Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

(1) TRÍCH DẪN TỪ LUẬN GIẢI VỀ SỰ RÈN LUYỆN NHƯ TIA SÁNG


Tác giả:  Đức Đạt Lai Lạt Ma

Giáo lý nhà Phật không chấp nhận một đấng tạo hóa mà nói rằng mọi thứ sinh khởi một cách tương duyên hay duyên sanh. Thế nên bất cứ điều gì xảy ra hình thành trong một cung cách rõ ràng và thứ tự, bằng phương tiện của nhân và quả..
The teachings of the Buddha do not accept a creator. They say that everything dependently arises. So whatever happens comes about in a rational and orderly manner, by means of cause and effect.
Không phải là có một đấng tạo hóa quyết định mọi thứ xảy ra. Mọi thứ hình thành bởi các nguyên nhân và hoàn cảnh và nếu chúng ta cố gắng nhận diện các nguyên nhân, chúng ta sẽ phải nói rằng mọi thứ đến từ nghiệp. Nghiệp, hóa ra, hình thành trong những điều kiện tâm thức đa dạng của con người và những thứ khác nhau mà họ làm, một cách đặc biệt họ làm lợi lạc hay tổn hại người khác như thế nào
It is not that there is some creator that just wills things to happen. Everything comes about by causes and circumstances and if we try to identify the causes, we would have to say that things come from karma. Karma, in turn, comes about in terms of various people’s minds and the various things that they do, particularly how they benefit or harm others.
Hạnh phúc và sự vắng bóng của rắc rối và khổ đau không phải đến chỉ từ việc cầu nguyện với Đức Phật ban hạnh phúc cho chúng ta. Chúng đến từ nổ lực của chính chúng ta trong dạng thức của vấn đề chúng ta có tịnh hóa tâm thức của chúng ta về những thái độ tiêu cực và rèn luyện chúng để có những thái độ tích cực hay không.
 Happiness and the absence of problems and suffering aren’t going to come from just praying to the Buddha to give them to us. They come from our own efforts in terms of whether we have cleansed our minds of negative attitudes and trained them to have positive ones. 
Chúng ta không giải thích rằng có một vị Thượng đế  nào đó ban hạnh phúc cho chúng ta qua sự phù hộ và gia ân của ngài, mà đúng hơn là năng lực của cá nhân con người và năng lực của Đức Phật là đồng đẳng. Mặc dù chúng ta có thể đạt được sự truyền cảm hứng từ chư Phật, nhưng điều căn bản mà chúng ta phải làm là thuần hóa tâm thức chúng ta.
We don’t explain that there is some god who gives us happiness through his blessings and grace, but rather that the power of individual people and the power of the Buddha are equal. Although we can gain inspiration from the Buddhas, the basic thing we have to do is tame our minds. 
Bất chấp hoàn cảnh là gì, bất cứ chúng ta làm điều gì, thật rất quan trọng để có một động cơ thích đáng. Với động cơ thích đáng, bất cứ điều gì chúng ta làm cũng có thể trở thành hành vi xây dựng.
No matter what the situation is, whatever we do, it is very important to have the proper motivation. With the proper motivation, whatever we do can become constructive activity.
Ngay cả việc lắng nghe giáo huấn này chỉ để đạt được giải thoát khỏi vòng luân hồi cũng là một lỗi lầm lớn. đúng hơn chúng ta cần phát triển một xu hướng của tâm giác ngộ (bodhichitta), hãy nghĩ: "Tôi đang lắng nghe giáo lý này để đem tôi đến gần Giác Ngộ hơn vì thế tôi có thể giúp đở mọi người một cách tốt đẹp nhất" - đây là loại động cơ chúng ta cần có.

Even listening to these teachings just to gain liberation from samsara is a big mistake. Rather, we need to develop a bodhichitta aim, thinking: “I’m listening to this to bring me closer to enlightenment so that I can be of best help to everybody” – this is the type of motivation we need to have.
Có những giáo huấn về vấn đề đệ tử cần lắng nghe như thế nào, tương tự như sử dụng những bình chậu. Để giữ bất cứ thứ gì, một chiếc bình không được úp xuống, có một lỗ dưới đáy, hay bị dơ bẫn bên trong. Vì vậy, chúng ta cần phải rất cởi mở và ghi nhớ những gì chúng ta nghe, và không được trộn lẫn với những định kiến.
There are teachings about how the disciple needs to listen, using the analogy of a vessel. To hold anything, a vessel must not be upside-down, have a hole in its bottom, or be dirty inside. Thus, we need to be very open and retain what we hear, and not mix it with prejudices.

Chúng ta cần lắng nghe nhằm để tiếp thu những thứ mà chúng ta chưa bao giờ học hỏi trước đây và bất cứ điều gì chúng ta học hỏi được, chúng ta cần đem vào thực hành ngay lập tức. Đây là vấn đề chúng ta rèn luyện tâm thức xảy ra như thế nào.
We need to listen to order to learn things we’ve never learned before, and whatever we learn from them, we need to put them into immediate practice. This is how the training of the mind comes about.
Hãy chính niệm với nghĩa lý của giáo huấn để tiếp nhận sự truyền khẩu giáo huấn; không chỉ là để âm thanh đi vào. Giáo nghĩa đang được giải thích ở đây và chúng ta cần cố gắng để tiêu hóa chúng, không chỉ ngồi đấy. Xa hơn, chúng ta không chỉ nghĩ, "Vâng, vâng, đúng đấy," và rồi không làm gì để thay đổi thái độ của chúng ta. Đấy là một lỗi lầm lớn.
Be mindful of what it means to receive an oral transmission: it’s not just letting sounds go in. Things are being explained here and we need to try to digest them, not just sit there. Further, we don’t just think, “Yeah, yeah, that’s right,” and then do nothing about it to change our behavior. That’s a big mistake.
Lợi ích của việc tham gia một buổi thuyết giảng, của việc lắng nghe Phật Pháp, không phải cho Đức Phật, không phải cho lạt ma. Kyabjey Ling Rinpoche thường nói, "Không phải vì lợi ích của tôi mà quý vị học hỏi Phật Pháp. Nếu quý vị nghĩ nó tốt cho quý vị, thế thì tuân theo nó." Đây là tinh túy.
The benefit of following a discourse, of listening to the Dharma, is not for the Buddha, nor for the lama. Kyabjey Ling Rinpoche often said, “It is not for my benefit that you are following the Dharma. If you think it is good for you, then follow it.” This is the essence.
Khi thực hành Phật Pháp, không cần phải kiêu hảnh về nó với người khác. Chúng ta không làm việc này vì lợi ích của Đức Phật, chúng ta thực hiện việc này vì lợi ích của chính chúng ta, để cải thiện chính chúng ta. Nếu nó vì lợi ích của những đấng cao cấp nào đó, thì đấy là một sai lầm lớn trong thái độ đối với việc thực hành Phật Pháp.
When practicing the Dharma, there’s no need to boast of it to others. We are not doing it for the benefit of the Buddha, we are doing it for our own benefit, to improve ourselves. If it is for the benefit of some higher beings, it is a great mistake in attitude toward the practice of the Dharma,

Bất chấp chúng ta ở đâu, ở Trung Hoa hay Tây Tạng, trong những người Ấn Độ hay ở phương Tây nơi có những tiến trình vật chất lớn lao. Bất cứ hạnh phúc nào có trong một hoàn cảnh, nó đến từ một tâm thức có được thuần hóa hay không. Bất chấp ngoại cảnh như thế nào, nếu tâm thức không được thuần hóa, thì chúng ta cũng không hạnh phúc. Mọi thứ đến từ thái độ của tâm thức chúng ta.
It doesn’t matter where we are, in China or in Tibet, among the Indians or in the West where there is great material progress. Whatever happiness there is in a situation, it comes from whether the mind is tamed. No matter what the external situation is, if the mind isn’t tamed, we’re not happy. Everything comes from our attitude of mind.

Mọi người có xu hướng và mong ước được hạnh phúc, của việc muốn loại bỏ các rắc rối của họ, và trên căn bản ấy và phù hợp với những ý kiến của họ về phương pháp thật sự là gì, họ tiến hành việc cố gắng để đạt đến nó. Một số người nghĩ rằng họ sẽ có được hạnh phúc này từ việc làm tổn thương và lợi dụng người khác vì thế họ mới có thể có được lợi ích. Ngay cả nếu họ hành động như vậy, chúng ta có thể thấy rằng gốc rể những hành động của họ là trên căn bản mong ước mà tất cả chúng sanh có, đó là được hạnh phúc và lìa xa khỏi những rắc rối của họ.
Everybody has the intention and wish to be happy, of wanting to get rid of their problems, and on that basis and according to their own ideas of what the actual method is, they go about trying to achieve it. Some think that they are going to get this happiness from hurting people and taking advantage of them so that they can get some profit. Even if they act like that, we can see that the root of their actions is this basic wish that all beings have, which is to be happy and to be parted from their problems.
Nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc cố gắng làm lợi ích cho chính chúng ta trong kiếp sống này, thế thì sự suy nghĩ của chúng ta quá nhỏ hẹp. Nếu chúng ta chỉ nghĩ về những kiếp sống tương lai của chúng ta, xét cho cùng nó cũng quá hạn hẹp. Nếu chúng ta chỉ nghĩ trong việc đạt đến giải thoát cho chính chúng ta, đó cũng là một phạm trù quá nhỏ bé. Nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc hoạt động làm lợi ích cho mọi người, nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc trở thành một Đức Phật, thế thì đây chính là điều gì đấy mở rộng xa hơn. Và rồi thì dĩ nhiên, trên đường, chúng ta sẽ hạnh phúc trong kiếp sống này, cũng như trong tương lai.
If we only think in terms of trying to benefit ourselves in this lifetime, then our thinking is too small. If we think only of our future lifetimes, again it is too small. If we think just in terms of gaining liberation ourselves, that is also too small a scope. If we think in terms of working to benefit everybody, if we think in terms of becoming a Buddha, then this is something far more extensive. Then of course, on the way, we’ll be happy in this life too, and in the future as well.

Thật sự muốn có thể làm lợi ích cho tất cả mọi người và hạnh phúc và cảm thấy tích cực về việc này. Tối đa như chúng ta có thể, chúng ta cần thẩm tra thái dộ, động cơ, của chúng ta và làm nó trở thành một thứ tốt đẹp.
Really want to be able to benefit everybody and be happy and feel positive about this! As much as we can, we need to examine our attitude, our motivation, and make it a good one.
Đức Phật như một vị hoa tiêu vĩ đại của con thuyền sẽ đưa mọi người vượt qua biển luân hồi. Nhấn mạnh chính ở đây là xu hướng của tâm giác ngộ, như gốc rể của từ ái và bi mẫn.
The Buddha as the great navigator of the ship that will bring everyone across the ocean of samsara. The main emphasis here is on the bodhichitta aim, having as its root love and compassion.
Để làm lợi ích cho mọi người, chúng ta cần biết hoàn cảnh thật sự của tất cả những sự hiện hữu ấy. Không có gì không thể được bao gồm trong hai chủ đề này: mọi thứ tồn tại như thế nào và quy mô của những gì tồn tại.
To benefit everybody, we need to know the actual situation of all that exists. There is nothing that cannot be included in these two topics: how things exist and the extent of what exists.
Những ai trong chúng ta đến từ Tây Tạng có thể nghĩ trong dạng thức của 3 lớp người. Một là chấp nhận tôn giáo hay tâm linh, bất cứ loại nào, một là nghĩ tâm linh làm ra mọi rắc rối, và một là dững dưng, là thứ không nói tôn giáo là tốt hay xấu, nhưng chỉ nghĩ, "Quên nó đi". Hầu hết mọi người có loại suy nghĩ này.
Those of us who are from Tibet can think in terms of three classes of people. One that accepts religion or spirituality, whichever type it might be, one that thinks religion is the cause of all problems, and one that is indifferent, which does not say that religion is good or bad, but just feels, “Forget about it.” Most people have this type of thought.
Tôn giáo là điều gì đó đáng lẻ phải đem hạnh  phúc đến cho chúng ta. Nếu nó không mang đến hạnh phúc, thì giữ nó không có lợi ích gì. Chúng ta có thể vất nó đi.
Religion is something that is supposed to bring us happiness. So, if it doesn’t bring happiness, there is no use in keeping it. We can just throw it away.
Sự hoạt động của đấu tranh giai cấp để mang đến sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống xã hội ở Tây Tạng là một tiến trình căn cứ trên sân hận, thù oán, và phẩn uất. Nó hoàn toàn không làm được gì cả. Nhưng nếu nó căn cứ trên thái độ Đại Thừa của xu hướng quan tâm cho người khác và thật sự muốn làm lợi ích cho họ, thế thì nó có thể làm lợi ích trong việc giúp đở con người cải thiện. Nhưng nếu căn cứ trên thù hận, thì nó là thảm họa.
The exercise of class struggle to bring about changes in the whole social system of Tibet is a process based on anger, hatred, and resentment. It doesn’t work at all. But if it were based on the Mahayana attitude of intense concern for other people and really wanting to benefit them, then it could be beneficial in helping people to improve. But being based on hatred, it is disastrous.
Con người không có loại đẳng cấp hay phân biệt bẩm sinh trong họ khi họ được sinh ra.
People don t have this type of class or division innate in them when they are born.
Nếu chúng ta nhìn vào những tôn giáo khác nhau vốn thừa nhận Thượng đế , tất cả họ nói rằng một cách căn bản chúng ta cần những con người tốt lành. Chúng ta cần cầu xin đến Thượng đế  và những gì xảy ra là ở trong tay của Thượng đế. Tuy thế, chúng ta vẫn cần hành động trong khuôn phép tín ngưỡng tôn giáo và chúng ta sẽ lợi lạc. Trong giáo lý nhà Phật, điều này hiện hữu thậm chí mạnh mẽ hơn làm cải thiện trong mọi thứ sẽ không phải đơn giản đến từ việc cầu xin Thượng đế , mà rằng tự chính chúng ta cần phải đặt nhấn mạnh của chúng ta và nổ lực của chính chúng ta, trong sự hoạt động của chính chúng ta.
If we look at the various religions that assert the existence of God, all of them say that basically we need to be good persons. We need to make requests to God and what happens is in God’s hands. But, nevertheless, we still need to act in a decent and religious manner and that will be beneficial. In the teachings of Buddhism, it appears even more strongly that improvement in things is not going to come simply from making requests to a god, but that we ourselves need to put our emphasis on our own efforts, on our own work.

Trong những tôn giáo hữu thần, dường như chúng ta không thật sự có bất cứ năng lực nào đối với mọi thứ. Chúng ta có thể thỉnh cầu đến Thượng đế  và, giống như cách mà Thượng đế  đã tạo ra vũ trụ, Thượng đế  tạo ra hạnh  phúc và bất hạnh của chúng ta. Căn cứ trên những lời cầu nguyện mà chúng ta đọc, có lẽ chúng ta có thể tiếp nhận những sự phù hộ nào đó và trở nên hạnh phúc, nhưng chúng ta thật sự không có năng lực cứu kính.
In the theistic religions, it seems as though we don’t really have any power over things. We can make requests to God and, just in the same way as God creates the universe, God creates our happiness and unhappiness. Based on the prayers that we say, we may perhaps receive some blessings and become happy, but we really don’t have the ultimate power.
Trong giáo lý nhà Phật, mặc dù chúng ta có thể thỉnh cầu và cầu nguyện để tiếp nhận sự "gia hộ" và truyền cảm hứng của chư Phật và v.v…, nhưng tự chúng ta phải làm những gì chư Phật đã làm. Chúng ta phải áp dụng nhiều phương pháp mà Đức Phật đã dạy chúng ta cho việc đạt đến hạnh phúc. Vì thế, tất cả những năng lực tùy thuộc vào chúng ta.
In Buddhist teachings, although we can make requests and prayers to receive the “blessings” and inspiration of the Buddhas and so forth, we ourselves have to do what the Buddhas did. We have to employ the many methods that Buddha taught for achieving happiness. Hence, all the power depends on us.
Sự bảo hộ và nương tựa trong những tôn giáo hữu thần đến từ bên ngoài: mọi thứ đến từ bên trên ban xuống cho chúng ta. Trong Phật Giáo, sự quy y nương tựa và bảo hộ đến từ bên trong, bằng việc phát triển chính chúng ta đạt đến thể trạng của một Đức Phật. Thay vì đến từ trên cao xuống chúng ta, mọi thứ hoạt động từ những nổ lực của chúng ta dưới đây đi lên.
The protection and refuge in theistic religions comes from outside: everything comes from above down to us. In the Buddhist religion, the actual refuge and protection comes from within, by developing ourselves to reach the state of a Buddha. Rather than coming from on high down to us, everything works from our efforts down here going up.
Thể trạng và mục tiêu cao nhất được diễn tả trong Ki Tô Giáo là gì? Nó là điều gì đấy tương tự, nhưng không hoàn toàn giống với cực lạc của chúng ta - nói cách khác, được sinh ra ở thiên đàng, trong một thế giới hạnh phúc của chư thiên. Điều tối cao mà quý vị có thể đạt đến bằng tất cả sự cầu xin của quý vị là được tái sanh trong thiên đàng, nơi quý vị sẽ rất hạnh phúc. Trái lại, khi chúng ta nói về giải thoát, điểm cứu kính trong sự thực tập của Phật Giáo, không chỉ đơn thuần là tái sanh trong một thiên đàng dễ thương. Đúng hơn, nó loại bỏ tất cả những vọng tưởng đủ thứ và các cảm xúc tiêu cực quấy rầy tâm thức chúng ta và xa rời những thúc đẩy nghiệp chướng sinh khởi và làm cho chúng ta hành động trong một cách không thể kềm chế, là những thứ lần lượt mang bất hạnh đến cho chúng ta. Cách thật sự để đạt đến giải thoát là không chỉ cầu nguyện để được tái sanh trong thiên đàng, mà là hành động thật sự để thuần hóa tâm thức, để loại trừ những phiền não khác nhau trong tâm thức và cải thiện thân thể; Phật Giáo căn cứ trên sự rèn luyện và cải thiện tâm thức.
What is the highest state and aim described in Christianity? It is something similar, but not quite the same as our pure lands – in other words, being born in heaven, in a celestial paradise. The best that you can achieve by all your requests is being reborn in heaven, where you will be very happy. In contrast, when we speak of liberation, the ultimate point of Buddhist practice, it is not merely rebirth in a nice heaven. Rather, it is getting rid of all the various delusions and negative emotions that disturb our minds and getting rid of the karmic impulses that come up and cause us to act in an unruly fashion, which in turn brings us unhappiness. The actual way to achieve liberation is not just to pray to be reborn in a heaven, but to actually work to tame the mind, to remove the various disturbances in the mind and the impulses that come up and cause unhappiness. And it’s not based on just training and improving the body; Buddhism is based on training and improving the mind.

Để cải thiện tâm thức, chúng ta phải tỉnh thức rất sâu sắc về thực tại là gì. Đúng là nếu chúng ta sử dụng những phương tiện thân thể khác nhau như lễ phủ phục, thực hiện ăn chay, trì tụng mật ngôn và thực tập thuyết giảng, chúng ta có thể xây dựng nên năng lực tích cực, là phước đức. Điều này rất hữu dụng. Nhưng căn bản chính cho việc đạt đến giải thoát là làm việc với tâm thức. Chính tâm thức sẽ là kết quả thật sự trong bản chất của những gì sẽ xảy ra.
To improve the mind, we have to be very deeply aware of whatreality is. It is true that if we use the various physical means such as prostrating, doing the fasting practice, saying the mantras and practice of the speech, we can build up positive force (positive potential, merit). This is very useful. But the main basis for achieving liberation is working on the mind. It is the mind that is in the nature of what the actual results will be.

Nếu chúng ta sẽ làm một vật gì bằng kim loại, thí dụ, nếu sản phẩm sau cùng được làm bằng thép, thế thì nguyên nhân cũng sẽ được làm từ thép. Chúng ta chỉ đơn thuần làm việc trên nguyên nhân vật chất, tạo dáng nó, uốn nắn nó và làm nó thành đối tượng mà chúng ta muốn. Giống như thế, cho dù chúng ta nghĩ về sản phẩm sau cùng như Giác Ngộ hay giải thoát, thì chúng ta cần tịnh hóa và định hướng tâm thức đến điểm, là chỗ mà nó được triển khai hoàn toàn phù hợp với bản chất căn bản của nó. Đấy là nguyên liệu mà chúng ta phải làm việc với, chính là tâm thức.
If we are going to make some object out of metal, for instance, if the final product is made out of iron, then the cause is also going to be made out of iron. We simply work on the causal material, shaping it, bending it and making it into the object we want. Likewise, whether we think of the final product as enlightenment or liberation, we need to purify and shape the mind to the point where it is operating fully in accord with its basic nature. That’s the material we have to work with, the mind.

Đối với việc rèn luyện tâm thức, thật quan trọng để biết làm cho nó hoạt động thế nào, tâm thức biết mọi thứ thế nào, khi chúng ta phải thật sự làm việc với những tâm thức của chúng ta. Chúng ta cần rèn luyện tâm thức chúng ta để đạt đến những sản phẩm sau cùng: thể trạng của một Đức Phật, Giác Ngộ, là thứ cũng được sản xuất từ tâm thức; nó là một sự định hình của tâm thức.
For training the mind, it is very important to know how it operates, how the mind knows things, as we have to actually work with our minds. We need to train our minds to achieve the actual final products: the state of a Buddha, enlightenment, which is also produced from the mind; it’s a shaping of the mind.
Có ba nhóm: là những người thích thú với tôn giáo, những người vô cùng chống lại tôn giáo, và những người dửng dưng. Trong đặc trưng của những người tôn giáo, có những người hữu thần: họ tin tưởng trong một Thượng đế  tạo hóa. Họ giải thích rằng hạnh phúc sẽ đến chỉ từ việc cầu xin và cầu nguyện đến một Thượng đế  toàn năng, đấng sẽ ban bố nó cho quý vị. Phật Giáo ở trong một phân phái khác của các tôn giáo, những người không thừa nhận một Thượng đế  tạo hóa, mà chỉ nói rằng hạnh phúc đến từ chính nghiệp quả của chúng ta, từ những khuynh hướng, những hạt giống và thói quen xây dựng nên sự tương tục tinh thần của chúng ta. Đây là tại sao những người Phật tử tự gọi là "những người bên trong" [nghiệp nội nhân sĩ] - hạnh phúc và năng lực tác động đến tương lai của chúng ta nằm ở bên trong [tâm thức]. Sự tập trung là ở "bên trong".
There are three groups: those who are interested in religion, those who are very much against it, and those who are indifferent. Within the category of those who are religious, there are those who are theistic: they believe in a creator god. They explain that happiness will come from just making requests and prayers to an almighty god who will grant it to you. Buddhism is within another division of religions, those that don’t assert an almighty creator god, but which just say that happiness comes from our own karma, from the tendencies, seeds and habits built up on our mental continuums. This is why Buddhists call themselves “insiders” – happiness and the power to affect our futures lie within. The focus is on “inside.”
Phật Giáo thừa nhận rằng chúng ta không có một tự ngã hay linh hồn cụ thể, không thay đổi đi từ những kiếp quá khứ đến tương lai và đấy là căn bản cho sự giải thoát.
Buddhism asserts that we do not have concrete, unchanging selves or souls that go from past 1ives to future lives and that are the basis for liberation.

Có nhiều loại tôn giáo. Chúng ta, như những người Phật tử, không thừa nhận một Thượng đế  như một đấng tạo hóa hay như một nguồn gốc của hạnh phúc. Cũng thế, chúng ta nói rằng không có một tự ngã hay linh hồn cụ thể đi đến giải thoát.
There are many various types of religions. We, as Buddhists, do not assert a god as a creator or as a source of happiness. Also, we say that there is no concrete self or soul that goes on to liberation.
Trong Phật Giáo, kiểu mẫu của hạnh kiểm là một thứ căn cứ vào bi mẫn, và quan điểm về thực tại là một thứ căn cứ trên duyên sanh, nhân và quả. Trên nền tảng ấy, giáo huấn Đại Thừa đặt sự nhấn mạnh vào bi mẫn và việc  phát triển xu hướng của một tâm giác ngộ (bodhichitta).
Within Buddhism, the mode of conduct is one that is based on compassion, and the view of reality is one that is based on dependent arising, cause and effect. On that foundation, the Mahayana teachings put the main emphasis on compassion and developing a bodhichitta aim.
Tâm giác ngộ - tâm bồ đề - như mặt trời như châu báu quý giá, và như thuốc men như thế nào. Châu báu loại trừ khốn khó của người nghèo. Tương tự, bởi vì tâm giác ngộ tiêu trừ nghèo khó là sự thiếu vắng của thực chứng, nó như kim cương. Nếu chúng ta có một viên kim cương khổng lồ, nó có thể vứt bỏ một khối lượng khổng lồ của nghèo khó. Nhưng ngay cả nếu chúng ta chỉ có một viên kim cương nhỏ, nó cũng có thể loại trừ sự nghèo khó của chính ta. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một khía cạnh nhỏ của xu hướng tâm giác ngộ, nó sẽ có lợi ích lớn lao. Cho nên nó giống như viên kim cương.
Nó như mặt trời, giống như tia sáng mặt trời làm tiêu tan bóng tối, cho nên, nếu chúng ta phát triển tâm giác ngộ, nó sẽ tiêu trừ bóng tối của những hành vi phiền não và vọng tưởng trong chúng ta và trong tất cả chúng sanh. Ngay cả nếu chỉ có một vài tia sáng của mặt trời đến từ phía sau làn mây, chúng cũng sẽ xua tan bóng tối. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một tâm giác ngộ nho nhỏ chiếu sáng qua những làn mây của những phiền não và vọng tưởng của chúng ta, như vậy cũng sẽ làm cho ánh sáng chiếu soi trong tâm thức chúng ta.
Tâm giác ngộ giống như thuốc men y dược, vì trong khi tất cả những bộ phận của cây thuốc, rể, vỏ, trái, cành, và lá đều là lợi lạc, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một bộ phận của nó sẽ vẫn có giá trị thuốc men. Tương tự thế, nếu chúng ta đã phát triển hoàn toàn tâm giác ngộ, đấy là lợi lạc lớn; nhưng nếu thậm chí chúng ta chỉ có một phần nhỏ của nó, thì vẫn là lợi lạc. Điều này là thật  không chỉ trong dạng thức của tâm giác ngộ phổ thông, mà cũng trong dạng thức của thái độ rèn luyện tâm thức.
Những thuận lợi xa  hơn là tâm giác ngộ làm mọi người hoan hỉ; nó loại trừ ganh tỵ và v.v… Điều này thật sự quan trọng trong thế giới hiện nay, khi mà vọng tưởng cùng những cảm xúc và thái độ phiền não của mọi người đang gia tăng. Ngay cả ở Ấn Độ đây, trong hoàn cảnh như những người tị nạn của chúng ta, mặc dù chúng ta không có những tiến trình vật chất lớn lao, nhưng chúng ta thật có một số. Chúng ta đã xây dựng trường học, một số thương mại nhỏ, những thứ như vậy. Nhưng chúng cũng có thể là căn bản cho ganh tỵ và tranh đua. Cho nên chỉ có tiến trình vật chất là không đủ; tiến trình tâm linh là cần thiết đồng thời. Việc phát triển tâm giác ngộ loại trừ tất cả những thứ ghen tỵ và vọng tưởng này, và điều ấy là rất quan trọng và liên hệ bây giờ khi có hiểm họa rằng mặc dù chúng ta có một ít tiến trình ở Ấn Độ này, chúng ta có thể nghĩ rằng những hoàn cảnh ngoại tại đang giải quyết tất cả những vấn nạn của chúng ta. Đó là một vọng tưởng thật sự. Tôi đã từng thấy mọi người ở trong những hoàn cảnh cực kỳ thoải mãi về vật chất và, thường thì, họ hoàn toàn khốn khổ, với những hậu quả bất hạnh. Thế nên, thật quan trọng để hành động phát triển cả nội tại và ngoại tại.
How bodhichitta is like the sun, like a precious jewel and like medicine. Jewels eliminate the unhappiness of the poor. Similarly, because bodhichitta eliminates the poverty that is a lack of realizations, it is like a diamond. If we had a huge diamond, it could eliminate an enormous amount of poverty. But even if we had just a small diamond, it would eliminate our own poverty. Similarly, even if we have just a small aspect of a bodhichitta aim, it will be of great benefit. So it is like a diamond.
It is like the sun, for just as the rays of the sun eliminate darkness, so, if we develop bodhichitta, it will eliminate the darkness of disturbing actions and delusions within us and within all beings. Even if there are just a few rays of the sun coming from behind a cloud, they will eliminate darkness. Similarly, even if we have only a little bodhichitta shining through the clouds of our disturbances and delusions, that will also cause a light to shine within our minds.
Bodhichitta is like medicine, for while all the parts of a medicinal tree, the roots, the bark, the fruit, the branches and the leaves are of benefit, even if we have only one part it will still have medicinal value. Similarly, if we have fully developed a bodhichitta aim, it is of great benefit; but even if we have only a small part of it, it will still be beneficial. This is true not only in terms of general bodhichitta, but also in terms of attitude training.
Further advantages are that bodhichitta causes everybody to rejoice; it eliminates jealousy and so forth. This is especially important these days, when the delusions and disturbing emotions and attitudes of people are on the increase. Even here in India, in our situation as refugees, although we don’t have great material progress, we do have some. We’ve been able to build schools, some small businesses, such things as that. But they can also be the basis of jealousy and competition. So it is not enough to have material progress; spiritual progress is needed at the same time. Developing a bodhichitta aim eliminates all these jealousies and delusions, and that is very important and relevant now when there is the danger that even though we have a little bit of progress here in India, we might think that external circumstances are going to solve all our problems. That is a real delusion. I’ve seen people in situations of great material comfort and, often, they are absolutely miserable, with disastrous consequences. So it is important to work both externally and internally.




Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

GIAO CẢM TRONG LÂU ĐÀI PRAGUE



Tôi chú ý đến cô ta trong đám đông ngay lập tức. Cô vươn mình ra phía trước, chỉ phía sau làn dây nhung lớn ngăn cách trong phòng khánh tiết nhỏ của lâu đài Prague ( thủ đô Cộng Hòa Czech). Cô là một phụ nữ hấp dẫn, có lẻ trong độ tuổi ba mươi. Khuôn mặt sôi nổi với sự mong đợi.

Đó là vào  tháng Mười năm 2000, khi Tổng Thống Václv Havel mời Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhiều nhà tư tưởng thế giới đến Prague cho một hội nghị chuyên đề về giáo dục và giá trị tâm linh. Để làm hài lòng vô số yêu cầu cho những cuộc phỏng vấn, vị lãnh tụ Tây Tạng đã lập thời khóa biểu cho một họp báo. Ngài đã chỉ trả lời một câu hỏi từ một phóng viên Đài Loan. Có cả nửa tá người như vậy, và tất cả họ đều muốn biết Đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ gì về Trung Hoa và Đài Loan.

Khi ấy người phụ nữ tóc vàng tiếp lấy micrô chuyển tay. Cô nghiêng mình về phía trước hai máy quay hình lớn đang lơ lửng.

"Chúng ta đang sống trong thời đại của Internet, và ngài biết rất nhiều kỷ năng thiền tập. Tôi chắc chắn rằng ngài rất quen thuộc với việc thần giao cách cảm (telepatee)…"

"Tela?" Đức Đạt Lai Lạt Ma không hiểu chữ ấy, ngài trông thừ người ra.

"Telepatee." Cô ta lập lại.

"Telepathy, (thần giao cách cảm - tha tâm thông). Sau cùng ngài nhận ra.

"Vâng…chuyển tư tưởng của ngài đến một người khác?" Người đàn bà nhìn chăm chú vào Đức Đạt Lai Lạt Ma, khuôn mặt cô ta trang nghiêm. Từ giọng nói của cô, tôi đoán cô hoặc là  người Czech hay người Đức.

"Tôi?" Đức Đạt Lai Lạt Ma nói lớn lên trong một giọng vang vang, tiếng dội lại trong một phòng lớn lộng lẩy. Khoảng chín mươi hay chừng ấy phóng viên  và những nhà quay phim bùng cười to lên. "Không, số không." Ngài đã nhấn mạnh chắc nịch như vậy. "Tôi không có năng lực ấy. Nhưng tôi hy vọng tôi có năng lực như vậy. Nếu được như thế, ngay cả khi bạn hỏi, câu hỏi … nếu tôi biết câu hỏi, thế thì nó không làm rắc rối cho tôi." Ngài không thể tự kềm chế. Ngài nghiêng đầu ra phía sau và cười to, rất thoải mái và rất lâu, khuôn mặt của ngài nhăn nhó rất vui vẻ. Một phóng viên người Czech lau nước mắt vì cười trên khuôn mặt bà ta. Mọi  người trong phòng bắt đầu thích thú với cuộc họp báo.

Người đàn bà nhìn xuống sàn nhà trong một lúc. Cô ta rõ ràng thất vọng với câu trả lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng cô quyết định không nản lòng với sự chấn động. Cô nhấn mạnh: "Câu hỏi của tôi là: Ngài có thỉnh thoảng dùng email không hay ngài vẫn sử dụng tha tâm thông? Cô ta rõ ràng tin chắc rằng thần giao cách cảm hay tha tâm thông là một phần trong kho tàng phương tiện thiện xảo bí mật của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Đức Đạt Lai Lạt Ma quay sang Tenzin Geyche Tethong, thư ký riêng của ngài, nhờ giúp đở. Họ nói ngắn với nhau bằng tiếng Tây Tạng. Khuôn mặt người phụ nữ đầy hân hoan khi chờ đợi.

"Mặc dù cá nhân Đức Thánh Thiện không dùng email, nhưng tất cả những nhân viên khác thì luôn luôn sẳn sàng với Internet", Tenzin Geyche giải thích trong một giọng bình thường.

Đức Đạt Lai Lạt Ma bổ sung thêm bằng tiếng Tây Tạng.

Tenzin Geyche tiếp tục: "Như liên quan đến máy điện toán đến bây giờ, Đức Thánh Thiện thấy khó khăn ngay cả việc không biết ấn vào nút  nào". Mặc dù đối với chính mình - người thư ký thường giữ cảm xúc kín đáo trong những trường hợp ở những nơi công cộng như thế này - nhưng ông ta cho phép mình mĩm cười.

Đức Đạt Lai Lạt Ma chi tiết thêm: "Những ngón tay của tôi … " Ngài đưa bàn tay lên gần mặt ngài và bắt đầu chăm chú nhìn vào những ngón tay loe rộng ra. "Tốt lắm, tôi nghĩ, rất thích hợp cho việc sử dụng chiếc túc vít". Bây giờ ngài làm như dụng cụ của thợ mộc với bàn tay phải của ngài. Tiếng lách cách của những chiếc máy ghi hình đã chuyển sang tần số cao.

"Làm chút việc nào ở đây, ở kia … " Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục khi ngài chăm chú thích thú nhìn những ngón tay của ngài xoay tròn. "Tối thiểu tôi có thể làm thế đó. Nhưng đối với máy điện toán … " Ngài dùi dùi một cách vụng về vào bàn vài lần với ngón tay trỏ của ngài. "Vô vọng."

Khi cuộc họp bào kết thúc, các phóng viên tập trung đông đảo chung quanh để bắt tay với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Người phụ nữ Âu châu cũng ở trong số ấy. Ngài bước tới cô ta, đẩy mạnh khuôn mặt của ngài vài phân về phía cô, và dúi một ngón tay quả quyết vào trán cô ấy. Cô ta cười ngặt nghẽo. Hai người cười lớn lên, không cần kềm chế.

***

Ngày nay, trong nhãn quan của thế giới, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trở thành một biểu tượng quốc tế. Sự kiện ngài là lãnh tụ của người Tây Tạng thì ít quan trọng hơn là biểu tượng nổi tiếng nhất của Phật Giáo. Ở phương Tây ngài được biết một phần như siêu sao sa môn và một phần như gấu trúc dễ thương. Khi đến New York năm 2003, ngài đã có một khoá giảng dạy bốn ngày ở Nhà hát Beacon với số vé bán hết. Trên mái cửa vào nhà hát chạy hàng chữ lấp lánh tuyên bố: Trên khán đài. Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sắp tới: Twisted Sister và Hot Tuna (hai ban nhạc nổi tiếng của Mỹ).

Sau khóa giảng dạy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thuyết pháp công cộng tại Central Park. Dưới bầu trời tươi sáng, Bãi Cỏ phía Đông đầy những  người hâm mộ trung thành, những người tầm cầu tâm linh, và những người chỉ đơn giản là tò mò. Một sân khấu rộng lớn được đặt giữa hai màn ảnh truyền hình khổng lồ được dựng lên cho sự kiện này. Những người không thể tìm ra chỗ trong bãi cỏ phải hé nhìn qua màn lá cây dày đặc từ phía bên kia những hàng cây. Tất cả được nói là hơn 100,000 (một trăm nghìn) người đã đến tham dự sự kiện này. Đó là một mini-Woodstock[1] được dàn dựng bởi tài tử Richard Gere. Chỉ có Billy Graham[2] và Giáo Hoàng mới có thể lôi kéo hơn số người ấy vào Central Park.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trông tươi tắn hôm nay. Đứng chỉ cách ngài vài bộ, tôi có thể thấy ngài được làm cho mạnh mẽ từ đám đông. Như thông thường, ngài khiêm tốn, tiếu lâm nhẹ nhàng và giọng cười thân mật nồng nhiệt. Nói chuyện không cần giấy, ngài nói với những người nghe, "Một số trong quý vị đến với những mong đợi nào đó về Đạt Lai Lạt Ma. Vị khôi nguyên Nobel Hòa Bình sẽ nói cho nghe những thông tin hấp dẫn nào đó hay điều gì đó đặc biệt. Không có gì cả! Tôi không có gì để cống hiến, chỉ là thứ gì đó blah, blah, blah."

Nhưng rồi thì ngài tiếp tục lập lại chủ đề ưa thích quen thuộc: "Chúng ta phải thực hiện mọi nổ lực để thúc đẩy tình cảm loài người. Trong khi chống lại bạo động hay chiến tranh, thì chúng ta phải cho thấy có một cách khác - cách bất bạo động. Bây giờ hãy nhìn vào loài người như một tổng thể. Thực tế ngày nay: toàn thể thế giới giống như là một thân thể. Một việc xảy ra từ một nơi xa xôi nào đó, hệ quả sẽ tác động chính nơi của bạn. Tàn phá láng giềng của bạn như kẻ thù cũng chính là tàn phá chính bạn. Tương lai của chúng ta tùy thuộc vào sự cát tường toàn cầu."

Chỉ trong một vài phút, ngài đã có sự chú ý không phân cách của đám đông.

Một nhiếp ảnh gia Tây Tạng, rõ ràng thán phục Đức Đạt Lai Lạt Ma, thì thầm trong tai tôi, "Ngài không cần đọc trên màn ảnh vô hình TelePrompTer. Ngài là kiểu mẫu sống về tuệ trí của ngài - tuệ trí hoàn toàn liên hệ với thế giới ngày nay."

***
Tôi thật tò mò rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma có bao giờ tự hỏi là tại sao ngài có sức lôi cuốn người ta như vậy. Trong một cuộc phỏng vấn với ngài, tôi đã nói, "Tôi muốn hỏi ngài một câu hỏi ngớ ngẫn." Vị lãnh tụ của Tây Tạng đang ngồi tréo chân, như thường lệ, trong góc chiếc ghế bành trong phòng tiếp khách bên trong khu cư trú của ngài ở Dharamsala, Ấn Độ. "Tại sao ngài quá được yêu mến? Điều gì làm cho ngài hấp dẫn không cưỡng lại được đối với quá nhiều người?"

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi rất tĩnh lặng, nghiền ngẫm câu hỏi. Ngài đã không lướt qua câu hỏi của tôi với một câu nói đùa, như tôi đã nghĩ ngài có thể làm như thế.

Ngài đã thận trọng khi trả lời. "Tôi không nghĩ tự tôi có những phẩm chất tốt đẹp đặc biệt. Ô, có thể có những thứ nho nhỏ nào đó. Tôi có một tư tưởng tích cực. Đôi khi, dĩ nhiên, tôi có hơi bực bội một chút. Nhưng trong tim tôi, tôi không bao giờ phiền hà, không bao giờ nghĩ điều gì xấu chống lại bất cứ người nào. Tôi cũng cố gắng để quan tâm đến những người khác hơn. Tôi tin người khác quan trọng hơn tôi. Có thể người khác thích tôi vì trái tim trong lành vui vẻ của tôi."

"Bây giờ tôi nghĩ người ta vào lúc đầu, họ có sự tò mò. Rồi thì có lẻ … thường thường khi tôi gặp ai đó lần đầu tiên, người ấy không xa lạ với tôi. Tôi luôn luôn có ấn tượng đấy là một con người khác. Không có gì đặc biệt. Tôi cũng vậy, giống nhau."

Ngài nhấn nhấn vào má với những ngón tay rồi tiếp tục. "Dưới làn da này, cùng bản chất, cùng những loại khao khát và cảm xúc. Tôi thường cố gắng gửi những cảm giác hạnh phúc đến người khác. Cuối cùng nhiều người đã nói đến những tích cực nào đó về tôi. Rồi thì nhiều người hơn đã đến, chỉ theo tiếng tăm - điều ấy cũng có thể."

Đức Đạt Lai Lạt Ma có cách riêng không thể bắt chước với Anh ngữ của ngài. Tôi đã gặp rắc rối để thông hiểu ngài khi lần đầu tiên tôi ngồi xuống để làm việc về quyển sách với ngài, ngài có thể thất vọng kín đáo vào những lúc ấy. Cuối cùng tôi đã quen với cung cách nói chuyện của ngài và bây giờ hoàn toàn thâm nhập với sự hấp dẫn và thẳng thắn ấy.

"Đôi khi người ta đến tiếp xúc với ngài," tôi nói, "ngay cả không nghe ngài nói, chỉ nhìn ngài thôi, họ cũng xúc động. Tại sao?"

"Tôi chú ý đôi khi, một ca sĩ hay một diễn viên," Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp lại. "Khi họ xuất hiện, một số người gần như muốn khóc, nhảy lên và khóc. Tương tự vậy." Ngài nện lên nện xuống trên chiếc ghế của ngài và vổ cánh tay ngài vài lần.

"Ngài giống như một ngôi sao nhạc rock," tôi nói.

"Vâng," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một cách tự nhiên. "Nhưng có thể có những nhân tố khác. Chúng tôi tin nhiều kiếp sống khác trong quá khứ. Thế nên có thể có một số liên hệ nghiệp quả nào đó, điều gì đó huyền bí hơn." Ngài cau mày và nhìn vào khoảng không xa xôi nào đó. Tôi có cảm giác ngài đang cố gắng để tự tìm ra sự giải thích tế nhị hơn về sự cuốn hút quần chúng này của ngài.

Ngài mở tấm y đỏ và đắp lại chung quanh mình ngài.

Cuối cùng ngài nói: "Bây giờ, mức độ huyền bí này, thí dụ, người nào đó có một giấc mơ lạ lùng, sau đó giấc mơ ấy mở ra một tương lai mới hay một đời sống mới hay một sự liên kết mới với những người khác."

Ngài chỉ vào tôi khi tiếp tục với dòng tư tưởng của ngài. "Trường hợp của riêng bạn. Thế nào đó điều gì đấy không ngờ tới đã dẫn bạn đến đây. Sự bắt cóc ở A Phú Hản. Nếu nó không xảy ra, bạn có thể không có ở đây. Rồi thì bạn sẽ không phát triển tất cả những sự nối kết này với tôi và với người Tây Tạng. Cho nên tất cả những điều này, tôi chắc chắn chúng có những nhân duyên. Theo quan điểm của Phật Giáo: Có thể có những liên kết nghiệp quả trong nhiều kiếp quá khứ. Có lẻ, đó là tại sao nhiều người cảm thấy gần gũi với tôi ngày nay."

Vâng, "Vụ bắt cóc ở A Phú Hản." Vào năm 1977, sau khi xong đại học cộng đồng (college) tôi đã mang một chiếc xe van VW camper ở Utrech[3] và dự định thực hiện một chuyến du hành xuyên lục địa từ Hòa Lan đến Ấn Độ. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, tôi dừng lại và nghỉ ngơi nửa năm ở A Phú Hản - một nơi ẩn náo cho việc bỏ học và sẽ là những cuộc phiêu lưu.

Gần cuối những ngày nghỉ ngơi ấy khi tôi và hai phụ nữ trẻ - Cheryl từ New York và Rita từ Munich - bị bắt cóc ở Kabul bởi ba người đàn ông người A Phú Hản. Cầm một cây súng trường giữa họ, họ buộc chúng tôi lên  một chiếc xe rỉ sét tệ  hại và đưa chúng tôi đến một ngôi làng nhỏ tận trên dãy núi cao Hindu Kush. Sau vài ngày bị bắt, chúng tôi tính toán trốn chạy khi chiếc xe của họ trượt bánh trên một khúc quanh gắt và xe hư bên triền núi.

Ngay sau đó, Cheryl và tôi quyết định cùng du lịch đến Ấn Độ. Cô đã viết một bức thư giới thiệu đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, đang sống lưu vong tại Dharamsala. Chúng tôi đã hướng thẳng đến khu tị nạn đẹp như tranh của người Tây Tạng. Vài ngày sau khi đến, chúng tôi được phép diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong một ngày mùa xuân đầy mây mát mẻ vào tháng Ba năm 1972, tôi đã gặp vị lãnh tụ tinh thần và thế tục của người Tây Tạng lần đầu tiên.

Số mạng. Nghiệp quả. Nó được gọi bất cứ là gì. Vâng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đúng. Nếu tôi không bị bắt cóc, chắc chắn tôi sẽ không gặp ngài sau đó.
Hãy để qua một bên việc cộng tác về quyển sách và hỏi ngài vài câu về sự hấp dẫn không thể ngăn được của ngài.

Vẫn cân nhắc câu hỏi của tôi về tính cách cá nhân thích thú hơn và sôi động hơn thường tình của  ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục, "Cũng vậy, nhiều người thích giọng cười của tôi. Nhưng giọng cười vì, cười mĩm gì, tôi cũng không biết."

"Nhiều người đã bình luận về giọng cười này," tôi nói, "cảm giác biểu hiện này mà ngài có. Ngài đã gần bảy mươi, nhưng  ngài vẫn yêu vui đùa rộn rã và ngài không tự đòi hỏi quá nghiêm khắc."

"Thứ nhất, người Tây Tạng thông thường vui tính hơn," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. "Mặc cho nhiều khó khăn, họ thường sẳn sàng để cười, những thứ như thế. Rồi thì gia đình tôi, tất cả anh em tôi, ngoại trừ Gyalo Thondup [anh thứ hai của ngài] như thế," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. "Người anh cả của tôi [Thubten Jigme] Norbu luôn luôn chọc cười, làm trò vui. Người anh quá cố kế tôi, Lobsang Samten, kể chuyện đùa tục mà thanh, vui lắm. Và tôi, rồi người em út, Tenzin Choegyal, em gái, Jetsun Pema, cũng như người chị cả quá cố đều không quá nghiêm khắc. Mẹ tôi cũng thế. Cha tôi cũng thế - dễ nổi giận nhưng rất vui tính.

"Trong trường hợp riêng của tôi, thể trạng tinh thần của tôi, so sánh thì tĩnh lặng hơn nhiều. Mặc cho hoàn cảnh khó khăn hay ngay cả đôi khi là những tin tức rất bi thảm, nhưng tâm trí tôi không bị quấy rầy nhiều. Trong một khoảnh ngắn, có những cảm giác buồn thảm nào đó, nhưng không tồn tại lâu. Trong một vài phút hay một vài giờ, và sau đó nó biến mất. Cho nên tôi thường diễn tả điều gì đó giống như đại dương. Trên bề mặt, những đợt sóng đến và đi, nhưng phía dưới luôn luôn duy trì tĩnh lặng."

Người ta đến tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma dường như cảm nhận rằng ngài là "chân thật", như Tổng giám mục Desmond Tutu một lần nọ đã nói với tôi. Và không biết chắc chắn tại sao, nhưng họ bị tác động bởi ngài, bị cuốn hút vào tính nhân bản hấp dẫn và sôi động của ngài, ngay cả từ khoảng cách xa.

Tôi có một chút nghi ngờ rằng sự hiện diện đầy khí lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma có điều gì đó liên hệ đến nguồn tâm linh sâu xa của ngài. Sự sôi  nổi huyền thoại của ngài đơn giản là biểu hiện của sự thành tựu tâm linh của ngài mà thôi.

Tôi đã biết Đức Đạt Lai Lạt Ma hơn ba thập niên. Ngài gọi tôi là người "bạn cũ" của ngài. Trong vài năm gần đây, tôi đã được cấp cho quyền chưa hề có để đến với ngài trong khi đồng tác giả quyển sách này. Tôi đã quán sát Đức Đạt Lai Lạt Ma từ những khu nhà ở gần, du hành với ngài như một phần sự khuyến khích của  ngài, và dành thời gian với ngài ở tại nơi ngài cư trú. Nhưng tôi thấy thật khó để diễn tả, chỉ riêng sự tế nhị này, sức quyến rũ phi thường của ngài. Để thấu hiểu tinh hoa của ngài, chúng ta phải nhìn vào sự tu tập Phật Giáo cả nửa thế kỷ và cung cách vô song mà ngài đã liên hệ với thế giới chung quanh.

Rất nhiều trong sự liên hệ của ngài với đời sống được thúc đẩy bởi một số ít nền tảng nhưng khó khăn liên quan đến những hiểu biết thâm sâu. Trong một vài trường  hợp, ngài đã nói với tôi điều gì đó về sự liên hệ hổ tương và tánh không, hai ý tưởng vô cùng quan trọng đối với ngài. Tôi đã lắng nghe cẩn thận và ghi chép. Tôi phải thừa nhận rằng thật vất vả để thấu hiểu những khái niệm này. Nhưng bằng việc là cái bóng của ngài, bằng việc cùng với ngài hàng giờ cho đến  kết thúc, tôi đã đi đến xác định những phẩm chất nào đó để nhận ra ngài. Những nguyên tắc về từ bi và bất bạo động đã hình thành quan kiến toàn cầu của ngài. Và sự theo đuổi không ngừng của ngài về tha thứ như một giải pháp cho những điều kiện xung đột với cung cách ngài hành động.

Một điều tôi biết chắc chắn. Tôi cảm thấy thoải mái ở bên cạnh ngài. Tôi biết mọi người cảm thấy thoải mái ở bên cạnh ngài. Có lẻ chúng ta thấu cảm trực giác rằng ngài nói như hành động. Chúng ta cảm nhận một trung tâm tinh khiết bất thường bên trong ngài. Giống như tấm gương phản chiếu ánh sáng, nó cho phép chúng ta thấy và chạm được tính nhân bản của chính chúng ta.

Desmond Tutu[4], người bạn tốt của ngài trong nhiều năm, đã nói những lời này khi họ cùng ở trên khán đài ở Vancover, Canada, trước đám đông của mười bốn nghìn người.

Vài năm trước, tôi ở San Francisco, khi một phụ nữ vồn vả đến chào tôi rất nồng nhiệt. Bà ta nói với tôi, "Hello, Tổng giám mục Mandela[5]!" Giống như có được hai món với một giá tiền.

Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng không ai có thể phạm sai lầm như vậy về Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Không phải phi thường sao, trong một nền văn hóa mà sự tôn kính thành công, đó không phải là sự thành công gây hấn, thô thiển, nhưng chính bậc trượng phu là những người mà chúng ta ngưỡng mộ. Chúng ta có thể ganh tỵ với tài khoản trong nhà băng của họ, nhưng chúng ta không ngưỡng mộ họ.

Ai là những người mà chúng ta ngưỡng mộ? À, có nhiều thứ mà các bạn có thể nói về Mẹ Teresa, nhưng bậc trượng phu không phải là một người trong họ. Tất cả chúng ta tôn kính bà không phải bởi vì sự tiêu xài hoang phí nhân danh vô trách nhiệm như vậy. Chúng ta ngưỡng mộ bà bởi vì bà thánh thiện. Chúng ta ngưỡng mộ những người như Nelson Mandela vì đã hiện thân như một biểu tượng cao thượng, của tha thứ, của hòa giải.

Và chúng ta tôn kính Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài là người duy nhất, một trong rất, rất, rất, rất ít người có thể làm đầy kín Central Park ở New York với những người sùng mộ nhiệt tình.

Nhưng tại sao? Tại sao? Bởi vì ngài thánh thiện, ngài thánh thiện, ngài thánh thiện. Tôi đã gặp rất ít người khác thánh thiện như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi đã gặp rất, rất ít người có sự tĩnh lặng, sự tĩnh lặng sâu thẩm của ngài.

Và cảm giác vui tươi của ngài. Ngài cười dễ dàng, ngài giống như cậu học trò với sự tinh nghịch của ngài. Vui đùa, cười tươi, hân hoan sung sướng.

Và điều đó là lạ kỳ. Điều đó là kỳ lạ cho người nào đó đã sống lưu vong trong bốn mươi lăm năm. Đúng ra ngài phải đầy phẩn uất, oán hận, cay đắng. Và điều cuối cùng ngài muốn là mở rộng lòng từ ái và bi mẫn đến những người muốn đối xử với ngài và dân tộc ngài quá kinh tởm. Nhưng ngài làm. Ngài làm.

Và tất cả chúng ta có tự hào là con người không? Đức Đạt Lai Lạt Ma làm cho chúng ta cảm thấy tốt đẹp về việc là con người. Về việc sống vào một thời kỳ khi người nào đó như ngài sống với chúng ta.

Ẩn Tâm Lộ, Thursday, October 22, 2015



[1] Woodstock  một thị trấn nhỏ ở Tây Nam bang New York cách thành phố New York 50 dặm.
[2] Mục sư Billy Graham, một trong những nhà lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng nhất của Phong trào Tin Lành
[3] Utrech một thành phố của Hòa Lan.
[4] Desmond Tutu: Tổng giám mục Anh giáo ở Nam Phi.
[5] Nelson Mandela: Tổng thống Nam Phi.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Lợi Ích Của Giáo Huấn Tâm Giác Ngộ hay Tâm Bồ Đề (bodhichitta)



trích từ Luận Giải về Sự rèn Luyện như Tia Sáng
tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Tiếp theo là những lợi ích của giáo huấn được giải thích, tâm giác ngộ như mặt trời như thế nào, như châu báu quý giá, và như thuốc men. Châu báu loại trừ khốn khó của người nghèo. Tương tự, bởi vì tâm giác ngộ tiêu trừ nghèo khó là sự thiếu vắng của thực chứng, nó như kim cương. Nếu chúng ta có một viên kim cương khổng lồ, nó có thể vứt bỏ một khối lượng khổng lồ của nghèo khó. Nhưng ngay cả nếu chúng ta chỉ có một viên kim cương nhỏ, nó cũng có thể loại trừ sự nghèo khó của chính ta. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một khía cạnh nhỏ của xu hướng tâm giác ngộ, nó sẽ có lợi ích lớn lao. Cho nên nó giống như viên kim cương.

Nó như mặt trời, giống như tia sáng mặt trời làm tiêu tan bóng tối, cho nên, nếu chúng ta phát triển tâm giác ngộ, nó sẽ tiêu trừ bóng tối của những hành vi phiền não và vọng tưởng trong chúng ta và trong tất cả chúng sanh. Ngay cả nếu chỉ có một vài tia sáng của mặt trời đến từ phía sau làn mây, chúng cũng sẽ xua tan bóng tối. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một tâm giác ngộ nho nhỏ chiếu sáng qua những làn mây của những phiền não và vọng tưởng của chúng ta, như vậy cũng sẽ làm cho ánh sáng chiếu soi trong tâm thức chúng ta.

Tâm giác ngộ giống như thuốc men y dược, vì trong khi tất cả những bộ phận của cây thuốc, rể, vỏ, trái, cành, và lá đều là lợi lạc, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một bộ phận của nó sẽ vẫn có giá trị thuốc men. Tương tự thế, nếu chúng ta đã phát triển hoàn toàn tâm giác ngộ, đấy là lợi lạc lớn; nhưng nếu thậm chí chúng ta chỉ có một phần nhỏ của nó, thì vẫn là lợi lạc. Điều này là thật  không chỉ trong dạng thức của tâm giác ngộ phổ thông, mà cũng trong dạng thức của thái độ rèn luyện tâm thức.

Những thuận lợi xa  hơn là tâm giác ngộ làm mọi người hoan hỉ; nó loại trừ ganh tỵ và v.v… Điều này thật sự quan trọng trong thế giới hiện nay, khi mà vọng tưởng cùng những cảm xúc và thái độ phiền não của mọi người đang gia tăng. Ngay cả ở Ấn Độ đây, trong hoàn cảnh như những người tị nạn của chúng ta, mặc dù chúng ta không có những tiến trình vật chất lớn lao, nhưng chúng ta thật có một số. Chúng ta đã xây dựng trường học, một số thương mại nhỏ, những thứ như vậy. Nhưng chúng cũng có thể là căn bản cho ganh tỵ và tranh đua. Cho nên chỉ có tiến trình vật chất là không đủ; tiến trình tâm linh là cần thiết đồng thời. Việc phát triển tâm giác ngộ loại trừ tất cả những thứ ghen tỵ và vọng tưởng này, và điều ấy là rất quan trọng và liên hệ bây giờ khi có hiểm họa rằng mặc dù chúng ta có một ít tiến trình ở Ấn Độ này, chúng ta có thể nghĩ rằng những hoàn cảnh ngoại tại đang giải quyết tất cả những vấn nạn của chúng ta. Đó là một vọng tưởng thật sự. Tôi đã từng thấy mọi người ở trong những hoàn cảnh cực kỳ thoải mãi về vật chất và, thường thì, họ hoàn toàn khốn khổ, với những hậu quả bất hạnh. Thế nên, thật quan trọng để hành động phát triển cả nội tại và ngoại tại.

[Những dòng trong luận gốc mà Đức Thánh Thiện được giải thích ở đây là: "Thấu hiểu rằng sự nổi bật của luận điển này giống như một viên kim cương, một mặt trời và một cây thuốc, chuyển hóa thành con đường Giác Ngộ, đây là (thời gian khi) 5 quyết định được bùng lên". Chúng xuất hiện cả trong văn bản của Namkapel và Pagongka. Trong văn bản của Togmey-zangpo, từ "Thấu hiểu" đến "cây thuốc" hoàn toàn không có, và từ "chuyển hóa" đến "bùng lên" xuất hiện vào lúc cuối của văn bản, trước đó hơn là sau dòng, "Điều thiết yếu của dòng cam lộ của giáo huấn tinh hoa là trong dòng truyền thừa từ Serlingpa."]

Chúng ta có thể thấy vấn đề nếu người ta không hành động trên thái độ của họ làm họ vị tha hơn và thay vì thế chỉ làm hành động cho tiến trình vật chất, thì họ có thể làm ra một sự khổ đau vô cùng cho mọi người. Thí dụ, nhiều nơi người ta thực hiện nhiều công trình xây dựng và hoạt động công kỷ nghệ. Những điều này tạo ra nhiều rắc rối như sản phẩm phụ: khói, muội than, và ô nhiễm, là những thứ phá hoại không khí và làm tổn  hại môi trường. Điều này xảy ra trong những hoàn cảnh nơi mà có những tiến trình vật chất rộng lớn. Dĩ nhiên, tiến trình vật chất là điều quan trọng. Nhưng con người cần nghĩ, "Hậu quả là đâu? Điều gì sẽ xảy ra trong một vài năm, trong 200 năm, trong một nghìn năm từ bây giờ?" Cũng giống với năng lượng và lò phản ứng hạt nhân: Chúng ta từ bỏ những thứ này như thế nào? Chúng ta sẽ làm gì với chúng trong tương lai? Một số quốc gia đang xây dựng lực lượng vũ trang, và điều này đã làm thêm khổ đau, giống đánh vào đầu quý vị với cây gậy của quý vị, và sẽ tạo ra thêm bất hạnh trên thế giới.

Khi Trung Hoa xâm lược Tây Tạng và Tây Tạng đánh mất sự độc lập của nó, những vị tâm linh địa phương dường như cũng bị mất ảnh hưởng, năng lực bảo hộ của các ngài, qua sự suy tàn của phước đức (năng lực tích cực) của người Tây Tạng. Có một câu chuyện rằng một vị thần linh nào đó ở Amdo phiền hà rằng đã bị cầm tù. Ngay cả thế giới tâm linh cũng bị giam giữ trong tù ở Hoa Lục trước khi sang ở Ấn Độ trong 10 năm. Sau khi ở Ấn Độ, vị thần linh ấy trở lại Amdo, ngài lại được cúng dường thịt tươi nhưng ngài từ chối, nói rằng ngài đã thệ nguyện trước tôi không nhận bất cứ sự hy sinh động vật nào nữa.  Tôi không biết điều này là thật hay không, nhưng khi tôi du hành đến những vùng Hy Mã Lạp Sơn tôi nói với mọi người rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu không giết hại động vật cúng lễ nữa. Có lẽ thần thánh đã hiện diện tại một trong những buổi truyền năng lực này.

Nếu chúng ta đã rèn luyện tâm thức một cách thích đáng, thì không cần tìm kiếm những thể trạng an lạc vật chất cho tái sanh. Nếu chúng ta rèn luyện tâm thức trọn vẹn, thế thì chúng ta mang trong chúng ta tất cả những thể trạng an lạc. Chúng ta có Cực Lạc bên trong chúng ta.

Một thuận lợi khác của việc phát triển tâm giác ngộ là không phải chúng ta chỉ có hạnh phúc khi nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh của hạnh phúc xảy ra; thậm chí những tình trạng vốn thông thường tạo ra rắc rối và bất hạnh sẽ trở thành hoàn cảnh cho việc đạt được hạnh phúc. Đây là những lợi ích lớn lao và thuận lợi của việc có xu hướng của tâm giác ngộ.

Đối với tất cả quý vị, những người đã viếng thăm Tây Tạng, thật quan trọng là trong khi quý vị ở đây tụng nhiều về mani (mật ngôn Om mani padme hum), cầu nguyện "Nguyện cho tôi phát triển một trái tim ân cần," và nghĩ nhiều về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.


Ẩn Tâm Lộ, Saturday, January 03, 2015