Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

CHƯƠNG 13: KẾT TRUYỆN

Nguyên tác: EPILOGUE - Dalai Lama’s Cat

Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Mọi thứ đang diễn ra sôi nổi tại quán Café Franc. Những người thợ sơn biển hiệu đã leo thang suốt nhiều ngày để sửa sang mặt tiền nhà hàng. Khu vực mà Franc dự định mở hiệu sách đã được rào chắn lại. Nghe tiếng khoan và đóng đinh khe khẽ, cùng với dòng người ra vào tấp nập, có thể thấy đủ loại thay đổi đang diễn ra phía sau những tấm ván ốp tường.

Với bất kỳ ai hỏi, Franc giải thích rằng Café Franc sắp có một “cuộc tái khởi động lớn”. Nó sẽ vẫn là tất cả những gì nó từng có trong quá khứ—nhưng tốt hơn. Sẽ có nhiều thứ hơn cho khách hàng và nhiều loại sản phẩm đa dạng hơn. Nó sẽ là một nơi thậm chí còn tuyệt vời hơn để bạn dành thời gian.

Nhưng chính xác những gì đang diễn ra đằng sau hậu trường vẫn còn là một bí ẩn.

Đây là một phép ẩn dụ rất phù hợp với cuộc sống của tôi hiện tại. Tôi sắp trở thành mẹ của những chú mèo con. Những thay đổi trong cơ thể tôi diễn ra nhanh chóng và rõ rệt. Nhưng chính xác điều này sẽ có ý nghĩa gì với tôi thì tôi chỉ có thể đoán mà thôi. Tôi sẽ có bao nhiêu chú mèo con? Chúng sẽ thay đổi cuộc sống của chúng tôi ở Jokhang như thế nào? Chúng sẽ thuộc giống mèo Himalaya, mèo vằn, hay giống lai giữa hai loại đó?

Một điều tôi chắc chắn là tôi nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau chuyến thăm bác sĩ thú y, khi Chogyal báo tin, khuôn mặt của Ngài rạng rỡ hẳn lên. “Ồ… thật phi thường!” Vẻ mặt của Ngài gần như ngây thơ vì kinh ngạc khi cúi xuống vuốt ve tôi. “Một đàn Sư Tử Tuyết con. Sẽ thật thú vị!”

Vấn đề về nguồn gốc của chính tôi, một bí ẩn mà tôi tin rằng sẽ mãi mãi không có lời giải, là một lĩnh vực khác mà đã có sự thay đổi đột ngột và bất ngờ. Chỉ vài ngày sau khi Tashi và Sashi vô tình tiết lộ nguồn gốc của tôi, Chogyal đã sắp xếp cho họ đi cùng ông trong chuyến thăm Delhi tiếp theo, để xác định gia đình mà mẹ tôi thuộc về. Họ tìm thấy ngôi nhà mà không gặp khó khăn gì, nhưng nó bị khóa và được canh gác bởi một đội bảo vệ tư nhân. Không có dấu hiệu nào cho thấy một gia đình đang sống ở đó. Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy có một con mèo trong nhà. Một mẩu giấy nhắn đã được để lại cho một trong những nhân viên bảo vệ, nhưng vẫn chưa có hồi âm.

Vì nhiều lý do khác nhau, tôi cảm thấy mình đang sống trên ngưỡng cửa của một sự thay đổi sâu sắc. Những mảng kiến tạo của cuộc đời đang dịch chuyển. Mọi thứ sẽ không bao giờ giống như trước nữa. Tôi cảm nhận được sự phấn khích, cũng như nỗi lo lắng. Nhưng với hình ảnh của Geshe Wangpo luôn hiện hữu trong tâm trí, tôi đã có tất cả những gì mình cần. Tôi sẽ biến đây thành một sự chuyển đổi tích cực. Tôi sẽ không né tránh bất cứ điều gì.

Đặc biệt, tôi không thể bỏ lỡ sự kiện tái khai trương Café Franc, vốn đã gây ra rất nhiều sự chú ý.

Sự kiện được lên lịch vào lúc 6 giờ chiều một buổi tối, nhưng tôi đã đi xuống đồi từ khá sớm.

Sân quan sát của tôi không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi, vốn không còn được che khuất bởi màn chắn an ninh mà thay vào đó là những tấm giấy lớn được buộc lại với nhau bằng một dải ruy băng đỏ rộng.

Khi thời gian càng đến gần, đám đông bắt đầu kéo đến. Có những khách quen của McLeod Ganj, luôn là một sự pha trộn đủ loại, bao gồm cả những người tôi quen từ Jokhang. Bà Trinci đến, vừa mới từ tiệm làm tóc về, nơi bà đã làm kiểu tóc đen đặc biệt để chào mừng dịp này.

Diện chiếc váy đen, trang sức vàng và kẻ mắt đậm, bà đã tô điểm thêm cho vẻ kịch tính vốn có của mình một chút gì đó đậm chất châu Âu khó tả.

Chogyal cũng xuất hiện với tư cách là người giám hộ cũ của Kyi Kyi. Franc nhanh chóng dẫn ông đến xem chiếc giỏ dưới quầy, nơi cả Kyi Kyi và Marcel, vừa được tắm sạch sẽ, đều đeo nơ đỏ vàng quanh cổ.

Khi đồ uống được rót tràn trề và các món khai vị khai tiệc liên tục được bưng ra, tiếng ồn trong căn phòng ngày một lớn hơn. Giữa đám đông, tôi chợt nhận ra bà Patel đến từ cửa hàng tạp hóa Cut Price Bazaar; dạo này, mỗi khi tôi đi ngang qua cửa hàng, bà lại chào tôi với vẻ mặt buồn rầu và không một tấm biển quảng cáo nào trên tay.

Sam cũng có mặt ở đó, trông thật sự lịch lãm trong chiếc áo sơ mi màu xanh thẫm và áo khoác thể thao bằng vải lanh trắng. Mấy tuần gần đây, anh ấy luôn túc trực tại nhà hàng để cùng Franc quán xuyến mọi hoạt động hối hả diễn ra phía sau những tấm bình phong. Kể từ khi nhận lời đề nghị của Franc, Sam đã thực sự nỗ lực để thay đổi bản thân. Khi tiếp quản hiệu sách, anh ấy đã triệu tập một loạt đại diện bán hàng của các nhà xuất bản, đưa ra yêu cầu rất rõ ràng về cách trưng bày các quà tặng tại điểm bán, và chỉ đạo nhóm thợ với một sự quyết đoán mới mẻ. Tôi thậm chí còn tận mắt thấy anh ấy chỉ tay dứt khoát vào mặt một người thợ mộc có tay nghề không đạt yêu cầu.

Tenzin có mặt trong đám đông—một nhân vật ngoại giao đang trò chuyện với hai học giả đến từ Harvard. Geshe Wangpo đứng ở phía trước phòng gần dải ruy băng, trong vòng tròn các vị sư cao cấp của Namgyal.

Franc tỏ ra rất thoải mái, đi lại khắp phòng. Nhưng điều bất thường là hôm nay anh ấy lại có một người phụ nữ rất xinh đẹp, khoảng 30 tuổi, khoác tay.

Sự biến đổi của Franc đã tiếp diễn kể từ lần gặp gỡ đầu tiên với Geshe Wangpo, được củng cố bởi những chuyến thăm các lớp học tại chùa mỗi tuần. Chiếc khuyên tai Om bằng vàng và chuỗi hạt cầu nguyện đã biến mất từ lâu, cái đầu hói khổ hạnh giờ đây được phủ một mái tóc vàng dày đáng ngạc nhiên, và quần áo thì bớt bó sát hơn. Và cũng bớt đen hơn.

Sự thay đổi lớn nhất lại không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Không còn là kẻ hống hách, hay quát tháo, người đã khiến cuộc sống của nhà bếp và nhân viên phục vụ trở nên khốn khổ nữa. Những cơn nóng giận của ông ta không thể che giấu được, nhưng thay vì bùng lên thành cơn thịnh nộ chính đáng, giờ đây ông ta dường như xấu hổ khi điều đó xảy ra. Những lời nhắc đến Đức Đạt Lai Lạt Ma và Phật pháp cũng biến mất. Nguồn gốc của Rinpoche không còn được đề cập nữa, và tôi thậm chí đã không nghe ông ta nói từ "Phật giáo" trong nhiều tuần liền.

Nhưng người phụ nữ trẻ ngồi cạnh anh ta là ai? Cô ấy đã đến quán cà phê hai lần trong tuần này. Lần đầu tiên, cô ấy và Franc đã dành hơn hai tiếng đồng hồ để trò chuyện nghiêm túc tại một trong những chiếc bàn ngoài vỉa hè. Lần thứ hai, ông ta dẫn cô ấy vào bếp, nơi cô ấy đã dành khá nhiều thời gian nói chuyện với anh em nhà Dragpa, cũng như với Kusali.

Tối nay, cô ấy lộng lẫy trong chiếc váy màu đỏ san hô, mái tóc dài đen nhánh được chải thẳng xuống lưng, cùng với những món trang sức lấp lánh trên tai, cổ và cổ tay. Tôi nghĩ cô ấy là người phụ nữ tuyệt mỹ nhất mà tôi từng thấy – vẻ đẹp của cô ấy toát lên sự tràn đầy năng lượng và lòng trắc ẩn. Khi Franc giới thiệu cô ấy với mọi người, họ dường như tan chảy trước sự hiện diện của cô ấy, cô ấy toát ra một sự ấm áp đến lạ thường.

Nằm thư giãn trên chiếc đệm sen giữa Vogue và Vanity Fair, cảm nhận được những chuyển động nhẹ nhàng của chiếc bụng đang phình to, tôi nhìn ra đám đông đang tụ tập với cảm giác mãn nguyện sâu sắc về khoảnh khắc này, về hiện tại, và về tất cả những gì đã dẫn tôi đến đây.

Kyi Kyi, nằm trong chiếc giỏ dưới quầy, xuất hiện trong cuộc đời tôi cùng lúc với vị chuyên gia phát triển bản thân Jack[1]. Qua họ, tôi đã hiểu được sự ngớ ngẩn của việc ghen tị với cuộc sống dường như tuyệt vời của người khác, và nhận ra rằng nguyên nhân thật sự của hạnh phúc là mong muốn chân thành mang lại hạnh phúc cho người khác và giúp họ giải thoát khỏi mọi sự bất mãn – đó chính là định nghĩa của tình yêu thương và lòng từ bi.

Từ bà Trinci, tôi nhận ra rằng chỉ biết những điều này thôi thì chẳng có giá trị gì. Nhận thức của chúng ta về một chân lý cần phải sâu sắc đến mức nó thật sự thay đổi hành vi của chúng ta. Chúng ta gọi đó là sự giác ngộ.

Từ những người xung quanh tôi thực hành chánh niệm, tôi nhận ra tầm quan trọng của việc chú tâm vào hiện tại nếu muốn trải nghiệm trọn vẹn sự phong phú của cuộc sống thường nhật. Chỉ khi hoàn toàn tỉnh thức với hiện tại, chúng ta mới có thể biến những nhận thức của mình thành hành động – và cũng có thể tận hưởng trọn vẹn từng tách cà phê.

Franc là người thầy của tôi về chứng "cục lông"[2] - sự nguy hiểm của việc chỉ nghĩ về bản thân mình đến mức phát ngán chính mình. Cũng nhờ ông mà tôi nhận ra rằng Phật pháp không phải là việc nói ra những nguyên tắc cao siêu, ăn mặc lòe loẹt hay tự xưng là Phật tử, mà là việc thể hiện những lời dạy ấy trong từng suy nghĩ, lời nói và hành động của mình.

Có một vị khách đáng chú ý vắng mặt trong dịp này. Đức Đạt Lai Lạt Ma đang trên đường trở về từ sân bay sau một chuyến đi ngắn ở nước ngoài. Tuy nhiên, sự hiện diện của ngài vẫn rất rõ rệt, hiện hữu trong mỗi người chúng ta trong căn phòng, cùng với thông điệp của ngài: “Tôn giáo của ta là lòng từ bi”. Là những Phật tử Tây Tạng, mục đích cốt lõi của chúng ta là bồ đề tâm, phát sinh từ lòng từ bi giúp đỡ tất cả chúng sinh tìm thấy hạnh phúc.

Mọi người tiếp tục kéo đến quán Café Franc—tôi chưa bao giờ thấy nơi này đông đúc đến thế. Quán gần như chỉ còn chỗ đứng khi Franc tiến lên phía trước và bước lên một bục nhỏ được dựng sẵn cho buổi lễ khánh thành.

Ai đó gõ mạnh vào một chiếc ly, và tiếng ồn ào trong phòng nhanh chóng lắng xuống, trở nên im lặng.

-“Cảm ơn tất cả mọi người đã đến,” Franc nói, liếc nhìn những khuôn mặt đang tụ tập. “Đây là một ngày rất đặc biệt đối với tất cả chúng ta trong cộng đồng quán cà phê. Và tôi không chỉ có một mà là ba thông báo.”

-“Lý do đầu tiên là vì sức khỏe của cha tôi ngày càng xấu đi, tôi sẽ rời quán Café Franc để chăm sóc ông ấy.”

Mọi người thốt lên đầy thông cảm và ngạc nhiên.

-“Tôi có thể ở San Francisco từ sáu đến mười hai tháng.”

Tôi để ý thấy Geshe Wangpo đang gật đầu tán thành.

-“Khi mới nhận ra mình phải đi, tôi đã tự hỏi phải làm gì với quán cà phê. Tôi không muốn phải đóng cửa nó”—sự thất vọng lan tỏa rõ rệt trong thính chúng—“nhưng tôi biết nó không thể tự vận hành được. Rồi, chỉ hai tuần trước, tôi đã vô cùng may mắn được gặp Serena Trinci, người vừa mới quản lý một số nhà hàng tốt nhất ở châu Âu.” Ông ra hiệu về phía người phụ nữ trẻ mặc váy đỏ mà ông đã giới thiệu suốt buổi tối. Cô mỉm cười rạng rỡ đáp lại.

-“Serena từng quản lý một nhà hàng hai sao Michelin ở Bruges, khách sạn Danieli ở Venice, và gần đây nhất là điều hành một trong những quán ăn sang trọng bậc nhất London. Nhưng cô ấy không thể tránh khỏi lời gọi trở về McLeod Ganj, và tôi rất vui mừng thông báo rằng cô ấy đã vui lòng nhận lời trông coi nhà trong thời gian tôi vắng mặt.”

Thông báo này được đón nhận bằng tràng vỗ tay nhiệt liệt và cái cúi đầu bày tỏ lòng biết ơn từ Serena. Bà Trinci nhìn con gái với vẻ mặt rạng rỡ đầy tự hào của người mẹ.

-“Từ lâu tôi đã băn khoăn làm thế nào để tận dụng tốt nhất khoảng không gian phía sau này,” Franc nói, vừa chỉ tay về phía khu vực khuất phía sau mình. “Tôi đã có một vài ý tưởng nhưng không biết làm thế nào để thực hiện chúng. Và rồi, trong một sự ‘trùng hợp’ kỳ lạ khác, đúng người phù hợp đã xuất hiện đúng lúc.” Ông gật đầu về phía Sam, người đang đứng gần đó.

-“Giờ tôi muốn mời giáo thọ và vị khách quý của tôi, Geshe Wangpo, chính thức khánh thành phần mở rộng mới này.”

Giữa những tràng vỗ tay lác đác, Geshe Wangpo cùng Franc bước lên bục và tiến đến chiếc nơ đỏ lớn. Ông định tháo nó ra thì chợt nhớ ra điều gì đó. “Ồ, đúng rồi. Tôi rất vui mừng thông báo về việc khai trương hiệu sách mới tuyệt vời này,” ông nói, sự ngập ngừng của ông khiến mọi người bật cười.

Mong rằng sự tồn tại của nó sẽ là nguyên nhân mang lại hạnh phúc và tránh khỏi khổ đau cho tất cả chúng sinh.

Khi ông kéo dải ruy băng, các tấm giấy bung ra, để lộ những hàng sách lấp lánh, những giá đựng đĩa CD và đủ loại quà tặng đầy màu sắc. Tiếng reo hò và vỗ tay vang lên đầy phấn khích. Franc mỉm cười khi Geshe Wangpo ra hiệu cho Sam lên bục cùng họ. Sam lắc đầu mạnh mẽ, nhưng Geshe Wangpo vẫn kiên quyết. Khi Sam đứng giữa hai người, tiếng vỗ tay càng lớn hơn, cho đến khi vị lạt ma giơ tay lên ra hiệu lệnh đầy uy quyền.

-“Những cuốn sách trong cửa hàng này,” ông nói, chỉ vào các tựa sách được xếp dọc trước mặt họ, “rất hữu ích. Tôi biết điều đó vì tôi đã kiểm tra rồi. Tôi nghĩ trong những tuần tới sẽ có nhiều tu sĩ từ tu viện Namgyal đến thăm. Có thể họ không có tiền để mua, nhưng họ sẽ xem qua.”

Cách nói chuyện nghiêm túc của Geshe Wangpo khiến mọi người cười rộ lên.

-“Người chọn sách này”—ngài quay lại và nắm lấy cánh tay Sam—“đã đọc rất nhiều sách. Nhiều hơn cả một số vị lạt ma tôi biết. Anh ấy có kiến thức uyên bác, nhưng hơi nhút nhát.” Ánh mắt vị lạt ma lóe lên vẻ tinh nghịch. “Vì vậy, quý vị phải kiên nhẫn với anh ấy.”

Thay vì cúi đầu xấu hổ, Sam dường như được tiếp thêm năng lượng bởi những lời nhận xét của Geshe Wangpo.

Đáp lại nụ cười của vị lạt ma, anh nhìn ra đám đông và nói lớn: “Chúng ta có một bộ sưu tập sách tuyệt vời ở đây. Tất cả các tác phẩm kinh điển cũ cũng như một số ấn phẩm mới nhất.”

Tôi có thể tự tin khẳng định rằng khu vực sách về tâm trí/thể chất/tinh thần ở đây được trang bị tốt hơn cả những hiệu sách lớn nhất của Mỹ. Tôi mong sớm được gặp lại tất cả các bạn.”

Sau lời phát biểu của Sam, một tràng vỗ tay vang lên. Bên cạnh anh, -Geshe Wangpo nở một nụ cười khó hiểu.

-“Tôi chắc chắn tất cả các bạn đều rất háo hức được đến khu vực mới”—Franc lại tiếp lời—“và các bạn sẽ rất vui khi biết rằng chúng tôi chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Nhưng trước đó, tôi có thông báo thứ ba. Đó là, kể từ bây giờ, Café Franc sẽ được đổi tên thành The Himalaya Book Café. Chúng tôi có một biển hiệu mới ở phía trước, được ra mắt lần đầu tiên tối nay.”

Một tràng vỗ tay kéo dài nữa.

-“Khi tôi mới bắt đầu kinh doanh ở đây, tất cả chỉ xoay quanh ẩm thực và, tôi không phủ nhận, tất cả đều xoay quanh bản thân tôi. Tôi rất vui khi nói rằng mọi thứ đã thay đổi kể từ đó. Giờ đây, chúng tôi hướng đến nhiều thứ hơn là chỉ ẩm thực. Và may mắn thay, chúng tôi đã phát triển vượt xa phạm vi của riêng tôi. Tôi vô cùng vinh dự được làm việc với đội ngũ nhân viên ở đây—Jigme và Ngawang Dragpa trong bếp, Kusali và nhóm của anh ấy ở phía trước, và giờ là Sam và Serena.”

-“Vậy nên, mọi người hãy thưởng thức đồ ăn và thức uống thật ngon miệng! Hãy mua sắm thật nhiều sách và quà tặng nhé! Tôi rất mong được gặp lại mọi người khi trở về từ San Francisco!”

Buổi tiệc ra mắt diễn ra vô cùng sôi nổi. Vừa bước chân vào hiệu sách, một hàng dài người mua háo hức đã xếp hàng trước quầy thu ngân. Trong nhà hàng, Franc và Serena đi lại giữa các nhân viên phục vụ trong khi họ liên tục bổ sung rượu sâm panh và rượu vang. Nhà hàng, nay đã trở thành một cửa hàng bách hóa, chưa bao giờ tràn đầy năng lượng, tiếng cười và niềm vui sống đến thế.

Mọi chuyện khác hẳn so với lần đầu tiên tôi đến quán Café Franc và suýt bị đẩy mạnh ra khỏi cửa. Tôi tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không đến đây với kỳ vọng ngây thơ về một bữa ăn ngon? Nếu Kyi Kyi không cần một mái nhà, hoặc Franc không được Geshe Wangpo nhận làm học trò, hoặc Sam không xuất hiện đúng lúc?

Có điều gì đó bí ẩn và khá thú vị về chuỗi sự kiện đã dẫn đến thời điểm này.

Và những sự kiện sẽ tiếp tục diễn ra.

Cuối buổi tối, khi dòng người đổ xô vào hiệu sách đã lắng xuống, Serena bước đến chỗ Sam đang đứng, từ đó có thể quan sát toàn bộ đám đông.

-“Thật là một buổi tối tuyệt vời!” Cô ấy rạng rỡ hạnh phúc.

-“Phải không?”

Tôi để ý thấy Sam cố gắng tránh nhìn xuống sàn và nhìn thẳng vào cô ấy, trên khuôn mặt nở một nụ cười bất lực.

Rồi cả hai bắt đầu nói cùng một lúc.

-“Anh nói trước đi,” cô ấy nói.

-“Không.” Anh ta ra hiệu về phía cô.

-“Tôi nhất quyết. Anh nói trước.”

Từ vị trí quan sát của mình, tôi có thể thấy những đốm đỏ lấm chấm trên cổ Sam. Giống như những đám mây giông đang tụ lại, những đốm đỏ ấy hòa quyện vào nhau tạo thành một làn sóng đỏ thẫm dâng lên đều đặn về phía cằm anh ta rồi đột nhiên dừng lại.

-“Tôi chỉ định đề nghị thôi,” anh ta bắt đầu, giọng to hơn mức cần thiết. “Vì chúng ta sẽ làm việc cùng nhau—”

-“Vâng?” Serena hỏi. Khi cô vuốt tóc ra sau, đôi bông tai của cô lấp lánh dưới ánh đèn.

-“Đó là một ý kiến hay, nhưng chỉ khi nào tôi có thời gian…”

-“Vâng?” Cô ấy gật đầu khuyến khích.

-“Ý tôi là, có lẽ chúng ta có thể gặp nhau vào lúc nào đó. Có thể là một bữa ăn?”

Cô ấy cười. “Tôi cũng định đề nghị y hệt vậy.”

-“Thật sao?”

-“Sẽ rất vui!”

-“Tối thứ Sáu nhé?”

-“Đồng ý!” Cô nghiêng người về phía trước và nhẹ nhàng hôn lên má anh.

Sam siết nhẹ cánh tay cô.

Ngay lúc đó, Franc bước ra từ đám đông phía sau họ. Anh ta bắt gặp ánh mắt của Sam qua vai Serena và nháy mắt.

Tối hôm đó, về nhà, tôi ngồi vào vị trí quen thuộc trên bệ cửa sổ. Đức Đạt Lai Lạt Ma, vừa trở về từ Delhi, ngồi trên ghế gần đó, đọc sách.

Cửa sổ mở, và cùng với hương thơm tươi mát của cây thông, dường như còn có một điều gì đó khác thoang thoảng trong không khí. Một niềm hy vọng về những điều tốt đẹp sắp đến.

Khi chứng kiến Đức Thánh Thiện đọc sách, tôi không khỏi nghĩ, như tôi thường nghĩ trong những khoảnh khắc chiêm nghiệm như thế này, rằng tôi thật may mắn biết bao khi được một người đàn ông tuyệt vời như vậy cứu giúp. Những hình ảnh về ngày hôm đó trên đường phố New Delhi vẫn hiện lên trong tâm trí tôi một cách bất chợt. Đặc biệt là những giây phút cuối cùng khi tôi được quấn trong tờ báo và dường như sinh lực của tôi sắp rời bỏ tôi.

-“Thật thú vị, Sư Tử Tuyết bé nhỏ của ta,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét -sau một lúc, khi ngài đóng sách lại và đến vuốt ve tôi.

-“Ta đang đọc về cuộc đời của Albert Schweitzer, người được trao giải Nobel Hòa bình năm 1952. Ông ấy là một người rất nhân hậu, rất chân thành. Ta vừa đọc được điều ông ấy nói:

“Đôi khi ánh sáng trong chúng ta vụt tắt, nhưng lại được thổi bùng lên một lần nữa nhờ cuộc gặp gỡ với một người khác. Mỗi chúng ta đều mang ơn sâu sắc nhất những người đã thắp lại ngọn lửa nội tâm ấy.” Tôi đồng ý với điều đó, phải không HHC?”

Nhắm mắt lại, tôi khẽ rên rỉ./.

 

GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ

David Michie là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất: Phật giáo dành cho người bận rộn, Hãy nhanh chóng thiền định và Giác ngộ để mang đi. Tất cả đều đã được xuất bản trên quốc tế và đang được dịch ra nhiều ngôn ngữ. David sinh ra ở Zimbabwe, học tại Đại học Rhodes ở Nam Phi và sống ở London mười năm. Ông đã kết hôn và hiện đang sống ở Perth, Úc.

.

Website: www.davidmichie.com

 



[1] chuyên gia phát triển bản thân Jack (Self-development Guru Jack) là một nhân vật hư cấu đại diện cho kiểu người "bậc thầy truyền cảm hứng" nhưng lại bất lực với chính hạnh phúc của mình.

[2] Búi lông (fur balls / furballs): Mèo thường liếm lông để làm đẹp, vô tình nuốt lông vào bụng tạo thành các búi lông gây tắc nghẽn, khó chịu và buộc phải nôn ra. Trong truyện, tác giả mượn hình ảnh này để ẩn dụ cho "sự ích kỷ""thói ái kỷ" (chỉ nghĩ đến bản thân). Khi một người quá bận tâm chăm chút cho cái tôi của mình (như mèo liếm lông quá đà), họ sẽ tự rước vào người những "búi lông" phiền não độc hại

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

ĐỨC PHẬT Ở ĐÂU? TỊNH ĐỘ Ở ĐÂU? NƠI NÀO THIÊNG LIÊNG NHẤT? TÂM TA NƠI TA THẤY PHẬT, PHÁP, TĂNG.

 Where is Buddha? Where are Purelands? Where is the most Sacred Place? “Your mind” is where you’ll find Buddha, Dharma and Sangha

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Bồ Đề Đạo Tràng có phải là nơi linh thiêng nhất trên Trái đất đối với Phật tử không? Mặc dù chắc chắn là một nơi đặc biệt, nhưng nó không phải là nơi linh thiêng nhất trên trái đất. Chamtrul Rinpoche sẽ cho chúng ta biết nơi linh thiêng nhất trong toàn vũ trụ:

Phật tử ư? Mặc dù nơi này chắc chắn rất đặc biệt, nhưng nó không phải là nơi linh thiêng nhất trên trái đất. Chamtrul Rinpoche sẽ cho chúng ta biết nơi linh thiêng nhất trong toàn vũ trụ:

“Nơi linh thiêng nhất trong vũ trụ là ở trong tâm chúng ta. Trong ấy ta sẽ tìm thấy  Đức Phật.”

 Đức Phật ở đâu?

 Đức Phật, Pháp và Tăng ở đâu? Ta sẽ thấy trong chính tâm ta (Phật), lời nói (Pháp) và hành động (Tăng.)

Hình ảnh 1: Tâm là không gian linh thiêng nhất trong Phật Giáo. Chính là trong tâm chúng ta mà chúng ta gặp Phật, Pháp, và Tăng.

Điều khơi nguồn cho tính năng này là một bài viết về bốn thánh địa của Phật giáo. Chắc chắn, những địa điểm vật chất này rất đặc biệt. Nhưng chúng không phải là Nơi linh thiêng nhất trong vũ trụ. Chính Đức Phật đã cảnh báo các đệ tử của mình không nên coi bất kỳ địa điểm hay vật phẩm (xá lợi) nào là linh thiêng. Ngài lo ngại rằng thân thể của mình sẽ trở thành xá lợi — điều này quả thật đã xảy ra, khi hết bảo tháp này đến bảo tháp khác mọc lên sau khi Ngài nhập Niết bàn.

Nhưng hành hương linh thiêng – gần nhất là tâm ta

Trong khi thật sự là Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya - 16.5) đặc biệt chỉ rằng có phước đức khi thăm viếng những nơi hành hương “Linh thiêng”, nhưng nó không có nghĩa đây là những nơi linh thiêng nhất. Nếu ta tìm kiếm nơi “Linh thiêng nhất”, không tìm đâu xa hơn tâm ta.

Zasep Rinpoche, trong một bài giảng online, trong khi thảo luận về “yoga ngũ” và “yoga mơ” vốn là chúng ta có thể “viếng thăm nhưng địa điểm Linh Thiêng mà không cần hộ chiếu. Chúng ta thăm viếng những nơi ấy trong tâm ta. Trong giấc mộng của ta. Ta có thể thực hiện một cuộc hành hương mỗi ngày trong cách này.

Tâm Quang Minh Là Một Địa Điểm Linh Thiêng

Tâm quang minh của chính ta – trong Sanskrit prabhāsvara-citta or ābhāsvara-citta and in Pali pabhassara cittalà những nơi Linh Thiêng Nhất. Đây là tại sao, trong Kim Cang Thừa và trong Phật Giáo Tây Tạng, những từ ngữ “tâm linh quang” hay chỉ là “linh quang” là thường được dùng. Mục tiêu, trong tất cả những sự quán tưởng – và cuối cùng trong đời sống của chúng ta – là tịnh hóa tâm ta vì thế để chúng ta có một tâm quang minh.

Đây không chỉ là một khái niệm của Phật giáo Mật tông. Phật giáo Kim Cang thừa tập trung rất nhiều vào Ánh Sáng Thanh Tịnh, nhưng prabhāsvara-citta (Tâm Quang Minh) xuất hiện trong nhiều kinh điển Đại thừa và một số kinh điển Pali. Trong Phật giáo Theravada, tâm quang minh được đồng nhất với Bhavana hay sự “tu tập”. Trong Phật giáo  Đại thừa, nó được liên kết với Tathagatagarbha (Phật tánh, xem bên dưới). Trong Phật giáo Kim Cang Thừa, thay vì “thiền định” về tâm linh quang, chúng ta “diễn tập” và quán tưởng — một buổi diễn tập chuẩn bị cho hành trình thực sự hướng đến linh quang (ánh sáng trong suốt). Chính cuộc hành trình đó đưa chúng ta đến những nơi thiêng liêng nhất trong tâm. Cuối cùng, trong Mật tông Kim Cang thừa, khi chúng ta đã sẵn sàng, chúng ta thiền định về tâm quang minh và sáng chói này trong đại thủ ấn, đại toàn thiện và các Mật tông Yoga tối thượng.

Làm Cho Tâm Ta Là Một Nơi Linh Thiêng

Hằng ngày Phật tử quy y Phật, Pháp và Tăng. Chúng ta tìm ba ngôi tôn quý này ở đâu. Theo Chamtrul Rinpoche, “Nơi linh thiêng nhất trong vũ trụ là trong tâm ta. Ở trong ấy ta sẽ tìm thấy  Đức Phật.”

Mở rộng tuệ giác này, chúng ta có thể nói rằng, chúng ta sẽ tìm thấy Pháp thiêng liêng trong lời nói của chúng ta khi chúng ta tán tụng mật ngôn và kinh điển. Chúng ta sẽ tìm thấy Tăng linh thiêng nhất, trong những hành vi của các Pháp lữ, kể cả chính chúng ta.  Đức Phật là một nhà khai phá tiên phong.

Hình 2: Làm tâm ta là một Tịnh độ. Tâm luôn luôn bận rộn, bận rộn, bận rộn. Qua chánh niệm, chúng ta có thể xem tâm bận rộn. Qua thời gian, qua quán tưởng, và những sự thực tập nâng cao, chẳng hạn như đại toàn thiện, đại thủ ấn, thì chúng ta có thể  thoáng thấy tâm quan minh và “linh quang.”

Cho dù chúng ta đang tìm kiếm để gặp  Đức Phật Thích Ca, Quán Thế Âm, Tara, Mã Đầu Minh Vương, Văn Thù Sư Lợi, hay bất cứ  Đức Phật nào, thì Tịnh độ của các ngài không là nơi nào khác hơn là chính không gian tâm thức của chúng ta.

Tại sao điều này là quan trọng? Tịnh hóa Tâm và tìm kiếm Tịnh Độ.

Tại sao là quan trọng để biết rằng tâm thức chúng ta là nơi thiêng liêng cùng tột? Không chỉ bởi vì mỗi phương pháp hành thiền Phật Giáo đều liên hệ đến “tâm” – từ chánh niệm đến quán tưởng đến sự sùng kính – nhưng bởi vì tâm, trong Phật Giáo, là một sự tương tục vốn siêu việt lên trên bất cứ đời sống nào.



Hình 3: Đức A-di-đà tại cõi Tịnh độ của Ngài theo phong cách truyền thống "lý tưởng hóa". Trên thực tế, có ba cách "hiểu" về Tịnh độ, và cách hiểu cao thâm nhất chính là nhận biết rằng chúng ta đi vào cõi Tịnh độ ngay trong tâm mình (Duy tâm Tịnh độ). Nếu chúng ta thanh tịnh hóa tâm mình, như đã được mô tả trong Kinh Duy Ma Cật, điều đó giống như việc lau sạch tấm kính cửa sổ bám đầy bụi bẩn trong phòng để thoáng nhìn thấy bầu trời xanh tuyệt đẹp bên ngoài. Bằng cách thanh tịnh hóa dòng tâm thức, chúng ta có thể trải nghiệm được tự tánh quang minh, ánh sáng tịnh quang và cõi Tịnh độ.

Trong kinh Duy Ma Cật,  Đức Phật Thích Ca đã dạy chúng ta rằng để thấy cõi Tịnh Độ, thì chúng ta chỉ cần tịnh hóa tâm thức chúng ta. Ngài nói rằng, chúng ta phải tịnh hóa tâm thức chúng ta và chúng ta sẽ thấy sự thanh tịnh của vũ trụ (tâm tịnh Phật độ tịnh). Sự thanh tịnh của tâm thức của chính chúng ta là Tịnh Độ. Ngài đã sử dụng thí dụ của một căn không có cửa và cửa sổ đầy bụi. Bên ngoài là một bầu trời xinh đẹp, một thế giới xinh đẹp, nhưng chúng ta khép kín trong một phòng nhỏ với ý chí của chúng ta, thì không thể thấy thế giới xinh đẹp bên ngoài. Chỉ khi chúng ta cành một khoảnh khắc để lau cửa sổ, chúng ta có thể sự trong sáng của nó. Trong ẩn dụ, ngày xinh đẹp bên ngoài là Vũ Trụ của mọi thứ (Là tính nhất thể và tánh không),cửa sổ là tâm thức chúng ta với bụi bẩn che phủ cửa sổ là những cảm xúc chướng ngại của tham, sân, và si vốn kết chặt chúngta với luân hồi sanh tử.

Thực hành Phowa và Cõi Tịnh Độ

Một cách để tự mình trải nghiệm Cõi Tịnh Độ như là “tâm” là thực hành Phowa Tây Tạng. Trong thực hành Phowa có hướng dẫn, chúng ta hình dung tâm của mình được “đẩy ra” khỏi thân thể (một hình thức thiền xuất hồn trong Phật giáo) và đi lên “trái tim” của Đức Phật. Trong Phật giáo, luân xa tim thường là nơi “tâm” cư ngụ. Khi chúng ta đẩy ý thức của mình từ trái tim mình lên trái tim của Đức Phật, chúng ta đang đi đến “Cõi Tịnh Độ” của Đức Phật đó. Cõi Tịnh Độ là những tâm hoàn hảo của các vị Phật giác ngộ. Trong trường hợp của chúng ta, khi thực hành “phowa”, đó là một quán tưởng “diễn tập”.

Mặc dù thông thường cần có sự hướng dẫn của một người thầy, việc thực hành Phowa  Đức Phật A Di Đà (Amitabaha Powa) được coi là phù hợp với bất kỳ ai. Dưới đây là một video ngắn về Hòa thượng Zasep Tulku Rinpoche hướng dẫn một buổi thực hành Powa với các bài quán tưởng:

Video of Guided Power Purelands Meditation:

Các Cấp Độ Khác Nhau của Tịnh Độ và Tịnh Tâm

"Sư cô Annabel Laity, Viện trưởng Tu viện Rừng Phong (Maple Forest Monastery), đã viết: 'Có các cấp độ niềm tin khác nhau về Tịnh Độ, và cấp độ cao nhất trong giáo lý Tịnh Độ chính là tâm bạn là Tịnh Độ, Tịnh Độ luôn có mặt ngay trong tâm bạn.' [3] Điều đó không có nghĩa là hạ thấp các tầng bậc hiểu biết khác về Tịnh Độ, chẳng hạn như một nơi chốn mà chúng ta thực sự có thể tái sinh vào — thông qua phước đức của chính mình và sự hộ niệm của các bậc Giác ngộ, như Đức Phật A Di Đà."

Hình 2: Thiền định là con đường dẫn đến Cõi Tịnh độ. Thanh lọc là phương pháp chúng ta sử dụng để loại bỏ những chướng ngại, giúp nhìn thấy thực tại như bản chất vốn có của nó.

Tâm bất biến - Tâm vĩnh cửu - Chân tâm vĩnh hằng

Theo thế giới quan Phật giáo, chúng ta tiếp diễn từ đời này sang đời khác qua một dòng tâm thức vi tế (tế vi tâm tương tục). Quan trọng hơn hết, nếu thấu hiểu triết học Tánh Không (Shunyata), chúng ta sẽ nhận ra rằng dòng tâm thức của mình không hề tách biệt với 'tha nhân' (những cái khác). Một khi phá vỡ được khái niệm giới hạn về tính nhị nguyên, chúng ta sẽ hiểu rằng, xét về mặt cứu cánh, không có sự phân biệt giữa Phật và chúng sinh, cũng như không có sự tách biệt giữa 'tự ngã' và 'tha nhân'.

Hình 2: Thiền định là con đường dẫn đến Cõi Tịnh độ. Thanh lọc là phương pháp chúng ta sử dụng để loại bỏ những chướng ngại, giúp nhìn thấy thực tại như bản chất vốn có của nó.

Tương tự như trong Vật lý lượng tử, nơi mà 'tự ngã' chỉ là một ảo tưởng 'dai dẳng' (theo Einstein), Phật giáo Đại thừa cũng nhìn nhận như vậy. Xét về mặt cứu cánh, vạn vật là Một (Vạn vật nhất thể). Đây là một khái niệm then chốt trong giáo lý quan trọng của Đại thừa về Phật tánh. Tất cả chúng sinh, từ loài côn trùng nhỏ bé cho đến con người, đều có Phật tánh

 [For a feature on Buddha Nature, see>>]{Tại Sao Phật Tánh Là Quan Trọng Nhất Trong Phật Giáo  Đại Thừa }

Ý thức về bản thân của chúng ta nảy sinh một phần từ “nhận thức” của chúng ta. Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều về “nhận thức” và tính bất khả sai lầm của các giác quan trong việc giải thích “thực tại nhận thức”. Xét cho cùng, Phật giáo chắc chắn là một con đường thiền định tuyệt vời. Tương tự, Vật lý lượng tử cũng suy ngẫm về những khái niệm này về cái gì là thật, cái gì là ảo ảnh.


Hình 4: Guru Rinpoche, vị Phật thứ hai, đôi khi được coi là Phật “Lượng tử”. Ngài đã giảng dạy những phương pháp vượt lên trên thực tại thông thường và giúp mang lại sự hiểu biết mới về tâm trí và bản chất của thực tại. For a full feature on Guru Rinpoche, the Quantum Buddha, see>>

Khái Niệm Lượng Tử Về Thực Tại Tri Giác

Sau đó, ở cấp độ cao nhất của không gian “tâm trí” là toàn bộ khái niệm lượng tử về thực tại tri giác. Albert Einstein đã viết:

“Con người là một phần của toàn thể, mà chúng ta gọi là ‘vũ trụ’, một phần bị giới hạn trong thời gian và không gian. Anh ta trải nghiệm bản thân, suy nghĩ và cảm xúc của mình như một thực thể tách biệt với phần còn lại — một loại ảo ảnh thị giác của ý thức. Ảo ảnh này là một loại nhà tù đối với chúng ta, giam hãm chúng ta trong những ham muốn cá nhân và sự giả tạo đối với một vài người thân cận. Nhiệm vụ của chúng ta phải là giải thoát bản thân khỏi nhà tù này bằng cách mở rộng vòng tròn lòng trắc ẩn – từ bi của mình để bao trùm tất cả các sinh vật sống và toàn bộ thiên nhiên trong vẻ đẹp của nó. Thực tại chỉ là một ảo ảnh, mặc dù là một ảo ảnh rất dai dẳng.” — Trích từ thư gửi Tiến sĩ Robert Marcus, ngày 12 tháng 2 năm 1950

“Ý tưởng về một thế giới thực khách quan mà các phần nhỏ nhất tồn tại một cách khách quan theo cùng nghĩa với đá hoặc cây cối tồn tại, độc lập với việc chúng ta có quan sát chúng hay không… là điều không thể” [1]

Nơi chúng ta tìm thấy Phật, Pháp, Tăng

Có vẻ quá đơn giản khi kết luận từ Vật lý lượng tử rằng nơi ta tìm thấy Thân, Khẩu và Tâm của Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, là trong chính thân, khẩu và tâm của chúng ta. Việc đào sâu khái niệm này nằm ngoài phạm vi của bài viết này, ngoài việc sử dụng nó như cách diễn đạt tao nhã nhất cho ý tưởng rằng “nơi” chúng ta có thể gặp Phật là trong chính Tâm của chúng ta — được nuôi dưỡng bởi các kích thích giác quan. Chúng ta đọc về Phật và tưởng tượng. Chúng ta tụng niệm giáo lý và thấu hiểu. Vì tâm của chúng ta không tách rời khỏi tâm của Phật, nên không còn nơi nào khác để tìm kiếm.

Đây cũng là lý do tại sao trong Phật giáo Kim Cang thừa, đặc biệt, chúng ta nhấn mạnh đến quán tưởng (tưởng tượng vị Phật giác ngộ bằng “tâm trí”), kết hợp với mật ngôn và tụng niệm (lời nói), và thủ ấn hay hành động (thân). Điều này tượng trưng cho sự hiểu biết của chúng ta về sự Nhất thể với Phật, Pháp và Tăng. Trên thực tế, nó vượt xa ý nghĩa tượng trưng. Chúng ta thật sự đang gặp gỡ Đức Phật, nghe Pháp và kết nối với Tăng đoàn một cách rất thực tế.


Hình 5: Đức Phật đã dạy chúng ta những phương pháp giúp khám phá bản chất thực sự của thực tại.

Chánh Niệm và Sự Trọn Vẹn Tâm Trí

Một lý do Đức Phật dạy chánh niệm như một phương tiện chính yếu để chuyển hóa chúng ta là vì Ngài nhấn mạnh đến Tâm – không chỉ như một nơi thiêng liêng, mà còn là chính thứ chi phối toàn bộ thực tại (được nuôi dưỡng bởi các kích thích giác quan). Chánh niệm, theo một số cách, là nền tảng của mọi thực hành Phật giáo, cho dù chúng ta tập trung vào hành vi đạo đức trong cuộc sống hàng ngày hay các thực hành nâng cao như quán tưởng.

Khi Einstein viết “nhiệm vụ của chúng ta là giải thoát bản thân khỏi nhà tù này” (trích dẫn ở trên), ông không chỉ phản ánh những quan sát của riêng mình mà còn cả những quan sát của các bậc hiền triết và nhà khoa học vĩ đại trong suốt lịch sử, kéo dài đến tận Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Các phương pháp của Đức Phật — từ chánh niệm đơn giản đến quán tưởng Kim Cang thừa phức tạp — đều hướng đến mục tiêu chính là hiểu được bản chất thật sự của thực tại. Tính Không (Shunyata) trong Phật giáo không khác gì các lý thuyết lượng tử về vũ trụ.

Chúng ta sẽ gặp Đức Phật ở đâu? Trong tâm trí của chúng ta. Cuối cùng, chúng ta sẽ “quan sát” được bản chất thật sự của thực tại ở đâu? Trong tâm trí của chúng ta. Không còn nơi nào khác để đến. Không cần phải hành hương. Chúng ta đã ở “nơi linh thiêng nhất trong vũ trụ” – chính là tâm trí của chúng ta.


Hình 6: Thiền chánh niệm, như Đức Phật đã dạy cách đây hàng nghìn năm, có thể là con đường dẫn đến sức khỏe — cùng với sự Giác ngộ.

 

NOTES

[1] The Responsive Universe, John C. Bader, Wisdom Moon Publishing, ISBN-10: 1938459288, ISBN-13: 978-193845928

[2] Scientific American What Does Quantum Theory Actually Tell Us about Reality?

https://buddhaweekly.com/the-holiest-place-in-the-universe-is-your-own-mind-there-is-no-need-to-look-elsewhere-for-buddha-dharma-and-sangha/

 

 

 

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

GIỮA BỒ TÁT VÀ LA HÁN

Tác giả: Ajahn Amaro
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Bài luận này sẽ phân tích các lập luận ủng hộ và phản đối lý tưởng La Hán và Bồ Tát, những lý tưởng thường gây chia rẽ trong giới Phật tử. Ajahn Amaro, trụ trì của tu viện Phật giáo Amaravati, đề xuất một hướng giải quyết cho cuộc tranh luận đầy mâu thuẫn này.

***

Một đệ tử Phật giáo hỏi: “Theo thầy, con đường nào là tốt nhất: con đường của La Hán hay con đường của Bồ Tát?”

“Câu hỏi kiểu đó chỉ những người hoàn toàn không hiểu gì về Phật giáo mới hỏi!” Ajahn Sumedho đáp.

Đừng làm La Hán, đừng làm Bồ Tát, đừng làm bất cứ điều gì cả—nếu bạn làm bất cứ điều gì, bạn sẽ đau khổ.” — Ajahn Chah

Một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong Phật giáo phương Tây là sự khác biệt giữa mục tiêu được nêu rõ của hai trường phái Bắc tông và Nam tông. Trong truyền thống Bắc tông, mục tiêu thường được diễn đạt là tu tập con đường bồ tát qua nhiều kiếp sống vì lợi ích của tất cả chúng sinh, đỉnh điểm là đạt được Phật quả. Kinh điển và nghi lễ của truyền thống này chứa đựng rất nhiều nguyên tắc bồ tát, và đối với những người thực hành theo truyền thống này, việc thọ giới bồ tát là điều bình thường. Trong truyền thống Nam tông, lý tưởng tâm linh được đề cao thay vào đó là sự chứng ngộ La Hán – sự chứng ngộ Niết bàn và chấm dứt luân hồi ngay trong kiếp này. Nguyên tắc bồ tát hầu như không được nhắc đến, ngoại trừ việc được đề cập trong Truyện Tiền Thân-Jataka, những câu chuyện về tiền kiếp của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Lý do chính để đi sâu vào sự khác biệt này là vì mọi người thường so sánh lý tưởng La Hán và Bồ Tát và đặt câu hỏi nên theo con đường nào. Mục đích ở đây không phải là tranh luận và bảo vệ một quan điểm cụ thể nào, mà là làm sáng tỏ hơn một chút về mục tiêu của việc tu tập Phật giáo và thuật lại một số điều mà kinh điển và truyền thống đã nói về vấn đề này qua nhiều thế kỷ.

Góc nhìn từ phương Bắc, góc nhìn từ phương Nam

Ngày nay, hai truyền thống này thường có dịp gặp gỡ. Có rất nhiều giáo lý Phật giáo khác nhau, và nhiều người đã được truyền cảm hứng từ các bậc thầy thuộc các dòng truyền thừa khác nhau. Chúng ta đọc một cuốn sách khuyến khích chúng ta thoát khỏi tham lam, thù hận và si mê, thoát khỏi vòng luân hồi bất tận, và chúng ta cảm thấy, “Đúng vậy, đó chính là điều mình cần!” Rồi chúng ta đọc về những bậc hiền triết từ bi, những người mà mối quan tâm chính là ở lại thế gian để làm giảm bớt khổ đau cho người khác, và một lần nữa trái tim lại rộn ràng – “Thật tuyệt vời!”

Vậy hai con đường này có mâu thuẫn hay tương thích với nhau? Chúng dẫn đến những mục tiêu khác nhau, hay có thể cùng một mục tiêu? Liệu chúng thực chất có phải là cùng một con đường nhưng mang những tên gọi khác nhau?

Theo thời gian, cả hai truyền thống đều phát triển những lời phê bình lẫn nhau và sau đó truyền lại những lời phê bình này như là kiến ​​thức được thừa nhận. Khi tất cả những gì chúng ta có thể dựa vào là quan điểm đã được thiết lập, những lời phê bình này dường như là những đánh giá hợp lý. Một số quan điểm từ phương Nam lập luận rằng, “Các trường phái Đại thừa không phải là Phật giáo chân chính; họ đã tự viết kinh điển của riêng mình và đã đi lạc khỏi con đường chân chính của Đức Phật, đó là chứng ngộ Niết bàn và chấm dứt luân hồi.” Mặt khác, những tiếng nói từ phương Bắc lại nói rằng, “Phật tử Theravada là tiểu thừa; họ chỉ tuân theo những lời chỉ dẫn sơ bộ nhất của Đức Phật. Đức Phật đã đưa ra những giáo lý cao siêu hơn nhiều, đó là giáo lý của Đại thừa và Tối Thượng thừa, và đó là những giáo lý mà chúng ta tôn kính nhất.”

Tuy nhiên, cả hai loại người tu tập đều phải vật lộn với những nghi ngờ như: “Liệu tôi có đang có quan điểm cản trở nếu tôi coi thường các vị La Hán?” Hay, “Liệu tôi có đang tuân theo một lý tưởng thấp kém nếu tôi bác bỏ giới luật Bồ Tát?”

Ngoài những vấn đề cá nhân như vậy, câu chuyện càng trở nên phức tạp hơn khi chúng ta xem xét chính các kinh điển. Khi nghiên cứu, chúng ta phát hiện ra một số điểm bất thường kỳ lạ và quan trọng trong cả giáo lý của trường phái Bắc tông và Nam tông. Khi học tập với một bậc thầy tâm linh, điều tự nhiên nhất trên đời là muốn noi theo người đó và con đường mà người đó đã theo. Tuy nhiên, trong Kinh điển Pali, chủ đề về sự tu tập bồ tát của Đức Phật không bao giờ được đề cập đến. Không một ai hỏi về điều đó. Không ai hỏi, “Điều gì đã khiến ngài chọn trở thành Phật?” hay “Một người bình thường như tôi cũng có thể theo đuổi con đường đó được không?” hay “Tôi nên hướng đến Phật quả hay mục tiêu dễ đạt được hơn là La Hán?”

Không có gì cả. Không một chữ nào. Giống như một cuốn tiểu sử về Winston Churchill mà lại bỏ sót vài nhiệm kỳ ông làm thủ tướng.

Tại sao vấn đề này lại không bao giờ được đề cập đến?

Trong truyền thống phương Bắc, cũng có một điều bất thường bí ẩn tương tự. Ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật không có ý định giảng dạy. Ngài nhận thấy rằng sự ràng buộc với thế gian quá lớn và sự tinh tế trong quá trình giác ngộ của Ngài quá cao siêu đến nỗi người khác đơn giản là sẽ không hiểu được.

Nếu lòng thương xót đối với chúng sinh là động lực chính thúc đẩy Ngài tu tập những phẩm chất tâm linh hoàn hảo trong nhiều kiếp sống – trong “bốn a tăng kỳ kiếp và một trăm ngàn đại kiếp” theo kinh sách – thì tại sao Ngài lại cảm thấy việc cố gắng là vô ích? Thật bí ẩn.

Vấn đề của chủ nghĩa bộ tộc

Nếu chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của xung đột và suy ngẫm về các giải pháp khả thi, điều đầu tiên chúng ta gặp phải là: Vấn đề chính xác là gì?

Khi đọc những văn bản ca ngợi đức hạnh của La Hán và Bồ Tát, cả hai đều hiện lên như những khát vọng cao cả. Thật tuyệt vời khi chúng ta có thể phát triển được sự thanh tịnh và trí tuệ như vậy! Rõ ràng, không phải bản thân lý tưởng là nguồn gốc của bất kỳ xung đột nào; mà chính nguồn gốc của vấn đề là con người—cụ thể hơn, là vấn đề chủ nghĩa bộ tộc. Đó là một “bãi mìn” lớn: thông qua lòng trung thành sai lầm với nguồn gốc của mình—đây là đội của tôi, dòng dõi của tôi—chúng ta lợi dụng trí tuệ để bảo vệ nhóm của mình, thường xuyên bóp méo sự thật và triết lý để giành chiến thắng trong cuộc tranh luận.

Dù là các đội bóng đá, mâu thuẫn gia tộc hay dòng truyền thừa Phật giáo, động lực đều giống nhau: đầu tiên, chúng ta nắm bắt một số đặc điểm của đối phương để chỉ trích; sau đó chúng ta bước vào mê cung của việc bảo vệ lập trường; cuối cùng, chúng ta bỏ lỡ thực chất của điều mà chúng ta đang tranh chấp ngay từ đầu. Mặc dù ý định của một cuộc tranh luận có thể rất cao cả, nhưng sắc thái cảm xúc chi phối nó có thể mang tính bản năng và hung hăng sâu sắc, cũng như mang tính chiếm hữu. Chúng ta có thể tuân thủ các quy tắc và nghi thức phù hợp, nhưng vẫn bị chi phối bởi bản năng nguyên thủy.

Vấn đề thật sự, do đó, thường không phải là triết học; mà là những tổn thương về mặt tình cảm. Điều có lẽ bắt đầu như một cuộc thảo luận tâm linh thân thiện bằng cách nào đó đã biến thành một cuộc cạnh tranh gay gắt vài thế kỷ sau đó. Những lời chỉ trích được đưa ra qua lại và chúng biến thành những lời lăng mạ xúc phạm, cho đến khi các phe phái khác nhau đâm nhau bằng những nhát dao bằng lời nói, và mỗi nhóm đối lập đều bị gán cho những định kiến: Bất cứ ai khao khát đạt đến trạng thái La Hán đều là kẻ theo chủ nghĩa hư vô ích kỷ; tất cả những người thọ giới Bồ Tát rõ ràng là những kẻ dị giáo theo chủ nghĩa vĩnh cửu.

Nhiều truyền thống tâm linh kể câu chuyện về những người mù và con voi. Chẳng phải điều đó rất đáng suy ngẫm khi chúng ta hiếm khi nghĩ mình là một trong những người mù sao? Chúng ta thích tự coi mình là người đứng xem cuộc cãi vã đáng thương của những người không thấy. Tuy nhiên, thật đáng suy ngẫm khi thấy chúng ta dễ dàng bị cuốn vào kiểu chắc chắn sai lầm và lập trường dựa trên sự gắn bó với quan điểm và ý kiến ​​của mình như thế nào. Chúng ta chắc chắn đến mức: “Đây không phải là ý kiến, mà là sự thật!”

Ngay cả khi “sự thật” có thể chứng minh được 100%, nếu chúng ta sử dụng nó như một vũ khí thì nó sẽ trở thành, như Ajahn Chah đã nói, “Đúng về sự thật, nhưng sai về giáo pháp”. Đôi khi chính lòng thành kính, chứ không phải sự tiêu cực, mới tạo ra những sự đối lập như vậy. Có lần, khi Ajahn Chah đến thăm nước Anh, một người phụ nữ có mối liên hệ lâu năm với truyền thống Phật giáo rừng Thái Lan đã đến gặp ông. Bà ấy rất lo lắng:

“Con vô cùng kính trọng trí tuệ của thầy nhưng con cảm thấy không thoải mái khi học tập, quy y và giới luật với thầy; con cảm thấy mình đang bất trung với sư phụ của con, Ajahn Maha-Boowa.”

Ajahn Chah đáp, “Tôi không thấy có vấn đề gì. Ajahn Maha-Boowa và tôi đều là đệ tử của Đức Phật.”

Chúng ta có thể khám phá những giáo lý và truyền thống khác nhau này với tinh thần cởi mở không thiên vị và, hy vọng, trân trọng bức tranh toàn cảnh về con đường của Đức Phật với con mắt “chân lý”. Thông qua kiểu tìm tòi này, có lẽ chúng ta có thể tìm ra cách giải quyết những xung đột cổ xưa này.

Con đường Trung đạo

Nếu những khó khăn nảy sinh qua nhiều thế kỷ có thể quy cho việc giữ lập trường bất hòa, thì một cách để giải quyết chúng là thông qua việc thực hành bất tranh chấp. Đức Phật từng nói rằng toàn bộ giáo lý của Ngài có thể được tóm tắt là: “Không nên bám chấp vào bất cứ điều gì”. Tinh thần bất tranh chấp và không bám chấp như vậy tiếp cận nguyên tắc cốt lõi của con đường trung đạo. Việc khéo léo từ chối chọn một quan điểm cụ thể và bám chấp vào nó phản ánh chánh kiến; nó cũng thể hiện nỗ lực cần thiết để đạt được sự giải quyết. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để chúng ta tìm thấy con đường trung đạo bí ẩn này – nơi không bám chấp, nơi không tranh chấp?

"Trung đạo" có thể mang nhiều nghĩa khác nhau. Thậm chí, các chính trị gia còn dùng thuật ngữ này để mô tả kế hoạch chiến tranh của họ. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ đó biểu thị nguyên tắc cơ bản mà Đức Phật đã nhận ra khi giác ngộ. Nó đề cập đến sự thấu hiểu về giác ngộ vượt lên trên các phạm trù sau này của Phật giáo Theravada,  Đại thừa và Kim Cang thừa.

“Trung đạo” là một cách diễn đạt thông dụng hàng ngày. Điều này khiến nguyên tắc này trở nên dễ tiếp cận; tuy nhiên, nó cũng che giấu đi chiều sâu ý nghĩa của nó. Trong bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, Ngài đã đồng nhất trung đạo với Bát Chánh Đạo, từ đó định nghĩa nó như một phẩm chất bao hàm toàn bộ sự tu tập tâm linh.

Theo nghĩa ban đầu, đó là một giáo lý bao quát toàn diện. Đúng như dự đoán, trong những năm sau đó và ở một số vùng nhất định, nó trở thành biểu tượng của một trường phái cụ thể—trường phái dựa trên triết lý Trung Đạo (Madhayamaka) của tôn giả Long Thọ (Acharya Nagarjuna). Trường phái này khác biệt với các nhóm khác như Duy Thức, Tỳ Bà Sa và Kinh Lượng bộ (Chittamatrans, Vaibashikas và Sautrantikas). Vì vậy, mặc dù ban đầu nó là một nguyên tắc phổ quát, ý nghĩa của "con đường trung đạo" đã thu hẹp lại phần nào trong phạm vi này, trở thành một biểu tượng bộ tộc khác.

Mặc dù thuật ngữ này không được sử dụng ở đây theo nghĩa hẹp hơn, nhưng việc tìm hiểu xem sự thấu hiểu của Long Thọ được thúc đẩy bởi điều gì vẫn rất thú vị. Bởi vì chính trong nguyên tắc trung tâm của con đường trung đạo—và đặc biệt là trong việc phân tích cảm giác về sự tồn tại và về “bản ngã”—mà chúng ta tìm thấy phương tiện để dung hòa các quan điểm trái ngược.

Trong một cuộc đối thoại quan trọng giữa Đức Phật và Maha-Kaccana, Đức Phật nói:

“Tất cả đều tồn tại,” Kaccayana, đây là một thái cực, “Tất cả đều không tồn tại,” đây là thái cực khác. Không nghiêng về bất kỳ thái cực nào trong hai thái cực này, Như Lai dạy giáo pháp bằng con đường trung đạo.
Bộ Kinh Tương Ưng (Samyutta Nikaya 12.15)

Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa bài giảng này, được tìm thấy trong Kinh điển Pali, và những lời của Long Thọ trong Luận về Căn bản Trung đạo. Văn bản sau này được coi là nền tảng của phong trào Đại thừa, và nó đã định hình phương pháp tiếp cận của trường phái Bắc tông trong suốt 1800 năm qua. Trớ trêu thay, nó không hề đề cập đến những yếu tố đặc trưng của Bắc phái như bồ tát và bồ đề tâm. Thật vậy, các học giả như Kalupahana và Warder đã chỉ ra rằng thực chất không có gì đặc biệt "Đại thừa" trong những gì nó nói.

Long Thọ đề cập đến cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Maha-Kaccana; hơn nữa, ngài viết:

“Sự tồn tại” là sự bám víu vào sự vĩnh hằng; “sự không tồn tại” là quan điểm về sự diệt vong. Do đó, người khôn ngoan không sống trong sự tồn tại hay sự không tồn tại.
Căn Bản Trung Quán Luận Tụng (Mulamadyamakakarika 14.10)

Cả hai giáo lý đều chỉ ra cách nhận biết cảm giác về bản ngã, cách nhìn thấu nó, và cuối cùng là cách giải thoát khỏi sự thống trị của bản ngã. Cả hai đều cho thấy rằng việc bám víu vào cảm giác về bản ngã là điều chủ yếu cản trở việc nhận biết con đường trung đạo.

Những lời dạy này chỉ ra rằng, đúng là có cảm giác về bản ngã, nhưng chúng cũng làm rõ rằng cảm giác về “tôi” phát sinh do các nguyên nhân. Những nguyên nhân này là những thói quen bắt nguồn từ sự vô minh và được thúc đẩy bởi lòng tham. Có thể có cảm giác về “tôi”, nhưng giống như tất cả các cảm giác khác, nó trong suốt và trống rỗng về bản chất—chỉ là một khuôn mẫu của ý thức phát sinh và biến mất.

Giáo lý này thường được hiểu là một mô tả triết học; tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng nhất của nó là một công cụ thiền định. Nó giúp chúng ta nhận ra rằng những câu hỏi như “Tôi có tồn tại không?” hay “Tôi có không tồn tại không?” là không liên quan. Thay vào đó, góc nhìn chuyển sang việc trau dồi và duy trì nhận thức tỉnh táo về cảm giác “tôi” xuất hiện và biến mất. Đây là bản chất của vipassana, hay thiền quán.

Sự tan biến của ảo tưởng “Tôi là” được Đức Phật mô tả là “niết bàn ngay tại đây và bây giờ”, và nó chạm đến tận gốc rễ của mọi tranh chấp.

Đức Phật mô tả sự tan biến của ảo tưởng “Ta là” là “niết bàn ngay tại đây và bây giờ”, và nó chạm đến tận gốc rễ của mọi tranh chấp.

Tứ Diệu Đế: Tính Phổ Quát và Tính Minh Bạch

Tương truyền rằng bài pháp đầu tiên của Đức Phật, "Khởi động Bánh xe Chân lý" (Chuyển Pháp Luân) Setting in Motion of the Wheel of Truth, bao hàm tất cả các giáo lý – giống như dấu chân của tất cả chúng sinh đều nằm trong phạm vi dấu chân của một con voi. Điều này không chỉ được các tín đồ trường phái Nam Phương nói đến mà còn được các bậc thầy Đại thừa và Kim cương thừa nhận, như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Chính tại đây, Đức Phật lần đầu tiên trình bày rõ ràng về con đường trung đạo và bốn chân lý cao quý.

Có hai nhận thức quan trọng để hiểu những chân lý này: thứ nhất, chúng mang tính tương đối, không tuyệt đối; thứ hai, chúng không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tính phổ quát. Nhận thức thứ nhất cho thấy rằng câu nói “Có khổ” mô tả một trải nghiệm tương đối. Nó không nhằm mục đích tuyên bố rằng “Khổ là hoàn toàn có thật”. Đây là một lý do tại sao Đức Phật gọi những chân lý này là “cao quý” chứ không phải “tối thượng”.

Sự thấu hiểu thứ hai đề cập đến thực tế rằng không chỉ riêng tôi đang trải nghiệm khổ đau; có sự tan vỡ của ảo tưởng rằng trải nghiệm khổ đau của tôi có thể nghiêm trọng hơn của người khác. Tất cả chúng sinh đều ở trong cùng một hoàn cảnh.

Dường như ở một số vùng, sự hiểu biết về hai nguyên tắc này đã bị thu hẹp. Khổ (Dukkha) được coi là một thực tại tuyệt đối, và do đó, phạm vi ảnh hưởng của nó cũng bị thu hẹp lại. Theo một số nhà sử học, dường như chính vì phạm vi ảnh hưởng ngày càng thu hẹp này mà động lực đổi mới đã xuất hiện, khởi nguồn cho phong trào Phật giáo Đại thừa.

Kinh điển Pali nhiều lần khẳng định rằng điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho bản thân và tất cả chúng sinh là đạt được giác ngộ hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu hiểu sai ý định đó, phạm vi rộng lớn của nó có thể bị mất đi. Nỗi khổ của chính chúng ta có thể trở nên quan trọng hơn nỗi khổ của người khác, đơn giản chỉ vì đó là điều chúng ta có khả năng giải quyết.

Giáo lý Đại thừa xuất hiện để nói rằng, “Ta cảm nhận được khổ đau ở đây, nhưng nó không thể quan trọng hơn khổ đau của bất kỳ ai khác. Tất cả chúng sinh đều có những trải nghiệm tương tự.” Tất nhiên, sự hiểu biết này cũng luôn hiện diện trong giáo lý Nam truyền; tuy nhiên, dường như nó đã bị che khuất bởi nhiều yếu tố khác nhau.

Chúng ta đã xem xét vấn đề này từ góc độ xã hội quy mô lớn, nhưng tất cả các phong trào đều được cấu thành từ những cá nhân riêng lẻ. Những mô hình phát triển này cũng dễ dàng được tìm thấy trên bình diện cá nhân. Trong những năm đầu ở Thái Lan, Ajahn Sumedho từng tuyên bố với Ajahn Chah: “Tôi hoàn toàn tận tâm với việc tu tập. Tôi quyết tâm đạt được Niết bàn trọn vẹn trong kiếp này; tôi vô cùng mệt mỏi với kiếp người và quyết tâm không tái sinh nữa.” Theo ngôn ngữ kinh điển của Phật giáo Theravada, đó là một thái độ đáng trân trọng; bạn sẽ mong đợi người thầy đáp lại: “Sadhu! Tốt lắm, Sumedho!”

Tuy nhiên, Ajahn Chah đáp lại, “Còn chúng tôi thì sao, Sumedho? Con không quan tâm đến những người sẽ bị bỏ lại phía sau sao?” Chỉ bằng một câu nói, ông đã trêu chọc đệ tử của mình bằng cách ám chỉ rằng Ajahn Sumedho tiến bộ hơn về mặt tâm linh, rồi sau đó đề cập đến giá trị của cách tiếp cận “quan tâm đến tất cả chúng sinh”. Ông đã ân cần khiển trách đệ tử của mình vì sự thiển cận.

Ajahn Chah nhận thấy đằng sau lời nhận xét của Ajahn Sumedho là một quan điểm hư vô hơn là sự vô chấp theo giáo lý Phật giáo. Và chừng nào thái độ tiêu cực đó còn tồn tại, nó chắc chắn sẽ dẫn đến những kết quả đau khổ. Ajahn Chah đã phản bác lại thái độ đó bằng cách xoay chuyển quan điểm theo hướng ngược lại, nhấn mạnh vào sự tiêu cực vị kỷ.

Khi xem xét lời khuyến tấn hướng tới một thái độ rộng mở hơn, một điều cực kỳ ý nghĩa là bốn lời nguyện của Bồ-tát (Tứ hoằng thệ nguyện) trên thực tế chính là sự mở rộng rõ ràng của Tứ diệu đế. Trong phiên bản chữ Hán của kinh Phạm Võng (Kinh Lưới Phạm Thiên), điều này được đề cập một cách rất trực tiếp. Hòa thượng Hui Seng (hay Trưởng lão Huệ Tăng)*, một vị tôn túc đương đại của truyền thống Bắc truyền, đã giải thích mối liên hệ này trong phần chú giải kinh của ngài như sau:"

Dựa trên Tứ Diệu Đế, ngài đưa ra Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Bồ Tát. Tứ Diệu Đế là:

Khổ,
Tập, (nguyên nhân của khổ)
Diệt, (sự vắng bóng của khổ là niết bàn)
Đạo (con đường diệt khổ)

Chân lý cao quý thứ nhất là Khổ, và vì tất cả chúng sinh đều khổ, nên ngài đưa ra thệ nguyện rộng lớn thứ nhất, đó là:

Chúng sinh vô biên;
Tôi nguyện cứu độ tất cả.

Lời nguyện cao cả thứ hai dựa trên chân lý cao quý thứ hai, Tập. Tập có nghĩa là tích lũy phiền não. Thệ nguyện rộng lớn thứ hai là:

Phiền não vô tận,
Tôi nguyện diệt trừ chúng.

Chân lý cao quý thứ ba là Diệt, và dựa trên chân lý này, Bồ Tát đưa ra lời nguyện rộng lớn thứ ba,

Phật đạo vô thượng;
Tôi nguyện hoàn thành Phật đạo
.

Và chân lý cao quý thứ tư là Đạo, và dựa trên chân lý đó, ngài đưa ra lời nguyện rộng lớn thứ tư, đó là:

Pháp môn vô lượng;
Tôi nguyện học hỏi tất cả
.

Như vậy, ở trên Ngài tìm kiếm con đường Phật, và ở dưới Ngài chuyển hóa chúng sinh. Đây là một chức năng tương hỗ của lòng từ bi và trí tuệ.

Đức Phật thuyết giảng Kinh Phạm Võng” của Hòa thượng Hui Seng

Cách diễn đạt này về Bốn Chân Lý Cao Quý nêu rõ phẩm chất phi cá nhân, bao la của chúng. Cùng thời kỳ đó, một giáo lý song song khác cũng xuất hiện, nêu rõ bản chất hoàn toàn tương đối của Bốn Chân Lý Cao Quý: Bát Nhã Tâm Kinh.

Có lẽ là giáo lý nổi tiếng nhất trong Kinh điển Bắc truyền, Bát Nhã Tâm Kinh đã được tụng niệm qua nhiều thế kỷ từ Ấn Độ đến Mãn Châu, từ Kyoto đến Latvia, và ngày nay trên khắp thế giới. Bát Nhã Tâm Kinh là sự bổ sung tự nhiên cho giới nguyện Bồ Tát, và quả thật, chúng thường được tụng niệm cùng nhau. Kinh Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng: “Không có khổ, không có nguyên, không có diệt, và không có đạo.” Kinh này như vậy đã chỉ ra khía cạnh trống rỗng của Bốn Chân Lý Cao Quý: rốt cuộc, không có khổ. Chúng ta nghĩ rằng mình đang khổ, nhưng trong thực tại tối thượng không có khổ.

Bát Nhã Tâm Kinh nhắc nhở chúng ta rằng Bốn Chân Lý Cao Quý về bản chất là minh bạch; chúng là những chân lý tương đối, không phải tuyệt đối. Đôi khi người ta thành tâm tuyên bố, “Mọi thứ đều là khổ,” như thể khổ là một chân lý tối thượng, nhưng đó không phải là điều Đức Phật dạy, như được chứng minh trong kinh điển của các trường phái cả Nam và Bắc truyền. “Khổ” là một chân lý có điều kiện, tương đối; nó “cao quý” bởi vì nó dẫn đến sự giải thoát.

 
© Granger Meador (CC BY-NC-SA 2.0)
Bodhisattva Avalokitesvara (Guanshiyin), Shanxi Province, China. 11th–12th century CE.

Cái Tôi, Kẻ Gây Rắc Rối Đáng Tin Cậy

Chính ý thức về bản thân là động lực thúc đẩy nền chính trị bè phái tồn tại ngày nay. Trớ trêu thay, dù các nhà cải cách hướng đến việc xóa bỏ tính tự cho mình là trung tâm mà họ nhận thấy, vấn đề vẫn tiếp diễn. Nền chính trị chia rẽ này giống như những vật gia truyền đáng ngờ – khó mà vứt bỏ, vì chúng là một phần không thể thiếu trong lịch sử chung của chúng ta.

Về bản chất, mâu thuẫn nảy sinh do quan niệm về vị La Hán và Bồ Tát dựa trên cái tôi. Khi không còn bám chấp vào bất kỳ quan điểm nào, bức tranh sẽ thay đổi hoàn toàn. Đức Phật nói: “Bị ràng buộc bởi hai loại quan điểm, có người níu giữ, có người quá mức; chỉ người có tầm nhìn mới thấy được.” Loại thứ nhất có nghĩa là một số người khẳng định sự sống, vui thích với những thứ thuộc về thế gian. Khi giáo lý đề cập đến việc buông bỏ và chấm dứt, tâm trí họ lại co rúm và níu giữ. “Một số người quá mức” có nghĩa là những người theo chủ nghĩa hư vô, vui mừng với ý niệm về sự vô thường, khẳng định rằng khi thân xác chết đi, cái tôi này cũng bị tiêu diệt. Họ cảm thấy đó sẽ là sự bình an đích thực. “Những người có tầm nhìn” thấy những gì đã xảy ra là đã xảy ra. Họ tu dưỡng sự vô chấp đối với điều đó và an nhiên với sự chấm dứt của nó.

Chừng nào nhận thức về bản ngã chưa được thấu suốt, tâm trí sẽ lạc lối khỏi con đường trung đạo. Lý tưởng “chấm dứt luân hồi” sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi quan điểm hư vô, trong khi lý tưởng “luôn quay trở lại vì lợi ích của tất cả chúng sinh” sẽ dễ bị thấm nhuần bởi quan điểm vĩnh hằng.

Khi thấu hiểu bản ngã, con đường trung đạo sẽ được giác ngộ. Cho dù ta nói về tánh không của vị La Hán trong kinh Pali, hay về điểm không tuyệt đối trong Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc về cái nhìn vô biên của bốn hoằng thệ nguyện, thì đây chỉ là những cách diễn đạt. Tất cả đều bắt nguồn từ cùng một gốc rễ, đó là chân lý về bản chất của vạn vật. Chúng chỉ đơn giản là những cách diễn đạt tiện lợi giúp tâm hồn hòa hợp với thực tại của chính nó. Sự hòa hợp đó chính là con đường trung đạo.

Góc nhìn từ trung tâm

Có nhiều giáo lý soi sáng quan điểm này; ví dụ:

Chừng nào không gian còn tồn tại,
Chừng nào chúng sinh còn tồn tại,
Cho đến lúc đó, nguyện xin ta cũng tồn tại
Và xua tan khổ đau của thế gian.
Tịch Thiên, “Hướng Dẫn Bồ Tát Đạo

Đối với người Phật giáo Theravada bình thường, câu kệ này của Tịch Thiên có vẻ trái ngược với con đường tu tập. Nó dường như hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc thoát khỏi ngôi nhà đang cháy càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, việc thực hành con đường trung đạo bao gồm việc tiếp thu giáo lý về lòng từ bi cùng với người bạn đồng hành của nó, giáo lý về tánh không. Hai yếu tố này giống như đôi cánh của một con chim - chúng không thể hoạt động đúng cách nếu thiếu nhau.

Nếu ta suy ngẫm kỹ hơn về câu kệ này, một tầng ý nghĩa khác sẽ mở ra: chừng nào không gian và bản thể còn được cho là có thực tại hữu hình, thì tâm trí chưa đạt được giác ngộ. Sự thấu hiểu thật sự nằm ở việc nhận ra rằng không gian, thời gian và sự tồn tại là những thuộc tính được gán cho, không có sự tồn tại tuyệt đối.

Do đó, quan niệm của Nam tông về "tôi ra đi" và "những người khác bị bỏ lại phía sau" chắc chắn là sai lầm. Tương tự, quan điểm của Bắc truyền về "cá thể này sẽ tồn tại vô tận trong thời gian vì lợi ích của những chúng sinh khác" cũng là một quan điểm sai lầm. Thực hành con đường trung đạo xóa bỏ ảo tưởng rằng "tôi" có thể "ra đi" và "những người khác" có thể "ở lại", hoặc ngược lại. Nó tái cấu trúc triệt để các khái niệm về thời gian, không gian và sự tồn tại.

Vậy nên khát vọng có thể đúng như trong câu kệ; nhưng nếu không gian không còn tồn tại, nếu không còn sinh vật nào tồn tại, nếu bản chất của chúng được nhận ra là có điều kiện và do đó trống rỗng, thì điều đó nói lên điều gì về "cái tôi" đang "ở lại"?

Trớ trêu thay, khi nhận ra rằng thời gian, không gian và chúng sinh không có thực tại hữu hình, thì cái “tôi” cũng “biến mất” – biến mất về với chân như, đến với chân như: Như Lai.

Ngài Sri Ramana Maharshi từng nhận xét: “Một người tốt nói rằng, ‘Hãy để tôi là người cuối cùng được giải thoát, để tôi có thể giúp tất cả những người khác được giải thoát trước khi tôi được giải thoát.’ Thật tuyệt vời! Hãy tưởng tượng một người mơ mộng nói rằng, ‘Mong tất cả những người trong giấc mơ này tỉnh dậy trước tôi.’ Người mơ mộng đó cũng chẳng ngớ ngẩn hơn vị triết gia đáng kính này.” Phân tích của ông đã tóm tắt một cách sắc sảo vấn đề: chỉ khi trái tim thoát khỏi mọi quan điểm về bản ngã, nó mới có thể hòa hợp với thực tại; cần có một sự cân bằng chính xác.

Trong Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, chúng ta tìm thấy những đoạn kinh thể hiện sự hiểu biết tương tự:

Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ thế nào? Ông chớ cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: 'Ta sẽ độ thoát chúng sinh.' Này Tu-bồ-đề, chớ có ý nghĩ đó. Vì sao thế? Thật ra không có chúng sinh nào được Như Lai độ thoát cả. Nếu có chúng sinh được Như Lai độ thoát, thì Như Lai hẳn còn vướng vào ngã, nhân, chúng sinh, và thọ giả. Này Tu-bồ-đề, cái gọi là 'ngã' mà Như Lai nói đó, thực ra không phải là ngã, nhưng người phàm phu lại chấp đó là ngã."

Chúng ta cứu độ tất cả chúng sinh bằng cách nhận ra rằng không có chúng sinh nào cả. Sự hoàn hảo của trí tuệ là nhìn thấy chân lý này: rốt cuộc, chân lý không phải là bản ngã và cũng không phải là người khác; không có La Hán, không có Bồ Tát, không có sinh, không có tử. Mặc dù tâm có thể hướng về lòng từ bi, nhưng chỉ khi chúng ta tu dưỡng thêm yếu tố trí tuệ này thì mới có được sự viên mãn tâm linh thật sự.

Kinh nghiệm cho thấy rằng để đạt được sự viên mãn tối đa mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, chúng ta cần hiểu rõ tính cách của mình và học cách cân bằng chúng. Nếu ta thuộc kiểu người trí tuệ – hướng đến việc đạt được Niết bàn để nhanh chóng thoát khỏi thế gian – thì cần phải phát triển lòng từ bi. Ta cần hướng về con người và vạn vật. Hoặc, nếu ta thuộc kiểu người vị tha, cảm thấy “mình phải ở lại cho đến khi mọi người khác được cứu rỗi”, thì ta cần hướng về sự trống rỗng của vạn vật.

Trong sự cân bằng của con đường trung đạo, vô hạn và hư không được duy trì. Chúng bổ sung cho nhau; chúng cân bằng lẫn nhau.

“Liệu Tara có thật sự tồn tại?”

 

Bối cảnh: một hội nghị Phật giáo ở Berlin. Bên cạnh nhiều phiên thảo luận và thuyết trình, một số vị thầy cũng đến để hướng dẫn các buổi hội thảo. Một trong số đó là một vị Lạt ma Tây Tạng lỗi lạc; ông đang giảng dạy về Ca Tụng Hai Mươi Mốt Tara. Giờ là lúc dành cho phần hỏi đáp.

Một thanh niên với vẻ mặt cau có xin được nói. Anh ta hỏi bằng tiếng Anh bập bẹ: “Thưa Rinpoche, nhiều năm nay con là học trò của thầy. Con rất tận tâm với việc tu tập nhưng con vẫn có nghi ngờ. Con rất sẵn lòng thực hiện các nghi lễ cúng dường, quán tưởng, lễ lạy, nhưng rất khó để đặt trọn tâm huyết vào đó, bởi vì con có một nghi ngờ: Tara, liệu ngài ấy có thật sự hiện hữu? Đôi khi thầy nói như thể ngài ấy là một người có thật, nhưng đôi khi thầy lại nói bà ấy là trí tuệ của Phật A Di Đà, hoặc chỉ là một phương tiện khéo léo.”

Nếu tôi có thể biết chắc chắn, tôi sẽ nỗ lực gấp đôi. Vậy, thưa Rinpoche, Tara ấy có thật sự tồn tại hay không?!”

Trong giây lát, vị lạt ma suy nghĩ, rồi ngước mắt nhìn người hỏi. Một nụ cười nở trên khuôn mặt ông.

Ngài đáp, “Ngài ấy biết rằng ngài ấy không có thật.”

Không phải là một suy nghĩ mà là sự cân bằng

Từ trạng thái nhận thức này, chúng ta có thể thấy rằng có một người đọc ở đây và một trang sách ở ngoài kia, nhưng chúng ta cũng có thể nhận ra rằng tất cả chỉ là những khuôn mẫu của ý thức. Nó không có thực tại hữu hình.

Càng học cách nhẹ nhàng đón nhận sự tương tác giữa các hình thức này—không bám víu vào bất kỳ quan điểm nào—thì càng có sự hòa hợp hơn. Chúng ta bắt đầu cảm nhận được. Chúng ta không phủ nhận niềm tin vào con đường mình lựa chọn, nhưng cũng không lên án những người đã chọn con đường khác. Chúng ta suy ngẫm về những lợi ích đến từ các thực hành và nguyên tắc mình biết, nhưng cũng đặt câu hỏi về chúng và sẵn sàng nhìn nhận chúng theo cách khác, nếu trí tuệ cho thấy cần phải thay đổi thái độ.

Chúng ta hết lòng thực hành những pháp môn tu tập đã chọn với 100% sự chân thành, nhưng đồng thời cũng biết rằng tất cả những hình thức truyền thống này—cả Bắc tông và Nam tông —đều hoàn toàn trống rỗng. Như Ajahn Chah đôi khi nói với toàn thể hội chúng tại tu viện của mình: “Ở đây không có tăng ni, không có cư sĩ nữ, không có cư sĩ nam; đây chỉ là những giả định, những hình thức truyền thống—chỉ vậy thôi. Wahng! Nó trống rỗng!”

Con đường trung đạo được trân trọng như một cảm nhận tinh tế. Nó không liên quan đến sự ôn hòa hay việc ở giữa cung của con lắc. Thay vào đó, nó là điểm tĩnh lặng, là trung tâm của chuyển động, là trục mà con lắc xoay quanh. Trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta biết thế nào là sự cân bằng hoàn hảo. Có một sự quen thuộc sâu sắc, trực giác với điều này, và đây là điều chúng ta cần duy trì và tin tưởng. Đây là cách mà gốc rễ của sự hòa hợp có thể được tìm thấy và thể hiện.

Nói tóm lại, lý trí vẫn có thể trăn trở tìm kiếm sự chính xác hơn, “Vâng, nhưng chính xác thì nó là gì?!”

Khi một bản nhạc lay động lòng người, chúng ta thường nói, “Nó thật hoàn hảo!” Nhưng ngay cả trong câu nói đó, chúng ta gần như đã đánh mất cảm xúc. Louis Armstrong, khi được hỏi, “Nhạc jazz là gì?”, đã trả lời, “Này, nếu anh phải hỏi, thì anh sẽ chẳng bao giờ biết đâu.”

Con đường trung đạo chính là phẩm chất cân bằng không lời, của sự hài hòa thuần khiết và sống động.

***

 

AJAHN AMARO is the abbot of Amaravati Buddhist monastery in southeast England. he was ordained as a bhikkhu by Ajahn Chah in 1979 and was the founding co-abbot of Abhayagiri Buddhist monastery in redwood Valley, California, where he served until 2010.

https://info-buddhism.com/Between_Arhat_and_Bodhisattva-Ajahn_Amaro.html