Mục lục
1- Giới thiệu
2- Sapen, người phản đối
3- Rikrel, Karmapa thứ
ba, và Sangpu Lodrö bảo vệ Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) |
4- Hệ thống sơ khởi về
Tha Không (Proto Other-Emptiness) trong Luận Tối Thượng Thừa của Rinchen Yeshé
và lời đáp trả của Butön |
5- Kết luận
***
GIEO MẦM CHO NHỮNG TRANH LUẬN TƯƠNG LAI:
Người
phản biện và Người tuân thủ".
1- Giới Thiệu
Trong chương 1, tôi đã phân tích cách Ngok và Chapa — hai
học giả sáng chói thời kỳ đầu của phái Kadam đến từ tu viện Sangpu — định hình
Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) thành một bộ luận Đại thừa quan trọng,
thông qua việc biên soạn hai trong số những bản chú giải sớm nhất của Tây Tạng
về bộ luận này. Nhờ thông thạo các tác phẩm kinh điển mang tính kinh
viện của Đại thừa Ấn Độ, như các luận thư về luận lý học và nhận thức luận của
Trần Na (Dignāga, khoảng 480–540) và Pháp Xứng (Dharmakīrti, khoảng 540–600),
cùng các bộ luận được xem là của Long Thọ (Nāgārjuna), Di Lặc (Maitreya), Vô
Trước (Asaṅga) và những vị khác, Ngok và Chapa đã có thể trình bày bộ Luận Tối
Thượng Thừa (Uttaratantra) mới được truyền dịch bằng một ngôn ngữ kinh viện Đại
thừa, mà không làm tổn hại đến tính xác thực văn bản của chính bộ luận này cũng
như của các kinh điển Như Lai Tạng (tathāgata-essence sutras) khác. Đồng thời, các học giả
tham gia vào việc hoằng dương Luận Nhập Trung Quán (Madhyamakāvatāra) trong thời
kỳ đầu này dường như không công khai bác bỏ Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
vì nội dung giảng dạy về Như Lai Tạng, bất kể một thực tế là bản tự chú giải của
Nguyệt Xứng (Candrakīrti) về Luận Nhập Trung Quán đã xem các kinh điển dạy về
Như Lai Tạng là thuộc Liễu nghĩa giáo (kinh nghĩa mang tính tạm thời/chưa rốt
ráo).1
Trong luận giải về Nhập Trung Quán Luận (Madhyamakāvatāra),
Jayānanda khẳng định rằng những lời dạy của Đức Phật giải thích về Như Lai tạng
(tathāgata-essence) như một cái Ta (Ngã) thường hằng và độc lập chỉ là
liễu nghĩa bộ phận (bất liễu nghĩa/phương tiện - provisional). Tuy nhiên, ngay cả ông
cũng không chứng minh rằng bản thân Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
là phương tiện, và ông cũng không đưa ra bất kỳ bình luận nào về vị trí của tác
phẩm này trong truyền thống Đại thừa. Do đó, vị thế của Uttaratantra phần
lớn vẫn chưa bị tranh cãi tại Tây Tạng trong giai đoạn đầu của quá trình hoằng
dương.
Thái độ đối với tác phẩm Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
này đã thay đổi vào thế kỷ tiếp theo, khi Sa-ban (Sakya Pandita) — người được
David Jackson đánh giá một cách chính xác là 'một trong những nhân vật có tầm ảnh
hưởng lớn nhất trong việc truyền bá Phật giáo và học thuật Ấn Độ sang Tây Tạng'
— đã thách thức tính liễu nghĩa (chân lý tối hậu) của Luận Tối Thượng Thừa trong tác phẩm Phân Biệt Ba Dòng Giới
Luật (sdom gsum rab dbye) của mình. Chính để phản hồi lại một thách thức như vậy mà
Rikrel (Bcom ldan rig pa'i ral gri, 1227–1305) đã viết tập luận giải của riêng
mình. Đây là bản luận giải Tây Tạng sớm nhất còn tồn tại về tác phẩm Luận Tối Thượng Thừa có trích dẫn cả các nguồn tài liệu Mật giáo (tantra) và Hiển giáo (sutra)
để chứng minh cho các lập luận được đưa ra trong chuyên luận này.
Các học giả khác như Tỳ-kheo Chöshé (Dge slong chos shes,
thế kỷ XIII), Kyoton Monlam Tsültrim (Skyo ston smon lam tshul khrims,
1219–1299), Sangpu Lodrö (Gsang phu blo gros mtshungs med, thế kỷ XIII/XIV) và
Rinchen Yeshé (Rin chen ye shes, thế kỷ XIII/XIV) cũng viết các bản luận giải về
tác phẩm Luận Tối Thượng Thừa nhằm ủng hộ hệ thống
kinh điển về Như Lai Tạng. Các
tác phẩm do những học giả này biên soạn, khi được đặt cạnh các luận giải về
kinh Nhập Trung Quán Luận (Madhyamakāvatāra) xuất hiện cùng thời
kỳ — vốn là những tác phẩm trung tâm trong hệ thống giáo lý thuộc Chuyển Pháp
Luân lần thứ hai (Middle-wheel) và có uy tín vô cùng lớn lao trong giai đoạn này
— đã tạo tiền đề vững chắc cho sự xuất hiện của Dölpopa (Dolpopa Sherab
Gyaltsen), như sẽ được thảo luận trong chương tiếp theo.
Họ đã tạo ra bối cảnh học thuật cho việc Dölpopa thiết lập
một hệ thống giáo lý Đại thừa độc đáo nhưng đầy tranh cãi, hệ thống mà trong đó
tác phẩm Luận Tối Thượng Thừa được sử dụng như một
luận thuyết trung tâm. Do đó, chính những học giả này — bằng việc tranh luận nhằm
ủng hộ hay phản đối uy quyền của Luận Tối
Thượng Thừa với
tư cách là một luận thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trong truyền thống Đại thừa —
đã gieo những hạt giống cho các cuộc tranh luận bùng nổ toàn diện vào cuối thế
kỷ XIV và đầu thế kỷ XV, thời kỳ mà vở kịch thực sự xoay quanh uy quyền của Uttaratantra
diễn ra đỉnh điểm."
2- Sakya Paṇḍita (Sapen) Người Phản Biện (hoặc Sa-ban , Người Bất Đồng Ý Kiến)
Như Kevin Vose đã lập luận, việc Sa-ban nhận diện và tiếp
nhận học phái Trung Quán Quy Ngưỡng (Prāsaṅgika-Madhyamaka), tách biệt khỏi
Trung Quán Tự Tự Khởi (Svātantrika-Madhyamaka), có thể xem là đã định hình và
giải quyết các cuộc tranh luận giáo lý giữa những nhà Trung Quán tông tại Tây Tạng.
Là một người ủng hộ quan điểm Trung Quán về tánh không của tự tánh và tôn sùng
tác phẩm Nhập Trung Quán Luận (Madhyamakāvatāra), Sakya
Paṇḍita (Sapen) đã lập luận phản đối mạnh mẽ khái niệm Như
Lai Tạng vốn là cốt lõi trong Uttaratantra. Trong tác phẩm quan trọng của
mình, Phân Biệt Tam Giới Nguyện (Phân Biệt Ba Dòng Giới Luật), Sa-ban chỉ ra rằng Luận Tối Thượng Thừa là một tác phẩm cần phải được giải thích lại (thuộc loại
bất liễu nghĩa). Tác phẩm Phân Biệt Tam Giới Nguyện được viết vào khoảng
năm 1232,
Khi đó Sapen khoảng năm mươi tuổi.10 Mặc dù văn bản này
không viết riêng về Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) hay Như Lai Tạng, nhưng nó có đặt ra một
số vấn đề nền tảng liên quan đến Như Lai Tạng. Tác phẩm đi sâu khám phá và phê
phán nhiều lập trường giáo lý do các nhà tư tưởng Phật giáo Tây Tạng khác nắm
giữ vào thời bấy giờ. Tổng cộng, có mười lăm vấn đề mà Sapen đã xem xét một
cách phản biện trong tác phẩm này,11 và Như Lai Tạng là một trong số đó. Để
minh chứng cho tính chất gây tranh cãi từ tác phẩm của ông, có báo cáo ghi lại
rằng người ta đã bắt đầu “đàm tiếu rằng những lời phê bình của Sapen bị thúc đẩy
bởi lòng thù hận tông phái,”12 ngay cả trước khi Sapen hoàn thành văn bản. Hệ
quả là, Zangtsa (1184–1239)—em trai của Sapen—đã thúc giục ông không nên hoàn
thành cuốn sách vì nó sẽ mang lại “kết quả bất lợi.”13 Cuối cùng, sự can thiệp
của người em trai đã không thể ngăn cản Sapen hoàn tất tác phẩm này.14
Trong các câu kệ từ 59–63 của tác phẩm Phân Biệt Tam
Giới Nguyện,15 Sapen đã lập luận chống lại quan điểm cho rằng trong chúng
sinh tồn tại một Như Lai Tạng (hay Thệ Nguyện Tạng) vốn tích hợp sẵn các phẩm
tính chứng ngộ. Sapen chứng minh rằng một lập trường như vậy sẽ tương đương với
việc nắm giữ quan điểm của Số Luận phái (Sāṃkhya), cho rằng “quả đã có sẵn trong nhân.”16 Về
điểm này, Sapen đồng thuận với Ngok, Chapa và Jayānanda; hơn thế nữa, lập trường
của ông đã dự báo trước quan điểm của các học giả thế hệ sau như Dratsépa
(1318–1388), Butön (1290–1364), Rendawa (1349–1412), Tsongkhapa (1357–1419) và
Gyeltsap (1364–1432). Những học giả Phật giáo này đều nhất trí rằng Như Lai Tạng
được tích hợp sẵn các phẩm tính chứng ngộ có sự khác biệt với Phật tính, bởi vì
cái trước không hề tồn tại trong chúng sinh, trong khi cái sau thì có."
Từ tác phẩm Phân Biệt Tam Giới Nguyện, hoàn toàn
rõ ràng rằng một Như Lai Tạng được tích hợp sẵn các phẩm tính chứng ngộ không hề
tồn tại trong chúng sinh. Nhưng điều đó có nghĩa là Sapen hoàn toàn phủ nhận sự
tồn tại của Như Lai Tạng trong chúng sinh hay không? Để giải quyết câu hỏi đó,
chúng ta phải tìm đến các văn bản khác của ông, những tác phẩm mà theo tôi, sẽ
đưa ra một bức tranh toàn diện hơn về quan điểm của ông đối với vấn đề này.
Trong tác phẩm Phân Biệt Tam Giới Nguyện, Sapen lập
luận rằng Như Lai Tạng (tathāgata-essence), Thiện Thệ Tạng (sugata-essence), Phật
Tạng (buddha-essence), và Phật Giới (buddha-element) là những thuật ngữ đồng
nghĩa; nhưng một điều thú vị là ông chưa từng đề cập đến thuật ngữ liên đới 'Phật
tính' (buddha-nature) trong bối cảnh này. Tuy nhiên, trong tác phẩm Làm Sáng
Tỏ Mật Ý Của Đức Phật (thub pa’i dgongs pa rab tu gsal ba), Sapen lại
giải thích về Phật tính như sau: 'Phật Tính Vốn
Có (Tự tính trụ [Phật] tính) vốn tồn tại trong tất cả chúng sinh. Phật Tính Phát Triển (Tùy tăng tính [Phật] tính) chỉ tồn tại [từ thời điểm] hành giả đã phát
tâm Bồ-đề. Cái [vế sau] này không tồn tại ở những ai chưa phát tâm [Bồ-đề].'21
Hơn nữa, ông nói tiếp: 'Duy Thức tông quả quyết có một chủng tính hoàn
toàn bị đoạn diệt. Trung Quán tông thì không quả quyết [có một chủng tính hoàn
toàn bị đoạn diệt] như vậy.'22 Trong bối cảnh này, nơi ông thảo luận
về khái niệm Phật tính và cách thức Phật tính tồn tại trong tất cả chúng sinh,
Sapen chưa bao giờ đề cập đến Như Lai Tạng cùng các thuật ngữ đồng nghĩa của nó
được nêu ở trên, và ông cũng không trích dẫn Luận Tối Thượng Thừa để chứng minh cho khẳng định của mình rằng tất
cả chúng sinh đều có Phật tính.23
Hơn nữa, trong tác phẩm Bức Thư Gửi Các Bậc Cao Đức
(skyes bu dampa rnams la zhu ba’i ‘phrin yig), Sapen khẳng định: “Về Như
Lai Tạng, tôi thấy giáo lý này được dạy như một nguyên lý cần diễn giải (bất liễu
nghĩa) trong kinh Lăng Già (Laṅkāvatārasūtra), Luận Tối Thượng Thừa, Nhập Trung Luận
(Madhyamakāvatāra), cùng các kinh điển và luận thư [căn bản của Phật
giáo Ấn Độ] khác. Xin hãy quán chiếu xem những gì tôi nói có đồng thuận với những
gì được xiển dương trong tất cả các kinh điển và luận thư đó hay không.”24
Vì vậy, Sapen rõ ràng gặp khó khăn trong việc chấp nhận các giáo lý Như Lai Tạng
là liễu nghĩa, trong khi ông không hề gặp trở ngại nào khi quả quyết rằng Phật
tính tồn tại trong tất cả chúng sinh. Như tôi sẽ thảo luận sâu hơn ở chương 5 về
lời phê phán của Dratsépa dành cho Dölpopa, Dratsépa chỉ ra rằng Sapen không hề
khẳng định Như Lai Tạng và Phật tính là tương đương nhau. Tuy nhiên, các học giả
phái Sakya như Rongtön (1367–1449) lại lập luận rằng hệ thống Trung Quán quả
quyết hai khái niệm này là tương đương, trong khi Duy Thức tông mới là bên chấp
nhận chúng có sự khác biệt.25
Sự bác bỏ của Sapen đối với quan điểm cho rằng một Như
Lai Tạng được tích hợp sẵn các phẩm tính chứng ngộ tồn tại trong chúng sinh đã
trở thành lập trường chuẩn tắc tại tu viện Sakya. Nhiều học giả có tầm ảnh hưởng
lớn mà tôi xem xét trong các chương tiếp theo đều từng thụ giáo tại tu viện
Sakya; tuy nhiên, một vài người trong số họ, chẳng hạn như Dölpopa và Sazang
(1294–1376), đã thách thức diễn giải chuẩn tắc này của phái Sakya. Trong khi
đó, những người khác như Rendawa và Tsongkhapa lại tiếp tục phát triển rộng rãi
phần trình bày của Sapen—vốn là hệ thống làm suy giảm vị thế thẩm quyền của Luận Tối Thượng Thừa trong lòng Đại thừa.
3- Rikrel, Cựu dịch giả Karmapa thứ Ba, và Sangpu
Lodrö bảo vệ Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
Rikrel sinh ra tại vùng Lhokha (Sơn Nam) thuộc miền trung
Tây Tạng và đã trải qua phần lớn thời gian tu học tăng già tại tu viện Nartang,26
một học viện Phật giáo hàng đầu vào thời kỳ bấy giờ.27 Rikrel đã
biên soạn mười sáu tập luận thư về nhiều chủ đề đa dạng,28 chẳng hạn
như Nhân minh học (Phật giáo lượng học), Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Trí tuệ viên mãn),
và Trung Quán đạo. Ông cũng nổi tiếng với công trình lập danh mục các nguồn bản
văn kinh điển.29 Trong số rất nhiều tác phẩm của ông, chúng ta tìm
thấy một bản chú giải ngắn về Luận Tối
Thượng Thừa mang
tựa đề Hoa Sức Trang Nghiêm: Bản Chú Giải Luận Tối Thượng Thừa (rgyud bla ma’i ti ka rgyan gyi me tog).30
Bản chú giải này, như tôi đã đề cập ở trên, là bản chú giải Luận Tối Thượng Thừa cổ nhất bằng tiếng Tây Tạng còn lưu giữ được có trích dẫn
các phân đoạn từ các văn bản mật tông như kinh Kim Cang Đỉnh (Vajraśekharasūtra),31
kinh Bí Mật Tập Hội (Guhyasamāja Tantra),32 và kinh Hô
Kim Cang (Hevajra Tantra).33
Không chỉ sống cùng thời với Sapen trong khoảng hai mươi
bốn năm, Rikrel còn từng theo học Sapen và biết rõ các quan điểm cũng như tư tưởng
của Sapen về Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) cùng các tài liệu Như Lai Tạng khác
thông qua trải nghiệm thực tế trực tiếp.34 Mặc dù ông không đề cập
đích danh Sapen trong bản chú giải của mình, nhưng rất có khả năng Rikrel biên
soạn tác phẩm này nhằm phê phán các quan điểm của các nhà tư tưởng Tây Tạng như
Sapen đối với hệ thống văn tịch Như Lai Tạng, đồng thời để củng cố vị thế của Luận Tối Thượng Thừa như một văn bản trọng yếu trong hệ thống Đại thừa.35
Vậy thì quan điểm của Rikrel đối với tác phẩm Uttaratantra
(Luận Tối Thượng Thừa) là gì? Và ông
giải thích như thế nào về Như Lai tạng (tathāgata-essence)? Dẫn một đoạn kinh từ
Laṅkāvatārasūtra (Kinh Lăng Già),³⁶ Rikrel — trái ngược với Sapen và các
học giả khác tại tu viện Sakya — lập luận rằng tất cả chúng sinh đều có sẵn một
vị Phật tự tính bên trong, được trang nghiêm bởi các phẩm tính giác ngộ. Hơn nữa,
dẫn một đoạn từ Hevajratantra (Hô Kim Cang bản tục),³⁷ ông thậm chí còn
lập luận rằng chúng sinh vốn dĩ đã giác ngộ viên mãn, nhưng tạm thời bị cản trở
bởi các phiền não khách trần.
Rikrel không chỉ xếp tác phẩm Luận Tối Thượng Thừa vào
trong hệ thống văn học Đại thừa thuộc Hiển giáo (Sutra), mà ông còn đưa nó vào
Chuyển pháp luân lần thứ ba như một tác phẩm diễn giải cho cả các kinh điển Hiển
giáo lẫn văn học Mật giáo (Tantra). Ông chỉ ra rằng cụm từ “dòng tiếp nối tối
thượng” (bla ma’i rgyud - tối thượng y/vô thượng tục) xuất hiện trong Luận Tối Thượng Thừa - Uttaratantra là
đang ám chỉ đến “các bộ kinh và mật tục thâm sâu chẳng hạn như Tathāgatagarbhasūtra
(Kinh Như Lai Tạng), v.v.,”³⁸ vốn được Đức Phật diễn thuyết vào “thời kỳ sau”.
Đây có lẽ là một chiến lược từ phía nhà lập mục kiêm phân loại học phái thuộc
phái Kadam này nhằm đặt bộ luận vào tầng cao nhất của nền văn học Đại thừa,
trong bối cảnh thời kỳ mà Sapen và những người khác đang làm suy giảm uy tín của
bộ luận này.
Xét theo cách diễn giải của Rikrel về tác phẩm Uttaratantra
(Luận Tối Thượng Thừa), không có gì
ngạc nhiên khi các học giả phái Jonang (Giác Nang) đời sau đã hồi cố xếp ông
vào truyền thừa Giác Nang về sự truyền trao giáo pháp Tha không
(other-emptiness), mặc dù bản thân ông không hề sử dụng các thuật ngữ như “Tha
không” (gzhan stong) và “Nhất thiết cơ trí” (kun gzhi ye shes / tạng thức
trí), những khái niệm vốn sẽ trở nên tối quan trọng đối với cách trình bày của
Dölpopa về Như Lai tạng. Dù Rikrel đã dự đoán trước phần lớn các quan điểm của
Dölpopa và học phái Jonang của ông ấy, nhưng các nhà sử học Tây Tạng như Pawo
Tsuklak Trengwa (1504–1566) lại biết đến ông qua việc ông bác bỏ kinh Kālacakra
Tantra (Thời Luân bản tục): “Rikrel từng phải thốt lên rằng, ‘Vì bộ Thời
Luân bản tục này tương tự như học thuyết của Đạo sư Vyāsa (Quảng Bác), người ta
không thể phân biệt được nó là một văn bản Phật giáo hay Ấn Độ giáo, là một bộ
luận (śāstra) hay một bộ kinh (sūtra). Do đó, hãy gác quyển kinh này sang một
bên.’ ”³⁹
Rikrel không phải là nhà tư tưởng Tây Tạng duy nhất vào
thời bấy giờ đã phát triển một chiến lược nhằm mang lại tầm quan trọng kinh điển
to lớn cho Luận Tối Thượng Thừa, trái
ngược hoàn toàn với cách diễn giải về Như Lai Tạng do các nhà tư tưởng như
Sapen đưa ra. Đức Karmapa thứ Ba (một bậc hậu bối cùng thời với Rikrel)—nhà
lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn trong truyền thừa Kagyu của Phật giáo Tây Tạng40—cũng
lập luận rằng Luận Tối Thượng Thừa chiếm một vị trí vô cùng trọng yếu trong lòng Đại thừa. Mặc
dù các tác phẩm của ngài chủ yếu hướng về các hệ mật tông như Thời Luân Kim
Cang (Kālacakra), Hô Kim Cang (Hevajra), v.v...,41
ngài đã nghiên cứu kỹ lưỡng Năm Luận Thư của Di Lặc cùng các văn bản được cho
là của Vô Trước (Asaṅga), và rất nhiều tác phẩm của ngài chịu ảnh hưởng sâu sắc
bởi các luận thư Luận Tối Thượng Thừa,
Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahāyānasūtrālaṃkāra), và Phân
Biệt Pháp Pháp Tính (Dharmadharmatāvibhāga) vốn được quy thuộc về Đức
Di Lặc.42
Đức Karmapa thứ Ba đã biên soạn bản chú giải bằng tiếng
Tây Tạng đầu tiên và chi tiết nhất về tác phẩm Tán Thán Pháp Giới (Dharmadhātustava)
của Ngài Long Thọ (Nāgārjuna).43 Trong tác phẩm đó, bằng việc sử dụng
các ẩn dụ mang tính khẳng định (tích cực), ngài đã chứng minh rằng chân lý tối
hậu, hay pháp tính, không gì khác hơn chính là Như Lai Tạng vốn được tích hợp sẵn
mọi phẩm tính chứng ngộ.44 Ngài mô tả chân lý tối hậu theo một cách
thức giúp phân biệt nó với tánh không vốn chủ yếu được giải thích trong các văn
bản Trung Quán khác như Trung Quán Luận (Madhyamakakārikā) của
Long Thọ và Nhập Trung Luận (Madhyamakāvatāra) của Nguyệt Xứng
(Candrakīrti)—nơi mà tánh không được trình bày bằng ngôn ngữ mang tính phủ định
nhiều hơn. Hơn nữa, Đức Karmapa thứ Ba cũng biên soạn một bản tóm lược về Luận Tối Thượng Thừa nhất quán với truyền
thừa thiền định,45 văn bản này xác lập Luận Tối Thượng Thừa là một
giáo lý liễu nghĩa thuộc về Chuyển Pháp Luân lần thứ ba của Đức Phật. Như
Klaus-Dieter Mathes đã chứng minh: 'Rangjung Dorje [tức Đức Karmapa thứ Ba] giải
thích bảy ví dụ về cách thức mà pháp giới (được ngài đồng nhất với Phật tính hoặc
thậm chí là chính Đức Phật) trú ngụ trong tất cả chúng sinh.'46
Mathes nói thêm rằng: 'Tóm lại, Rangjung Dorje hoàn toàn đồng nhất Pháp thân với
pháp giới, do đó pháp giới được tích hợp một cách bất khả phân ly với các phẩm
tính của Phật. Những phẩm tính này đơn thuần chỉ bị che lấp bởi các nhiễm ô ngẫu
nhiên (khách trần phiền não) và sẽ hiển lộ một cách trọn vẹn tại thời điểm được
tịnh hóa.'47
Trong tác phẩm quan trọng của mình về chủ đề Như Lai tạng
(tathāgata-essence) mang tên Trình bày về Bản tính (snying po bstan
pa),48 vị Karmapa thứ Ba đã trích dẫn chính bài kệ từ Hevajra
Tantra (Mật điển Hô Kim Cang) mà Rikrel đã trích dẫn trong bài luận giải Uttaratantra
(Luận Tối Thượng Thừa) của ông. Do
đó, lập trường của vị Karmapa thứ Ba về Như Lai tạng và Luận Tối Thượng Thừa đứng
ở thế tương phản hoàn toàn với cách diễn giải của Sapen đối với Luận Tối Thượng Thừa và các tài liệu về Như Lai tạng. Dựa trên quan điểm của họ
vào sự giải thích của vị Karmapa thứ Ba về Như Lai tạng cũng như phương pháp tiếp
cận của ông đối với Luận Tối Thượng Thừa,
Tāranātha và Mangtö Ludrup Gyatso (mang thos klu sgrub rgya mtsho, 1523–1596)
thậm chí còn khẳng định rằng Karmapa thứ Ba và Dölpopa đã từng gặp gỡ nhau.49
Vì vậy, những hạt giống được gieo trong các tác phẩm của vị Karmapa thứ Ba đã
tiếp tục chín muồi, dẫn đến các cuộc tranh luận về Luận Tối Thượng Thừa diễn
ra vào cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV.
Không giống như hai học giả mà tôi đã thảo luận trong phần
này, Sangpu Lodrö50 là một bậc tiền bối đồng thời với cả Butön và
Dölpopa.51 Vì nổi tiếng với kiến thức về Năm Bộ Luận của Di Lặc,52
ông đã viết một bản luận giải chuyên sâu về Luận
Tối Thượng Thừa trong
giai đoạn mà thẩm quyền của kinh điển này đang bị tranh chấp. Bản luận giải của
Sangpu Lodrö53 đã định hình Luận
Tối Thượng Thừa dưới
một góc nhìn tích cực, lập luận rằng đây là lời giải thích cho các kinh điển liễu
nghĩa thuộc Chuyển pháp luân lần thứ ba – những giáo pháp “vô cùng bí mật trong
các mật pháp”,54 và rằng nó dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Như
Lai tạng mang đầy đủ các phẩm tính giác ngộ. Gö Lotsawa đã có lý một phần khi
cho rằng bản luận giải của Sangpu Lodrö đồng nhất với cách diễn giải của
Dölpopa về Luận Tối Thượng Thừa. Tuy
nhiên, cách ông diễn giải về Như Lai tạng trong Luận Tối Thượng Thừa có
thể được xem là một phương pháp để học giả phái Sangpu này đưa Luận Tối Thượng Thừa trở lại với hệ thống kinh điển Đại thừa thuộc hiển giáo,
tạo ra một chiếc cầu nối giữa hai lần chuyển pháp luân cuối cùng, trong một thời
kỳ mà bộ luận này đang bị diễn giải theo các cách khác nhau bởi Sapen và các
nhà phê bình của ông là Rikrel cùng vị Karmapa thứ Ba. Bất luận thế nào, Sangpu
Lodrö cũng không ngần ngại chỉ trích cả Ngok55 lẫn Chapa56
ở bất cứ điểm nào mà ông cho là cần thiết.
Vậy Sangpu Lodrö đã diễn giải Luận Tối Thượng Thừa theo hướng tích cực như thế
nào?
Ông cho rằng Phật tính
(tathāgata-essence, tathāgatagarbha) tồn tại nơi tất cả chúng sinh dưới
dạng một vị Phật đã viên mãn đầy đủ. Ông viết rằng:⁵⁷
**"Pháp
thân (dharmakāya) chính là pháp
tính (dharmatā), bất khả phân với các phẩm
tính của Phật. Vì không có gì mâu thuẫn khi khẳng định rằng Pháp thân hiện hữu
khắp tất cả chúng sinh như một thực thể duy nhất, nên không thể chấp nhận việc
cho rằng sự hiện hữu của Pháp thân trong chúng sinh chỉ là điều được giả lập
(imputed)."**⁵⁸
Sangpu Lodrö cho rằng Pháp thân
(dharmakāya) không chỉ hiện hữu nơi các vị Phật. Vì Pháp thân không khác
với pháp giới (dharmadhātu; chos dbyings) và bất khả phân với các
phẩm tính giác ngộ, nên nó thật sự hiện hữu trong tất cả chúng sinh.
Ông bảo vệ lập trường này bằng
cách sử dụng cách diễn giải bài kệ trong Luận
Tối Thượng Thừa của Ngok và Chapa như một đối tượng để phản biện.
Trái với quan điểm của Sangpu Lodrö, Chapa và Ngok cho rằng Pháp thân chỉ hiện
hữu nơi chúng sinh dưới dạng tiềm năng để đạt đến giác ngộ, chứ không phải như
một thực thể đã giác ngộ viên mãn.
Hơn nữa, Sangpu Lodrö còn lập
luận rằng:
**"Mặc
dù các phiền não hiện hữu, nhưng chúng chỉ là những cấu nhiễm có tính chất ngẫu
nhiên (adventitious) [đối với Phật tính], bởi vì Phật tính vốn thanh tịnh một
cách tự nhiên. Các phẩm tính giác ngộ, như mười lực của Phật và các công đức
khác, vốn đã hiện hữu một cách tự nhiên [trong Phật tính] từ vô thủy. Vì vậy,
không có sự đoạn trừ mới đối với những phiền não đã tồn tại trước đó, cũng
không có sự thành tựu mới đối với những phẩm tính giác ngộ vốn trước đây chưa từng
hiện hữu."**⁵⁹
Sangpu Lodrö, mặc dù không viện
dẫn bất kỳ nguồn Mật điển nào như Rikrel và Đệ Tam Karmapa đã làm, vẫn khẳng định
một cách rõ ràng rằng Phật tính (tathāgata-essence) hiện hữu trong tất cả
chúng sinh vốn đã đầy đủ các phẩm tính giác ngộ từ vô thủy. Vì thế, không có bất
kỳ phẩm tính giác ngộ nào được thành tựu mới.
Tương tự, ông cũng chứng minh rằng
các phiền não chỉ là những cấu nhiễm có tính chất khách trần (adventitious), chứ
không phải là bản chất vốn có của Phật tính. Do đó, cũng không thể nói đến một
sự đoạn trừ phiền não mới, bởi ngay từ đầu, phiền não chưa từng hiện hữu một
cách tự nhiên hay cố hữu trong Phật tính.
Hơn nữa, Sangpu Lodrö còn mạnh mẽ khẳng định rằng giáo lý
được trình bày trong Luận Tối Thượng Thừa là giáo pháp mang ý nghĩa tối hậu (nītārtha), là
"bí mật trong các điều bí mật" (secret among the secrets). Vì
vậy, theo ông, Luận Tối Thượng Thừa hoàn toàn xứng đáng giữ vai trò là một thẩm quyền kinh điển
trung tâm trong hệ thống kinh điển Đại thừa hậu kỳ.⁶⁰
Tuy nhiên, mặc dù Luận Tối Thượng Thừa và các kinh điển làm nền tảng
cho tác phẩm này được ông xem là có thẩm quyền kinh điển cao hơn các kinh
Bát-nhã (Prajñāpāramitā-sūtra) thuộc vòng chuyển pháp luân thứ hai,
Sangpu Lodrö vẫn cho rằng cả các kinh thuộc vòng chuyển pháp luân thứ hai lẫn Luận Tối Thượng Thừa đều cùng giảng dạy về tính
Không (śūnyatā). Ông lập luận rằng:
"Các
kinh làm nền tảng cho Luận Tối Thượng Thừa và chính Luận Tối Thượng Thừa không hề mâu thuẫn với
các kinh Bát-nhã (Prajñāpāramitā-sūtra),
bởi vì tính Không của tự tính (niḥsvabhāvatā,
sự vắng mặt của tự tính cố hữu) của tất cả các pháp được giảng dạy trong các
kinh Bát-nhã chính là Pháp thân (dharmakāya)
được trình bày ở đây [trong các kinh thuộc vòng chuyển pháp luân cuối cùng và
trong Luận Tối Thượng Thừa]. Những giáo lý mô tả các phiền não, nghiệp, các uẩn
và những hiện tượng tương tự như mây cùng các ví dụ khác trong chân lý quy ước
[như được trình bày trong các kinh Bát-nhã] cho thấy rằng các pháp nhiễm ô chỉ
là những cấu nhiễm khách trần đối với bản tính của tâm; chúng không phải là bản
tính của tâm. Chính bản tính của tâm ấy là Phật tính (tathāgata-essence)..."⁶¹
Như vậy, Sangpu Lodrö đặt Luận Tối Thượng Thừa vào bối cảnh của hệ thống kinh
điển Đại thừa theo truyền thống Kinh thừa, giống như hai nhà chú giải Sangpu đời
đầu là Ngok và Chapa. Tuy nhiên, khác với hai vị này, Sangpu Lodrö giải thích ý
nghĩa của Phật tính (tathāgata-essence) theo cùng định hướng với Rikrel
và Đệ Tam Karmapa, khi lập luận rằng Phật tính vốn đầy đủ các phẩm tính giác ngộ.
Hơn nữa, ông cũng trình bày nội
dung của Luận Tối Thượng Thừa theo hướng phù hợp hơn với giáo
lý của các kinh liễu nghĩa thuộc vòng chuyển pháp luân cuối cùng, thay vì với
các kinh Bát-nhã thuộc vòng chuyển pháp luân thứ hai. Chính nhờ cách tiếp cận
này, Sangpu Lodrö có thể tiếp tục duy trì truyền thống diễn giải Luận Tối Thượng Thừa dựa trên kinh điển, đồng thời vẫn
theo đuổi một lập trường tương đối bảo thủ đối với bản luận này.
Tóm lại, Sakya Paṇḍita (Sapen)
là một học giả có ảnh hưởng rất lớn ở miền Trung Tây Tạng, nổi tiếng với các
trước tác về nhiều chủ đề khác nhau trong Phật học hàn lâm. Cách ông xử lý các
kinh điển về Phật tính (tathāgata-essence) và sự đánh giá của ông đối với
Luận Tối Thượng Thừa trong tác phẩm Phân biệt Tam Giới Nguyện (Distinguishing the Three Vows) đã vấp phải sự
phản đối từ nhiều tư tưởng gia quan trọng khác của Tây Tạng cùng thời.
Rikrel, Đệ Tam Karmapa và
Sangpu Lodrö đều nhận thức được rằng cách diễn giải Trung Quán về Luận Tối Thượng Thừa do hai bậc thầy Kadam đời đầu
là Ngok và Chapa đề xuất đang dần mất đi ảnh hưởng. Đồng thời, họ cũng nhận thấy
rằng Sapen đề cao Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận) của
Candrakīrti hơn Luận
Tối Thượng Thừa. Vì vậy, họ đã xây
dựng những chiến lược lập luận tinh tế nhằm tái khẳng định tính chính thống và
thẩm quyền của Luận
Tối Thượng Thừa cũng như của toàn bộ hệ thống kinh điển về Phật tính
(tathāgata-essence).
4- Hệ thống sơ khởi về Tha Không (Proto
Other-Emptiness) trong Luận Tối Thượng Thừa của Rinchen Yeshé và lời đáp trả của
Butön | ⁶²
Như tôi đã lập luận ở trên,
Sapen đã thách thức cách diễn giải Uttaratantra của truyền thống Kadam đời
đầu, được trình bày trong các trước tác của Ngok và Chapa. Đồng thời, thông qua
việc đề cao chân lý tối hậu hay tính Không được trình bày trong những tác phẩm
như Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận), ông cũng đặt vấn đề về địa
vị và thẩm quyền của Uttaratantra trong hệ thống kinh điển Đại thừa.
Ngược lại, Rikrel và Đệ Tam
Karmapa còn đi xa hơn cả lập trường của các bậc thầy Kadam đời đầu, vốn đã thừa
nhận tầm quan trọng của Luận
Tối Thượng Thừa như một bản luận dựa trên kinh điển. Hai vị này liên
kết Luận Tối Thượng Thừa với hệ thống kinh điển Mật giáo
như một chiến lược nhằm dành cho bản luận này một địa vị còn đặc biệt hơn nữa
trong truyền thống Đại thừa.
Đứng trước những cách diễn giải
cạnh tranh như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các học giả Phật giáo vào
cuối thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV dường như chỉ còn biết lắc đầu đầy kinh ngạc! Như tôi sẽ trình
bày, Rinchen Yeshé đã biên soạn bản chú giải Luận
Tối Thượng Thừa của mình nhằm đáp lại chính những cách diễn giải về Luận Tối Thượng Thừa do Sapen, Rikrel và Karmapa Thứ Ba đề xuất.
Rinchen Yeshé là người cùng thời với Sangpu Lodrö và là
thầy của nhiều học giả có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XIV, trong đó có Dölpopa
và Gyelsé Tokmé (rgyal sras thogs med bzang po, 1295–1369).**⁶³ Qua công trình nghiên cứu xuất sắc của
Stearns, chúng ta biết rằng Rinchen Yeshé đã truyền dạy Năm Luận của Di Lặc
(Five Treatises of Maitreya) cho Dölpopa⁶⁴, chính là những văn bản chú giải đã trở thành
nền tảng cho cách trình bày học thuyết Tha Không (Other-Emptiness, gzhan
stong) của Dölpopa.
**Hơn nữa, nhiều học giả trong thế kỷ XIV và XV, như
Butön, Dratsépa,**⁶⁵ **Tsünpa Pelrin (btsun pa dpal gyi rin chen, thế kỷ
XIV–XV),**⁶⁶ **Zhönnu Gyeltsen (gzhon nu rgyal mtshan, thế kỷ XIV–XV),**⁶⁷ **và
Jonang Zangpo (rgyal ba jo nang dpal bzang po, thế kỷ XIV–XV),**⁶⁸ đều nhắc đến vị thầy Kadam này trong các trước
tác của họ.
Ông cũng truyền dạy những giáo
lý này cho Gyelsé Tokmé, một học giả Kadam lỗi lạc khác, nổi tiếng vì sự uyên
thâm đối với các trước tác được quy cho Di Lặc. Do đó, từ những nguồn tư liệu
Tây Tạng thời kỳ đầu này, có thể suy ra rằng Rinchen Yeshé là một học giả xuất
chúng, nổi tiếng với sự tinh thông các giáo lý thuộc vòng chuyển pháp luân cuối
cùng.
Ông dường như cũng có khả năng
đọc tiếng Phạn, một năng lực khá hiếm thấy đối với các học giả Tây Tạng vào cuối
thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV. Tóm lại, cuộc đời học thuật của ông cho thấy ông
đã có ảnh hưởng sâu rộng đến một số tư tưởng gia hàng đầu của Tây Tạng thế kỷ
XIV, như Butön, Dölpopa và Gyelsé Tokmé, những người sau này đều giữ vai trò
quan trọng trong việc định hình tiến trình phát triển của nền học thuật Phật
giáo Tây Tạng. **Rinchen Yeshé nhiều khả
năng qua đời vào khoảng năm 1345 hoặc 1346.**⁶⁹
Để xác định lập trường giáo nghĩa của Rinchen Yeshé, tôi
đã khảo sát bản chú giải Luận Tối Thượng
Thừa của vị thầy Kadam này. Tác
phẩm ấy là một phần trong đợt công bố gần đây hàng chục tập trước tác triết học
Kadam chưa từng được biết đến trước đây, có niên đại sớm hơn Dölpopa. Bên cạnh
đó, tôi cũng tham khảo tác phẩm Precious Garland of Rebuttals (Chuỗi Tràng Phản Biện Quý Báu) của
Butön.**⁷⁰ Cho đến thời điểm hiện tại,
đây là hai nguồn tư liệu duy nhất giúp chúng ta xác định lập trường giáo nghĩa
của Rinchen Yeshé.
Nhan đề bản chú giải Luận
Tối Thượng Thừa của
Rinchen Yeshé là Rays of the Definitive Meaning (rgyud bla ma’i ’grel ba
mdo dang sbyar ba nges don gyi snang ba).**⁷¹ **Như có thể thấy rõ từ tác phẩm
này,**⁷² Rinchen Yeshé đã cẩn trọng xác
định và trích dẫn các kinh điển được Asaṅga dẫn trong bản chú giải Luận Tối Thượng Thừa của ngài.
Để nêu một vài ví dụ về sự uyên bác và cẩn trọng trong
nghiên cứu của ông: Rinchen Yeshé đối chiếu bản dịch của Ngok đối với một số đoạn
kinh được trích trong chú giải Luận Tối
Thượng Thừa của
Asaṅga với các bản dịch Tây Tạng sớm hơn của chính những đoạn kinh ấy do Yeshé
Dé (ye shes sde, khoảng năm 800) thực hiện.**⁷³ **Hơn nữa, trong nhiều trường hợp,
ông còn lựa chọn bản dịch của Naktso (nag ’tsho tshul khrims rgyal ba, sinh năm
1011) đối với một số đoạn trong Luận Tối
Thượng Thừa, thay vì sử dụng bản dịch của Ngok.**⁷⁴
Đối với những đoạn kinh mà ông không thể xác định được
nguồn gốc, ông ghi chú rằng: “không tìm thấy nguồn trích dẫn” (khungs ma
rnyed).**⁷⁵
Sự khảo cứu văn bản một cách cẩn trọng và mang tính phê
bình của Rinchen Yeshé nhằm chứng minh rằng Luận
Tối Thượng Thừa là bản
luận trình bày ý nghĩa liễu nghĩa tối hậu của các kinh như Như Lai Tạng Kinh (如來藏經 –Tathāgatagarbhasūtra), Thắng Man Kinh (勝鬘經 – Śrīmālādevīsūtra), Lăng Già Kinh (楞伽經 - Laṅkāvatārasūtra) và nhiều kinh khác.**⁷⁶ Lập trường này được đưa ra trong bối cảnh mà Luận Tối Thượng Thừa khi ấy đã bị xem là có thẩm quyền
thấp hơn Madhyamakāvatāra (Nhập Trung Luận) của Nguyệt Xứng.
Rinchen Yeshé trích dẫn các kinh thuộc vòng chuyển pháp
luân cuối cùng này để chứng minh rằng Phật tính (tathāgata-essence), vốn
đầy đủ các tướng chính và tướng phụ của một vị Phật (sangs rgyas kyi mtshan
dang dpe byad), hiện hữu một cách tự nhiên trong tất cả chúng sinh. Chẳng hạn,
ông dẫn một đoạn từ Aṅgulimālāsūtra (Ương Quật Ma La Kinh) để lập
luận rằng chúng sinh vốn có Phật tính đầy đủ các phẩm tính giác ngộ.**⁷⁷
Hơn nữa, ông lập luận rằng:
"Vì sự giải thoát khỏi các phiền não khách trần
chính là bản tính của Như Lai giới (tathāgata-element) từ vô thủy, nên
không có phiền não nào cần phải được đoạn trừ [khỏi Như Lai giới]. Vì pháp giới
viên mãn, bất khả phân với các phẩm tính giác ngộ, chính là bản tính của Như
Lai giới, nên cũng không có bất kỳ phẩm tính thiện nào cần phải được đạt được mới."⁷⁸
Do đó, theo Rinchen Yeshé, Phật
tính không chỉ đơn thuần là một nhân tố hay tiềm năng đưa đến giác ngộ. Trái lại,
Phật tính vốn đầy đủ một thực thể giác ngộ nội tại, tự nhiên hoàn toàn thoát khỏi
mọi mê lầm, nhưng tạm thời bị che phủ bởi các phiền não khách trần.
Hơn nữa, Rinchen Yeshé lập luận rằng thắng nghĩa đế (chân
lý tối hậu) được diễn giải trong các kinh điển Đại thừa thời kỳ sau (rgyud
phyi ma), vốn chủ yếu giảng dạy về liễu nghĩa (nghĩa rốt ráo). Ông khẳng định:
'Đại thừa là cốt tủy trong mọi giáo pháp của đấng Thiện Thệ (Sugata). Và bên
trong các giáo lý Đại thừa, có những bộ kinh liễu nghĩa tối hậu chủ yếu giảng dạy
về nghĩa rốt ráo.'79 Ông rõ ràng đã đặt các giáo lý thuộc Chuyển
Pháp Luân lần thứ ba (bánh xe giáo pháp cuối cùng) vốn giảng dạy về nghĩa rốt
ráo tối hậu, trong sự đối lập với các kinh điển thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ
hai chẳng hạn như các kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitāsūtras)—những
bản kinh mà theo ông, không chủ yếu giảng dạy về nghĩa rốt ráo tối hậu. Thay
vào đó, như Rinchen Yeshé lập luận: 'Tất cả vạn pháp vốn được dạy là không có tự
tánh chân thật trong các giáo lý thuộc bánh xe giáo pháp lần thứ hai, tựa
như ảo ảnh và vân vân, [chỉ] là để ám chỉ các hiện tượng pháp hữu vi thuộc tục
đế (chân lý tương đối). Còn Như Lai Tạng (bde gshegs snying po) vốn được
giải thích là chân thật và bất biến trong các giáo lý thuộc bánh xe giáo pháp lần thứ ba (cuối
cùng), là để ám chỉ pháp tính tối
hậu, một hiện tượng pháp vô vi.'80 Do đó, các giáo lý thuộc bánh xe
giáo pháp lần thứ hai
giải
thích cách thức các hiện tượng thuộc tục đế, chẳng hạn như bàn, ghế và những thứ
tương tự, trống rỗng không có tự tánh ra sao, giống như một hình ảnh huyễn hoặc.
Những bản kinh này không diễn giải về thắng nghĩa đế vô vi vốn là phần chủ yếu
được giảng dạy trong các kinh điển liễu nghĩa thuộc bánh xe giáo pháp cuối
cùng. Một điều khá thú vị là Rinchen Yeshé sử dụng thuật ngữ 'không thật có' (bden
med) để chỉ các hiện tượng thuộc tục đế, vốn có trạng thái tồn tại không thực
tế hơn là một đối tượng trong giấc mơ—thứ xuất hiện một cách sai lầm trước người
nằm mơ như thể chính là đối tượng đó. Mặt khác, ông sử dụng thuật ngữ 'chân thật'
(bden pa) để chỉ Như Lai Tạng vô vi tối hậu, vốn tồn tại một cách bản
nhiên (tự tánh) và rốt ráo."
Tác phẩm Chuỗi Tràng Phản Biện Quý Báu của Butön
phản biện quan điểm của Rinchen Yeshé, cho rằng vị này coi tánh không trong luận
thư Trung Quán/Bát-nhã là ngoan không (chad pa’i stong pa nyid) [81]. Rinchen
Yeshé lập luận rằng tánh không trong các văn bản Như Lai Tạng là "cụ túc
nhất thiết tối thắng tướng không" (rnam kun mchog ldan gyi stong pa nyid),
không phải ngoan không [82, 83]. Butön phản bác rằng Rinchen Yeshé xem tánh
không chỉ là sự không tồn tại của hiện tượng hữu vi, tương tự quan điểm của
Dölpopa [84]. Theo Butön, Rinchen Yeshé chứng minh Như Lai Tạng là tánh không rốt
ráo, mang đầy đủ phẩm tính giác ngộ.
Tác phẩm Chuỗi Tràng Phản Biện Quý Báu (gcan
rgol rin po che'i phreng ba) của Butön, tác phẩm bổ khuyết cho các quan điểm
của Rinchen Yeshé về Như Lai Tạng và các giáo lý thuộc hai bánh xe giáo pháp cuối
cùng được tìm thấy trong bản chú giải Luận
Tối Thượng Thừa của
vị này. Trong tác phẩm Chuỗi Tràng Phản Biện Quý Báu, Butön lập luận rằng
Rinchen Yeshé đã tuyên bố tánh không được giải thích trong các luận thư Trung
Quán và Bát-nhã chỉ là một thứ tánh không ngoan không (đoạn diệt không - chad
pa’i stong pa nyid).81 Mặt khác, Rinchen Yeshé khẳng định rằng vì tánh
không được mô tả trong các văn bản như Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Uttaratantra,
và các mật thư tịch vốn được tích hợp sẵn vạn đức tướng tối thượng (cụ túc nhất
thiết tối thắng tướng không - rnam kun mchog ldan gyi stong pa nyid),82
nên nó không phải là một thứ tánh không ngoan không.83 Butön
đã lập luận hoàn toàn chính xác rằng Rinchen Yeshé bám chấp vào quan điểm cho rằng
'tánh không của tự tánh' chẳng qua chỉ là sự không tồn tại của các hiện tượng
pháp hữu vi tựa như huyễn ảnh, tương tự như những gì Dölpopa nói về tục đế.84
Theo Butön, Rinchen Yeshé tiếp tục chứng minh rằng Như Lai Tạng tồn tại trong tất
cả chúng sinh vốn được tích hợp sẵn các phẩm tính chứng ngộ, và đó mới chính là
tánh không rốt ráo, là thắng nghĩa đế.
Hơn nữa, Butön chỉ ra rằng Rinchen Yeshé quả quyết các luận
thư thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ ba chẳng hạn như kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra) và Luận Tối Thượng
Thừa, là những giáo lý liễu nghĩa (nghĩa rốt ráo). Butön lập luận:
“Trong
một bức thư khác [của Rinchen Yeshé] có đề cập rằng các kinh điển thuộc Chuyển
Pháp Luân lần thứ hai không
hề dạy rằng chúng tối thắng hơn các giáo lý thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ ba.
[Trái lại,] vì kinh điển thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ ba [tức kinh Giải Thâm Mật] dạy rằng nó tối thắng
hơn các giáo lý thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ hai nên nội dung của [bánh xe giáo pháp] cuối
cùng là siêu việt hơn. . . . Bởi vì các luận thư Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Luận Tối Thượng Thừa, và vân
vân, đều là những bản chú giải cho kinh điển thuộc bánh xe giáo pháp cuối cùng,
nên nội dung của chúng siêu việt hơn. [Một số người] quả quyết chúng là các văn
bản thuộc Duy Thức tông, nhưng nội dung của chúng thật sự vượt ngoài bốn tông
phái triết học hệ thống [tức Kinh Lượng bộ, Tỳ-bà-sa bộ, Duy Thức tông, và
Trung Quán tông].85”
Theo Butön, quan điểm của Rinchen Yeshé về các kinh Bát-nhã
Ba-la-mật-đa và kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra) là:
bộ kinh vế sau [kinh Giải Thâm Mật] mang tính liễu nghĩa (nghĩa rốt ráo)
vì nó diễn giải một thứ tánh không không đơn thuần chỉ là tánh không của tự
tánh, mà đúng hơn, nó giảng dạy về thắng nghĩa đế (chân lý tối hậu)—thứ tánh
không vắng bóng các hiện tượng thuộc tục đế và các phiền não cấu uế. Hơn thế nữa,
Rinchen Yeshé được tin là đã lập luận rằng kinh Giải Thâm Mật giảng dạy
về thắng nghĩa đế, một quan điểm vốn không được tìm thấy trong các học phái Đại
thừa Ấn Độ chính lưu thuộc Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn. Đối với
Butön, những khẳng định này cực kỳ có vấn đề (sai lầm), bởi lẽ ông đã xếp kinh Giải
Thâm Mật, luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, và Luận Tối Thượng Thừa vào danh mục Duy Thức tông (Cittamātra) trong tác
phẩm Danh Mục Các Luận Thư Dịch Thuật của mình vào năm 1335.86
Do đó, ông không công nhận các luận thư này có thẩm quyền tối cao xét về mặt diễn
giải thắng nghĩa đế của chúng. Trái lại, Butön giữ lập trường rằng các kinh Bát-nhã
Ba-la-mật-đa, tác phẩm Nhập Trung Luận (Madhyamakāvatāra) của
Nguyệt Xứng (Candrakīrti), cùng các luận thư Trung Quán khác mới là những giáo
lý giảng dạy về thắng nghĩa đế hay tánh không của tự tánh.
Tại thời điểm này, việc so sánh ngắn gọn phần trình bày của
Rinchen Yeshé về Như Lai Tạng, cũng như sự hiểu biết của ông về tầm quan trọng
tương đối giữa hai bánh xe giáo pháp cuối cùng, với cách diễn giải của Dölpopa
về các thư tịch Đại thừa sẽ mang lại nhiều tri thức bổ ích. Tuy nhiên, tôi sẽ
thảo luận chi tiết về quan điểm của Dölpopa đối với Như Lai Tạng trong chương
tiếp theo. Hai học giả cùng thời này chắc chắn chia sẻ một số điểm tương đồng
giáo lý vô cùng quan trọng. Như tôi đã đề cập trước đó, ngay cả Butön cũng được
tin là đã đưa ra nhận xét này. Theo Künga Drölchok (1507–1566), Butön đã chỉ ra
rằng quan điểm của Dölpopa rất giống với quan điểm của Rinchen Yeshé. Cả
Rinchen Yeshé và Dölpopa đều lập luận rằng Như Lai Tạng được tích hợp sẵn các
phẩm tính chứng ngộ tồn tại một cách tự nhiên và thường hằng trong tất cả chúng
sinh; cả hai học giả đều tuyên thuyết rằng các hiện tượng thuộc tục đế thì trống
rỗng không có tự tánh tựa như một huyễn ảnh, nhưng thắng nghĩa đế (chân lý tối
hậu) lại tồn tại một cách bản nhiên (tự tánh thực hữu); cả hai cũng dựa dẫm rất
nhiều vào các nguồn kinh điển thuộc bánh xe giáo pháp cuối cùng để làm thẩm quyền
kinh văn cho việc thiết lập giáo lý của mình, từ đó làm suy giảm vị thế thẩm
quyền của các giáo lý thuộc Chuyển Pháp
Luân lần thứ hai.
Tuy nhiên, bất chấp những điểm tương đồng mà họ chia sẻ, Rinchen Yeshé lại
không sử dụng các tư tưởng mang tính thương hiệu của Dölpopa, chẳng hạn như:
Tha Tánh Không (other-emptiness) là một trạng thái cao siêu hơn Tự Tánh
Không (self-emptiness), Nhất thiết chủng trí / A-lại-da trí (all-basis-gnosis),
Thắng nghĩa Duy Thức (Ultimate Cittamātra / don dam pa’i sems tsam) là một
tông phái ưu việt hơn Thế tục Duy Thức (Conventional Cittamātra / kun rdzob
pa’i sems tsam), và Trung Quán Hữu Tướng (Madhyamaka with Appearances /
snang bcas dbu ma) là một học phái thấp hơn Trung Quán Vô Tướng (Madhyamaka
without Appearances / snang med dbu ma)."
5- Kết luận
Sapen, với trí tuệ kiệt xuất cùng sự tinh thông về Ngũ
minh (rig pa’i gnas lnga), đã lập luận chống lại việc trao cho hệ thống
văn tịch Như Lai Tạng nói chung, và Luận
Tối Thượng Thừa nói
riêng, một vị thế thẩm quyền ngang hàng với tác phẩm Nhập Trung Luận (Madhyamakāvatāra)
của Nguyệt Xứng (Candrakīrti)—một luận thư Ấn Độ phổ biến khác tại Tây Tạng vào
thế kỷ thứ mười ba. Điều này đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sự nghiên cứu
đối với Luận Tối Thượng Thừa. Để phản
ứng lại, Rikrel và Đức Karmapa thứ Ba đã lập luận rằng Luận Tối Thượng Thừa cần
phải được trao một vị thế thẩm quyền kinh văn trọng yếu trong lòng Đại thừa, đồng
thời trích dẫn các nguồn tài liệu ngay từ các văn bản mật tông. Sau đó, Sangpu
Lodrö và Rinchen Yeshé đã nỗ lực khôi phục lại uy danh và thẩm quyền vốn có của
Luận Tối Thượng Thừa (lúc này đang bị tranh nghị) bằng cách diễn giải các giáo
lý của nó dựa trên các kinh điển hiển giáo và các văn bản chú giải Ấn Độ, mà
không cần viện dẫn đến các tài liệu thuộc hệ mật tông.
Những học giả này cùng với các tác phẩm của họ đã có sức ảnh
hưởng đến các nhà nghiên cứu Luận Tối Thượng
Thừa vào thời kỳ sau thuộc thế kỷ
thứ mười bốn. Tuy nhiên, rất khó để chứng minh một cách chắc chắn về các phương
thức cụ thể mà sức ảnh hưởng của họ được vận hành và thể hiện ra sao trong các
tác phẩm của các bậc đại sư Tây Tạng thế hệ sau như Dölpopa, Sazang, và Butön —
những người mà công trình của họ sẽ là chủ đề của vài chương kế tiếp. Mặc dù vậy,
một số đặc trưng cốt lõi trong phần trình bày của Dölpopa về Như Lai Tạng đã được
dự báo trước từ trong các tác phẩm được phân tích ở đây. Chẳng hạn như, bài luận
giải của Rikrel về Luận Tối Thượng Thừa đã trích dẫn cả hiển kinh lẫn mật thư, đồng thời liên đới87
Phật giới với A-lại-da thức (mặc dù Dölpopa sử dụng thuật ngữ A-lại-da trí / Nhất
thiết chủng trí); Rinchen Yeshé thì quả quyết rằng các hiện tượng thuộc tục đế
trống rỗng không có tự tánh vì chúng không thực tế hơn là một đối tượng trong
giấc mơ vốn xuất hiện một cách sai lầm trước người nằm mơ như thể chính là đối
tượng đó, nhưng ông lại tuyên thuyết rằng thắng nghĩa đế (chân lý tối hậu) hay
Như Lai Tạng là thật có, vì nó tồn tại một cách bản nhiên (tự tánh thực hữu)
như một thực thể chứng ngộ vẹn toàn; và Đức Karmapa thứ Ba thì chỉ ra rằng Phật
giới vốn được tích hợp sẵn các tướng hảo và tùy hình hảo của một vị Phật cũng
chính là đồng nhất với A-lại-da (kun gzhi).
Do đó, nhiều khái niệm mà sau này Dölpopa tích hợp vào
các tác phẩm nổi tiếng của mình—với phần trình bày đặc trưng về quan điểm Tha
Tánh Không (other-emptiness)—chắc chắn đã được lưu hành rộng rãi từ nửa
đầu thế kỷ thứ mười bốn. Giờ đây, chúng ta xin được chuyển sang phân tích các
tác phẩm của Dölpopa, Sazang, Gyelsé Tokmé, Gendün Özer (thế kỷ XIII/XIV), và
Longchenpa (1308–1364)./.
Ẩn Tâm Lộ, 07/ 2026