|
|
Tác giả: Long
Thọ Đại sĩ
1-
Di
Đà tuệ trí soi rực rở
Thế
tôn đức tướng ngọn núi vàng
Hiện
tiền thanh tịnh thân, miệng, ý
Chí
thành tôn kính quy mạng lễ
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
2-
Hào
quang kim sắc tràn khắp chốn
Mọi
vật hiển hiện vẻ diệu kỳ
Như
kim sắc tướng Phật Di Đà
Cho
nên chúng con tôn kính lễ
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
3-
Nếu
người chấm dứt cuộc đời mình
Vãng
sanh vào cõi Phật Di Đà
Phẩm
chất diệu kỳ vô lượng hiện
Cho
nên chúng con xin về nương
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
4-
Ai
người nghĩ tưởng Phật Di Đà
Vô
biên năng lượng và đức hạnh
Thâm
nhập vào thể trạng Phật đà
Cho
nên con luôn nghĩ về Phật
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
5-
Người
ở thế gian bao khổ não
Dày
dò năm tháng đến cuối đời
Bất
toại hoặc rơi vào địa ngục
Xin
nương tựa tôn kính Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
6-
Đã
được sanh về nơi Cực Lạc
Không
rơi trở lại ba đường dữ
Cũng
không sanh vào cõi Tu La
Xin
quy y tôn kính Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
7-
Chư
thiên con người cùng phẩm chất
Giống
như đỉnh ngọn núi vàng ròng
Các
bậc siêu việt đều hội họp
Cho
nên con tôn kính hướng về
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
8-
Những
ai sanh trong cõi Cực Lạc
Thiên
nhãn, thiên nhĩ được ban cho
Nhìn
khắp mười phương không chướng ngại
Xin
lạy Đấng Tôn Quý Vô Thượng.
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
9-
Cực
Lạc chúng sanh đi tự tại
Học
hỏi từ tâm của chính mình
Khả
năng nhớ lại đời quá khứ
Xin
dập đầu đảnh lễ Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
10-
Những
ai tái sanh về Cực Lạc
Không
còn có “tôi” và “của tôi”,
Tư
tưởng như vậy không sanh ra
Xin
dập đầu tôn kính Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
11-
Một
khi rời khỏi chốn luân hồi
Hóa
thân như những hoa sen trắng
Thánh
chúng đệ tử là vô lượng
Xin
cúi đầu tôn kính Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
12-
Chúng
sanh bản tánh như Di Đà
Tất
cả cao quý và hòa hiệp.
Tự
động hoàn thành mười điều thiện
Xin
lễ Đức vua các vị thánh
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
13-
Hào
quang thanh tịnh chiếu vô biên
Sanh
từ hành vi của chúng con
Và
làm thượng thủ trong nhân loại
Xin
về nương tựa Phật Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
14-
Nếu
ai phát nguyện trở thành Phật,
Nghĩ
tưởng về Đức Phật Di Đà,
Phát
nguyện, Phật liền hiện ra trước
Cho
nên con nương tựa Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
15-
Bằng
đại nguyện nguyên sơ của Phật
Chư
vị Bồ tát khắp mười phương
Đến
cúng dường và nghe giảng dạy
Xin
cúi đầu đảnh lễ Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
16-
Những
vị Bồ tát nơi Cực Lạc
Đủ
biểu hiện, trình độ tự tâm
Thân
tướng trang nghiêm cũng như vậy
Chúng
con xin cúi đầu quy mạng
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
17-
Những
đại Bồ tát nơi Cực Lạc
Mỗi
ngày ba lần dâng cúng dường
Đến
chư Phật trong khắp mười phương
Nên
con xin đảnh lễ Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
18-
Những
ai tu tập còn nghi ngờ
Hoa
sen không nở nơi Cực Lạc
Tín
thành thanh tịnh hoa sen nở
Tận
mắt thấy Đức Phật Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
19-
Chư
Phật thường trụ trong mười phương
Nhân
duyên thay đổi cảnh vô thường
Không
bằng công đức Vô Lượng Quang
Xin
quy y Đức Phật Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
20-
Bàn
chân Đức Phật nghìn tia sáng
Những
bánh xe đẹp như hoa sen
Ai
thấy tràn đầy niềm hỉ lạc
Xin
tôn kính bàn chân Đức Phật
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
21-
Hào
quang lông trắng giữa chân mày
Giống
với mặt trăng tròn tinh khiết,
Làm
tăng vẻ đẹp khuôn mặt Phật
Xin
tỏ lòng tôn kính tướng bạch hào
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
22-
Lúc
mới phát nguyện trở thành Phật,
Ngài
làm việc hiếm hoi kỳ diệu.
Như
trong kinh điển đã tán dương
Xin
dập đầu tôn kính quy mạng
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
23-
Giáo
huấn Di Đà xua xấu ác
Bằng
vô lượng lời lẻ ngọt ngào
Chúng
sanh nhận vô biên lợi lạc
Xin
dập đầu đảnh lễ Đức Phật
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
24-
Hổ
trợ kẻ khổ cầu hạnh phúc
Cứu
độ chúng sanh trong quá khứ
Ban
vui chúng sanh đến hôm nay
Xin
dập đầu tôn kính Thế Tôn
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
25-
Trời,
người cực kỳ tôn kính Phật
Hàng
chư thiên hướng đến Di Đà
Dâng
vòng hoa bảy niềm hoan hỉ
Xin
quy y Đức Phật Di Đà.
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
26-
Tất
cả hàng thánh chúng đức hạnh,
Chư
thiên loài người cùng tập họp
Đều
quy y Đức Phật Di Đà
Con
cũng xin đảnh lễ Đức Phật
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
27-
Bằng
phương tiện của Bát Chính Đạo
Hành
giả vượt biển bằng đường tắt
Cứu
độ mình và cứu độ người
Xin
lễ đấng Vô Thượng trong đời
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
28-
Chư
Phật của vô lượng thế giới
Ca
ngợi đức hạnh Phật Di Đà
Vô
lượng vô biên không mệt mõi
Xin
quy mạng bậc tinh khiết Di Đà
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
29-
Bây
giờ chính con, cũng như họ,
Ca
ngợi vô lượng đức hạnh Phật,
Trên
công đức của nguyên nhân này.
Nguyện
Đức Phật luôn nghĩ về con.
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
30-
Những
ai đã phát tâm bồ đề
Chí
thành niệm mười danh hiệu Phật
Di
Đà tiếp dẫn về Lạc Bang
Xin
đảnh lễ nương tựa Thế Tôn
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
31-
Trong
đời hiện tại hay quá khứ,
Công
đức mà con đã tạo được,
Lớn,
nhỏ đều hồi hướng Cực Lạc
Để
luôn có trái tim tinh khiết.
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
32-
Bằng
nhân duyên công đức Phật
Phẩm
chất diệu kỳ con đã nhận
Cầu
nguyện cho tất cả chúng sanh
Tất
cả đều được giống như vậy
Nam mô quy y Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di
Đà Phật
|
Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016
Quy Mạng Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật
Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016
NIỀM TIN PHẬT GIÁO
Nguyên tác: Buddhism
Beliefs
Vì một số kiến thức nền tảng của sự tái sinh và nghiệp là hữu ích cho
sự hiểu biết Phật giáo, cho nên sau đây là một giới thiệu ngắn về các chủ đề
này được lấy từ cuốn sách của Geshe Kelsang, Tám bước để Hạnh phúc:
Tâm không phải là vật chất, cũng không phải là một sản phẩm phụ của quá
trình vật chất thuần túy, nhưng là một sự
liên tục vô tướng vốn là một thực thể riêng biệt từ cơ thể. Khi cơ thể phân hủy
sau khi chết, nhưng tâm không ngừng dứt. Mặc dù ý thức bề ngoài của chúng ta chấm
dứt, nó làm như vậy bằng cách tan biến vào một mức độ sâu sắc hơn của ý thức, gọi
là "tâm rất vi tế". Sự liên tục của tâm rất vi tế của chúng ta không
có bắt đầu và không có kết thúc, và chính là một tâm ấy, khi hoàn toàn thanh tịnh,
biến thành tâm toàn giác của một vị Phật.
Mỗi hành động chúng ta thực hiện để lại một dấu ấn, hoặc tiềm năng,
trong tâm rất vi tế của chúng ta, và mỗi tiềm năng nghiệp cuối cùng đã làm phát
sinh hiệu lực của riêng mình. Tâm ta như một lĩnh vực, và thực hiện những hành
động giống như gieo hạt giống trong lĩnh vực đó. Hành động tích cực hay đạo đức
gieo những hạt giống của hạnh phúc trong tương lai, và hành động tiêu cực hay
không đạo đức gieo những hạt giống của khổ đau trong tương lai. Mối quan hệ nhất
định giữa hành động và hệ quả này của chúng - đạo đức đem lại hạnh phúc và phi
đạo đức gây đau khổ - được biết như là "luật nhân quả". Một sự hiểu
biết của luật nhân quả là nền tảng của đạo đức Phật giáo.
Sau khi chúng ta chết tâm rất vi tế của chúng ta rời khỏi cơ thể của
chúng ta và vào trạng thái trung ấm, hoặc 'bardo' theo Tạng ngữ. Trong trạng
thái giống như giấc mơ vi tế này, chúng ta trải nghiệm nhiều ảo mộng khác nhau sinh
khởi từ các tiềm năng nghiệp đã được kích hoạt tại thời điểm cái chết của chúng
tôi. Những ảo mộng có thể là dễ chịu hay
đáng sợ tùy thuộc vào nghiệp lực chín muồi. Một khi những hạt giống nghiệp này đã
chín đầy đủ chúng thúc đẩy chúng ta tái sinh mà không có sự lựa chọn.
Điều quan trọng là phải hiểu rằng là như những chúng sanh luân hồi bình
thường chúng ta không chọn sự tái sinh của chúng ta nhưng được tái sinh hoàn
toàn phù hợp với nghiệp của chúng ta. Nếu thiện nghiệp chín muồi, chúng tôi được
tái sinh trong một tình trạng may mắn, hoặc như là một con người hay một vị trời,
nhưng nếu ác nghiệp chín muồi, chúng tôi được tái sinh trong một tình trạng thấp
hơn, như một con vật, một con ma đói, hoặc ở một địa ngục. Giống như chúng ta
đang bị thổi vào cuộc sống tương lai của chúng ta bằng những cơn gió nghiệp của
chúng ta, đôi khi kết thúc trong sự tái sinh cao hơn, đôi khi trong những tái
sinh thấp hơn.
Đây chu kỳ liên tục của cái chết và sự tái sinh mà không có
sự lựa chọn được gọi là "vòng luân hồi ', hoặc' samsara’ 'trong tiếng Phạn.
Sinh tử như một bánh xe ma thiên (Ferris wheel), đôi khi đưa chúng ta lên ba
cõi may mắn, đôi khi xuống thành ba cõi thấp. Động lực của bánh xe luân hồi là
hành động ô nhiễm của chúng ta được thúc đẩy bởi những vọng tưởng, và trung tâm
của bánh xe là chấp ngã vô minh. Khi chúng ta vẫn còn trên bánh xe này, chúng ta
phải trải qua một chu kỳ không ngừng của sự đau khổ và bất mãn, và chúng ta sẽ
không có cơ hội để trải nghiệm tinh khiết, hạnh phúc lâu dài. Tuy nhiên, bằng
cách thực hành con đường Phật giáo để giải thoát và giác ngộ, chúng ta có thể
tiêu diệt chấp ngã, do đó giải phóng chúng ta khỏi vòng luân hồi không kiểm
soát được và đạt được một trạng thái yên bình và tự do hoàn hảo.
Sau đó chúng ta sẽ được ở một vị thế để giúp đỡ người khác cũng
làm như vậy. Một lời giải thích chi tiết hơn về sự luân hồi và nghiệp chướng có
thể được tìm thấy trong cuốn sách Giới Thiệu về Phật giáo và Con Đường của An Lạc
Hạnh Phúc.
Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (10)
Tuệ Uyển chuyển
ngữ
HỎI: Tôi thật sự cảm kích ngài vì đã nói về sự
khác biệt giữa vị kỷ và tự yêu mến. Tự yêu mến thường hoàn toàn bị hiểu lầm và
lạm dụng như vị kỷ, nhưng nó là cần thiết để biểu hiện thương mến của bi mẫn.
Và thật tuyệt vời để nghe quan điểm của ngài.
ĐÁP: Vâng, yêu
thương hay cảm nhận quan tâm cát tường. Ngoại trừ bạn quan tâm cho chính mình
hay yêu mến chính bạn, bằng không bạn không thể mở lòng yêu thương đến người
khác. Thứ nhất, thương mến và yêu dấu chính mình, và xem vô số những chúng sanh
cũng thế - giống như chính mình - muốn một đời sống hạnh phúc, không muốn khổ
đau. Vì bạn thật sự quan tâm chăm sóc bạn, trong cùng một loại điều kiện tương
tự bạn phải mở rộng cảm nhận quan tâm về sự cát tường của vô số chúng sanh. Một
thái độ vị kỷ là không quan tâm đến người khác, chỉ nghĩ về cá nhân mình và vì
sự quan tâm của chính mình - không chỉ quên lãng sự cát tưởng của người khác,
mà ngay cả bắt nạt, lợi dụng, bóc lột - những thứ như vậy.
Ở đây, thái độ vị kỷ [tích cực] và cũng như những gì bạn
gọi là cảm nhận mạnh mẽ về bản thân, là rất cần thiết nhằm để phát triển quyết
tâm, ý chí. Thí dụ, lời cầu nguyện ưa thích của tôi - "Cho đến khi không
gian còn tồn tại, cho đến khi còn chúng sanh đau khổ, tôi sẽ hiện diện để phụng
sự họ." Nhằm để phát triển một quyết tâm dũng cảm như vậy bạn cần một cảm
nhận mạnh mẽ về bản thân; nhằm để đấu tranh với thái độ vị kỷ tiêu cực bạn cần
tự tin về điều ấy, cảm nhận tự thân mạnh mẽ là cần thiết. Tôi nghĩ cảm nhận tự
thân mạnh mẽ cộng với si mê hay thiển cận có thể trở thành sai lầm. Okay.
HỎI: Tôi là một khoa học gia về thần kinh từ Luân
Đôn, tôi đã nghiên cứu xong về tác động của thiền tập trên não bộ. Một trong những
bức hình ưa thích của tôi là ảnh chụp não bộ của ngài do một người nào đó chụp
qua máy dò scanner. Tôi sử dụng nó để cho thấy rằng ngài rất vui vẻ và để nói với
những nhà khoa học thần kinh về tác động của thiền tập và tâm linh trên não bộ.
Nhưng bức hình ấy hơi cũ, đã mấy năm về trước. Tư tưởng của ngài là gì vào lúc ấy
mà dựa vào đó những nhà khoa học thần kinh có thể làm, để giúp chúng tôi hiểu về
hạnh phúc?
ĐÁP: Như tôi
đã đề cập trước đây, thông thường tôi đang thực hiện một nổ lực để thúc đẩy tỉnh
giác trong những thứ này nhằm để tạo ra những cá nhân hạnh phúc, gia đình hạnh phúc, cộng đồng
hạnh phúc. Nếu tôi sử dụng một lý trí căn cứ trên việc dẫn chứng người khác, có
thể nó không được chấp nhận rộng rãi. Cho nên tôi thường sử dụng một kinh nghiệm
thông thường, cảm giác chung nhất, như những nhà khoa học khám phá. Những khái
niệm nào đó của việc nghiên cứu, qua khám phá khoa học, căn cứ rất nhiều vào một
loại lý luận có giá trị, bởi vì người ta chứng minh nó bằng thực nghiệm. Đức Phật
đã tuyên bố, "Không ai trong những môn nhân của tôi - tỳ kheo hay học giả
hay nghiên cứu - phải chấp nhận giáo huấn của tôi vì tín ngưỡng, vì tôn kính,
mà phải khảo sát và thực nghiệm."
Ngài nói như thế: vậy thì như chúng tôi là những Phật tử,
những bông hoa của truyền thống Na Lan Đà, phải thật sự khảo sát ngay cả chính
những lời của Đức Phật. Một số lời của Đức Phật đi ngược lại những khám phá từ
việc khảo sát; họ có quyền tự do để từ chối những gì Đức Phật nói. Nếu chúng
tôi dựa vào một loại niềm tin tôn giáo, ngay cả nếu một tôn giáo rất phổ biến,
rất quan trọng, thì nó cũng không thể trở thành phổ quát toàn thể. Nhưng những
nghiên cứu và tìm tòi của khoa học có thể phổ quát. Cho nên tôi cảm thấy, cho đến
bây giờ - có thể là từ mười năm trước - những nhà khoa học đó những người thật
sự tiến hành những cuộc thí nghiệm đã thật sự rất hữu dụng. Sự cố gắng của tôi
trong việc thúc đẩy những giá trị nội tại một cách chính yếu sử dụng kinh nghiệm
phổ quát, những giá trị chung nhất và sau đó là những thí nghiệm khoa học.
Vậy thì, ông từ lãnh vực đó - rất tốt. Hãy tiến hành thêm
những sự nghiên cứu và … tôi nghĩ ông ở trong cộng đồng Ấn Độ? Tôi nghĩ những
tư tưởng Ấn Độ cổ truyền là rất cởi mở, cho nên một nhà khoa học từ nguồn gốc ấy
có thể thành công hơn. Tâm tư của không bị định kiến và vẫn cởi mở.
HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, cảm ơn ngài rất nhiều
vì bài nói chuyện hấp dẫn. Ngài đã nói nhiều về từ bi và hạnh phúc. Tôi có một
sự xung đột trong tâm tư tôi - Nếu tôi có lòng từ bi và nếu người nào đó mà tôi
yêu thương vô cùng lại đau khổ, tôi làm thế nào để giữ sự hạnh phúc của riêng
tôi?
ĐÁP: Tịch
Thiên, một học giả lớn của thế kỷ thứ tám và là một đạo sư Ấn Độ, đã nêu ra câu
hỏi này. Không ai muốn những trải nghiệm băn khoăn hay đau khổ hay những lo lắng.
Nhưng nếu bạn thực hành từ bi thật năng nổ, thật hiệu quả, bạn có thể đón nhận
một loại lo lắng quấy rầy nào đó. Khi bạn thấy người nào đó đang trải qua một
kinh nghiệm đau khổ, bạn cũng dường như có môt loại lo lắng hay đau đớn tinh thần
nào đó - cho nên bạn phải thực hiện một sự phân biệt giữa chính bạn và người ấy,
hay ngay cả một sự đau khổ thân thể hay một loại bất lực nào đó vốn không xảy
ra cho bạn một cách tự nguyện.
Nhưng sự bất an mà bạn cảm thấy như một kết quả của việc
quan tâm quá nhiều cho sự cát tường của người khác - đó là tự nguyện. Bạn đã
rèn luyện cho chính bạn để phát triển một loại trách nhiệm: bạn đã cho bạn một
lòng can đảm để quan tâm đến sự cát tường của người khác. Nếu bạn yếu đuối, thì
không thể chăm sóc cho sự cát tường của người khác. Nghĩ quá nhiều về sự cát tường
của người khác tạo ra những rắc rối lớn, bởi vì hầu như có sự đau khổ vô hạn
trên hành tinh này - trong loài người hay trong những loài vật khác.
Tôi nghĩ ở Ấn Độ, một cách truyền thống, có một văn hóa rất
tốt đẹp về ăn chay. Tôi nghĩ điều đó thật là kỳ diệu. Vào đầu những năm 1960,
khi tôi đang đi ngang qua từ Dharamsala đến phi trường Jammu, hầu như không ai
bán gà. Ngày nay, hầu như mỗi nhà ăn nhỏ đều có bán gà nhân danh sự tiến bộ.
Cũng thế, ở Bangalore, tôi chú ý với rau cải thì có một ít gà. Người ta xem gà
như rau cải. Không có cảm giác gì cho sự đau đớn của chúng. Trong mùa hè và mùa
đông, luôn có những con gà nhỏ chen chúc nhau trong chuồng - thật đáng buồn.
Chính tôi, bây giờ không phải là một người ăn chay, nhưng
tôi có những lý do nào đó. Trong năm 1965 đến 1966, tôi đã từ bỏ thực phẩm
không chay lạc, kể cả trứng. Tiếp theo - tôi nghĩ - khoảng mười hai tháng. Tôi
là một người ăn chay rất nghiêm khắc. Trong thời gian đó, theo lời khuyên của một
người bạn Ấn Độ, tôi đã dùng rất nhiều kem và hạt; như một kết quả, tôi bị bệnh
ở túi mật. Sau đó, tôi nghĩ, tối thiểu là ba hay bốn tuần, tôi đã ngã bệnh
nghiêm trọng. Toàn thân tôi - mắt và móng tay cũng thế - biến thành màu vàng cả.
Sau này tôi đùa với một số người bạn của tôi rằng, vào lúc ấy, tôi thật sự trở
thành một vị Phật Sống, hoàn toàn vàng - không phải qua sự thực hành tâm linh
mà bởi bệnh hoạn.
Cho nên cả những nhà y học Tây Tạng và những nhà y học đối
chứng (giữa cổ truyền và hiện đại, giữa thân và tâm) khuyên tôi tốt hơn là tiếp
tục theo chương trình ăn uống truyền thống của tôi. Vì thế đấy là một sự đấu
tranh. Đó là sự biện giải của tôi. Thật sự, chúng tôi đang cố gắng để thúc đẩy
sự ăn chay, do vậy tôi nghĩ chúng ta cần một phong trào rộng rãi khắp thế giới.
Trong một vài trường hợp, ở Nhật Bản, tôi đùa người Nhật vì dùng quá nhiều cá.
Tệ hại nhất là một số người chơi đùa với cá - họ móc cá với lưỡi câu và làm
chúng vật vã, sau đó thả chúng ra, bị tổn thương ở miệng như thế.
HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, cảm ơn ngài đã cùng với
chúng tôi; chúng tôi được gia ơn rất nhiều. Tôi có một câu hỏi - trong việc theo
đuổi hạnh phúc của chúng tôi, chúng tôi toàn thấy và nghe những thứ xấu. Ngài
biết, như đối xử tàn ác với thú vật - chúng tôi đọc ngẫu nhiên trong một quyển
sách, hay chúng tôi thấy nó và trong những thời khắc, khi những thứ này ám ảnh
chúng tôi, chúng tôi không muốn nghĩ về tra tấn hay đau đớn đến những tạo vật.
Chúng ta làm sao chấm dứt những tư tưởng đó? Tôi muốn nói, chúng ta làm sao xóa
bỏ chúng, chúng ta có thể chấm dứt chúng không, bởi vì đó là những tư tưởng
tiêu cực?
ĐÁP: Hai cách
- hãy suy nghĩ hơn nữa và những gì thật sự giúp hay ích lợi cho việc xua tan
sân hận, thù oán, hay tham dục làm tổn hại đến người khác. Chỉ tham muốn làm tổn
hại đến người khác có thể không thật sự làm tổn hại họ; chi qua hành động, quý
vị mới có thể làm tổn hại. Cho nên nếu quý vị thật sự muốn làm tổn hại người
khác, mà không sân hận, và với một tâm tư tĩnh lặng, hãy phân tích và tìm ra điểm
yếu của người khác và sau đó tấn công. Nếu tự quý vị sân hận, thì quý vị trở
thành hơi điên khùng. Quý vị không thể tìm ra điểm yếu, nếu quý vị chỉ tấn
công. Thế thì, đôi khi quý vị làm cho đôi tay quý vị đau khổ hơn.
Cho nên, thí dụ, nếu người Tây Tạng vẫn giữ sự sân hận đối
với những kẻ gây rắc rối cho chúng tôi ở đấy, dĩ nhiên họ sẽ xem chúng tôi như
kẻ gây rối. Vì thế, chúng tôi xem họ như những kẻ tạo rắc rối. Thế nào đi nữa,
quý vị thấy rằng chỉ có cảm nhận tiêu cực sẽ không gây tổn hại cho họ; thay vì
thế, hãy giữ lòng nhẫn nhục, giữ lòng từ bi. Trong năm 2008, sau khủng hoảng
ngày10 tháng Ba, tôi ít nhiều đã kinh nghiệm như tôi đã có năm 1959 - bất lực,
quá nhiều lo lắng, sợ hãi. Nhưng trong cuộc khủng hoảng 2008, tôi đã thận trọng
giữ sự thực tập cho và nhận. Quán tưởng một số nhà lãnh đạo cứng rắn của Trung
Cộng, nhận sự sân hận của họ, sự sợ hãi của họ, và cho họ tinh thần thần tha thứ
và từ bi của tôi. Vô cùng lợi lạc - không phải ở trong việc giải quyết rắc rối
nhưng nó giữ cho tâm hồn tôi tĩnh lặng và yêu thương.
Cho nên, như thế, nếu quý vị để sân hận phá hủy sự hòa
bình của tâm hồn quý vị, cuối cùng nó sẽ tàn phá sức khỏe của chính quý vị. Cho
nên giữ lòng từ bi - tâm tư của quý vị sẽ sẽ vẫn trong sáng. Nếu quý vị phát
triển lòng từ bi tròn vẹn, không để sân hận hay thù oán gì trong đó, thế thì
sau những nổ lực liên tục ngày này qua tháng nọ, qua năm kia, hàng thập niên,
thể trạng tinh thần có thể thay đổi, đó là những gì tôi có thể nói với bạn qua
kinh nghiệm bé nhỏ của tôi.
HỎI: Tôi là một tiến sĩ y khoa. Hai mươi năm trước,
tôi đã hỏi ngài nên làm gì như một bác sĩ, nhưng bây giờ câu hỏi của tôi là:
Chúng ta làm thế nào để giúp bệnh nhân duy trì niềm hạnh phúc này khi người ấy
bệnh? Thái độ của bệnh nhân ra sao đối với đời sống khi người ấy bệnh?
ĐÁP: Tùy thuộc
vào thái độ tinh thần của người ấy. Nếu người nào tin tưởng vào Thượng Đế, rằng
chúng ta là những tạo vật của Thượng Đế và Thượng Đế có nghĩa là tình thương vô
hạn, thì người ấy sẽ thấy trong bệnh tật của họ một ý nghĩa nào đó. Rồi thì, những
bệnh nhân tin vào luật nhân quả sẽ tin rằng sự bất hạnh hôm nay - kể cả bệnh tật
- là do nghiệp tiêu cực trong quá khứ của người ấy. Tuy nhiên, mỗi trải nghiệm
là do nghiệp tiêu cực trong trước đây của người ấy; kể cả bệnh tật là qua một
nghiệp tiêu cực nghiêm trọng nào đó. Tuy thế, nghiệp là do ta tự tạo nên; do thế,
nếu ta tạo một nghiệp khác, một nghiệp tích cực mạnh mẽ hơn, thế thì ảnh hưởng
của nghiệp tiêu cực sẽ giảm thiểu. Cho nên, một cách căn bản, quý vị có một sự
kiểm soát nào đó.
Rồi thì, có lẻ, một người không tín ngưỡng nào đó, khi đối
diện với một kinh nghiệm rắc rối hay đau khổ, sẽ phân tích hoàn cảnh. Nếu hoàn
cảnh mà ta có thể vượt thắng, thế thì, không cần phải lo lắng hay cố gắng. Nếu
hoàn cảnh không thể vượt qua, thì cũng không cần phải lo lắng quá nhiều. Quá
nhiều băn khoăn là tự tra tấn; tốt hơn là quên đi. Không dễ dàng, nhưng thế ấy,
tôi nghĩ, là một sự tiếp cận thực tế khi chúng ta đối diện với một rắc rối nào
đó.
Đây là một kinh nghiệm nhỏ của tôi. Tôi nghĩ hơn mười năm
trước, tôi bị đau trong ruột. Ngày đó tôi ở Bihar, đi ngang qua một ngôi làng;
tôi thấy nhiều người nghèo khổ, trẻ em khốn khó không có giày dép hay bất cứ cơ
hội nào cho việc học vấn. Rất buồn. Rồi thì tôi đã thấy những thứ tệ hại hơn ở
Patna. Sau đó tôi đến khách sạn của tôi, cơn đau trở nên dữ dội hơn, và hầu như
cả đêm ấy tôi khổ sở. Nhưng tôi liên tục nghĩ về những đứa trẻ không nơi nương
tựa. Khi tâm tư tôi chuyển hướng đến cảm nhận từ bi yêu thương - cơn đau thân
thể của tôi giảm thiểu. Cho nên hãy nghĩ nhiều hơn về sự cát tường của người
khác hơn là những rắc rối của chính bạn, kể cả bệnh tật của chính quý vị. Bằng
khác đi, tôi không biết. Tôi nghĩ quý vị phải tham khảo với những nhà tâm lý học
và tâm lý trị liệu phương tây hay những gì như thế. Hay có lẻ tốt nhất là dùng
chất say? Hay chỉ nằm xuống.
HỎI: Tôi tự hỏi yêu cầu đừng đưa ra những câu hỏi
liên quan đến chính trị là từ Đức Thánh Thiện hay từ những người tổ chức ra buổi
nói chuyện quý báu này - trong ý nghĩa rằng chính trị không tác động với hạnh
phúc trong thời đại của chúng ta như trong những thời kỳ khác? Bên cạnh đó, có
phải công lý là thích hợp với lòng từ bi
mà ngài nói đến? Xin ngài giải thích về nó một ít?
ĐÁP: Tôi nghĩ
công lý là trên trình độ của hành động và từ bi là về động cơ. Động cơ, chẳng hạn
như động cơ, thật sự là về việc quan tâm đến sự cát tường của người khác. Với
loại thái độ tinh thần ấy sẽ không có chỗ cho sự lừa dối, bóc lột hay tổn hại,
vì bạn đang chăm sóc đến sự cát tường của người khác.
Thí dụ, sự thực hành của người xuất gia Phật Giáo đề cập,
khi tu sĩ chứng kiến một người thợ săn đến gần một con thú, nó biến mất trong rừng;
tu sĩ chú ý phương hướng nào. Khi người thợ săn đến và hỏi tu sĩ con thú đó
đi ngã nào, nếu tu sĩ nói sự thật, người
thợ săn sẽ bắt được con thú. Trong trường hợp đó, tốt hơn là nói dối, bởi động
cơ là chân thành. Cho nên được phép. Vì vậy nói dối ở mức độ hành động - hành động
thân thể, hành động tinh thần, cho dù tích cực hay tiêu cực.
Có lần nọ, một nhóm người Việt Nam đã hỏi tôi về việc
tham nhũng nhằm để có việc làm tốt trong cộng đồng hay cho một số lượng lớn hơn
của công nhân. Tôi nói với họ rằng một mục tiêu như vậy, với lòng chân thành, động
cơ từ bi, xuất phát từ việc quan tâm cho một nhóm đông người. Nếu nó liên hệ đến
một sự tham nhũng nho nhỏ nào đó, thế thì đó là một sự tham nhũng tích cực. Thế
nên những thứ này lệ thuộc vào mục tiêu và hành động như vậy đấy.
Chính trị, thật sự, quý vị thấy, tôi bây giờ cuộc đã nghỉ
hưu với trách nhiệm chính trị trong mức
độ quan tâm đến cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Tôi giao lại cho những người
lãnh đạo dân cử một cách tự nguyện, vui vẻ và tự hào. Cho nên vào lúc này, nếu
người nào hỏi tôi về một sự phức tạp nào đó của chính quyền Trung Cộng, thì tôi
thường trả lời rằng bây giờ tôi đã nghỉ hưu. Cho nên tôi có nhiều tự do hơn - nếu
tôi muốn trả lời thì tôi trả lời, và nếu tôi không muốn, tôi nói rằng tôi đã
nghỉ hưu.
HỎI: Với tất cả lòng biết ơn và khiêm hạ, tôi muốn
biết ngài định nghĩa về Thượng đế là gì và người ta kinh nghiệm về Thượng đế
như thế nào?
ĐÁP: Một lần,
tôi nghĩ ở phương Tây, một phóng viên nào đó đã hỏi tôi, "nếu ngài có cơ hội
để gặp Giê-su Ki-tô, câu hỏi của ngài sẽ là gì?" Tôi trả lời, "Thượng
đế là gì?" (Cười) Thế nên điều đó là huyền bí. Dĩ nhiên, tôi nghĩ mỗi tôn
giáo có một loại thuật ngữ nào đó, nhưng có những thứ nào đó vượt ngoài suy
nghĩ của chúng ta, vượt ngoài ngôn ngữ của chúng ta. Đức Phật là một chúng sanh
Giác Ngộ, nhưng rồi, ngay cả chi tiết về Giác Ngộ, phẩm chất cao nhất của tinh
thần là vượt ngoài tư tưởng của chúng ta. Thật là khó khăn. Tôi nghĩ rằng khoa
học hiện đại không chứng minh cũng không bác bỏ về Thượng đế. Đó là một sự huyền
bí.
Ẩn Tâm Lộ, Tuesday, June 14, 2016
Trích từ quyển Big Book of Happiness của Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về Phật Giáo ứng dụng (10)
Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016
Mười Thế Giới Tâm Linh của Phật giáo giản lược
Được đăng vào 29 Tháng Mười Một 2007 bởi Ronald
Trong Phật giáo vũ trụ được cho là chứa mười cõi tâm linh. Xem cách tôi suy luận ra từ việc quan sát những kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta.
Trong Phật giáo vũ trụ được cho là chứa mười cõi tâm linh - từ Phật giới cao nhất, rồi đến Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục thấp nhất. Có tám cõi khác ở giữa, bao gồm cả con người, đó là khoảng giữa tâm linh. Có chúng sanh trong mỗi thế giới ấy, có thể nhìn thấy hay không nhìn thấy, và kinh nghiệm của họ về cuộc sống phụ thuộc vào lĩnh vực tâm linh hay mức độ họ đang có. Càng cao cấp, hạnh phúc hơn và phước lành. thấp hơn mức độ, càng có nhiều đau khổ và nghịch cảnh. Vì con người là khoảng ở giữa, hầu hết chúng ta có một chút của cả hạnh phúc và khổ đau trong cuộc đời của chúng ta.
Tất cả chúng sinh trong vũ trụ đang cư trú trong một thế giới nào đó. Những thế giới một là không phụ thuộc vào hình dáng bên ngoài của nó hoặc hình thức, nhưng trên tự bên trong của nó hoặc là sự kiện. Vì vậy những sự kiện bi thảm như giết người, hiếp dâm được thực hiện bởi những người không phải là ở cấp độ con người - ngay cả khi người ấy tự hào là con người - nhưng mức độ thấp hơn nhiều, có lẽ là địa ngục. Những người chúng ta thấy trên tin tức chết về đói khát và nạn đói cũng đang không ở trong mức độ con người, nhưng rất có thể, là ngạ quỷ (thứ hai từ địa ngục từ dưới thấp lên). Nói cách khác, những gì xác định các thế giới và bản chất từ là bên trong chứ không phải bên ngoài.
"Lý thuyết" của mười thế giới dường như để giải thích các hiện tượng trong thế giới nổi. Nhưng làm thế nào nó có ý nghĩa với tôi - từ góc độ kinh nghiệm cá nhân mà tôi có thể liên quan đến - đó là quy luật của tự nhiên chứ? Trong thực tế, tôi thấy rằng mười cõi tinh thần không gì hơn là "những người cùng sở thích hay bản chất tập họp lại với nhau," hay "bè phái." Đó là tự nhiên để thấy rằng người chơi thể thao đi chơi với nhau. người hợp thời trang và phong cách có xu hướng gắn bó với nhau, và chuyên viên máy tính và ngớ ngẫn có xu hướng gắn bó với nhau. Đó là tự nhiên mà con người thích đi chơi với những người có quyền lợi và tính cách giống nhau, bởi vì chúng tôi cảm thấy thoải mái xung quanh họ. Và vì con người chỉ là một hình thức được luật tự nhiên thể hiện, không có gì phải đáng ngạc nhiên rằng bản chất này cũng được áp dụng cho tất cả chúng sinh khác.
Thật vậy, chúng sanh trong A tu la - một trong những cõi thấp - được biết đến là sân hận, ích kỷ, và giết chóc. Lòng từ bi và tình yêu không tồn tại trong từ điển của họ. Chỉ qua chiến đấu và tiêu diệt những người khác để cái tôi của họ được thỏa mãn, và ý nghĩa cuộc sống của họ là hợp lý. Lòng từ bi và tình yêu tràn đầy là như Phật là điều cuối cùng các Ngài quan tâm đến như một kết quả của bản chất riêng biệt, hai cảnh giới tâm linh -. A tu la và Đức Phật - được tách ra, tự nhiên.
Một lần nữa, những cảnh giới tâm linh quan tâm từ bên trong. Vì vậy, trong khi thế giới của chúng ta dường như không có bất kỳ ai được gọi là A tu la, nhưng là A tu la tồn tại bên trong. Vì vậy, mười cõi của vũ trụ không phải là bất cứ nơi nào bên ngoài hoặc ở xa - đó là các đại diện ẩn dụ của trái tim và tâm trí của chúng ta.
Một điều chúng ta có thể có từ lý thuyết Phật giáo này là: Hãy đối xử tốt hơn, yêu thương và chăm sóc, sau đó chúng ta sẽ được gần gũi với Đức Phật và các vị Bồ Tát, và do đó có niềm vui, hạnh phúc và phước lành. Hãy đối xử tốt hơn, yêu thương và chăm sóc, rồi thì chúng ta càng xa khỏi A tu la và địa ngục, và do đó cũng xa lìa khốn khó, buồn rầu, khổ đau.
https://ronaldc.wordpress.com/2007/11/29/buddhism%E2%80%99s-ten-spiritual-realms-in-simple-terms/
Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016
NGHỆ THUẬT HẠNH PHÚC
Nguyên tác: The Art of Happiness (The Big Book of Happiness)
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, New Delhi 2011
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
New Delhi, 2011
Già đi, đôi khi đôi mắt của
tôi có một số rắc rối nào đó, cho nên ánh sáng chói quá là không tốt. Và tôi
thường diễn thuyết mà không có ghi chú, cho nên ánh sáng là không cần thiết. Các
anh chị em thân mến, thật sự tôi rất vui mừng có hội này để nói chuyện hay đúng
hơn là diễn thuyết, cho Penguin. Quý vị đã tổ chức cơ hội này, cảm ơn rất nhiều.
Khi tôi nói chuyện đến mọi người, tôi luôn luôn có cảm giác rằng chúng ta cùng
là những con người - tinh thần, cảm xúc và thân thể. Và quan trọng hơn, mọi người
muốn một đời sống hạnh phúc. Tôi nghĩ, vào buổi sáng sớm, ngay khi mọi người thức
dậy, không ai lại mong ước thêm nhiều rắc rối trong ngày. Không ai muốn rắc rối.
Tuy nhiên, nhiều rắc rối một cách chính yếu lại do chúng ta tạo ra. Tại sao?
Đây là một mâu thuẩn lớn.
Tôi nghĩ do hai điều - thứ nhất
là thiếu hiểu biết về thực tại, là điều vốn qua việc thiếu một quan kiến toàn
diện. Đó là một điều. Thứ kia là quá nhiều thái độ vị kỷ. Hai thứ này - việc
thiếu tri thức về thực tại và một thái độ vị kỷ, tôi nghĩ, là những thứ tạo ra
các rắc rối không cần thiết. Chúng ta không thể nói rằng rắc rối này là do bởi
thứ nọ hay thứ kia. Chúng ta phải nhận ra rằng nhân tố tối hậu của những rắc rối
này là ở trong chính chúng ta.
Thế thì, bây giờ, làm sao để
loại bỏ chúng? Không phải qua cầu nguyện, không phải qua tiền bạc, không phải
qua quyền lực, mà qua việc thông hiểu và tỉnh thức. Chúng ta có thể nói tuệ
trí. Vậy thì, bây giờ, hạnh phúc, mọi người, kể cả thú vật, cũng muốn ít bị quấy
rầy hơn, ít rắc rối hơn. Thế nên, con người chúng ta, dĩ nhiên cũng là như vậy.
Trước khi nói về hạnh phúc, tôi nghĩ thật hữu ích để biết điều gì đó về hệ thống
tâm thức của chúng ta. Bởi vì sung sướng và hạnh phúc là một bộ phận của tâm thức
chúng ta, và trải nghiệm buồn khổ, đau đớn - những thứ này cũng là một bộ phận
của tâm thức chúng ta.
Thông thường quý vị thấy, con
người đơn giản có những loại cảm giác hay ấn tượng rằng tâm thức là một thứ, một
thực thể, một thứ gì đó độc lập, điều gì đó tuyệt đối. Cho đến bây giờ, như một
kết quả của việc gặp gở nhiều nhà khoa học trong nhiều trường hợp, tôi đã nhận
ra rằng trong lãnh vực khoa học, người ta vẫn chưa thật rõ ràng gì nhiều về sự
phân biệt giữa tâm cảm giác và tâm căn bản - thức tinh thần. Cho nên thật quan
trọng để thực hiện sự phân biệt ấy. Quý vị có thức cảm giác của tâm (tiền ngũ
thức: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, và thân thức) và thức tinh thần (ý thức).
Thông thường quý vị thấy con
người tìm kiếm một loại sung sướng hay hạnh phúc của kinh nghiệm, nhưng họ
chính yếu dựa trên trình độ cảm giác. Nhìn vào những thứ gì đó xinh đẹp - nhãn
thức; âm nhạc du dương - nhĩ thức. Tương tự vị nếm (thiệt thức), mùi hương (tỉ
thức), ngay cả tình dục (thân thức). Đây là năm loại kinh nghiệm tích cực,
chính yếu ở trình độ cảm giác, nhưng chúng là một loại kinh nghiệm rất tạm thời.
Cho đến khi nào âm nhạc còn ở đấy, quý vị cảm thấy vui sướng; nhưng rồi nó dừng
lại. Và thấy điều gì đó xinh đẹp, quý vị cảm thấy hạnh phúc; một khi nó mất đi
- không còn gì cả. Cho nên hạnh phúc ở trình độ cảm giác là ngắn ngủi.
Đối với trình độ tinh thần. Nếu
chúng ta phát triển một kinh nghiệm tích cực nào đó ở trình độ tinh thần, thì điều
ấy sẽ tồn tại lâu dài. Rồi thì cũng thế, một số kinh nghiệm nào đó là loại
cảm giác tĩnh lặng, hòa bình, an lạc hơn. Ở trình độ cảm giác, ngay cả nếu điều
gì đó là loại quấy rầy - một giọng nói, một tiếng động, hay một điều kiện khó
khăn, phương tiện nghèo nàn hay bệnh tật thân thể - loại đau khổ này có thể được
khuất phục với một trình độ tinh thần tĩnh lặng hơn. Trái lại, nếu trình độ
tinh thần chứa đựng quá nhiều sợ hãi, quá nhiều lo lắng, quá nhiều căng thẳng,
không có trải nghiệm nào mà trình độ cảm giác thụ hưởng có thể giảm thiểu lo lắng
của trình độ tinh thần hay sợ hãi. Cho nên, những trải nghiệm của trình độ tinh
thần là quan trọng hơn những trải nghiệm của trình độ cảm giác. Tôi nghĩ rằng,
nếu chúng ta có một chú ý nào đó, mọi người sẽ nhận ra điều này.
Chúng ta nói rằng ở trình độ
tinh thần, hạnh phúc không nhất thiết là một cảm giác sung sướng. Tôi nghĩ hạnh
phúc ở đây, một cách chính yếu, là ở trong một cảm giác hài lòng nào đó. Mặc dù
khổ não ở trình độ thân thể là một trải nghiệm đau đớn, nhưng nó có thể đem đến
một sự hài lòng sâu xa ở trình độ tinh thần. Cho nên hạnh phúc một cách chính yếu
liên hệ đến trình độ tâm thức - hay trình độ tinh thần. Dĩ nhiên, tất cả những
truyền thống tôn giáo quan trọng đang cố gắng để mang đến sự tĩnh lặng,
hòa bình hay một loại cảm giác tích cực ở trình độ tinh thần.
Trong hầu hết mọi trường hợp,
tôi nghĩ có một nhân tố thông thường đến tất cả mọi tôn giáo - tôn giáo hữu thần
và tôn giáo vô thần hay một loại thực tập - đó là tín ngưỡng, hay đức tin. Vậy
thì đức tin không là một thứ trình độ cảm giác; đức tin là thức thứ sáu của
trình độ tinh thần hay ý thức. Dĩ nhiên, thức cảm giác giúp để nghe âm nhạc, lời
cầu nguyện nào đó và những thứ như vậy, hay nhìn vào một hình tượng của Đức Phật,
một hình tượng của Thượng Đế hay của Chúa Giê-Su, hay hình tượng của Thần Siva.
Dĩ nhiên nó hổ trợ hữu ích, nhưng loại hiệu quả thật sự hoạt động ở ý thức. Đức
tin không xảy ra ở trình độ cảm giác, nhưng ở ý thức, thức tinh thần. Và khi sự
thực tập về từ ái, bi mẫn, và với những điều, tha thứ, bao dung, toai nguyện -
tất cả những thứ này thuộc vào thức thứ sáu, thức của trình độ tinh thần, ý thức.
Rồi thì truyền thống tôn giáo
vô thần[1] (tức là không có đấng tạo hóa) - chẳng hạn một bộ phận của phái Số Luận - một truyền thống
rất cổ xưa của Ấn Độ, tôi nghĩ gần ba nghìn năm, hay hơn thế nữa. Rồi vào thời
Đức Phật, Kỳ Na Giáo và Phật Giáo - hai truyền thống tôn giáo vô thần này -
phát triển. Hai truyền thống tôn giáo vô thần này không có ý tưởng gì về một đấng
tạo hóa nhưng tin vào luật nhân quả - nguyên nhân và kết quả.
Trong đất nước này mọi người
biết về luật nghiệp báo. Nghiệp - karma - có nghĩa là hành động - cho dù nó là
hành động thân thể, hành động lời nói, hay hành động tinh thần. Nếu quý vị nhìn
vào thế giới với một con mắt tích cực hay một động cơ chân thành như bi mẫn hay
tha thứ, thế rồi có một loại cảm xúc nào đó xuất hiện; đó là nghiệp. Đó là nghiệp
tích cực hay nghiệp tốt lành, vì động cơ của nó là điều gì đó tốt đẹp - một loại
cảm nhận quan tâm đến sự cát tường của người khác, vốn là lợi lạc cho người
khác và lợi lạc cho tự thân và vì thế được xem như là tích cực. Không có tuyệt
đối tích cực hay tiêu cực. Giống như sân hận, thù oán, nghi ngờ có thể có hai
loại - tích cực và tiêu cực. Nhưng, một loại động cơ tiêu cực nào đó cuối cùng
đem đến một sự khổ não cho người khác hay tự thân; thì nó tạo ra nghiệp tiêu cực.
Hai sự tiếp cận này khác
nhau, nhưng mục tiêu là giống nhau - làm mạnh từ ái, bi mẫn, tha thứ, và v.v…
Tôn giáo hữu thần sử dụng khái niệm Thượng Đế, đấng tạo hóa; tôn giáo vô thần sử
dụng khái niệm của luật nhân quả - nếu quý vị làm việc tốt với người khác, quý
vị gặt hái lợi lạc; nếu quý vị làm tổn hại người khác, quý vị gánh lấy kết quả
tiêu cực, kết quả là như vậy. Nhưng rồi thì, ngay cả nếu có sự liên hệ với đức
tin tôn giáo. Có một cách khác. Các tôn giáo đều liên hệ đến những loại huyền
bí nào đó. Nhưng nếu không chạm đến bất cứ sự huyền bí nào cả, trên căn bản của
những việc rõ ràng, thì chúng ta có thể cho thấy, hay giáo dục con người rằng
nhiệt tình hay một trái tim tình cảm, bi mẫn là cội nguồn của hạnh phúc.
Trước hết, theo sinh lý học,
trong tất cả những động vật xã hội, kể cả một số chim, có một loại trách nhiệm
nào đó cho nhóm của chúng. Thực tế rằng sự tồn tại, cát tường và hạnh phúc của
mỗi cá thể lệ thuộc vào cả nhóm. Do bởi thực tế đó, một cảm nhận về một loại cộng
đồng và thống nhất nào đó liên hệ đến cả nhóm còn lại. Chúng ta thuộc vào nhóm
đó, cho nên bất chấp, một cá nhân năng lực mạnh mẽ thế nào cũng không thể tồn tại
đơn độc. Không chỉ một đời sống hạnh phúc nhưng sự tồn tại tự nó lệ thuộc vào
toàn thể cộng đồng. Đó là một sự thật. Do bởi thế, phải có một cảm xúc nào đó để
đem mọi người lại với nhau, và đó là tình cảm đối với mỗi người khác. Sự sân hận
không còn. Cho nên tình cảm hay bi mẫn là một bộ phận của tâm thức chúng ta cho
sự tồn tại.
Ở tại trình độ này, những động
vật khác cũng giống nhau - chó, mèo, nhiều loại chim có cùng loại năng lực như
vậy, một bản chất như vậy. Con người chúng ta có sự thông tuệ tuyệt vời này vì
thế trên căn bản của nó, vì những quan tâm lâu dài và một quan điểm rộng rãi
hơn, thì chúng ta có thể tăng trưởng … lòng từ bi, vốn được phát triển một cách
sinh học. Ở đây, bi mẫn hay yêu thương một cách chính yếu ở trình độ sinh học;
nó là giới hạn, định kiến, và cũng thường đi với thù oán hay nghi ngờ. Sau đó,
với việc sử dụng thông tuệ của con người, việc sử dụng lý trí, logic, hay trên
việc quan tâm về những nhận thức rộng rãi hơn hay lâu dài, thì mới có thể thật
sự trở thành không thành kiến.
Để tôi cho một thí dụ rõ
ràng. Nhân tố sinh học của yêu thương hay bi mẫn có thể phát triển đối với bạn
bè ta; còn đối với kẻ thù ta, quý vị phát triển lòng bi mẫn thay vì thù oán,
sân hận, nghi ngờ. Vì ở trình độ sinh học bị định hướng rất nhiều bởi thái độ của
người khác, thái độ của bè bạn quý vị là tốt đối với quý vị, cho nên quý vị
yêu mến họ. Thái độ của kẻ thù quý vị là tổn hại cho quý vị, vì thế quý vị đáp ứng
lại họ với sân hận, những thứ tiêu cực. Bây giờ hãy sử dụng sự thông tuệ của
con người - bất chấp cá nhân ấy là một người bạn hay một kẻ thù hay trung tính,
người ấy vẫn là một bộ phận của cộng đồng. Đời sống của quý vị lệ thuộc vào cộng
đồng. Những thành viên của cộng đồng không nhất thiết đều là bạn bè của quý vị;
một số người làm bực mình cũng là một bộ phận của cộng đồng. Bây giờ ở trong thế
giới ngày nay, ngay cả nếu hai người có một loại thái độ tiêu cực đối với nhau,
thì để sống còn cả hai đều cần nhau.
Ở đây, thật quan trọng để có
một sự phân biệt. Nếu một người được gọi là kẻ thù tạo ra những rắc rối cho quý
vị, với mức độ mà hành động ấy được quan tâm, thì quý vị có thể có một sự đáp
trả thích hợp. Nhưng như một con người, quý vị có thể giữ lòng từ bi và một cảm
nhận quan tâm cho sự cát tường của họ. Trong thực tế, nếu quý vị để việc làm
sai lầm của họ tiếp tục mà không kiểm soát, cuối cùng họ sẽ khổ đau. Cho nên vì
cảm nhận quan tâm cho sự cát tường lâu dài cho họ, hãy thực hiện một biện pháp
đối phó để chấm dứt việc làm sai trái của họ. Vì vậy loại thái độ ấy nhìn như
là sự đáp trả, nhưng thật sự là một loại việc làm tốt. Những cung cách rèn luyện
tâm thức như vậy - không qua thiền tập mà qua việc sử dụng sự thông tuệ của
chúng ta qua phân tích. Qua cách ấy, nhận thức của chúng ta, quý vị thấy, có thể
thay đổi.
Một khi chúng ta phát triển
thái độ tinh thần của chúng ta, làm nó thực tế hơn - căn cứ trên lý trí - và cởi
mở hơn, thì sau đó chúng ta có thể duy trì hạnh phúc. Hạnh phúc ở đây phải làm
việc rất nhiều với một tâm tĩnh lặng. Không căng thẳng, không lo âu, không sợ
hãi. Ở trình độ quán sát, quý vị có thể thấy những thứ tiêu cực, nhưng ở một
trình độ sâu sắc hơn, quý vị có thể vẫn giữ một tâm tĩnh lặng, bất chấp quý vị
là một người có tín ngưỡng hay không. Ngày nay trong việc khám phá của khoa học,
quý vị thường thấy họ nói: "Thân thể cường tráng, tâm hồn khỏe mạnh"
- có một sự nối kết rất gần gũi. Một tâm lo âu trong một thời gian dài thật sự
là rất, rất tổn hại sức khỏe thân thể chúng ta. Một tâm tĩnh lặng là một tâm khỏe
mạnh; bất chấp hoàn cảnh là gì, nếu quý vị có thể giữ một tâm khỏe mạnh, thế
thì điều ấy sẽ mang đến lợi lạc vô vàn cho sức khỏe thân thể của quý vị.
Thực tế, một vài nhà khoa học,
trong những cuộc gặp gở trong nhiều trường hợp đã nói với tôi: "Sợ hãi,
sân hận thù oán thật sự làm hao mòn hệ thống miễn nhiễm của chúng ta."
Trái lại, nếu giữ tâm ta tĩnh lặng, ít căng thẳng là rất lợi lạc cho hệ thống
miễn nhiễm của ta. Trong một trường hợp ở New York, một nhà khoa học y tế đã đề
cập với tôi rằng theo sự khám phá của ông ta, những người thường phát biểu
trong "tôi, là tôi, của tôi" thì thường có nguy cơ của bệnh tim hơn.
Lý do, dĩ nhiên, là những người như vậy yêu mến chính họ quá nhiều và quá vị kỷ,
cho nên với loại thái độ ấy ngay cả một rắc rối nhỏ xuất hiện cũng không chịu nổi.
Một khi quý vị phát triển một
trái tim cởi mở hơn, có cảm nhận quan tâm đến sự cát tường của người khác hơn, thì
tôi nói là cánh cửa bên trong mở ra. Trước hết, qua cách ấy, quý vị có thể giao
tiếp với những người khác một cách rất dễ dàng. Điều đó làm cho quý vị có nhiều
bạn bè hơn, và nó làm cho quý vị giảm thiểu cảm giác cô độc cùng làm gia tăng
thái độ từ bi, mà vốn nó giúp ích vô vàn để làm giảm thiểu căng thẳng băn
khoăn. Cho nên rất lợi lạc cho sức khỏe của chúng ta. Xét cho cùng, như tôi đã
đề cập phía trước, loài người là những tạo vật xã hội, cho nên những thái độ
tinh thần này đồng hành nhịp nhàng với thực tế của chúng ta.
Nói chung, tôi nghĩ, người ta
nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục. Rất đúng. Nhiều rắc rối sinh khởi qua việc
thiếu tri thức, qua sự thiếu hiểu biết. Cho nên qua giáo dục, chúng ta được
trang bị để nhìn vào thế giới trong một cách rộng rãi hơn, hiểu biết hơn, nhờ
thế chúng ta có được một cái nhìn toàn diện. Thật sự, chính mục tiêu của giáo dục
là để giảm thiểu khoảng cách giữa hiện tướng và thực tại. Cho nên giáo dục nên
được toàn diện hơn - như thế đó, tôi nghĩ rất quan trọng. Rồi thì, trên căn bản
của những khám phá khoa học, những cảm xúc tích cực là rất quan trọng cho sức
khỏe chúng ta, và một cá nhân hạnh phúc có nghĩa là một gia đình hạnh phúc và một
cộng đồng hạnh phúc.
Bây giờ, tôi nghĩ tôi bảy
mươi sáu. Vào lúc mười sáu tuổi tôi mất tự do; lúc hai mươi bốn tôi trở thành một
người tị nạn - vô tổ quốc và vô gia cư. Nhìn vào một cách, tôi đã mất một ngôi
nhà nhỏ - Tây Tạng - nhưng tôi đã tìm được một ngôi nhà lớn - Ấn Độ. Thế nào đi
nữa, cuộc sống của tôi trải qua rối loạn, nhưng tôi nghĩ, một cách tương đối,
tâm tư tôi hoàn toàn hòa bình. Tôi hy vọng rằng sự hòa bình không phải do thiếu
tinh tường. Tôi nghĩ tâm tư tôi hoàn toàn sắc bén. Khi tôi tham dự với những
nhà khoa học nổi tiếng thật sự, khi chúng tôi nói chuyện, kiến thức của tôi so
với họ dĩ nhiên hầu như số không. Nhưng chúng tôi được rèn luyện trong truyền
thống Na Lan Đà - mỗi một vấn đề chúng tôi phân tích, phân tích một cách hợp
lý. Điều đó thật sự giúp ích vô vàn để làm tâm thức chúng tôi sâu sắc hơn. Thế
nên tôi hy vọng tâm tư tôi không bị lu mờ thế ấy.
Tuy thế, quý vị thấy mặc cho
những kinh nghiệm bất ổn trong đời sống, tâm tư tôi là tương đối khá tĩnh lặng.
Kết quả trực tiếp là sức khỏe tôi rất tốt. Thật sự, quý vị thấy, cơ quan quan
trọng ấy, túi mật của tôi mất rồi, tôi nghĩ hai hay ba năm trước qua giải phẩu.
Thân thể này như một người rất bình thường, nhưng một nội tạng quan trọng của
con người đã mất. (Cười) Nhưng một cách căn bản, sức khỏe tôi rất tốt. Tôi nghĩ
tình trạng tinh thần của tôi thật sự làm nên mọi điều khác biệt - tôi cảm thấy
điều này. Một số nhà khoa học, sau khi khám thân thể tôi, thường nói rằng nó
không giống như thân thể của một người hơn bảy mươi tuổi, nhưng dường như trẻ
hơn mười tuổi.
Một số người diễn tả tôi như
một hóa thân của Quán Thế Âm, tôi không biết tôi có thật sự là một hóa thân của
một chúng sanh cao siêu hay không, nhưng tôi biết tâm thức của chính tôi; tôi
có thể xem xét tâm thức tôi. Nhưng tôi nghĩ ngay cả một con người thông thường
sử dụng trí thông minh của người ấy một cách thích đáng thì đưa đến kết quả là
sống với tinh thần hạnh phúc, thân thể khỏe mạnh. Có phải thế không? Mọi người
có cùng loại năng lực này. Cho dù họ để ý một cách đầy đủ hay không đến điều
này, hay tỉnh giác đầy đủ hay hông - đó là vấn đề. Trái lại, tất cả đều có cùng
năng lực. Đó là những gì tôi nói đến - nghệ thuật của hạnh phúc. Rõ chứ?
Một số kho tàng Ấn Độ cổ xưa
là tri thức về cảm xúc con người, về tâm thức con người. Bất chấp quý vị nhìn
vào Phật Giáo, Kỳ Na Giáo, hay Ấn Độ Giáo, tất cả đều có cùng những thực tập
chung - sự thực tập về Xa ma tha, thiền chỉ,
sự thực tập về tuệ minh sát, thiền quán,
cả hai là một loại rèn luyện nhất định. Tất nhiên, có nhiều sự giải thích về
tâm thức - điều gì đó như một bản đồ của cảm xúc, một bản đồ của tâm thức - tôi
nghĩ rằng điều đó thật sự cần nghiên cứu thêm để khám phá. Thế giới của tâm thức
là rất bao la và rất quan trọng để biết hệ thống của nó - những tâm thức khác
nhau, chúng phát triển như thế nào, chúng hoạt động như thế nào. Điều đó là
quan trọng. Cùng một cách, quý vị thấy, khi quý vị đang chăm sóc cho một thân
thể bệnh tật, thì quý vị phải biết hệ thống thân thể và nó hoạt động như thế
nào.
Cũng thế ở trình độ tinh thần,
chúng ta phải biết toàn bộ hệ thống của tâm thức - thế giới tinh thần như một đối
tượng học thuật, chứ không là một đối tượng tôn giáo. Khi tri thức ấy được sử dụng
cho những khái niệm như kiếp sống tới, hay thiên đường hay ngay cả địa ngục, thế
thì nó liên hệ với tôn giáo. Nhưng chỉ đơn giản cho sự cát tường của thế giới
này, hay kiếp sống này, thì không có việc gì với tôn giáo; chúng ta có thể tách
rời loại thông tin được sử dụng cho cung cách của một tôn giáo với cách mà nó
được sử dụng trong một cung cách thế tục.
Cho nên tôi thường đùa với những
người bạn Ấn Độ của tôi. Quý vị thấy đó, họ thường cầu nguyện với những ông bà thần
linh của họ, một số nhang đèn, và trì tụng một số câu kệ Phạn ngữ mà không biết
ý nghĩa của chúng - không có nhiều lợi lạc trong việc này. Chúng ta phải chú ý
nhiều hơn, nghiên cứu sự phong phú của triết lý và tư tưởng Ấn Độ. Điều đó là rất
quan trọng.
Tôi thường tuyên bố rằng đức
tin tôn giáo và những hành vi phi pháp bất công, như tham nhũng, không thể đồng
hành với nhau. Không có lựa chọn thứ ba; chỉ có hai: một đời sống đức tin thuần
thành tôn giáo, quan tâm, trung thực, chân thật của công lý; hay một đời sống
tham nhũng, phủ nhận thần linh thượng đế, phủ nhận nghiệp quả, chỉ tìm kiếm tiền
bạc và quyền lực. Thật sự là một mâu thuẫn lớn khi quý vị cầu nguyện Thần
Shiva, cầu nguyện đến Thần Ganesh, nhưng trong khi lại không ngần ngại tham
nhũng. Đây là một sự mâu thuẩn lớn.
Cho dù quý vị là một người có
tín ngưỡng tôn giáo hay không, nếu toàn bộ xã hội trong sạch và minh bạch hơn,
mọi người sẽ cảm thấy hạnh phúc. Quốc gia có thể xây dựng một cách nhanh chóng
hơn. Nếu có nhiều tham nhũng, nhiều bất công, thế thì hàng triệu người nghèo
khó khổ đau nhất. Ấn Độ vẫn là một đất nước dân chủ đông dân nhất thế giới. Hơn
sáu mươi năm qua, tôi nghĩ, Ấn Độ, đã là một xứ sở rất ổn định vì luật lệ và những
nguyên tắc dân chủ. Cho nên người dân Ấn Độ nên suy nghĩ ở trình độ này - xây dựng
một Ấn Độ lành mạnh như thế nào. Mỗi người Ấn Độ có một trách nhiệm đạo đức để
xây dựng Ấn Độ trong một cung cách lành mạnh hơn. Rồi thì Ấn Độ có thể tạo nên
một tác động tích cực nổi bật trên thế giới, bởi vì kích thước của nó, bởi vì lịch
sử lâu dài của nó. Cảm ơn.
HỎI VÀ ĐÁP
HỎI: Tôi thật sự cảm kích, vì ngài đã nói về sự khác
biệt giữa vị kỷ và tự yêu mến. Tự yêu mến thường hoàn toàn bị hiểu lầm và lạm dụng
như vị kỷ, nhưng nó là cần thiết để biểu hiện thương mến của bi mẫn. Và thật
tuyệt vời để nghe quan điểm của ngài.
ĐÁP: Vâng, yêu thương hay cảm nhận quan tâm cát tường. Ngoại
trừ bạn quan tâm cho chính mình hay yêu mến chính bạn, bằng không bạn không thể
mở lòng yêu thương đến người khác. Thứ nhất, thương mến và yêu dấu chính mình,
và xem vô số những chúng sanh cũng thế - giống như chính mình - muốn một đời sống
hạnh phúc, không muốn khổ đau. Vì bạn thật sự quan tâm chăm sóc bạn, trong cùng
một loại điều kiện tương tự bạn phải mở rộng cảm nhận quan tâm về sự cát tường
của vô số chúng sanh. Thái độ vị kỷ là không quan tâm đến người khác, chỉ nghĩ
về cá nhân mình và vì sự quan tâm của chính mình - không chỉ quên lãng sự cát
tưởng của người khác, mà ngay cả bắt nạt, lợi dụng, bóc lột - những thứ như vậy.
Ở đây, thái độ vị kỷ [tích cực]
và cũng như những gì bạn gọi là cảm nhận mạnh mẽ về bản thân, là rất cần thiết
nhằm để phát triển quyết tâm, ý chí. Thí dụ, lời cầu nguyện ưa thích của tôi - "Cho đến khi không gian còn tồn tại,
cho đến khi còn chúng sanh đau khổ, tôi sẽ hiện diện để phụng sự họ."
Nhằm để phát triển một quyết tâm dũng cảm như vậy bạn cần một cảm nhận mạnh mẽ
về bản thân; nhằm để đấu tranh với thái độ vị kỷ tiêu cực bạn cần tự tin về điều
ấy, cảm nhận tự thân mạnh mẽ là cần thiết. Tôi nghĩ cảm nhận tự thân mạnh mẽ cộng
với si mê hay thiển cận có thể trở thành sai lầm. Okay.
HỎI: Tôi là một khoa học gia về thần kinh từ Luân
Đôn, tôi đã nghiên cứu xong về tác động của thiền tập trên não bộ. Một trong những
bức hình ưa thích của tôi là ảnh chụp não bộ của ngài do một người nào đó chụp
qua máy dò scanner. Tôi sử dụng nó để cho thấy rằng ngài rất vui vẻ và để nói với
những nhà khoa học thần kinh về tác động của thiền tập và tâm linh trên não bộ.
Nhưng bức hình ấy hơi cũ, đã mấy năm về trước. Tư tưởng của ngài là gì vào lúc ấy
mà dựa vào đó những nhà khoa học thần kinh có thể làm, để giúp chúng tôi hiểu về
hạnh phúc?
ĐÁP: Như tôi đã đề cập trước đây, thông thường tôi đang thực
hiện một nổ lực để thúc đẩy tỉnh giác trong những thứ này nhằm để tạo ra những
cá nhân hạnh phúc, gia đình hạnh phúc, cộng đồng hạnh phúc. Nếu tôi sử dụng
một lý trí căn cứ trên việc dẫn chứng người khác, có thể nó không được chấp nhận
rộng rãi. Cho nên tôi thường sử dụng một kinh nghiệm thông thường, cảm giác
chung nhất, như những nhà khoa học khám phá. Những khái niệm nào đó của việc
nghiên cứu, qua khám phá khoa học, căn cứ rất nhiều vào một loại lý luận có giá
trị, bởi vì người ta chứng minh nó bằng thực nghiệm. Đức Phật đã tuyên bố,
"Không ai trong những môn nhân của tôi - tỳ kheo hay học giả hay nghiên cứu
- phải chấp nhận giáo huấn của tôi vì tín ngưỡng, vì tôn kính, mà phải khảo sát
và thực nghiệm."
Ngài nói như thế: vậy thì như
chúng tôi là những Phật tử, những bông hoa của truyền thống Na Lan Đà, phải thật
sự khảo sát ngay cả chính những lời của Đức Phật. Một số lời của Đức Phật đi
ngược lại những khám phá từ việc khảo sát; họ có quyền tự do để từ chối những
gì Đức Phật nói. Nếu chúng tôi dựa vào một loại niềm tin tôn giáo, ngay cả nếu
một tôn giáo rất phổ biến, rất quan trọng, thì nó cũng không thể trở thành phổ
quát toàn thể. Nhưng những nghiên cứu và tìm tòi của khoa học có thể phổ quát.
Cho nên tôi cảm thấy, cho đến bây giờ - có thể là từ mười năm trước - các nhà
khoa học đó là những người thật sự tiến hành những cuộc thí nghiệm đã thật sự rất
hữu dụng. Sự cố gắng của tôi trong việc thúc đẩy những giá trị nội tại một cách
chính yếu sử dụng kinh nghiệm phổ quát, những giá trị chung nhất và sau đó là
những thí nghiệm khoa học.
Vậy thì, ông từ lãnh vực đó -
rất tốt. Hãy tiến hành thêm những sự nghiên cứu và … tôi nghĩ ông ở trong cộng
đồng Ấn Độ? Tôi nghĩ những tư tưởng Ấn Độ cổ truyền là rất cởi mở, cho nên một
nhà khoa học từ nguồn gốc ấy có thể thành công hơn. Tâm tư của không bị định kiến
và vẫn cởi mở.
HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, cảm ơn ngài rất nhiều vì
bài nói chuyện hấp dẫn. Ngài đã nói nhiều về từ bi và hạnh phúc. Tôi có một sự
xung đột trong tâm tư tôi - Nếu tôi có lòng từ bi và nếu người nào đó mà tôi
yêu thương vô cùng lại đau khổ, tôi làm thế nào để giữ sự hạnh phúc của riêng
tôi?
ĐÁP: Tịch Thiên, một học giả lớn của thế kỷ thứ tám và là một
đạo sư Ấn Độ, đã nêu ra câu hỏi này. Không ai muốn những trải nghiệm băn khoăn
hay đau khổ hay những lo lắng. Nhưng nếu bạn thực hành từ bi thật năng nổ, thật
hiệu quả, bạn có thể đón nhận một loại lo lắng quấy rầy nào đó. Khi bạn thấy
người nào đó đang trải qua một kinh nghiệm đau khổ, bạn cũng dường như có môt
loại lo lắng hay đau đớn tinh thần nào đó - cho nên bạn phải thực hiện một sự
phân biệt giữa chính bạn và người ấy, hay ngay cả một sự đau khổ thân thể hay một
loại bất lực nào đó vốn không xảy ra cho bạn một cách tự nguyện.
Nhưng sự bất an mà bạn cảm thấy
như một kết quả của việc quan tâm quá nhiều cho sự cát tường của người khác -
đó là tự nguyện. Bạn đã rèn luyện cho chính bạn để phát triển một loại trách
nhiệm: bạn đã cho bạn một lòng can đảm để quan tâm đến sự cát tường của người
khác. Nếu bạn yếu đuối, thì không thể chăm sóc cho sự cát tường của người khác.
Nghĩ quá nhiều về sự cát tường của người khác tạo ra những rắc rối lớn, bởi vì
hầu như có sự đau khổ vô hạn trên hành tinh này - trong loài người hay trong những
loài vật khác.
Tôi nghĩ ở Ấn Độ, một cách
truyền thống, có một văn hóa rất tốt đẹp về ăn chay. Tôi nghĩ điều đó thật là kỳ
diệu. Vào đầu những năm 1960, khi tôi đang đi ngang qua từ Dharamsala đến phi
trường Jammu, hầu như không ai bán gà. Ngày nay, hầu như mỗi nhà ăn nhỏ đều có
bán gà nhân danh sự tiến bộ. Cũng thế, ở Bangalore, tôi chú ý với rau cải thì
có một ít gà. Người ta xem gà như rau cải. Không có cảm giác gì cho sự đau đớn
của chúng. Trong mùa hè và mùa đông, luôn có những con gà nhỏ chen chúc nhau
trong chuồng - thật đáng buồn.
Chính tôi, bây giờ không phải
là một người ăn chay, nhưng tôi có những lý do nào đó. Trong năm 1965 đến 1966,
tôi đã từ bỏ thực phẩm không chay lạc, kể cả trứng. Tiếp theo - tôi nghĩ - khoảng
mười hai tháng. Tôi là một người ăn chay rất nghiêm túc. Trong thời gian đó,
theo lời khuyên của một người bạn Ấn Độ, tôi đã dùng rất nhiều kem và hạt; như
một kết quả, tôi bị bệnh ở túi mật. Sau đó, tôi nhớ, tối thiểu là ba hay bốn tuần,
tôi đã ngã bệnh nghiêm trọng. Toàn thân tôi - mắt và móng tay cũng thế - biến
thành màu vàng cả. Sau này tôi đùa với một số người bạn của tôi rằng, vào lúc ấy,
tôi thật sự trở thành một vị Phật Sống, hoàn toàn vàng - không phải qua sự thực
hành tâm linh mà bởi bệnh hoạn.
Cho nên cả những nhà y học
Tây Tạng và những nhà y học đối chứng (giữa cổ truyền và hiện đại, giữa thân và
tâm) khuyên tôi tốt hơn là tiếp tục theo chương trình ăn uống truyền thống của
tôi. Vì thế đấy là một sự đấu tranh. Đó là sự biện giải của tôi. Thật sự, chúng
tôi đang cố gắng để thúc đẩy sự ăn chay, do vậy tôi nghĩ chúng ta cần một phong
trào rộng rãi khắp thế giới. Trong một vài trường hợp, ở Nhật Bản, tôi đùa người
Nhật vì dùng quá nhiều cá. Tệ hại nhất là một số người chơi đùa với cá - họ móc
cá với lưỡi câu và làm chúng vùng vẫy, sau đó thả chúng ra, bị tổn thương ở miệng
như thế.
HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, cảm ơn ngài đã cùng với
chúng tôi; chúng tôi được gia ơn rất nhiều. Tôi có một câu hỏi - trong việc
theo đuổi hạnh phúc của chúng tôi, chúng tôi toàn thấy và nghe những thứ xấu.
Ngài biết, như đối xử tàn ác với thú vật - chúng tôi đọc ngẫu nhiên trong một
quyển sách, hay chúng tôi thấy nó và trong những thời khắc, khi những thứ này
ám ảnh chúng tôi, chúng tôi không muốn nghĩ về tra tấn hay đau đớn đến những tạo
vật. Chúng ta làm sao chấm dứt những tư tưởng đó? Tôi muốn nói, chúng ta làm
sao xóa bỏ chúng, chúng ta có thể chấm dứt chúng không, bởi vì đó là những tư
tưởng tiêu cực?
ĐÁP: Hai cách - hãy suy nghĩ hơn nữa và những gì thật sự
giúp hay ích lợi cho việc xua tan sân hận, thù oán, hay tham dục làm tổn hại đến
người khác. Chỉ tham muốn làm tổn hại đến người khác có thể không thật sự làm tổn
hại họ; chi qua hành động, quý vị mới có thể làm tổn hại. Cho nên nếu quý vị thật
sự muốn làm tổn hại người khác, mà không sân hận, và với một tâm tư tĩnh lặng,
hãy phân tích và tìm ra điểm yếu của người khác và sau đó tấn công. Nếu tự quý
vị sân hận, thì quý vị trở thành hơi điên khùng. Quý vị không thể tìm ra điểm yếu,
nếu quý vị chỉ tấn công. Thế thì, đôi khi quý vị làm cho đôi tay quý vị đau khổ
hơn.
Cho nên, thí dụ, nếu người
Tây Tạng vẫn giữ sự sân hận đối với những kẻ gây rắc rối cho chúng tôi ở đấy,
dĩ nhiên họ sẽ xem chúng tôi như kẻ gây rối. Vì thế, chúng tôi xem họ như những
kẻ tạo rắc rối. Thế nào đi nữa, quý vị thấy rằng chỉ có cảm nhận tiêu cực sẽ
không gây tổn hại cho họ; thay vì thế, hãy giữ lòng nhẫn nhục, giữ lòng từ bi.
Trong năm 2008, sau khủng hoảng ngày10 tháng Ba, tôi ít nhiều đã kinh nghiệm
như tôi đã có năm 1959 - bất lực, quá nhiều lo lắng, sợ hãi. Nhưng trong cuộc
khủng hoảng 2008, tôi đã thận trọng giữ sự thực tập cho và nhận. Quán tưởng một
số nhà lãnh đạo cứng rắn của Trung Cộng, nhận sự sân hận của họ, sự sợ hãi của
họ, và cho họ tinh thần thần tha thứ và từ bi của tôi. Vô cùng lợi lạc - không
phải ở trong việc giải quyết rắc rối nhưng nó giữ cho tâm hồn tôi tĩnh lặng và
yêu thương.
Cho nên, như thế, nếu quý vị
để sân hận phá hủy sự hòa bình của tâm hồn quý vị, cuối cùng nó sẽ tàn phá sức
khỏe của chính quý vị. Cho nên giữ lòng từ bi - tâm tư của quý vị sẽ sẽ vẫn
trong sáng. Nếu quý vị phát triển lòng từ bi tròn vẹn, không để sân hận hay thù
oán gì trong đó, thế thì sau những nổ lực liên tục ngày này qua tháng nọ, qua
năm kia, hàng thập niên, thể trạng tinh thần có thể thay đổi, đó là những gì
tôi có thể nói với bạn qua kinh nghiệm bé nhỏ của tôi.
HỎI: Tôi là một tiến sĩ y khoa. Hai mươi năm trước,
tôi đã hỏi ngài nên làm gì như một bác sĩ, nhưng bây giờ câu hỏi của tôi là:
Chúng ta làm thế nào để giúp bệnh nhân duy trì niềm hạnh phúc này khi người ấy
bệnh? Thái độ của bệnh nhân ra sao đối với đời sống khi người ấy bệnh?
ĐÁP: Tùy thuộc vào thái độ tinh thần của người ấy. Nếu người
nào tin tưởng vào Thượng Đế, rằng chúng ta là những tạo vật của Thượng Đế và
Thượng Đế có nghĩa là tình thương vô hạn, thì người ấy sẽ thấy trong bệnh tật của
họ một ý nghĩa nào đó. Rồi thì, những bệnh nhân tin vào luật nhân quả sẽ tin rằng
sự bất hạnh hôm nay - kể cả bệnh tật - là do nghiệp tiêu cực trong quá khứ của
người ấy. Tuy nhiên, mỗi trải nghiệm là do nghiệp tiêu cực trong trước đây của
người ấy; kể cả bệnh tật là qua một nghiệp tiêu cực nghiêm trọng nào đó. Tuy thế,
nghiệp là do ta tự tạo nên; do thế, nếu ta tạo một nghiệp khác, một nghiệp tích
cực mạnh mẽ hơn, thế thì ảnh hưởng của nghiệp tiêu cực sẽ giảm thiểu. Cho nên,
một cách căn bản, quý vị có một sự kiểm soát nào đó.
Rồi thì, có lẻ, một người
không tín ngưỡng nào đó, khi đối diện với một kinh nghiệm rắc rối hay đau khổ,
sẽ phân tích hoàn cảnh. Nếu hoàn cảnh mà ta có thể vượt thắng, thế thì, không cần
phải lo lắng hay cố gắng. Nếu hoàn cảnh không thể vượt qua, thì cũng không cần
phải lo lắng quá nhiều. Quá nhiều băn khoăn là tự tra tấn; tốt hơn là quên đi.
Không dễ dàng, nhưng thế ấy, tôi nghĩ, là một sự tiếp cận thực tế khi chúng ta
đối diện với một rắc rối nào đó.
Đây là một kinh nghiệm nhỏ của
tôi. Tôi nghĩ hơn mười năm trước, tôi bị đau trong ruột. Ngày đó tôi ở Bihar,
đi ngang qua một ngôi làng; tôi thấy nhiều người nghèo khổ, trẻ em khốn khó
không có giày dép hay bất cứ cơ hội nào cho việc học vấn. Rất buồn. Rồi thì tôi
đã thấy những thứ tệ hại hơn ở Patna. Sau đó tôi đến khách sạn của tôi, cơn đau
trở nên dữ dội hơn, và hầu như cả đêm ấy tôi khổ sở. Nhưng tôi liên tục nghĩ về
những đứa trẻ không nơi nương tựa. Khi tâm tư tôi chuyển hướng đến cảm nhận từ
bi yêu thương - cơn đau thân thể của tôi giảm thiểu. Cho nên hãy nghĩ nhiều hơn
về sự cát tường của người khác hơn là những rắc rối của chính bạn, kể cả bệnh tật
của chính quý vị. Bằng khác đi, tôi không biết. Tôi nghĩ quý vị phải tham khảo
với những nhà tâm lý học và tâm lý trị liệu phương tây hay những gì như thế.
Hay có lẻ tốt nhất là dùng chất say (như rượu)? Hay chỉ nằm xuống.
HỎI: Tôi tự hỏi yêu cầu đừng đưa ra những câu hỏi
liên quan đến chính trị là từ Đức Thánh Thiện hay từ những người tổ chức ra buổi
nói chuyện quý báu này - trong ý nghĩa rằng chính trị không tác động với hạnh
phúc trong thời đại của chúng ta như trong những thời kỳ khác? Bên cạnh đó, có
phải công lý là thích hợp với lòng từ bi mà ngài nói đến? Xin ngài giải
thích về nó một ít?
ĐÁP: Tôi nghĩ công lý là trên trình độ của hành động và từ
bi là về động cơ. Động cơ, chẳng hạn như động cơ, thật sự là về việc quan tâm đến
sự cát tường của người khác. Với loại thái độ tinh thần ấy sẽ không có chỗ cho
sự lừa dối, bóc lột hay tổn hại, vì bạn đang chăm sóc đến sự cát tường của người
khác.
Thí dụ, sự thực hành của người
xuất gia Phật Giáo đề cập, khi tu sĩ chứng kiến một người thợ săn đến gần một
con thú, nó biến mất trong rừng; tu sĩ chú ý phương hướng nào. Khi người thợ
săn đến và hỏi tu sĩ con thú đó đi ngã nào, nếu tu sĩ nói sự thật, người
thợ săn sẽ bắt được con thú. Trong trường hợp đó, tốt hơn là nói dối, bởi động
cơ là chân thành. Cho nên được phép. Vì vậy sự nói dối ở trình độ hoạt động - hoạt
động thân thể, hoạt động tinh thần, cho dù tích cực hay tiêu cực.
Có lần nọ, một nhóm người Việt
Nam đã hỏi tôi về việc tham nhũng nhằm để có việc làm tốt trong cộng đồng hay
cho một số lượng lớn hơn của công nhân. Tôi nói với họ rằng một mục tiêu như vậy,
với lòng chân thành, động cơ từ bi, xuất phát từ việc quan tâm cho một nhóm
đông người. Nếu nó liên hệ đến một sự tham nhũng nho nhỏ nào đó, thế thì đó là
một sự tham nhũng tích cực. Thế nên những thứ này lệ thuộc vào mục tiêu và hành
động như vậy đấy.
Chính trị, thật sự, quý vị thấy,
tôi bây giờ cuộc đã nghỉ hưu với trách nhiệm chính trị trong mức độ quan tâm đến
cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Tôi giao lại cho những người lãnh đạo dân cử
một cách tự nguyện, vui vẻ và tự hào. Cho nên vào lúc này, nếu người nào hỏi
tôi về một sự phức tạp nào đó của chính quyền Trung Cộng, thì tôi thường trả lời
rằng bây giờ tôi đã nghỉ hưu. Cho nên tôi có nhiều tự do hơn - nếu tôi muốn trả
lời thì tôi trả lời, và nếu tôi không muốn, tôi nói rằng tôi đã nghỉ hưu.
HỎI: Với tất cả lòng biết ơn và khiêm hạ, tôi muốn
biết ngài định nghĩa về Thượng đế là gì và người ta kinh nghiệm về Thượng đế
như thế nào?
ĐÁP: Một lần, tôi nghĩ ở phương Tây, một phóng viên nào đó
đã hỏi tôi, "nếu ngài có cơ hội để gặp Giê-su Ki-tô, câu hỏi của ngài sẽ
là gì?" Tôi trả lời, "Thượng đế là gì?" (Cười) Thế nên điều đó
là huyền bí. Dĩ nhiên, tôi nghĩ mỗi tôn giáo có một loại thuật ngữ nào đó,
nhưng có những thứ nào đó vượt ngoài suy nghĩ của chúng ta, vượt ngoài ngôn ngữ
của chúng ta. Đức Phật là một chúng sanh Giác Ngộ, nhưng rồi, ngay cả chi tiết
về Giác Ngộ, phẩm chất cao nhất của tinh thần là vượt ngoài tư tưởng của chúng
ta. Thật là khó khăn. Tôi nghĩ rằng khoa học hiện đại không chứng minh cũng
không bác bỏ về Thượng đế. Đó là một sự huyền bí.
Ẩn Tâm Lộ,
Tuesday, June 14, 2016
Tuesday, December 5, 2017
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



