My
Perfect Teachers – A View into Guru Yoga, Part One
Tác giả: Sarah
C. Beasley
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
Sự
truyền trao Chánh pháp đòi hỏi ngôn ngữ, sự gặp gỡ và các mối quan hệ giữa con
người với nhau. Điều này nghe có vẻ rất hiển nhiên, nhưng trên thực tế, một
cuộc gặp gỡ có ý nghĩa với Chánh pháp không hề là điều phổ quát trong kinh
nghiệm của con người, mà còn gắn bó chặt chẽ với nghiệp và công đức… Có người
dễ dàng gặp được Chánh pháp và tiến bộ nhanh chóng; có người chỉ hiếm hoi mới
gặp được và phải trải qua vô vàn khó khăn; có người gặp rồi nhưng lại không
nhận ra giá trị của nó. Và cũng có những người chưa bao giờ gặp được Chánh
pháp.
Tôi
gặp được Phật pháp từ những năm đầu tuổi đôi mươi, thông qua Hòa thượng
Taitetsu Unno, một vị lãnh đạo của tông phái Tịnh Độ Chân Tông (Jōdo Shinshū).
Tuy nhiên, mãi đến cuối tuổi hai mươi tôi mới bắt đầu đọc các bản văn Kim Cương
thừa, và từ đó dần hình thành một mối duyên khởi với giáo pháp Phật giáo Tây
Tạng. Sau khi đọc những bản văn này hằng đêm suốt hai năm, đến năm 28 tuổi, tôi
bắt đầu tha thiết cầu nguyện được gặp một vị thầy bằng xương bằng thịt. Tôi cảm
nhận rằng nếu không có một bậc thầy như vậy, tôi sẽ không thể thực sự đi sâu và
thể nhập được Phật pháp phong phú được trình bày trong những trang sách ấy.
Sau
hai năm tìm kiếm, tôi gặp Khandro Rinpoche của dòng Mindroling tại một sự kiện
lớn ở Austin, bang Texas. Tôi rất quý mến phong thái của ngài, nhưng không cảm
thấy ngài là vị thầy trực tiếp của mình. Không lâu sau đó, tôi nghe nói sẽ có
một khóa giảng dạy của một người tên là Tulku Thubten Rinpoche — nay là Anam
Thubten — và tôi đã đăng ký tham dự khóa nhập thất ấy, một buổi tụ hội chỉ có
khoảng mười hoặc mười một người. Cuối tuần đó, tôi quy y trong một nghi lễ nhỏ
dành cho bốn người. Kể từ thời điểm ấy, mọi thứ đều thay đổi. Chỉ sau vài tháng
học tập với Tulku Thubten, thầy đã gửi tôi đến gặp Lama Tsedrup Tharchin
Rinpoche tại vùng núi Santa Cruz, bang California. Từ đó về sau, tôi có duyên
gặp gỡ nhiều vị lama quan trọng và đầy từ ái, trong đó có Lama Yeshe Wangmo —
người qua nhiều năm đã chia sẻ rất nhiều giáo pháp và tự thân là một tấm gương
sống động về lòng sùng kính và sự kiên trì trên con đường tu tập.
Chắc
hẳn ai trong chúng ta cũng quen thuộc với cảm giác khi một dòng chảy nào đó
tiếp quản, và ta bắt đầu hành động, đưa ra những lựa chọn dường như đã được
định sẵn, vượt ra ngoài sự toan tính đơn thuần của cái tôi. Ta có thể gọi đó là
những ‘lựa chọn không do lựa chọn’. Điều này đã xảy ra với — vì? cho? — tôi rất
nhiều lần trong bối cảnh tu tập Phật pháp, gặp gỡ các bậc thầy, hay tham dự các
khóa nhập thất. Việc gặp Lama Tharchin Rinpoche là một khoảnh khắc như thế, nơi
mọi thứ đối với tôi đều đổi khác. Ngài trở thành vị Lama gốc của tôi và là
trung tâm của con đường tu tập của tôi cho đến hết cuộc đời. Nhưng vào thời
điểm ấy, tôi vẫn chưa biết tất cả những gì sẽ dần mở ra. Hơn nữa, điều đó vô cùng
bất tiện đối với một đời sống thế tục gọn gàng, đang tăng tốc của tôi, khi đột
ngột phải đổi hướng và dấn thân vào những khóa nhập thất thường xuyên, rồi ngày
càng kéo dài hơn theo thời gian.
Những
người học Phật pháp đi theo rất nhiều con đường, tông phái và truyền thống khác
nhau. Người tu tập có vô vàn trải nghiệm đa dạng với pháp hành của mình cũng
như với các vị thầy. Tôi tự xem mình là vô cùng may mắn khi có những trải
nghiệm rất tích cực với tất cả các vị thầy Phật pháp của mình, bao gồm cả những
thử thách về niềm tin và sự dấn thân — những điều vốn đánh dấu mọi mối quan hệ
thiết yếu trong đời sống mà ta thật sự bước vào. Tôi tin rằng mình thuộc về
hàng những người may mắn nhất, khi đã gặp gỡ — có lẽ là tái ngộ — giáo pháp Kim
Cương thừa thông qua truyền thừa Dudjom Tersar của phái Nyingma, với những mối
quan hệ thầy–trò sống động cùng một số bậc thầy sắc bén và chứng ngộ sâu xa
nhất trong hình hài con người. Các ngài đã dạy dỗ và dẫn dắt tôi với sự nhẫn
nại và thiện xảo lớn lao.
Tôi
nhận ra rằng rất nhiều người trong đời này chưa bao giờ gặp được các bậc hữu
tình trí tuệ. Hoặc họ có thể gặp phải những kẻ giả danh, hay những người có
phẩm hạnh yếu kém, khiến họ lạc hướng vì sự thiếu đáng tin cậy. Dù những trường
hợp sau thường được chú ý và phơi bày nhiều trên truyền thông, chúng thực ra
chỉ chiếm thiểu số. Theo kinh nghiệm của tôi, cũng như của nhiều bằng hữu đồng
tu, điều phổ biến là gặp được những vị lama xứng đáng để noi theo, kính trọng
và nương tựa trên con đường chuyển hóa và giải thoát dòng tâm thức của chính
mình thông qua thực hành. Tôi cảm nhận ân phúc ấy mỗi ngày, và điều đó hẳn chỉ
có thể đến từ công đức của những đời trước cùng những mối duyên nghiệp lành. Dĩ
nhiên, tôi vẫn còn rất nhiều chỗ cần cải thiện, cả về sự tinh tấn lẫn khả năng
chuyên chú!
Vị
lama gốc của tôi đã dành trọn cuộc đời mình, từ khi lên tám tuổi trở đi, để làm
đệ tử chí thành của vị thầy của ngài là Kyabje Jigdrel Yeshe Dorje (Dudjom)
Rinpoche, cùng với Thinley Norbu Rinpoche và rất nhiều vị lama tôn quý, vô song
khác. Dù trong đời này tôi không có duyên gặp Đức Thánh Dudjom Rinpoche, tôi
vẫn vô cùng may mắn khi đã có thể, lần lượt trong 11 năm và 13 năm, nhận lãnh
giáo pháp và gia trì từ cả Thinley Norbu Rinpoche và Lama Tharchin Rinpoche —
hai vị thừa kế Phật pháp cao quý của Đức Thánh — cũng như từ Dudjom Sangye Pema
Shepa Yangsi Rinpoche, trước khi ngài viên tịch sớm vào mùa đông năm ngoái.
Trong
những ngày đầu, tôi đã học Lời dạy của Thầy Hoàn hảo của tôi (The Words of My
Perfect Teacher, Yale University Press, 2010), một cuốn sách thiết yếu mà tôi
vẫn quay lại đọc hết lần này đến lần khác. Tác phẩm này trình bày toàn bộ các
lĩnh vực học tập và phương pháp tiếp cận — có thể xem như ‘kinh điển’ của Kim
Cương thừa. Các vị thầy của tôi, xưa nay, đều là những bậc thầy hoàn hảo, ngay
cả với những bất toàn rất con người của các ngài. Cũng như vẻ đẹp nằm trong con
mắt của người chiêm ngưỡng, thì sự hoàn hảo nằm trong sự phóng chiếu, hay dak
nang — cái thấy thanh tịnh — của người trải nghiệm.
Điều
này không có nghĩa là ta phải chịu đựng sự lạm dụng hay những hành vi sai trái;
hoàn toàn không phải như vậy. Nhưng nếu không rơi vào những trường hợp ấy, thì
vị thầy không nhất thiết phải là một hữu thể lý tưởng, không vướng thói quen
đời thường, không ợ hơi, không nói đùa kém duyên hay không có những thay đổi
tâm trạng. Ta cũng không cần phải hiểu trọn vẹn mọi hành động của các ngài,
miễn là ta nhận thấy động cơ của các ngài là thanh tịnh, và bản thân ta đã dành
đủ thời gian cùng tâm sức để quán xét phẩm hạnh và sự nhất quán của các ngài.
Nền
tảng của con đường thực hành Kim Cương thừa là Ngöndro, hay các pháp tu sơ
khởi, vốn tạo thành cơ sở cho bước đầu của con đường và là những giáo pháp đầu
tiên được trao truyền và thực hành bởi những người mới bước vào tu tập. Ngöndro
có tác dụng tịnh hóa những thói quen che chướng tích tụ suốt nhiều năm, thậm
chí nhiều đời, đồng thời tập trung năng lượng của chúng ta vào lòng sùng kính
và kỷ luật.
Dù
một người có thực hiện đủ 100.000 lần cho mỗi phần của Ngöndro hay không, mục
đích cốt lõi vẫn là xây dựng một nền tảng làm chỗ nương cho mọi pháp tu tiếp
theo — cũng giống như nền móng của một ngôi nhà là điều thiết yếu cho tất cả
các tầng được xây lên phía trên. Trái tim của Ngöndro chính là pháp tu Guru
Yoga — chiếc chìa khóa mở cánh cửa giác ngộ. Guru Yoga là sự thực hành trong đó
người đệ tử hòa nhập dòng tâm thức của mình với dòng tâm thức của vị thầy. Vị
thầy là biểu trưng hoặc sự hiển lộ của Guru Rinpoche, hay của Đức Phật, hay của
Kuntuzangmo — tất cả đều là những hình thức của trí tuệ–từ bi nguyên sơ.
Người
ta nói rằng người học trò và vị thầy cần phải quán xét lẫn nhau trong tối thiểu
hai đến ba năm trước khi chính thức bước vào việc học tập, quán chiếu, thọ quán
đảnh, nghe pháp và thực hành Phật pháp. Nếu sự đầu tư này được thực hiện đầy
đủ, thì một mối liên kết chân thật có thể được hình thành, dựa trên nền tảng
của niềm tin vững chắc. Điều này hoàn toàn trái ngược với niềm tin mù quáng hay
sự tin cậy mù quáng. Thay vào đó, người ta vận dụng sự phân định, khảo sát và
trực giác để bảo đảm rằng vị thầy — hoặc người học trò — là người đáng tin cậy.
Điều
này khác với việc hình thành tình bạn hay đơn thuần là yêu thích cá tính của
một ai đó; mà là sự xác định rằng người ấy thực sự đáng nương tựa. Vị thầy cần
có sự hiện diện vững chãi, những phẩm tính giác ngộ, và có khả năng hướng dẫn
học trò mà không để lợi ích cá nhân xen vào việc giảng dạy. Điều này nuôi dưỡng
nơi người học trò một sự tự tin ngày càng tăng, hay còn gọi là ‘kim cương kiêu
hãnh’ (vajra pride), khác hẳn với sự kiêu mạn thông thường.
Lý
tưởng nhất, mối quan hệ này là một cam kết trọn đời — vừa giống lại vừa không
giống như một dạng hôn nhân. Như Dzongsar Khyentse Rinpoche đã giải thích, mối
quan hệ này trên thực tế còn quan trọng hơn cả mối quan hệ vợ chồng, bởi mục
đích của nó là dẫn dắt chúng ta đến chỗ tỉnh thức bản tánh chân thật của mình.
Rinpoche đã trình bày rất chi tiết về những lợi ích cũng như những nguy cơ của
mối quan hệ thầy–trò trong cuốn sách sâu sắc và kịp thời của ngài, Poison Is
Medicine: Clarifying the Vajrayana (Siddhartha’s Intent, 2021).
Lý
tưởng nhất, niềm tin và khả năng nương tựa trong mối quan hệ này là suốt đời,
ngay cả khi thầy và trò chỉ gặp nhau một lần duy nhất. Nền tảng của mối quan hệ
ấy là việc gieo trồng và làm nở rộ Phật pháp từ người này sang người khác như
một gia tài tâm linh: di sản Phật pháp được truyền trao từ thầy sang trò, trong
một dòng truyền thừa không gián đoạn của những giáo huấn và chỉ dạy được truyền
bằng ‘khẩu truyền tâm ấn’.
Trong
Phần Hai, vào tháng tới, tôi sẽ đi sâu hơn vào lòng sùng kính đối với bậc thầy,
thông qua cuộc đời của Yeshe Tsogyal — đệ tử tối thắng của Guru Rinpoche, và tự
thân là một bậc thầy đã chứng ngộ. Nguyện cho tất cả chúng sinh được giải
thoát, thông qua việc nhận ra bản tánh chân thật của chính mình./.
https://www.buddhistdoor.net/features/my-perfect-teachers-a-view-into-guru-yoga-part-one/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét