Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

NGÀY LỄ VALENTINE CHO NHỮNG NGƯỜI PHẬT TỬ

 


Nguyên tác: Valentines Day For Buddhists
Tác giả: JUSTIN WHITAKER
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

***



Hoặc: “Tìm kiếm tình yêu (lời khuyên) ở tất cả những nơi sai lầm”*

Tôi từng có dịp hướng dẫn một nghiên cứu về chủ đề “Phật giáo và tình yêu.” Câu hỏi mà sinh viên của tôi trăn trở là: “Đâu là mối quan hệ tình cảm lãng mạn lý tưởng theo quan điểm Phật giáo?”

Khi đó, chúng tôi có trong tay:

1-những cuốn sách do người phương Tây đương đại viết cho người phương Tây về thực hành Phật giáo;
2-rất nhiều tư liệu lịch sử và các công trình học thuật; và 
3-cả những Phật tử thực hành đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau để trò chuyện trực tiếp về chủ đề này.

Các cuốn sách đương đại đưa ra khá nhiều lời khuyên tương đối hay, dù đôi khi sáo mòn: hãy yêu bản thân trước khi có thể yêu người khác, nuôi dưỡng lòng từ bi, chấp nhận sự vô thường, nhận ra nhu cầu của chúng ta đối với cộng đồng và sự đồng hành, v.v., v.v.

Sau đó, chúng tôi chuyển sang các công trình học thuật và kinh điển sớm. Và ở đây thì nảy sinh một vấn đề. Mối quan hệ tình cảm lãng mạn lý tưởng trong phần lớn những văn bản đó là: đừng có một mối quan hệ nào cả.

“Đời sống tại gia thì bụi bặm và chật chội,” Đức Phật đã cảnh báo, “hãy lấy gốc cây làm nhà — sống một mình, hoặc cùng với những người bạn thiện tri thức.”

Và tình trạng đó kéo dài trong gần như toàn bộ 2.500 năm lịch sử Phật giáo. Những nhân vật lớn, các bậc thánh, các vị Bồ-tát, v.v. thì hơn 90% là các tu sĩ xuất gia không lập gia đình, và cũng hơn 90% là nam giới.

Người ta có thể nhìn vào một trong những jataka — các câu chuyện tiền thân của Đức Phật, thường được trình bày như những truyện ngụ ngôn đạo đức — chẳng hạn câu chuyện về Hoàng tử Vessantara, khi vị Bồ-tát (Đức Phật trong một đời quá khứ) đã hoàn thiện hạnh bố thí bằng cách thực sự đem cho đi các con của mình, rồi đến cả người vợ. Trong cái kết “có hậu”, vị Bồ-tát được đoàn tụ lại với vợ và các con.

Và một phần của câu chuyện là việc từ bỏ vợ con là vô cùng khó khăn; nhưng chính điều đó lại càng làm nổi bật sự tận hiến còn lớn lao hơn của vị Bồ-tát đối với mục tiêu giác ngộ.

Câu chuyện về đời sống (cuối cùng) của Đức Phật cũng mang cấu trúc tương tự: ở tuổi hai mươi chín, ngay sau khi vừa có con với người vợ của mình, Ngài rời bỏ cả hai để đi tìm giác ngộ. Kết cục — như thường thấy — là Ngài chứng đạt giác ngộ, truyền dạy con đường tu tập cho người con trai và, về sau, dù ban đầu còn do dự, cũng truyền dạy cho người vợ cũ của mình.

Kinh Sigālovāda (kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt) thường được trích dẫn và đôi khi được gọi là “bài kinh về đạo đức của người tại gia”, có đoạn nói như sau về mối quan hệ giữa vợ và chồng:

“Này người tại gia trẻ tuổi, người chồng nên đối đãi với người vợ — được xem như hướng Tây — theo năm cách như sau:”

“(i) bằng cách đối đãi với vợ một cách lễ độ;
(ii) bằng cách không khinh thường vợ;
(iii) bằng cách chung thủy với vợ;
(iv) bằng cách giao quyền quản lý cho vợ;
(v) bằng cách cung cấp cho vợ các vật trang sức.

Người vợ, khi được chồng đối đãi như hướng Tây theo những cách ấy, sẽ thể hiện lòng quan tâm đối với chồng theo năm cách:

(i) nàng chu toàn tốt các bổn phận của mình;
(ii) hiếu khách đối với thân quyến và người hầu;
(iii) giữ lòng chung thủy;
(iv) gìn giữ, bảo vệ những gì chồng mang về;
(v) khéo léo và siêng năng trong việc thực hiện các bổn phận.”

“Theo năm cách ấy, người vợ bày tỏ sự quan tâm của mình đối với người chồng, người đã đối đãi với nàng như hướng Tây. Như vậy, hướng Tây được người chồng che chở, làm cho an ổn và vững chắc.”

Thật là lãng mạn. Hãy lễ độ. Đừng khinh thường. Hãy chung thủy. Có lẽ những người theo chủ nghĩa nữ quyền có thể tìm thấy chút điểm tích cực trong việc “trao quyền quản lý cho vợ”; và vâng, cuối cùng thì ở điều thứ năm, cũng xuất hiện một thứ gì đó na ná với điều mà ngày nay chúng ta tìm kiếm trong sự lãng mạn: đồ trang sức, lấp lánh.

Về phần người vợ, sự lãng mạn được giản lược xuống còn việc bảo vệ những món trang sức ấy, giữ lòng chung thủy và tỏ ra hiếu khách, cùng với không chỉ một mà đến hai điều liên quan đến “bổn phận của nàng.” Có lẽ một trong những điều này đã được nói ra kèm theo một cái nháy mắt và một cái gật đầu chăng?

(Ghi chú: từ góc độ học thuật, khả năng này không phải là không có cơ sở, như Richard Gombrich đã lập luận trong tác phẩm Đức Phật Nghĩ Gì (What the Buddha Thought), rằng trong ít nhất một bài kinh, văn bản có ám chỉ đến một điều gì đó hiện diện ngay trước mặt Đức Phật, điều mà Ngài đã ra hiệu bằng cử chỉ; tuy nhiên, chi tiết này đã bị thất lạc trong quá trình biên tập lại kinh văn bởi những người chỉ quan tâm đến việc ghi chép cho đúng lời.)

Ngay cả trong một trong những câu chuyện tình yêu nổi tiếng nhất của Phật giáo thời kỳ đầu — cuộc hôn nhân giữa Vua Pasenadi và Hoàng hậu Mallikā — chúng ta cũng thấy không ít điều khiến người đọc phải chau mày. Trước hết, Mallikā là “vị hoàng hậu được sủng ái” của nhà vua, điều này đồng nghĩa với việc còn có nhiều vị hoàng hậu khác.

Vào thời điểm bà qua đời, nhà vua đang ngồi cùng với Đức Phật, và khi nghe tin dữ, nhà vua “ngồi đó trong đau khổ, lòng quặn thắt, vai rũ xuống…”. Phản ứng của Đức Phật là giải thích rằng mọi nỗi buồn mà nhà vua đang cảm nhận rốt cuộc đều là vô ích, và sau đó sử dụng “câu chuyện của bà để quán chiếu về cái chết và sự hoại diệt.”

Bạn có thể tìm thấy một sự trình bày xuất sắc về Mallikā cũng như về đời sống của các Phật tử khác trong tác phẩm Những Người Phật tử: Thông Hiểu Phật giáo Qua Đời Sống của Những Hành Giả (Buddhists: Understanding Buddhism Through the Lives of Practitioners (rất đáng đọc!)).

Dù thế nào đi nữa, từ các kinh văn, chúng ta cũng không thu nhận được nhiều điều có thể giúp ích cho những người phương Tây đang khắc khoải vì tình yêu. Các văn bản ra đời muộn hơn — với các ḍākinī và những phối ngẫu Mật tông — cũng không khá hơn là bao: phụ nữ xuất hiện một cách gần như huyền ảo, hỗ trợ người nam trên hành trình tâm linh của anh ta, rồi lại biến mất.

Và nếu bạn quan tâm đến những lời lẽ còn mạnh mẽ hơn nữa trong việc lên án sự hấp dẫn tính dục, hãy đọc tác phẩm Bodhicaryāvatāra (Con đường sống của Bồ-tát) của Śāntideva — một văn bản do một vị tăng viết cho các vị tăng.***

Cuối cùng, chúng tôi thử trò chuyện với một vài Phật tử đang thực hành ngoài đời thực. Ở đây, chúng tôi lại vấp phải những chướng ngại mới. Trước hết, đây không phải là những điều người ta thường nói với người lạ, nên cần phải bỏ ra một chút công sức để gợi chuyện. Nhưng rồi những câu chuyện bắt đầu xuất hiện, chẳng hạn như:

“Tôi có yêu chồng mình không ư?” — khi được hỏi, một phụ nữ lớn tuổi trả lời — “Tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện đó theo cách ấy. Ý tôi là, ông ấy làm việc cũng khá chăm chỉ, và không uống rượu quá nhiều. Vậy thì… vâng, tôi đoán là tôi yêu ông ấy.”

Dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm của tôi, trong phần lớn lịch sử châu Á, hôn nhân đã và vẫn là vấn đề của sự cần thiết mang tính thực dụng, chứ không phải là sự thỏa mãn cá nhân theo cách mà chúng ta hiểu trong lịch sử phương Tây rất gần đây.

Tin không vui là rất ít nội dung trong Phật giáo được nhắm trực tiếp đến việc hình thành và duy trì các mối quan hệ tình cảm lãng mạn tốt đẹp, vì vậy chúng ta buộc phải chắp vá những nguyên lý Phật giáo vốn rất tuyệt vời — như từ bi, biết ơn, chấp nhận, buông bỏ — rồi đóng gói lại để phục vụ cho quan niệm lãng mạn của phương Tây. Một số học giả và bình luận viên chỉ ra rằng điều này hoặc là làm rẻ đi Phật giáo, hoặc đơn giản là chiếm dụng các thuật ngữ thời thượng của Phật giáo cho những mục đích không thuộc về Phật giáo.

Tin tốt là điều này có thể buộc chúng ta phải suy nghĩ lại cách thức mà mình tìm kiếm “người ấy.” Và chúng ta vẫn có thể tìm thấy và tận hưởng tình yêu trong khuôn khổ cái nhìn toàn diện của Phật giáo, trong đó bao gồm việc quán chiếu về bản chất của cái chết và sự hoại diệt nơi người bạn đời, và đôi khi — xin lưu ý là không phải lúc nào cũng vậy — quán tưởng người ấy như một đống thịt đang phân rã, với ruột gan, máu huyết và xương cốt.

Now go have a Happy Valentine’s Day.

Cập nhật năm 2019: Như đã lưu ý bên dưới, đây là một bài viết từ năm 2016; và mặc dù tôi không thể bổ sung thêm nhiều điều từ góc độ học thuật hay lịch sử (xem phần bình luận của bài gốc để có thêm những bổ sung và ý tưởng hay), tôi vẫn có thể chia sẻ một mẩu giai thoại mang tính khích lệ.

Điều này nảy sinh từ một sự quán chiếu của tôi vào mùa hè năm ngoái,**trong khi đi du lịch tại Trung Quốc (lần thứ tư tôi đến đó), và suy ngẫm về cách mà việc sống và du hành trong một nền văn hóa xa lạ có thể mở rộng cảm nhận của chúng ta về “cái tôi”, bằng cách mang lại những góc nhìn từ bên ngoài, hoặc những cách nhìn khác thay thế cho cách nhìn quen thuộc của chính mình.

Tức là, với tư cách một người Mỹ (lại còn là người da trắng và nam giới), tôi được nuôi dưỡng trong một môi trường khiến tôi mặc nhiên xem lối sống của mình/của chúng tôi là chuẩn mực, còn mọi lối sống khác thì ở những mức độ khác nhau đều bị coi là “khác biệt”. Trong chuyến đi Trung Quốc năm nay, tôi đã đối diện với vô số cách mà Trung Quốc vận hành xã hội theo những phương thức khiến nước Mỹ trông mới là bên “khác biệt.”

Khi suy ngẫm về điều này, tôi dần có được một kiểu cái nhìn thứ ba — dù vẫn còn sâu sắc bị định hình bởi nền giáo dục Mỹ của mình, và bởi chính những trải nghiệm tại Trung Quốc — trong đó tôi thấy sự tương tác năng động giữa các xã hội, vừa ảnh hưởng lẫn nhau vừa chịu ảnh hưởng từ nhau, không bên nào là “đặc quyền,” cũng không bên nào là “khác biệt.”

Và, dù nghe có vẻ lạ, tôi đồng thời suy ngẫm về việc tình yêu cũng có thể làm được điều tương tự: khi chúng ta rời khỏi trạng thái “độc thân”, và thậm chí vượt qua cả giai đoạn đầu của sự say đắm với người bạn đời (tựa như khi ta chỉ là một du khách thoáng qua ở một vùng đất mới). Ở bình diện trải nghiệm, tôi rời khỏi việc chỉ còn là “tôi”, để bước vào một trải nghiệm năng động rộng lớn hơn.

Vì vậy, có lẽ Phật giáo không cung cấp một lời khuyên thật phong phú cho những người ở thế kỷ 21 đang tìm kiếm tình yêu; nhưng biết đâu chính tình yêu lại có thể giúp chúng ta nhận ra một số chân lý của Phật giáo — trong trường hợp này, đó là chân lý rằng bất kỳ dạng “cái tôi” nào mà ta tưởng mình có, rốt cuộc cũng chỉ là một ảo tưởng.

*2016 phiên bản ban đầu của bài viết này 

** Nếu bạn biết các nghiên cứu hay về quan niệm hôn nhân ở châu Á và/hoặc cụ thể là trong Phật giáo châu Á, xin hãy cho tôi biết. Trải nghiệm của tôi phần lớn dựa trên bằng chứng giai thoại từ việc sống và du lịch tại sáu quốc gia châu Á, và phỏng vấn những người từ khoảng sáu quốc gia khác.

Khi tìm kiếm thêm, tôi đã tìm đọc và đọc bài “Cultural perspectives on romantic love” của K.K. và K.L. Dion (Personal Relationships, 3 (1996)); “A Cross-Cultural Perspective on Romantic Love” của W.R. Jankowiak và E.F. Fisher (Ethnology, Vol. 31, No. 2 (Apr 199)); cùng một vài công trình khác. Nhưng mặc dù những công trình này ủng hộ sự khác biệt rõ rệt giữa quan niệm “tình yêu theo văn hóa phương Tây (chủ nghĩa cá nhân)” và quan niệm “tình yêu theo văn hóa châu Á (chủ nghĩa tập thể)”, chúng khó có thể coi là mang tính quyết định.

*** Amod Lele, người đã nghiên cứu sâu về tác phẩm của Śāntideva, đã gợi ý trong bài viết gốc của tôi rằng tác phẩm ấy không nhất thiết chỉ dành cho tăng sĩ, lưu ý rằng một số bản dịch có thể khiến điều này kém rõ ràng hơn./.

 

https://www.patheos.com/blogs/americanbuddhist/2019/02/valentines-day-for-buddhists-a-warning.html

 

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

NHẸ NHÀNG ĐÓN VALENTINE THEO TINH THẦN PHẬT GIÁO

Tác giả: Tổng hợp
Biên tập: Tuệ Uyển

***



Đây là một cách nhẹ nhàng, lấy cảm hứng từ Phật giáo để đón Ngày Valentine — dù bạn đang ở bên người yêu, bạn bè, hay an nhiên một mình .

Thay vì đặt trọng tâm vào ham muốn, kỳ vọng hay những cử chỉ phô trương, Phật giáo mời gọi chúng ta đặt nền tảng của tình yêu trên chánh niệm, lòng từ bi và sự hiện diện. Valentine khi ấy không còn là câu hỏi “Tôi sẽ nhận được gì?” mà trở thành “Tôi có thể yêu thương một cách hiểu biết như thế nào?”

1. Bắt đầu bằng Tâm Từ (Metta)

Hãy khởi đầu ngày mới với một bài thiền tâm từ ngắn. Thầm gửi những lời chúc lành như:

• Nguyện cho tôi được an toàn. Nguyện cho tôi được an lạc. Nguyện cho tôi được thương yêu.

• Nguyện cho bạn được an toàn. Nguyện cho bạn được an lạc. Nguyện cho bạn được thương yêu.

Hãy mở rộng tâm từ ấy không chỉ đến người yêu, mà còn đến bạn bè, người xa lạ, thậm chí cả những người khó thương. Tình yêu đôi lứa khi ấy trở thành một phần của vòng tròn yêu thương rộng lớn hơn.

2. Trao Tặng Sự Hiện Diện

Trong Phật giáo, sự hiện diện trọn vẹn là một trong những hình thức bố thí cao quý nhất.

Khi ở bên ai đó, hãy cất điện thoại đi. Lắng nghe mà không vội chuẩn bị câu trả lời. Ăn chậm rãi cùng nhau. Đi bộ trong chánh niệm. Để chính sự chú tâm trở thành món quà Valentine.

3. Thay Chấp Thủ Bằng Trân Quý

Phật giáo phân biệt rõ giữa yêu thương và bám víu.

Hãy trân trọng người bạn yêu (hoặc chính mình) không phải như ai đó phải làm bạn hạnh phúc, mà như một con người đang đổi thay, không hoàn hảo nhưng xứng đáng được chăm sóc ngay trong giây phút này. Lòng biết ơn không chiếm hữu là một dạng tình yêu rất mạnh mẽ.

4. Thể Hiện Tình Yêu Qua Hành Động Chánh Đạo

Thay vì những món quà đắt tiền, hãy cân nhắc những hành động giúp giảm bớt khổ đau:

• Nấu một bữa ăn lành mạnh, nuôi dưỡng
• Giúp đỡ việc gì đó mà người kia đang thấy áp lực
• Cùng nhau quyên góp cho một tổ chức từ thiện
• Chăm sóc động vật hoặc bảo vệ môi trường

Những điều này giúp tình yêu đi đôi với lòng từ bi trong hành động.

5. Bao Gồm Chính Mình

Nếu bạn đang độc thân, Valentine không phải là thất bại — mà là một cơ hội.

Hãy đối xử tử tế với chính mình. Nghỉ ngơi. Quán chiếu. Làm điều gì đó nuôi dưỡng thân tâm mà không tự phán xét. Trong Phật giáo, một trái tim loại trừ chính mình vẫn chưa trọn vẹn.

6. Kết Thúc Bằng Sự Quán Niệm

Cuối ngày, hãy nhẹ nhàng tự hỏi:

• Những hành động của tôi hôm nay có làm tăng thêm lòng tử tế không?

• Tình yêu của tôi xuất phát từ sợ hãi hay từ sự hiểu biết?

Không phán xét — chỉ là nhận biết.

Theo cách này, Valentine không còn là sự tiêu thụ của lãng mạn, mà trở thành một pháp tu của tình yêu. Không phải điều ta rơi vào mỗi năm một lần, mà là điều ta rèn luyện, từng khoảnh khắc một.
💗./.

 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

MỘT NGÀY VALENTINE ĐẬM CHẤT PHẬT GIÁO

Đức Phật sẽ yêu như thế nào? Bằng cách nhìn nhận mọi vạn vật về căn bản đều giống như chính bản thân Ngài.


Nguyên tác:
A Buddhist Valentine(1)
How would Buddha love? By seeing everything as fundamentally like himself.
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***



"Nếu tâm tưởng ta hướng về tâm linh
cũng nồng cháy như khi hướng về tình yêu,
ta sẽ đắc quả Phật
ngay trong thân xác này, ngay trong kiếp sống này."

— Trích Thơ thương yêu của Đạt Lai Lạt Ma thứ VI(2)

Ngày Valentine là một trong những ngày lễ của Mỹ mà tôi yêu thích nhất. Việc ngày lễ xoay quanh trái tim—dù bị thương mại hóa quá mức—lại rơi vào khoảng thời gian gần với Tết Tây Tạng khiến tôi nhớ nhắc mình đặt ra những quyết tâm năm mới liên quan đến những người tôi yêu thương, và làm mới cam kết nuôi dưỡng tấm lòng thiện lành. Những quyết tâm ấy thường là: mở rộng trái tim và tâm trí; biết lắng nghe tốt hơn; học cách tha thứ và yêu thương ngay cả những người tôi không ưa; và dần chấp nhận, chúc phúc cho thế giới, thay vì chống đối hay tìm cách trốn chạy khỏi nó. Như Thiền sư Đạo Nguyên nói: “Học Đạo Phật là trở nên thân mật với muôn loài.”

Có người nói chúng ta đến thế gian này để học hỏi và tiến hóa về ý thức. Quả thật, trong những bài học căn bản của đời sống, nổi bật nhất là học cách yêu—yêu cho đúng—và trở thành tình yêu, cũng như học cách cho đi và đón nhận tình yêu. Tôi tin rằng tình yêu là trung tâm của hạnh phúc, của trưởng thành và của sự viên mãn.

Đức Phật yêu thương như thế nào? Bằng cách nhìn thấy mọi chúng sinh—con người hay không—đều căn bản giống như chính mình, từ đó có thể đối xử và yêu thương họ theo cách mà Ngài mong được đối xử. Ta gọi đó là tình yêu vô hạn, vị tha, là Bồ-đề tâm—Trái Tim Tỉnh Thức—tinh thần cốt lõi của giác ngộ.

Giáo lý này có thể tìm thấy một cách tuyệt đẹp trong Kinh Từ Bi; trong tác phẩm kinh điển của Shantideva Con Đường của Bồ Tát; trong Huấn Luyện Tâm và Chuyển Hóa Thái Độ của Atisha; và trong Ba Mươi Bảy Pháp Hành của Bồ Tát của Togme Zangpo… cũng như trong Cựu Ước.

Mỗi mối quan hệ và từng cuộc gặp gỡ—dù nhỏ bé đến đâu—đều có thể trở thành một phương tiện cho sự kết nối tâm linh sâu sắc, thông qua phép màu chuyển hóa của Bồ-đề tâm. Đức Phật dạy rằng Bồ-đề tâm, hay tình yêu tâm linh, có bốn cánh tay hoạt động, được gọi là Bốn Tâm Vô Lượng, và bốn gương mặt biểu hiện, được gọi là Bốn Hình Thức của Lòng Từ Bi trong hành động. Đó chính là cách ta yêu thương theo phong cách của Phật: bình đẳng với tất cả, không bị trói buộc bởi sự dính mắc quá mức hay những hy vọng và kỳ vọng hão huyền; biết chấp nhận, bao dung và tha thứ.

Vô chấp trong Phật giáo không có nghĩa là thờ ơ, dửng dưng, hay từ chối những mối quan hệ gắn bó và sự dấn thân mãnh liệt với xã hội. Nó nói đến nỗ lực của ta nhằm chống lại sự thay đổi, khước từ sự thật của vô thường và tính hữu hạn của đời người. Khi ta cố nắm giữ những gì vốn dĩ luôn tuột khỏi tay mình, thứ ta nhận lại chỉ là những vết bỏng do sợi dây siết chặt.

Tình yêu theo tinh thần Phật giáo được xây dựng trên sự nhận biết về tính tương liên căn bản của muôn loài, và sự hiểu biết rằng mọi chúng sinh đều giống như ta: đều mong cầu hạnh phúc, an toàn, viên mãn, và đều không muốn khổ đau hay bất hạnh. Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói: “Nếu bạn muốn ích kỷ một cách khôn ngoan, hãy quan tâm đến người khác.” Mọi hạnh phúc và đức hạnh trên đời này đều sinh ra từ vô ngã và rộng lượng; mọi khổ đau đều bắt nguồn từ bản ngã, ích kỷ và tham lam.

Hình ảnh thanh khiết và trọn vẹn nhất của tình yêu Phật giáo là Bồ Tát Quán Thế Âm bốn tay—được gọi là Chenrezig ở Tây Tạng và Quan Âm ở Trung Hoa. Mỗi cánh tay của Ngài tượng trưng cho một trong Bốn Tâm Vô Lượng, và mỗi trong bốn gương mặt rạng ngời—hiền hòa, nhiếp hóa, uy lực và phẫn nộ—biểu hiện một trong bốn phong cách hay phương thức của lòng từ bi đang hành động.

Chẳng hạn, ta thường hình dung đời sống tâm linh Phật giáo là yêu chuộng hòa bình, điềm tĩnh, hiền thiện và bất bạo động; nhưng trong trường hợp một đứa trẻ hay thú cưng bất ngờ lao ra đường, những mặt chủ động của trái tim từ bi tĩnh lặng ấy có thể bùng sáng tức thì, trong khi trung tâm yêu thương vẫn không hề lay chuyển. Vì thế, một vị Bồ Tát vô ngã đôi khi có thể sử dụng lực vì lợi ích lớn hơn—để bảo vệ, để ngăn ngừa tổn hại—và không nhất thiết phải thụ động trước hiểm nguy hay khi hoàn cảnh đòi hỏi một hành động thiện xảo, thích hợp.

·      Cánh tay thứ nhất của tình yêu Phật giáo là maitrī—từ ái, một cảm thức vô hạn của sự thân thiện và ước mong điều lành cho người khác. Maitrī, hay mettā trong tiếng Pāli, hàm nghĩa sự thân tình: kết bạn và chấp nhận chính mình—thân và tâm—cũng như thế giới này.

·      Cánh tay thứ hai là karuṇā—bi mẫn, lòng trắc ẩn, sự đồng cảm, được lay động khi cảm nhận nỗi đau của kẻ khác.

·      Cánh tay thứ ba là upekṣā—xả, sự quân bình, nhận ra tính bình đẳng của mọi sự sống. Sự nhận biết này dẫn đến trí tuệ của buông xả, chứ không phải thờ ơ hay an phận—những “kẻ thù gần” của xả.

·      Cánh tay thứ tư là muditā—hỷ, niềm vui và sự mãn nguyện mang tính tâm linh. Điều này bao gồm việc hoan hỷ trước đức hạnh và thành tựu của người khác—liều thuốc giải cho ganh tị và đố kỵ.

Cốt lõi của mối quan hệ theo tinh thần Phật giáo là nuôi dưỡng mối quan hệ không dính mắc, được làm giàu bằng sự quan tâm và quân bình. Trong những mối quan hệ thân mật, điều hữu ích là giao tiếp một cách chân thật, hiện diện trọn vẹn, nói sự thật của trải nghiệm mình bằng những câu “tôi” thay vì buộc tội hay phán xét, và tôn trọng người kia đủ để hiện diện với trái tim và tâm trí rộng mở, thực sự lắng nghe.

Đam mê trở thành từ bi khi ta đưa nó vào con đường tu tập—khi ta nhận ra mỗi khoảnh khắc của đời sống đều là một khả thể tỉnh thức. Tình yêu con người và sự hợp nhất tính dục có thể giống như đỉnh của tảng băng của tình yêu thiêng liêng: một linh cảm ngây ngất về vĩnh cửu, một cánh cổng mở ra những chiều sâu vô hạn của tính không nền tảng và không biên giới, đưa ta vượt khỏi cái tôi hữu hạn và vị kỷ. Người ta thường hỏi tôi làm sao để tìm được Tri Kỷ Linh Hồn, hay thậm chí tôi có tin vào khái niệm ấy không. Tôi nghĩ rằng, thay vì tập trung vào tiền kiếp hay tìm kiếm một người hoàn hảo trong cõi đời này, chúng ta thường sẽ làm tốt hơn nếu quay về hoàn thiện và phát triển chính mình. Hãy làm cho mình trở thành “người bạn đời hoàn hảo”—không cần quá cầu toàn—và bạn sẽ có thể là một người bạn đời tốt với hầu như bất cứ ai. Khi trái tim bạn thanh tịnh, đời sống bạn và cả thế giới này cũng trở nên thanh tịnh.

Tất cả chúng ta đều cảm nhận khát khao được chiếm hữu và được thuộc về, được yêu và được yêu lại, được kết nối, được ôm ấp và được nương tựa. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất trong việc ở bên nhau chính là sự dịu dàng của một trái tim lành. Nếu các mối quan hệ của ta không nuôi dưỡng sự lớn lên của thiện tâm, của sự cởi mở, rộng lượng, chân thật và kết nối thân mật, thì chúng không thực sự phục vụ ta—cũng không góp phần làm cho thế giới này trở nên tốt đẹp hơn.

Để thật sự yêu thương người khác, tôi đã học rằng mình cần để họ được là chính họ, yêu, chấp nhận và trân trọng họ như họ đang là—không bị che phủ bởi những phóng chiếu và ảo tưởng của tôi—chứ không phải như cách tôi muốn họ trở thành. Điều này cũng hoàn toàn đúng trong việc yêu thương và chấp nhận chính mình.

Tỳ kheo Henepola Gunaratana viết trong Tám Bước Chánh Niệm Dẫn Đến Hạnh Phúc:

Bất cứ thái độ nào ta thường xuyên dùng đối với chính mình, ta cũng sẽ dùng với người khác; và bất cứ thái độ nào ta thường xuyên dùng với người khác, ta cũng sẽ quay lại dùng với chính mình. Tình huống này giống như việc ta múc thức ăn cho mình và cho người khác từ cùng một cái bát. Cuối cùng, ai cũng ăn cùng một thứ—vì thế ta cần xem xét cẩn trọng xem mình đang múc ra điều gì.”

Tôi nhận thấy rằng trẻ em rất nhanh buông bỏ cơn giận; chúng thà được hạnh phúc còn hơn là đúng, không giống như rất nhiều người lớn trong chúng ta. Cũng như thế, chú chó của tôi luôn nhắc tôi rằng yêu thương là một động từ, không phải danh từ. Ở lại trọn vẹn với khoảnh khắc hiện tại—thông qua chánh niệm và sự chú tâm vào điều đang là, thay vì mắc kẹt trong quá khứ hay tương lai, hay trong những ý niệm về tôi là ai và người khác là ai—giúp tôi buông nhẹ hành lý dư thừa, lo âu và những rối nhiễu nội tâm, và mở lòng ra với tình yêu./.

 

https://www.beliefnet.com/love-family/relationships/holidays/valentines-day/a-buddhist-valentine.aápx

PHỤ THÍCH:

(1) Một Valentine Phật giáo thể hiện tình yêu thông qua sự thấu hiểu rằng mọi chúng sinh đều bình đẳng, kết nối và mang bản chất như nhau. Tình yêu này không mang tính chiếm hữu, mà là sự chấp nhận, lòng từ bi (Metta) và sự hiện diện tỉnh thức, buông bỏ cái tôi (vô ngã) để yêu thương không điều kiện, coi người khác cũng như chính bản thân mình. 

Dưới đây là cách hiểu chi tiết về "A Buddhist Valentine":

  • Tình yêu là sự chấp nhận (Letting Be): Yêu thương theo cách của Đức Phật là chấp nhận người khác đúng như họ vốn là, không áp đặt mong đợi, dự phóng hay ảo tưởng của mình lên họ.
  • Tình yêu không vị kỷ: Chấp nhận bản thân cũng chính là chấp nhận người khác. Như Bhante Henepola Gunaratana đã nói, thái độ chúng ta dành cho mình cũng chính là thái độ ta dành cho người khác; hãy nuôi dưỡng sự từ bi từ bên trong.
  • Tình yêu là sự hiện diện (Mindful Love): Yêu thương là sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại, không bị ràng buộc bởi quá khứ hay lo âu về tương lai. Điều này giúp giải phóng tình yêu khỏi những lo âu và ảo tưởng.
  • Tình yêu là sự giải thoát (Metta): Đó là lòng từ bi vô lượng, không chỉ giới hạn trong tình cảm lứa đôi mà rộng khắp đến mọi chúng sinh. Tình yêu này giúp giải thoát tâm trí khỏi sự hẹp hòi.
  • Tình yêu là hành động (Verb): Tình yêu thực sự được thể hiện qua hành động hàng ngày, sự quan tâm và kiên nhẫn, ngay cả trong những tình huống khó khăn. 

Tóm lại, một Valentine Phật giáo là cơ hội để thực hành sự thấu hiểu sâu sắc rằng, ở mức độ cơ bản nhất, tất cả chúng ta đều giống nhau trong khao khát được hạnh phúc và không khổ đau.

(2)
Các bài thơ tình của Đạt Lai Lạt Ma thứ sáu, Tsangyang Gyatso, nổi tiếng với sự kết hợp độc đáo giữa khát vọng trần thế và tư tưởng Phật giáo về sự vô thường. Sáng tác vào cuối thế kỷ 17, những bài thơ này (thường gọi là mgur-glu) khám phá tình yêu, nỗi buồn chia ly, và sự mong manh của cuộc sống qua các hình ảnh thiên nhiên. 

Các chủ đề và đặc điểm nổi bật:

  • Tình yêu và sự chia ly: Thơ thể hiện những nỗi nhớ nhung sâu sắc, sự cô đơn, và sự chấp nhận rằng chia ly là một phần tất yếu, ví như hoa xuân tàn vào mùa thu.
  • Hình tượng thiên nhiên: Các bài thơ thường sử dụng hình ảnh chim nhạn, ong xanh (biểu tượng cho người tình), băng giá, và phong cảnh Tây Tạng để ẩn dụ về cảm xúc.
  • Tư tưởng vô thường: Mặc dù mang âm hưởng lãng mạn, các bài thơ thường phản ánh sự nhận thức sâu sắc về cái chết và sự ngắn ngủi của kiếp người, thể hiện góc nhìn triết lý Phật giáo.
  • Phá vỡ quy chuẩn: Tsangyang Gyatso nổi tiếng là một vị Đạt Lai Lạt Ma không tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt của tu viện, sống cuộc đời tự do và sáng tác thơ tình mãnh liệt. 

Ví dụ một đoạn thơ (dịch nghĩa):

"Hoa xuân tàn vào mùa thu;
Ong xanh không than vãn.
Tình yêu đến hồi kết,
Ta cũng không oán thán."
 

Các tập thơ của ông, ví dụ như {"The Love Poems of the Sixth Dalai Lama" do E. Kalsang xuất bản (1969) https://books.google.com/books/about/The_love_poems_of_the_sixth_Dalai_Lama.html?id=qTkFAAAAYAAJ} hoặc các phiên bản dịch khác, vẫn được yêu thích vì sự chân thành và vẻ đẹp trữ tình độc đáo trong văn học Tây Tạng. /.

 

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

GIỮA LỚP BỤI MỜ, HÃY SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT.

Nguyên tác: When the Sh*t Hits the Fan, Make Art
Tác giả: Nachaya Campbell-Allen
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

***



Không còn nghi ngờ gì nữa, hài hước là một trong những năng lực “giải giáp” mạnh mẽ nhất của con người. Hài hước là liều thuốc cho cả những tình huống đã hóa đá — từ thứ hài hước nơi giá treo cổ, đến châm biếm trước sự phi lý mang tính hiện sinh, cho tới những trò ngớ ngẩn thuần túy nhất khi ở bên bạn bè thân thiết hay trẻ nhỏ.

Nhưng cũng có những lúc, hài hước đơn giản là quá nhỏ bé so với sức nặng của những gì chúng ta đang phải đối diện.

Tôi nhận ra mình đang rơi — một nửa là tự nguyện, một nửa là trái với sự phán đoán tỉnh táo của bản thân — xuống những cái hang thỏ quen thuộc đến đau lòng. Tự nguyện, bởi vì có những sự thật cần phải được biết đến, những thực tại cần được nhìn nhận, và niềm tin cá nhân của tôi cần được cân bằng bằng nhiều thông tin hơn, ngay cả khi những thông tin đó kéo theo sự khó chịu không thể tránh khỏi của mâu thuẫn nhận thức. Trái với sự phán đoán tốt nhất của mình, bởi vì nhiều cái hang ấy đã quen thuộc với tôi suốt hàng chục năm, và quá nhiều trong số đó là u tối. U tối trong sự tàn nhẫn và trong thứ ác ý mang màu sắc huyền thuật. U tối theo những cách đôi khi đòi hỏi phải tái hiểu một cách triệt để về thế giới. Có những điều khiến tôi gặp ác mộng, để lại trong tôi cảm giác bất lực, giận dữ, sợ hãi — đặc biệt là cho những người tôi yêu thương.

Có người biết rất rõ những cái hang thỏ ấy sâu đến mức nào, nhưng ngay cả khi ta chỉ đứng trên bề mặt — trong thế giới đời thường của hành vi con người — thì cuộc sống cũng đã đủ khó để vật lộn rồi. Có những khoảnh khắc thế giới dường như sụp đổ: khi các hệ thống tan rã, khi những câu chuyện ta từng được kể bắt đầu bung ra, khi bầu không khí đặc quánh bất đồng, và thậm chí thời tiết cũng ngày càng khắc nghiệt. Đầu hàng — trở nên tê liệt trước tất cả, thu nhỏ mình trước tất cả, mù lòa trước tất cả, giận dữ với tất cả, khiếp sợ trước tất cả — là một phản ứng rất con người.

Sự thật là: thế giới vốn khó khăn, và chưa bao giờ khác đi.

Trong Kinh điển Pali, từ dukkha thường được dịch sang tiếng Anh là “khổ đau”, nhưng nó còn hàm nghĩa “bất toại nguyện”, “bất ổn”. Khi shit hits the fan — khi mọi thứ vỡ tung — ta đang sống trong dukkha được hiện hình. Ảo tưởng về kiểm soát bị đập tan. Thực tại trần trụi, không qua lọc.

Đúng là chúng ta đang sống trong một thời đại của biến đổi chóng mặt, lo âu bị khuếch đại, và dòng thông tin không ngừng nghỉ. Nhưng cũng đúng không kém rằng đời sống con người từ trước đến nay luôn chứa đựng rạn nứt, mất mát và bất định. Các hình thức có thể thay đổi — công nghệ, chính trị, văn hóa, v.v. — nhưng điều kiện hiện sinh thì không: chúng ta hữu hạn, mong manh, và luôn chịu tác động của những lực nằm ngoài tầm kiểm soát.

Nhận ra điều này rất quan trọng, bởi nó phá bỏ ảo tưởng rằng khủng hoảng là một ngoại lệ. Khi chấp nhận rằng khó khăn là một phần của thân phận con người, ta có thể thôi xem phản ứng của mình là thất bại, và bắt đầu xem chúng như những thực hành cần được nuôi dưỡng. Đức Phật chưa bao giờ hứa hẹn sự dễ chịu. Ngài trao cho chúng ta sự tỉnh thức. Và tỉnh thức — như nhiều người trong chúng ta đã trải nghiệm — hiếm khi dịu dàng; nó phá tung thế giới mà ta từng nghĩ mình hiểu rõ.

Dù ta tiếp cận bằng khung khoa học, tâm linh hay huyền thoại, trải nghiệm tỉnh thức đều mang tính gây chấn động. Vậy tỉnh thức là gì? Là mở mắt trước sự thật? Là nhận ra những tầng lớp của thực tại? Rằng ta có thể chỉ là một hình ảnh ba chiều trong ma trận của trường lượng tử? Hay rằng ta chẳng là gì ngoài những cỗ máy sinh học, trôi dạt trong một vũ trụ hư vô và suy tàn? Có thể đời sống giống như một trò chơi nền tảng của sự thăng cấp; hoặc thời gian chỉ là một ảo tưởng, đến mức cuộc đời này — thậm chí mọi lần tái sinh — đều đang biểu hiện cùng một khoảnh khắc. Liệu chúng ta là kết quả sinh học của một điều gì đó ngoài tiến hóa loài người? Hay là những thực thể năng lượng đa chiều, có khả năng tinh tế để giao cảm vượt qua tấm màn sinh học của nhận thức? Liệu ta đang sống trong một thực tại mà nếu có một thiện tối thượng, thì cũng tồn tại đối cực tối thượng của nó? Và nếu ta hướng về một đấng tối cao — bất kể tôn giáo nào — thì rất có thể cũng tồn tại tấm gương đen tối của đấng ấy, cùng với những thực hành nghi lễ riêng của nó.

Chúng ta không cần phải chìm sâu trong bất kỳ cái hang thỏ nào trong số đó để cảm thấy đời mình đang tan rã. Tuy nhiên, trong truyền thống Thiền, ta được dạy rằng ngay cả lớp bùn thối rữa nhất cũng có thể nuôi dưỡng đóa sen nở hoa. Vì thế, sự sụp đổ không phải là kết thúc; nó là phân ủ — là nguyên liệu thô của chuyển hóa.

Nhưng quá trình ủ phân không hề hào nhoáng. Nó chậm chạp, nhếch nhác, và thường vô hình. Nó đòi hỏi niềm tin vào những tiến trình chưa thể thấy. Nó yêu cầu ta ở lại với sự mục rữa đủ lâu để nó trở nên màu mỡ. Nó đòi hỏi sự tin tưởng vào trạng thái ngưỡng (liminality-lấp lửng), và rằng tâm trí ngưỡng không phải là một bản sắc cố định. Đó là một phương thức tri nhận, một cách hiện hữu phát triển mạnh trong những ngưỡng cửa — những khoảng giữa cái đã qua và cái chưa đến. Đó là ý thức nảy sinh khi những hình thức cũ sụp đổ mà hình thức mới vẫn chưa xuất hiện. Đó là tâm trí của người nghệ sĩ, nhà huyền nhiệm, hành giả thiền, kẻ di cư, người bước đi giữa các thế giới.

Tôi dần hiểu rằng tâm trí ngưỡng là một phản ứng tiến hóa cần thiết trước một thế giới đang biến động. Nó không trốn chạy. Nó không thụ động. Nó hiện diện một cách triệt để trước sự mơ hồ của hiện tại. Nó lắng nghe khi kẻ khác la hét. Nó chờ đợi khi kẻ khác vội vàng. Và nó sáng tạo không phải để đánh lạc hướng, mà để phơi bày.

Khi thế giới đang bung ra — về chính trị, sinh thái, tâm linh — chính tâm trí ngưỡng biết phải làm gì.

Nó làm nghệ thuật.

Điều này không nói về việc trở thành nghệ sĩ theo nghĩa chuyên nghiệp. Điều này nói về việc giành lại quyền khai sinh của bạn với tư cách là một người sáng tạo, một kẻ dệt nên ý nghĩa, một người kiến tạo huyền thoại. Nó là lời nhắc nhớ rằng sáng tạo không phải là xa xỉ, mà là đường dây sinh mệnh; rằng qua sáng tạo, ta trở thành tấm gương, phương thuốc, và bà đỡ cho một thế giới còn chưa chào đời. Sáng tạo là một năng lực nền tảng của con người, được đan cài vào cách ta giải quyết vấn đề, kể câu chuyện, và hiểu cuộc đời mình.

Khi tôi nói “làm nghệ thuật”, tôi không có ý gì lớn lao — tôi nói đến bất kỳ hành động sáng tạo nhỏ bé nhưng có chủ ý nào: vạch một nét, sắp xếp một bát trái cây, viết một câu, hay nặn đất bằng chính đôi tay mình. Giá trị của những hành động này không nằm ở kết quả thẩm mỹ, mà ở cách chúng tái định hướng sự chú ý. Việc tạo tác đòi hỏi sự tri nhận tập trung, thu hẹp sự tản mạn của tâm trí vào một sợi chỉ duy nhất. Sự thu hẹp ấy chính là cốt lõi của nhiều truyền thống thiền định: trở về khoảnh khắc hiện tại thông qua sự chú tâm có kỷ luật.

Việc làm nghệ thuật lôi cuốn thân thể và các giác quan theo những cách mà thiền tọa đôi khi không làm được; hành vi cảm giác ấy kéo hệ thần kinh ra khỏi sự nhai đi nhai lại của suy nghĩ và đưa ta trở về với sự hiện diện có thân thể. Theo trải nghiệm của tôi, dạng chú tâm nhập thể này là một công cụ thực tiễn để điều hòa cảm xúc. Nó làm dịu hệ thần kinh giao cảm, tạo ra một “vật chứa” an toàn cho cảm xúc, và cho phép tuệ giác tự khởi sinh mà không cần cưỡng ép.

Vì thế, sáng tạo có tác động thực sự đến sự an lành. Nó trao cho ta cảm giác có năng lực hành động khi các hệ thống khác dường như vượt ngoài tầm kiểm soát. Nó tạo ra một vi mô của nhân–quả: tôi tạo ra một dấu vết, dấu vết ấy tồn tại, tôi có thể thay đổi nó. Vòng lặp của ý định – hành động – kết quả ấy xây dựng lại sự tự tin và làm giảm cảm giác bất lực. Nó nuôi dưỡng sự tò mò — liều thuốc giải cho tuyệt vọng. Khi bạn tò mò về một đường nét, một màu sắc, hay một kết cấu, bạn ít bị mắc kẹt hơn trong lối tư duy thảm họa.

Làm nghệ thuật không phải là thuốc chữa bách bệnh, nhưng nó là một người bạn đồng hành đáng tin cậy, giúp giảm lo âu bằng cách neo sự chú ý. Nó tăng khả năng hồi phục bằng việc tạo cảm giác hiệu quả, và nuôi dưỡng ý nghĩa bằng cách cho phép ta chứng kiến và tái khung trải nghiệm. Theo thời gian, một thực hành sáng tạo đều đặn sẽ tái lập trình những phản xạ quen thuộc: thay vì xoáy vào hoảng loạn, ta học cách quay về với xung lực sáng tạo — tự thân nó đã là một hình thức rèn luyện tâm trí.

Khi làm nghệ thuật, chúng ta không tô hồng nỗi đau; chúng ta chuyển hóa nó. Ta biến điều không thể chịu đựng thành cái đẹp bằng cách cho nó một hình hài.

Giáo lý Phật giáo đưa ra một khung rõ ràng cho lý do vì sao việc tạo tác lại quan trọng. Chân lý Cao quý thứ nhất xác định khổ đau là đặc tính nội tại của đời sống hữu vi, và thực hành chánh niệm rèn luyện sự chú ý để an trú trong trải nghiệm hiện tại mà không xua đuổi hay bám víu. Nghệ thuật có thể là một upaya — một phương tiện thiện xảo, nhập thể và sáng tạo — mở ra con đường khác để đạt tới cùng những năng lực về chú tâm, minh triết và từ bi.

Con người vốn mang bản chất sáng tạo. Từ những bức vẽ trong hang động xa xưa nhất đến nét vẽ nguệch ngoạc đơn sơ nhất, con người luôn dùng dấu vết và vật thể để đưa trạng thái nội tâm ra bên ngoài — và việc ngoại hóa ấy có ý nghĩa. Khi ta đặt cảm xúc vào hình thức, ta có thể nhìn nó, gọi tên nó, và đáp lại nó. Hành động tạo tác chuyển hóa phần nội tâm hỗn độn, thường không lời, thành thứ có thể đọc được.

Làm nghệ thuật khi thế giới đang cháy không phải là trốn chạy; đó là kháng cự. Và nghệ thuật, khi được tạo ra từ nơi chốn ấy, trở thành một hình thức truyền trao Pháp. Nó nói rằng: tôi thấy, và tôi từ chối quay mặt đi. Và tôi hiến dâng điều này như một tấm gương, dù nó không phải là giải pháp tối hậu. Đó cũng là sự tưởng nhớ, và là một hành động cấp tiến để nói rằng: tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn cảm nhận. Tôi vẫn thấy cái đẹp. Tôi vẫn tin vào sự thiêng liêng.

Sống trong thế giới này, theo một nghĩa nào đó, là sống trong trạng thái bị “gaslight”. Chúng ta được bảo rằng mình là tách biệt. Rằng Trái Đất là vô tri. Rằng giá trị được đo bằng năng suất. Rằng đau buồn là yếu đuối. Rằng cái đẹp là phù phiếm. Đây không chỉ là những thông điệp văn hóa; chúng giống như những lời yểm. Vì thế, công việc của người nghệ sĩ, người chiêm nghiệm, của tâm trí ngưỡng, là phá vỡ lời yểm ấy. Là nhìn xuyên qua ảo tưởng. Là nhớ lại điều ta vốn đã biết trong xương tủy: rằng ta không tách rời. Rằng Trái Đất đang sống. Rằng cái đẹp là phương thuốc. Rằng đau buồn là thiêng. Nghệ thuật trở thành phản-yểm — một cách tái phù phép thế giới bằng sự thật, bằng sự hiện diện, bằng tính linh thiêng của những điều bình thường.

Lịch sử nhân loại là một chuỗi dài những thời kỳ mà bạo tàn và sự mở rộng nhận thức cùng tồn tại. Có lẽ chính trong tận cùng tuyệt vọng, con người bắt đầu tìm kiếm nhiều hơn. Thời Hoàng kim Prague nở rộ văn hóa giữa cơn chấn động của châu Âu trung cổ. Thời Chiến Quốc của Trung Hoa khai sinh những triết học vĩ đại nhất. Các cuộc cách mạng Upanishad và Phật giáo của Ấn Độ được tôi luyện trong hỗn loạn chính trị – xã hội. Thời Hoàng kim Abbas rực rỡ giữa đổ vỡ đế chế và chế độ nô lệ có hệ thống. Thời Phục Hưng trỗi dậy giữa dịch bệnh và sụp đổ. Hết lần này đến lần khác, hoa sen lại nở.

Khi con người cùng nhau tạo tác, hành động sáng tạo trở thành một nghi lễ chung. Nghi lễ có sức mạnh vì nó đánh dấu chuyển tiếp và tạo ký ức tập thể. Trong thời khủng hoảng, việc cùng nhau làm ra thứ gì đó nhắc ta rằng ta không đơn độc trong sự mong manh của mình, và rằng ta có thể đồng kiến tạo những hình thức chăm sóc.

Làm nghệ thuật trong thời sụp đổ là bước đi trên con đường Bồ Tát. Là chọn tỉnh thức khi ngủ quên sẽ dễ dàng hơn. Là dâng hiến tiếng nói, tầm nhìn và sự dễ tổn thương của bạn cho sự kết nối — cho chữa lành — cho sự thật. Đó là một cách gặp gỡ thực tại bằng sự chú ý và ân cần. Một thực hành thừa nhận nỗi đau nhưng từ chối để nó nuốt chửng mình.

Nếu bạn đang đọc những dòng này và cảm thấy gánh nặng của thế giới, hãy thử điều sau — một mình hoặc cùng người khác:

Hãy gom những gì bạn cần — có thể là giấy và bút, hoặc ra ngoài với những ngón tay chạm vào đất — và đặt hẹn giờ năm phút. An trú thân thể, hít ba hơi thở bụng chậm và sâu, rồi tạo ra một dấu vết duy nhất và quan sát điều gì thay đổi. Bạn có thể chưa giải quyết được vấn đề, nhưng bạn đã tạo ra một hòn đảo nhỏ của sự rõ ràng. Theo thời gian, những hòn đảo ấy có thể tích tụ thành một vùng đất mà bạn có thể sống trong đó. Có thể hãy thêm vào dấu vết của lần thiền trước và xem nó tiến hóa ra sao. Trong bối cảnh này, nghệ thuật không phải là trang trí; nó là giả kim thuật. Là hành động lấy điều không thể chịu đựng và cho nó một hình hài: một bài thơ, một bức tranh, một khu vườn, một bữa ăn, một cử chỉ chăm sóc, một phản hồi trước khủng hoảng. Đó là cách ta chuyển hóa đau buồn, phẫn nộ, bối rối, và tìm thấy sự sáng rõ trong trạng thái ngưỡng. Đó là cách ta đưa điều vô hình ra bên ngoài và thêm vẻ đẹp vào thế giới. Đó là cách ta giữ mình còn là con người./.

 

https://www.buddhistdoor.net/features/when-the-sht-hits-the-fan-make-art/