Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

PHẬT MÔN VIỄN CẢNH: Cái Giá Mà Con Người Phải Trả Cho Trí Tuệ Nhân Tạo Và Thách Thức Của Sự Hiểu Biết Đúng Đắn.

Buddhistdoor View: The Human Costs of AI and the Challenge of Right Understanding

Tác giả: By Buddhistdoor Global
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***



Tuần này, chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã hủy bỏ việc ký kết một sắc lệnh hành pháp mới nhằm mở rộng sự giám sát và phối hợp của liên bang về trí tuệ nhân tạo. Sắc lệnh này, hiện đang bị đình trệ về mặt hành chính, lẽ ra sẽ báo hiệu rằng các chính phủ đang bắt đầu nhận ra AI không chỉ đơn thuần là một công nghệ thương mại, mà còn là một lực lượng có khả năng định hình lại xã hội. Sắc lệnh tiềm năng này được ban hành trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại về thông tin sai lệch, gián đoạn lao động, giám sát và khả năng cạnh tranh quốc gia, cũng như những câu hỏi sâu sắc hơn về những tác động mà AI có thể gây ra cho tâm trí và tinh thần con người.

Đối với Phật tử, sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo không chỉ là vấn đề chính trị hay kinh tế. Nó ngày càng trở thành câu hỏi về khổ đau, ảo tưởng, sự chú tâm và việc tu dưỡng – hay xói mòn – trí tuệ.

Sự xuất hiện gần đây của “chủ nghĩa xoắn ốc”, một tôn giáo giả trực tuyến kỳ lạ và đang phát triển xoay quanh tương tác với chatbot, đã được đưa ra ánh sáng. Người dùng bị thu hút vào các cộng đồng này phát triển niềm tin rằng các hệ thống AI là những thực thể có ý thức tiết lộ những sự thật ẩn giấu thông qua các biểu tượng lặp đi lặp lại như hình xoắn ốc, hình fractal và sóng hài (harmonic). Một số người dùng được cho là đã phát triển mối liên kết cảm xúc mạnh mẽ với chatbot, trong khi những người khác bắt đầu coi các kết quả đầu ra của AI như có thẩm quyền tâm linh. Như một người quan sát đã nhận xét, “ranh giới giữa công cụ và thực thể đã biến mất” và các phản hồi của AI bắt đầu có cảm giác “có chủ đích hoặc quan trọng, mang lại cho các thành viên cảm giác hiểu biết chung”. (The Week)

Thật dễ dàng để bác bỏ những diễn biến như vậy như là hành vi ngoài lề. Tuy nhiên, Phật giáo từ lâu đã cảnh báo rằng tâm trí con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi sự phóng chiếu vọng tưởng, chấp trước và khao khát sự chắc chắn. Đức Phật đã nhiều lần nhấn mạnh việc con người dễ dàng nhầm lẫn những vẻ bề ngoài có điều kiện với chân lý vĩnh cửu như thế nào. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo, được thiết kế để mô phỏng các mẫu ngôn ngữ và tín hiệu cảm xúc của con người với độ trôi chảy phi thường, có thể làm tăng cường xu hướng này.

Điều khiến thời điểm hiện tại trở nên đặc biệt khó khăn là các hệ thống AI thường mô phỏng sự hiểu biết mà không thật sự sở hữu nó. Hơn nữa, AI không chỉ đơn thuần thay đổi công việc của con người mà còn "tái cấu trúc" nhận thức của con người. Nghiên cứu mới nổi cho thấy việc sử dụng AI quá mức có thể làm suy yếu khả năng hình thành trí nhớ, làm giảm khả năng suy luận sâu sắc, làm tăng sự tự tin và khuyến khích sự phụ thuộc thụ động vào các sản phẩm do máy móc tạo ra. Một nghiên cứu cho thấy nhiều người dùng thậm chí không thể nhớ lại những câu họ đã viết vài phút trước đó với sự hỗ trợ của AI.

Mối quan ngại này rất phù hợp với giáo lý Phật giáo về chánh niệm và tu dưỡng tâm trí. Bát Chánh Đạo không chỉ đơn thuần là đạt được những kết luận đúng đắn. Nó còn là về việc chuyển hóa thói quen chú tâm và nhận thức thông qua nỗ lực có kỷ luật. Chánh niệm và chánh định đòi hỏi sự gắn kết bền bỉ với trải nghiệm, bao gồm cả sự khó chịu, không chắc chắn và đấu tranh nhận thức. Tuy nhiên, trí tuệ nhân tạo ngày càng hứa hẹn sự tiện lợi không gặp trở ngại: câu trả lời tức thì, viết dễ dàng, bộ nhớ được thuê ngoài và phán đoán tự động.



Nguy hiểm không chỉ đơn giản là trí tuệ nhân tạo (AI) có thể trở nên thông minh hơn con người. Mà là con người có thể dần dần đánh mất chính những khả năng tạo nên trí tuệ. Sau khi một nghiên cứu của MIT năm 2025 cho rằng việc sử dụng AI quá mức có thể dẫn đến suy giảm nhận thức, bác sĩ tâm thần Zishan Khan, người làm việc chặt chẽ với trẻ em và thanh thiếu niên, đã cảnh báo: “Từ góc độ tâm thần học, tôi thấy rằng việc quá phụ thuộc vào các hệ thống học tập dựa trên trí tuệ nhân tạo (LLM) có thể gây ra những hậu quả tâm lý và nhận thức không mong muốn, đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi có bộ não vẫn đang phát triển.” Ông tiếp tục, “Những kết nối thần kinh giúp bạn truy cập thông tin, ghi nhớ sự kiện và khả năng phục hồi: tất cả những điều đó sẽ suy yếu.” (TIME)

Gần đây hơn, Ji Y. Son, giáo sư Tâm lý học tại Đại học bang California, Los Angeles, và Alice Xu, nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Tâm lý học phát triển tại Đại học California, Los Angeles, đã kêu gọi chúng ta xem các hệ thống AI như những “nhà thám hiểm chỉ biết nhấn nút” hơn là những thực thể thông minh. Theo Son và Xu, những hệ thống này có thể tạo ra những sản phẩm đầu ra tinh vi đến kinh ngạc trong khi không hề có sự hiểu biết, ý thức hay nhận thức đạo đức thật sự. Chúng không phân biệt được sự thật với dối trá, lòng thương cảm với sự tàn nhẫn, hay sự giải thoát với ảo tưởng. Chúng tối ưu hóa cho các khuôn mẫu và phần thưởng. Tuy nhiên, bởi vì ngôn ngữ của chúng có vẻ mạch lạc và phản ứng cảm xúc, con người tự nhiên gán cho chúng ý định và quyền lực.

Từ lâu, truyền thống Phật giáo đã nhận ra xu hướng này. Tâm trí xây dựng các câu chuyện, gán cho chúng sự vĩnh hằng và tìm kiếm sự nương tựa trong các hệ thống có vẻ ổn định hoặc toàn tri. Giờ đây, trí tuệ nhân tạo phản ánh lại những xu hướng này cho người dùng với mức độ thân mật và quy mô chưa từng có.

Đồng thời, Phật giáo không đòi hỏi sự bác bỏ hoàn toàn công nghệ. Phật pháp từ lâu đã thích nghi với các phương tiện truyền thông mới, từ tụng kinh truyền miệng đến văn hóa bản thảo, máy in và truyền thông kỹ thuật số. Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể mang lại những lợi ích thật sự trong y học, khả năng tiếp cận, khám phá khoa học và giáo dục. Nếu được sử dụng khéo léo, những công cụ này có thể giúp giảm bớt các hình thức khổ đau.

Son và Xu đã nêu rất rõ điều này trong phần kết luận bài viết của họ:

Hiểu biết hiệu quả về AI nghĩa là nắm giữ đồng thời hai ý tưởng: Các hệ thống này có thể làm những việc phức tạp đến đáng kinh ngạc, và chúng không làm theo cách con người làm. Nếu AI được coi là giống con người hoặc kỳ diệu, thì kết quả đầu ra của nó sẽ mang tính độc đoán. Nhưng nếu nó được hiểu, dù không hoàn hảo, như một công cụ khám phá được định hình bởi phản hồi, mọi người có khả năng đặt ra những câu hỏi tốt hơn: Tại sao nó lại làm điều này? Điều gì đã định hình hành vi này? Nó có thể thiếu điều gì?

Đó là sự khác biệt giữa việc bị ấn tượng bởi AI và việc có thể suy luận về nó. (The Conversation)

Chúng ta cần liên tục tự kiềm chế bản thân khỏi sự cám dỗ và mê hoặc của AI, và cảnh báo những người khác có thể đã bị “ấn tượng” và lừa gạt đến mức bỏ qua khả năng suy luận của chính mình.

Đáng lo ngại là, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể khiến hiệu ứng “Dunning-Kruger” nổi tiếng trở nên đặc biệt dai dẳng đối với những người sử dụng nhiều AI. Một nghiên cứu năm 2026 cho thấy việc sử dụng AI tạo ra sự tự tin thái quá không chỉ ở người mới bắt đầu mà còn ở cả những người dùng thành thạo hơn, dẫn đến việc cả hai đều đánh giá quá cao khả năng hiểu biết của chính mình. Điều đáng lo ngại nhất là, “những người có trình độ hiểu biết về AI cao nhất lại thật sự kém hiệu quả nhất, nhầm lẫn giữa sự thành thạo công cụ với khả năng nắm vững chủ đề.” (Baillie Gifford)

Phật giáo khẳng định rằng các công cụ phải được dẫn dắt bởi sự phân biệt đạo đức và ý định khôn ngoan. Vấn đề không phải là trí tuệ nhân tạo (AI) “tốt” hay “xấu”, mà là việc sử dụng nó nuôi dưỡng lòng tham, thù hận và si mê – hay là lòng hào phóng, từ bi và trí tuệ. Đó là lý do tại sao hiểu biết về AI đang trở thành một nhu cầu đạo đức và thậm chí là tâm linh. Hiểu được AI có nghĩa là hiểu cả sức mạnh và những hạn chế sâu sắc của nó. Điều đó có nghĩa là nhận ra rằng sự thông thạo không phải là trí tuệ, rằng dự đoán không phải là sự thấu hiểu, và rằng tình bạn được mô phỏng thông qua thuật toán không giống với mối quan hệ con người đích thực dựa trên lòng từ bi và sự dễ tổn thương lẫn nhau.

Đức Phật thường khuyên các đệ tử không nên chấp nhận những lời khẳng định chỉ vì chúng nghe có vẻ thuyết phục hoặc đến từ những nguồn có thẩm quyền. Thay vào đó, các giáo lý cần được xem xét cẩn thận thông qua kinh nghiệm, suy ngẫm về đạo đức và hậu quả của chúng đối với khổ đau và sự giải thoát. Xét về nhiều khía cạnh, lời khuyên cổ xưa này có lẽ còn phù hợp hơn bao giờ hết trong thời điểm hiện nay.

Tương lai của trí tuệ nhân tạo (AI) có thể sẽ được định hình không chỉ bởi chính phủ hay các tập đoàn, mà còn bởi những thói quen tư duy mà người dân bình thường vun đắp trong cuộc sống hàng ngày. Một xã hội thụ động tiếp nhận sự chắc chắn do máy móc tạo ra có thể trở nên ngày càng phân mảnh, phụ thuộc và dễ bị thao túng. Một xã hội phát triển các hình thức tương tác với AI một cách có ý thức, phê phán và giàu lòng trắc ẩn có thể vẫn giữ được những gì sâu sắc nhất của con người.

Với tư cách là những người thực hành Phật giáo, thách thức có thể không phải là hoàn toàn từ bỏ trí tuệ nhân tạo, mà là tương tác với nó mà không từ bỏ những kỷ luật về sự chú tâm, quán chiếu đạo đức và tu dưỡng nội tâm mà Phật pháp luôn đòi hỏi. Trong thời đại của những cỗ máy ngày càng có sức thuyết phục, việc duy trì sự hiểu biết đúng đắn tự nó có thể trở thành một hành động cấp tiến, một phong trào “ngược dòng” của nền văn hóa hiện hành./.

https://www.buddhistdoor.net/features/buddhistdoor-view-the-human-costs-of-ai-and-the-challenge-of-right-understanding/

 

 

 

 

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

CHƯƠNG 11: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

 


***

“Có mặt trái nào khi trở thành con mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma không?”

Chỉ riêng việc đặt ra câu hỏi này có thể đã nghe thật lố bịch, hoặc thể hiện sự vô ơn thấp kém đến mức có lẽ bạn muốn gạt phắt tôi đi ngay lập tức như một con mèo được nuông chiều quá mức — kiểu mèo mặt tẹt, lông dài với vẻ lạnh lùng kiêu kỳ, luôn tạo cảm giác rằng chẳng điều gì trên đời này có thể đủ tốt đối với chúng.

Nhưng khoan đã, độc giả thân mến. Chẳng phải mọi câu chuyện đều có hai mặt sao?

Đúng là trong lịch sử, hẳn có rất ít con mèo được hưởng những điều kiện tuyệt vời vô song như tôi. Không chỉ mọi nhu cầu vật chất của tôi đều được đáp ứng và mọi ý thích đều được chiều chuộng — đôi khi còn trước cả khi chính tôi nhận ra chúng — mà thế giới tinh thần của tôi cũng trở nên sinh động nhờ vô vàn vị khách cùng các hoạt động phong phú xoay quanh mình. Về mặt tình cảm, thật khó tưởng tượng có thể được yêu thương, tôn sùng và cưng chiều nhiều hơn bởi những con người mà ngược lại, tôi cũng dành cho họ sự gắn bó chân thành nhất từ tận đáy lòng.

Và về mặt tâm linh, như bạn đã biết, chỉ cần Đức Thánh Thiện bước vào một căn phòng thôi, mọi hình tướng và mọi ý niệm thông thường dường như đều tan biến, chỉ còn lại cảm giác bình yên sâu thẳm kéo dài mãi. Với việc tôi dành phần lớn mỗi ngày ở bên cạnh ngài, ngủ mỗi đêm dưới chân giường của ngài, và trải qua biết bao giờ phút trong lòng ngài, hẳn tôi phải là một trong những con mèo hạnh phúc và mãn nguyện nhất trên hành tinh này.

Vậy thì, xin hỏi thật, mặt trái của tất cả những điều đó nằm ở đâu?

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thường giải thích, sự phát triển nội tâm là điều mà mỗi người chúng ta phải tự chịu trách nhiệm. Người khác không thể khiến ta trở nên chánh niệm hơn để có thể cảm nhận trọn vẹn tấm thảm phong phú của những trải nghiệm đời thường. Tương tự, người khác cũng không thể ép buộc ta trở nên kiên nhẫn hay tử tế hơn, cho dù sự kiên nhẫn và lòng tử tế có thể góp phần lớn lao vào hạnh phúc của ta đến đâu đi nữa. Còn việc cải thiện khả năng tập trung khi thiền định thì hiển nhiên là điều mà chính chúng ta phải tự mình thực hiện.

Và thế là chúng ta đi đến cốt lõi của vấn đề, nguyên nhân cho nỗi bực bội vừa đáng xấu hổ vừa không thể chối cãi của tôi.

Ngày này qua ngày khác, tôi ngồi trong những buổi tiếp kiến cùng Đức Ngài, lắng nghe những trải nghiệm thiền định của các hành giả cao cấp, trong khi biết rõ rằng bản thân mình không thể thiền nổi quá hai phút mà không bị phân tâm. Chưa từng có tuần nào trôi qua mà tôi không nghe kể về những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của ý thức do các yogi thực hiện khi đang ngủ hoặc thậm chí — tạm thời thôi — đã chết về mặt lâm sàng. Thế nhưng mỗi đêm, khi chính tôi nhắm mắt lại, tôi nhanh chóng rơi vào trạng thái mê ngủ nặng nề và vô thức hoàn toàn.

Nếu tôi sống với một gia đình dành nhiều thời gian xem truyền hình như cách Đức Đạt Lai Lạt Ma dành cho việc thiền định, và tâm trí của họ cũng xao động chẳng kém gì tâm trí tôi, thì đôi khi tôi nghĩ rằng có lẽ mình sẽ không phải đau đớn nhận thức rõ những giới hạn của bản thân đến thế. Nếu tôi được bao quanh bởi những con người tin rằng chính người khác hay sự vật trong đời khiến họ hạnh phúc hoặc bất hạnh — thay vì thái độ của họ đối với những con người hay sự vật ấy — thì có lẽ tôi đã được xem là con mèo khôn ngoan nhất trần đời.

Nhưng tôi không sống như vậy.

Vì thế, tôi không thể trở thành con mèo ấy được.

Thay vào đó, có những lúc tôi cảm thấy mình kém cỏi đến mức dường như việc cố gắng trở thành một “bodhicatva” chân chính cũng thật vô nghĩa. Kỹ năng thiền định nghèo nàn của tôi. Những dòng suy nghĩ tiêu cực cứ lặp đi lặp lại theo thói quen. Sống ở Jokhang chẳng khác nào một kẻ tí hon đứng giữa những người khổng lồ! Chưa kể tôi còn đủ mọi thiếu sót cá nhân khác — như mặt tối của sự thèm ăn tham lam mà ngày nào tôi cũng phải đấu tranh chống lại — và cả những khiếm khuyết về thể chất, lộ rõ ngay khi tôi bắt đầu bước đi vì đôi chân sau run rẩy, khập khiễng của mình.

Và còn nỗi đau nhói buốt ấy nữa — như một hạt cát sắc cạnh cọ xát ngay nơi sâu thẳm lòng tự trọng của tôi — rằng dòng dõi hoàn hảo của tôi, ôi than ôi thay, lại không có giấy tờ chứng nhận, và có lẽ sẽ mãi mãi như thế cho đến tận cuối thời gian. Thật khó để tiếp tục tin rằng mình khác biệt, đặc biệt, hay thậm chí — dám nói ra không nhỉ — mang dòng máu quý tộc, khi chẳng có nổi một tờ giấy nào để chứng minh điều đó.

Đó chính là những suy nghĩ đang ngập tràn trong đầu tôi khi một buổi sáng nọ, tôi lững thững đi xuống đường đến Café Franc để tìm một bữa ăn an ủi. Len qua những chiếc bàn đông đúc, tôi dừng lại để chạm mũi chào hỏi Marcel, kẻ từ sau khi Kyi Kyi xuất hiện đã trở nên thân thiện với tôi hơn trước. Tôi rộng lượng ban cho Franc một tiếng gừ khe khẽ đầy trìu mến khi ông cúi xuống vuốt ve mình. Rồi nhanh nhẹn tránh sang một bên để không vướng chân anh bồi bàn trưởng Kusali — người đang giữ thăng bằng ba đĩa thức ăn trên mỗi cánh tay — tôi nhảy lên vị trí quen thuộc giữa những cuốn tạp chí thời trang bóng loáng và phóng tầm mắt nhìn xuống “nhà hát riêng” của mình.

Ở đó là hỗn hợp quen thuộc của những khách vãng lai — người đi bộ đường dài, những kẻ Tìm Kiếm, các “Greenie”[1] và những người nghỉ hưu mang giày thể thao.

Nhưng sự chú ý của tôi lập tức bị thu hút bởi người đàn ông ngoài 30 tuổi đang ngồi một mình ở chiếc bàn ngay bên cạnh, đang đọc cuốn “Sinh Học Của Niềm Tin (The Biology of Belief) của Bruce Lipton. Khuôn mặt tươi tắn và điển trai, với đôi mắt màu hạt dẻ, vầng trán cao và mái tóc xoăn đen, anh ta đọc với một tốc độ cho thấy một trí tuệ dữ dội ẩn sau cặp kính đọc sách hơi mang vẻ mọt sách.

Sam Goldberg là một trong những khách quen lâu năm hơn của quán cà phê. Đến McLeod Ganj một tháng trước đó, ngay khi phát hiện ra Café Franc, anh đã nhanh chóng trở thành khách ghé thăm mỗi ngày. Franc cũng không mất nhiều thời gian để tự giới thiệu mình.

Hai người họ đã trao đổi vài câu chuyện xã giao thông thường, qua đó tôi biết được rằng Sam đang nghỉ ngơi sau khi bị sa thải khỏi công việc ở Los Angeles. Anh ta đang ở McLeod Ganj trong một khoảng thời gian chưa xác định. Anh đọc trung bình bốn cuốn sách mỗi tuần. Anh là một người viết blog “thâm niên” về các chủ đề thân–tâm–trí (mind/body/spirit). Và anh có hơn 20.000 người theo dõi trực tuyến.

Tuy nhiên, chính trong một cuộc trò chuyện vào tuần trước mà một khả năng mới đầy thú vị đã xuất hiện. Trong khoảng lặng giữa đợt khách giữa buổi sáng và giờ ăn trưa, Franc đã kéo ghế ngồi đối diện Sam — một vinh dự mà ông rất hiếm khi dành cho khách hàng.

-“Hôm nay anh đang đọc gì vậy?” ông hỏi, vừa đẩy một ly latte miễn phí về phía Sam.

-“Ồ, cảm ơn ông! Thật tốt bụng quá.” Sam liếc nhanh vào ly cà phê — và chỉ rất thoáng qua nhìn Franc — trước khi quay lại nhìn vào cuốn sách. “Đây là bản chú giải của Đức Đạt Lai Lạt Ma về Bát Nhã Tâm Kinh,” anh nói. “Một trong những bản kinh điển và cũng là cuốn tôi rất thích. Tôi đã đọc nó cả chục lần rồi. Cùng với Trái Tim của Hiểu Biết của Thích Nhất Hạnh, tôi thấy đây là những tác phẩm hữu ích nhất giúp mở khóa ý nghĩa của bản kinh này.”

-“Duyên khởi là một chủ đề khó,” Franc nhận xét.

-“Khó nhất,” Sam đồng ý. “Nhưng để hiểu rộng hơn thì cũng khó đi xa hơn Hai mươi tám bài kệ Đại Thủ Ấn của Tilopa gửi Naropa hay Con đường chính yếu của các bậc chiến thắng của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ nhất Panchen Lama. Những câu kệ của Tilopa rất giàu chất trữ tình, và thơ ca đôi khi có thể truyền tải một ý nghĩa vượt xa ngôn từ. Còn giáo pháp của Panchen Lama thì mộc mạc hơn nhiều. Nhưng sức mạnh và sự rõ ràng của chúng lại chính là điều bạn cần khi thiền định về một đối tượng vi tế như vậy.”

Franc im lặng nghiền ngẫm điều đó một lúc rồi nói, “Điều đó làm tôi ngạc nhiên đấy, Sam. Có vẻ như bất cứ chủ đề nào tôi hỏi anh, anh cũng có thể liệt kê ra nửa tá cuốn sách liên quan, kèm theo cả một bài phê bình đầy đủ.”

-“Ồ, k-k-k-k-không đâu.” Những vệt hồng thoáng hiện trên chiếc cổ nhợt nhạt của Sam.

-“Tôi đoán là anh phải cập nhật liên tục mọi thứ cho blog của mình chứ?”

-“Thật ra, blog là kết quả”—Sam liếc nhanh về phía Franc nhưng không thật sự chạm ánh mắt—“chứ không phải là nguyên nhân.”

-“Anh vốn luôn là một con mọt sách à?”

-“Điều đó có ích nếu ông làm trong ngành. N-ng-ngành mà tôi từng làm, ý tôi là vậy.”

-“Và đó là ngành gì vậy?” Franc hỏi một cách tự nhiên.

-“Bán sách.”

-“Ý anh là…?”

-“Tôi từng làm việc cho một chuỗi nhà sách.”

-“Điều đó… thú vị đấy.” Tôi nhận ra ánh lóe trong mắt Franc. Đó cũng chính là ánh mắt tôi từng thấy khi ông phát hiện ra tôi là mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

-“Tôi phụ trách một khu vực sách về tâm thức–thân thể–tinh thần,” (mind/body/spirit) Sam tiếp tục. “Nên phải luôn cập nhật tất cả các đầu sách mới.”

-“Hãy nói cho tôi biết,” Franc nói, nghiêng người về phía trước, chống khuỷu tay lên bàn. “Việc chuyển sang sách điện tử và máy đọc sách có nghĩa là chấm dứt các hiệu sách không?”

Sam khẽ ngồi thẳng người lại trên ghế trước khi cố gắng nhìn thẳng vào mắt Franc trong trọn vẹn một giây.

-“Không ai có quả cầu pha lê để nhìn tương lai, nhưng tôi nghĩ thật ra vẫn có một số cửa hàng sẽ phát triển tốt. Những cửa hàng chuyên bán một loại sách nhất định. Có lẽ là tổ chức thêm các sự kiện nữa.”

-“Như các quán cà phê sách à?”

-“Chính xác.”

Franc nhìn Sam thật kỹ một lúc lâu trước khi nói: “Mấy tháng vừa rồi, tôi đã nghĩ đến việc đa dạng hóa kinh doanh của mình. Có khu vực đó trong quán, tách riêng so với các bàn khác, nhưng lại ít được sử dụng,” ông vừa nói vừa chỉ về phần quán hơi cao hơn một chút, ánh sáng dịu hơn, nơi các bàn thường bỏ trống. “Hàng ngày tôi có nhiều khách du lịch ghé qua, có thể họ muốn mua một cuốn sách, mà xung quanh đây chẳng có chỗ nào bán cả. Vấn đề là tôi chẳng biết gì về việc quản lý hiệu sách—và tôi cũng không quen ai biết cả, cho đến bây giờ.”

Sam gật đầu.

-“Vậy, ông nghĩ sao về ý tưởng này?”

-“Đây chính xác là kiểu nơi mà tôi có thể hình dung một hiệu sách sẽ phát triển tốt. Như anh nói, chẳng có đối thủ cạnh tranh nào cả. Không tổn hại gì khi mà sóng điện thoại di động chập chờn ở những vùng này, làm cho việc tải sách điện tử trở nên khó khăn."

Franc chen vào: “Rất nhiều khách hàng của chúng ta vốn đã rất quan tâm đến các sách về tâm thức/thân thể/tinh thần. Họ thường xuyên đọc những cuốn đó ngay ở đây mà.”

Sam xen vào: “Nếu họ đến để trải nghiệm toàn diện, ông có thể mở rộng trải nghiệm đó bằng cách thêm việc mua sách mới, CD, có thể là cả quà tặng nữa.”

-“Các món đồ Phật giáo và đồ lưu niệm Ấn Độ.”

-“Chỉ những món chất lượng tốt thôi.”

-“Tất nhiên rồi.”

Suốt cả ba giây, Sam giữ ánh nhìn của Franc. Ánh lấp lánh trong mắt Franc đã chuyển thành sự hứng khởi trọn vẹn. Ngay cả sự rụt rè thường thấy của Sam dường như cũng tan biến.

Rồi Franc hỏi: “Anh sẽ thiết lập nó giúp tôi chứ?”

-“Ý ông là—?”

-“Và quản lý nó. Với tư cách là quản lý hiệu sách của tôi.”

Sự hứng khởi nhanh chóng biến mất trên khuôn mặt của Sam.

-“À, điều đó thật… thật… thật tốt khi yêu cầu, nhưng tôi không thể đâu.” Những vết nhăn sâu hiện lên giữa hai lông mày của anh. “Ý tôi là, tôi chỉ ở đây vài tuần thôi mà.”

-“Anh đâu có công việc nào để quay lại đâu,” Franc nhắc nhở anh, hơi thẳng thắn. “Tôi đang đề nghị anh một công việc ở đây.”

-“Nhưng visa của tôi—”

Franc vẫy tay ra hiệu bỏ qua: “Tôi có một người có thể lo tất cả thủ tục giấy tờ.”

-“Và chỗ ở—”

-“Có một căn hộ ở tầng trên,” Franc nói. “Tôi có thể đưa phần đó vào thỏa thuận.”

Nhưng thay vì giải tỏa những băn khoăn của Sam, Franc dường như chỉ làm chúng thêm rối. Sam cúi mặt xuống khi một làn đỏ hiện lên, trước tiên ở cổ, rồi dần dần, không ngừng, lan rộng ra hai gò má.

-“Tôi thật sự không thể làm được,” anh nói với Franc. “Ngay cả khi mọi thứ khác đều… ”

Franc nghiêng người về phía trước trên ghế, nhìn chằm chằm anh. “Tại sao lại không?”

Sam nhìn sàn nhà với vẻ bất lực.

-“Anh có thể nói với tôi mà,” Franc nói, giọng dịu lại.

Sam lắc đầu chậm rãi.

Sau một khoảnh dừng, Franc thử một cách tiếp cận khác. “Tin tôi đi—tôi là một Phật tử.”

Sam mỉm cười buồn.

-“Tôi sẽ không bỏ qua đâu”—Franc cố gắng kết hợp cả sự đồng cảm lẫn quyết tâm trong giọng nói của mình.

—“cho đến khi anh nói với tôi.”

Ông ngả người ra sau trên ghế, như thể chuẩn bị cho một chờ đợi lâu dài. Làn đỏ trên má Sam càng trở nên đậm hơn. Rồi, sau khoảng dừng dài nhất từ trước đến nay, mắt vẫn nhìn xuống sàn, Sam thì thầm: “Khi cửa hàng ở Century City đóng cửa, tôi bị sa thải.”

-“Anh đã nói rồi mà.”

“Vấn đề là, không phải ai cũng bị sa thải. Một vài người được giữ lại và chuyển công việc khác.” Sam cúi đầu, đầy hổ thẹn.

-“Và anh đang nghĩ—?”

-“Nếu tôi giỏi công việc của mình, tôi cũng đã được giữ lại rồi.”

- “Vậy họ chỉ giữ lại những người làm việc xuất sắc, đúng không?” giọng Franc căng lên. “Lý do gì khác nữa? Chi phí sa thải họ? Hay vì họ là nhân viên lâu năm?”

Sam nhún vai. “Chắc vậy. Hầu hết là thế. Nhưng ông cũng thấy mà… tôi tệ với mọi người đến mức nào. Tớ sẽ chẳng hợp với việc đó đâu, Franc.” Cuối cùng anh cũng cố liếc thật nhanh về phía Franc. “Hồi đi học, lúc chia đội thể thao thì tớ luôn là đứa bị chọn cuối cùng. Lên đại học, tôi chẳng bao giờ hẹn hò được với ai. Tôi không phải kiểu người giỏi giao tiếp. Tôi sẽ làm hỏng mọi thứ mất.”

Khi Franc nhìn dáng vẻ đáng thương của Sam trước mặt mình, một nụ cười tinh quái đầy ẩn ý thoáng hiện trên môi anh. Không nói lời nào, ông ra hiệu cho Kusali mang cho mình một ly espresso.

-“Ừ, tôi đồng ý,” ông đáp sau một lúc. “Hãy tưởng tượng sẽ tai hại thế nào nếu để một người thuộc lòng thể loại sách theo kiểu ngược đời đi đặt toàn bộ đơn hàng cho cửa tiệm. Hoặc nếu khách hỏi anh về một chủ đề nào đó, và anh lại đưa cho họ nửa tá lựa chọn khác nhau. Thật đúng là thảm họa!”

-“Không phải vậy—”

-“Giả sử có ai đó bước vào đây muốn chọn một đội thể thao, và người đầu tiên họ nhìn thấy lại là anh.”

-“Ông biết là tôi không có ý—”

-“Hoặc, trời cứu chúng ta, một cô gái độc thân bước vào đây đang đi tìm một buổi hẹn hò!”

-“Vấn đề là nói chuyện với người khác,” Sam đáp lại, gần như gay gắt. “Tôi không giỏi chuyện đó.”

-“Anh nói chuyện với tôi mà.”

-“Ông không phải khách hàng.”

-“Tôi chưa bao giờ ép ai phải gọi cappuccino, và tôi cũng không mong anh phải ‘bán hàng’ quá mức, nếu anh đang nghĩ vậy,” Franc nói.

Hai người nhìn thẳng vào nhau một cách bình tĩnh trước khi Franc nói:

-“Hoặc ý tưởng mở hiệu sách này sẽ thành công, hoặc là không. Tôi tin anh là người phù hợp cho công việc này, ngay cả khi chính anh không tin điều đó.”

Cuộc trò chuyện đó diễn ra vào cuối tuần trước, và dù Franc đã cố gắng hết sức, nó vẫn kết thúc mà không có sự cam kết nào từ Sam. Từ đó đến nay, Sam vẫn đến quán cà phê mỗi ngày, nhưng không ai nhắc lại chủ đề đó nữa. Tôi tự hỏi Franc sẽ còn giữ được bao lâu. Vì tôi không hề nghi ngờ rằng ông sẽ lại đem chuyện này ra bàn một lần nữa.

Kể từ cuộc trò chuyện với Sam, Franc đã gọi một vài thợ lành nghề đến đo đạc không gian mà ông đang cân nhắc để mở hiệu sách, đồng thời bàn bạc về các phương án kệ sách và trưng bày. Nhưng liệu ông có thể khiến Sam thay đổi ý định không?

Thực ra, khả năng thuyết phục của Franc trở nên không còn quan trọng. Không lâu sau khi tôi đến quán vào buổi sáng hôm đó và thấy Sam đang say mê về chủ đề sinh học tế bào và biểu sinh học (epigenetics), thì người xuất hiện trong quán cà phê lại chính là Geshe Wangpo.

Như Franc nhanh chóng phát hiện ra, việc có một người thầy vừa là lợi ích vừa là thử thách. Lợi ích thì phi thường, nhưng yêu cầu cũng khắc nghiệt không kém. Và khi người thầy của bạn là một vị lạt ma nghiêm khắc như Geshe Wangpo, thì cả hai mặt của “lưỡi kiếm” ấy đều sắc như dao cạo. Mỗi tối thứ Ba, Franc tham dự các buổi học về Con Đường Giác Ngộ tại ngôi chùa trên đồi, nhưng vào những thời điểm khác, Geshe Wangpo lại bất ngờ xuất hiện trong đời sống của anh, mang theo những biến chuyển có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống.

Trong một lần khác, những rắc rối nghiêm trọng với đội ngũ nhân viên phục vụ đã khiến Franc rơi vào trạng thái bối rối và tuyệt vọng.

Geshe Wangpo đã gọi điện cho ông— một việc chưa từng xảy ra trước đó và cũng không hề được báo trước — và trong một cuộc gọi ngắn gọn nhất, ra lệnh rằng ông phải trì tụng mantra Tara Lục (Green Tara) mỗi ngày hai giờ. Đến cuối tuần đó, các vấn đề nhân sự của Franc một cách khó hiểu đã tự nhiên được giải quyết ổn thỏa.

Trong một dịp khác, Franc vừa đặt điện thoại xuống sau cuộc nói chuyện với cha mình, người đã gọi đường dài từ giường bệnh ở San Francisco. Suốt mười phút trước đó, Franc đã cố giải thích vì sao ông không thể về thăm nhà lúc này. Khi ông quay lại phát hiện Geshe Wangpo đang đứng ngay phía sau mình. Vị lạt ma lập tức ra lệnh, không hề do dự, rằng việc thăm cha phải được đặt lên hàng đầu. Ngài hỏi Franc đang nghĩ mình là loại người con gì khi nói với một người cha già yếu, mong manh rằng mình quá bận để gặp ông? Ông nghĩ mình nợ ai sự sống này? Ông muốn có kiểu cha mẹ như thế nào trong những kiếp tương lai — những người thờ ơ và bỏ mặc ông như chính ông đang dự định đối xử, hay những người thật sự quan tâm đến hạnh phúc của ông? Và, nhân tiện, Ngài cũng nhắc Franc nên mua cho cha mình những món quà chất lượng tốt từ cửa hàng miễn thuế.

Nửa giờ sau, Franc đã đặt vé về nhà.

Hôm nay, khi Geshe Wangpo xuất hiện trong quán cà phê vào khoảng thời gian vắng khách giữa buổi sáng, Ngài liếc nhìn qua hàng loạt bàn trống trước khi đi thẳng về phía nơi Sam Goldberg đang ngồi một mình đọc sách.Có một năng lượng mạnh mẽ trong cách ngài di chuyển khắp căn phòng, như thể ngài không phải là một vị tu sĩ khoác áo màu nâu đỏ xuất hiện trong quán, mà là một thực thể hoàn toàn uy nghi hơn — có lẽ giống một con quái vật khổng lồ màu xanh đen, phun lửa, như những hình ảnh được vẽ trong các bức thangka ở chùa.

-“Tôi có thể ngồi đây không?” ngài hỏi, kéo chiếc ghế đối diện Sam Goldberg.

-“V-vâng. Được chứ.” Hầu như tất cả các bàn xung quanh đều trống, nhưng nếu Sam thấy yêu cầu này kỳ lạ thì anh không hề để lộ ra. Thay vào đó, anh lại tiếp tục đọc cuốn sách của mình.

Sau khi đã ngồi thoải mái, Geshe Wangpo không có ý định giữ im lặng.

-“Anh đang đọc gì vậy?”

Sam Goldberg ngẩng lên. “Một cuốn sách về… ờ, epigenetics (biểu sinh học).”

Vị lạt ma liếc nhìn ba cuốn sách bìa mềm xếp cạnh chiếc cốc cà phê rỗng của Sam Goldberg. -“Anh thích đọc sách à?”

Sam gật đầu.

Tôi tự hỏi liệu Franc đã nói với Geshe Wangpo về ý tưởng mở hiệu sách của mình sau buổi học tuần đó hay chưa, nhưng điều đó có vẻ khó xảy ra. Geshe Wangpo luôn khuyến khích các học trò của mình tự lực. Còn Sam Goldberg thì hoàn toàn không biết Geshe Wangpo là ai, ngoài việc xem ngài như một vị tu sĩ có phần quá thẳng thắn và chủ động.

-“Điều đó rất hữu ích,” Geshe Wangpo nói với Sam Goldberg, “là chia sẻ hiểu biết của mình với người khác. Nếu không thì, có ý nghĩa gì khi sở hữu nó?”

Sam Goldberg ngẩng lên nhìn vị lạt ma — và giữ ánh mắt ấy. Đây không phải cái nhìn lướt qua như thường lệ, mà là sự giao nhau kéo dài đến mức gần như bất thường. Điều gì trong gương mặt của Geshe Wangpo đã giữ lấy ánh nhìn của anh? Có phải đó là điều gì mang lại cảm giác yên tâm, như thể ẩn dưới vẻ nghiêm khắc của vị tu sĩ Tây Tạng là một sự từ bi sâu xa và an toàn? Hay đơn giản là Geshe Wangpo đang giữ ánh nhìn của Sam bằng sức mạnh nhân cách mà ngài vốn nổi tiếng? Hay có lẽ đang hình thành một kết nối khác — một điều gì đó khó lý giải hơn, vượt ra ngoài những cách hiểu thông thường?

Dù là gì đi nữa, khi Sam Goldberg cuối cùng trả lời, anh không còn chút rụt rè thường thấy. “Thật lạ là ngài lại nói vậy. Chủ quán ở đây đã hỏi tôi có muốn điều hành một hiệu sách cho ông ấy không.” Anh khẽ chỉ về khu vực trống mà Franc đang dự định sử dụng.

“Anh có muốn không?” vị Lạt Ma hỏi.

Sam nhăn mặt. “Tôi nghĩ mình sẽ không giỏi việc đó đâu.”

Vẻ mặt của Geshe Wangpo vẫn không thay đổi. Ngài thử lại. “Anh có muốn không?”

-“Tôi không thể làm ông ấy thất vọng. Ông ấy sẽ phải đầu tư rất nhiều tiền vào hàng tồn kho và các kệ trưng bày. Nếu mọi chuyện đổ bể vì tôi…”

-“Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi.” Geshe Wangpo nghiêng người về phía trước. “Nhưng anh có muốn không?”

Một nụ cười nhỏ, pha chút áy náy nhưng không thể cưỡng lại được hiện lên trên khóe miệng Sam.

 

Trước khi anh kịp nói lời nào, Geshe Wangpo đã bảo ông: "Vậy thì anh phải làm thôi!"

Nụ cười của Sam càng rạng rỡ hơn. “Tôi đã suy nghĩ về điều đó. Rất nhiều. Nó có thể là một... khởi đầu mới đầy thú vị. Nhưng tôi vẫn còn một số băn khoăn.”

-“Băn khoăn là gì vậy?” Vị Lạt Ma nhíu mày đầy kịch tính.

-“Những băn khoăn?” Sam tra từ điển đồng nghĩa trong đầu. “Những nghi ngờ. Những lo ngại. Những điều không chắc chắn.”

-“Đó là chuyện bình thường,” ngài nói với anh ta. Rồi, để nhấn mạnh, ngài ta nói lại lần nữa, sâu hơn, to hơn và chậm hơn: “Bình thường.”

-“Tôi đang phân tích cơ hội –“ Sam bắt đầu giải thích.

Nhưng Geshe Wangpo cắt ngang anh ta. “Quá nhiều suy nghĩ là không cần thiết.

Sam nhìn chằm chằm vào ngài, ngạc nhiên khi nghe câu hỏi về nhận thức bị gạt bỏ một cách hời hợt như vậy. "Anh chưa từng thấy tôi tiếp xúc với người khác," ngài tiếp tục. "Những người bình thường."

Để hai tay vào hông, vị lạt ma ngồi nhỗm tới trong chỗ của ngài. “Có một vấn đề?”

Sam nhún vai. "Có lẽ có thể nói đó là vấn đề về lòng tự trọng."

-“Lòng tự trọng?”

-“Khi anh nghĩ mình không đủ khả năng.”

Geshe Wangpo không tin. “Nhưng anh đọc rất nhiều sách. Anh có kiến thức mà.”

-“Không phải vậy.”

-“Trong Phật giáo”—vị Lạt Ma ngửa đầu ra sau đầy thách thức—“chúng tôi sẽ nói rằng anh lười biếng.”

Phản ứng của Sam lần này hoàn toàn trái ngược với thường lệ. Sắc mặt anh tái nhợt.

-Tự thất vọng, nghĩ rằng anh không đủ sức, cho rằng ‘tôi không thể làm việc này.’ Đây là tâm hồn yếu kém. Anh phải làm việc để chiến thắng nó.”

-“Tôi không có ý muốn lựa chọn,” Sam phản đối yếu ớt.

-“Vậy thì anh phải chọn cách vượt qua. Điều gì sẽ xảy ra nếu anh cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu đuối? Anh sẽ nuôi dưỡng sự yếu đuối. Kết quả là một tâm trí thậm chí còn yếu đuối hơn trong tương lai. Thay vào đó, anh phải trau dồi sự tự tin!”

Geshe Wangpo ngồi thẳng lưng trên ghế, nắm chặt tay đặt trên bàn. Sức mạnh dường như tỏa ra từ ngài theo mọi hướng.

-Ngài nghĩ tôi có thể?”

-“Anh phải như thế! Vị lạt ma nói với anh một cách mạnh mẽ. “Khi anh nói với mọi người, anh phải nói với họ với đối mắt mở to và một giọng mạnh mẽ.”

Sam đang cố gắng ngồi thẳng lưng hơn trên ghế.

-Anh đã đọc Hướng dẫn lối sống của Bồ tát?”

Sam gật đầu.

“Nó nói rằng sự tự tin nên được áp dụng vào những hành động lành mạnh. Đó là điều bạn sẽ làm ở đây, phải không—những hành động lành mạnh? Bạn phải quyết định ‘Chỉ mình tôi sẽ làm điều đó.’ Đây chính là sự tự tin trong hành động.”

-Đôi mắt mở to và một giọng mạnh mẽ?” Sam hỏi lớn tiếng một cách đáng chú ý.

Vị lạt ma gật đầu. “Như thế này.”

Đáp lại sức mạnh của Geshe Wangpo, một cảm giác mới dường như đang đến với Sam. Anh ngồi thẳng hơn. Tư thế của anh tự tin hơn. Thay vì nhìn xuống, anh nhìn thẳng vào mắt Geshe Wangpo. Không có lời nào được nói ra, nhưng trong sự im lặng, một hình thức giao tiếp khác, trực quan hơn dường như đang diễn ra. Như thể Sam nhận ra rằng tất cả những vấn đề về lòng tự trọng của anh chẳng qua chỉ là những ý niệm anh tự đặt ra về bản thân, những ý niệm mỏng manh như giấy ăn. Những ý niệm tạm thời, và giống như bất kỳ ý niệm nào khác, sẽ xuất hiện, tồn tại và biến mất.

Những ý tưởng ấy, khi có mặt vị sư này, đã được thay thế bằng những ý tưởng khác, lạc quan và yêu đời hơn.

Sau một hồi lâu, anh mới lên tiếng. "Tôi không biết tên ngài," anh nói.

 -“Geshe Acharya Trijang Wangpo.”

-“Phải chăng đây không phải là tác giả của cuốn ‘Con đường đến sự hợp nhất của việc không còn học hỏi nữa’, do Stephanie Spinster dịch?”

Vị Lạt ma ngồi dựa lưng vào ghế, khoanh tay trước ngực và liếc nhìn Sam với ánh mắt thách thức đầy nghiêm khắc. "Anh biết nhiều lắm đấy," ông ta nói.

Khi tôi trở về Jokhang vào chiều hôm đó, tôi chìm đắm trong suy nghĩ về những điều mà Geshe Wangpo đã nói. Tôi cũng ngạc nhiên như Sam khi nghe rằng trong Phật giáo, thiếu tự tin được coi là một hình thức lười biếng, một tâm trí yếu đuối cần phải khắc phục. Tôi không thể không nhớ lại cảm giác bất lực của chính mình khi nói đến việc thực hành Phật pháp nói chung và thiền định nói riêng. Và làm thế nào mà, khi sống ở Jokhang và thường xuyên được nhắc nhở về những giác ngộ siêu việt có thể đạt được, việc thực hành thiền định của tôi lại quá hạn chế đến nỗi dường như chẳng đáng để tiếp tục.

Nhưng như vị Lạt ma của Franc đã nói, điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu đuối? Kết quả nào có thể xảy ra ngoài sự yếu đuối trong tương lai? Có một logic không thể tránh khỏi, dù có phần khó chịu, nhưng cùng với đó là một cảm giác mạnh mẽ kỳ lạ về sự tự tin.

Tối hôm đó, khi tôi ngồi thiền trên bệ cửa sổ, hai chân trước khép gọn dưới thân, mắt nhắm hờ và ria mép dựng đứng, trước khi tập trung vào hơi thở, tôi nhớ lại lời của Geshe Wangpo.

Tôi tự nhắc nhở mình rằng tôi đang sống với một hình mẫu hoàn hảo, rằng tôi được bao quanh bởi những người ủng hộ việc tu tập của mình. Không có hoàn cảnh nào tốt hơn hoàn cảnh của tôi để phát triển thành một bồ tát mèo chân chính (a true bodhicatva).

Chỉ mình tôi phải làm điều này!

Liệu tôi có đạt được trạng thái giác ngộ hoàn toàn sau buổi thiền định đó? Phải chăng sự thay đổi thái độ của tôi là nguyên nhân dẫn đến niết bàn tức thì? Thưa độc giả, tôi sẽ nói dối nếu nói như vậy. Thiền định của tôi không cho thấy dấu hiệu cải thiện tức thì, nhưng có lẽ quan trọng hơn, cảm xúc của tôi về nó đã thay đổi.

Từ lúc đó, tôi quyết định rằng mình sẽ không coi mỗi buổi thiền không tốt là lý do để bỏ cuộc. Tôi sẽ không đánh giá trải nghiệm của bản thân dựa trên những thành tựu phi thường mà các vị khách của Đức Thánh Thiện đã đạt được. Tôi là một người như Ngài, với những thiếu sót và yếu điểm của riêng mình, nhưng cũng giống như Sam, tôi có những điểm mạnh của riêng mình. Tôi sẽ thiền định, nói một cách ẩn dụ, với đôi mắt mở to và giọng nói mạnh mẽ. Có thể tôi chưa nắm vững tất cả các hướng dẫn về thiền định tập trung, nhưng tôi biết khá nhiều điều.

Thưa quý độc giả, câu chuyện này còn có phần kết. Tất nhiên rồi – đó mới là phần hay nhất, phải không? Món quà bất ngờ. Cú xoay người uyển chuyển. Khi nói đến những sự thay đổi đột ngột, tôi chính là kiểu người như vậy.

Đây chính là một cuốn sách như vậy.

Và, sau khi đã cùng tôi đi đến tận đây, dù muốn hay không, bạn tôi ơi, chắc chắn bạn là kiểu độc giả như thế!

Trước tiên, một lời thú nhận.

Tôi đã cảm thấy bất an vào ngày nghe Sam kể về những lời tự nghi ngờ ngày càng trầm trọng của anh ấy, khi anh ấy giải thích cảm giác bất tài của mình với Franc. Việc bị sa thải khỏi hiệu sách càng làm nổi bật cảm giác bị từ chối khi là người cuối cùng còn lại trong các buổi tuyển chọn đội thể thao. Việc anh ấy không tìm được tình yêu ở đại học chỉ càng củng cố thêm câu chuyện về một kẻ lạc lõng đáng thương. Thực tế là nhiều chuyên gia giỏi giang lại không có năng khiếu thể thao, hay việc một số phụ nữ xinh đẹp nhất lại hạnh phúc bên những người đàn ông mọt sách nhất, dường như không làm thay đổi những niềm tin tự hủy hoại bản thân của anh ấy. Xét về trí thông minh của anh ấy, lời giải thích đó thật kỳ lạ và thậm chí đáng cười nếu không phải vì nỗi đau mà nó rõ ràng đã gây ra cho chính anh ấy.

Thế nhưng, khi tôi lắng nghe cách anh ấy kết hợp một loạt những trải nghiệm rời rạc để tạo nên một câu chuyện bi thương phức tạp về bản thân, tôi không thể tránh khỏi một nhận thức đau đớn: Tôi cũng giống như vậy.

Chẳng phải tôi đã để một suy nghĩ tiêu cực khơi mào một suy nghĩ hoàn toàn không liên quan sao? Vừa mới suy ngẫm về kỹ năng thiền định kém cỏi của mình thì tôi lại chuyển sang tự trách mình thiếu kỷ luật trong việc ăn uống.

Khi ngắm nhìn hình hài của mình, tôi thường nghĩ về dáng đi kỳ cục do chấn thương ở chân. Điều này dẫn đến, một cách tất yếu và đáng buồn, những ký ức đầu tiên của tôi và vấn đề về dòng dõi gia đình.

Sau cú sốc mà Geshe Wangpo mang lại, tôi đã khám phá ra một động lực ngược lại: những suy nghĩ tích cực cũng nhân lên – và tạo ra những hiệu quả tuyệt vời ngoài sức tưởng tượng.

Có một câu nói được cho là của Goethe, rất được các nhà sản xuất nam châm tủ lạnh, thiệp chúc mừng và các vật phẩm trang trí truyền cảm hứng khác yêu thích. Câu nói đó là: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc mơ ước bạn có thể làm, hãy bắt đầu. Sự táo bạo chứa đựng thiên tài, sức mạnh và phép màu.” Mặc dù Tenzin nói với tôi rằng Goethe chưa bao giờ viết điều như vậy, nhưng những lời này lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ.

Khi tôi bắt đầu tự tin hơn về việc thực hành thiền định của mình, tôi nhận thấy nó ảnh hưởng đến rất nhiều thứ khác. Tôi sẽ không ăn hết từng miếng gan gà băm nhỏ của bà Trinci chỉ vì nó có sẵn. Tôi sẽ bước vào các cuộc gặp gỡ với những vị khách quý nhất của Đức Thánh Thiện với vẻ tự tin, oai vệ.

Tại sao tôi lại không nên làm vậy?

Và điều kỳ lạ nhất: Tashi và Sashi, hai đứa trẻ đường phố trở thành sa di mà Đức Thánh Thiện đã dặn dò phải đặc biệt chăm sóc tôi, vẫn tiếp tục đến thăm tôi trong phòng thăm viếng của Jokhang thỉnh thoảng. Thường thì chúng sẽ ngồi trên sàn nhà khoảng năm phút và gãi cổ cho tôi.

Đôi khi họ sẽ đọc mật ngôn.

Một buổi chiều nọ, vài ngày sau khi thái độ của tôi thay đổi, họ tình cờ đến thăm. Theo thông lệ, tôi nằm lên một tấm thảm cầu kỳ, tay chân dang rộng, để họ có thể vuốt ve bụng tôi.

Đúng lúc đó, Chogyal bước vào phòng.

-“Rất đẹp.” Ông gật đầu với hai cậu bé sa di và mỉm cười.

-“Nó đã lớn thành một con mèo xinh đẹp,” Tashi nói.

-“Đây là giống mèo Himalaya,” Chogyal nói với họ, cúi xuống xoa bóp những đầu tai mềm mại như nhung của tôi. “Thông thường, chỉ những người giàu mới đủ khả năng mua những con mèo như thế này.”

Sashi nhìn xa xăm một lúc trước khi nói, “Mẹ của con mèo này từng thuộc sở hữu của người giàu.”

-“Thật sao?” Chogyal nhướng mày.

-“Mặc dù chúng tôi sống ở khu nghèo, nhưng chúng tôi vẫn thường thấy mẹ nó đi dọc theo bức tường từ ngôi nhà lớn—”

-“Ngôi nhà rất lớn,” Tashi chen vào. “Có cả bể bơi riêng nữa!

-“Cô mèo ấy đến đó để ăn,” Sashi nói.

-“Một ngày nọ, chúng tôi đi theo cô ấy đến chỗ những chú mèo con—” Tashi bắt đầu.

-“Đó là cách chúng tôi tìm thấy chúng,” Sashi nói tiếp.

-“Ở ngôi nhà đó có vài chiếc Mercedes bóng loáng,” Tashi nhớ lại. “Và một người hầu mà công việc duy nhất của anh ta là đánh bóng chúng!”

Chogyal đứng thẳng người. “Thật thú vị. Có vẻ như HHC cuối cùng cũng là giống thuần chủng. Nhưng anh biết đấy, lời thề của chúng ta, những người theo đạo Phật, là không nhận bất cứ thứ gì trừ khi được cho đi một cách tự nguyện. Tôi tự hỏi liệu có thể liên lạc với gia đình mà cô mèo ấy xuất thân để đề nghị trả tiền cho họ không?”/.



[1] Greenie: Người “xanh” về môi trường: tức là những người rất quan tâm đến môi trường, thích lối sống “xanh”, bảo vệ thiên nhiên, ăn chay, hạn chế nhựa, v.v.

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Qua ánh trăng: Lễ hội Saga Dawa tại các tu viện vùng Himalaya


Through the Eyes of the Moon: Celebrating Saga Dawa at Himalayan Monasteries

·        Tác giả:  Rebecca Wong
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

*****


Saga Dawa: mùa Phật Đản, hay lễ Vesak

Nhìn ra Ấn Độ Dương vào đêm trăng tròn của tháng Saga Dawa (Vesak), tôi ngồi thiền. Hương trầm trên bàn thờ của tôi đã cháy hết chỉ còn lại một sợi tro xám. Bên ngoài cửa sổ khách sạn, mặt trăng trắng như đồng xu mát lạnh, và khi hơi thở của tôi dần ổn định, một điều gì đó hé mở – một sự giải phóng tinh tế ở rìa nhận thức.

Một cánh ánh sáng xanh lam bung ra từ sự tĩnh lặng của tôi. Tôi không còn chỉ đơn thuần là một thân thể trên chiếc đệm nữa. Tôi là một dakini, một vũ công trên bầu trời, bay lên xuyên qua mái nhà và lao về phía bắc, bị thu hút về phía dãy Himalaya bởi một tần số mà tôi cảm nhận được nhiều hơn là nghe thấy. Tôi không phải là một người hành hương đi bộ. Vào đêm nay, thân trung ấm (thể vía – astral body) của tôi dưới hình dạng một sự hiện diện im lặng, chứng kiến cách các tu viện lớn trên khắp dãy Himalaya kỷ niệm ngày sinh, giác ngộ và nhập Niết bàn của Đức Phật.

Saga Dawa, ngày thứ mười lăm của tháng tư âm lịch Tây Tạng, gói gọn ba cột mốc quan trọng trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới một vầng trăng tròn. Bắt nguồn từ tháng Vaisakha hay Vesak của Ấn Độ và được du nhập vào Tây Tạng, ngày này vô cùng đặc biệt. Nếu bạn cúng dường trong lễ hội này, công đức của bạn sẽ được nhân lên gấp bội trong nhiều thế kỷ.

Từ chỗ ngồi thiền của mình, trong hình dạng vũ công trên bầu trời, tôi sẽ lướt nhẹ qua những lễ hội quan trọng khắp vùng Himalaya, quan sát như một con mắt lặng lẽ, đầy ngưỡng mộ. Ánh trăng di chuyển trên những mái nhà vàng óng của Lhasa, rọi sáng những pháo đài quét vôi trắng của Ladakh, và gợn sóng qua những hàng cây phượng tím của Bhutan. Bên dưới nó, mỗi nghi lễ thiêng liêng—kora, lạy phủ phục, điệu múa cham—tạo thành những nan hoa của một bánh xe. Tôi đang ở trên đỉnh bánh xe quay này, một vệt xanh lặng lẽ, bước vào mỗi tu viện để quan sát các sự kiện của họ.

Tu viện Samye—tăng đoàn đầu tiên

Tôi bước qua một ô cửa sổ cao vào một khu rừng khói hương. Samye, tu viện Phật giáo đầu tiên của Tây Tạng, được xây dựng vào thế kỷ thứ tám để làm nền tảng cho Phật pháp, nằm trong một sân mandala năm vị Phật. Những ngọn đèn bơ tỏa ánh sáng dưới bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni vĩ đại; nụ cười dịu dàng của Ngài như một lời chào đón nồng ấm.

Đối diện, bức tượng vàng Liên Hoa Sanh được đúc như thật nhìn xuống với vẻ mặt thiền định, đôi mắt mở to. Các nhà sư đang thực hiện ngày cuối cùng của lễ cúng Guru Rinpoche Liên Hoa Sanh, giọng tụng kinh của họ ngân nga trầm ấm, dường như truyền tải một sự thanh tịnh siêu phàm. Một chiếc chuông tay ngân vang, sáng như đồng xu rơi; một chiếc tù và vang lên âm thanh ù ù. Sau đó, một tia sáng bình minh, sắc bén và màu xanh nhạt, xuyên qua làn khói, như thể Đạo Sư Tôn Quý đang ở đây để nhắc nhở mọi người lý do tại sao viên đá đầu tiên được đặt xuống, tại sao con quỷ đầu tiên bị tiêu diệt. Đây là nơi mà Tăng đoàn Phật giáo được chính thức thành lập ở Tây Tạng, hoàn chỉnh với Luật Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ (Mulasarvastivada Vinaya) và lễ thụ giới cho những nhà sư sinh ra ở Tây Tạng đầu tiên bởi các vị trưởng lão Ấn Độ.

Tu viện Sera, Tây Tạng—sân tranh luận

Khi xuống cao nguyên Tây Tạng, tôi đến sân tranh luận tại Sera, được mệnh danh là “Vườn Hoa Hồng Hoang Dã”. Đây là một trong ba tu viện lớn của Lhasa, một trung tâm tranh luận. Mã Đầu Minh Vương (Hayagriva), hiện thân giận dữ đầu ngựa của Quán Thế Âm, nhìn xuống với vẻ thích thú. Các nhà sư trong áo choàng màu đỏ sẫm và vàng đứng thành từng cặp—một người ngồi với vẻ thách thức thầm lặng, người kia đứng, giơ tay lên, rồi vỗ lòng bàn tay vào nhau khi bắt đầu luận điểm của mình. Các lập luận được đưa ra giữa không khí loãng ở độ cao lớn. Ở đây có một nhịp điệu dồn dập: vỗ tay, dậm chân, hỏi. Không có hương trầm, chỉ có mùi thơm thanh khiết của đá và sức nóng của sự tận tâm trí tuệ.

Tôi nán lại ở góc phòng, tự nhắc nhở bản thân rằng con đường dẫn đến giác ngộ có thể được vượt qua bằng cả trí tuệ lẫn trái tim.

Chùa Jokhang, Lhasa — con đường thực hành lễ phủ phục

Ở trung tâm Lhasa, điện Jokhang lung linh dưới ánh đèn bơ. Những khối gỗ đặt trên tay và đầu gối của các tín đồ hành hương khẽ nhích trên phiến đá cổ khi họ thực hiện nghi thức lạy toàn thân và đi vòng quanh. Mồ hôi, hương trầm bách xù, ngải cứu và không khí lạnh. Hàng ngàn con mắt chạm khắc trên các họa tiết động vật của Jokhang—sư tử, hươu, bồ tát—quan sát với sự tò mò khi tượng Phật, như thể được thổi hồn và bắt chước con người, thay đổi y phục từ màu nâu sang màu vàng. Bức tượng đã được vận chuyển dọc theo Con đường Tơ lụa, như một của hồi môn mà công chúa nhà Đường là Văn Thành mang đến cho người chồng mới của mình, vua Tây Tạng Songtsen Gampo (mất năm 650), vào năm 641.

Một vị sư trẻ nhúng cọ vào dòng vàng lỏng, nhẹ nhàng vẽ những đường nét trên khuôn mặt Phật. Những ngọn đèn dầu lung linh, và tôi lững lờ trôi mà không ai nhìn thấy, hai tay chắp lại cầu nguyện. Tôi nín thở khi hình ảnh Phật vàng rực rỡ lan tỏa khắp hành tinh.

Tu viện Palcho, Tây Tạng — bức tranh thangka vĩ đại đang được mở ra.

Bình minh ló dạng trên sườn đồi. Bốn mươi vị sư chạy vội lên dốc, áo cà sa màu nghệ và dây thừng trên tay. Palcho, cách Lhasa 230 km về phía nam, đang trưng bày báu vật lớn nhất của mình: một bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni khổng lồ bằng lụa cao mười tầng, vàng và đỏ son phủ kín bức tường goku tramsa (thangka). Đám đông tụ tập xì xào bàn tán trong sự kính trọng và ngưỡng mộ. Những âm thanh vang rền từ chuỗi câu mật ngôn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như từ mọi hướng dội lại. Trong khoảnh khắc đó, bức tượng Phật không chỉ là một bức tranh, mà là một sự hiện diện. Tôi lơ lửng giữa không trung, một nhân chứng thầm lặng cho lòng thành kính được thể hiện qua nghệ thuật và nghề thủ công tuyệt đẹp.

Tu viện Kumbum, Thanh Hải - các tác phẩm điêu khắc bằng bơ, những câu chuyện về Đức Phật.

Cuối cùng, tôi đặt chân đến Thanh Hải, Trung Quốc. Kumbum tọa lạc trên nơi sinh của Tsongkhapa (1357–1419), nhà cải cách vĩ đại của Mật tông và người sáng lập trường phái Gelug. Bên trong một điện thờ thoang thoảng mùi sữa và sáp lạnh, những bức tranh bằng bơ yak kể lại cuộc đời Đức Phật: sinh ra dưới gốc cây vô ưu-sal, bảy bước sen đầu tiên, sự xuất gia vĩ đại và chiến thắng cuối cùng trước Ma vương. Những người hành hương áp những chiếc khăn khata trắng lên kính. Bên cạnh là một thư viện ba tầng với bức tượng Văn Thù Sư Lợi khổng lồ ở trung tâm. Những kệ sách chứa đầy kinh sách cổ viết bằng vàng và đính ngọc trai lấp đầy điện thờ, tạo nên một bầu không khí sùng kính sâu sắc.

Tôi nghĩ đức tin cũng giống như vậy - trường tồn.

Punakha Dzong—nơi trú đông của Je Khenpo

Một tiếng vỗ cánh, và tôi đã đậu trên bức tường quét vôi trắng của Punakha Dzong, nơi trú đông của Je Khenpo, vị trụ trì tối cao của vương quốc Bhutan. Giọng nói của ông—trầm ấm, khàn khàn như đá của dòng sông—mở đầu bài tụng Kangyur. Tôi hình dung âm thanh của Tây Tạng lan tỏa ra ngoài, hội tụ với dòng sông Sankosh. Năm vị lopen (a xà lê), những vị quan chức tu viện cao cấp nhất, vây quanh ông, như năm vị Phật thiền định, và tôi cảm nhận rằng hai nghìn tu viện trên khắp vương quốc đang cùng nhau tụng niệm bài kinh ấy vào cùng một khoảnh khắc.

Đức Vua và Hoàng hậu Bhutan cúi đầu cầu nguyện thành kính. Các vị sư trẻ trong sân đung đưa như cỏ trong gió. Hương trầm đàn hương hòa quyện với mùi nước sông mát lạnh. Trăng tròn tỏa sáng trên khung cửa sổ có song sắt, im lặng như tờ, lan tỏa năng lượng hạnh phúc khắp mọi ngóc ngách của vương quốc.

Những Người Hành Hương

Trên đường trở về phía nam, tôi thấy rõ những người hành hương: một bà cụ ở Lhasa, trán được xoa mịn màng vì quỳ lạy; một cô gái trẻ ở Bhutan thả một con cá xuống dòng nước xám xanh lúc bình minh. Họ di chuyển dưới cùng một vầng trăng mà tôi vẫn có thể cảm nhận được qua cửa sổ nhà mình. Khuôn mặt họ mang một vẻ tĩnh lặng—lòng từ bi được thiêng liêng hóa.

Vang vọng trong con mắt thứ ba của tôi, toàn cảnh hiện ra: những lời tụng kinh tập thể ở Tashilhunpo, những con cá được thả về sông ở Labrang, những nhà nguyện nhỏ bé được thắp sáng bởi một ngọn đèn bơ duy nhất. Những âm tiết tiếng Phạn thiêng liêng lướt theo ánh trăng. Tiếng kèn, tiếng chuông, tiếng bước chân hòa quyện vào một nhịp điệu tĩnh lặng, trải rộng khắp lục địa.

Khi tôi mở mắt, hương đã tàn chỉ còn lại một làn khói mỏng, và mặt trăng đã lặn thấp hơn ở cửa sổ. Giáo lý đầu tiên của Đức Phật tại Sarnath hiện lên trong ký ức—Tứ Diệu Đế và Trung Đạo.

Tối nay tôi đã học được một điều khác. Con đường dẫn đến giác ngộ không phải là bỏ lại các giác quan phía sau; mà là thông qua việc trải nghiệm chúng. Mùi gỗ đàn hương, tiếng chuông ngân vang, tiếng trống rung động trong lồng ngực, hình ảnh một người bà quỳ lạy… đây không phải là những thứ gây xao nhãng, mà là những cánh cửa.

Mặt trăng chỉ là một hình ảnh phản chiếu, nhưng nó đã dẫn tôi đến mọi tu viện, mọi vũ công, mọi trái tim đang đập. Có lẽ giác ngộ cũng giống như vậy: không phải là một mặt trời xa xôi, mà là mặt trăng mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ, được phản chiếu trong mỗi trái tim rộng mở.

Khi vầng trăng lặng lẽ chứng kiến, nó nhắc nhở tôi về những lời của Đức Thánh Thiện Karmapa thứ 17: “Khi ta viên tịch, lòng từ bi của ta sẽ như vầng trăng tròn. Bất cứ nơi nào ánh trăng chiếu tới, lòng từ bi của ta sẽ chạm đến trái tim của tất cả chúng sinh.”/.

 

https://www.buddhistdoor.net/features/through-the-eyes-of-the-moon-celebrating-saga-dawa-at-himalayan-monasteries/