Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

CHƯƠNG 2: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***


Mặc dù mèo dành phần lớn thời gian trong ngày để lim dim ngủ một cách thoải mái, nhưng chúng tôi vẫn thích con người của mình luôn bận rộn. Không phải theo kiểu ồn ào hay làm phiền—chỉ cần đủ hoạt động để khiến chúng tôi thấy thú vị trong những lúc chúng tôi quyết định thức. Bạn nghĩ tại sao hầu hết mèo lại có một “chỗ ngồi xem kịch” yêu thích—một vị trí ưa thích trên bệ cửa sổ, hiên nhà, cột cổng hay nóc tủ? Bạn không nhận ra sao, độc giả thân mến, rằng chính bạn là nguồn giải trí của chúng tôi?

Một trong những lý do khiến việc sống ở Jokhang (Đại Chiêu)—tên gọi của quần thể ngôi chùa của Đức Đạt Lai Lạt Ma—trở nên dễ chịu và thú vị đến vậy, chính là vì điều này: lúc nào cũng có chuyện gì đó đang diễn ra.

Trước 5 giờ sáng mỗi ngày, khu đền chùa bắt đầu thức giấc với âm thanh của những đôi chân đi dép trên nền sân khi các tu sĩ từ Tu viện Namgyal tụ hội lại để thiền buổi sáng. Vào thời điểm này, Đức Thánh Thiện và tôi đã thiền được hai tiếng, nhưng khi nhận ra sự chuyển động bên ngoài, tôi thích đứng dậy, duỗi hai chân trước một cách khoan khoái trước mặt, và có lẽ cào nhẹ vài cái lên tấm thảm để làm nóng người, trước khi tiến đến vị trí quen thuộc của mình trên bệ cửa sổ. Từ đó, tôi quan sát màn trình diễn nhịp sinh hoạt tuần hoàn quen thuộc lại bắt đầu diễn ra, bởi trong đời sống tu viện, hầu như ngày nào cũng giống như ngày nào.

Nó bắt đầu với những ô vuông ánh vàng lấp lánh dần hiện lên nơi đường chân trời, khi những ngọn đèn được thắp sáng trong ngôi đền và khu ở của các tu sĩ. Vào mùa hè, làn gió sớm mai mang theo những làn khói hương tím—cùng với tiếng tụng kinh lúc bình minh—lùa qua khung cửa sổ mở, đúng vào lúc bầu trời phía đông bắt đầu ửng sáng.

Đến khi các tu sĩ bước ra khỏi ngôi chùa vào lúc chín giờ sáng, thì Đức Thánh Thiện và tôi đều đã ăn sáng xong, và ngài đã ngồi vào bàn làm việc. Sau đó là các buổi báo cáo buổi sáng với các cố vấn của Ngài, còn ở dưới đền, các tu sĩ quay trở lại với nếp sinh hoạt hằng ngày được sắp xếp trật tự, bao gồm tụng kinh, tham dự các buổi giảng dạy, tranh luận các vấn đề triết học trong sân, và thiền định. Những hoạt động này chỉ bị gián đoạn bởi hai bữa ăn và kết thúc vào khoảng mười giờ tối.

Sau đó, các tu sĩ trẻ được yêu cầu trở về phòng và học thuộc kinh văn cho đến nửa đêm. Ở những người lớn tuổi hơn còn đòi hỏi nhiều hơn, họ thường xuyên học tập và tranh luận đến một hoặc hai giờ sáng. Khoảng thời gian giữa đêm khi hoàn toàn không có hoạt động nào chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ.

Trong khi đó, tại phòng tiếp khách của Đức Thánh Thiện (His Holiness), luôn có một dòng người ra vào không ngớt: những chính trị gia nổi tiếng thế giới, người nổi tiếng và các nhà từ thiện, cũng như những người ít được biết đến hơn nhưng đôi khi lại thú vị hơn, chẳng hạn như Nhà tiên tri Nechung, người mà Đức Thánh Thiện thỉnh thoảng tham vấn.

Là một người trung gian giữa thế giới vật chất và các cõi tâm linh, Nhà tiên tri Nechung là Quốc sư thần linh của Tây Tạng. Ông đã cảnh báo về những khó khăn với Trung Hoa ngay từ năm 1947 và vẫn tiếp tục hỗ trợ trong các quyết định quan trọng. Khi đó, ông đi vào trạng thái xuất thần được tạo ra, đôi khi là một phần của những nghi lễ phức tạp, trong đó ông đưa ra các lời tiên tri và lời khuyên.

Bạn sẽ nghĩ rằng việc tôi sống trong một môi trường vừa thú vị vừa thoải mái như vậy sẽ khiến tôi trở thành con mèo hạnh phúc nhất từng “chơi đàn cello” — cách mà loài mèo chúng tôi dùng để chỉ phần tinh tế nhất trong thói quen chải chuốt, khi chúng tôi chăm sóc những vùng kín của mình. Nhưng than ôi, độc giả thân mến, trong những tháng đầu sống cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma, bạn đã nhầm rồi.

Có lẽ là vì cho đến gần đây, tôi chỉ từng biết cảm giác là một trong bốn anh em mèo cùng lứa. Có thể là do thiếu sự tiếp xúc với bất kỳ sinh vật nào khác cũng được ban phúc với bộ lông và ria mép. Dù lý do là gì, tôi không chỉ cảm thấy cô đơn mà còn bắt đầu tin rằng hạnh phúc của mình chỉ trọn vẹn khi có sự hiện diện của một con mèo khác.

Đức Đạt Lai Lạt Ma hiểu điều đó. Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên trong xe, Ngài chăm sóc tôi với tất cả sự dịu dàng và từ bi, nâng niu tôi suốt những tuần đầu, luôn quan tâm tỉ mỉ đến sức khỏe và hạnh phúc của tôi.

Chính vì vậy, một ngày không lâu sau vụ chuột, khi tôi đang lẩn quẩn trong hành lang, cảm thấy bơ vơ và không biết phải làm gì, Ngài bắt gặp tôi trên đường đi đến chùa và quay sang Chogyal, người đang đi cùng, nói: “Có lẽ Tử Tuyết nhỏ muốn đi cùng chúng ta chăng?”

Sư Tử Tuyết?! Tôi mê cái tên đó ngay lập tức. Khi Ngài bế tôi trong vòng tay khoác áo choàng, tôi rù rì khen ngợi. Sư Tử Tuyết là loài vật thần thánh ở Tây Tạng, tượng trưng cho hạnh phúc vô điều kiện. Chúng là những sinh vật tuyệt đẹp, rực rỡ và tràn đầy niềm vui.

“Chúng ta sẽ có một ngày bận rộn phía trước,” Đức Ngài nói với tôi khi chúng tôi xuống cầu thang. “Trước tiên là đến chùa để xem các kỳ thi. Rồi bà Trinci sẽ đến chuẩn bị bữa trưa cho vị khách hôm nay. Và cậu thích bà Trinci, phải không?”

“Thích” thì chẳng thấm thía gì cả. Tôi thật sự yêu mến bà Trinci, hay chính xác hơn, là gan gà xắt nhỏ của bà Trinci — món ăn mà bà nấu riêng để tôi thưởng thức.

Mỗi khi cần phục vụ cho một dịp đặc biệt hay tiếp đãi các quan khách, bà Trinci lại được mời đến. Hơn 20 năm trước, khi đang lên kế hoạch cho một buổi tiệc dành cho phái đoàn cấp cao từ Vatican, một người trong văn phòng của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát hiện ra bà góa người Ý sống tại địa phương. Tài năng ẩm thực của bà Trinci vượt trội hơn hẳn mọi dịch vụ ăn uống trước đó, và bà nhanh chóng trở thành đầu bếp yêu thích của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Một người phụ nữ thanh lịch ngoài 50 tuổi, thích mặc những chiếc váy nổi bật và trang sức lòe loẹt, bà bước vào Jokhang như mang theo một luồng hứng khởi đầy hồi hộp. Ngay từ khoảnh khắc đến nơi, bà nắm quyền kiểm soát bếp, cuốn tất cả mọi người có mặt — không chỉ những người làm bếp — vào vòng xoáy của mình. Trong một lần ghé thăm sớm, bà đã ra lệnh cho trụ trì của Học viện Mật điển Gyume, tình cờ đi ngang, vào bếp, nơi bà ngay lập tức quàng tạp dề lên cổ ông và giao cho ông nhiệm vụ thái cà rốt.

Bà Trinci không biết đến quy tắc nghi lễ và không dung thứ sự phản đối nào. Sự tiến bộ về tâm linh dường như chẳng liên quan gì khi phải chuẩn bị bữa tiệc cho tám người. Tính cách kịch tính của bà hoàn toàn trái ngược với sự điềm tĩnh khiêm nhường của hầu hết các nhà sư, nhưng chính sự sống động, mãnh liệt và đam mê của bà đã khiến họ hoàn toàn bị mê hoặc.

Và họ yêu mến tấm lòng rộng lượng của bà. Bà luôn đảm bảo rằng bên cạnh bữa ăn của Đức Thánh Thiện, một nồi hầm thơm ngon được để trên bếp cho các nhân viên, và bánh pía táo, bánh ngọt sô-cô-la, hoặc một món ngọt thiên đường nào đó được để trong tủ lạnh.

Lần đầu tiên bà nhìn thấy tôi, bà tuyên bố tôi là Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại, và từ ngày đó, chẳng lần ghé thăm bếp của Đức Đạt Lai Lạt Ma nào là trọn vẹn nếu bà không mang ra, từ một trong những túi tạp hóa nhiều vô số của mình, vài miếng ngon ngọt dành riêng cho tôi. Đặt tôi lên quầy bếp, bà quan sát tôi cẩn thận, đôi mắt hổ phách, chuốt mascara long lanh, say mê nhìn tôi ăn ồn ào một chén gà hầm, món hầm gà tây, hay thăn bò filet mignon. Chính viễn cảnh này đang hiện ra trong đầu tôi khi Chogyal bế tôi băng qua sân hướng về chùa.

Tôi chưa bao giờ bước chân vào chùa trước đây và không thể nghĩ ra cách nào tuyệt hơn để lần đầu tiên xuất hiện ngoài việc đi cùng đoàn tùy tùng của Ngài. Ngôi chùa thật tuyệt vời, tràn ngập ánh sáng với trần nhà rất cao, những bức treo tường sinh động của các vị bổn tôn trên lụa thêu tinh xảo, cùng những lá cờ chiến thắng nhiều màu sắc buông xuống từ tường. Có những tượng Phật lớn với hàng loạt bát đồng sáng loáng đặt trước mặt, cùng các lễ vật tượng trưng như thức ăn, hương, hoa và nước hoa. Hàng trăm nhà sư ngồi trên đệm, chờ kỳ thi bắt đầu, và tiếng thì thầm thấp của họ vẫn vang lên ngay cả khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến. Thường thì Ngài sẽ bước vào chính diện chùa, ngồi lên ngai giảng giữa sự im lặng trầm trồ của mọi người. Nhưng hôm nay Ngài lặng lẽ vào từ phía sau, không muốn gây chú ý hay làm phân tâm các nhà sư đang chuẩn bị thi.

Mỗi năm, các nhà sư tập sự tranh tài để giành số lượng hạn chế các suất học lấy bằng Geshe. Là trình độ cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng, theo một số khía cạnh giống như bằng tiến sĩ, bằng Geshe mất 12 năm để hoàn thành. Nó đòi hỏi khả năng ghi nhớ hoàn hảo các kinh điển cơ bản và khả năng phân tích, tranh luận về những khác biệt triết lý tinh tế, chưa kể đến hàng giờ thực hành thiền định. Trong phần lớn 12 năm của khóa học, các học viên Geshe làm việc 20 giờ mỗi ngày, theo một lịch trình học tập nghiêm ngặt.

Nhưng bất chấp những yêu cầu vô cùng cao đặt lên họ, luôn có nhiều nhà sư tập sự muốn vào học hơn số lượng chỗ có sẵn.

Trong kỳ thi hôm nay, bốn nhà sư tập sự đang được kiểm tra. Theo truyền thống, họ bắt đầu bằng cách trả lời các câu hỏi của giám khảo trước toàn thể cộng đồng Namgyal, một hình thức vừa đáng sợ vừa minh bạch. Việc theo dõi buổi thi là sự chuẩn bị tốt cho các nhà sư trẻ hơn, những người một ngày nào đó cũng sẽ phải đứng trước đồng môn của mình.

Ở hàng ghế cuối cùng của chùa, ngồi bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trên lòng Chogyal, tôi lắng nghe hai anh em người Bhutan, một cậu bé Tây Tạng và một sinh viên người Pháp lần lượt gây ấn tượng với khán giả bằng cách trả lời các câu hỏi về những chủ đề như nghiệp báo và bản chất của thực tại. Hai anh em người Bhutan trả lời đúng theo cách thuộc lòng, cậu bé Tây Tạng cũng trích dẫn trực tiếp từ kinh văn được giao, nhưng sinh viên người Pháp đi xa hơn, chứng tỏ rằng cậu không chỉ học thuộc mà còn thực sự hiểu các khái niệm. Suốt cả quá trình này, Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn mỉm cười ấm áp.

Tiếp theo, trong phần tranh luận với vài nhà sư cao cấp, những người cố gài bẫy học trò bằng những lập luận tinh vi, cùng một mô hình tương tự được lặp lại. Các học sinh người Bhutan và Tây Tạng tuân thủ cẩn thận những câu trả lời trong sách giáo khoa, trong khi cậu bé người Pháp đưa ra những lập luận phản biện khiêu khích của riêng mình, khiến không khí trong chùa trở nên khá thú vị và vui nhộn.

Cuối cùng là đến phần tụng kinh, và một lần nữa các học sinh vùng Himalaya ghi nhớ hoàn hảo. Khi được yêu cầu tụng Tâm Kinh (Heart Sutra), một kinh ngắn nhưng nổi tiếng nhất của Đức Phật, cậu học sinh người Pháp bắt đầu với giọng rõ ràng, mạnh mẽ. Nhưng vì lý do nào đó, giữa chừng cậu bỗng ngập ngừng. Một khoảng im lặng dài đầy bối rối—và dường như có vài lời thì thầm nhắc nhở—trước khi cậu bắt đầu lại, hơi thiếu tự tin, chỉ để rồi ngập ngừng hoàn toàn. Cậu quay sang giám khảo với một cái nhún vai xin lỗi. Họ ra hiệu cho cậu quay trở lại chỗ ngồi.

Một thời gian ngắn sau, các giám khảo công bố kết quả: các nhà sư tập sự người Bhutan và Tây Tạng được nhận vào chương trình học lấy bằng Geshe. Chỉ có cậu bé người Pháp là không thành công.

Tôi có thể cảm nhận nỗi buồn của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi thông báo được đưa ra. Quyết định của giám khảo là điều không thể tránh khỏi, nhưng ngay cả như vậy…

“Ở phương Tây, việc học thuộc lòng ít được chú trọng hơn,” Chogyal thì thầm với Đức Thánh Thiện, người gật đầu đồng ý. Nhờ Chogyal chăm sóc tôi, Ngài đã đưa cậu học sinh người Pháp trông có vẻ thất vọng vào một căn phòng riêng phía sau chùa, nơi Ngài tiết lộ với chàng trai trẻ rằng Ngài đã có mặt suốt toàn bộ kỳ thi.

Ai mà biết được những lời nào đã được trao đổi giữa hai người hôm đó? Nhưng chỉ sau vài phút, cậu bé người Pháp trở lại, vừa có vẻ được an ủi vừa choáng ngợp vì trở thành tâm điểm chú ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi bắt đầu nhận ra rằng Ngài có một khả năng rất đặc biệt trong việc dẫn dắt mỗi cá nhân đến mục đích cao nhất của bản thân—một mục đích sẽ mang lại hạnh phúc lớn và lợi ích không chỉ cho chính họ mà còn cho rất nhiều người khác.

“Đôi khi tôi nghe người ta than thở về tương lai của Phật giáo,” Đức Thánh Thiện nói với Chogyal khi chúng tôi trở về phòng riêng của Ngài sau đó. “Tôi ước gì họ có thể đến dự kỳ thi để trải nghiệm những gì chúng ta chứng kiến hôm nay. Có rất nhiều nhà sư tập sự, rất tận tâm và có trình độ cao. Điều ước duy nhất của tôi là chúng ta có đủ chỗ cho tất cả họ.”

***

Khi chúng tôi trở về từ chùa, bà Trinci đã hoàn toàn làm chủ căn bếp, nơi tôi tiến thẳng tới. Buổi sáng, Ngài đã xua tan nỗi cô đơn của tôi bằng chuyến thăm chùa. Giờ đây, bà Trinci tiếp tục mang lại niềm vui. Bà mặc một chiếc váy màu xanh ngọc lục bảo, với đôi bông tai vàng dài và những chiếc vòng tay đồng điệu, kêu lách cách mỗi khi bà đưa tay. Lần ghé thăm này, mái tóc dài và sẫm màu của bà dường như ánh lên một tông đỏ nhẹ.

Cuộc sống của bà Trinci hiếm khi theo một nhịp điệu đều đặn như những cư dân lâu dài của Jokhang, và hôm nay cũng không phải ngoại lệ. Cuộc khủng hoảng hiện tại bắt nguồn từ việc cúp điện lúc 2 giờ sáng. Bà Trinci đã đi ngủ với niềm tin rằng mình sẽ thức dậy trước một lớp đế bánh meringue giòn tan trong lò, mà bà đã đặt ở nhiệt độ thấp qua đêm theo đúng hướng dẫn. Thay vào đó, bà tỉnh dậy trước một mớ hỗn độn ẩm ướt không thể cứu vãn—và chỉ còn bảy giờ trước khi vị khách VIP của Đức Thánh Thiện đến.

Sau đó là việc vội vã đánh lên một lớp đế mới, tăng nhiệt lò ở mức rủi ro cao, và một kế hoạch tỉ mỉ để chuyển lớp đế đến Jokhang lúc 1 giờ chiều—rất lâu sau khi bà đến chuẩn bị món chính nhưng trước khi món tráng miệng được dọn ra.

“Liệu có dễ dàng hơn nếu chuẩn bị một món tráng miệng khác không?” Tenzin đã đề xuất, đầy rủi ro, khi biết được tình huống căng thẳng này. “Một món đơn giản như—”

“Phải là Pavlova chứ. Cô ấy là người Úc mà!” Bà Trinci quăng chiếc thìa thép không gỉ vào bồn rửa với một tiếng va chạm. Bà luôn đưa vào yếu tố ẩm thực quốc gia của khách, và hôm nay cũng không phải ngoại lệ. “Melanzane Parmigiana[1] có gì là món Úc chứ?”

Tenzin lùi lại một bước.
“Hay là món ragout rau củ?!”
“Cháu chỉ đang gợi ý thôi—”
“Thôi, đừng gợi ý nữa! Zitto! Im ngay! Không có thời gian cho mấy ý tưởng!”
Trợ lý điều hành của Đức Ngài đành phải rút lui một cách khôn ngoan.

Bất chấp mọi cảnh tượng kịch tính, bữa ăn của bà Trinci vẫn, như thường lệ, là một chiến thắng ẩm thực. Pavlova chẳng hề bộc lộ dấu vết của cuộc khủng hoảng mà nó đã trải qua; đó là một lớp đế meringue hoàn hảo, trên đó là những chiếc meringue nhỏ riêng biệt cũng hoàn hảo, bên trong chứa một “thiên đường” trái cây lấp lánh và kem tươi.

Và bà Trinci vẫn chưa quên Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại. Bà đãi tôi một phần thịt bò hầm còn dư thật hào phóng đến mức sau khi ăn xong, tôi phải kêu meo meo xin được bế xuống khỏi mặt bếp, vì no căng đến nỗi không thể tự nhảy xuống.

Sau khi liếm vài cái đầy biết ơn lên những ngón tay đeo trang sức của bà Trinci, tôi đi lạch bạch qua phòng tiếp khách, nơi hiện tại Đức Đạt Lai Lạt Ma và vị khách của ngài đang nhấp từng ngụm trà. Vị khách ăn trưa hôm đó là Robina Courtin Khả kính, một nữ tu đã dành nhiều thời gian giúp các tù nhân tái hòa nhập cuộc sống thông qua Dự Án Tù Nhân Giải Phóng của bà. Chủ đề về điều kiện trong các nhà tù ở Mỹ đang được thảo luận khi tôi bước vào và tiến về tấm thảm len yêu thích để thực hiện nghi thức rửa mặt sau bữa trưa.

“Điều kiện rất khác nhau,” nữ tu nói. “Một số cơ sở nhốt tù nhân cả ngày trong những phòng giam như hầm tối, không có ánh sáng tự nhiên. Chúng tôi phải ngồi bên một lỗ nhỏ trên cửa sắt để nói chuyện với tù nhân bên kia. Trong hoàn cảnh như vậy, dường như rất ít hy vọng tái hòa nhập. “Nhưng cũng có nhiều cơ sở khác,” bà tiếp tục, “nơi mà trọng tâm tích cực hơn—tập trung vào huấn luyện và khích lệ con người thay đổi. Không thể tránh khỏi bầu không khí trại giam, nhưng cửa phòng giam mở ra nhiều giờ hơn trong ngày, và có các hoạt động thể thao, giải trí, cùng với TV, máy tính và thư viện.”

Bà dừng lại, mỉm cười như đang nhớ lại điều gì đó. “Có một nhóm tù chung thân mà tôi quen khá kỹ khi dạy các lớp thiền ở Florida. Một người trong số họ hỏi tôi: ‘Hàng ngày trong một tu viện thì chuyện gì xảy ra?’”

Bà nhún vai. “Vậy tôi kể với ông ấy rằng chúng tôi thức dậy lúc năm giờ sáng cho buổi thiền đầu tiên. À, đối với các ông ấy thì sớm quá! Điểm danh ở trại giam thì từ tốn lúc 7 giờ sáng. Tôi giải thích rằng ngày của chúng tôi được sắp xếp từ lúc thức dậy đến khi nghỉ ngơi lúc 10 giờ tối, với trọng tâm mạnh mẽ vào học tập và nghiên cứu, và làm việc trong vườn tu viện để trồng rau quả mà chúng tôi ăn.” Bà cau mày. “Ông ấy cũng không thích nghe điều đó chút nào.”

Những người khác mỉm cười.

-“Tôi nói rằng chúng tôi không có TV, báo chí, rượu hay máy tính. Khác với tù nhân trong trại giam, các nữ tu không thể kiếm tiền để mua những món quà đặc biệt. Và chắc chắn là không có những lần thăm thân tình cảm!”

Đức Đạt Lai Lạt Ma khúc khích cười.

-“Đó là khi anh ấy nói ra điều kỳ lạ nhất,” bà tiếp tục. “Thậm chí không nhận ra mình đang nói gì, anh ấy đề nghị: ‘Nếu mọi thứ trở nên quá khó khăn, chị luôn có thể đến sống với chúng tôi ở đây.’”

Mọi người trong phòng phá lên cười.

-“Anh ấy thực sự cảm thấy thương tôi!” mắt Robina Courtin Khả kính lấp lánh. “Trong mắt anh ấy, điều kiện ở tu viện còn khắc nghiệt hơn cả trong trại giam.”

Đức Thánh Thiện ngồi cúi người về phía trước trên ghế, vuốt cằm đầy suy tư. “Thật thú vị phải không? Chỉ sáng nay ở chùa, chúng ta đã thấy các vị tập sự tranh nhau để được nhận vào tu viện. Có quá nhiều vị tập sự mà chỗ lại không đủ. Nhưng nhìn về trại giam, chẳng ai muốn đến đó, mặc dù điều kiện còn dễ chịu hơn ở tu viện. Điều này chứng tỏ rằng, không phải hoàn cảnh cuộc sống khiến chúng ta hạnh phúc hay khổ đau, mà chính là cách chúng ta nhìn nhận chúng.”

Trong phòng vang lên những tiếng đồng tình nhẹ.

-“Chúng ta có tin rằng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có cơ hội sống một cuộc đời hạnh phúc và có ý nghĩa không?” Ngài tiếp tục.

-“Chính xác!” Robina Courtin Khả kính đồng ý.

Đức Thánh Thiện gật đầu. “Hầu hết mọi người nghĩ rằng lựa chọn duy nhất là thay đổi hoàn cảnh của mình. Nhưng đó không phải là nguyên nhân thực sự khiến họ khổ đau. Điều này liên quan nhiều hơn đến cách họ suy nghĩ về hoàn cảnh của mình.”

“Chúng tôi khuyến khích học viên biến những trại giam của họ thành tu viện,” Robina Courtin Khả kính nói. “Để họ ngừng nghĩ rằng thời gian ở trong tù là lãng phí cuộc đời, mà thay vào đó nhìn nhận nó như một cơ hội tuyệt vời để phát triển bản thân. Có những người thực sự làm được điều đó, và sự biến đổi ở những con người này thật đáng kinh ngạc. Họ tìm thấy ý nghĩa và mục đích thực sự, và khi ra khỏi tù, họ trở thành những con người hoàn toàn thay đổi.”

“Rất tuyệt,” Ngài nói, mỉm cười ấm áp. “Sẽ thật tuyệt nếu mọi người đều nghe được thông điệp đó—đặc biệt là những người đang sống trong những ‘trại giam’ do chính mình tạo ra.”

Khi Ngài nhấn mạnh điều đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn về phía tôi, nhưng tôi không hiểu tại sao. Tôi chưa bao giờ, dù chỉ một khoảnh khắc, nghĩ rằng mình là tù nhân. Sư Tử Tuyết —có. Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại—chắc chắn rồi! Dĩ nhiên, tôi cũng có vài rắc rối, lớn nhất là tôi là một cô mèo đơn độc.

Nhưng tù nhân?

Tôi ư?

***

Mãi về sau, tôi mới hiểu ý Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi các vị khách ra về, Ngài xin gặp bà Trinci để cảm ơn bữa ăn.

-“Thật tuyệt vời,” Ngài tán thưởng. “Đặc biệt là món tráng miệng của bà. Robina Courtin Khả kính rất thích. Tôi hy vọng việc chuẩn bị không quá căng thẳng chứ?”

-“Ô, không đâu—non troppo (nêm nếm)! Không nhiều lắm.”

Khi ở trước mặt Đức Thánh Thiện, bà Trinci trở thành một con người khác hẳn. Người khổng lồ Brunhilde trong một vở opera Wagner của Tenzin, người từng thống trị căn bếp, giờ không còn thấy bóng, thay vào đó là hình ảnh một cô nữ sinh đỏ mặt.

“Chúng tôi không muốn bà phải chịu quá nhiều căng thẳng.” Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn bà Trinci đầy suy tư một lát, rồi nói: “Đây là một bữa trưa rất thú vị. Chúng tôi đã bàn về hạnh phúc, sự hài lòng—rằng điều đó không phụ thuộc vào hoàn cảnh. Bà Trinci, bà độc thân mà trong mắt tôi, trông vẫn rất hạnh phúc.”

-“‘Tôi không muốn lấy thêm chồng nữa,’ bà Trinci tuyên bố, ‘nếu đó là ý ông.’

-‘Vậy thì việc độc thân không phải là nguyên nhân khiến bà bất hạnh?’

-‘Không, không! Mia vita è buona. Cuộc sống của tôi tốt đẹp. Tôi cảm thấy trọn vẹn.’

Đức Ngài gật đầu. ‘Tôi cũng cảm thấy như vậy.’”

Ngay lúc đó, tôi hiểu ý Đức Đạt-lai Lạt-ma về “những nhà tù do chính chúng ta tạo ra.” Ngài không chỉ nói về hoàn cảnh vật lý, mà còn về những ý niệm và niềm tin mà chúng ta mang trong đầu, khiến mình bất hạnh. Trong trường hợp của tôi, đó chính là ý nghĩ rằng tôi cần có thêm một con mèo làm bạn mới có thể hạnh phúc.

Bà Trinci bước về phía cửa như định rời đi. Nhưng trước khi mở cửa, bà chần chừ.

-“Con có thể hỏi Ngài một câu được không, Đức Thánh Thiện?”

-“Tất nhiên rồi.”

-“Con đã đến đây nấu ăn suốt hơn hai mươi năm, nhưng Ngài chưa bao giờ cố gắng thuyết phục con theo đạo. Tại sao vậy?”

-“‘Thật là một điều buồn cười khi bà nói vậy, bà Trinci!’” Ngài cất tiếng cười vang. Nhẹ nhàng nắm tay bà, Ngài nói:

-“Mục đích của Phật giáo không phải là để chuyển đổi người khác. Mà là để trao cho họ những công cụ giúp họ tạo ra hạnh phúc nhiều hơn. Để họ có thể trở thành những người Thiên Chúa giáo hạnh phúc hơn, những người vô thần hạnh phúc hơn, những Phật tử hạnh phúc hơn. Có rất nhiều phương pháp tu tập, và tôi biết bà đã rất quen thuộc với một trong số đó rồi.”

Bà Trinci nhướng mày.

-“Đó là nghịch lý tuyệt vời,” Ngài tiếp tục, “rằng cách tốt nhất để đạt được hạnh phúc cho chính mình là mang hạnh phúc đến cho người khác.”

***

Tối hôm đó, tôi ngồi trên bệ cửa sổ, nhìn ra sân chùa. Tôi quyết định sẽ thử một thí nghiệm. Lần tới khi bắt gặp mình khao khát có thêm một con mèo trong đời, tôi sẽ nhắc nhớ về Đức Thánh Thiện và bà Trinci, cả hai đều rất hài lòng với cuộc sống độc thân. Tôi sẽ cố ý đem lại hạnh phúc cho một chúng sinh khác, dù chỉ đơn giản là trao một tiếng rừ rừ thân thiện, để chuyển sự chú ý từ bản thân sang người khác. Tôi sẽ khám phá “nghịch lý tuyệt vời” mà Đức Đạt-lai Lạt-ma đã nói xem nó có hiệu quả với tôi không.

Ngay cả khi vừa đưa ra quyết định này, tôi cảm thấy một cách khó hiểu rằng tâm hồn nhẹ nhõm hơn—ít gánh nặng và tự do hơn. Không phải hoàn cảnh đang khiến tôi khổ đau, mà chính niềm tin của tôi về những hoàn cảnh ấy. Bằng cách buông bỏ niềm tin tạo ra bất hạnh rằng tôi cần một con mèo khác, tôi sẽ biến nhà tù của mình thành một tu viện.

Tôi đang suy ngẫm về ý nghĩ đó thì một điều gì đó lọt vào tầm mắt—một chuyển động bên cạnh một tảng đá lớn trong luống hoa ở phía bên kia sân chùa. Bóng tối đã buông xuống, nhưng tảng đá được chiếu sáng bởi một ánh sáng xanh phát ra suốt đêm từ một gian hàng chợ gần đó. Tôi dừng lại một lúc lâu, chăm chú nhìn qua khoảng cách ấy.

Không, tôi không nhầm đâu! Mải mê nhìn, tôi bắt đầu nhận ra dáng hình: to lớn, oai vệ như sư tử, giống một con thú rừng vừa từ rừng sâu bước ra, với đôi mắt đen tinh anh và những vằn sọc hoàn hảo cân xứng. Một con mèo vằn hổ tuyệt đẹp.

Với những bước đi mềm mại đầy duyên dáng, nó trượt lên tảng đá, chuyển động vừa dứt khoát vừa mê hoặc. Từ đó, nó quan sát Jokhang, như một địa chủ nhìn ra các tòa nhà xa xăm trong lãnh địa của mình, trước khi đầu nó quay về phía cửa sổ nơi tôi đang ngồi. Và dừng lại.

Tôi giữ ánh mắt của nó.

Không có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy nó nhận ra tôi. Tôi chắc chắn nó đã nhìn thấy mình, nhưng nó đang nghĩ gì? Ai mà biết được? Nó chẳng hé lộ điều gì cả.

Nó chỉ đứng trên tảng đá một khoảnh khắc trước khi biến mất, lặng lẽ lẩn vào bụi rậm y như cách nó xuất hiện.

Trong bóng tối dần buông xuống, những ô sáng hiện lên trong các cửa sổ của Tu viện Namgyal khi các vị tăng trở về phòng.

Đêm tối dường như tràn đầy khả năng, sống động và đầy hứa hẹn./.

 

***


[1] Melanzane Parmigiana là một món ăn truyền thống của Ý, còn gọi là Eggplant Parmesan. Món này được làm từ lát cà tím chiên hoặc nướng, xếp lớp cùng sốt cà chua, phô mai Parmesan và mozzarella, rồi nướng cho đến khi chín vàng và béo ngậy.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Phần II: BÁT NHÃ TÂM KINH

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***


Văn bản của Tâm Kinh
Đấng Mẹ Tôn Quý, Trái Tim của Trí Tuệ Siêu Việt (Ba-la-mật-đa)11

BẰNG TIẾNG PHẠN (SANSKRIT): Bhagavati Prajna Paramita Hridaya

[Đây là phần thứ nhất.]12

Tôi đã từng nghe như vầy:

Đức Thế Tôn khi ấy đang ở tại thành Vương Xá (Rajgriha), trên đỉnh Linh Thứu (Vulture Peak), cùng với một đại chúng Tỳ-kheo và một đại chúng Bồ Tát. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập vào trạng thái thiền định sâu xa gọi là “hiện tướng của pháp thâm diệu”.

Cũng vào lúc ấy, vị Thánh giả Quán Tự Tại (Avalokiteshvara), Bồ Tát, bậc đại sĩ, khi quán chiếu sâu xa về thực hành trí tuệ Ba-la-mật-đa thâm diệu, đã thấy rõ rằng ngay cả năm uẩn cũng đều không có tự tính (tự tồn tại độc lập).

Khi ấy, nhờ oai lực gia trì của Đức Phật, Tôn giả Xá Lợi Phất (Shariputra) bạch với Thánh giả Quán Tự Tại (Avalokiteshvara), vị Bồ Tát, bậc đại sĩ, rằng:

“Người con trai lành hay người con gái lành nào mong muốn tu tập pháp Trí tuệ Ba-la-mật-đa thâm diệu thì nên thực hành và rèn luyện như thế nào?”

Khi lời ấy vừa dứt, Thánh giả Quán Tự Tại (Avalokiteshvara), vị Bồ Tát, bậc đại sĩ, nói với Tôn giả Xá Lợi Phất (Shariputra) rằng:

“Xá Lợi Phất, người con trai lành hay người con gái lành nào mong muốn thực hành Trí tuệ Ba-la-mật-đa thâm diệu thì nên quán chiếu như sau: cần thấy một cách trọn vẹn rằng ngay cả năm uẩn cũng đều không có tự tính.

Sắc tức là không, không tức là sắc; không không khác sắc, sắc cũng không khác không. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức đều là không.

Vì thế, này Xá Lợi Phất, mọi pháp đều là không; không có đặc tính riêng biệt; không sinh, không diệt; không nhơ, không sạch; không thêm, không bớt.

Cho nên, này Xá Lợi Phất, trong tính không không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức. Không có mắt, không có tai, không có mũi, không có lưỡi, không có thân, không có ý.”

“Không có sắc, không có thanh, không có hương, không có vị, không có xúc, cũng không có các pháp (đối tượng của tâm). Không có nhãn giới cho đến không có ý giới, và cũng không có giới của ý thức.

Không có vô minh, cũng không có sự diệt trừ vô minh, cho đến không có già và chết, cũng không có sự diệt trừ của già và chết.

Cũng vậy, không có khổ, không có tập, không có diệt, không có đạo; không có trí tuệ, không có chứng đắc, và cũng không có cả cái không chứng đắc.”

“Vì vậy, này Xá Lợi Phất, do các vị Bồ Tát không có chỗ chứng đắc, nên nương tựa vào Trí tuệ Ba-la-mật-đa này mà an trụ. Vì tâm không còn chướng ngại, nên không có sợ hãi; vượt qua hoàn toàn mọi điên đảo, các vị đạt đến cứu cánh Niết-bàn.

Tất cả chư Phật trong ba đời cũng đều nương vào Trí tuệ Ba-la-mật-đa thâm diệu này mà chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

“Vì vậy, cần phải biết rằng thần chú của Trí tuệ Ba-la-mật-đa—thần chú của đại trí, thần chú vô thượng, thần chú ngang bằng với cái không gì sánh bằng, thần chú có khả năng dập tắt mọi khổ đau—là chân thật vì không hư dối.

Thần chú của Trí tuệ Ba-la-mật-đa được tuyên thuyết như sau:”

tadyatha gaté gaté paragaté parasamgaté bodhi svaha!

“Xá Lợi Phất, các vị Bồ Tát, những bậc đại sĩ, nên tu tập Trí tuệ Ba-la-mật-đa theo cách như vậy.”

Khi ấy, Đức Thế Tôn xuất khỏi trạng thái thiền định ấy và tán thán Thánh giả Quán Tự Tại (Avalokiteshvara), vị Bồ Tát, bậc đại sĩ, rằng:

“Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử, đúng là như vậy, nên là như vậy. Người ta cần thực hành Trí tuệ Ba-la-mật-đa thâm diệu đúng như con đã trình bày. Khi ấy, ngay cả các Như Lai cũng sẽ hoan hỷ.”

Khi Đức Thế Tôn thốt ra những lời này, Tôn giả Xá Lợi Phất, Thánh giả Quán Tự Tại (Avalokiteshvara), vị Bồ Tát, bậc đại sĩ, cùng toàn thể đại chúng, bao gồm các thế giới của chư Thiên, loài người, A-tu-la và Ca-lâu-la, đều hoan hỷ và tán thán những lời Đức Thế Tôn đã nói./.

 

 

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

CHƯƠNG 5: GIẢI THOÁT KHỎI KHỔ ĐAU

Nguyên tác: Heart of Wisdom/ Chapter 5Freedom From Suffering
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển




***

KHỔ ĐAU VÀ LÒNG BI MẪN

Bất kể nguồn gốc lịch sử hay quá trình phát triển của nó, Đại Thừa chắc chắn là con đường dành cho sự giải thoát của tất cả chúng sinh. Khi một người bước vào con đường Đại Thừa, người đó được coi là gia nhập gia đình của các Bồ-tát. Điều này xảy ra khi bất kỳ ai, trong quá trình phát triển tâm linh của mình, đã đạt được nhận thức về lòng bi mẫn thực sự. Lòng bi mẫn tất nhiên có thể được hiểu ở nhiều cấp độ, và ở cấp độ cao nhất, lòng bi cuối cùng sẽ giải thoát chính bạn. Nhưng trước tiên, hãy cùng xem xét ý nghĩa của “lòng bi mẫn thực sự” ở đây.

Theo Phật giáo, lòng bi mẫn là một khát vọng, một trạng thái tâm, mong muốn người khác được giải thoát khỏi khổ đau. Nó không thụ động — không chỉ là sự đồng cảm đơn thuần — mà là một lòng vị tha đồng cảm, chủ động nỗ lực để giải thoát người khác khỏi khổ đau. Lòng bi mẫn chân thành phải bao gồm cả trí tuệtừ ái. Nói cách khác, một người phải hiểu bản chất của khổ đau mà mình muốn giải thoát cho người khác (đây là trí tuệ), đồng thời phải trải nghiệm sự gắn kết sâu sắc và đồng cảm với các chúng sinh khác (đây là từ ái).

Hãy cùng xem xét hai yếu tố này. (Trí tuệ và từ ái)

Theo giáo lý của Đức Phật, khổ đau mà chúng ta mong muốn giải thoát cho các chúng sinh khác có ba cấp độ.

Cấp độ đầu tiên (khổ khổ) bao gồm những cảm giác rõ ràng về đau đớn thể xác và tinh thần mà ai cũng dễ dàng nhận biết là khổ. Loại khổ này chủ yếu ở cấp độ giác quan — những cảm giác và trải nghiệm khó chịu hoặc đau đớn. Đại sư Tây Tạng Panchen Losang Chokyi Gyaltsan, thầy dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ năm, nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả động vật cũng tìm cách tránh đau khổ và những cảm giác thể xác khó chịu.

Cấp độ thứ hai (hoại  khổ) của khổ đau là khổ đau của sự thay đổi. Mặc dù một số trải nghiệm hoặc cảm giác có vẻ dễ chịu và đáng mong muốn ngay bây giờ, nhưng bên trong chúng luôn tồn tại khả năng dẫn đến một trải nghiệm không thỏa mãn. Nói cách khác, trải nghiệm không tồn tại mãi mãi; những trải nghiệm đáng mong muốn cuối cùng sẽ bị thay thế bằng một trải nghiệm trung tính hoặc không mong muốn. Nếu không phải như vậy, tức là nếu những trải nghiệm đáng mong muốn không mang bản chất của sự thay đổi, thì một khi chúng ta có trải nghiệm hạnh phúc, chúng ta sẽ vĩnh viễn hạnh phúc! Thực tế, nếu giá trị mong muốn vốn có trong trải nghiệm, thì càng gắn bó lâu với nó, chúng ta sẽ càng hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, điều này không phải là thực tế. Trên thực tế, thường thì càng theo đuổi những trải nghiệm này, mức độ thất vọng, không hài lòng và bất hạnh của chúng ta càng tăng.

Chúng ta có thể tìm thấy vô số ví dụ về khổ đau của sự thay đổi trong cuộc sống, nhưng ở đây, hãy lấy ví dụ đơn giản về một người mua một chiếc xe hơi mới. Trong vài ngày đầu, người đó có thể hoàn toàn hạnh phúc, vô cùng hài lòng với món mua sắm, luôn nghĩ về chiếc xe, chăm sóc, lau chùi và đánh bóng nó một cách cẩn thận và yêu thương. Người đó thậm chí có thể cảm thấy muốn ngủ cạnh nó! Tuy nhiên, theo thời gian, mức độ hào hứng và niềm vui không còn cao như trước. Có thể người đó bắt đầu coi chiếc xe là điều hiển nhiên, hoặc có thể bắt đầu hối tiếc vì không mua phiên bản đắt hơn hoặc màu khác. Dần dần, niềm vui từ việc sở hữu chiếc xe giảm xuống, dẫn đến một dạng không hài lòng—có thể là mong muốn sở hữu một chiếc xe khác, mới hơn. Đó chính là điều người Phật tử chúng ta muốn nói khi nhắc đến khổ đau của sự thay đổi.

Người tu hành cần tu dưỡng nhận thức và khả năng nhận diện cấp độ khổ đau này. Việc nhận thức về cấp độ khổ đau này không chỉ riêng người Phật tử mới có; khát vọng được giải thoát khỏi khổ đau của sự thay đổi cũng có thể được tìm thấy ở những người tu tập thiền định không theo Phật giáo.

Nhưng cấp độ thứ ba của khổ đau là quan trọng nhấtđó là khổ đau lan tỏa do các điều kiện chi phối (hành khổ). Điều này ám chỉ chính thực tế về sự tồn tại vô minh của chúng ta, thực tế rằng chúng ta bị chi phối bởi những cảm xúc tiêu cực và nguyên nhân gốc rễ của chúng, đó là sự vô minh căn bản về bản chất của thực tại. Phật giáo khẳng định rằng, miễn là chúng ta còn bị chi phối bởi vô minh căn bản này, chúng ta vẫn đang khổ đau; sự tồn tại vô minh này bản chất vốn là khổ đau.

Nếu chúng ta muốn tu dưỡng trí tuệ sâu sắc nhất, chúng ta phải hiểu khổ đau ở cấp độ sâu nhất, lan tỏa nhất. Ngược lại, giải thoát khỏi cấp độ khổ đau này chính là niết bàn thật sự, là giải thoát chân thực, là trạng thái chấm dứt thật sự. Chỉ giải thoát khỏi cấp độ khổ đau thứ nhất — tức chỉ thoát khỏi những trải nghiệm thể chất và tinh thần khó chịu — không phải là chấm dứt khổ đau thật sự. Giải thoát khỏi cấp độ thứ hai cũng không phải là chấm dứt thật sự. Tuy nhiên, giải thoát khỏi cấp độ thứ ba của khổ đau — tức hoàn toàn thoát khỏi nguồn gốc căn bản của khổ đaumới là chấm dứt thật sự, mới là giải thoát chân thật.

Người ta nói rằng giải thoát khỏi cấp độ khổ đau thứ nhất có thể đạt được phần nào bằng sự tái sinh cao hơn — chẳng hạn như tái sinh làm con người may mắn hơn, hoặc tái sinh làm một vị thần sống lâu. Giải thoát khỏi cấp độ khổ đau thứ hai có thể đạt được thông qua các trạng thái thiền định trần tục. Ví dụ, thông qua thực hành định sâu, một người có thể trải nghiệm những gì gọi là bốn cảnh giới hữu sắc bốn cảnh giới vô sắc. Trong cảnh giới hữu sắc cao nhất tất cả bốn cảnh giới vô sắc, các chúng sinh được cho là tự do khỏi cảm giác đau đớn lẫn khoái lạc, duy trì trạng thái cảm thọ trung tính — nhưng những trạng thái này không kéo dài sau khi kết thúc định sâu. Do đó, trong khi vẫn chưa thoát khỏi luân hồi, vẫn có những cảnh giới mà người ta có thể đạt được giải thoát khỏi cả hai cấp độ khổ đau thứ nhất và thứ hai. Giải thoát khỏi cấp độ khổ đau thứ ba chính là Chánh pháp thật sự, bảo vệ chúng ta khỏi mọi khổ đau và tiêu cực. Con đường dẫn đến Chánh pháp đó được gọi là đạo của Đức Phật.

Hiểu khổ đau theo cách này là yếu tố đầu tiên của lòng bi mẫn thực sự (trí tuệ). Yếu tố thứ hai của lòng bi mẫn thực sự, tức từ ái, phát triển cảm giác gắn kết và đồng cảm với tất cả chúng sinh, phải được thực hiện dựa trên nhận thức về mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng ta với mọi chúng sinh. Chúng ta cần phát triển khả năng kết nối với người khác, cảm thấy gần gũi với người khác. Điều này có thể đạt được bằng cách nhận thức có ý thức và chủ động về những giới hạn và hậu quả có hại của việc chỉ yêu thương bản thân — chỉ quan tâm đến hạnh phúc riêng — và sau đó suy ngẫm về những đức hạnh và công đức của việc quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Trong Chương 12, tôi sẽ giải thích chi tiết hơn về một số thực hành để phát sinh lòng bi và thái độ vị tha, được gọi là Bồ-đề tâm (bodhichitta).

TÍCH HỢP TẤT CẢ GIÁO LÝ

Khi chúng ta chuẩn bị khám phá sâu về Tâm Kinh, cần lưu ý rằng khi đọc các Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, có một truyền thống giải thích theo đó nội dung của giáo lý được hiểu ở hai cấp độ khác nhau.

  • Một mặt, cấp độ rõ ràng là giáo lý trực tiếp của Đức Phật về tánh không.
  • Mặt khác, cấp độ ẩn giấu liên quan đến các giai đoạn của con đường, gắn liền với sự thâm sâu dần của trí tuệ về tánh không.

Các kinh Bát-nhã trình bày rõ ràng giáo lý về tánh không với chi tiết phong phú thông qua việc liệt kê các loại hiện tượng, cả ô nhiễm (như năm uẩn) lẫn thuần tịnh (như bốn chân lý cao thượng). Đồng thời, các kinh này ngầm chỉ ra các giai đoạn của con đường giác ngộ dưới dạng các mức độ tiến bộ trong nhận thức về tánh không.

Như tôi đã nói, lần thứ nhất chuyển bánh xe Pháp trình bày cấu trúc cơ bản của con đường giác ngộ của Đức Phật trong khuôn khổ bốn chân lý cao thượng.

Lần chuyển thứ hai bánh xe Pháp, chủ yếu bao gồm các văn bản Bát-nhã Ba-la-mật, mở rộng thêm về chân lý thứ ba, tức chân lý về sự chấm dứt (diệt đế), đặc biệt là về hiểu biết bản chất tối hậu của thực tại, tức tánh không. Khi sự hiểu biết về bản chất tối hậu của thực tại sâu sắc hơn, người tu tập bắt đầu nhận rõ hơn bản chất sai lầm của niềm tin vào sự tồn tại cố hữu. Khi bản chất sai lầm của niềm tin này trở nên rõ ràng hơn, sự thấu triệt về bản chất thật của thực tại cũng trở nên sâu sắc và minh bạch hơn.

Theo cách này, chúng ta cũng đặt nền tảng cho sự hiểu biết sâu hơn về kinh nghiệm chủ quan của tánh không, đây là chủ đề then chốt trong lần chuyển thứ ba của bánh xe Pháp.

Các kinh chính của lần chuyển thứ baKinh Phật Tánh (Tathagatagarbhasutra), là cơ sở cho Tác phẩm Tối Thượng của Di Lặc (Uttaratantra)Tuyển Tập Thơ Ca của Long Thọ. Các kinh này trình bày chi tiết giáo lý về Phật tánh và bản chất kinh nghiệm chủ quan của tánh không, từ đó đặt nền tảng cho giáo lý Kim Cang Thừa, hay tantra.

Khi nhìn theo cách này, ta thấy rằng giáo lý trước đây của Đức Phật đã đặt nền tảng cho những giáo lý sau này, và những giáo lý sau này làm phong phú và mở rộng các chủ đề đã được nhắc đến trong giáo lý trước, từ đó bổ sung và hoàn thiện chúng.

Hiểu theo cách này, ta có thể thấy rằng hình thức Phật giáo phát triển tại Tây Tạng là một dạng Phật giáo toàn diện, bao trùm tất cả những giáo lý cốt yếu của các kinh điển Theravada, Đại thừa và Kim Cang thừa.

Điều rất quan trọng là hiểu rằng giáo lý cốt lõi của truyền thống Theravada, được ghi trong các kinh Pali, chính là nền tảng của giáo lý Đức Phật. Bắt đầu từ những giáo lý này, người tu tập có thể khai thác những hiểu biết sâu sắc chứa trong các giải thích chi tiết của truyền thống Đại thừa bằng tiếng Phạn.

Cuối cùng, tích hợp các kỹ thuật và quan điểm từ các kinh Kim Cang thừa có thể tăng cường thêm sự thấu hiểu của người tu tập. Tuy nhiên, nếu không có nền tảng vững chắc trong các giáo lý cốt lõi của truyền thống Pali, việc tự xưng là người theo Đại thừa sẽ trở nên vô nghĩa.10

Nếu một người có hiểu biết sâu sắc về các kinh điển khác nhau và cách giải thích của chúng, người đó sẽ tránh được những quan niệm sai lầm về xung đột giữa “Đại thừa” (Mahayana) và “Tiểu thừa” (Hinayana). Đôi khi, có một khuynh hướng đáng tiếc ở một số người theo Đại thừachê bai các giáo lý Theravada, cho rằng đó là giáo lý của Tiểu thừa, và do đó không phù hợp với thực hành cá nhân của mình. Tương tự, ở một số người theo truyền thống Pali, đôi khi cũng có khuynh hướng bác bỏ giá trị của giáo lý Đại thừa, cho rằng chúng không thực sự là giáo lý của Đức Phật. Khi chúng ta tiến đến khám phá Tâm Kinh, điều quan trọng là hiểu sâu sắc cách các truyền thống này bổ sung cho nhau, và thấy cách mỗi cá nhân có thể tích hợp tất cả những giáo lý cốt lõi này vào thực hành cá nhân của mình./.

GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO

 



Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ

Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, một hoàng tử Ấn Độ tên là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhartha Gautama) được cho là đã từ bỏ ngai vàng, rời xa gia đình và cung điện của mình, rồi vào rừng để tìm lời giải cho những câu hỏi ám ảnh về khổ đau, bệnh tật, tuổi già và cái chết. Thông qua hành trình tìm kiếm mãnh liệt này cùng với sự thiền định sâu sắc, ông đạt được trí tuệ lớn. Ông được biết đến với danh hiệu “Phật” (Buddha), có nghĩa là “Người Giác Ngộ” hoặc “Người Tỉnh Thức”.

Ngay trong thời đại của mình, Đức Phật đã thu hút được một lượng lớn người theo ở Ấn Độ nhờ sự thấu hiểu về nỗi khổ của chúng sinh và những lời dạy về cách vượt qua khổ đau thông qua đời sống đạo đức, thiền định và sự hiểu biết về thực tại. Một số người đi theo con đường từ bỏ đời sống thế tục và trở thành tu sĩ nam, nữ. Những người khác vẫn sống đời tại gia, học hỏi giáo lý của Đức Phật, tôn kính Ngài và hỗ trợ cộng đồng tu sĩ. Mặc dù Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, sự tôn kính Đức Phật và việc thực hành giáo lý của Ngài đã sớm lan rộng khắp châu Á và ngày nay đã phổ biến trên toàn thế giới. Vì vậy, Phật giáo có thể được xem là một tôn giáo mang tính toàn cầu, không gắn riêng với một dân tộc hay vùng đất cụ thể nào.

Hiện nay có hai truyền thống lớn của Phật giáo: truyền thống Theravada (Nguyên thủy) ở Nam và Đông Nam Á, bao gồm Sri Lanka, Myanmar (Miến Điện), Thái Lan, Campuchia và Lào; và truyền thống Mahayana (Đại thừa) ở Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Truyền thống Vajrayana (Kim Cang thừa) ở khu vực Himalaya rộng lớn, một nhánh của Đại thừa, có quy mô đủ lớn để đôi khi được xem là dòng truyền thống thứ ba. Mặc dù các truyền thống này có những điểm khác biệt, chúng không hoàn toàn tách biệt mà luôn có sự tương tác với nhau tại châu Á. Ngày nay, vào đầu thế kỷ 21, tất cả các truyền thống này đều đang hiện diện và hòa trộn tại Mỹ.

HOÀNG TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA: TỪ BỎ THẾ GIAN

Những gì chúng ta biết về cuộc đời của Đức Phật lịch sử phần lớn được phác họa từ các truyền thuyết. Một trong những bản tường thuật văn học đẹp nhất về câu chuyện này được kể bởi Mã Minh (Ashvaghosha) vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Hoàng tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm được cho là sinh ra trong gia đình hoàng tộc Thích Ca tại một nơi gọi là Lumbini, thuộc Nepal ngày nay, ở chân dãy Himalaya. Có một số tranh luận về năm sinh của Ngài, với một số ý kiến cho rằng vào năm 563 trước Công nguyên, trong khi ý kiến khác cho rằng là năm 480 trước Công nguyên. Vào thời điểm Ngài ra đời, các nhà tiên tri đã dự đoán rằng Ngài sẽ trở thành một vị vua vĩ đại hoặc một bậc thầy giác ngộ. Nếu hoàng tử nhìn thấy “bốn cảnh tượng”—tuổi già, bệnh tật, cái chết và một người tu khổ hạnh lang thang—Ngài sẽ từ bỏ cuộc sống hoàng gia để tìm kiếm sự giác ngộ.

Cha của Ngài, nhà vua, quyết tâm để con trai mình trở thành một vị vua lớn và đã cố gắng che chắn Hoàng tử Tất-đạt-đa khỏi bốn thực tại này của cuộc sống. Tuy nhiên, vào năm 29 tuổi, Tất-đạt-đa cùng với người đánh xe của mình rời khỏi khuôn viên cung điện được bảo vệ và lần đầu tiên đối diện với khổ đau, điều mà Ngài hiểu là một phần không thể tránh khỏi của cuộc sống. Ngài đã chứng kiến bốn cảnh: một người già lưng còng, một người bệnh tật, một xác chết và một nhà tu khổ hạnh lang thang. Chính cảnh tượng thứ tư—người tu khổ hạnh—đã khiến Tất-đạt-đa tràn đầy thôi thúc tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ của khổ đau con người.

Tất-đạt-đa rời bỏ cuộc sống xa hoa trong cung điện. Ngài học tập và sống đời khổ hạnh trong rừng với những bậc thầy và tu sĩ khổ hạnh hàng đầu thời bấy giờ. Tuy nhiên, Ngài nhận ra rằng những giáo lý của họ và lối tu hành ép xác khắc nghiệt không giúp Ngài trả lời câu hỏi về khổ đau hay mang lại sự hiểu biết về cách giải thoát khỏi nó. Sau khi trải qua cuộc sống hưởng thụ trong cung điện và rồi cuộc sống tự khước từ trong rừng, cuối cùng Ngài chọn “con đường trung đạo,” tức là sự cân bằng giữa hai cực đoan này. Khi nhận thức ăn từ một cô gái trong làng, Ngài phục hồi thể lực và bắt đầu hành trình hướng nội thông qua việc thực hành thiền định.

***

TRỞ THÀNH “PHT”: CON ĐƯỜNG THIỀN ĐỊNH

 Theo truyền thống, Tất-đạt-đa ngồi dưới gốc một cái cây, về sau được gọi là cây Bồ-đề, tức “cây giác ngộ”. Ngài phát nguyện sẽ ngồi dưới gốc cây ấy cho đến khi đạt được sự hiểu biết sâu sắc về khổ đau. Khi ngồi suốt đêm, tâm trí Ngài trở nên tĩnh lặng sâu sắc, giống như mặt hồ phẳng lặng trong một ngày không gió. Sự tĩnh lặng này giúp Ngài thấy ngày càng sâu và rõ hơn về vòng lẩn quẩn của sự dính mắc, chấp trước và cái tôi—những thứ nằm ở gốc rễ của khổ đau.

Ma vương (Mara) xuất hiện để cám dỗ và tấn công Ngài bằng những “mũi tên” của dục vọng. Ham muốn, sợ hãi, kiêu ngạo và khao khát nổi lên để thử thách sự tập trung vững chắc của Ngài. Nhưng Tất-đạt-đa đã đặt tay xuống đất, lấy chính đất làm chứng cho ý chí kiên định của mình. Khi sao mai xuất hiện, Tất-đạt-đa Cồ-đàm trở thành Phật, nghĩa đen là “Người Giác Ngộ”. Ngài đã “tỉnh thức” trước bản chất vô thường của thế giới và nguyên nhân của khổ đau. Trạng thái giác ngộ này còn được gọi là Niết-bàn, nghĩa đen là “dập tắt” ngọn lửa của sự chấp trước vị kỷ—nguồn gốc của khổ đau.

Tất-đạt-đa được gọi là Phật Thích-ca Mâu-ni, nghĩa là “Bậc hiền triết của dòng họ Thích-ca”, để nhấn mạnh rằng sự giác ngộ này không phải là điều chỉ riêng Ngài đạt được. Theo thời gian, đã có những người khác cũng giác ngộ chân lý và đạt được Giác Ngộ, trở thành các vị Phật. Trong số những vị được biết đến và tôn kính rộng rãi có Phật A-di-đà, Phật Tỳ-lô-giá-na, và Phật Dược Sư. Thật vậy, đôi khi các vị Phật được mô tả với số lượng hàng ngàn, bởi vì “Phật tánh” chính là bản chất giác ngộ chân thật của mọi chúng sinh.

Người ta nói rằng, với lòng từ bi lớn lao, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni sau khi giác ngộ đã bắt đầu chỉ dạy con đường mà Ngài đã đi qua, để người khác cũng có thể bước theo con đường ấy. Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy tại các thành thị và làng mạc ở miền bắc tiểu lục địa Ấn Độ trong khoảng bốn mươi lăm năm.

 ***

PHÁP (DHARMA): GIÁO LÝ CỦA ĐỨC PHT

 Các bài thuyết pháp và giáo lý của Đức Phật hướng đến việc chỉ ra bản chất chân thật của vũ trụ, trong Phật giáo gọi là Pháp (Dharma). Bài giảng đầu tiên của Ngài được thuyết tại vùng ngoại ô thành phố Varanasi, ở vườn nai Sarnath (Lộc Uyển). Bài giảng này trình bày tổng quan về khổ đau và con đường thoát khổ, được gọi là “Tứ Diệu Đế”. Đức Phật thường được ví như một vị thầy thuốc: trước hết chẩn đoán bệnh, rồi đưa ra phương thuốc chữa trị. “Tứ Diệu Đế” đi theo cấu trúc đó:

1. Cuộc sống là khổ (duhkha)

“Căn bệnh” mà Đức Phật chẩn đoán trong thân phận con người là duhkha, thường được dịch là “khổ đau” hoặc “bất toại nguyện”. Ngài nói đến ba dạng khổ:

·        Khổ thông thường: đau đớn về thân và tâm.

·        Khổ do vô thường: mọi thứ, kể cả niềm vui và trạng thái hạnh phúc, đều thay đổi và không bền vững.

·        Khổ do vô ngã: không có cái “tôi” độc lập; mọi thứ, kể cả cái ta gọi là “bản thân”, đều do điều kiện mà thành và phụ thuộc lẫn nhau.

2. Khổ có nguyên nhân từ tham ái và chấp thủ

Đức Phật thấy rằng sự khao khát, ham muốn, và cố nắm giữ những gì ta không có chính là nguyên nhân chính của khổ đau. Vì mọi thứ trong “thực tại” đều vô thường và luôn thay đổi, nên việc cố giữ lấy chúng cũng vô vọng—giống như cố giữ một phần của dòng sông.

3. Có thể chấm dứt khổ đau

Đây là thông điệp tích cực của Pháp. Con người có thể chấm dứt ham muốn vị kỷ, chấm dứt khổ đau, và đạt được tự do khỏi trạng thái bất toại nguyện kéo dài.

4. Con đường là “Bát Chánh Đạo”

Để đạt được tự do này, cần thực hành một lối sống gồm đạo đức, tư duy và thiền định. Tám yếu tố bao gồm:

·        Chánh kiến (Right understanding): Hiểu sâu sắc rằng hành động và suy nghĩ thiện hay bất thiện đều có hậu quả.

·        Chánh tư duy (Right intention): Nhận ra hành động bị chi phối bởi sân hận, ích kỷ hoặc bởi từ bi, hiểu biết và tình thương.

·        Chánh ngữ (Right speech): Nói lời chân thật, có ý thức về đạo đức trong lời nói.

·        Chánh nghiệp (Right action): Tuân theo năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất gây mê loạn tâm trí.

·        Chánh mạng (Right livelihood): Kiếm sống phù hợp với các nguyên tắc đạo đức.

·        Chánh tinh tấn (Right effort): Nỗ lực bền bỉ, kiên nhẫn như chăm sóc một cánh đồng.

·        Chánh niệm (Right mindfulness): Phát triển sự tỉnh thức trong từng khoảnh khắc, như chú tâm vào hơi thở, bước đi, và cảm giác thân thể.

·        Chánh định (Right concentration): Rèn luyện khả năng tập trung tâm ý, đưa tâm tán loạn về một điểm, để thấy rõ thực tại.

Tóm lại, giáo lý của Đức Phật không chỉ mô tả vấn đề khổ đau mà còn đưa ra một con đường thực hành cụ thể để chuyển hóa và vượt qua nó.

***

TĂNG ĐOÀN (SANGHA): CỘNG ĐỒNG PHT GIÁO

Những người theo Đức Phật được gọi là Tăng đoàn (Sangha)—cộng đồng gồm các tu sĩ nam (tỳ-kheo / bhikkhu) và tu sĩ nữ (tỳ-kheo-ni / bhikkhuni). Những người xuất gia phải trải qua nghi thức thọ giới, cạo tóc và khoác áo tu để biểu trưng cho việc từ bỏ đời sống thế tục. Họ sống đời không nhà, du hành, và chỉ an cư tại các tu viện trong mùa mưa.

Đối với một số người, Tăng đoàn bao gồm toàn bộ cộng đồng những người theo Đức Phật. Ngay từ đầu, đệ tử của Ngài không chỉ có người xuất gia mà còn có các cư sĩ—những người sống đời gia đình nhưng vẫn thực hành giáo lý của Đức Phật.

Cả người xuất gia và tại gia đều tuân theo năm giới—những nguyên tắc đạo đức cơ bản làm nền tảng cho đời sống tôn giáo. Ngoài ra, một bộ quy tắc chi tiết hơn dành cho tu sĩ, gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa (Pratimoksha), dần được hình thành để điều chỉnh hành vi của người xuất gia.

Cộng đồng xuất gia và tại gia có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Cho đến ngày nay, cư sĩ nhận được sự hướng dẫn và giảng dạy từ chư Tăng Ni, trong khi Tăng Ni nhận sự hỗ trợ về thực phẩm, y phục, chỗ ở và đôi khi là toàn bộ nhu cầu vật chất từ cư sĩ. Việc cúng dường thức ăn và vật phẩm cho chư Tăng được nhiều Phật tử xem là hành động tích phước đức, tạo nghiệp lành cho bản thân và người thân. 

***

TAM BẢO (THREE TREASURES)

Tam Bảo” của truyền thống Phật giáo gồm có: Phật (Buddha), Pháp (Dharma)Tăng (Sangha). Trên khắp thế giới Phật giáo, tất cả Phật tử đều có chung ba điều quý báu này. Trở thành một Phật tử nghĩa là quy y Tam Bảo. Người Phật tử xem Đức Phật là trung tâm của đời sống tâm linh, đồng thời tôn kính sự giác ngộ, giáo lý của những bậc giác ngộ, và cộng đồng thực hành theo giáo lý đó.

Trong ngôn ngữ cổ Pali, lời quy y được đọc như sau:

·        Buddham saranam gacchami – “Con xin quy y Phật.”

·        Dhammam saranam gacchami – “Con xin quy y Pháp.”

·        Sangham saranam gacchami – “Con xin quy y Tăng.”

Phật, Pháp và Tăng tiếp tục là nguồn cảm hứng cho Phật tử, nhưng không phải ở đâu cũng được hiểu theo cùng một cách:

·        Một Phật tử Theravada ở Sri Lanka có thể cho rằng Đức Phật là một con người đã tìm ra con đường giác ngộ, không gì hơn thế.

·        Một Phật tử Tịnh Độ ở Trung Quốc có thể niệm danh hiệu Phật A-di-đà, được xem là vị Phật vĩnh hằng của ánh sáng vô lượng, và cầu nguyện được tái sinh về cõi Tịnh Độ sau khi qua đời.

·        Một thiền sư Zen Nhật Bản có thể nói câu gây sốc: “Nếu gặp Phật trên đường, hãy giết Phật!”, nhằm nhấn mạnh rằng việc bám chấp vào hình ảnh Đức Phật để tìm sự an toàn cũng gây ra khổ đau như bất kỳ sự chấp trước nào khác.

Như vậy, dù cách hiểu có khác nhau, Tam Bảo vẫn là nền tảng chung gắn kết mọi truyền thống Phật giáo.

***

SỰ MỞ RỘNG CỦA PHT GIÁO

Tại Ấn Độ, Phật giáo bắt đầu suy yếu vào thế kỷ 6–7 sau Công nguyên, khi Ấn Độ giáo mang tính sùng tín (devotional Hinduism) thay thế Phật giáo ở miền nam, và người Hung Hephthalite xâm lược, tàn phá các tu viện ở miền bắc. Đến thế kỷ 13, các cuộc xâm lược liên tiếp của người Thổ đã khiến Phật giáo gần như biến mất tại Ấn Độ. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Phật giáo lại đang phát triển mạnh ở nhiều khu vực khác của châu Á.

Ngay từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, hoàng đế Ấn Độ Ashoka—một người cải sang Phật giáo—được cho là đã truyền bá đạo này đến đảo Ceylon (Sri Lanka). Đến thế kỷ 5 sau Công nguyên, Phật giáo đã lan rộng khắp các vùng ngày nay là Myanmar và Thái Lan. Đến thế kỷ 13, một trong những trường phái Phật giáo sớm nhất, gọi là Theravada (“Con đường của các bậc trưởng lão”), đã trở thành truyền thống chủ đạo ở Nam và Đông Nam Á.

Ngay từ thế kỷ 1 sau Công nguyên, các nhà sư Phật giáo đã đi theo “Con đường Tơ lụa” qua Trung Á đến Trung Quốc. Đến thế kỷ 7, Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu rộng tại Trung Quốc, tương tác với các hệ tư tưởng như Nho giáo và Đạo giáo. Cũng vào thời gian này, Phật giáo đã được thiết lập vững chắc tại Triều Tiên. Đến thế kỷ 6, Phật giáo được truyền vào Nhật Bản, nơi nó phát triển trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của Thần đạo (Shintō) và các truyền thống bản địa khác. Hình thức Phật giáo phát triển từ Ấn Độ và nở rộ tại Đông Á này được gọi là Đại thừa (Mahayana), hay “Cỗ xe lớn”.

Vào thế kỷ 8, Phật giáo—chịu ảnh hưởng của các truyền thống Mật tông (Tantric) từ đông bắc Ấn Độ—đã lan đến cao nguyên Tây Tạng. Tại đây, khi tương tác với tôn giáo bản địa Bon và các hình thức Phật giáo từ Đông Á, đã hình thành một dạng Đại thừa đặc sắc và sinh động gọi là Kim Cang thừa (Vajrayana), hay “Cỗ xe kim cương”.

Các dòng Phật giáo này khác nhau phần nào về cách hiểu Đức Phật và giáo lý của Ngài, về kinh điển mà họ tôn kính, cũng như về các biểu hiện văn hóa trong đời sống và thực hành Phật giáo. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu gắn các truyền thống này một cách cứng nhắc với những tư tưởng hay khu vực địa lý cụ thể.

***

THERAVADA: CON ĐƯỜNG CỦA CÁC BẬC TRƯỞNG LÃO

Theravada, nghĩa đen là “Con đường của các bậc trưởng lão,” là trường phái Phật giáo nổi bật nhất hiện nay ở các nước Đông Nam Á và Sri Lanka. Như tên gọi, trường phái này tự xem mình là truyền thống trung thành nhất với những giáo lý được truyền lại qua các thế hệ. Tại Hoa Kỳ, Phật giáo Theravada phát triển mạnh từ những năm 1960, khi người Mỹ gốc Âu bắt đầu thực hành vipassana, thiền tuệ hay “thiền quán sát” (insight meditation). Đồng thời, số lượng lớn người nhập cư từ Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia và các quốc gia Theravada truyền thống khác cũng đến Hoa Kỳ.

Những đặc điểm chính của Phật giáo Theravada có thể tóm tắt như sau:

1.    Kinh điển Pali (Pali Canon): Bao gồm các kinh và chú giải viết bằng ngôn ngữ Pali cổ, được coi là nguồn chính xác nhất về giáo lý của Đức Phật lịch sử. Trong khi các trường phái khác có các phiên bản khác của kinh điển hoặc mở rộng phạm vi kinh, các vị tu sĩ  Theravada tin rằng Kinh điển Pali là chuẩn mực cuối cùng.

2.    Nhấn mạnh vào Đức Phật lịch sử: Tôn vinh Đức Phật là người tìm ra con đường tâm linh sống cách đây khoảng 2.500 năm ở Ấn Độ. Trong khi các trường phái khác có thể tập trung vào giáo lý của các Phật khác hoặc tôn thờ nhiều Phật, Theravada đặt Phật Thích-ca Mâu-ni ở vị trí trung tâm.

3.    Mẫu mực tu tập lý tưởng:A La Hán (Arahant (Pali) hay Arhat (Sanskrit)), nghĩa là “bậc đáng kính.” A La Hán là những hành giả Phật giáo đạt Niết-bàn, tu tập hoàn thiện đến mức mọi ô nhiễm và ham muốn được dập tắt.

Trường phái Theravada nhấn mạnh việc thực hành kỷ luật, thiền định và tuân thủ giáo lý nguyên thủy như con đường để đạt giác ngộ.

***

ĐẠI THỪA (MAHAYANA: CỖ XE LỚN)

Vào khoảng năm 200 sau Công nguyên, một dòng mới của Phật giáo bắt đầu xuất hiện tại Ấn Độ, được gọi là Đại thừa (Mahayana), nghĩa đen là “Cỗ xe lớn.” Dòng phái này, gồm các nhà sư, tu sĩ nữ và cư sĩ, có thể được mô tả như sau:

·        Như tên gọi, Đại thừa tự xem mình là “lớn” cả về cách giải thích giáo lý của Đức Phật lẫn sự cởi mở với một nhóm rộng hơn, đặc biệt là người tại gia. Từ yana nghĩa là “cỗ xe” hoặc “cái bè,” tượng trưng cho giáo lý Phật giáo như một phương tiện giúp người ta vượt qua dòng sông khổ đau để đến “bờ bên kia.”

·        Truyền thống Đại thừa linh hoạt hơn trong việc chấp nhận kinh điển, coi nhiều kinh mới soạn trong các thế kỷ đầu sau Công nguyên là những giáo lý chân chính. Một số kinh nổi bật như Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra), Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra), Kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinirvana Sutra) và các kinh Tịnh Độ, tập trung vào các chủ đề như:

o   Tánh không (shunyata): sự rỗng không, vô thường của mọi hiện tượng.

o   Từ bi (karuna): lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh.

o   Phật tính: tính giác ngộ tiềm ẩn trong tất cả chúng sinh.

·        Hình mẫu lý tưởng trong Đại thừa là Bồ-tát, một chúng sinh giác ngộ nhưng vẫn tích cực giúp người khác thoát khổ. Bồ-tát được dẫn dắt hoàn toàn bởi từ bi (karuna) và kiến thức sâu sắc (trí tuệ, prajna). Hình tượng Bồ-tát thường được so sánh với lý tưởng A La Hán (Arhat) trong các trường phái khác, vốn tập trung vào giải thoát cá nhân và được cho là mang tính cái ngã của cá nhân tức là quá vị kỷ (nó được dùng để mô tả lý tưởng A La Hán /Arhat ở các trường phái khác, vốn tập trung vào giải thoát cho bản thân. Các nhà sư Đại thừa cho rằng nếu tu tập chỉ để tự giải thoát thì vẫn còn nặng cái tôi cá nhân, chưa thực sự phát triển từ bi (karuna) vì chưa hướng đến cứu giúp tất cả chúng sinh như lý tưởng Bồ-tát.)

·        Đại thừa là dòng Phật giáo lớn đầu tiên xuất hiện tại Hoa Kỳ, do người nhập cư Trung Quốc và Nhật Bản mang đến vào thế kỷ 19. Ngày nay, hai biểu hiện chính của Đại thừa là Thiền (Zen)Tịnh Độ (Pure Land) đều có người thực hành cả gốc Á và không gốc Á. Ngoài ra, người nhập cư Hàn Quốc và Việt Nam đã giới thiệu các hình thức Đại thừa đặc trưng của văn hóa mình vào cuối thế kỷ 20, và ngày càng có đông tín đồ theo học.

***

KIM CANG THỪA (VAJRAYANA: CỖ XE KIM CANG)

 Vào thế kỷ 7, một phong trào lớn trong Phật giáo Đại thừa xuất hiện, gọi là Kim Cang thừa (Vajrayana), nghĩa đen là “Cỗ xe Kim Cang” hay “Cỗ xe Sấm Chớp.” Truyền thống này nổi bật ở Tây Tạng và các vùng lân cận, dù cũng có hình thức xuất hiện ở Trung Quốc và Nhật Bản. Kim Cang thừa xem mình là một dạng bí truyền (esoteric) của Đại thừa, với con đường giác ngộ được rút ngắn và tăng tốc.

Truyền thống Tây Tạng này kết hợp cả:

·        Giáo lý và thực hành thiền định của các nhà sư Theravada,

·        Giáo lý về tánh không của mọi hiện tượng điều kiện (đặc trưng của Đại thừa).

Kim Cang thừa còn được gọi là Mật thừa (Tantrayana) vì dựa trên các tantra—hệ thống thực hành nhấn mạnh sự bất khả phân giữa trí tuệ và từ bi, được biểu tượng hóa qua sự hợp nhất nam-nữ.

Ba thuật ngữ chính đặc trưng cho thực hành Kim Cang thừa, mỗi thuật ngữ đều có ý nghĩa nghi lễ, ý nghĩa nội tâm-thể chất và ý nghĩa huyền bí:

·        Mantra: Mật ngôn hay Một âm tiết hoặc câu chú niệm để tụng hay thiền, chứa năng lượng thiêng liêng và vũ trụ của Phật hoặc Bồ-tát. Mantra bảo vệ tâm khỏi các trạng thái tiêu cực bằng cách triệu tập năng lượng thần thánh trong chính mình.

·        Mandala: Một “vòng tròn” hay sơ đồ vũ trụ dùng cho nghi lễ hoặc thiền quán, đại diện cho các cõi của Phật và Bồ-tát cùng năng lượng vũ trụ của họ, dưới dạng hai hoặc ba chiều.

·        Mudra: Một “biểu tượng” hay “thủ ấn” nghi lễ, hình thành bởi tư thế tay hoặc cơ thể, biểu thị phẩm chất và sự hiện diện của các Phật và Bồ-tát trong nghi lễ Kim Cang thừa.

Kể từ cuộc khởi nghĩa Tây Tạng năm 1959, hơn 100.000 Phật tử Kim Cang thừa Tây Tạng trở thành người tị nạn tại Ấn Độ và trên thế giới. Đạt-lai Lạt-ma hiện nay, Tenzin Gyatso, là người đứng đầu một trong bốn dòng truyền thừa chính của tu sĩ Tây Tạng và lãnh đạo chính quyền Tây Tạng lưu vong tại miền bắc Ấn Độ. Các vị thầy Tây Tạng khác, gọi là lama, tulku, hoặc rinpoche, đã định cư tại Hoa Kỳ trong những năm 1960–70, thu hút đông đảo tín đồ gốc Âu-Mỹ. Chỉ đến thập niên 1990, số lượng cư sĩ Phật tử Tây Tạng sang Hoa Kỳ mới đáng kể. Kết quả là hiện nay, Hoa Kỳ trở thành nơi giao thoa giữa truyền thống Kim Cang thừa nhiều thế kỷ tuổithực hành Kim Cang thừa của các Phật tử Mỹ mới vài thập niên.


***

https://pluralism.org/introduction-to-buddhism