Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

CHƯƠNG 11: LỢI ÍCH CỦA BẢN VĂN

BẢO TÁNH LUẬN

Nguyên tác: Chapter 11: The Benefits Of The Text
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***


 [377] Bảo Tánh Luận chỉ ra rằng tất cả chúng sinh đều sở hữu bản tính Phật (buddha essence). Bốn điểm chính của Bảo Tánh Luận là:
(1)
những phẩm chất này biểu hiện như thế nào;
(2)
những phẩm chất nào phát triển khi đạt giác ngộ;
(3)
những phẩm chất nào sẽ phát triển từ giác ngộ; và
(4)
những phẩm chất đó tiếp tục giúp đỡ tất cả chúng sinh như thế nào.
Bốn điểm này được gọi là bốn điều không thể nghĩ bàn, bởi vì hầu hết chúng sinh — kể cả các Bồ Tát — không thể trực tiếp hiểu được những điểm này.

[378] Những điểm này là không thể nghĩ bàn, nhưng những người có trí tuệ — nghĩa là những người có trí thông minh, sự tinh tấn và niềm tin — sẽ trở thành pháp khí để tiếp nhận vô số phẩm chất của Phật. niềm tin sâu sắc, nguyện vọng chân thành, và một sự hiểu biết gián tiếp về những phẩm chất này là một điều kiện tốt, bởi vì nhờ đó người ta trở thành pháp khí để đạt được tất cả các phẩm chất của sự giải thoát và sự viên mãn của Đức Phật. Vì vậy, Bảo Tánh Luận giống như bước đầu tiên hướng tới việc chứng ngộ các phẩm chất của một vị Phật, bởi vì nó mang lại cho ta niềm tin rằng ta thực sự có thể đạt được giác ngộ.

Những người có sự quan tâm đến các phẩm chất này đang gieo trồng khu vườn của niềm hoan hỷ trong tâm mình, và từ những phẩm chất ấy tất cả các đức hạnh sẽ sinh trưởng. Điều này giống như khi ta trồng một rễ cây, từ đó một thân cây sẽ mọc lên và phát triển. Tuy nhiên, nếu không trồng rễ cây, thì không có hy vọng có được một cây xanh. Khi một gốc rễ đức hạnh rất mạnh mẽ đã được gieo trồng, nó sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi đạt được sự chứng ngộ. Người có loại đức hạnh này vượt trội hơn đức hạnh của bất kỳ chúng sinh nào khác, bởi vì chính đức hạnh ấy sẽ đưa họ đến những phẩm chất giác ngộ. Vì vậy, nghiên cứu và thiền định về Bảo Tánh Luận mang lại lợi ích lớn hơn so với việc thực hành bố thí, hành vi thiện xảo hay nhẫn nhục. Chủ đề của bản văn này rất quý báu, bởi vì nếu một người nghiên cứu bản văn này, chắc chắn nó sẽ giúp người ấy đạt đến Phật quả.

Mặc dù bản văn này không thể nghĩ bàn đối với những chúng sinh bình thường, nhưng nếu một người học giáo pháp này với niềm tinthực hành theo đó, thì người ấy sẽ đạt được Phật quả.

[379] Giả sử một Bồ Tát thực hành đại bố thí để đạt được giác ngộ. Mỗi ngày, vị ấy dâng cúng những cõi đất bằng vàng được trang hoàng bằng châu báu nhiều như số nguyên tử trong các cõi Phật. Nếu một Bồ Tát khác chỉ cần nghe những lời của bản văn này và hiểu rằng giáo pháp này thật sự là nguyên nhân trực tiếp đưa đến giác ngộ, rồi với niềm tin và cảm hứng mạnh mẽ phát khởi tâm đạt đến giác ngộ, thì vị Bồ Tát này sẽ có công đức lớn hơn vị Bồ Tát đang thực hiện những sự cúng dường to lớn kia.

[380] Một ví dụ thứ hai cho thấy rằng ngay cả công đức của việc giữ gìn giới hạnh vô cùng thanh tịnh cũng không thể sánh bằng cảm giác niềm tin đối với giáo pháp này. Nếu một người phát nguyện đạt đến giác ngộ bằng cách giữ gìn hạnh kiểm hoàn toàn thanh tịnh của thân, khẩu và ý trong vô số kiếp, đến mức mọi hành động xấu ác đều được từ bỏ một cách tự nhiên, rồi đem so sánh với một người được truyền cảm hứng bởi bản văn này, có nhiệt tâm lớn, niềm hoan hỷ lớn, niềm tin và lòng sùng kính, thì công đức của người sau sẽ lớn hơn rất nhiều.

[381] Giả sử có một người thực hành thiền định (định) để dập tắt ngọn lửa của các phiền não, những thứ dẫn đến sự tồn tại trong ba cõi của luân hồi (samsara). Nhờ sự thiền định này, người ấy đã dập tắt được ngọn lửa của các phiền não. Nếu so sánh người này với một người nghiên cứu và thực hành bản văn này, thì lợi ích của việc nghiên cứu và thực hành bản văn này sẽ lớn hơn so với việc chỉ thực hành thiền định (định).

[382] Làm sao có thể nói rằng công đức của việc chỉ nghe giáo pháp này và khởi lên sự quan tâm cùng niềm tin đối với nó lại lớn hơn công đức đến từ đại bố thí, hành vi thiện xảo (giới hạnh), hay thiền định? Câu trả lời là: bố thí mang lại sự giàu có, thực hành hạnh lành thiện xảo (giới hạnh) mang lại sự tái sinh vào các cõi cao, và thực hành thiền định giúp làm giảm các phiền não. Tuy nhiên, Bảo Tánh Luận giảng dạy những điểm không thể nghĩ bàn, những điều có thể dẫn đến trí tuệ (prajna). Khi trí tuệ (prajna) phát triển, những che chướng của một người sẽ giảm dần, và nhờ đó sự hiểu biết cùng các phẩm chất của sự chứng ngộ sẽ phát sinh — đây chính là những bước đầu tiên hướng tới Phật quả. Vì vậy, nghe giáo pháp này và phát khởi sự quan tâm đối với nó sẽ dẫn đến thành tựu Phật quả, nên sự phát triển trí tuệ (prajna) cao quý hơn sự phát triển của các đức hạnh khác.

Còn có một lợi ích khác của giáo pháp này. Uttara Tantra dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng Phật tánh ấy bị che phủ bởi những che chướng tạm thời. Tuy nhiên, những che chướng này có thể được loại bỏ, để giác ngộ hiển lộ. Khi điều này xảy ra, không phải là một trạng thái trống rỗng, mà người ấy sẽ phát triển đầy đủ các phẩm chất của sự giải thoát và sự viên mãn. Khi đã sở hữu những phẩm chất này, thì một cách tự nhiên, không cần cố gắng và không gián đoạn, người ấy sẽ hoạt động vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Những gì được giảng dạy trong Bảo Tánh Luận thuộc về lĩnh vực tri kiến đặc biệt của tất cả chư Phật. Nhưng nếu một người nghe và học giáo pháp này, người ấy sẽ bắt đầu hiểu rằng mình vốn đã có hạt giống của Phật quả trong chính bản thân, và khi biết điều đó, người ấy sẽ có niềm tin vững chắc rằng mình có thể trở thành Phật. Vì vậy, khi nghe giáo pháp này và tin tưởng vào nó, điều đó sẽ trở thành nguyên nhân đưa đến việc thành Phật. Nếu một người hiểu được bốn điều không thể nghĩ bàn, thì sự hiểu biết này sẽ một cách tự nhiên và không cần gắng sức làm phát sinh những phẩm chất như nguyện vọng mạnh mẽ, tinh tấn, chánh niệm, thiền định (định), trí tuệ (prajna), v.v. Những phẩm chất này sẽ tự nhiên sinh khởi, và tâm Bồ-đề (bodhicitta) — ước nguyện đạt giác ngộ để giải thoát tất cả chúng sinh — sẽ ngày càng phát triển.

[388] Khi chúng ta đã hiểu những giáo pháp này, chúng ta sẽ không còn thối chuyển, và công đức mà chúng ta đã tích lũy sẽ được hoàn thiện nhờ sự thực hành năm ba-la-mật còn lại. Điều này là vì khi chúng ta học giáo pháp này với tâm nguyện, chúng ta sẽ phát triển một phẩm chất đối nghịch với cách suy nghĩ phân biệt “ta” và “người khác.” Nhờ vậy, giáo pháp này có thể diệt trừ tư duy ba phần (tam luân) — tức là ý niệm về người làm, hành động và đối tượng. Khi những tư tưởng phân biệt này được vượt qua, chúng ta sẽ trở nên viên mãn và thanh tịnh.

[389] Thông qua năm ba-la-mật gồm bố thí, trì giới (hạnh lành), nhẫn nhục, thiền định và tinh tấn, công đức được tích lũy.
-
Công đức từ bố thí được tích lũy qua việc cho đi.
-
Công đức từ hạnh lành thiện xảo (trì giới) được tích lũy bằng cách giữ gìn giới hạnh thật thanh tịnh.
-
Công đức của nhẫn nhục và thiền định phát sinh từ sự thực hành thiền tập.
-
Công đức từ tinh tấn đến từ sự siêng năng nỗ lực thực hành tất cả các phẩm chất khác.

[390] Lợi ích tiếp theo của việc hiểu giáo pháp này và thực hành đúng đắn là nó giúp loại bỏ các che chướng.

Che chướng về nhận thức là những che chướng do tư duy tam luân gây ra, nghĩa là khi ta phân chia mọi hành động thành ba phần: chủ thể, đối tượng và hành động giữa chúng.

Ví dụ, trong bố thí:
-
Đối tượng bên ngoài có thể là người nghèo,
-
Chủ thể có thể là một vị Bồ Tát,
-
Hành độngvật được cho đi.

Nếu tin rằng ba yếu tố này là thật có và độc lập, thì hành động bố thí sẽ trở nên không thanh tịnh và từ đó tạo ra che chướng về nhận thức.

Các che chướng cảm xúc là những tư tưởng tiêu cực, chẳng hạn như tham lam, những thứ có thể ngăn cản việc thực hành bố thí. Những che chướng này ngăn chúng ta đạt đến giác ngộ, và khi còn chúng thì không có cách nào đạt được giải thoát. Ngay cả khi siêng năng thực hành các ba-la-mật, những che chướng này vẫn không thể được loại bỏ hoàn toàn. Cách duy nhất để loại bỏ các che chướng là thông qua trí tuệ (prajna). Vì vậy, sự thực hành trí tuệ bát nhã là vô cùng quan trọng. Chúng ta có thể phát triển trí tuệ bát nhã bằng cách nghiên cứu các kinh (sutra) hoặc các luận (shastra) về những giáo lý thâm sâu liên quan đến chân lý tuyệt đối. Đây là lý do việc nghiên cứu các chủ đề thâm sâu là nguyên nhân để phát triển trí tuệ bát nhã, và cũng là lý do việc học Bảo Tánh Luận rất quan trọng.

Bảo Tánh Luận Được Soạn Thảo Như Thế Nào.

[392] Trước hết, Bảo Tánh Luận được ngài Vô Trước (Asanga) trước tác dựa trên những lời dạy của Đức Phật Di Lặc (Maitreya). Bản văn này dựa trên lời dạy của Đức Phật và được viết phù hợp với các kinh điển (sutra), đặc biệt là hai bộ kinh nói về chân lý tuyệt đối.

Thứ hai, ngoài việc dựa vào lời dạy của Đức Phật, ngài Vô Trước còn dựa vào lập luận logic để làm sáng tỏ những nghi ngờ. Ngài cũng sử dụng trực nhận của các hành giả du-già (yogis). Mục đích của ngài là thanh tịnh hóa Phật tánh, vốn chính là bản chất của Pháp thân (dharmakaya), và giúp những người phát nguyện theo con đường Đại thừa đạt đến Phật quả. Có người có thể nghĩ rằng nếu đã dựa vào kinh điển, thì không cần dùng đến lý luận. Nhưng thực ra cần có sự kết hợp giữa kinh điển và lý luận. Ví dụ, khi nhìn một vật, ta cần điều kiện bên ngoàiánh sáng, như mặt trời hoặc ngọn đèn, và cũng cần điều kiện bên trongthị lực tốt. Chỉ có một điều kiện thôi thì không đủ. Tương tự như vậy, để hiểu lời dạy của Đức Phật, cần có điều kiện bên ngoàihiểu ý nghĩa của lời trong kinh điển, và điều kiện bên tronglý luận logic. Khi hai điều kiện này kết hợp, ta mới có thể thực sự hiểu được giáo pháp.

Thứ ba, cần xác định liệu ta có thể tin tưởng những giáo pháp này của Đức Phật hay không. Những lời dạy của các bậc đại hiền triết có khả năng loại bỏ tất cả các phiền não liên quan đến ba cõichỉ ra lợi ích của sự an bình. Vì vậy, giáo pháp chân chính phải chỉ ra khả năng đạt được Niết-bàngắn chặt với Chánh pháp (Dharma). Những giáo pháp ấy phải loại trừ các phiền não của cả ba cõi trong luân hồi (samsara)mang lại sự an bình cho tâm khi giải thoát được đạt tới. Nếu một giáo pháp không có những đặc điểm này, thì không thể được xem là lời dạy của Đức Phật.

Các luận (śāstra) tuy không phải là lời trực tiếp của Đức Phật, nhưng vẫn xứng đáng được tôn kính nếu chúng có những đặc điểm sau:
-
Trước hết, chúng không được viết ra vì mong muốn danh tiếng, mà được viết để giúp truyền bá giáo pháp và giúp đỡ các chúng sinh khác trên con đường tu tập.
-
Những tác giả của các luận không viết theo ý thích hay tưởng tượng cá nhân, mà viết với tâm hoàn toàn không bị che chướng, và hoàn toàn phù hợp với lời dạy của Đức Phật.
-
Tác phẩm của họ cũng phải có phẩm chất hỗ trợ cho con đường giải thoát, nghĩa là thông qua việc thực hành theo các luận này, người ta có thể đạt được giải thoát, bởi vì những giáo pháp ấy hài hòa với các điều kiện dẫn đến giải thoát.
-
những người trước tác các luận có động cơ thanh tịnh, và vì những giáo pháp này rất gần với những gì chính Đức Phật đã dạy, nên chúng xứng đáng được tôn kính, thậm chí được đặt lên đỉnh đầu giống như khi ta tôn kính lời dạy của Đức Phật.

(Theo phong tục Tây Tạng, khi nhận một vật phẩm tôn giáo, người ta chạm nó lên đỉnh đầu để nhận sự gia trì và ban phước từ vật ấy.)

[396] Đức Phậttri kiến hoàn toàn về bản chất của mọi hiện tượng, bởi vì Ngài hoàn toàn thanh tịnh. Các Bồ Tát cũng có nhiều phẩm chất này, nhưng chưa đầy đủ tất cả như Đức Phật.Những gì Đức Phật đã dạy trong các kinh (sutra) không nên bị sửa đổi hay pha tạp, nghĩa là không nên nói rằng phần này của giáo pháp là đúng, còn phần kia thì không đúng.Nếu làm như vậy thì mọi thứ sẽ bị trộn lẫn và rối loạn, và giáo pháp chân thật sẽ bị phá hủy.

[397] Vì Chánh pháp (dharma) quý báu như vậy, nên từ bỏ nó là điều rất tai hại. Một người có thể từ bỏ Chánh pháp khi không hiểu mọi việc đúng như bản chất của chúng, và vì thế sinh tâm coi thường giáo pháp. Điều này xảy ra vì những người ấy quá bám chấp và dính mắc vào quan điểm riêng của mình, đến mức không thể thay đổi suy nghĩ. Ví dụ, một tấm vải sạch có thể nhuộm thành bất kỳ màu nào, nhưng nếu trên đó có vết dầu mỡ, thì không thể nhuộm đúng màu được. Tương tự như vậy, nếu tâm bị che phủ bởi những quan điểm cố chấp, thì dù có tiếp xúc với Chánh pháp, tâm ấy vẫn không thay đổi các ý kiến của mình. Điều này trở thành một nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc từ bỏ Chánh pháp.

[398] Một nguyên nhân trực tiếp hơn khiến người ta không tiến bộ trên con đường tâm linhkhông có trí tuệ đủ tốt, nên không hiểu được bản chất của các hiện tượng. Một nguyên nhân khác là thiếu tâm nguyện hướng đến điều thiện. Khi không có tâm nguyện này, người ta không có mong muốn giúp đỡ các chúng sinh khác, cũng không có ý muốn làm điều thiện.

Khi tâm nguyện hướng đến điều thiện này vắng mặt, thì mọi thứ trở nên ô nhiễmsinh ra những tà kiến, chẳng hạn như từ bỏ Chánh pháp. Một người có thể sinh tâm kiêu mạn lớn, khoe khoang những phẩm chất mà mình thực sự không có. Hoặc có thể trong những đời trước chưa từng tiếp xúc với Chánh pháp, và dĩ nhiên cũng không thực hành nhiều, nên kết quả là tâm bị che phủ nặng nề bởi vô minh.

Nguyên nhân tiếp theobị che chướng quá nặng, đến mức nhầm lẫn giữa ý nghĩa phương tiện (tạm thời) trong lời dạy của Đức Phật với ý nghĩa tuyệt đối, hoặc ngược lại. 

Ngoài ra còn có sáu nguyên nhân do sự giao du sai lầm. Nếu một người gần gũi với những người bác bỏ Chánh pháp, tránh xa những người gìn giữ và thực hành giáo pháp, hoặc có tâm nguyện thấp kém và thích những điều trái ngược với Chánh pháp, thì rất dễ dẫn đến việc từ bỏ lời dạy của Đức Phật. Vì vậy, chúng ta cần nhận biết những nguyên nhân nàycố gắng loại bỏ chúng.

[399] Những người hiểu Chánh pháp không cần phải sợ lửa, rắn độc, kẻ sát nhân hay sét đánh. Điều mà người ta nên thật sự sợđánh mất Chánh pháp. Bởi vì lửa, rắn, kẻ giết người v.v. chỉ có thể lấy đi mạng sống của một người, nhưng đánh mất Chánh pháp lại dẫn đến những khổ đau khủng khiếp của các cõi thấpsự đau khổ của luân hồi (samsara). Vì vậy, đánh mất giáo pháp nguy hiểm hơn bất cứ điều gì khác.

[400] Nếu một người giao du rất thân thiết với những người bạn khuyến khích làm điều sai trái, thì những điều vô cùng tiêu cực sẽ phát sinh. Dưới ảnh hưởng xấu này, một người thậm chí có thể muốn giết Đức Phật, giết cha hoặc mẹ của mình, hoặc giết một vị A-la-hán. Người ấy cũng có thể tìm cách gây chia rẽ trong Tăng đoàn (sangha). Đây là những hành động xấu ác nghiêm trọng nhất, được gọi là năm tội vô gián — nghĩa là khi chết, người phạm những hành động này sẽ ngay lập tức rơi vào cõi khổ đau tồi tệ nhất.

Thậm chí còn có những hành động tệ hại hơn. Tuy nhiên, nếu một người đã làm những hành động này nhưng sau đó nhận ra mức độ nghiêm trọng của chúng, thì người ấy có thể sử dụng bốn sức mạnh đối trị (bốn năng lực sám hối) để tịnh hóa bản thân, và thậm chí đạt được giải thoát. Vì vậy, ngay cả năm hành động cực kỳ xấu ác này cũng không nhất thiết dẫn đến kết quả khủng khiếp, nếu một người có khả năng tịnh hóa chúng.

Tuy nhiên, nếu một người có tà kiến đối với Chánh phápmạnh mẽ không ưa thích nó, thì trong ngắn hạn điều đó có thể không có vẻ quá nghiêm trọng, nhưng về lâu dàirất nguy hiểm. Bởi vì khi đó người ta sẽ chỉ bám chấp vào những điều bên ngoài, không thấy được những phẩm chất tốt đẹp của chính mình, và có thể bước vào con đường sai lầm. Chừng nào người ấy chưa từ bỏ thái độ sai lầm đối với Chánh pháp, thì không bao giờ có thể đạt được giải thoát. Nếu một người không bao giờ nghĩ đến việc đạt giải thoát, thì người ấy sẽ không bao giờ đạt được nó. Vì vậy, thái độ này thậm chí còn tệ hơn việc phạm năm tội vô gián, bởi vì với tâm thái như vậy, sẽ không còn triển vọng đạt được giải thoát. Đó là lý do cần phải cẩn trọng đối với những người không ưa Chánh pháp và những người có tà kiến.

HỒI HƯỚNG (Dedication)

[401] Phần hồi hướngmột lời cầu nguyện trí tuệ dâng lên Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus), đồng thời cũng là bản tóm tắt của toàn bộ bản văn. Phần này bắt đầu bằng lời cầu nguyện rằng mọi công đứcBồ Tát Di Lặc (Maitreya) đã đạt được nhờ giải thích đúng đắn bảy điểm kim cang (vajra points) này, cầu mong tất cả chúng sinh đều có thể gặp Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus), vị hiền thánh của sự sống vô lượng, được ban cho tuổi thọ vô hạn.

Việc được thấy Ngài trong thân Báo thân (sambhogakaya) mang lại:
-
Lợi ích ngắn hạn: có tuổi thọ dài lâu,
-
Lợi ích lâu dài: khi pháp nhãn được khai mở, người ấy sẽ có khả năng đạt được giác ngộ viên mãn.

[402] Sau đây là phần tóm lược của chương kết luận về lợi ích của bản văn. Cụm từ “dựa trên cơ sở nào” nói đến hai dòng đầu của kệ 392, trong đó nói rằng bản văn được soạn dựa trên lời dạy của Đức Phật và trên cơ sở lập luận logic.

Hai dòng của kệ này cũng trả lời câu hỏi “vì những lý do nào”, đó là để thanh tịnh hóa chính mình và để giúp các chúng sinh khác đạt đến Phật quả.

Câu hỏi “bằng cách nào” được giải thích trong kệ 393, nói rằng giáo pháp này được trình bày dựa trên lời dạy của Đức Phật và sự hiểu biết của Maitreya, với ví dụ về sự cần thiết của ánh sáng và đôi mắt để có thể nhìn thấy một vật một cách đúng đắn.

Cụm từ “điều đã được giải thích” nói đến kệ 394, nói về cách nhận biết một giáo pháp Phật giáo chân chính, và các luận (śāstra) được định nghĩa trong kệ 395.

[403] Tiếp theo là những phương tiện để tự thanh tịnh hóa bản thân. Một người không nên thay đổi bất kỳ lời dạy nào của Đức Phật, và nên thực hành chúng một cách đúng đắn nhất có thể (điều này nói đến kệ 396 và 397). Sau đó bản văn đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến việc đánh mất Chánh pháp (kệ 398), và những hậu quả của sự mất mát này (kệ 399 và 400).
-
Kết quả trước mắttái sinh vào những cõi thấp.
-
Kết quả tối hậubị tước mất cơ hội đạt được giải thoát trong một thời gian rất dài.

[404] Kệ cuối cùng của bản văn nói về sự hồi hướng (kệ 401) và trình bày kết quả ngắn hạn và dài hạn. Nhờ thực hành và hồi hướng công đức, một người có thể được sinh vào mạn-đà-la của chư Phật, thấy được phương diện Báo thân (sambhogakaya) của Đức Phật, và nhờ đó nhận ra bản chất chân thật của mọi hiện tượngđạt được giác ngộ tối thượng. Điều này cho thấy rằng khi một người đạt đến mức giác ngộ tương đối của một vị Bồ Tát, người ấy được ở trong sự hiện diện của Đức Phật Báo thân. Khi pháp nhãn được khai mở, người ấy sẽ đạt đến mức giác ngộ tối hậu.

TÓM TẮT (SUMMARY)

Chúng ta là những người Phật tử, nên phải đi theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy. Chúng ta cần thực hành theo những gì Đức Phật dạy trong các kinh (sutra) và mật điển (tantra), và hiểu chúng đúng như bản chất của chúng.

Tuy nhiên, các kinh đôi khi được giảng để trả lời một hoàn cảnh cụ thể hoặc một câu hỏi riêng của đệ tử, và đôi khi Đức Phật trả lời dựa trên mức hiểu biết phù hợp với thính chúng lúc bấy giờ. Vì vậy, một số đoạn trong kinh rất rõ ràng, nhưng một số đoạn khác lại khó hiểu hơn.

Ngoài ra, mỗi kinh thường tập trung vào một chủ đề riêng, nên nếu muốn hiểu những khái niệm chung của Phật giáo, người ta phải đọc nhiều kinh khác nhau rải rác trong nhiều bộ sách.

Đó là lý do vì sao đa số Phật tử ở Tây Tạng thường nghiên cứu các bộ luận (śāstra). Những bộ luận này giúp làm cho ý nghĩa sâu xa của lời Phật trở nên dễ hiểu hơn, đồng thời không làm thay đổi ý nghĩa của Chánh pháp. Vì vậy, các bộ luận có tầm quan trọng vô cùng lớn.

Bảo Tánh Luận được Bồ Tát Di Lặc trước tác. Ngài không phải là một chúng sinh bình thường, vì Ngài là đại diện của chư Phậtsẽ là vị Phật kế tiếp xuất hiện trong thế giới của chúng ta. Vì thế, Ngài là một trong những tác giả vĩ đại nhất của các bộ luận.

Bảo Tánh Luận được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng bởi học giả vĩ đại Sadzana, cháu của Bà-la-môn Ratnavajra, người đến từ “Thành phố Vinh Quang” — được cho là thành phố Srinagari, dù điều này không hoàn toàn chắc chắn.

Bản văn này cũng được dịch tại chính “Thành phố Vinh Quang” đó bởi tu sĩ Tây Tạng Loden Sherab./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét