Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

Điều Đức Phật thật sự dạy về ‘luân hồi’ và cuộc sống sau cái chết.

 

‘Đừng hiểu sai lời Phật.

What Buddha actually taught about “rebirth” and life after death. “Don’t misunderstand the Buddha.”

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***



 

Một trong những hiểu lầm lớn nhất về giáo lý Phật giáo là những gì Đức Phật dạy về cái chết. Ngài dạy Bát Chánh Đạo như một phương pháp để thoát khỏi luân hồi và khổ đau — đó là lý do tại sao Ngài thường từ chối nói về “cuộc sống sau khi chết[1]”, vì điều đó không quan trọng đối với “cuộc sống thánh thiện”, nhưng điều này không có nghĩa là Ngài phủ nhận vòng luân hồi. Thực tế, Ngài đang cố gắng dạy chúng ta cách thoát khỏi bánh xe khổ đau thông qua vô số kiếp sống.

Đúng là Phật giáo phủ nhận một cái “ngã” hay “linh hồn” bất biến — nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại. Bản chất của tồn tại là sự biến đổi. Điều chúng ta là hôm nay đã trở thành quá khứ vào ngày mai. Chúng ta không còn giống như mình của mười năm trước, và cũng không hoàn toàn giống như chính mình của năm nay. Đức Phật dạy rằng cái “cái tôi” (bản ngã) mà chúng ta hiểu theo cách thông thường là không đúng — chứ không phải là chúng ta không tồn tại, hay sẽ hoàn toàn không còn tồn tại. Mà đúng hơn, chúng ta chưa bao giờ tồn tại theo cách mà chúng ta vẫn tưởng về sự tồn tại ấy.

Rõ ràng Đức Phật đã thấu hiểu không chỉ thế giới của chúng ta mà còn cả sự phức tạp của sự tồn tại.

“Vì thật sự có một thế giới khác, nên người giữ quan điểm ‘không có thế giới khác’ là người có tà kiến…”

— Đức Phật, → Trung Bộ Kinh, trang i.402, Kinh Không Thể Sai Lầm (hay Kinh Chắc Chắn Đúng) Majjhima Nikaya i.402, Kinh Apannaka Sutta, bản dịch của Peter Harvey.

Sự hiểu lầm bắt đầu từ đây.

Một trong những hiểu lầm quan trọng là “điều gì” được tái sinh. Trong Phật giáo, giáo lý về vô thường phủ nhận khả năng tồn tại của một “linh hồn” thường hằng, bất biến — nhưng đây cũng là giới hạn của ngôn ngữ. Bởi vì mọi thứ luôn thay đổi, nên không có gì là “vĩnh viễn”. Trong nhiều bài kinh (Sutta), điều được tiếp nối và “di chuyển” qua đời sống hiện tại cũng như các đời sống tương lai là dòng tương tục của tâm thức. Trong Kinh Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm (Bhayabherava Sutta - MN 4), Đức Phật được mô tả là nhớ lại các đời sống quá khứ của chính mình.

Thật vậy, tái sinh được mô tả là một yếu tố quan trọng của Chánh Kiến — một trong những giáo lý nền tảng của Đức Phật trong Bát Chánh Đạo — trong Kinh Đại Tứ Thập (Mahācattārīsaka Sutta (MN 117).

Nói cách khác, không phải Đức Phật không tin vào tái sinh, nhiều cõi giới hay các đời sống quá khứ — mà là, xét ở mức tối hậu, những điều đó không phải là điều quan trọng nhất đối với người đang tìm kiếm đời sống thánh thiện (Holy Life / phạm hạnh).

Nổi tiếng nhất là việc Đức Phật từ chối trả lời câu hỏi: “Sau khi chết, Như Lai còn tồn tại hay không?”

Vì sao Ngài không trả lời câu hỏi về cái chết và đời sống sau khi chết — điều khiến rất nhiều chúng sinh lo lắng? Trong Kinh Tiểu Mālunkyā (Cula-Malunkyovada Sutta (MN 63), Đức Phật nói:

“Và tại sao những điều ấy không được Ta tuyên bố? Bởi vì chúng không liên quan đến mục đích, không phải là nền tảng của đời sống thánh thiện.”

Do đó, vì chúng sinh vốn dễ rơi vào lo âu và chấp thủ — đặc biệt là sự chấp thủ vào thân thể — chúng ta có thể hiểu sai “sự im lặng” của Đức Phật. Một đệ tử của Đức Phật là Yamaka đã hiểu sai giáo lý, cho rằng Đức Phật dạy rằng sau khi chết thì không có gì “tồn tại” nữa. Trong Kinh Yamaka Sutta, sự hiểu lầm nguy hiểm này đã được điều chỉnh và làm sáng tỏ.

Trong nhiều bài kinh (Sutta), tái sinh được mô tả một cách rõ ràng.

Rõ ràng từ các kinh điển sơ kỳ rằng tái sinh được thừa nhận như một phần của giáo lý Duyên khởi — trong đó “sinh” được nêu cụ thể là một mắt xích quan trọng. Các truyện Tiền Thân (Jataka Tales) — kể về những tiền kiếp của Đức Phật — cũng mô tả rõ việc Đức Phật nhớ lại các đời sống trước đây của mình.

Trong các kinh sutta cổ, sự tái sinh được mô tả bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, bao gồm Punagamana, Punavasa, Punanivattati, Abhinibbatti.

Các Kinh (Sutta) cụ thể đề cập đến tái sinh như một hiện tượng có thật gồm: Kinh Mahakammavibhanga (Trung Bộ Kinh – MN 136), Kinh Upali (MN 56), Kinh Kukkuravatika (MN 57), Kinh Moliyasivaka (Tương Ưng Bộ Kinh – SN 36.21), Kinh Sankha (SN 42.8).

Kinh Yamaka – điều chỉnh lại những hiểu lầm về cái chết

Yamaka là một kinh có ý nghĩa sâu sắc. Ngay cả những người Phật tử đôi khi cũng hiểu sai Pháp khi bàn về điều gì cấu thành nên sự sống và cái chết. Vì cách chúng ta nhận thức về thế giới và cuộc sống chính là trọng tâm của giáo lý, nên tham ái và chấp thủ chính là nguyên nhân gây ra khổ đau. Nỗi sợ cái chết và bệnh tật cũng là một dạng “khổ” như vậy.

Trong Kinh Yamaka, Tỳ-kheo Yamaka đã bị sửa sai rất nhanh:

Đừng nói vậy, hiền hữu Yamaka. Đừng xuyên tạc Thế Tôn. Không nên xuyên tạc Thế Tôn, vì Thế Tôn sẽ không nói rằng: ‘Một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung thì bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’”



Vacchagotta về Lửa — “loại bỏ các niềm tin cố chấp”

Trong Trung Bộ Kinh 72 “Vacchagotta về Lửa”, chúng ta thấy rằng ngay cả những đệ tử tận tụy nhất của giáo Pháp cũng có thể bị nhầm lẫn:

“Như Lai đã loại bỏ mọi quan điểm cố chấp. Vì Như Lai đã thấy: ‘Như vậy là sắc, như vậy là sự sinh khởi của sắc, như vậy là sự đoạn diệt của sắc. Như vậy là thọ, như vậy là sự sinh khởi của thọ, như vậy là sự đoạn diệt của thọ. Như vậy là tưởng, như vậy là sự sinh khởi của tưởng, như vậy là sự đoạn diệt của tưởng. Như vậy là các hành, như vậy là sự sinh khởi của các hành, như vậy là sự đoạn diệt của các hành. Như vậy là thức, như vậy là sự sinh khởi của thức, như vậy là sự đoạn diệt của thức.’

Chính vì vậy, Như Lai được giải thoát nhờ sự chấm dứt, sự phai nhạt, sự đoạn diệt, sự buông bỏ và từ bỏ mọi sự đồng nhất hóa, mọi lo âu, và mọi chấp ngã, chấp thủ, hay khuynh hướng ngầm của ngã mạn—ta nói vậy.”

Thưa Tôn giả Gotama, khi tâm của một vị khất sĩ được giải thoát như vậy, họ tái sinh ở đâu?”

“‘Họ tái sinh’ không phù hợp, này Vaccha.”

“Vậy thì họ không tái sinh sao?”

“‘Họ không tái sinh’ cũng không phù hợp, này Vaccha.”

“Vậy họ vừa tái sinh vừa không tái sinh sao?”

“‘Vừa tái sinh vừa không tái sinh’ cũng không phù hợp, này Vaccha.”

“Vậy họ không phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh sao?”

“‘Không phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh’ cũng không phù hợp, này Vaccha.”

Về sau trong kinh, Đức Phật giải thích cho cư sĩ Vacchagotta bằng thí dụ về ngọn lửa:

“Này Vaccha, ông nghĩ sao? Giả sử có một ngọn lửa đang cháy trước mặt ông. Ông có biết rằng: ‘Ngọn lửa này đang cháy trước mặt tôi’ không?”

“Bạch ĐạoGotama, có, con biết như vậy.”

Nhưng này Vaccha, giả sử người ta hỏi ông: ‘Ngọn lửa đang cháy trước mặt ông này, nó dựa vào cái gì mà cháy?’ thì ông sẽ trả lời thế nào?”

“Bạch ĐạoGotama, con sẽ trả lời như sau: ‘Ngọn lửa đang cháy trước mặt con cháy nhờ nương vào cỏ và củi làm nhiên liệu.’

“Này Vaccha, giả sử ngọn lửa đang cháy trước mặt ông bị tắt. Ông có biết rằng: ‘Ngọn lửa trước mặt tôi đã tắt’ không?”

“Bạch ĐạoGotama, có, con biết như vậy.”

Nhưng này Vaccha, giả sử người ta hỏi ông: ‘Ngọn lửa trước mặt ông đã tắt đó: nó đã đi về hướng nào—đông, nam, tây hay bắc?’ thì ông sẽ trả lời thế nào?”

“Bạch ĐạoGotama, điều đó không thích hợp. Ngọn lửa ấy nương vào cỏ và củi làm nhiên liệu. Khi nhiên liệu ấy cạn kiệt, và không còn thêm nhiên liệu nào nữa, thì ngọn lửa được xem là đã tắt do không còn nhiên liệu.”

“Cũng vậy, này Vaccha, bất kỳ sắc nào mà nhờ đó một Như Lai có thể được mô tả đều đã bị đoạn tận tận gốc, như gốc cây dừa bị chặt, bị xóa bỏ, và không còn khả năng sinh khởi trong tương lai. Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi sự quy định dựa trên sắc. Các Ngài sâu xa, vô lượng, khó dò lường, như đại dương. ‘Các Ngài tái sinh’, ‘Các Ngài không tái sinh’, ‘vừa tái sinh vừa không tái sinh’, ‘không phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh’—tất cả những điều này đều không áp dụng.”

“Bất kỳ thọ… tưởng… các hành… hay thức nào mà nhờ đó một Như Lai có thể được mô tả đều đã bị đoạn tận tận gốc, như gốc cây cọ bị chặt, bị xóa bỏ, và không còn khả năng sinh khởi trong tương lai. Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi sự quy định dựa trên thức. Các Ngài sâu xa, vô lượng, khó dò lường, như đại dương. ‘Họ tái sinh’, ‘họ không tái sinh’, ‘vừa tái sinh vừa không tái sinh’, ‘không phải vừa tái sinh cũng không phải không tái sinh’—tất cả những điều này đều không áp dụng.”

Kinh Yamaka

Tôi được nghe như vầy: vào một thời, Tôn giả Xá-lợi-phất đang trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, một tà kiến đã khởi lên nơi Tôn giả Yamaka rằng:

“Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.”

Một số đông các Tỳ-kheo nghe rằng: “Người ta nói Tôn giả Yamaka đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’”

Vì vậy, họ đã đi đến gặp Tôn giả Yamaka. Khi đến nơi, họ chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi và chào đón thân tình, họ ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, họ nói với Tôn giả Yamaka: “Này hiền giả Yamaka, có phải đúng là nơi hiền giả đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết’ không?”

“Vâng, các hiền giả. Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.”

“Đừng nói vậy, hiền giả Yamaka. Đừng xuyên tạc Thế Tôn. Không nên xuyên tạc Thế Tôn, vì Thế Tôn sẽ không nói rằng: ‘Một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’”

Nhưng mặc dù Tôn giả Yamaka đã bị các Tỳ-kheo đó khiển trách như vậy, ông — vì tính cố chấp và chấp thủ — vẫn giữ vững tà kiến ấy: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.

Khi các Tỳ-kheo không thể khiến Tôn giả Yamaka từ bỏ tà kiến của mình, họ đứng dậy rời chỗ ngồi và đến gặp Tôn giả Xá-lợi-phất. Khi đến nơi, họ nói với ngài: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, tà kiến này đã khởi lên nơi Tôn giả Yamaka: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.’ Nếu Tôn giả vì lòng từ bi, đến khuyên Tôn giả Yamaka thì thật tốt.

Tôn giả Xá-lợi-phất đồng ý bằng cách im lặng.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất rời nơi ẩn cư, đến gặp Tôn giả Yamaka, và khi đến nơi, hai bên chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi và chào đón, ngài ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống, ngài nói với Tôn giả Yamaka: “Hiền giả Yamaka, có phải đúng là nơi hiền giả đã khởi lên tà kiến này: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết’ không?

“Vâng, thưa tôn giả Xá-lợi-phất. Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết.

“Hiền giả Yamaka, theo hiền giả, sắc có phải thường hằng hay vô thường?

“Vô thường, thưa hiền giả.

“Và cái gì vô thường đó có mang lại an lạc hay khổ đau?

“Khổ đau, thưa hiền giả.

“Và có nên xem những gì vô thường, khổ đau, dễ biến đổi là: ‘Cái này là của tôi. Cái này là tự ngã của tôi. Cái này là tôi’ không?

“Không, thưa hiền giả.

“Thọ có phải thường hằng hay vô thường?

“Vô thường, thưa hiền giả.

“Các hành có phải thường hằng hay vô thường?

“Vô thường, thưa hiền giả.

“Thức có phải thường hằng hay vô thường?

“Vô thường, thưa hiền giả.

“Và cái gì vô thường đó có mang lại an lạc hay khổ đau?

“Khổ đau, thưa hiền giả.

“Và có nên xem những gì vô thường, khổ đau, dễ biến đổi là: ‘Cái này là của tôi. Cái này là tự ngã của tôi. Cái này là tôi’ không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem sắc là Như Lai không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả có xem thọ là Như Lai không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả có xem tưởng là Như Lai không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả có xem các hành là Như Lai không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả có xem thức là Như Lai không?

“Không, thưa hiền giả.

“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai hiện hữu trong sắc… hay ngoài sắc… trong thọ… hay ngoài thọ… trong tưởng… hay ngoài tưởng… trong các hành… hay ngoài các hành… trong thức… hay ngoài thức không?”

“Không, thưa hiền giả.”

“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai là sắc-thọ-tưởng-hành-thức không?”

“Không, thưa hiền giả.”

“Hiền giả nghĩ sao: Hiền giả có xem Như Lai là sắc-thọ-tưởng-hành-thức không?”

“Không, thưa hiền giả.”

“Hiền giả có xem Như Lai là cái gì không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức không?”

“Không, thưa hiền giả.”

“Vậy này hiền giả Yamaka — khi hiền giả không thể xác định Như Lai là một chân lý hay thực thể ngay cả trong đời này — thì có nên tuyên bố rằng: ‘Theo như tôi hiểu Pháp do Thế Tôn giảng dạy, một vị Tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị hủy diệt, tiêu vong, và không còn tồn tại sau khi chết’ không?”

“Trước đây, hiền giả Xá-lợi-phất, tôi đã ngu si mà giữ lấy tà kiến đó. Nhưng bây giờ, sau khi nghe lời giải thích của hiền giả về Pháp, tôi đã từ bỏ tà kiến ấy, và đã thông suốt được Pháp.

“Vậy này hiền giả Yamaka, nếu có người hỏi hiền giả như sau: Một vị Tỳ-kheo, một bậc tỳ-kheo đáng tôn kính, đã đoạn tận các lậu hoặc: thì khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, huynh sẽ trả lời thế nào?”

“Khi được hỏi như vậy, tôi sẽ trả lời: ‘Sắc thì vô thường… Cảm thọ… Tri giác… Hình thành… Ý thức cũng vô thường. Cái gì vô thường thì khổ. Cái gì khổ thì đã chấm dứt và đi đến kết thúc.’

“Rất tốt, hiền giả Yamaka ạ. Rất tốt. Trong trường hợp đó, tôi sẽ đưa cho huynh một phép ẩn dụ để giúp bạn hiểu điểm này sâu hơn nữa. Giả sử có một chủ nhà hoặc con trai của một chủ nhà — giàu có, thịnh vượng, sở hữu nhiều tài sản — được canh gác rất kỹ lưỡng. Rồi giả sử có một người nào đó xuất hiện, mong muốn điều không đem lại lợi ích cho mình, mong muốn điều không có lợi cho mình, mong muốn làm mất an toàn của người ấy, mong muốn giết người ấy. Người này sẽ nghĩ: ‘Sẽ không dễ dàng để giết người này bằng bạo lực. Nếu ta lén lút tiến vào rồi giết người ấy thì sao?’”

“Vậy người ấy sẽ đến gặp chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà và nói: ‘Xin Ngài nhận tôi làm người hầu, thưa Ngài.’ Nghe vậy, chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà sẽ nhận người này làm người hầu.”

“Khi đã được nhận làm người hầu, người ấy sẽ thức dậy vào buổi sáng trước chủ nhà, đi ngủ vào buổi tối chỉ sau chủ nhà, làm mọi việc mà chủ nhà ra lệnh, luôn hành động để làm hài lòng chủ nhà, nói năng lễ phép với chủ nhà. Rồi chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà sẽ coi người ấy như bạn bè, người đồng hành, và đặt lòng tin vào người ấy. Khi người hầu nhận ra: ‘Chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà tin tưởng tôi,’ thì khi gặp chủ nhà ở nơi vắng vẻ, người ấy sẽ giết ông bằng một con dao sắc bén.

“Vậy bạn nghĩ sao, bạn Yamaka ạ? Khi người ấy đến gặp chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà và nói: ‘Xin Ngài nhận tôi làm người hầu, thưa Ngài’: chẳng phải lúc đó người ấy đã là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là kẻ giết người, chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ giết tôi’. Và khi, được nhận làm người hầu, người ấy thức dậy vào buổi sáng trước chủ nhà, đi ngủ vào buổi tối chỉ sau chủ nhà, làm mọi việc mà chủ nhà ra lệnh, luôn hành động để làm hài lòng chủ nhà, nói năng lễ phép với chủ nhà: chẳng phải lúc đó người ấy vẫn là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là kẻ giết người, chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ giết tôi’. Và khi người ấy gặp chủ nhà ở nơi vắng vẻ và giết ông bằng một con dao sắc bén: chẳng phải lúc đó người ấy vẫn là kẻ giết người sao? Thế nhưng mặc dù là kẻ giết người, chủ nhà hoặc con trai của chủ nhà vẫn không biết người ấy là ‘kẻ giết tôi.’”

“Vâng, hiền hữu của tôi.”

“Cũng tương tự như vậy, một người chưa được hướng dẫn, bình thường — không tôn trọng bậc thánh, không tinh thông hay rèn luyện theo Pháp của họ; không tôn trọng những người liêm chính, không tinh thông hay rèn luyện theo Pháp của họ — lại cho rằng sắc (thân) là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu sắc, hoặc sắc có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong sắc.”

“Người ấy cho cảm thọ là tự ngã…
Người ấy cho tri giác là tự ngã…
Người ấy cho các hành (hình thành tâm lý) là tự ngã…
Người ấy cho ý thức là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu ý thức, hoặc ý thức có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong ý thức.”

“Người ấy không thấy sắc vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc vô thường.’ Người ấy không thấy cảm thọ vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘cảm thọ vô thường.’ Người ấy không thấy tri giác vô thường… Người ấy không thấy các hành vô thường… Người ấy không thấy  thức vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘thức vô thường.’

“Người ấy không thấy sắc khổ, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc khổ.’ Người ấy không thấy cảm thọ khổ… Người ấy không thấy tri giác khổ… Người ấy không thấy các hành khổ… Người ấy không thấy ý thức khổ, đúng như nó hiện hữu, là ‘ý thức khổ.’

“Người ấy không thấy sắc là vô ngã, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc vô ngã.’ Người ấy không thấy cảm thọ vô ngã… Người ấy không thấy tri giác vô ngã… Người ấy không thấy các hành vô ngã… Người ấy không thấy  thức vô ngã, đúng như nó hiện hữu, là ‘ thức vô ngã.’

“Người ấy không thấy sắc là do tạo tác, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc do tạo tác.’ Người ấy không thấy cảm thọ do tạo tác… Người ấy không thấy tri giác do tạo tác… Người ấy không thấy các hành do tạo tác… Người ấy không thấy ý thức do tạo tác, đúng như nó hiện hữu, là ‘ý thức do tạo tác.’

“Người ấy không thấy sắc là sát hại, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc sát hại.’ Người ấy không thấy cảm thọ sát hại… Người ấy không thấy tri giác sát hại… Người ấy không thấy các hành sát hại… Người ấy không thấy  thức sát hại, đúng như nó hiện hữu, là ‘ thức sát hại.’”

“Người ấy bám chấp vào sắc, dính mắc vào sắc, và xác định nó là ‘cái tôi.’ Người ấy bám chấp vào cảm thọ… Người ấy bám chấp vào tri giác… Người ấy bám chấp vào các hành… Người ấy bám chấp vào  thức, dính mắc vào  thức, và xác định nó là ‘cái tôi.’ Năm uẩn bám chấp này — bám chấp vào, dính mắc vào — dẫn đến mất mát lâu dài và khổ đau cho người ấy.

“Còn người đệ tử được hướng dẫn tốt, của những bậc thánh — người tôn trọng bậc thánh, tinh thông và rèn luyện theo Pháp của họ; người tôn trọng những người liêm chính, tinh thông và rèn luyện theo Pháp của họ — thì không cho rằng sắc là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu sắc, hoặc sắc có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong sắc.

“Người ấy không cho cảm thọ là tự ngã…
Người ấy không cho tri giác là tự ngã…
Người ấy không cho các hành là tự ngã…”

“Người ấy không cho ý thức là tự ngã, hoặc tự ngã sở hữu ý thức, hoặc ý thức có trong tự ngã, hoặc tự ngã có trong thức.”

“Người ấy thấy sắc là vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘sắc vô thường.’ Người ấy thấy cảm thọ vô thường… Người ấy thấy tri giác vô thường… Người ấy thấy các hành vô thường… Người ấy thấy ý thức là vô thường, đúng như nó hiện hữu, là ‘ thức vô thường.’

“Người ấy nhận biết hình tướng gây căng thẳng, như nó thật sự hiện hữu, là ‘hình tướng gây căng thẳng.’ Người ấy nhận biết cảm thọ gây căng thẳng… Người ấy nhận biết tri giác gây căng thẳng… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) gây căng thẳng… Người ấy nhận biết thức gây căng thẳng, như nó thực sự hiện hữu, là ‘thức gây căng thẳng.’

“Người ấy nhận biết hình tướng không phải tự ngã, như nó thật sự hiện hữu, là ‘hình tướng không phải tự ngã.’ Người ấy nhận biết cảm thọ không phải tự ngã… Người ấy nhận biết tri giác không phải tự ngã… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) không phải tự ngã… Người ấy nhận biết thức không phải tự ngã, như nó thực sự hiện hữu, là ‘thức không phải tự ngã.’

“Người ấy nhận biết hình tướng tạo tác, như nó thật sự hiện hữu, là ‘hình tướng tạo tác.’ Người ấy nhận biết cảm thọ tạo tác… Người ấy nhận biết tri giác tạo tác… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) tạo tác… Người ấy nhận biết thức tạo tác, như nó thật sự hiện hữu, là ‘thức tạo tác.’

“Người ấy nhận biết hình tướng sát hại, như nó thật sự hiện hữu, là ‘hình tướng sát hại.’ Người ấy nhận biết cảm thọ sát hại… Người ấy nhận biết tri giác sát hại… Người ấy nhận biết những tạo tác (hoặc cấu tạo) sát hại… Người ấy nhận biết thức sát hại, như nó thật sự hiện hữu, là ‘thức sát hại.’

“Người ấy không bám chấp vào hình tướng, không dính mắc vào hình tướng, không xác định hình tướng là ‘tự ngã của ta.’ Người ấy không bám chấp vào cảm thọ… Người ấy không bám chấp vào tri giác… Người ấy không bám chấp vào các tạo tác… Người ấy không bám chấp vào thức, không dính mắc vào thức, không xác định thức là ‘tự ngã của ta.’ Năm uẩn bám chấp này — không bám chấp, không dính mắc — dẫn đến hạnh phúc lâu dài và an lạc của người ấy.

“Như vậy, hiền hữu Xá Lợi Phất, những người có những người như huynh làm bạn đồng hành trong đời sống thanh tịnh, dạy bảo họ, khuyên nhủ họ bằng lòng từ, mong muốn hạnh phúc và lợi ích của họ. Vì bây giờ, khi tôi đã nghe lời giải thích về Pháp từ hiền hữu, tâm tôi — nhờ không còn bám chấp/không còn phụ thuộc — đã được giải thoát khỏi các ô nhiễm tâm.”/.

***

CÁC BÀI LIÊN QUAN

1-Luân Hồi Và Nghiệp Rất Quan Trọng Trong Phât Giáo

2- Giấc Mơ Về Tái Sanh, Liệu Luân Hồi Có Thật Không?

3- Tái Sanh Vs Luân Hồi: Nghiệp Vận Hành Như Thế Nào?

4- NGHIỆP & TÁI SANH

https://buddhaweekly.com/yamaka-sutta-clarifying-that-death-is-not-extinction-that-which-is-stressful-has-ceased-and-gone-to-its-end/

 



[1] Tứ Đồng: đồng giới, đồng nguyện, đồng tín, đồng thí - "Này cả hai gia chủ, nếu cả vợ lẫn chồng ước mong lúc nào cũng nhìn thấy nhau cho đến hết kiếp sống này và còn muốn tiếp tục nhìn thấy nhau trong kiếp sống tương, thì phải có cùng một niềm tin, một lòng rộng lượng như nhau, noi theo một nền đạo đức như nhau, thực hiện được một trí tuệ như nhau; [được như thế] thì cả hai sẽ nhìn thấy nhau cho đến hết kiếp sống này và sẽ còn nhìn thấy nhau trong kiếp sống tương lai".Kinh "Làm thế nào để gặp lại nhau trong các kiếp sống tương lai" (Nakulapita-Sutta-Anguttara Nikaya, II, 61-62, PTS, 1885-1910)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét