Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHỮNG VỊ THẦY HOÀN HẢO CỦA TÔI – TÌM HIỂU VỀ GURU YOGA (Phần 1)


 

My Perfect Teachers – A View into Guru Yoga, Part One

 Tác giả:   Sarah C. Beasley
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

***

Sự truyền trao Chánh pháp đòi hỏi ngôn ngữ, sự gặp gỡ và các mối quan hệ giữa con người với nhau. Điều này nghe có vẻ rất hiển nhiên, nhưng trên thực tế, một cuộc gặp gỡ có ý nghĩa với Chánh pháp không hề là điều phổ quát trong kinh nghiệm của con người, mà còn gắn bó chặt chẽ với nghiệp và công đức… Có người dễ dàng gặp được Chánh pháp và tiến bộ nhanh chóng; có người chỉ hiếm hoi mới gặp được và phải trải qua vô vàn khó khăn; có người gặp rồi nhưng lại không nhận ra giá trị của nó. Và cũng có những người chưa bao giờ gặp được Chánh pháp.

Tôi gặp được Phật pháp từ những năm đầu tuổi đôi mươi, thông qua Hòa thượng Taitetsu Unno, một vị lãnh đạo của tông phái Tịnh Độ Chân Tông (Jōdo Shinshū). Tuy nhiên, mãi đến cuối tuổi hai mươi tôi mới bắt đầu đọc các bản văn Kim Cương thừa, và từ đó dần hình thành một mối duyên khởi với giáo pháp Phật giáo Tây Tạng. Sau khi đọc những bản văn này hằng đêm suốt hai năm, đến năm 28 tuổi, tôi bắt đầu tha thiết cầu nguyện được gặp một vị thầy bằng xương bằng thịt. Tôi cảm nhận rằng nếu không có một bậc thầy như vậy, tôi sẽ không thể thực sự đi sâu và thể nhập được Phật pháp phong phú được trình bày trong những trang sách ấy.

Sau hai năm tìm kiếm, tôi gặp Khandro Rinpoche của dòng Mindroling tại một sự kiện lớn ở Austin, bang Texas. Tôi rất quý mến phong thái của ngài, nhưng không cảm thấy ngài là vị thầy trực tiếp của mình. Không lâu sau đó, tôi nghe nói sẽ có một khóa giảng dạy của một người tên là Tulku Thubten Rinpoche — nay là Anam Thubten — và tôi đã đăng ký tham dự khóa nhập thất ấy, một buổi tụ hội chỉ có khoảng mười hoặc mười một người. Cuối tuần đó, tôi quy y trong một nghi lễ nhỏ dành cho bốn người. Kể từ thời điểm ấy, mọi thứ đều thay đổi. Chỉ sau vài tháng học tập với Tulku Thubten, thầy đã gửi tôi đến gặp Lama Tsedrup Tharchin Rinpoche tại vùng núi Santa Cruz, bang California. Từ đó về sau, tôi có duyên gặp gỡ nhiều vị lama quan trọng và đầy từ ái, trong đó có Lama Yeshe Wangmo — người qua nhiều năm đã chia sẻ rất nhiều giáo pháp và tự thân là một tấm gương sống động về lòng sùng kính và sự kiên trì trên con đường tu tập.

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng quen thuộc với cảm giác khi một dòng chảy nào đó tiếp quản, và ta bắt đầu hành động, đưa ra những lựa chọn dường như đã được định sẵn, vượt ra ngoài sự toan tính đơn thuần của cái tôi. Ta có thể gọi đó là những ‘lựa chọn không do lựa chọn’. Điều này đã xảy ra với — vì? cho? — tôi rất nhiều lần trong bối cảnh tu tập Phật pháp, gặp gỡ các bậc thầy, hay tham dự các khóa nhập thất. Việc gặp Lama Tharchin Rinpoche là một khoảnh khắc như thế, nơi mọi thứ đối với tôi đều đổi khác. Ngài trở thành vị Lama gốc của tôi và là trung tâm của con đường tu tập của tôi cho đến hết cuộc đời. Nhưng vào thời điểm ấy, tôi vẫn chưa biết tất cả những gì sẽ dần mở ra. Hơn nữa, điều đó vô cùng bất tiện đối với một đời sống thế tục gọn gàng, đang tăng tốc của tôi, khi đột ngột phải đổi hướng và dấn thân vào những khóa nhập thất thường xuyên, rồi ngày càng kéo dài hơn theo thời gian.

Những người học Phật pháp đi theo rất nhiều con đường, tông phái và truyền thống khác nhau. Người tu tập có vô vàn trải nghiệm đa dạng với pháp hành của mình cũng như với các vị thầy. Tôi tự xem mình là vô cùng may mắn khi có những trải nghiệm rất tích cực với tất cả các vị thầy Phật pháp của mình, bao gồm cả những thử thách về niềm tin và sự dấn thân — những điều vốn đánh dấu mọi mối quan hệ thiết yếu trong đời sống mà ta thật sự bước vào. Tôi tin rằng mình thuộc về hàng những người may mắn nhất, khi đã gặp gỡ — có lẽ là tái ngộ — giáo pháp Kim Cương thừa thông qua truyền thừa Dudjom Tersar của phái Nyingma, với những mối quan hệ thầy–trò sống động cùng một số bậc thầy sắc bén và chứng ngộ sâu xa nhất trong hình hài con người. Các ngài đã dạy dỗ và dẫn dắt tôi với sự nhẫn nại và thiện xảo lớn lao.

Tôi nhận ra rằng rất nhiều người trong đời này chưa bao giờ gặp được các bậc hữu tình trí tuệ. Hoặc họ có thể gặp phải những kẻ giả danh, hay những người có phẩm hạnh yếu kém, khiến họ lạc hướng vì sự thiếu đáng tin cậy. Dù những trường hợp sau thường được chú ý và phơi bày nhiều trên truyền thông, chúng thực ra chỉ chiếm thiểu số. Theo kinh nghiệm của tôi, cũng như của nhiều bằng hữu đồng tu, điều phổ biến là gặp được những vị lama xứng đáng để noi theo, kính trọng và nương tựa trên con đường chuyển hóa và giải thoát dòng tâm thức của chính mình thông qua thực hành. Tôi cảm nhận ân phúc ấy mỗi ngày, và điều đó hẳn chỉ có thể đến từ công đức của những đời trước cùng những mối duyên nghiệp lành. Dĩ nhiên, tôi vẫn còn rất nhiều chỗ cần cải thiện, cả về sự tinh tấn lẫn khả năng chuyên chú!

Vị lama gốc của tôi đã dành trọn cuộc đời mình, từ khi lên tám tuổi trở đi, để làm đệ tử chí thành của vị thầy của ngài là Kyabje Jigdrel Yeshe Dorje (Dudjom) Rinpoche, cùng với Thinley Norbu Rinpoche và rất nhiều vị lama tôn quý, vô song khác. Dù trong đời này tôi không có duyên gặp Đức Thánh Dudjom Rinpoche, tôi vẫn vô cùng may mắn khi đã có thể, lần lượt trong 11 năm và 13 năm, nhận lãnh giáo pháp và gia trì từ cả Thinley Norbu Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche — hai vị thừa kế Phật pháp cao quý của Đức Thánh — cũng như từ Dudjom Sangye Pema Shepa Yangsi Rinpoche, trước khi ngài viên tịch sớm vào mùa đông năm ngoái.

Trong những ngày đầu, tôi đã học Lời dạy của Thầy Hoàn hảo của tôi (The Words of My Perfect Teacher, Yale University Press, 2010), một cuốn sách thiết yếu mà tôi vẫn quay lại đọc hết lần này đến lần khác. Tác phẩm này trình bày toàn bộ các lĩnh vực học tập và phương pháp tiếp cận — có thể xem như ‘kinh điển’ của Kim Cương thừa. Các vị thầy của tôi, xưa nay, đều là những bậc thầy hoàn hảo, ngay cả với những bất toàn rất con người của các ngài. Cũng như vẻ đẹp nằm trong con mắt của người chiêm ngưỡng, thì sự hoàn hảo nằm trong sự phóng chiếu, hay dak nang — cái thấy thanh tịnh — của người trải nghiệm.

Điều này không có nghĩa là ta phải chịu đựng sự lạm dụng hay những hành vi sai trái; hoàn toàn không phải như vậy. Nhưng nếu không rơi vào những trường hợp ấy, thì vị thầy không nhất thiết phải là một hữu thể lý tưởng, không vướng thói quen đời thường, không ợ hơi, không nói đùa kém duyên hay không có những thay đổi tâm trạng. Ta cũng không cần phải hiểu trọn vẹn mọi hành động của các ngài, miễn là ta nhận thấy động cơ của các ngài là thanh tịnh, và bản thân ta đã dành đủ thời gian cùng tâm sức để quán xét phẩm hạnh và sự nhất quán của các ngài.

Nền tảng của con đường thực hành Kim Cương thừa là Ngöndro, hay các pháp tu sơ khởi, vốn tạo thành cơ sở cho bước đầu của con đường và là những giáo pháp đầu tiên được trao truyền và thực hành bởi những người mới bước vào tu tập. Ngöndro có tác dụng tịnh hóa những thói quen che chướng tích tụ suốt nhiều năm, thậm chí nhiều đời, đồng thời tập trung năng lượng của chúng ta vào lòng sùng kính và kỷ luật.

Dù một người có thực hiện đủ 100.000 lần cho mỗi phần của Ngöndro hay không, mục đích cốt lõi vẫn là xây dựng một nền tảng làm chỗ nương cho mọi pháp tu tiếp theo — cũng giống như nền móng của một ngôi nhà là điều thiết yếu cho tất cả các tầng được xây lên phía trên. Trái tim của Ngöndro chính là pháp tu Guru Yoga — chiếc chìa khóa mở cánh cửa giác ngộ. Guru Yoga là sự thực hành trong đó người đệ tử hòa nhập dòng tâm thức của mình với dòng tâm thức của vị thầy. Vị thầy là biểu trưng hoặc sự hiển lộ của Guru Rinpoche, hay của Đức Phật, hay của Kuntuzangmo — tất cả đều là những hình thức của trí tuệ–từ bi nguyên sơ.

Người ta nói rằng người học trò và vị thầy cần phải quán xét lẫn nhau trong tối thiểu hai đến ba năm trước khi chính thức bước vào việc học tập, quán chiếu, thọ quán đảnh, nghe pháp và thực hành Phật pháp. Nếu sự đầu tư này được thực hiện đầy đủ, thì một mối liên kết chân thật có thể được hình thành, dựa trên nền tảng của niềm tin vững chắc. Điều này hoàn toàn trái ngược với niềm tin mù quáng hay sự tin cậy mù quáng. Thay vào đó, người ta vận dụng sự phân định, khảo sát và trực giác để bảo đảm rằng vị thầy — hoặc người học trò — là người đáng tin cậy.

Điều này khác với việc hình thành tình bạn hay đơn thuần là yêu thích cá tính của một ai đó; mà là sự xác định rằng người ấy thực sự đáng nương tựa. Vị thầy cần có sự hiện diện vững chãi, những phẩm tính giác ngộ, và có khả năng hướng dẫn học trò mà không để lợi ích cá nhân xen vào việc giảng dạy. Điều này nuôi dưỡng nơi người học trò một sự tự tin ngày càng tăng, hay còn gọi là ‘kim cương kiêu hãnh’ (vajra pride), khác hẳn với sự kiêu mạn thông thường.

Lý tưởng nhất, mối quan hệ này là một cam kết trọn đời — vừa giống lại vừa không giống như một dạng hôn nhân. Như Dzongsar Khyentse Rinpoche đã giải thích, mối quan hệ này trên thực tế còn quan trọng hơn cả mối quan hệ vợ chồng, bởi mục đích của nó là dẫn dắt chúng ta đến chỗ tỉnh thức bản tánh chân thật của mình. Rinpoche đã trình bày rất chi tiết về những lợi ích cũng như những nguy cơ của mối quan hệ thầy–trò trong cuốn sách sâu sắc và kịp thời của ngài, Poison Is Medicine: Clarifying the Vajrayana (Siddhartha’s Intent, 2021).

Lý tưởng nhất, niềm tin và khả năng nương tựa trong mối quan hệ này là suốt đời, ngay cả khi thầy và trò chỉ gặp nhau một lần duy nhất. Nền tảng của mối quan hệ ấy là việc gieo trồng và làm nở rộ Phật pháp từ người này sang người khác như một gia tài tâm linh: di sản Phật pháp được truyền trao từ thầy sang trò, trong một dòng truyền thừa không gián đoạn của những giáo huấn và chỉ dạy được truyền bằng ‘khẩu truyền tâm ấn’.

Trong Phần Hai, vào tháng tới, tôi sẽ đi sâu hơn vào lòng sùng kính đối với bậc thầy, thông qua cuộc đời của Yeshe Tsogyal — đệ tử tối thắng của Guru Rinpoche, và tự thân là một bậc thầy đã chứng ngộ. Nguyện cho tất cả chúng sinh được giải thoát, thông qua việc nhận ra bản tánh chân thật của chính mình./.

 

https://www.buddhistdoor.net/features/my-perfect-teachers-a-view-into-guru-yoga-part-one/

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét