Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

CHƯƠNG 2: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***


Mặc dù mèo dành phần lớn thời gian trong ngày để lim dim ngủ một cách thoải mái, nhưng chúng tôi vẫn thích con người của mình luôn bận rộn. Không phải theo kiểu ồn ào hay làm phiền—chỉ cần đủ hoạt động để khiến chúng tôi thấy thú vị trong những lúc chúng tôi quyết định thức. Bạn nghĩ tại sao hầu hết mèo lại có một “chỗ ngồi xem kịch” yêu thích—một vị trí ưa thích trên bệ cửa sổ, hiên nhà, cột cổng hay nóc tủ? Bạn không nhận ra sao, độc giả thân mến, rằng chính bạn là nguồn giải trí của chúng tôi?

Một trong những lý do khiến việc sống ở Jokhang (Đại Chiêu)—tên gọi của quần thể ngôi chùa của Đức Đạt Lai Lạt Ma—trở nên dễ chịu và thú vị đến vậy, chính là vì điều này: lúc nào cũng có chuyện gì đó đang diễn ra.

Trước 5 giờ sáng mỗi ngày, khu đền chùa bắt đầu thức giấc với âm thanh của những đôi chân đi dép trên nền sân khi các tu sĩ từ Tu viện Namgyal tụ hội lại để thiền buổi sáng. Vào thời điểm này, Đức Thánh Thiện và tôi đã thiền được hai tiếng, nhưng khi nhận ra sự chuyển động bên ngoài, tôi thích đứng dậy, duỗi hai chân trước một cách khoan khoái trước mặt, và có lẽ cào nhẹ vài cái lên tấm thảm để làm nóng người, trước khi tiến đến vị trí quen thuộc của mình trên bệ cửa sổ. Từ đó, tôi quan sát màn trình diễn nhịp sinh hoạt tuần hoàn quen thuộc lại bắt đầu diễn ra, bởi trong đời sống tu viện, hầu như ngày nào cũng giống như ngày nào.

Nó bắt đầu với những ô vuông ánh vàng lấp lánh dần hiện lên nơi đường chân trời, khi những ngọn đèn được thắp sáng trong ngôi đền và khu ở của các tu sĩ. Vào mùa hè, làn gió sớm mai mang theo những làn khói hương tím—cùng với tiếng tụng kinh lúc bình minh—lùa qua khung cửa sổ mở, đúng vào lúc bầu trời phía đông bắt đầu ửng sáng.

Đến khi các tu sĩ bước ra khỏi ngôi chùa vào lúc chín giờ sáng, thì Đức Thánh Thiện và tôi đều đã ăn sáng xong, và ngài đã ngồi vào bàn làm việc. Sau đó là các buổi báo cáo buổi sáng với các cố vấn của Ngài, còn ở dưới đền, các tu sĩ quay trở lại với nếp sinh hoạt hằng ngày được sắp xếp trật tự, bao gồm tụng kinh, tham dự các buổi giảng dạy, tranh luận các vấn đề triết học trong sân, và thiền định. Những hoạt động này chỉ bị gián đoạn bởi hai bữa ăn và kết thúc vào khoảng mười giờ tối.

Sau đó, các tu sĩ trẻ được yêu cầu trở về phòng và học thuộc kinh văn cho đến nửa đêm. Ở những người lớn tuổi hơn còn đòi hỏi nhiều hơn, họ thường xuyên học tập và tranh luận đến một hoặc hai giờ sáng. Khoảng thời gian giữa đêm khi hoàn toàn không có hoạt động nào chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ.

Trong khi đó, tại phòng tiếp khách của Đức Thánh Thiện (His Holiness), luôn có một dòng người ra vào không ngớt: những chính trị gia nổi tiếng thế giới, người nổi tiếng và các nhà từ thiện, cũng như những người ít được biết đến hơn nhưng đôi khi lại thú vị hơn, chẳng hạn như Nhà tiên tri Nechung, người mà Đức Thánh Thiện thỉnh thoảng tham vấn.

Là một người trung gian giữa thế giới vật chất và các cõi tâm linh, Nhà tiên tri Nechung là Quốc sư thần linh của Tây Tạng. Ông đã cảnh báo về những khó khăn với Trung Hoa ngay từ năm 1947 và vẫn tiếp tục hỗ trợ trong các quyết định quan trọng. Khi đó, ông đi vào trạng thái xuất thần được tạo ra, đôi khi là một phần của những nghi lễ phức tạp, trong đó ông đưa ra các lời tiên tri và lời khuyên.

Bạn sẽ nghĩ rằng việc tôi sống trong một môi trường vừa thú vị vừa thoải mái như vậy sẽ khiến tôi trở thành con mèo hạnh phúc nhất từng “chơi đàn cello” — cách mà loài mèo chúng tôi dùng để chỉ phần tinh tế nhất trong thói quen chải chuốt, khi chúng tôi chăm sóc những vùng kín của mình. Nhưng than ôi, độc giả thân mến, trong những tháng đầu sống cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma, bạn đã nhầm rồi.

Có lẽ là vì cho đến gần đây, tôi chỉ từng biết cảm giác là một trong bốn anh em mèo cùng lứa. Có thể là do thiếu sự tiếp xúc với bất kỳ sinh vật nào khác cũng được ban phúc với bộ lông và ria mép. Dù lý do là gì, tôi không chỉ cảm thấy cô đơn mà còn bắt đầu tin rằng hạnh phúc của mình chỉ trọn vẹn khi có sự hiện diện của một con mèo khác.

Đức Đạt Lai Lạt Ma hiểu điều đó. Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên trong xe, Ngài chăm sóc tôi với tất cả sự dịu dàng và từ bi, nâng niu tôi suốt những tuần đầu, luôn quan tâm tỉ mỉ đến sức khỏe và hạnh phúc của tôi.

Chính vì vậy, một ngày không lâu sau vụ chuột, khi tôi đang lẩn quẩn trong hành lang, cảm thấy bơ vơ và không biết phải làm gì, Ngài bắt gặp tôi trên đường đi đến chùa và quay sang Chogyal, người đang đi cùng, nói: “Có lẽ Tử Tuyết nhỏ muốn đi cùng chúng ta chăng?”

Sư Tử Tuyết?! Tôi mê cái tên đó ngay lập tức. Khi Ngài bế tôi trong vòng tay khoác áo choàng, tôi rù rì khen ngợi. Sư Tử Tuyết là loài vật thần thánh ở Tây Tạng, tượng trưng cho hạnh phúc vô điều kiện. Chúng là những sinh vật tuyệt đẹp, rực rỡ và tràn đầy niềm vui.

“Chúng ta sẽ có một ngày bận rộn phía trước,” Đức Ngài nói với tôi khi chúng tôi xuống cầu thang. “Trước tiên là đến chùa để xem các kỳ thi. Rồi bà Trinci sẽ đến chuẩn bị bữa trưa cho vị khách hôm nay. Và cậu thích bà Trinci, phải không?”

“Thích” thì chẳng thấm thía gì cả. Tôi thật sự yêu mến bà Trinci, hay chính xác hơn, là gan gà xắt nhỏ của bà Trinci — món ăn mà bà nấu riêng để tôi thưởng thức.

Mỗi khi cần phục vụ cho một dịp đặc biệt hay tiếp đãi các quan khách, bà Trinci lại được mời đến. Hơn 20 năm trước, khi đang lên kế hoạch cho một buổi tiệc dành cho phái đoàn cấp cao từ Vatican, một người trong văn phòng của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát hiện ra bà góa người Ý sống tại địa phương. Tài năng ẩm thực của bà Trinci vượt trội hơn hẳn mọi dịch vụ ăn uống trước đó, và bà nhanh chóng trở thành đầu bếp yêu thích của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Một người phụ nữ thanh lịch ngoài 50 tuổi, thích mặc những chiếc váy nổi bật và trang sức lòe loẹt, bà bước vào Jokhang như mang theo một luồng hứng khởi đầy hồi hộp. Ngay từ khoảnh khắc đến nơi, bà nắm quyền kiểm soát bếp, cuốn tất cả mọi người có mặt — không chỉ những người làm bếp — vào vòng xoáy của mình. Trong một lần ghé thăm sớm, bà đã ra lệnh cho trụ trì của Học viện Mật điển Gyume, tình cờ đi ngang, vào bếp, nơi bà ngay lập tức quàng tạp dề lên cổ ông và giao cho ông nhiệm vụ thái cà rốt.

Bà Trinci không biết đến quy tắc nghi lễ và không dung thứ sự phản đối nào. Sự tiến bộ về tâm linh dường như chẳng liên quan gì khi phải chuẩn bị bữa tiệc cho tám người. Tính cách kịch tính của bà hoàn toàn trái ngược với sự điềm tĩnh khiêm nhường của hầu hết các nhà sư, nhưng chính sự sống động, mãnh liệt và đam mê của bà đã khiến họ hoàn toàn bị mê hoặc.

Và họ yêu mến tấm lòng rộng lượng của bà. Bà luôn đảm bảo rằng bên cạnh bữa ăn của Đức Thánh Thiện, một nồi hầm thơm ngon được để trên bếp cho các nhân viên, và bánh pía táo, bánh ngọt sô-cô-la, hoặc một món ngọt thiên đường nào đó được để trong tủ lạnh.

Lần đầu tiên bà nhìn thấy tôi, bà tuyên bố tôi là Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại, và từ ngày đó, chẳng lần ghé thăm bếp của Đức Đạt Lai Lạt Ma nào là trọn vẹn nếu bà không mang ra, từ một trong những túi tạp hóa nhiều vô số của mình, vài miếng ngon ngọt dành riêng cho tôi. Đặt tôi lên quầy bếp, bà quan sát tôi cẩn thận, đôi mắt hổ phách, chuốt mascara long lanh, say mê nhìn tôi ăn ồn ào một chén gà hầm, món hầm gà tây, hay thăn bò filet mignon. Chính viễn cảnh này đang hiện ra trong đầu tôi khi Chogyal bế tôi băng qua sân hướng về chùa.

Tôi chưa bao giờ bước chân vào chùa trước đây và không thể nghĩ ra cách nào tuyệt hơn để lần đầu tiên xuất hiện ngoài việc đi cùng đoàn tùy tùng của Ngài. Ngôi chùa thật tuyệt vời, tràn ngập ánh sáng với trần nhà rất cao, những bức treo tường sinh động của các vị bổn tôn trên lụa thêu tinh xảo, cùng những lá cờ chiến thắng nhiều màu sắc buông xuống từ tường. Có những tượng Phật lớn với hàng loạt bát đồng sáng loáng đặt trước mặt, cùng các lễ vật tượng trưng như thức ăn, hương, hoa và nước hoa. Hàng trăm nhà sư ngồi trên đệm, chờ kỳ thi bắt đầu, và tiếng thì thầm thấp của họ vẫn vang lên ngay cả khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến. Thường thì Ngài sẽ bước vào chính diện chùa, ngồi lên ngai giảng giữa sự im lặng trầm trồ của mọi người. Nhưng hôm nay Ngài lặng lẽ vào từ phía sau, không muốn gây chú ý hay làm phân tâm các nhà sư đang chuẩn bị thi.

Mỗi năm, các nhà sư tập sự tranh tài để giành số lượng hạn chế các suất học lấy bằng Geshe. Là trình độ cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng, theo một số khía cạnh giống như bằng tiến sĩ, bằng Geshe mất 12 năm để hoàn thành. Nó đòi hỏi khả năng ghi nhớ hoàn hảo các kinh điển cơ bản và khả năng phân tích, tranh luận về những khác biệt triết lý tinh tế, chưa kể đến hàng giờ thực hành thiền định. Trong phần lớn 12 năm của khóa học, các học viên Geshe làm việc 20 giờ mỗi ngày, theo một lịch trình học tập nghiêm ngặt.

Nhưng bất chấp những yêu cầu vô cùng cao đặt lên họ, luôn có nhiều nhà sư tập sự muốn vào học hơn số lượng chỗ có sẵn.

Trong kỳ thi hôm nay, bốn nhà sư tập sự đang được kiểm tra. Theo truyền thống, họ bắt đầu bằng cách trả lời các câu hỏi của giám khảo trước toàn thể cộng đồng Namgyal, một hình thức vừa đáng sợ vừa minh bạch. Việc theo dõi buổi thi là sự chuẩn bị tốt cho các nhà sư trẻ hơn, những người một ngày nào đó cũng sẽ phải đứng trước đồng môn của mình.

Ở hàng ghế cuối cùng của chùa, ngồi bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trên lòng Chogyal, tôi lắng nghe hai anh em người Bhutan, một cậu bé Tây Tạng và một sinh viên người Pháp lần lượt gây ấn tượng với khán giả bằng cách trả lời các câu hỏi về những chủ đề như nghiệp báo và bản chất của thực tại. Hai anh em người Bhutan trả lời đúng theo cách thuộc lòng, cậu bé Tây Tạng cũng trích dẫn trực tiếp từ kinh văn được giao, nhưng sinh viên người Pháp đi xa hơn, chứng tỏ rằng cậu không chỉ học thuộc mà còn thực sự hiểu các khái niệm. Suốt cả quá trình này, Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn mỉm cười ấm áp.

Tiếp theo, trong phần tranh luận với vài nhà sư cao cấp, những người cố gài bẫy học trò bằng những lập luận tinh vi, cùng một mô hình tương tự được lặp lại. Các học sinh người Bhutan và Tây Tạng tuân thủ cẩn thận những câu trả lời trong sách giáo khoa, trong khi cậu bé người Pháp đưa ra những lập luận phản biện khiêu khích của riêng mình, khiến không khí trong chùa trở nên khá thú vị và vui nhộn.

Cuối cùng là đến phần tụng kinh, và một lần nữa các học sinh vùng Himalaya ghi nhớ hoàn hảo. Khi được yêu cầu tụng Tâm Kinh (Heart Sutra), một kinh ngắn nhưng nổi tiếng nhất của Đức Phật, cậu học sinh người Pháp bắt đầu với giọng rõ ràng, mạnh mẽ. Nhưng vì lý do nào đó, giữa chừng cậu bỗng ngập ngừng. Một khoảng im lặng dài đầy bối rối—và dường như có vài lời thì thầm nhắc nhở—trước khi cậu bắt đầu lại, hơi thiếu tự tin, chỉ để rồi ngập ngừng hoàn toàn. Cậu quay sang giám khảo với một cái nhún vai xin lỗi. Họ ra hiệu cho cậu quay trở lại chỗ ngồi.

Một thời gian ngắn sau, các giám khảo công bố kết quả: các nhà sư tập sự người Bhutan và Tây Tạng được nhận vào chương trình học lấy bằng Geshe. Chỉ có cậu bé người Pháp là không thành công.

Tôi có thể cảm nhận nỗi buồn của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi thông báo được đưa ra. Quyết định của giám khảo là điều không thể tránh khỏi, nhưng ngay cả như vậy…

“Ở phương Tây, việc học thuộc lòng ít được chú trọng hơn,” Chogyal thì thầm với Đức Thánh Thiện, người gật đầu đồng ý. Nhờ Chogyal chăm sóc tôi, Ngài đã đưa cậu học sinh người Pháp trông có vẻ thất vọng vào một căn phòng riêng phía sau chùa, nơi Ngài tiết lộ với chàng trai trẻ rằng Ngài đã có mặt suốt toàn bộ kỳ thi.

Ai mà biết được những lời nào đã được trao đổi giữa hai người hôm đó? Nhưng chỉ sau vài phút, cậu bé người Pháp trở lại, vừa có vẻ được an ủi vừa choáng ngợp vì trở thành tâm điểm chú ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi bắt đầu nhận ra rằng Ngài có một khả năng rất đặc biệt trong việc dẫn dắt mỗi cá nhân đến mục đích cao nhất của bản thân—một mục đích sẽ mang lại hạnh phúc lớn và lợi ích không chỉ cho chính họ mà còn cho rất nhiều người khác.

“Đôi khi tôi nghe người ta than thở về tương lai của Phật giáo,” Đức Thánh Thiện nói với Chogyal khi chúng tôi trở về phòng riêng của Ngài sau đó. “Tôi ước gì họ có thể đến dự kỳ thi để trải nghiệm những gì chúng ta chứng kiến hôm nay. Có rất nhiều nhà sư tập sự, rất tận tâm và có trình độ cao. Điều ước duy nhất của tôi là chúng ta có đủ chỗ cho tất cả họ.”

***

Khi chúng tôi trở về từ chùa, bà Trinci đã hoàn toàn làm chủ căn bếp, nơi tôi tiến thẳng tới. Buổi sáng, Ngài đã xua tan nỗi cô đơn của tôi bằng chuyến thăm chùa. Giờ đây, bà Trinci tiếp tục mang lại niềm vui. Bà mặc một chiếc váy màu xanh ngọc lục bảo, với đôi bông tai vàng dài và những chiếc vòng tay đồng điệu, kêu lách cách mỗi khi bà đưa tay. Lần ghé thăm này, mái tóc dài và sẫm màu của bà dường như ánh lên một tông đỏ nhẹ.

Cuộc sống của bà Trinci hiếm khi theo một nhịp điệu đều đặn như những cư dân lâu dài của Jokhang, và hôm nay cũng không phải ngoại lệ. Cuộc khủng hoảng hiện tại bắt nguồn từ việc cúp điện lúc 2 giờ sáng. Bà Trinci đã đi ngủ với niềm tin rằng mình sẽ thức dậy trước một lớp đế bánh meringue giòn tan trong lò, mà bà đã đặt ở nhiệt độ thấp qua đêm theo đúng hướng dẫn. Thay vào đó, bà tỉnh dậy trước một mớ hỗn độn ẩm ướt không thể cứu vãn—và chỉ còn bảy giờ trước khi vị khách VIP của Đức Thánh Thiện đến.

Sau đó là việc vội vã đánh lên một lớp đế mới, tăng nhiệt lò ở mức rủi ro cao, và một kế hoạch tỉ mỉ để chuyển lớp đế đến Jokhang lúc 1 giờ chiều—rất lâu sau khi bà đến chuẩn bị món chính nhưng trước khi món tráng miệng được dọn ra.

“Liệu có dễ dàng hơn nếu chuẩn bị một món tráng miệng khác không?” Tenzin đã đề xuất, đầy rủi ro, khi biết được tình huống căng thẳng này. “Một món đơn giản như—”

“Phải là Pavlova chứ. Cô ấy là người Úc mà!” Bà Trinci quăng chiếc thìa thép không gỉ vào bồn rửa với một tiếng va chạm. Bà luôn đưa vào yếu tố ẩm thực quốc gia của khách, và hôm nay cũng không phải ngoại lệ. “Melanzane Parmigiana[1] có gì là món Úc chứ?”

Tenzin lùi lại một bước.
“Hay là món ragout rau củ?!”
“Cháu chỉ đang gợi ý thôi—”
“Thôi, đừng gợi ý nữa! Zitto! Im ngay! Không có thời gian cho mấy ý tưởng!”
Trợ lý điều hành của Đức Ngài đành phải rút lui một cách khôn ngoan.

Bất chấp mọi cảnh tượng kịch tính, bữa ăn của bà Trinci vẫn, như thường lệ, là một chiến thắng ẩm thực. Pavlova chẳng hề bộc lộ dấu vết của cuộc khủng hoảng mà nó đã trải qua; đó là một lớp đế meringue hoàn hảo, trên đó là những chiếc meringue nhỏ riêng biệt cũng hoàn hảo, bên trong chứa một “thiên đường” trái cây lấp lánh và kem tươi.

Và bà Trinci vẫn chưa quên Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại. Bà đãi tôi một phần thịt bò hầm còn dư thật hào phóng đến mức sau khi ăn xong, tôi phải kêu meo meo xin được bế xuống khỏi mặt bếp, vì no căng đến nỗi không thể tự nhảy xuống.

Sau khi liếm vài cái đầy biết ơn lên những ngón tay đeo trang sức của bà Trinci, tôi đi lạch bạch qua phòng tiếp khách, nơi hiện tại Đức Đạt Lai Lạt Ma và vị khách của ngài đang nhấp từng ngụm trà. Vị khách ăn trưa hôm đó là Robina Courtin Khả kính, một nữ tu đã dành nhiều thời gian giúp các tù nhân tái hòa nhập cuộc sống thông qua Dự Án Tù Nhân Giải Phóng của bà. Chủ đề về điều kiện trong các nhà tù ở Mỹ đang được thảo luận khi tôi bước vào và tiến về tấm thảm len yêu thích để thực hiện nghi thức rửa mặt sau bữa trưa.

“Điều kiện rất khác nhau,” nữ tu nói. “Một số cơ sở nhốt tù nhân cả ngày trong những phòng giam như hầm tối, không có ánh sáng tự nhiên. Chúng tôi phải ngồi bên một lỗ nhỏ trên cửa sắt để nói chuyện với tù nhân bên kia. Trong hoàn cảnh như vậy, dường như rất ít hy vọng tái hòa nhập. “Nhưng cũng có nhiều cơ sở khác,” bà tiếp tục, “nơi mà trọng tâm tích cực hơn—tập trung vào huấn luyện và khích lệ con người thay đổi. Không thể tránh khỏi bầu không khí trại giam, nhưng cửa phòng giam mở ra nhiều giờ hơn trong ngày, và có các hoạt động thể thao, giải trí, cùng với TV, máy tính và thư viện.”

Bà dừng lại, mỉm cười như đang nhớ lại điều gì đó. “Có một nhóm tù chung thân mà tôi quen khá kỹ khi dạy các lớp thiền ở Florida. Một người trong số họ hỏi tôi: ‘Hàng ngày trong một tu viện thì chuyện gì xảy ra?’”

Bà nhún vai. “Vậy tôi kể với ông ấy rằng chúng tôi thức dậy lúc năm giờ sáng cho buổi thiền đầu tiên. À, đối với các ông ấy thì sớm quá! Điểm danh ở trại giam thì từ tốn lúc 7 giờ sáng. Tôi giải thích rằng ngày của chúng tôi được sắp xếp từ lúc thức dậy đến khi nghỉ ngơi lúc 10 giờ tối, với trọng tâm mạnh mẽ vào học tập và nghiên cứu, và làm việc trong vườn tu viện để trồng rau quả mà chúng tôi ăn.” Bà cau mày. “Ông ấy cũng không thích nghe điều đó chút nào.”

Những người khác mỉm cười.

-“Tôi nói rằng chúng tôi không có TV, báo chí, rượu hay máy tính. Khác với tù nhân trong trại giam, các nữ tu không thể kiếm tiền để mua những món quà đặc biệt. Và chắc chắn là không có những lần thăm thân tình cảm!”

Đức Đạt Lai Lạt Ma khúc khích cười.

-“Đó là khi anh ấy nói ra điều kỳ lạ nhất,” bà tiếp tục. “Thậm chí không nhận ra mình đang nói gì, anh ấy đề nghị: ‘Nếu mọi thứ trở nên quá khó khăn, chị luôn có thể đến sống với chúng tôi ở đây.’”

Mọi người trong phòng phá lên cười.

-“Anh ấy thực sự cảm thấy thương tôi!” mắt Robina Courtin Khả kính lấp lánh. “Trong mắt anh ấy, điều kiện ở tu viện còn khắc nghiệt hơn cả trong trại giam.”

Đức Thánh Thiện ngồi cúi người về phía trước trên ghế, vuốt cằm đầy suy tư. “Thật thú vị phải không? Chỉ sáng nay ở chùa, chúng ta đã thấy các vị tập sự tranh nhau để được nhận vào tu viện. Có quá nhiều vị tập sự mà chỗ lại không đủ. Nhưng nhìn về trại giam, chẳng ai muốn đến đó, mặc dù điều kiện còn dễ chịu hơn ở tu viện. Điều này chứng tỏ rằng, không phải hoàn cảnh cuộc sống khiến chúng ta hạnh phúc hay khổ đau, mà chính là cách chúng ta nhìn nhận chúng.”

Trong phòng vang lên những tiếng đồng tình nhẹ.

-“Chúng ta có tin rằng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có cơ hội sống một cuộc đời hạnh phúc và có ý nghĩa không?” Ngài tiếp tục.

-“Chính xác!” Robina Courtin Khả kính đồng ý.

Đức Thánh Thiện gật đầu. “Hầu hết mọi người nghĩ rằng lựa chọn duy nhất là thay đổi hoàn cảnh của mình. Nhưng đó không phải là nguyên nhân thực sự khiến họ khổ đau. Điều này liên quan nhiều hơn đến cách họ suy nghĩ về hoàn cảnh của mình.”

“Chúng tôi khuyến khích học viên biến những trại giam của họ thành tu viện,” Robina Courtin Khả kính nói. “Để họ ngừng nghĩ rằng thời gian ở trong tù là lãng phí cuộc đời, mà thay vào đó nhìn nhận nó như một cơ hội tuyệt vời để phát triển bản thân. Có những người thực sự làm được điều đó, và sự biến đổi ở những con người này thật đáng kinh ngạc. Họ tìm thấy ý nghĩa và mục đích thực sự, và khi ra khỏi tù, họ trở thành những con người hoàn toàn thay đổi.”

“Rất tuyệt,” Ngài nói, mỉm cười ấm áp. “Sẽ thật tuyệt nếu mọi người đều nghe được thông điệp đó—đặc biệt là những người đang sống trong những ‘trại giam’ do chính mình tạo ra.”

Khi Ngài nhấn mạnh điều đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn về phía tôi, nhưng tôi không hiểu tại sao. Tôi chưa bao giờ, dù chỉ một khoảnh khắc, nghĩ rằng mình là tù nhân. Sư Tử Tuyết —có. Sinh Vật Đẹp Nhất Từng Tồn Tại—chắc chắn rồi! Dĩ nhiên, tôi cũng có vài rắc rối, lớn nhất là tôi là một cô mèo đơn độc.

Nhưng tù nhân?

Tôi ư?

***

Mãi về sau, tôi mới hiểu ý Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi các vị khách ra về, Ngài xin gặp bà Trinci để cảm ơn bữa ăn.

-“Thật tuyệt vời,” Ngài tán thưởng. “Đặc biệt là món tráng miệng của bà. Robina Courtin Khả kính rất thích. Tôi hy vọng việc chuẩn bị không quá căng thẳng chứ?”

-“Ô, không đâu—non troppo (nêm nếm)! Không nhiều lắm.”

Khi ở trước mặt Đức Thánh Thiện, bà Trinci trở thành một con người khác hẳn. Người khổng lồ Brunhilde trong một vở opera Wagner của Tenzin, người từng thống trị căn bếp, giờ không còn thấy bóng, thay vào đó là hình ảnh một cô nữ sinh đỏ mặt.

“Chúng tôi không muốn bà phải chịu quá nhiều căng thẳng.” Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn bà Trinci đầy suy tư một lát, rồi nói: “Đây là một bữa trưa rất thú vị. Chúng tôi đã bàn về hạnh phúc, sự hài lòng—rằng điều đó không phụ thuộc vào hoàn cảnh. Bà Trinci, bà độc thân mà trong mắt tôi, trông vẫn rất hạnh phúc.”

-“‘Tôi không muốn lấy thêm chồng nữa,’ bà Trinci tuyên bố, ‘nếu đó là ý ông.’

-‘Vậy thì việc độc thân không phải là nguyên nhân khiến bà bất hạnh?’

-‘Không, không! Mia vita è buona. Cuộc sống của tôi tốt đẹp. Tôi cảm thấy trọn vẹn.’

Đức Ngài gật đầu. ‘Tôi cũng cảm thấy như vậy.’”

Ngay lúc đó, tôi hiểu ý Đức Đạt-lai Lạt-ma về “những nhà tù do chính chúng ta tạo ra.” Ngài không chỉ nói về hoàn cảnh vật lý, mà còn về những ý niệm và niềm tin mà chúng ta mang trong đầu, khiến mình bất hạnh. Trong trường hợp của tôi, đó chính là ý nghĩ rằng tôi cần có thêm một con mèo làm bạn mới có thể hạnh phúc.

Bà Trinci bước về phía cửa như định rời đi. Nhưng trước khi mở cửa, bà chần chừ.

-“Con có thể hỏi Ngài một câu được không, Đức Thánh Thiện?”

-“Tất nhiên rồi.”

-“Con đã đến đây nấu ăn suốt hơn hai mươi năm, nhưng Ngài chưa bao giờ cố gắng thuyết phục con theo đạo. Tại sao vậy?”

-“‘Thật là một điều buồn cười khi bà nói vậy, bà Trinci!’” Ngài cất tiếng cười vang. Nhẹ nhàng nắm tay bà, Ngài nói:

-“Mục đích của Phật giáo không phải là để chuyển đổi người khác. Mà là để trao cho họ những công cụ giúp họ tạo ra hạnh phúc nhiều hơn. Để họ có thể trở thành những người Thiên Chúa giáo hạnh phúc hơn, những người vô thần hạnh phúc hơn, những Phật tử hạnh phúc hơn. Có rất nhiều phương pháp tu tập, và tôi biết bà đã rất quen thuộc với một trong số đó rồi.”

Bà Trinci nhướng mày.

-“Đó là nghịch lý tuyệt vời,” Ngài tiếp tục, “rằng cách tốt nhất để đạt được hạnh phúc cho chính mình là mang hạnh phúc đến cho người khác.”

***

Tối hôm đó, tôi ngồi trên bệ cửa sổ, nhìn ra sân chùa. Tôi quyết định sẽ thử một thí nghiệm. Lần tới khi bắt gặp mình khao khát có thêm một con mèo trong đời, tôi sẽ nhắc nhớ về Đức Thánh Thiện và bà Trinci, cả hai đều rất hài lòng với cuộc sống độc thân. Tôi sẽ cố ý đem lại hạnh phúc cho một chúng sinh khác, dù chỉ đơn giản là trao một tiếng rừ rừ thân thiện, để chuyển sự chú ý từ bản thân sang người khác. Tôi sẽ khám phá “nghịch lý tuyệt vời” mà Đức Đạt-lai Lạt-ma đã nói xem nó có hiệu quả với tôi không.

Ngay cả khi vừa đưa ra quyết định này, tôi cảm thấy một cách khó hiểu rằng tâm hồn nhẹ nhõm hơn—ít gánh nặng và tự do hơn. Không phải hoàn cảnh đang khiến tôi khổ đau, mà chính niềm tin của tôi về những hoàn cảnh ấy. Bằng cách buông bỏ niềm tin tạo ra bất hạnh rằng tôi cần một con mèo khác, tôi sẽ biến nhà tù của mình thành một tu viện.

Tôi đang suy ngẫm về ý nghĩ đó thì một điều gì đó lọt vào tầm mắt—một chuyển động bên cạnh một tảng đá lớn trong luống hoa ở phía bên kia sân chùa. Bóng tối đã buông xuống, nhưng tảng đá được chiếu sáng bởi một ánh sáng xanh phát ra suốt đêm từ một gian hàng chợ gần đó. Tôi dừng lại một lúc lâu, chăm chú nhìn qua khoảng cách ấy.

Không, tôi không nhầm đâu! Mải mê nhìn, tôi bắt đầu nhận ra dáng hình: to lớn, oai vệ như sư tử, giống một con thú rừng vừa từ rừng sâu bước ra, với đôi mắt đen tinh anh và những vằn sọc hoàn hảo cân xứng. Một con mèo vằn hổ tuyệt đẹp.

Với những bước đi mềm mại đầy duyên dáng, nó trượt lên tảng đá, chuyển động vừa dứt khoát vừa mê hoặc. Từ đó, nó quan sát Jokhang, như một địa chủ nhìn ra các tòa nhà xa xăm trong lãnh địa của mình, trước khi đầu nó quay về phía cửa sổ nơi tôi đang ngồi. Và dừng lại.

Tôi giữ ánh mắt của nó.

Không có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy nó nhận ra tôi. Tôi chắc chắn nó đã nhìn thấy mình, nhưng nó đang nghĩ gì? Ai mà biết được? Nó chẳng hé lộ điều gì cả.

Nó chỉ đứng trên tảng đá một khoảnh khắc trước khi biến mất, lặng lẽ lẩn vào bụi rậm y như cách nó xuất hiện.

Trong bóng tối dần buông xuống, những ô sáng hiện lên trong các cửa sổ của Tu viện Namgyal khi các vị tăng trở về phòng.

Đêm tối dường như tràn đầy khả năng, sống động và đầy hứa hẹn./.

 

***


[1] Melanzane Parmigiana là một món ăn truyền thống của Ý, còn gọi là Eggplant Parmesan. Món này được làm từ lát cà tím chiên hoặc nướng, xếp lớp cùng sốt cà chua, phô mai Parmesan và mozzarella, rồi nướng cho đến khi chín vàng và béo ngậy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét