sử dụng trực nhận của các hành giả du-già (yogis). Mục đích của ngài là thanh tịnh hóa Phật tánh, vốn chính là bản chất của Pháp thân (dharmakaya), và giúp những người phát nguyện theo con đường Đại thừa đạt đến Phật quả. Có người có thể nghĩ rằng nếu đã dựa vào kinh điển, thì không cần dùng đến lý luận. Nhưng thực ra cần có sự kết hợp giữa kinh điển và lý luận. Ví dụ, khi nhìn một vật, ta cần điều kiện bên ngoàiánh sáng, như mặt trời hoặc ngọn đèn, và cũng cần điều kiện bên trongthị lực tốt. Chỉ có một điều kiện thôi thì không đủ. Tương tự như vậy, để hiểu lời dạy của Đức Phật, cần có điều kiện bên ngoàihiểu ý nghĩa của lời trong kinh điển, và điều kiện bên tronglý luận logic. Khi hai điều kiện này kết hợp, ta mới có thể thực sự hiểu được giáo pháp.

Thứ ba, cần xác định liệu ta có thể tin tưởng những giáo pháp này của Đức Phật hay không. Những lời dạy của các bậc đại hiền triết có khả năng loại bỏ tất cả các phiền não liên quan đến ba cõichỉ ra lợi ích của sự an bình. Vì vậy, giáo pháp chân chính phải chỉ ra khả năng đạt được Niết-bàngắn chặt với Chánh pháp (Dharma). Những giáo pháp ấy phải loại trừ các phiền não của cả ba cõi trong luân hồi (samsara)mang lại sự an bình cho tâm khi giải thoát được đạt tới. Nếu một giáo pháp không có những đặc điểm này, thì không thể được xem là lời dạy của Đức Phật.

Các luận (śāstra) tuy không phải là lời trực tiếp của Đức Phật, nhưng vẫn xứng đáng được tôn kính nếu chúng có những đặc điểm sau:
-
Trước hết, chúng không được viết ra vì mong muốn danh tiếng, mà được viết để giúp truyền bá giáo pháp và giúp đỡ các chúng sinh khác trên con đường tu tập.
-
Những tác giả của các luận không viết theo ý thích hay tưởng tượng cá nhân, mà viết với tâm hoàn toàn không bị che chướng, và hoàn toàn phù hợp với lời dạy của Đức Phật.
-
Tác phẩm của họ cũng phải có phẩm chất hỗ trợ cho con đường giải thoát, nghĩa là thông qua việc thực hành theo các luận này, người ta có thể đạt được giải thoát, bởi vì những giáo pháp ấy hài hòa với các điều kiện dẫn đến giải thoát.
-
những người trước tác các luận có động cơ thanh tịnh, và vì những giáo pháp này rất gần với những gì chính Đức Phật đã dạy, nên chúng xứng đáng được tôn kính, thậm chí được đặt lên đỉnh đầu giống như khi ta tôn kính lời dạy của Đức Phật.

(Theo phong tục Tây Tạng, khi nhận một vật phẩm tôn giáo, người ta chạm nó lên đỉnh đầu để nhận sự gia trì và ban phước từ vật ấy.)

[396] Đức Phậttri kiến hoàn toàn về bản chất của mọi hiện tượng, bởi vì Ngài hoàn toàn thanh tịnh. Các Bồ Tát cũng có nhiều phẩm chất này, nhưng chưa đầy đủ tất cả như Đức Phật.Những gì Đức Phật đã dạy trong các kinh (sutra) không nên bị sửa đổi hay pha tạp, nghĩa là không nên nói rằng phần này của giáo pháp là đúng, còn phần kia thì không đúng.Nếu làm như vậy thì mọi thứ sẽ bị trộn lẫn và rối loạn, và giáo pháp chân thật sẽ bị phá hủy.

[397] Vì Chánh pháp (dharma) quý báu như vậy, nên từ bỏ nó là điều rất tai hại. Một người có thể từ bỏ Chánh pháp khi không hiểu mọi việc đúng như bản chất của chúng, và vì thế sinh tâm coi thường giáo pháp. Điều này xảy ra vì những người ấy quá bám chấp và dính mắc vào quan điểm riêng của mình, đến mức không thể thay đổi suy nghĩ. Ví dụ, một tấm vải sạch có thể nhuộm thành bất kỳ màu nào, nhưng nếu trên đó có vết dầu mỡ, thì không thể nhuộm đúng màu được. Tương tự như vậy, nếu tâm bị che phủ bởi những quan điểm cố chấp, thì dù có tiếp xúc với Chánh pháp, tâm ấy vẫn không thay đổi các ý kiến của mình. Điều này trở thành một nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc từ bỏ Chánh pháp.

[398] Một nguyên nhân trực tiếp hơn khiến người ta không tiến bộ trên con đường tâm linhkhông có trí tuệ đủ tốt, nên không hiểu được bản chất của các hiện tượng. Một nguyên nhân khác là thiếu tâm nguyện hướng đến điều thiện. Khi không có tâm nguyện này, người ta không có mong muốn giúp đỡ các chúng sinh khác, cũng không có ý muốn làm điều thiện.

Khi tâm nguyện hướng đến điều thiện này vắng mặt, thì mọi thứ trở nên ô nhiễmsinh ra những tà kiến, chẳng hạn như từ bỏ Chánh pháp. Một người có thể sinh tâm kiêu mạn lớn, khoe khoang những phẩm chất mà mình thực sự không có. Hoặc có thể trong những đời trước chưa từng tiếp xúc với Chánh pháp, và dĩ nhiên cũng không thực hành nhiều, nên kết quả là tâm bị che phủ nặng nề bởi vô minh.

Nguyên nhân tiếp theobị che chướng quá nặng, đến mức nhầm lẫn giữa ý nghĩa phương tiện (tạm thời) trong lời dạy của Đức Phật với ý nghĩa tuyệt đối, hoặc ngược lại. 

Ngoài ra còn có sáu nguyên nhân do sự giao du sai lầm. Nếu một người gần gũi với những người bác bỏ Chánh pháp, tránh xa những người gìn giữ và thực hành giáo pháp, hoặc có tâm nguyện thấp kém và thích những điều trái ngược với Chánh pháp, thì rất dễ dẫn đến việc từ bỏ lời dạy của Đức Phật. Vì vậy, chúng ta cần nhận biết những nguyên nhân nàycố gắng loại bỏ chúng.

[399] Những người hiểu Chánh pháp không cần phải sợ lửa, rắn độc, kẻ sát nhân hay sét đánh. Điều mà người ta nên thật sự sợđánh mất Chánh pháp. Bởi vì lửa, rắn, kẻ giết người v.v. chỉ có thể lấy đi mạng sống của một người, nhưng đánh mất Chánh pháp lại dẫn đến những khổ đau khủng khiếp của các cõi thấpsự đau khổ của luân hồi (samsara). Vì vậy, đánh mất giáo pháp nguy hiểm hơn bất cứ điều gì khác.

[400] Nếu một người giao du rất thân thiết với những người bạn khuyến khích làm điều sai trái, thì những điều vô cùng tiêu cực sẽ phát sinh. Dưới ảnh hưởng xấu này, một người thậm chí có thể muốn giết Đức Phật, giết cha hoặc mẹ của mình, hoặc giết một vị A-la-hán. Người ấy cũng có thể tìm cách gây chia rẽ trong Tăng đoàn (sangha). Đây là những hành động xấu ác nghiêm trọng nhất, được gọi là năm tội vô gián — nghĩa là khi chết, người phạm những hành động này sẽ ngay lập tức rơi vào cõi khổ đau tồi tệ nhất.

Thậm chí còn có những hành động tệ hại hơn. Tuy nhiên, nếu một người đã làm những hành động này nhưng sau đó nhận ra mức độ nghiêm trọng của chúng, thì người ấy có thể sử dụng bốn sức mạnh đối trị (bốn năng lực sám hối) để tịnh hóa bản thân, và thậm chí đạt được giải thoát. Vì vậy, ngay cả năm hành động cực kỳ xấu ác này cũng không nhất thiết dẫn đến kết quả khủng khiếp, nếu một người có khả năng tịnh hóa chúng.

Tuy nhiên, nếu một người có tà kiến đối với Chánh phápmạnh mẽ không ưa thích nó, thì trong ngắn hạn điều đó có thể không có vẻ quá nghiêm trọng, nhưng về lâu dàirất nguy hiểm. Bởi vì khi đó người ta sẽ chỉ bám chấp vào những điều bên ngoài, không thấy được những phẩm chất tốt đẹp của chính mình, và có thể bước vào con đường sai lầm. Chừng nào người ấy chưa từ bỏ thái độ sai lầm đối với Chánh pháp, thì không bao giờ có thể đạt được giải thoát. Nếu một người không bao giờ nghĩ đến việc đạt giải thoát, thì người ấy sẽ không bao giờ đạt được nó. Vì vậy, thái độ này thậm chí còn tệ hơn việc phạm năm tội vô gián, bởi vì với tâm thái như vậy, sẽ không còn triển vọng đạt được giải thoát. Đó là lý do cần phải cẩn trọng đối với những người không ưa Chánh pháp và những người có tà kiến.

HỒI HƯỚNG (Dedication)

[401] Phần hồi hướngmột lời cầu nguyện trí tuệ dâng lên Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus), đồng thời cũng là bản tóm tắt của toàn bộ bản văn. Phần này bắt đầu bằng lời cầu nguyện rằng mọi công đứcBồ Tát Di Lặc (Maitreya) đã đạt được nhờ giải thích đúng đắn bảy điểm kim cang (vajra points) này, cầu mong tất cả chúng sinh đều có thể gặp Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus), vị hiền thánh của sự sống vô lượng, được ban cho tuổi thọ vô hạn.

Việc được thấy Ngài trong thân Báo thân (sambhogakaya) mang lại:
-
Lợi ích ngắn hạn: có tuổi thọ dài lâu,
-
Lợi ích lâu dài: khi pháp nhãn được khai mở, người ấy sẽ có khả năng đạt được giác ngộ viên mãn.

[402] Sau đây là phần tóm lược của chương kết luận về lợi ích của bản văn. Cụm từ “dựa trên cơ sở nào” nói đến hai dòng đầu của kệ 392, trong đó nói rằng bản văn được soạn dựa trên lời dạy của Đức Phật và trên cơ sở lập luận logic.

Hai dòng của kệ này cũng trả lời câu hỏi “vì những lý do nào”, đó là để thanh tịnh hóa chính mình và để giúp các chúng sinh khác đạt đến Phật quả.

Câu hỏi “bằng cách nào” được giải thích trong kệ 393, nói rằng giáo pháp này được trình bày dựa trên lời dạy của Đức Phật và sự hiểu biết của Maitreya, với ví dụ về sự cần thiết của ánh sáng và đôi mắt để có thể nhìn thấy một vật một cách đúng đắn.

Cụm từ “điều đã được giải thích” nói đến kệ 394, nói về cách nhận biết một giáo pháp Phật giáo chân chính, và các luận (śāstra) được định nghĩa trong kệ 395.

[403] Tiếp theo là những phương tiện để tự thanh tịnh hóa bản thân. Một người không nên thay đổi bất kỳ lời dạy nào của Đức Phật, và nên thực hành chúng một cách đúng đắn nhất có thể (điều này nói đến kệ 396 và 397). Sau đó bản văn đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến việc đánh mất Chánh pháp (kệ 398), và những hậu quả của sự mất mát này (kệ 399 và 400).
-
Kết quả trước mắttái sinh vào những cõi thấp.
-
Kết quả tối hậubị tước mất cơ hội đạt được giải thoát trong một thời gian rất dài.

[404] Kệ cuối cùng của bản văn nói về sự hồi hướng (kệ 401) và trình bày kết quả ngắn hạn và dài hạn. Nhờ thực hành và hồi hướng công đức, một người có thể được sinh vào mạn-đà-la của chư Phật, thấy được phương diện Báo thân (sambhogakaya) của Đức Phật, và nhờ đó nhận ra bản chất chân thật của mọi hiện tượngđạt được giác ngộ tối thượng. Điều này cho thấy rằng khi một người đạt đến mức giác ngộ tương đối của một vị Bồ Tát, người ấy được ở trong sự hiện diện của Đức Phật Báo thân. Khi pháp nhãn được khai mở, người ấy sẽ đạt đến mức giác ngộ tối hậu.

TÓM TẮT (SUMMARY)

Chúng ta là những người Phật tử, nên phải đi theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy. Chúng ta cần thực hành theo những gì Đức Phật dạy trong các kinh (sutra) và mật điển (tantra), và hiểu chúng đúng như bản chất của chúng.

Tuy nhiên, các kinh đôi khi được giảng để trả lời một hoàn cảnh cụ thể hoặc một câu hỏi riêng của đệ tử, và đôi khi Đức Phật trả lời dựa trên mức hiểu biết phù hợp với thính chúng lúc bấy giờ. Vì vậy, một số đoạn trong kinh rất rõ ràng, nhưng một số đoạn khác lại khó hiểu hơn.

Ngoài ra, mỗi kinh thường tập trung vào một chủ đề riêng, nên nếu muốn hiểu những khái niệm chung của Phật giáo, người ta phải đọc nhiều kinh khác nhau rải rác trong nhiều bộ sách.

Đó là lý do vì sao đa số Phật tử ở Tây Tạng thường nghiên cứu các bộ luận (śāstra). Những bộ luận này giúp làm cho ý nghĩa sâu xa của lời Phật trở nên dễ hiểu hơn, đồng thời không làm thay đổi ý nghĩa của Chánh pháp. Vì vậy, các bộ luận có tầm quan trọng vô cùng lớn.

Bảo Tánh Luận được Bồ Tát Di Lặc trước tác. Ngài không phải là một chúng sinh bình thường, vì Ngài là đại diện của chư Phậtsẽ là vị Phật kế tiếp xuất hiện trong thế giới của chúng ta. Vì thế, Ngài là một trong những tác giả vĩ đại nhất của các bộ luận.

Bảo Tánh Luận được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng bởi học giả vĩ đại Sadzana, cháu của Bà-la-môn Ratnavajra, người đến từ “Thành phố Vinh Quang” — được cho là thành phố Srinagari, dù điều này không hoàn toàn chắc chắn.

Bản văn này cũng được dịch tại chính “Thành phố Vinh Quang” đó bởi tu sĩ Tây Tạng Loden Sherab./.

CHƯƠNG 13 : CHUYỂN HÓA PHẨM CHẤT

 Từ quyển: The Science of Meditation
Nguyên tác: Altering Traits
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 



***

“Lúc ban đầu, chẳng có gì đến. Ở giữa chặng đường, chẳng có gì ở lại. Và đến cuối cùng, chẳng có gì rời đi.” Câu nói triết lý ẩn ý ấy xuất phát từ Jetsun Milarepa, nhà thơ, hành giả yoga và bậc hiền triết lỗi lạc của Tây Tạng vào thế kỷ XII.

Matthieu Ricard giải thích lời dạy này như sau: khi mới bắt đầu thực hành thiền định, ta hầu như không cảm nhận được sự thay đổi nào trong bản thân. Sau một thời gian bền bỉ tu tập, ta bắt đầu nhận ra những chuyển biến trong cách sống và cách hiện hữu của mình, nhưng chúng còn đến rồi đi, chưa thật sự vững vàng. Cuối cùng, khi sự thực hành trở nên ổn định, những chuyển hóa ấy trở thành thường hằng và bền vững, không còn dao động nữa. Đó chính là những phẩm chất đã được chuyển hóa — những thay đổi sâu sắc và lâu dài trong con người ta.

Nhìn tổng thể, các dữ liệu về thiền cho thấy một quỹ đạo chuyển hóa tăng dần — từ người mới bắt đầu, đến những hành giả thực hành lâu năm, rồi đến các yogi. Cung bậc tiến bộ này dường như phản ánh cả tổng số giờ thực hành trong suốt cuộc đời lẫn thời gian nhập thất dưới sự hướng dẫn của các bậc thầy giàu kinh nghiệm.

Các nghiên cứu về người mới bắt đầu thường xem xét tác động của dưới 100 giờ thực hành — thậm chí có trường hợp chỉ khoảng 7 giờ. Nhóm hành giả lâu năm, chủ yếu là những người thực hành thiền Vipassana, có trung bình khoảng 9.000 giờ thực hành trong đời (dao động từ 1.000 đến hơn 10.000 giờ).

Còn các yogi được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Richard J. Davidson đều đã hoàn thành ít nhất một khóa nhập thất ba năm theo truyền thống Tây Tạng, với tổng số giờ thực hành suốt đời có người lên tới 62.000 giờ như Mingyur Rinpoche. Trung bình, các yogi có số giờ thực hành gấp ba lần nhóm hành giả lâu năm — khoảng 27.000 giờ so với 9.000 giờ.

Một vài hành giả Vipassana lâu năm đã tích lũy hơn 20.000 giờ thực hành trong đời, và một hai người thậm chí đạt tới 30.000 giờ. Tuy vậy, không ai trong số họ từng tham dự một khóa nhập thất ba năm — điều vốn dần trở thành dấu hiệu phân biệt thực tế của nhóm yogi.

Dù có một vài trường hợp hiếm hoi số giờ thực hành bị chồng lấn giữa các nhóm, phần lớn vẫn có thể xếp vào ba nhóm tương đối rõ ràng như vậy.

Không có một mốc số giờ cố định, cứng nhắc nào để phân định ba cấp độ này. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường tập trung vào những khoảng thời gian thực hành nhất định. Chúng tôi tạm chia lợi ích của thiền thành ba mức độ “liều lượng – đáp ứng”, tương ứng khá gần với các cấp bậc người mới, nghiệp dư, và chuyên nghiệp — tương tự như trong mọi lĩnh vực kỹ năng khác, từ vũ công ba lê cho đến các nhà vô địch cờ vua.

Phần lớn người hành thiền ở phương Tây thuộc cấp độ đầu tiên: những người thiền trong thời gian ngắn — từ vài phút đến khoảng nửa giờ mỗi ngày. Một nhóm nhỏ hơn tiếp tục tiến lên mức hành giả lâu năm. Và chỉ có rất ít người đạt tới trình độ tinh thông của các yogi.

Hãy xem những tác động ở những người mới bắt đầu thực hành thiền. Khi nói đến khả năng hồi phục sau căng thẳng, bằng chứng về lợi ích trong vài tháng đầu thực hành hằng ngày chủ yếu mang tính chủ quan hơn là khách quan — và vẫn còn chưa thật vững chắc.

Tuy vậy, hạch hạnh nhân (amygdala) — một trung tâm quan trọng trong hệ thống xử lý căng thẳng của não bộ — cho thấy mức phản ứng giảm xuống sau khoảng 30 giờ thực hành trong tám tuần theo chương trình Mindfulness-Based Stress Reduction (MBSR).

Thiền về lòng từ bi cho thấy lợi ích rõ rệt ngay từ sớm. Chỉ khoảng bảy giờ thực hành trong vòng hai tuần đã có thể làm tăng sự kết nối giữa các mạch thần kinh liên quan đến sự thấu cảm và cảm xúc tích cực — đủ mạnh để những thay đổi này xuất hiện cả ngoài trạng thái thiền chính thức. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy một trạng thái nhất thời đang dần chuyển thành một phẩm chất bền vững, dù những hiệu ứng này có lẽ sẽ không kéo dài nếu thiếu thực hành hằng ngày. Việc chúng biểu lộ cả khi không ngồi thiền có thể phản ánh nền tảng “thiện lành” vốn có trong cấu trúc tự nhiên của con người.

Người mới bắt đầu cũng sớm nhận thấy sự cải thiện về khả năng chú ý. Chỉ sau tám phút thực hành chánh niệm, tình trạng tâm trí lang thang đã giảm — dù hiệu quả này còn ngắn ngủi. Tuy vậy, chỉ hai tuần thực hành cũng đủ giúp giảm sự xao lãng, tăng khả năng tập trung và cải thiện trí nhớ làm việc, thậm chí nâng cao đáng kể điểm số trong kỳ thi Graduate Record Examinations (GRE) — kỳ thi đầu vào bậc cao học. Một số nghiên cứu còn cho thấy mức giảm hoạt hóa ở các vùng não liên quan đến “cái tôi” trong mạng lưới mặc định (default mode network) chỉ sau khoảng hai tháng thực hành.

Về sức khỏe thể chất, cũng có những tin vui: những cải thiện nhỏ trong các dấu ấn phân tử liên quan đến quá trình lão hóa tế bào dường như đã xuất hiện chỉ sau khoảng ba mươi giờ thực hành.

Dẫu vậy, tất cả những hiệu ứng ấy khó có thể duy trì nếu không có sự thực hành bền bỉ. Tuy nhiên, ngay cả như thế, những lợi ích này vẫn gây ấn tượng vì chúng khá rõ rệt đối với người mới bắt đầu.

Kết luận rút ra: thực hành thiền có thể mang lại kết quả tương đối nhanh ở một số phương diện, ngay cả khi bạn chỉ vừa mới bắt đầu.

VỀ LÂU DÀI

Khi kiên trì với thiền qua nhiều năm, hành giả bước vào mức thực hành dài hạn — khoảng từ 1.000 đến 10.000 giờ trong đời — và khi đó, lợi ích trở nên sâu sắc hơn. Điều này thường đồng nghĩa với việc duy trì thời thiền hằng ngày, cùng với những khóa nhập thất hằng năm kéo dài khoảng một tuần để được hướng dẫn thêm — và tiếp tục như vậy suốt nhiều năm.

Những tác động ban đầu không chỉ được củng cố mà còn mở rộng, đồng thời xuất hiện thêm các chuyển biến mới.

Chẳng hạn, trong khoảng thực hành này, ta thấy xuất hiện các chỉ dấu thần kinh và nội tiết cho thấy mức phản ứng với căng thẳng đã giảm xuống. Sự kết nối chức năng trong một mạch não quan trọng đối với khả năng điều hòa cảm xúc được tăng cường. Đồng thời, mức cortisol — hormone chủ chốt do tuyến thượng thận tiết ra khi cơ thể đối diện với căng thẳng — cũng suy giảm.

Thực hành tâm từ (loving-kindness) và lòng bi mẫn (compassion) trong thời gian dài giúp tăng cường sự “cộng hưởng” thần kinh trước nỗi khổ của người khác — đi kèm với sự quan tâm sâu sắc hơn và khả năng thực sự ra tay giúp đỡ cao hơn.

Khả năng chú ý cũng được củng cố trên nhiều phương diện khi thực hành lâu năm:
• Sự chú ý có chọn lọc trở nên sắc bén hơn.
• Hiện tượng “chớp mắt chú ý” (attentional blink) giảm xuống.
• Khả năng duy trì tập trung lâu dài trở nên dễ dàng hơn.
• Trạng thái tỉnh táo, sẵn sàng phản ứng cũng gia tăng.

Ngoài ra, những người thực hành lâu năm cho thấy khả năng điều chỉnh giảm các dòng suy nghĩ lan man và xu hướng ám ảnh về bản thân — vốn liên quan đến mạng lưới mặc định (default mode network). Sự kết nối bên trong các mạch này cũng suy yếu đi, cho thấy mức độ bận tâm về cái tôi giảm xuống.

Những cải thiện này thường biểu lộ rõ trong trạng thái thiền định, và nhìn chung có xu hướng dần trở thành những phẩm chất bền vững, chứ không chỉ là những trạng thái nhất thời.

Những chuyển biến ở các tiến trình sinh học rất căn bản — như nhịp thở chậm lại — thường chỉ xuất hiện sau vài nghìn giờ thực hành. Một số tác động trong đó dường như được tăng cường mạnh mẽ hơn nhờ những giai đoạn nhập thất chuyên sâu, thay vì chỉ thực hành hằng ngày.

Dù bằng chứng vẫn chưa hoàn toàn dứt khoát, tính mềm dẻo thần kinh (neuroplasticity) từ quá trình thực hành dài hạn có vẻ tạo ra cả những thay đổi về cấu trúc lẫn chức năng của não bộ. Chẳng hạn, sự kết nối hoạt động giữa hạch hạnh nhân (amygdala) và các mạch điều hòa ở vùng vỏ não trước trán (prefrontal cortex) trở nên chặt chẽ hơn, hỗ trợ khả năng điều tiết cảm xúc.

Đồng thời, các mạch thần kinh của nhân accumbens (nucleus accumbens) — vốn liên quan đến cảm giác “ham muốn” hay sự dính mắc — dường như thu nhỏ lại theo thời gian thực hành lâu dài, cho thấy xu hướng giảm bớt sự bám chấp.

Nhìn chung, ta thấy một xu hướng chuyển biến tăng dần theo tổng số giờ hành thiền trong đời. Tuy vậy, nhiều khả năng các hệ thống thần kinh khác nhau thay đổi với tốc độ khác nhau. Chẳng hạn, lợi ích của thực hành lòng bi mẫn thường xuất hiện sớm hơn so với khả năng làm chủ căng thẳng. Chúng tôi kỳ vọng rằng các nghiên cứu trong tương lai sẽ làm rõ hơn động lực “liều lượng – đáp ứng” đối với từng mạch não riêng biệt.

Những dấu hiệu đầy hứng thú cho thấy các hành giả lâu năm, ở một mức độ nào đó, trải nghiệm hiệu ứng “từ trạng thái thành phẩm chất” — tức là chính các đặc tính của trạng thái thiền định dần trở thành nền tảng bền vững, qua đó làm tăng sức mạnh của sự thực hành.

Một số yếu tố của trạng thái thiền, như sóng gamma trong não, thậm chí có thể tiếp tục duy trì cả khi ngủ. Ngoài ra, chỉ một ngày nhập thất của những hành giả dày dạn cũng đã cải thiện phản ứng miễn dịch ở cấp độ gen — một phát hiện từng khiến giới y khoa không khỏi kinh ngạc.

CÁC DU GIÀ HÀNH GIẢ (YOGIS)

Ở đẳng cấp thế giới này (khoảng 12.000 đến 62.000 giờ thực hành trong suốt cuộc đời, bao gồm nhiều năm nhập thất chuyên sâu), những hiệu ứng thật sự đáng kinh ngạc bắt đầu xuất hiện. Việc thực hành phần nào xoay quanh việc chuyển hóa các trạng thái thiền định thành phẩm chất bền vững — thuật ngữ Tây Tạng cho điều này được dịch là “trở nên quen thuộc” với tâm thái thiền định. Các trạng thái thiền hòa nhập vào các hoạt động thường nhật, khi những trạng thái biến đổi dần ổn định thành các đặc tính biến đổi và trở thành những phẩm chất lâu dài.

Tại đây, nhóm của Richie đã quan sát thấy những dấu hiệu của các đặc tính biến đổi trong chức năng não bộ, thậm chí cả cấu trúc não của các du già hành giả, cùng với những phẩm chất con người tích cực mạnh mẽ. Sự gia tăng trong các dao động gamma đồng bộ — ban đầu được ghi nhận trong quá trình thiền về lòng từ bi — cũng được tìm thấy, dù ở mức độ thấp hơn, ngay cả trong trạng thái nền. Nói cách khác, đối với các du già hành giả, trạng thái này đã trở thành một phẩm chất bền vững.

Sự tương tác giữa trạng thái và phẩm chất (state-by-trait) có nghĩa là những gì xảy ra trong lúc thiền có thể rất khác đối với các du già hành giả, và sự khác biệt này thể hiện rõ rệt khi so sánh với người mới bắt đầu thực hành cùng một phương pháp.

Có lẽ bằng chứng mạnh mẽ nhất đến từ phản ứng của các du già hành giả trước cơn đau thể chất trong một bài thực hành chánh niệm đơn giản: một hình “chữ V ngược” rõ nét — rất ít hoạt động não trong giai đoạn chờ đợi cơn đau, một đỉnh phản ứng dữ dội nhưng rất ngắn khi cơn đau xảy ra, sau đó là sự phục hồi cực kỳ nhanh chóng.

Đối với phần lớn chúng ta, việc duy trì sự tập trung đòi hỏi nỗ lực tinh thần. Nhưng với các du già hành giả có số giờ thực hành tích lũy cao nhất, sự tập trung trở nên không cần cố gắng. Khi sự chú ý của họ đã khóa chặt vào một đối tượng mục tiêu, các mạch thần kinh liên quan đến sự chú ý đòi hỏi nỗ lực sẽ lắng xuống, trong khi sự chú ý của họ vẫn duy trì trạng thái tập trung hoàn hảo.

Khi các du già hành giả thiền về lòng từ bi, sự liên kết giữa tim và não được tăng cường vượt mức thông thường. Cuối cùng, có một dữ liệu đầy gợi mở cho thấy sự thu nhỏ của nhân accumbens (nucleus accumbens) ở những người thiền lâu năm, gợi ý rằng có thể tồn tại thêm những thay đổi cấu trúc khác trong não bộ của các du già hành giả — những thay đổi hỗ trợ sự giảm bớt dính mắc, chấp thủ và tập trung vào bản ngã. Chính xác còn có những chuyển dịch thần kinh nào khác như vậy, và chúng mang ý nghĩa gì, vẫn đang chờ được giải mã trong các nghiên cứu tương lai.

 PHẦN SAU (THE AFTER)

Những dữ liệu đáng kinh ngạc này chỉ mới hé lộ phần nào sự nở rộ trọn vẹn của con đường tu tập chiêm nghiệm ở cấp độ này. Một số phát hiện xuất hiện khá tình cờ — chẳng hạn khi Richie quyết định kiểm tra dữ liệu trạng thái nền của các du già hành giả, hoặc khi ông so sánh nhóm có nhiều năm thực hành nhất với những nhóm còn lại.

Bên cạnh đó còn có những bằng chứng mang tính giai thoại: khi phòng thí nghiệm của Richie yêu cầu một du già hành giả lấy mẫu nước bọt để đánh giá mức độ hoạt động cortisol trong thời gian nhập thất, các chỉ số thấp đến mức nằm ngoài thang đo tiêu chuẩn, buộc phòng thí nghiệm phải điều chỉnh phạm vi xét nghiệm xuống thấp hơn.

Một số truyền thống Phật giáo nói về mức độ ổn định này như là sự nhận ra “thiện tính căn bản” nội tại thấm nhuần toàn bộ tâm trí và mọi hoạt động của con người. Như một vị Lạt-ma Tây Tạng từng nói về chính vị thầy của mình — một bậc thầy được tôn kính bởi tất cả các dòng truyền thừa tu tập chiêm nghiệm Tây Tạng —: “Một người như ngài có ý thức hai tầng,” trong đó những thành tựu thiền định của ngài luôn hiện diện như một nền tảng vững chắc cho bất cứ điều gì ngài làm.

Một số phòng thí nghiệm — bao gồm phòng của Richie và của Judson Brewer — đã nhận thấy rằng những người hành thiền ở trình độ cao hơn có thể biểu hiện một mô hình hoạt động não bộ, ngay cả khi chỉ đang nghỉ ngơi, tương tự như trạng thái thiền chánh niệm hoặc tâm từ ái; trong khi người mới bắt đầu thì không. Sự so sánh giữa trạng thái nền của một hành giả dày dạn kinh nghiệm với người mới thực hành là một dấu ấn đặc trưng cho cách các “phẩm chất biến đổi” (altered traits) xuất hiện trong nghiên cứu, dù nó chỉ cung cấp một lát cắt tại một thời điểm nhất định.

Có lẽ một ngày nào đó, một nghiên cứu siêu dài hạn sẽ mang lại cho chúng ta điều tương đương với một đoạn “video” cho thấy các phẩm chất biến đổi (altered traits) hình thành như thế nào theo thời gian.

Còn hiện tại, như nhóm của Judson Brewer giả thuyết, thiền dường như đang chuyển hóa trạng thái nghỉ ngơi — tức chế độ mặc định của não bộ — để nó trở nên giống với trạng thái thiền.

Hoặc như chúng tôi đã từng diễn đạt từ lâu: “cái sau” chính là “cái trước” cho lần “trong khi” tiếp theo.

TÌM KIẾM SỰ CHUYỂN HÓA BỀN VỮNG

“Nếu trái tim bạn lang thang hay bị xao lãng,” Francis de Sales (1567–1622), một vị thánh Công giáo, đã khuyên, “hãy nhẹ nhàng đưa nó trở lại điểm ban đầu… và ngay cả khi trong suốt một giờ bạn không làm gì ngoài việc đưa trái tim mình trở lại… dù mỗi lần nó lại rời đi, thì giờ đó vẫn được sử dụng rất tốt.”³

Hầu như mọi hành giả thiền định đều thực hiện một chuỗi bước chung, bất kể phương pháp cụ thể là gì. Chuỗi đó bắt đầu bằng việc đặt tâm vào một đối tượng chú ý đã chọn — nhưng rồi sau một lúc, tâm bạn lại lang thang. Khi bạn nhận ra mình đã xao lãng, bạn có thể thực hiện bước cuối cùng: đưa tâm trở về với đối tượng ban đầu.

Nghiên cứu tại Emory University do Wendy Hasenkamp (một cựu nghiên cứu sinh của SRI và hiện là giám đốc khoa học tại Mind and Life Institute) thực hiện đã phát hiện rằng các kết nối giữa những vùng não liên quan đến các bước này mạnh hơn ở những người hành thiền lâu năm.⁴ Điều quan trọng là sự khác biệt giữa nhóm thiền giả và nhóm đối chứng không chỉ xuất hiện trong lúc thiền mà còn cả ở trạng thái “nghỉ ngơi” thông thường — điều này gợi ý về một tác động mang tính đặc điểm bền vững (trait effect).

Thước đo tổng số giờ hành thiền trong suốt cuộc đời mang lại một cơ hội lý tưởng để liên hệ con số đó với, chẳng hạn, những thay đổi trong não bộ. Tuy nhiên, để bảo đảm rằng mối liên hệ ấy không phải do sự tự chọn mẫu hay các yếu tố tương tự khác gây ra, cần thêm một bước nữa: một nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal), trong đó — lý tưởng nhất — tác động sẽ ngày càng rõ rệt khi việc thực hành tiếp tục (kèm theo một nhóm đối chứng chủ động được theo dõi trong cùng khoảng thời gian nhưng không cho thấy những thay đổi đó).

Hai nghiên cứu theo chiều dọc — công trình của Tania Singer về sự đồng cảm và lòng từ bi, và của Cliff Saron về thiền shamatha — đã cung cấp một trong những bằng chứng thuyết phục nhất cho đến nay về sức mạnh của thiền trong việc tạo ra những thay đổi mang tính đặc điểm bền vững (altered traits). Và bên cạnh đó, cũng có những điều bất ngờ.

Hãy xem một phát hiện từ nghiên cứu của Tania. Bà lưu ý rằng một số nhà nghiên cứu từng thắc mắc vì sao những thiền sinh thực hành quán thân hằng ngày (như trong phương pháp của S. N. Goenka) lại không cho thấy sự cải thiện nào trong việc đếm nhịp tim của mình — một bài kiểm tra tiêu chuẩn về “liên cảm nội thân” (interoception), tức khả năng cảm nhận và điều hợp với các tín hiệu bên trong cơ thể.

Bà đã tìm ra câu trả lời trong Dự án ReSource của mình. Khả năng nhận biết các tín hiệu cơ thể như nhịp tim không tăng lên sau ba tháng thực hành hằng ngày về “sự hiện diện” (presence), vốn bao gồm cả quán thân chánh niệm. Tuy nhiên, những cải thiện ấy bắt đầu xuất hiện sau sáu tháng, và còn tăng mạnh hơn sau chín tháng. Một số lợi ích cần thời gian để chín muồi — điều mà các nhà tâm lý học gọi là “hiệu ứng ngủ muộn” (sleeper effect).

Hãy xem câu chuyện về một hành giả yoga đã nhiều năm nhập thất trong một hang động trên dãy Himalayas. Một ngày nọ, có một lữ khách tình cờ đi ngang qua và thấy ông, bèn hỏi ông đang làm gì.

“Tôi đang thiền về sự nhẫn nhục,” vị hành giả đáp.

“Vậy thì,” người lữ khách đáp, “ông xuống địa ngục đi!”

Nghe vậy, vị hành giả tức giận quát lại: “Chính anh mới xuống địa ngục ấy!”

Câu chuyện ấy (cũng như câu chuyện về vị hành giả trong khu chợ) từ bao thế kỷ nay đã được dùng như một lời cảnh tỉnh cho những người tu tập nghiêm túc, nhắc nhở họ rằng phép thử thực sự của sự thực hành chính là đời sống thường nhật, chứ không phải những giờ phút tách biệt trên tọa cụ.

Một phẩm chất như nhẫn nhục phải khiến ta vững vàng, không dao động trước bất cứ điều gì cuộc sống mang đến.


Đức Đạt Lai Lạt Ma
 kể lại câu chuyện này và giải thích: “Có một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng trong một số trường hợp, người tu tập mang dáng vẻ bề ngoài của bậc thánh thiện — điều đó đúng khi mọi việc đều thuận lợi, khi mặt trời đang tỏa sáng và bụng được no đủ. Nhưng khi họ đối diện với một thử thách hay khủng hoảng thực sự, thì họ lại trở nên giống hệt như mọi người khác.”⁵

“Thảm họa trọn vẹn” của đời sống chúng ta chính là phép thử tốt nhất cho độ bền vững của những phẩm chất đã được chuyển hóa. Mức cortisol cực thấp của một hành giả trong thời gian nhập thất cho ta biết anh ta có thể thư giãn đến mức nào; nhưng mức cortisol của anh ta trong một ngày bận rộn, đầy áp lực mới cho thấy liệu sự thư giãn ấy đã trở thành một đặc tính bền vững, được chuyển hóa thật sự hay chưa.

CHUYÊN MÔN

Chúng ta đều từng nghe rằng cần 10.000 giờ luyện tập để làm chủ một kỹ năng như lập trình máy tính hay chơi golf, đúng không?

Sai.

Thực tế, khoa học cho thấy rằng một số lĩnh vực (như ghi nhớ) có thể được làm chủ chỉ trong khoảng 200 giờ. Quan trọng hơn, phòng thí nghiệm của Richie phát hiện rằng ngay cả trong số những hành giả thiền định dày dạn kinh nghiệm — tất cả đều đã thực hành ít nhất 10.000 giờ — mức độ thành thạo vẫn tiếp tục tăng lên đều đặn theo tổng số giờ luyện tập tích lũy suốt đời.

Điều này hẳn sẽ không làm Anders Ericsson, nhà khoa học nhận thức chuyên nghiên cứu về chuyên môn, ngạc nhiên — dù chính công trình của ông, khiến ông không khỏi khó chịu, đã làm nảy sinh niềm tin sai lầm nhưng phổ biến về “sức mạnh kỳ diệu” của 10.000 giờ trong việc tạo nên sự tinh thông.

Nghiên cứu của Ericsson cho thấy: điều quan trọng không chỉ là tổng số giờ luyện tập, mà là chất lượng của những giờ luyện tập đó thông minh đến mức nào.

Điều ông gọi là “luyện tập có chủ đích” (deliberate practice) bao gồm việc có một huấn luyện viên chuyên môn đưa ra phản hồi về cách bạn đang thực hiện, để bạn có thể cải thiện một cách có định hướng, phù hợp với tiến bộ của mình.

Một người chơi golf có thể nhận được những lời khuyên chính xác từ huấn luyện viên về cách cải thiện cú swing của mình; tương tự, một bác sĩ phẫu thuật đang được đào tạo có thể nhận phản hồi từ các bác sĩ giàu kinh nghiệm hơn về cách nâng cao kỹ thuật chuyên môn. Và khi người chơi golf hay bác sĩ phẫu thuật đã luyện tập những cải thiện đó đến mức thành thạo, các huấn luyện viên lại tiếp tục đưa ra phản hồi cho vòng tiến bộ tiếp theo.

Đó là lý do vì sao rất nhiều người biểu diễn chuyên nghiệp — trong thể thao, sân khấu, cờ vua, âm nhạc và nhiều lĩnh vực khác — vẫn tiếp tục có huấn luyện viên suốt sự nghiệp của mình. Dù bạn giỏi đến đâu, bạn vẫn luôn có thể trở nên tốt hơn một chút. Trong môi trường cạnh tranh, những cải thiện nhỏ có thể tạo nên khác biệt giữa thắng và thua. Và nếu bạn không thi đấu, thì kỷ lục cá nhân của chính bạn sẽ được nâng lên từng bước.

Điều tương tự cũng áp dụng cho thiền định. Hãy lấy trường hợp của Richie và Dan. Chúng tôi đã duy trì việc thực hành đều đặn suốt nhiều thập kỷ, và trong nhiều năm trong số đó, mỗi năm tham dự một hoặc hai khóa nhập thất kéo dài một tuần. Cả hai chúng tôi đều ngồi thiền mỗi sáng trong hơn bốn mươi năm (trừ khi có việc như chuyến bay lúc 6 giờ sáng làm gián đoạn thói quen).

Về mặt kỹ thuật, cả hai có thể được xem là những người hành thiền lâu năm, với khoảng 10.000 giờ thực hành tích lũy suốt đời. Thế nhưng, không ai trong chúng tôi cảm thấy mình đặc biệt tiến hóa khi nói đến những “đặc tính chuyển hóa” tích cực ở mức độ sâu sắc. Vì sao vậy?

Trước hết, dữ liệu cho thấy việc hành thiền một thời gian ngắn mỗi ngày rất khác biệt so với việc tham gia một khóa tu kéo dài nhiều ngày hoặc lâu hơn. Hãy xem xét một phát hiện bất ngờ nảy sinh trong nghiên cứu về những người hành thiền kỳ cựu (trung bình 9.000 giờ tập luyện) và phản ứng của họ đối với căng thẳng (xem chương năm, "Một tâm trí tĩnh lặng").

Kết quả cho thấy: mối liên kết giữa vùng vỏ mặt trước trán và hạnh nhân (amygdala) của người thiền định càng mạnh thì họ càng ít bị kích động. Điều gây ngạc nhiên là: sự gia tăng mạnh mẽ nhất trong kết nối tiền trán - hạnh nhân tỷ lệ thuận với số giờ mà người hành thiền đã trải qua trong các khóa tu, chứ không phải với số giờ tự tập tại nhà.

Tương tự như vậy, một phát hiện gây ngạc nhiên khác đến từ nghiên cứu về nhịp thở. Số giờ thực hành trong khóa tu của một người hành thiền có mối tương quan chặt chẽ nhất với việc nhịp thở chậm lại, mạnh hơn nhiều so với việc duy trì thực hành hàng ngày.

Một điểm khác biệt quan trọng của việc hành thiền trong các khóa tu là luôn có sự hiện diện của các người thầy hướng dẫn – những người đóng vai trò như một huấn luyện viên. Kế đến là cường độ thực hành cực kỳ cao: các thiền sinh thường dành tới tám tiếng (và đôi khi nhiều hơn thế) mỗi ngày để thực hành chính thức, liên tục trong nhiều ngày liền. Thêm vào đó, hầu hết các khóa tu đều giữ im lặng ít nhất là một phần, điều này góp phần đẩy mạnh cường độ tập trung. Tất cả những yếu tố đó cộng hưởng lại tạo nên một cơ hội độc nhất để đẩy nhanh tiến trình học hỏi.
Một sự khác biệt khác giữa người nghiệp dư và chuyên gia nằm ở cách thức họ luyện tập.


• Người nghiệp dư: Họ học các kỹ năng cơ bản — dù là chơi golf, cờ vua, hay có lẽ là chánh niệm — và thường chững lại sau khoảng 50 giờ cải thiện thông qua luyện tập. Trong suốt thời gian còn lại, mức độ kỹ năng của họ chỉ duy trì ở mức ngang bằng; việc tập luyện thêm không đem lại những bước tiến lớn.
• Chuyên gia: Ngược lại, các chuyên gia luyện tập theo cách khác. Họ thực hiện các buổi tập cường độ cao dưới sự giám sát chặt chẽ của một huấn luyện viên – người sẽ chỉ dẫn cho họ cần phải cải thiện điều gì tiếp theo để trở nên giỏi hơn nữa. Điều này tạo ra một biểu đồ học tập liên tục với những cải thiện ổn định.

Những phát hiện này chỉ ra rằng bạn cần có một người thầy, một người tiến bộ hơn bạn, có thể hướng dẫn và huấn luyện bạn cách cải thiện. Cả hai chúng tôi trong nhiều năm qua vẫn tiếp tục tìm kiếm sự hướng dẫn từ các giáo thọ thiền, nhưng những cơ hội như vậy chỉ xuất hiện không thường xuyên trong cuộc sống của chúng tôi.

Cuốn Thành Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) khuyên những người thực hành nên tìm một người có kinh nghiệm hơn mình để làm người hướng dẫn. Danh sách cổ xưa về những người thầy tiềm năng này bắt đầu ở mức cao nhất với lý tưởng là được chỉ dạy bởi một vị A La Hán (Arhat) (từ Pali chỉ một hành giả đã hoàn toàn thành tựu trong thiền định, giống như ở “đẳng cấp Olympic”).

Nếu không có ai như vậy, lời khuyên là hãy tìm bất kỳ ai dày dạn kinh nghiệm hơn bạn. Ít nhất, người đó nên đã từng đọc một kinh—một đoạn trong văn bản thiêng liêng—trong khi bạn chưa đọc gì cả. Trong thế giới ngày nay, điều đó có thể tương đương với việc nhận hướng dẫn từ một người đã từng thử dùng một ứng dụng thiền—dù sao vẫn tốt hơn là không có gì.

SỰ TƯƠNG HỢP CỦA NÃO (BRAIN MATCHING)

“Chương trình của anh,” Dan viết cho Jon Kabat-Zinn, “có thể lan rộng khắp hệ thống chăm sóc sức khỏe.” Lúc đó Dan không hề biết rằng điều đó sau này thực sự xảy ra. Năm ấy là 1983, và Jon vẫn đang nỗ lực thuyết phục các bác sĩ tại trung tâm y tế của mình gửi bệnh nhân đến cho ông.

Dan khuyến khích Jon thực hiện một số nghiên cứu về hiệu quả của chương trình — có lẽ là một hạt giống nhỏ cho hàng trăm nghiên cứu về Mindfulness-Based Stress Reduction (MBSR - chương trình giảm căng thẳng bằng chánh niệm) ngày nay.

Dan và Richie, cùng với người hướng dẫn luận án của họ tại Harvard University, đã đưa ra một cách đo lường “mềm” để xem liệu con người trải nghiệm lo âu chủ yếu trong tâm trí hay trong cơ thể.

Nhận thấy rằng chương trình MBSR bao gồm cả các thực hành nhận thức (cognitive) lẫn thực hành thân thể (somatic), Dan gợi ý Jon nên nghiên cứu “yếu tố nào hoạt động hiệu quả nhất đối với từng loại người.”

Jon đã tiến hành nghiên cứu đó; một phát hiện cho thấy những người ở mức lo lắng và suy nghĩ bất an cực độ (tức là lo âu nhận thức – cognitive anxiety) lại tìm thấy sự giảm nhẹ nhiều nhất khi thực hành yoga trong Chương trình giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (MBSR).

Điều này đặt ra một câu hỏi cho mọi loại thiền—và cả những phiên bản thân thiện, phổ biến rộng rãi được phát triển từ chúng: Những hình thức thực hành nào là hữu ích nhất cho từng loại người?

Việc ghép phương pháp phù hợp với người học có nguồn gốc rất cổ xưa. Chẳng hạn, trong Thanh
Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga), các thầy thiền được khuyên nên quan sát cẩn thận học trò để đánh giá họ thuộc loại nào—ví dụ như “tham” hay “sân”—để từ đó chọn hoàn cảnh và phương pháp tu tập phù hợp nhất.

Những cách ghép này, dù với cảm nhận hiện đại có vẻ hơi trung cổ, bao gồm:


• Với người thiên về tham (ví dụ thường chú ý trước tiên đến cái đẹp): cho thức ăn không ngon, chỗ ở không thoải mái, và dùng sự quán bất tịnh của các bộ phận cơ thể làm đề mục thiền.
• Với người thiên về sân (thường chú ý trước tiên đến điều sai sót): cho thức ăn ngon, phòng ở có giường êm để ngủ và thiền, và thực hành những đề mục êm dịu như tâm từ hoặc tâm xả.

Một ngày nào đó, những sự ghép cặp phương pháp này có thể dựa trên quét não, giúp chỉ ra phương pháp phù hợp nhất cho từng người.

Việc ghép điều trị theo chẩn đoán như vậy đã bắt đầu xuất hiện ở một số trung tâm y khoa học thuật với mô hình Precision Medicine (Y học chính xác), nơi các phương pháp điều trị được điều chỉnh theo cấu trúc di truyền riêng của từng cá nhân. 

PHÂN LOẠI

Neem Karoli Baba, vị yogi phi thường mà Dan gặp trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của mình, thường ở tại các đền Hindu và các nơi
tĩnh tâm (ashram) dành riêng cho Hanuman, vị thần khỉ. Những người theo ông thực hành lòng sùng kính (bhakti), con đường yoga của lòng sùng kính, vốn chiếm ưu thế ở những vùng của Ấn Độ nơi ông thường lưu trú.

Mặc dù ông không bao giờ nói về lịch sử tu tập của bản thân, nhưng thỉnh thoảng vẫn có vài mẩu chuyện được hé lộ. Người ta truyền tai rằng ông đã sống một thời gian dài như một yogi trong rừng rậm; có người còn nói ông từng tu luyện trong một hang động dưới lòng đất suốt nhiều năm. Thiền định của ông mang tính sùng kính, hướng về Ram — người anh hùng trong sử thi Ấn Độ Ramayana; đôi khi người ta có thể nghe ông khe khẽ tụng “Ram, Ram, Ram…” dưới hơi thở, hoặc lần đếm câu thần chú trên các ngón tay.

Người ta cũng kể rằng vào những năm 1930, ông từng đi hành hương đến Mecca cùng một tín đồ Hồi giáo. Đối với người phương Tây, ông thường ca ngợi Chúa Kitô. Trong hai năm, ông đã che chở và trở nên thân thiết với Lama Norla, người đã chạy trốn khỏi Tây Tạng sang Ấn Độ vào năm 1957, từ rất lâu trước khi có các khu định cư dành cho những người tị nạn như vậy. (Lama Norla là một bậc thầy ẩn tu trong một trong những dòng truyền thừa thiền định mà Mingyur Rinpoche đã thực hành.)

Nếu ai đó đang theo đuổi một con đường tu tập nội tâm nhất định, Neem Karoli luôn khuyến khích điều đó. Theo quan điểm của ông, điều quan trọng nhất là bạn thực hành con đường của mình—chứ không phải cố gắng đi tìm “con đường tốt nhất”.

Bất cứ khi nào Neem Karoli được hỏi con đường nào là tốt nhất, câu trả lời của ông là “Sub ek!”—tiếng Hindi có nghĩa là “Tất cả đều là một.” Mỗi người đều có những sở thích, nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau. Chỉ cần chọn một con đường và dấn thân trọn vẹn vào nó.

 Theo quan điểm đó, các con đường quán chiếu (contemplative paths) về cơ bản khá giống nhau—chúng là những cánh cửa dẫn vượt ra ngoài kinh nghiệm thông thường. Ở mức độ thực hành, mọi hình thức thiền đều chia sẻ một cốt lõi chung của việc rèn luyện tâm trí—chẳng hạn như học cách buông bỏ vô số sự xao lãng trôi qua trong tâm, và tập trung vào một đối tượng chú ý hoặc một trạng thái nhận biết.

Nhưng khi chúng ta ngày càng quen thuộc hơn với cơ chế của các con đường khác nhau, chúng bắt đầu tách ra và cũng nhóm lại với nhau. Ví dụ, một người âm thầm tụng niệm một câu mật chú và bỏ qua mọi thứ khác sẽ sử dụng các hoạt động tâm trí khác với một người chánh niệm quan sát những suy nghĩ đang thoáng qua.

 Và ở mức độ chi tiết tinh vi nhất, mỗi con đường trong những đặc điểm riêng của nó đều khá độc đáo. Một học viên của bhakti yoga hát những bài bhajan sùng kính dâng lên một vị thần có thể chia sẻ một số khía cạnh, nhưng không phải tất cả, với một người thực hành Kim Cang Thừa (Vajrayana), người lặng lẽ quán tưởng hình ảnh một vị bổn tôn—chẳng hạn như Green Tara (Tara Xanh) đầy lòng từ bi—đồng thời cố gắng khởi sinh những phẩm chất đi kèm với hình ảnh đó.

Chúng ta nên lưu ý rằng ba mức độ thực hành đã được nghiên cứu khá kỹ cho đến nay—người mới bắt đầu, người thực hành lâu năm, và yogi—được nhóm lại quanh những loại thiền khác nhau:


• chủ yếu là mindfulness (chánh niệm) cho người mới bắt đầu,
• vipassana (thiền minh sát) cho những người thực hành lâu năm (cũng có một số nghiên cứu về Thiền Zen),
• và đối với các yogi, là những con đường Tây Tạng được gọi là Đại Hoàn Thiện (Dzogchen) và Đại Thủ Ấn (Maâhmudra).

Trên thực tế, lịch sử tu tập của chính chúng tôi cũng đi theo quỹ đạo tương đối giống như vậy, và theo kinh nghiệm của chúng tôi, có những khác biệt đáng kể giữa ba phương pháp này.

Ví dụ, mindfulness (chánh niệm) yêu cầu người thiền quan sát những suy nghĩ và cảm xúc xuất hiện rồi biến mất trong tâm trí. Vipassana (thiền minh sát) bắt đầu từ điểm đó, sau đó chuyển sang siêu nhận thức (meta-awareness) về các tiến trình của tâm, chứ không phải về những nội dung thay đổi liên tục của nó.

Còn Đại Hoàn Thiện và Đại Thủ Ấn bao gồm cả hai điều này trong các giai đoạn đầu—cùng với nhiều loại thiền khác—nhưng kết thúc ở một lập trường “phi nhị nguyên” (nondual), an trú trong một mức độ siêu nhận thức tinh tế hơn.

Điều này đặt ra một câu hỏi khoa học về hướng (vector) của sự chuyển hóa: Liệu chúng ta có thể ngoại suy những hiểu biết từ chánh niệm và áp dụng chúng vào thiền
minh sát (vipassana - một sự chuyển tiếp truyền thống), rồi từ thiền minh sát sang các pháp tu Tây Tạng hay không?

Các hệ thống phân loại (taxonomy) giúp khoa học tổ chức những câu hỏi như vậy, và Dan đã thử xây dựng một hệ thống cho thiền định. Sự nghiên cứu sâu của ông về Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) đã mang lại cho ông một lăng kính để phân loại sự pha trộn khá rối rắm của các trạng thái và phương pháp thiền mà ông gặp trong những chuyến du hành qua Ấn Độ. Ông xây dựng một cách phân loại dựa trên sự khác biệt giữa sự tập trung nhất điểm (one-pointed concentration) và sự nhận biết mở, linh hoạt hơn của chánh niệm (mindfulness)—một sự phân chia lớn trong thực hành thiền
minh sát (và cũng xuất hiện trong các con đường Tây Tạng, nhưng với ý nghĩa rất khác—vấn đề trở nên khá phức tạp).

Một hệ thống phân loại (typology) bao quát hơn—và cũng cập nhật hơn—do Richie cùng các đồng nghiệp Cortland Dahl và Antoine Lutz đề xuất, tổ chức cách suy nghĩ về các “cụm” thiền định dựa trên một tập hợp các phát hiện trong khoa học nhận thức và tâm lý học lâm sàng. Họ chia thành ba loại:

1. Liên Quan Đến Sự Chú Ý (Attentional)
Những phương pháp thiền này tập trung vào việc rèn luyện các khía cạnh của sự chú ý—dù là tập trung, như chú tâm vào hơi thở; quan sát chánh niệm đối với trải nghiệm; niệm thần chú; hay siêu nhận thức (meta-awareness), như trong trạng thái hiện diện mở (open presence).

2. Xây Dựng
(Constructive)
Những phương pháp này nhằm nuôi dưỡng các phẩm chất đạo đức tích cực, chẳng hạn như tâm từ (loving-kindness).

3. Giải Cấu Trúc
(Deconstructive)
Giống như trong thực hành minh sát, các phương pháp này dùng tự quan sát để xuyên thấu bản chất của trải nghiệm. Chúng bao gồm cả những cách tiếp cận “phi nhị nguyên” (nondual), nơi người thực hành chuyển sang một chế độ mà nhận thức thông thường không còn chi phối.

Một hệ thống phân loại bao quát như vậy làm nổi bật rõ ràng rằng nghiên cứu về thiền cho đến nay mới chỉ tập trung vào một phần rất nhỏ các phương pháp, trong khi bỏ qua một vũ trụ kỹ thuật rộng lớn hơn nhiều. Phần lớn các nghiên cứu được thực hiện trên MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction – chương trình giảm stress dựa trên chánh niệm) và các phương pháp dựa trên chánh niệm liên quan; ngoài ra cũng có khá nhiều nghiên cứu về loving-kindness (thiền tâm từ) và TM (Transcendental Meditation – thiền siêu việt), cùng với một số ít nghiên cứu về Thiền Zen.

Nhưng nhiều loại thiền khác ngoài những loại đã nói ở trên có thể nhắm tới những hệ thống mạch thần kinh khác nhau của não bộ và nuôi dưỡng những tập hợp phẩm chất riêng biệt của chúng. Chúng tôi hy vọng rằng khi khoa học về thiền định tiếp tục phát triển, các nhà nghiên cứu sẽ hiểu biết thêm nhiều hình thức thiền đa dạng hơn, chứ không chỉ tập trung vào một nhánh nhỏ của toàn bộ “cây” thiền. Mặc dù những phát hiện cho đến nay khá đáng khích lệ, nhưng rất có thể vẫn còn những lợi ích khác mà chúng ta thậm chí còn chưa có chút manh mối nào về chúng.

Lưới nghiên cứu càng được mở rộng bao nhiêu, chúng ta sẽ càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu về cách việc rèn luyện thiền định định hình não bộ và tâm trí. Ví dụ, những lợi ích của thực hành xoay thiền trong một số trường phái của Hồi giáo Sufi có thể là gì? Hoặc tụng ca sùng kính trong nhánh bhakti của Hindu giáo mang lại những tác động nào? Hay thiền phân tích được thực hành bởi một số Phật tử Tây Tạng, cũng như bởi một số trường phái yogi của Hindu giáo, có những lợi ích gì?

Nhưng dù con đường thiền định cụ thể có khác nhau thế nào, chúng đều có chung một mục tiêu: những phẩm chất được chuyển hóa bền vững (altered traits).

BẢNG KIỂM TRA CHO NHỮNG PHẨM CHẤT ĐƯỢC CHUYỂN HÓA (ALTERED TRAITS)

Khoảng bốn mươi phóng viên, nhiếp ảnh gia và người quay phim truyền hình chen chúc trong một căn phòng nhỏ ở tầng hầm, thuộc khu hầm mộ nằm bên dưới tầng chính của Nhà thờ Westminster ở London. Họ có mặt ở đó để tham dự một buổi họp báo với Đức Đạt Lai Lạt Ma, người sắp nhận Giải thưởng Templeton—một giải thưởng trị giá hơn một triệu đô la, được trao hằng năm nhằm tôn vinh một “đóng góp xuất sắc cho việc khẳng định chiều kích tâm linh của đời sống.”

Richie và Dan có mặt ở London trong buổi họp báo đó để cung cấp cho các phóng viên thông tin nền về hành trình cả đời của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong việc theo đuổi tri thức khoa học, cũng như quan điểm của Ngài rằng khoa học và tôn giáo đều có những mục tiêu chung: tìm kiếm chân lý và phụng sự nhân loại.

Đáp lại câu hỏi cuối cùng trong buổi họp báo, Đức Đạt Lai Lạt Ma thông báo ông sẽ làm gì với số tiền của giải thưởng: là ngay lập tức cho đi toàn bộ. Ông giải thích rằng mình không cần tiền — ông chỉ là một tu sĩ giản dị. Hơn nữa, ông đang là khách của chính phủ Ấn Độ, nơi chăm lo cho mọi nhu cầu của ông.

Vì vậy, ngay khi nhận giải thưởng, ông lập tức trao tặng hơn một triệu đô la cho tổ chức Hỗ Trợ Trẻ Em (Save the Children), như một sự tri ân đối với công việc toàn cầu của tổ chức này trong việc giúp đỡ những trẻ em nghèo nhất thế giới, cũng như vì họ đã hỗ trợ những người tị nạn Tây Tạng khi họ chạy trốn khỏi Trung Hoa. Sau đó, ông trao phần tiền còn lại cho Viện Tâm Thức và Đời Sống (Mind and Life Institute) và cho Đại
Học Emory University nhằm hỗ trợ chương trình giảng dạy bằng tiếng Tây Tạng, nơi đào tạo các tu sĩ Tây Tạng về khoa học.

Chúng tôi đã nhiều lần chứng kiến ông làm điều tương tự. Sự hào phóng của ông dường như hoàn toàn tự nhiên, không hề có chút tiếc nuối hay giữ lại dù chỉ một phần rất nhỏ cho bản thân. Sự hào phóng như vậy — ngay lập tức và không vướng mắc — là một trong những phẩm chất được nhắc đến trong các danh sách truyền thống về ba la mật (paramitas - “sự viên mãn” hay “sự hoàn thiện”; nghĩa đen là “đi sang bờ bên kia”). Đây là những đức hạnh cho thấy sự tiến bộ trên con đường tu tập chiêm nghiệm (thiền định) trong các truyền thống tâm linh.

Một tác phẩm kinh điển về ba la mật có tên
Hướng Dẫn Bồ Tát Đạo (The Way of the Bodhisattva) được viết bởi Tịch Thiên, một tu sĩ sống vào thế kỷ thứ tám tại Đại Học Nalanda ở Ấn Độ—một trong những trung tâm giáo dục đại học sớm nhất của thế giới.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thường xuyên giảng dạy tác phẩm này và luôn bày tỏ lòng biết ơn đối với vị thầy đã dạy ông về bản văn đó —
Khunu Lama, cũng chính là vị tu sĩ khiêm nhường mà Dan đã gặp tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Trong số các ba la mật được các truyền thống thực hành của những yogi đến phòng thí nghiệm của Richie tiếp nhận có:
Sự hào phóng (bố thí) — có thể là về vật chất, như khi Đức Đạt Lai Lạt Ma trao tặng toàn bộ tiền thưởng của mình, hoặc đơn giản là sự hiện diện, tức là cho đi chính bản thân mình.
Đạo đức trong hành vi (trí giới) — không gây hại cho bản thân hay người khác, và tuân theo những nguyên tắc kỷ luật tự thân.

Đây là những đức hạnh nền tảng trên con đường tu tập thiền định và phát triển tâm linh.

Một nghĩa khác: sự kiên nhẫn, lòng bao dung và sự điềm tĩnh. Điều này cũng hàm ý một trạng thái bình thản an nhiên. “Hòa bình thật sự,” Đức Đạt Lai Lạt Ma
nói với khán giả tại Viện Công Nghệ Massachusetts - Institute of Technology, “là khi tâm trí của bạn suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày không có sợ hãi, không có lo âu.”

Ngoài ra còn có sự nỗ lực đầy năng lượng và tinh tấn; sự tập trung và không bị xao lãng; và trí tuệ, theo nghĩa là những hiểu biết sâu sắc nảy sinh từ việc thực hành thiền định sâu.

Khái niệm hiện thực hóa những phẩm chất tốt đẹp nhất trong chúng ta thành các đặc tính bền vững cũng vang vọng rộng rãi trong nhiều truyền thống tâm linh. Như chúng ta đã thấy ở chương ba,  
Cái Sau Trở Thành Cái Trước Cho Cái Trong Tiếp Theo” các triết gia Hy-La cổ đại đã ca ngợi một tập hợp các đức hạnh có nhiều điểm tương đồng.

Và một câu nói của truyền thống Hồi
giáo Sufi có rằng: “Phẩm chất đạo đức tốt đẹp đã là một sự thịnh vượng đủ đầy.”13

Hãy xem câu chuyện về Rabbi Leib
(Do Thái giáo), một học trò của Rabbi Dov Baer, vị thầy Hasidism vào thế kỷ mười tám.

Vào thời đó, các học trò trong truyền thống này chủ yếu nghiên cứu các kinh sách tôn giáo và nghe các bài giảng về những đoạn trích từ
Torah, cuốn thánh kinh của họ. Nhưng Leib lại có một mục tiêu khác.

Leib nói rằng ông không đến với Dov Baer, vị thầy tâm linh của mình, để học các bản văn hay nghe thuyết giảng. Thay vào đó, ông đến để “xem thầy buộc dây giày như thế nào.”14

Nói cách khác, điều ông tìm kiếm là được tận mắt chứng kiến và thấm nhuần những phẩm chất sống mà vị thầy của mình thể hiện.

Có những sự tương hợp thú vị giữa các dữ liệu khoa học và những “bản đồ” cổ xưa về các phẩm chất được chuyển hóa. Ví dụ, một văn bản Tây Tạng từ thế kỷ mười tám khuyên rằng những dấu hiệu của sự tiến bộ tâm linh bao gồm: lòng từ ái và lòng bi mẫn mạnh mẽ đối với mọi người, sự mãn nguyện, và “những ham muốn yếu đi.”15

Những ý tưởng này xuất phát từ truyền thống Phật giáo Tây Tạng, vốn gắn liền với các thực hành như Phật Giáo
Tây Tạng và những phương pháp tu tập nhằm nuôi dưỡng các phẩm chất như Loving-kindness (Từ Ái) và Compassion (Bi Mẫn).

Những phẩm chất này dường như tương ứng với các dấu hiệu thay đổi trong não bộ mà chúng ta đã theo dõi ở các chương trước: các mạch thần kinh liên quan đến sự quan tâm đồng cảm và tình yêu thương mang tính chăm sóc (như tình thương của cha mẹ) được tăng cường; hạch hạnh nhân trở nên thư giãn hơn; và thể tích của các mạch não liên quan đến sự bám chấp giảm xuống.

Những thay đổi này liên quan đến các vùng và chức năng não như Amygdala, một cấu trúc quan trọng trong việc xử lý cảm xúc và phản ứng sợ hãi.

Những hành giả yoga đến phòng thí nghiệm của Richard J. Davidson đều đã thực hành trong một truyền thống Tây Tạng đưa ra một quan điểm đôi khi gây bối rối: tất cả chúng ta đều có Phật tánh, nhưng chúng ta chỉ đơn giản là không nhận ra nó.

Trong cách nhìn này, cốt lõi của sự tu tập trở thành việc nhận ra những phẩm chất vốn có sẵn, tức là nhận ra điều đã hiện hữu bên trong, chứ không phải phát triển một kỹ năng nội tâm mới nào.

Từ góc nhìn đó, những phát hiện thần kinh và sinh học đáng chú ý ở các hành giả không hẳn là dấu hiệu của việc phát triển kỹ năng, mà đúng hơn là dấu hiệu của sự nhận ra phẩm chất nội tại này—điều mà trong Phật giáo được gọi là Phật tánh, một khái niệm quan trọng trong Phật Giáo
Tây Tạng.

Những hành giả này thường được gọi là yogi, tức những người dành nhiều năm thực hành thiền định sâu trong các truyền thống tâm linh của Ấn Độ và Tây Tạng. 

Những phẩm chất được chuyển hóa (altered traits) có phải là những thứ được thêm vào bản tính của chúng ta, hay là những khía cạnh vốn đã có sẵn từ trước nhưng nay được khám phá ra? Ở giai đoạn hiện nay của sự phát triển trong Khoa
Học Quán Chiếu (Contemplative Science), thật khó để khẳng định dứt khoát về phía nào trong cuộc tranh luận này. Tuy vậy, ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học vững chắc cho thấy, chẳng hạn, nếu một em bé quan sát các con rối thực hiện một tương tác vị tha và ấm áp, hoặc ngược lại hành xử ích kỷ và hung hăng, thì khi được cho chọn một con rối để với lấy, hầu như tất cả các em bé đều chọn con rối thân thiện.16 Xu hướng tự nhiên này tiếp tục duy trì trong những năm đầu đời, suốt giai đoạn trẻ mới biết đi.

Những phát hiện này phù hợp với quan điểm cho rằng các đức tính đã tồn tại sẵn, như một sự thiện lành căn bản nội tại. Chúng cũng gợi mở khả năng rằng việc rèn luyện lòng từ ái và lòng bi mẫn có thể là quá trình nhận ra từ sớm một phẩm chất cốt lõi vốn đã hiện hữu và làm cho nó mạnh mẽ hơn. Theo nghĩa này, người thực hành có thể không phải đang phát triển một kỹ năng hoàn toàn mới, mà đúng hơn là nuôi dưỡng một năng lực nền tảng sẵn có, tương tự như cách ngôn ngữ được phát triển trong quá trình trưởng thành. Những thực hành này thường được liên hệ với các khái niệm như Loving-kindness (Từ
Ái) và Compassion (Bi Mẫn) trong các truyền thống thiền định.

Liệu toàn bộ những phẩm chất được cho là được nuôi dưỡng bởi các phương pháp thiền khác nhau nên được hiểu theo cách này, hay nên được xem nhiều hơn như sự phát triển kỹ năng, thì điều đó sẽ còn được các nghiên cứu khoa học trong tương lai quyết định.

Chúng tôi chỉ đơn giản đưa ra khả năng rằng ít nhất một số khía cạnh của việc thực hành thiền có thể không giống như học một kỹ năng hoàn toàn mới, mà giống với việc nhận ra một khuynh hướng cơ bản vốn đã có sẵn ngay từ đầu.
 
CÒN THIẾU ĐIỀU GÌ?

Trong lịch sử, thiền định không nhằm mục đích cải thiện sức khỏe, giúp chúng ta thư giãn hay nâng cao thành công trong công việc. Mặc dù ngày nay chính những lợi ích này đã khiến thiền trở nên phổ biến khắp nơi, nhưng trong suốt nhiều thế kỷ, chúng chỉ được xem là những tác dụng phụ tình cờ và ít khi được nhắc đến. Mục tiêu quán chiếu thực sự của thiền từ trước đến nay luôn là sự chuyển hóa các phẩm chất bên trong con người (altered traits).

Những dấu hiệu mạnh mẽ nhất của các phẩm chất này được thấy ở nhóm các yogi đã đến phòng thí nghiệm của Richie. Điều này đặt ra một câu hỏi then chốt để hiểu cách thức hoạt động của thực hành quán chiếu. Tất cả những yogi đó đều thực hành trong một truyền thống tâm linh, theo kiểu thực hành “sâu”. Trong khi đó, hầu hết chúng ta trong thế giới ngày nay lại thích việc thực hành dễ dàng (và ngắn gọn) hơn — một cách tiếp cận mang tính thực dụng, thường chỉ lấy những gì hiệu quả và bỏ lại phần còn lại.

Và khá nhiều điều đã bị bỏ lại phía sau khi những truyền thống quán chiếu phong phú của thế giới được biến đổi thành các hình thức dễ tiếp cận và thân thiện với người dùng. Khi thiền định rời khỏi bối cảnh ban đầu của nó để chuyển sang những phiên bản phổ biến đại chúng, những gì đã bị lược bỏ thường bị phớt lờ hoặc dần bị lãng quên.

Một số thành phần quan trọng của thực hành quán chiếu không phải bản thân thiền định. Trong những con đường thực hành “sâu”, thiền chỉ là một phần trong nhiều phương tiện khác nhau giúp gia tăng nhận thức về bản thân, đạt được những hiểu biết sâu sắc về sự tinh tế của ý thức, và cuối cùng là đạt tới sự chuyển hóa bền vững của con người. Những mục tiêu đầy thách thức này đòi hỏi sự tận tâm suốt cả đời.

Những yogi đến phòng thí nghiệm của Richie đều thực hành trong một truyền thống Tây Tạng, nơi nuôi dưỡng lý tưởng rằng cuối cùng mọi người ở khắp nơi đều có thể được giải thoát khỏi mọi dạng khổ đau—và người hành thiền bắt đầu hướng tới nhiệm vụ to lớn này thông qua sự rèn luyện tâm trí. Một phần của cách nhìn yogic này bao gồm việc phát triển sự bình thản (equanimity) hơn đối với thế giới cảm xúc của chính mình, cùng với niềm tin rằng thiền và các thực hành liên quan có thể tạo ra sự chuyển hóa lâu dài—tức là những phẩm chất được biến đổi bền vững (altered traits).

Trong khi một số người theo con đường thực hành “sâu” ở phương Tây có thể cũng giữ những niềm tin như vậy, thì những người khác dù được đào luyện theo chính các phương pháp đó lại xem việc thực hành như một con đường để làm mới bản thân—giống như một kỳ nghỉ nội tâm—hơn là một sứ mệnh suốt đời. (Tuy vậy, động lực có thể thay đổi theo quá trình tiến bộ, vì thế lý do khiến một người bắt đầu thiền có thể không phải là mục tiêu khiến họ tiếp tục gắn bó với nó.)

Cảm nhận về một sứ mệnh đời sống xoay quanh việc thực hành là một trong những yếu tố thường bị bỏ lại ở “bờ xa”, nhưng điều đó có thể rất quan trọng. Ngoài ra còn có những yếu tố khác, thực tế có thể mang tính then chốt để nuôi dưỡng những phẩm chất được chuyển hóa (altered traits) ở mức độ như thấy ở các yogi:

-
 Một lập trường đạo đức, tức là một hệ thống các nguyên tắc luân lý giúp tạo điều kiện cho những thay đổi nội tâm trên con đường thực hành. Nhiều truyền thống khuyến khích việc có la bàn đạo đức nội tâm như vậy, để tránh việc những năng lực được phát triển bị sử dụng cho lợi ích cá nhân.

-
Ý định vị tha, trong đó người thực hành khơi dậy động lực mạnh mẽ để tu tập vì lợi ích của tất cả mọi người, chứ không chỉ vì bản thân mình.
 
-
Niềm tin vững chắc, tức là trạng thái tâm trí tin rằng một con đường thực hành cụ thể có giá trị và sẽ dẫn bạn đến sự chuyển hóa mà bạn đang tìm kiếm. Một số văn bản cũng cảnh báo không nên có niềm tin mù quáng, và khuyến khích học viên làm điều mà ngày nay ta gọi là “tìm hiểu, kiểm chứng cẩn thận” (due diligence) khi lựa chọn một người thầy.

-
Sự hướng dẫn cá nhân hóa. Một người thầy hiểu biết sẽ dìu dắt bạn trên con đường thực hành, đưa ra những lời khuyên cần thiết để bạn tiến tới bước tiếp theo. Khoa học nhận thức cho thấy rằng để đạt đến trình độ bậc thầy, loại phản hồi và hướng dẫn như vậy là điều cần thiết.

-
Sự tận tâm (devotion), tức là sự trân trọng sâu sắc đối với tất cả những con người, nguyên tắc và những điều kiện giúp cho việc thực hành trở nên khả thi. Sự tận tâm cũng có thể hướng tới những phẩm chất của một hình tượng thiêng liêng, một người thầy, hoặc những phẩm chất tâm trí đã được chuyển hóa (altered traits) của vị thầy đó.

-
Cộng đồng. Một vòng tròn bạn bè hỗ trợ nhau trên con đường thực hành, những người bản thân họ cũng tận tâm với việc tu tập. Điều này trái ngược với sự cô lập của nhiều người hành thiền hiện đại.

Một nền văn hóa hỗ trợ. Các nền văn hóa truyền thống ở châu Á từ lâu đã nhận ra giá trị của những người dành cả cuộc đời để chuyển hóa bản thân, nhằm thể hiện và nuôi dưỡng các đức tính như sự chú tâm, kiên nhẫn, và lòng từ bi. ✨

…và còn nhiều điều khác nữa. Trong các xã hội truyền thống, những người đi làm và có gia đình tự nguyện hỗ trợ những người dành trọn đời cho việc thực hành sâu bằng cách cúng dường tiền bạc, cung cấp thức ăn, và giúp họ có cuộc sống thuận lợi hơn để tập trung tu tập. Điều này không còn phổ biến trong các xã hội hiện đại.

-
Tiềm năng của những phẩm chất được chuyển hóa (altered traits). Chính ý niệm rằng những thực hành này có thể dẫn đến sự giải thoát khỏi các trạng thái tâm trí thông thường của chúng ta—chứ không chỉ đơn thuần là cải thiện bản thân—từ lâu đã là khuôn khổ định hình cho các con đường thực hành này. Cách nhìn đó nuôi dưỡng sự tôn trọng hoặc lòng tôn kính đối với con đường tu tập và những người đang bước đi trên con đường ấy.

Chúng ta không có cách nào biết chắc liệu những yếu tố “bị bỏ lại phía sau” đó có thực sự là những thành phần cốt lõi tạo nên các phẩm chất được chuyển hóa (altered traits)—những điều mà nghiên cứu khoa học gần đây mới bắt đầu ghi nhận trong phòng thí nghiệm—hay không.

TỈNH THỨC

Không lâu sau khi Siddhartha Gautama, vị hoàng tử đã từ bỏ đời sống vương giả để trở thành người tu hành, hoàn thành hành trình nội tâm của mình tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài gặp một số yogi du hành. Nhận thấy Gautama đã trải qua một sự chuyển hóa phi thường nào đó, họ hỏi Ngài:

-
“Ngài có phải là một vị thần không?”

Ông đáp:

-
“Không. Ta đã tỉnh thức (giác ngộ).

Từ Sanskrit chỉ “tỉnh thức” (giác ngộ), bodhi, đã mang lại cho Gautama danh xưng mà ngày nay chúng ta biết đến: Buddha“Người đã tỉnh thức.” Không ai có thể biết chắc chắn hoàn toàn sự tỉnh thức ấy bao hàm điều gì, nhưng những dữ liệu thu được từ các yogi đạt trình độ rất cao có thể mang lại một vài gợi ý. Chẳng hạn, có hiện tượng mức sóng gamma cao và duy trì liên tục, điều dường như tạo ra cảm giác không gian rộng mở, các giác quan mở rộng và tỉnh táo, làm phong phú trải nghiệm hằng ngày — ngay cả trong giấc ngủ sâu. Điều này gợi ý rằng sự tỉnh thức ấy có thể mang tính liên tục suốt 24 giờ, không chỉ trong lúc thiền.17

Ẩn dụ cho rằng ý thức thông thường của chúng ta giống như một dạng “giấc ngủ”, và rằng có một sự chuyển biến nội tâm dẫn đến việc trở nên “tỉnh thức”, đã có lịch sử lâu dài và được lưu truyền rộng rãi. Mặc dù nhiều trường phái tư tưởng có những quan điểm khác nhau về vấn đề này, chúng tôi không sẵn sàng cũng như không đủ thẩm quyền để bước vào vô số cuộc tranh luận về việc “tỉnh thức” thực sự có nghĩa chính xác là gì. Chúng tôi cũng không cho rằng khoa học có thể đứng ra phân xử các cuộc tranh luận mang tính siêu hình.

Cũng giống như toán học và thơ ca là những cách khác nhau để hiểu về thực tại, khoa học và tôn giáo đại diện cho những lĩnh vực thẩm quyền khác nhau, những phạm vi nghiên cứu và những cách tiếp cận tri thức khác nhau. Tôn giáo nói về giá trị, niềm tin và sự siêu việt, còn khoa học nói về sự kiện, giả thuyết và lý tính. Vì vậy, khi đo lường và nghiên cứu tâm trí của người hành thiền, chúng tôi không đưa ra phán quyết về giá trị chân lý của những cách giải thích mà các tôn giáo khác nhau gán cho các trạng thái tâm trí đó.

Chúng tôi hướng tới một mục tiêu thực dụng hơn: Trong những quá trình chuyển hóa của con đường thực hành sâu, điều gì có thể được rút ra để mang lại lợi ích rộng rãi cho mọi người? Liệu chúng ta có thể vận dụng các cơ chế của con đường sâu này để tạo ra những lợi ích cho số lượng người lớn nhất hay không?

TÓM LƯỢC NGẮN GỌN

Ngay từ những giờ, ngày và tuần đầu tiên của việc thiền định, một số lợi ích đã bắt đầu xuất hiện.

-
Trước hết, não của người mới tập thiền cho thấy sự phản ứng của hạch hạnh nhân (amygdala) với căng thẳng giảm đi.

-
Sau chỉ hai tuần thực hành, khả năng chú ý được cải thiện: tập trung tốt hơn, ít bị lang thang tâm trí hơn và trí nhớ làm việc cũng tốt hơn. Những cải thiện này thậm chí mang lại kết quả cụ thể như điểm số cao hơn trong kỳ thi đầu vào cao học.

-
Một số lợi ích sớm nhất xuất hiện với thiền từ bi, bao gồm sự gia tăng kết nối trong các mạch não liên quan đến sự đồng cảm.

-
Ngoài ra, các dấu hiệu sinh học của viêm trong cơ thể cũng giảm nhẹ chỉ sau khoảng 30 giờ thực hành.

Mặc dù những lợi ích này có thể xuất hiện chỉ với số giờ luyện tập khá khiêm tốn, chúng có thể khá mong manhcần được duy trì bằng việc thực hành hằng ngày.

Đối với những người thiền lâu năm, tức là những người đã thực hành khoảng 1.000 giờ trở lên, các lợi ích được ghi nhận cho đến nay mạnh mẽ và bền vững hơn, đồng thời xuất hiện thêm một số lợi ích mới.

-
Có những chỉ dấu ở não và hormone cho thấy sự phản ứng với căng thẳng giảm xuốngtình trạng viêm cũng ít hơn.

-
Các mạch não ở vùng vỏ não trước trán (prefrontal cortex) — liên quan đến việc điều chỉnh và quản lý cảm xúc khó chịu — được tăng cường.

-
Mức hormone căng thẳng cortisol thấp hơn, cho thấy cơ thể ít phản ứng thái quá với áp lực nói chung.

-
Ở mức độ này, thiền từ bi còn giúp não bộ đồng điệu mạnh hơn với những người đang đau khổ, đồng thời tăng khả năng hành động để giúp đỡ họ.

Khi nói đến khả năng chú ý, có nhiều lợi ích khác nhau:

-
Sự chú ý có chọn lọc mạnh hơn
-
Hiện tượng “attentional blink” (khoảnh khắc bỏ lỡ thông tin khi chú ý) giảm đi
-
Duy trì sự chú ý lâu dài trở nên dễ dàng hơn
-
Mức độ sẵn sàng phản ứng với bất cứ điều gì xảy ra cao hơn
-
Ít bị lang thang tâm trí hơn

Cùng với việc giảm những suy nghĩ ám ảnh về bản thân, các mạch não liên quan đến sự bám chấp cũng yếu đi.

Những thay đổi sinh học và não bộ khác bao gồm:

-
Nhịp thở chậm hơn, cho thấy tốc độ chuyển hóa của cơ thể cũng chậm lại.
-
Một khóa tu thiền kéo dài một ngày có thể tăng cường hệ miễn dịch.
-
Các dấu hiệu của trạng thái thiền thậm chí tiếp tục xuất hiện trong khi ngủ.

Tất cả những thay đổi này gợi ý sự hình thành của các phẩm chất được chuyển hóa bền vững (altered traits).

Cuối cùng là những yogi ở cấp độ “Olympic”, những người có trung bình khoảng 27.000 giờ thiền trong suốt cuộc đời.

Họ cho thấy những dấu hiệu rõ ràng của các phẩm chất được chuyển hóa (altered traits). Ví dụ, xuất hiện các sóng gamma rất mạnh và đồng bộ giữa những vùng não cách xa nhau—một mẫu hoạt động não chưa từng được quan sát trước đây ở những người khác. Điều này cũng xảy ra ngay cả khi họ đang ở trạng thái nghỉ, đặc biệt ở những yogi có số giờ thực hành nhiều nhất.

Các sóng gamma này mạnh nhất khi họ thực hành thiền “hiện diện mở” (open presence) và thiền từ bi, nhưng chúng vẫn tiếp tục tồn tại khi tâm trí ở trạng thái nghỉ, dù ở mức độ thấp hơn.

Ngoài ra, não của các yogi dường như lão hóa chậm hơn so với não của những người khác cùng độ tuổi.

Những dấu hiệu khác về trình độ bậc thầy của các yogi bao gồm khả năng bắt đầu và dừng các trạng thái thiền chỉ trong vài giây, cũng như sự nhẹ nhàng, không gắng sức khi thiền (đặc biệt ở những người có nhiều năm kinh nghiệm nhất).

Phản ứng của họ đối với cơn đau cũng rất khác biệt:

-
Hầu như không có lo lắng dự đoán trước khi cơn đau sắp xảy ra.
-
Khi cơn đau xuất hiện, họ có phản ứng ngắn nhưng mạnh.
-
Sau đó phục hồi rất nhanh.

Trong lúc thực hành thiền từ bi, não và tim của các yogi phối hợp với nhau theo những cách mà ở người khác không thấy.

Quan trọng nhất, trạng thái não của các yogi khi nghỉ ngơi lại giống với trạng thái não của người bình thường khi đang thiền—nghĩa là trạng thái ấy đã trở thành một phẩm chất bền vững (state đã trở thành trait)./.