Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

ĐỨC PHẬT TỪ BI

 




Nguyên tác: A Buddha Of Compassion
Tác giả: Nicholas Ribush
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn
***


Lần đầu tiên tôi gặp Phật giáo Tây Tạng là tại Tu viện Kopan, Kathmandu, Nepal, vào cuối năm 1972.
Những người thầy đầu tiên của tôi là Lama Thubten Zopa Rinpoche và Lama Thubten Yeshe, những người mới bắt đầu giới thiệu Giáo Pháp cho người phương Tây, một hoạt động tiếp tục diễn ra cho đến ngày nay. Tôi ngay lập tức bị thu hút bởi con đường này và đã cố gắng tìm hiểu và thực hành nó kể từ đó.

Từ lúc bắt đầu. Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche thể hiện sự tôn trọng và sùng kính phi thường đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma,
và với tư cách là một người phương Tây hoài nghi từ một nền giáo dục chủ yếu là vật chất và vô thần, tôi đã bị ấn tượng bởi thái độ của họ đối với những gì tôi tưởng tượng đơn giản là một con người khác.

Tôi đã có thể gặp Đức Thánh Thiện lần đầu tiên vào khoảng mười lăm tháng sau khi, vào tháng 1 năm 1974, tôi đến Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ, để tham dự lễ nhập môn Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) mà ngài sẽ truyền trao.
Tôi cũng dự định thọ giới Sa Di, cùng với chín vị tăng và ni phương Tây tương lai khác. Có hơn 100.000 người ở đó và chúng tôi đã lạc vào một vùng biển rộng lớn và tuyệt vời của người Tây Tạng.

Với lòng tốt theo thông lệ của mình, Lama Yeshe đã thỉnh cầu Đức Thánh Thiện thực hiện phần đầu tiên cho buổi lễ xuất gia của chúng tôi,
nơi mà chùm tóc cuối cùng được cắt ra khỏi đỉnh đầu mới cạo của mỗi người. Theo đó, vào ngày cuối cùng của lễ nhập môn, chúng tôi đã xếp hàng cùng với những người khác để nhận được sự ban phước lành từ Đức Thánh Thiện và chiêm ngưỡng mạn đà la.

Khi chúng tôi đến gần Đức Thánh Thiện, Lama Zopa Rinpoche đã rút ra một chiếc kéo và giải thích chúng tôi là ai và chúng tôi muốn gì.
Đức Thánh Thiện mỉm cười, rồi cười lớn và thốt lên, ‘Tôi hy vọng nó tồn tại lâu dài!’ (Trong trường hợp của tôi, nó đã xảy ra, nhưng không phải là suốt đời, như dự định, mà chỉ trong khoảng mười hai năm). Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng ấm áp đó, sự quan tâm từng cá nhân bất chấp hàng triệu thứ khác đang diễn ra, là lần đầu tiên tôi nếm trải lòng tốt, lòng trắc ẩn, sự tập trung và tình yêu thương đáng kinh ngạc của Đức Thánh Thiện.

Tôi đã gặp Đức Thánh Thiện một vài lần nữa trong vài năm tới, chủ yếu là trong sự đồng hành với Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche,
khi họ mong cầu lời khuyên của Đức Thánh Thiện về công việc của họ ở phương Tây và báo cáo với ngài những gì đã xảy ra trong những chuyến du hành của họ. Năm 1977, mẹ tôi đến thăm tôi ở Ấn Độ và tôi đưa bà đến Dharamsala để gặp Đức Thánh Thiện và hai vị giáo thọ sư của Ngài, Kyabje Ling Rinpoche và Kyabje Trijang Rinpoche. Tất cả các Ngài đều tốt bụng một cách đáng kinh ngạc, đặc biệt là Đức Thánh Thiện, người đã cho mẹ tôi một cuộc phỏng vấn riêng kéo dài 45 phút (họ cũng cho tôi vào), kiên nhẫn trả lời tất cả các câu hỏi của bà về cuộc sống quá khứ và tương lai và sáu cõi hiện hữu luân hồi.

Tôi đã nghe Đức Thánh Thiện mô tả theo nhiều cách trong nhiều năm.
Ngài luôn mô tả mình là một nhà sư Phật giáo giản dị, nhưng đối với nhiều nhà văn khác, Ngài là vị thánh vương (god-king) của Tây Tạng; đối với người Trung Quốc, một 'kẻ chia rẽ'; đối với hầu hết các chính trị gia, vị nguyên thủ thật sự của Tây Tạng; đối với các học viên giáo Pháp ở khắp mọi nơi, là một người thầy vĩ đại và một tấm gương sống hoàn hảo về những gì Ngài dạy; và với thế giới nói chung, là một người đoạt giải Nobel, một chính khách vĩ đại, người ủng hộ hàng đầu cho bất bạo động và hòa bình, tiếng nói của Phật giáo và nói chung là hy vọng tốt nhất cho chúng ta trong tương lai. Đối với người dân Tây Tạng, Đức Thánh Thiện luôn là biểu hiện sống động của Chenrezig — Quán Thế Âm, Đức Phật Từ Bi. Tôi thường tự hỏi điều này có nghĩa là gì.

Trong khi chưa bao giờ đồng ý rằng Ngài thật sự là một biểu hiện của Quán Thế Âm, nhưng trong những lời dạy của ngài tại lễ nhập môn Kalachakra ở Los Angeles, 1989,
Đức Thánh Thiện mô tả Quán Thế Âm như một vị bổn tôn, một vị bồ tát hoặc một vị Phật. Là một vị bổn tôn, Quán Thế Âm không phải là một bản thể riêng biệt mà là biểu hiện của lòng từ bi của tất cả chư Phật, một phẩm chất của tất cả chúng sinh giác ngộ. Khi một người phấn đấu cho sự giác ngộ đạt được mục tiêu của mình thông qua thực hành phương pháp yoga Quán Thế Âm, chúng ta có thể gọi người đó là Quán Thế Âm. Ngoài ra, lòng từ bi của một vị Phật cụ thể, ví dụ như Đức Phật Thích Ca, có thể biểu hiện thành Quán Thế Âm.

Như Đức Pháp Vương Dudjom Rinpoche đã giải thích, người Tây Tạng một cách  lịch sử tuyên bố là hậu duệ của Đức Quán Thế Âm,
người trong thời cổ đại được cho là đã đến Tây Tạng từ nơi ở nổi tiếng của mình ở miền nam Ấn Độ, Núi Potalaka, hiện thân là một con khỉ và giao phối với một con 'nữ dạ xoa đá' (an ‘ogress of the rocks’). Vị vua tôn giáo đầu tiên, Songtsen Gampo (617-650) được cho là hiện thân của Quán Thế Âm. Nyatri Tsenpo cũng vậy, vị vua đầu tiên của loài người cai trị toàn bộ Tây Tạng; Drom Tonpa, người phiên dịch cho Atisha vĩ đại, người đã khôi phục lại Phật giáo thuần túy cho Tây Tạng khoảng một nghìn năm trước và thành lập truyền thống Kadam; và tất cả mười bốn vị Đạt Lai Lạt Ma, tất nhiên, bao gồm cả vị hiện tại.

Ngoài ra, thần chú Quán Thế Âm, Om mani padme hum, là thần chú ‘chính thức’ của Tây Tạng.
Nhiều người Tây Tạng, cả cư sĩ và xuất gia, đọc tụng nó liên tục, và nó có thể được vẽ và chạm khắc vào đá và bia đá trên khắp dãy Himalaya.

Do đó, việc thực hành Quán Thế Âm là trung tâm của Phật giáo Tây Tạng và là một phần của việc người Tây Tạng coi nhà lãnh đạo tâm linh và thế tục của họ, Đức Đạt Lai Lạt Ma, là hiện thân sống của Quán Thế Âm và mọi thứ mà Ngài tượng trưng.

Mục tiêu của Đức Phật là tất cả chúng sinh đều đạt được giác ngộ.
Muốn vậy, chúng sinh phải đi theo con đường dẫn đến giác ngộ; chúng ta phải tự mình nỗ lực — vô lượng chư Phật không thể làm điều đó cho chúng ta. Nói cách khác, chúng ta phải thực hành Phật giáo Đại thừa và, nếu chúng ta muốn đạt được giác ngộ càng nhanh càng tốt, chúng ta phải thực hành Kim Cang thừa, hình thức của Phật giáo Đại thừa đã được thực hành và bảo tồn ở Tây Tạng.

Đức Phật cũng đã nói rằng trong tất cả những lời dạy của Đức Phật, điều quan trọng nhất là lòng từ bi, và trong tất cả những phẩm chất của một vị Phật, điều tốt nhất lại là lòng từ bi.
Ngay cả sự toàn giác của một vị Phật cũng phụ thuộc vào lòng từ bi; chỉ nhờ sức mạnh của lòng từ bi, người ta mới có thể đạt được trí tuệ tối thượng của một vị Phật.

Những hoạt động của một vị Phật là gì?
Hoạt động chính là khai mở những giáo lý dẫn đến giác ngộ cho những ai mở lòng với chúng, tuỳ theo nghiệp duyên của các đệ tử tiềm năng. Tuy nhiên, trước tiên, làm thế nào để một người trở thành một vị Phật? Làm thế nào để một người trở nên chứng ngộ?

Như tôi hiểu từ những lời dạy của vị thầy quý giá của tôi, Lama Zopa Rinpoche, nguyên nhân chính của sự giác ngộ là tâm Bồ đề,
quyết tâm đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Bồ đề tâm phát khởi từ lòng đại bi, được phát sinh tùy thuộc vào mỗi chúng sinh. Với lòng từ bi vĩ đại, ta không chỉ cảm nhận được nỗi đau khổ của tất cả chúng sinh như của riêng mình mà còn bị buộc phải làm điều gì đó về nó. Cảm giác này chỉ phát triển khi ta tiếp cận giác ngộ và tồn tại mãi mãi với ta, ngay cả sau khi giác ngộ. Vì vậy, một vị Phật không có lựa chọn nào khác ngoài việc giúp đỡ chúng sinh bằng mọi cách có thể.

Vì chúng sinh phải tự nỗ lực, nên họ cần được chỉ đường. Chỉ ra con đường và truyền cảm hứng cho người khác đi theo con đường đó là công việc chính của Đức Phật. Nhưng, nếu ta là một vị Phật, ta sẽ làm thế nào về điều đó?

Ta không thể ở trong không gian giác ngộ của Pháp thân, bởi vì ở đó ta chỉ có thể giao tiếp với các vị Phật khác.
Người ta có thể hiển lộ trong Báo thân, nhưng chỉ những Bồ tát cao cấp mới có thể được giảng dạy ở cấp độ đó. Thay vào đó, ta sẽ phải biểu hiện trong một hình thức mà những sinh vật thấp hơn có thể giao tiếp. Tuy nhiên, rất ít chúng sinh có đủ khả năng, chưa nói đến sự quan tâm, để thực hành Pháp, vì vậy ta sẽ phải biểu hiện giữa những người đó — nói cách khác, với tư cách là một con người.

Biểu hiện giữa con người, ta có thể xuất hiện dưới một hình thức kỳ diệu nào đó, nhưng trong khi điều đó sẽ thu hút sự chú ý,
nó sẽ không thật sự mang lại nhiều lợi ích như vậy. Mọi người cần được truyền cảm hứng để đi theo con đường dẫn đến giác ngộ bằng cách có thể thấy rằng họ cũng có thể trở nên chứng ngộ. Để truyền cảm hứng cho mọi người theo cách này, ta sẽ phải thể hiện dưới hình thức mà họ có thể liên hệ - với tư cách là một con người. Sau đó, mọi người có thể nghĩ, ‘tôi là một con người; người ấy là một con người. Tôi có thể trở nên giống như người ấy'. Bằng cách đó, họ cởi mở với giáo huấn. Vì vậy, nếu mọi người trên trái đất vào thời điểm này cởi mở để lợi lạc, ta sẽ hiển thị như một người thầy của con người.

Ngắm nhìn Đức Thánh Thiện, ngay cả từ xa, như tôi vẫn phải làm, thật dễ dàng để thấy Ngài thật sự có thể là hiện thân sống động của một tâm thức giác ngộ như thế nào.
Ngài tỏa ra tình yêu thương và lòng trắc ẩn; mọi người đều muốn ở gần Ngài mọi lúc. Sự thông thái của Ngài cũng rất rõ ràng — Ngài có thể dạy nhiều học viên từ những người mới bắt đầu cho đến những người có học thức cao (geshe: tiên sĩ Phật học Tây Tạng) và tư vấn cho những ẩn sĩ thành thạo nhất đang nhập thất. Ngài không chỉ chịu trách nhiệm với đất nước và dân tộc của mình, mà còn cho toàn thế giới, nỗ lực không ngừng để mang lại hòa bình, lý trí và sự hiểu biết cho nhiều người nhất như có thể.

Ngày này qua ngày khác, Đức Thánh Thiện nổ lực bản thân nhiều như bất kỳ người nào trên trái đất, nhưng tất cả đều vì lợi ích của người khác.
Ngài thường xuyên đi khắp thế giới, giảng dạy Phật pháp và ban quán đảnh, tiếp kiến mọi loại du khách, gặp gỡ các chính trị gia, diễn thuyết và họp báo, xuất hiện ở chức năng này hay chức năng khác, tham gia các hội nghị, v.v. Từ sáng đến tối, ở Dharamsala và ở nước ngoài, Đức Thánh Thiện đi từ cuộc hẹn này sang cuộc hẹn khác, chịu trách nhiệm trong mọi lúc— trách nhiệm đối với phúc lợi tinh thần không chỉ của chúng sinh trên hành tinh này mà còn của vô số chúng sinh khác trong khắp không gian; vì hòa bình trên trái đất; vì quyền lợi của người tị nạn Tây Tạng và những người bị áp bức ở Tây Tạng; và vì sự tự do của chính Tây Tạng.

Tôi không gặp Đức Thánh Thiện thường xuyên, có lẽ một vài ngày mỗi năm, nhưng mỗi lần tôi cảm thấy kiệt sức chỉ để xem Ngài bận rộn như thế nào, nhu cầu về thời gian liên tục như thế nào và năng lượng kinh ngạc mà Ngài đặt vào mỗi một người Ngài gặp gỡ.

Đức Thánh Thiện cũng không bao giờ quên những người không quan trọng.
Một lần tôi đang tham dự một sự kiện ở Indiana, nơi Đức Thánh Thiện đang hiến cúng một bảo tháp do anh trai của ngài, Taktser Rinpoche, xây dựng. Mọi người đều xếp hàng dài, hàng ba, dọc theo lối đi; Tôi đã ở phía sau một nơi nào đó. Tôi đã cởi y áo một năm trước đó và đã không gặp Đức Thánh Thiện kể từ thời điểm đó. Khi Ngài di chuyển xuống lối đi, nhìn đi nhìn lại những người ở hai bên, Ngài nhận thấy tôi, hơi cúi xuống, hai tay chắp lại trước tim. Bằng tiếng Tây Tạng, Ngài gọi, ‘Điều gì đã xảy ra với việc trở thành một nhà sư?’ Hoặc những từ có ảnh hưởng đến điều đó, và tiếp tục bước đi. Tôi đã rất ngạc nhiên - rằng Ngài đã gặp tôi, nhớ tôi là ai và lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, hơn một năm trước, tôi là một nhà sư. Ngài cũng biết rằng tôi không chỉ mặc thường phục cư sĩ mà đã thật sự cởi bỏ y áo.

Mười năm sau, Đức Thánh Thiện đã đến thăm Đại học Brandeis ở Boston.
Di chuyển nhanh chóng từ cuộc họp này sang cuộc họp tiếp theo, Ngài được bao quanh bởi các nhân viên an ninh, đang đi qua đám đông, mỉm cười với tất cả những người mà Ngài có thể, khi một lần nữa Ngài nhìn thấy tôi, cúi xuống, cách đó khoảng hai mươi thước. “Người bạn cũ,” Ngài gọi, ra hiệu cho tôi đi đến. ‘Bạn cũ!’ Tôi rất cảm động vì trong ngần ấy thời gian bận rộn mà Ngài có thể ân cần như vậy. Và tất nhiên, không chỉ tôi. Đức Thánh Thiện là như vậy với hầu hết những người mà ngài biết, và ngài biết rất nhiều.

Chắc chắn Đức Đạt Lai Lạt Ma là Đức Phật Từ Bi.
Ai khác có thể có trí tuệ, quyền năng và lòng từ bi để hoàn thành tất cả những gì như Ngài đã làm? Tất nhiên, tôi thậm chí sẽ không giả vờ nhìn thấy hoặc biết ngoài một phần nhỏ những gì Đức Ngài làm cho người khác, nhưng bất kỳ ai quan sát Ngài bằng thị giác rõ ràng và tâm hồn rộng mở sẽ thấy nhiều hơn một người phi thường trong số chúng ta. /.

Ẩn Tâm Lộ - Wednesday, Tuesday, October 25, 2022
Trích từ quyển Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 

 

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2022

ĐẠI DƯƠNG TUỆ TRÍ

 




Nguyên tác: The Ocean of Wisdom
Tác giả: Brother Wayne Teasdale
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn
***



Không dễ để viết về Đức Đạt Lai Lạt Ma, và cụ thể là Tenzin Gyatso. Ngài là một vị thầy tâm linh hiếm có và hoàn toàn độc đáo, luôn có xu hướng phóng đại ca ngợi vị trí phi thường, giống như thần thánh của mình và toàn bộ hào quang xung quanh 'nhà sư giản dị' này, hoặc thái cực ngược lại của việc ẩn mình sau một tính khách quan học thuật khô khan, mà thường bị hoài nghi.
Ở đây, giống như Đức Phật, tôi sẽ cố gắng đi một con đường trung đạo. Cá nhân tôi tin rằng có một số nhân vật, thánh và bồ tát, những người thật sự không thể phóng đại. Đó là Mahatma Gandhi, Thomas Merton (nhà hiền triết Trappist) và Mẹ Teresa. Tenzin Gyatso cũng là một trong số đó.

Khi chúng ta gặp được sự thánh thiện cao cả ở bất cứ ai, thì rõ ràng là một mức độ siêu phàm của đức tính và dễ cảm xúc,
sự vượt trội của mối quan tâm đến bản thân, sự sẵn sàng và khả năng đáp ứng đối với những người khác. Như một ví dụ từ cuộc đời của Đức Đạt Lai Lạt Ma — một ví dụ rất đặc trưng về một người vượt quá vị trí của mình — hãy để tôi đưa ra một sự việc từ một trong nhiều chuyến thăm Mỹ của ngài. Cách đây vài năm tại Đại học Harvard đã có một cuộc trò chuyện đặc biệt giữa Đức Thánh Thiện và ba hoặc bốn giáo sư trước một lượng khán giả khổng lồ bao gồm cả một đoàn làm phim. Vị giáo sư đầu tiên phát biểu đã thu hút ánh đèn sân khấu, và ông ấy đã tiếp tục và tiếp tục, vượt qua thời gian quy định của mình. Khi cuộc nói chuyện của ông ta trở nên quá mức, và không có dấu hiệu cho thấy ông sẽ dừng lại, các giáo sư khác, sợ thời gian của họ sẽ bị sử dụng hết, trở nên mất kiên nhẫn, sau đó phẫn nộ và tức giận.

Qua tất cả, Đức Thánh Thiện kiên nhẫn, bình tĩnh, chăm chú và mỉm cười, lắng nghe người đàn ông này.
Sự nhạy cảm của Ngài đến mức biết người này cần cảm thấy rằng ông đang được lắng nghe. Ông cần sự quan tâm và khẳng định. Lòng từ bi của Ngài để đáp lại chương trình nghị sự sâu sắc hơn của giáo sư, thay vì rơi vào sự bực bội, thất vọng và tức giận như những người tham gia khác đang làm. Ngài đã lựa chọn một cách khá thanh thoát để đáp lại một cách từ bi, ngay cả khi điều đó có nghĩa là hơi bất tiện cho người khác. Câu chuyện nhỏ này là điển hình về Ngài và minh họa bản chất nhạy cảm của Ngài.

Trong phần tiếp theo, tôi muốn khám phá chí nguyện của Ngài với đối thoại giữa các tôn giáo, đây thật sự là một cuộc đối thoại của chính cuộc sống, không phải là một hoạt động cứng nhắc, chính thức như thường thấy trong các diễn đàn học thuật.
Phần đầu tiên của bài viết này sẽ xem xét các cuộc gặp gỡ của Đức Đạt Lai Lạt Ma với Thomas Merton và Bede Griffiths. Sau đó, tôi sẽ chia sẻ các cuộc gặp của riêng tôi với Ngài, các cuộc gặp về cơ bản tiếp tục dòng kinh nghiệm và phát triển được khởi xướng với Merton. Sau đó tôi sẽ trình bày một số ấn tượng về Đức Thánh Thiện đã xảy ra với tôi theo thời gian. Phần tiếp theo của bài luận sẽ xem xét mối quan tâm của Ngài đối với sự liên hợp của khoa học, trí tuệ và tất cả các lĩnh vực kiến thức khác và điều này sẽ được thực hiện chủ yếu trong bối cảnh của các cuộc đối thoại tổng hợp.

Sau đó, tôi sẽ chuyển sang cuộc đối thoại của các tu sĩ Phật giáo / Cơ đốc giáo, và phản chiếu về khía cạnh tiên tri của mối quan hệ rất có giá trị này.
Sự phản chiếu này sau đó sẽ kết tinh thành cái mà tôi gọi là ‘ma trận’ như một cách để tích hợp nguyên lý siêu hình, hiện sinh cốt yếu của Phật giáo và Cơ đốc giáo. Sự phản chiếu này sau đó sẽ kết tinh thành cái mà tôi gọi là những yếu tố của ‘ma trận’ như một cách để liên hợp nguyên lý siêu hình, hiện hữu cốt yếu của Phật giáo và Kitô giáo. Một phần ngắn sẽ xem xét vấn đề Tây Tạng và nhà thờ Thiên Chúa giáo. Cuối cùng, trong phần kết thúc, tôi sẽ suy ngẫm về tầm quan trọng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn trong thiên niên kỷ này.

Thomas Merton và Bede Griffiths

Trải nghiệm đầu tiên của Tây Tạng về người theo đạo Thiên chúa liên quan đến sự truyền giáo của các tu sĩ Dòng Tên vào cuối thế kỷ 17 do Linh Mục Desiderio lãnh đạo.
Tất nhiên, các tu sĩ Dòng Tên là những nhà truyền giáo, và phương pháp của họ rất sáng tạo và thậm chí có tầm nhìn xa. Họ có xu hướng đi trước thời đại bởi vì họ tôn trọng nền văn hóa nơi họ làm việc và sinh sống, và cuối cùng đi đến việc sửa đổi các mục tiêu truyền giáo của họ với nhận thức rằng ở Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản và Tây Tạng, họ đang đối phó với những hệ thống trí tuệ rất tiên tiến.

Nhận thức này chắc chắn cũng đặc trưng cho cách nhìn của Thomas Merton, một tu sĩ phái Trappist[1] đến từ Kentucky, đặc biệt là trong những năm cuối đời của ông.
Merton đã tiếp thu trí tuệ phương Đông ở mức độ sâu sắc từ rất lâu trước chuyến đi định mệnh của ông đến châu Á vào mùa thu năm 1968. Thomas Merton chỉ có ba lần yết kiến với Đức Thánh Thiện tại Dharamsala vào tháng 11 năm 1968. Đây là toàn bộ mức độ mối quan hệ của họ về mặt thời gian. Sau đó, Đức Thánh Thiện nói rằng Ngài không bao giờ nhận thấy rõ các Kitô hữu sống tâm linh cho đến khi Ngài gặp Merton. Đây là một tu sĩ Kitô hoàn toàn không giống bất kỳ Kitô hữu nào mà Đức Đạt Lai Lạt Ma từng gặp trước đây; ông không giống như những nhà truyền giáo thời đó, hầu hết trong số họ đều hướng về sự cải đạo.

Đức Thánh Thiện nhận thấy rõ trong vị Kitô hữu này là một người có học thức uyên thâm về các vấn đề tâm linh, tôn giáo so sánh và văn hóa.
Ngài thấy ở Merton một sự cởi mở hiếm thấy ở những Kitô hữu khác. Thomas Merton đã khám phá ra nơi Đức Thánh Thiện một người anh em đồng tu, cởi mở như nhau, và rất tò mò về đời sống và thực hành trong tu viện Thiên Chúa giáo. Hai người đàn ông vô cùng thích nhau và hướng đến một tình bạn tuyệt vời, một tình bạn đang chờ đợi nó nảy nở trong vĩnh hằng.

Linh mục Louis, tên tu sĩ của Merton, và Đức Thánh Thiện đã nói về mọi thứ.
Họ đã chia sẻ kinh nghiệm của họ về cuộc sống tu viện trong truyền thống của họ, xem xét các thực hành, giáo dục khác nhau, sự đào tạo các tăng ni, cách cầu nguyện và thiền tập của họ, các kinh sách thiêng liêng của họ. Họ đã phản ánh sâu sắc về sự khác biệt và tương đồng trong đức tin Phật giáo và Kitô giáo. Họ thảo luận về thảm kịch kinh hoàng của người Tây Tạng, cộng đồng người Tây Tạng và sự tập trung của họ vào việc củng cố và bảo tồn văn hóa cùng truyền thống của họ ở Ấn Độ. Họ cũng nói về chiến tranh Việt Nam, sự cạnh tranh giữa các siêu cường, phong trào dân quyền ở Hoa Kỳ, và phong trào hòa bình ở châu Âu và châu Mỹ.

Đức Thánh Thiện và Thomas Merton đã có ấn tượng sâu sắc với nhau.
Tác động của Merton đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma là đáng kể. Ngài thường nói về vị tu sĩ người Mỹ này, một thiên tài văn học, với sự trìu mến và đăm chiêu. Trong một bộ phim tài liệu tuyệt vời về cuộc đời của Merton được phát hành vào đầu những năm 1980, Đức Thánh Thiện đã được các nhà làm phim phỏng vấn. Ngài đã nói một cách trìu mến về Merton vào dịp đó và, với cảm xúc sâu sắc và âm vực cao hơn trong giọng nói của mình, Ngài nhận xét, "Nếu Thomas Merton còn sống, chúng tôi đã làm điều gì đó vì hòa bình cùng nhau."

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp Bede Griffiths ba lần, như trường hợp của Merton, nhưng những cuộc gặp gỡ này cách nhau hàng năm.
Họ đã cùng nhau đến Ấn Độ hai lần tại các hội nghị mà cả hai đều tham gia. Nhưng cuộc trò chuyện đáng kể nhất của họ xảy ra ở Úc vào đầu những năm 1990. Đó là một cuộc trao đổi có kết quả quan trọng. Cả hai đều hoàn toàn thoải mái và cởi mở. Họ đã thảo luận về nhiều giáo lý thần học và huyền bí của mỗi truyền thống. Mặc dù tôi chưa bao giờ biết Merton, nhưng tôi đã biết Bede, và có một tình bạn hai mươi năm với ông ấy.

Vào lần gặp gỡ thứ ba, Linh mục Bede rất quan tâm đến Dzogchen[2].
Ông ấy đã kể cho tôi nghe về cuộc gặp gỡ tuyệt vời này với Đức Thánh Thiện. Về phần mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với tôi, "Bede Griffiths là một người thầy tuyệt vời!" Linh mục Bede và Đức Đạt Lai Lạt Ma đều rất tôn trọng nhau, và nếu Bede sống lâu hơn, họ có thể đã cùng nhau đạt được điều gì đó quan trọng. Kiến thức của Bede về Ấn Độ giáo và Phật giáo lớn hơn nhiều so với kiến thức của Thomas Merton, Nhưng cả hai đều là những giáo đồ Kitô giáo uống rượu từ giếng của tuệ trí phương Đông và làm sống lại sự chiêm nghiệm phương Tây. Cả hai đều có một nhiệm vụ giống nhau, nhưng với những hoàn cảnh khác nhau.

Những Cuộc Gặp Gỡ Và Những ấn Tượng Đầu Tiên

Đi xuyên Anh quốc để nghỉ ngơi trong một tháng sau một thời gian dài ở Ấn Độ, tôi đã có trải nghiệm thú vị đầu tiên với Đức Thánh Thiện.
Điều này xảy ra vào tháng 4 năm 1988 tại tư dinh của Hồng y Basil Hume, O.S.B., tổng giám mục của Westminster và là giáo chủ (patriarch) Thiên Chúa giáo của Anh. Mặc dù tôi đã thấy Đức Thánh Thiện tại Nhà thờ Thánh Patrick ở Thành phố New York vào năm 1979 khi tôi là sinh viên tốt nghiệp tại Đại học Fordham, nhưng mãi cho đến cuộc gặp gỡ này, chúng tôi mới thật sự gặp nhau lần đầu tiên. Hồng y Hume là một tu sĩ dòng Biển Đức, người cũng đã từng là tu viện trưởng trước khi được phong là giáo chủ của nước Anh. Ông quan tâm đến một cuộc đối thoại và hoan nghênh một cuộc trao đổi giữa các tu sĩ Thiên Chúa / Tây Tạng.

Tôi đã được mời tham dự cuộc đối thoại lịch sử này. Có hai mươi người trong chúng tôi — các tu sĩ Kitô giáo và Phật giáo, với một vài nữ tu — ngồi quanh một chiếc bàn hình bầu dục.
Đức Thánh Thiện đã bước vào và được giới thiệu bởi chủ trì Tu viện Prinknash, tu viện của Bede Griffiths trước khi Ngài đến Ấn Độ. Buổi họp mặt này là một tình huống thân mật, và ngay từ đầu đã có một mối quan hệ bền chặt giữa Đức Thánh Thiện và tôi. Sau cuộc trò chuyện kéo dài bảy mươi phút, Ngài đã đến chìa tay ra trước mặt tôi. Đó là một lời giới thiệu ấm áp và đầy ý nghĩa.

Sau đó, tôi viết thư cho Tenzin Geyche, thư ký lâu năm và là bạn tốt của Ngài, và không lâu sau đó tôi đã đến Dharamsala vào đầu tháng 1 năm 1989.
Cuộc gặp gỡ thứ hai của tôi với Đức Thánh Thiện là một cuộc trò chuyện kéo dài hai giờ. Nó được chứng minh là quan trọng, bởi vì nó đã dẫn đến việc chúng tôi cùng nhau công bố một tài liệu có tựa đề Tuyên Ngôn Phổ Quát Về Bất Bạo Động. Đây là một tuyên bố ngắn gọn, dài một trang. Sau đó nó đã được phê chuẩn bởi Đức Thánh Thiện và Tu sĩ Đối thoại Liên tôn (MID) (trước đây gọi là Uỷ Ban Đối thoại Đông / Tây Bắc Mỹ), tổ chức mà tôi đại diện. MID nhận trách nhiệm về tài liệu sau khi tôi viết bản thảo đầu tiên. Các thành viên khác của MID và tôi đã điều chỉnh hình thức cuối cùng của tài liệu.

Tôi thường cảm thấy, hoặc có cảm giác rằng vị trí độc nhất mà tôi được đảm nhận sẽ giúp tiếp tục mối quan hệ  với Đức Thánh Thiện,
Phật giáo Tây Tạng và dân tộc Tây Tạng mà Thomas Merton đã khởi xướng bằng chuyến thăm lịch sử của ông đến Dharamsala năm 1968. Tôi luôn ý thức về những lời của Đức Thánh Thiện về việc làm điều gì đó quan trọng cho hòa bình, và đã hy vọng rằng khả dĩ tôi có thể đóng góp cho nguyện vọng quan trọng đó. Mặc dù tôi chắc chắn không phải là Merton, nhưng tôi chia sẻ với ông ấy một sự cởi mở với phương Đông, quan tâm sâu sắc đến Phật Pháp và Ấn Độ giáo, Lão giáo và hiện tượng thần bí trong Hồi giáo (Sufism), cũng như hy vọng mạnh mẽ về một cuộc sống lâu dài, hòa bình công bằng và toàn diện — một nền hòa bình không chỉ đơn giản là không có xung đột, một nền hòa bình phản ánh, như Thánh Augustinô đã gọi nó vào thời của ông, "sự yên tĩnh của trật tự", một sự hòa hợp tâm linh làm sống động một loài người giác ngộ, và một nền văn minh nhân loại dựa trên tình yêu và lòng từ bi. Một nền hòa bình như vậy dựa trên tiềm năng tối thượng của chúng ta, và điều đó đòi hỏi sự tham gia của các tiềm lực tinh thần của chúng ta để tự chuyển hóa dẫn đến thay đổi xã hội dựa trên nhận thức.

Trong những năm qua, Đức Thánh Thiện và tôi đã gặp nhau một vài lần mỗi năm,
và tôi cũng là bạn của em trai Ngài, Ngari Rinpoche, và gia đình Ngài, cũng như nhiều người Tây Tạng khác. Những cuộc gặp gỡ này ngày càng trở nên sâu sắc hơn về chiều sâu và tình bạn. Tôi đã hình thành nhiều ấn tượng về con người của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nhớ rất rõ chuyến thăm tôi đã thực hiện sau Nghị Hội năm 1993 của các Tôn giáo Thế giới ở Chicago. Chúng tôi đã ngồi cùng nhau trong hai giờ khi Ngài nói chuyện với những người khác, tham gia một cuộc phỏng vấn và chia sẻ những câu chuyện với tôi. Vào dịp đó, tôi đã nhìn thấy rất rõ ràng Ngài thật sự giống như Đấng Kitô như thế nào, và tôi đã nói với anh ấy: ‘Tôi thấy Đấng Kitô trong Ngài nhiều hơn tôi đã nhận biết Đấng Kitô trong hầu hết các Kitô hữu! Tôi cho rằng tôi đã có thể sử dụng ngôn ngữ khác để thể hiện nhận thức tâm linh này. Có lẽ điều tôi thật sự nhận ra là sự thánh thiện, tình yêu và lòng từ bi của vị hiền nhân này. Một ấn tượng khác đã bén rễ là năng khiếu trực giác của Ngài, hay chúng ta có thể nói, về khả năng thấu thị, thậm chí là thần giao cách cảm. Món quà này không phải là một vấn đề nhẹ tênh, và tôi xem nó như một sản phẩm tất nhiên của sự thực chứng tâm linh. Rất nhiều lần khi có sự hiện diện của Ngài, tôi đã ý thức được việc Ngài hoàn toàn biết tôi và biết tôi đến từ đâu hoặc tôi đang bận tâm về điều gì. Ngài dường như lôi cuốn tôi vào một trạng thái tỉnh thức lớn hơn, bao gồm cả tôi trong chính Ngài. Không cần phải nói bất cứ điều gì, vì trong những thời điểm này, giao tiếp của chúng tôi là hoàn hảo và lời nói sẽ chỉ làm giảm đi những gì chúng tôi trải nghiệm và hiểu biết và có thể chỉ làm nhầm lẫn vấn đề.

Một ấn tượng nữa khiến tôi ấn tượng về trí tuệ uyên thâm, khả năng hiểu được hầu như mọi thứ của Ngài.
Tuy nhiên, những món quà trí tuệ của Ngài không phải là những khả năng trừu tượng, mà luôn phục vụ cho tinh hoa nhân văn, lòng nhân hậu của Ngài. Kiến thức của Ngài luôn luôn dựa trên nền tảng từ bi và trí tuệ, và đây là những phẩm chất thiết thực, những phẩm chất được tìm thấy trong các vị thánh của mọi truyền thống. Nhưng có quá nhiều hơn nữa. Ngoài những đặc điểm này, Ngài còn có khiếu tiếu lâm và vui tươi, những sức mạnh bất khuất mà thậm chí cả bi kịch và đau khổ không làm lu mờ. Về cơ bản, những gì tôi nhận thấy ở Ngài là một chủ nghĩa nhân văn rất phát triển bắt nguồn từ việc thực hành tâm linh và được mở rộng cho tất cả chúng sinh.

Quan Tâm Đến Tích Hợp Tri Thức

Đức Thánh Thiện đã quan tâm đến khoa học và các lĩnh vực kiến thức khác trong nhiều năm.
Ngài đã tham dự nhiều hội nghị trên khắp thế giới để cố gắng khám phá điểm chung giữa khoa học và tâm linh. Ngài nhận thấy hầu hết các cuộc họp này đều gây thất vọng vì lý do này hay lý do khác. Thông thường, họ không đạt được kỳ vọng của Ngài bởi vì - như Ngài nói - các nhà khoa học quá "cứng" hoặc quá "mềm". Bằng từ 'cứng', Ngài muốn nói là họ đã khép kín với chiều kích tinh thần của cuộc sống, và tuân theo một quan điểm hoàn toàn giản hoá luận không phê phán về khoa học, một quan điểm thật sự không khoa học chút nào!  Vấn đề với nhà khoa học ‘mềm’ là người ấy nhảy quá nhanh đến một điểm thông tục hoặc một cái nhìn tâm linh về khoa học và vũ trụ. Khoa học trong trường hợp này bị nghi ngờ mặc dù nhà khoa học ‘mềm’ thật sự có thể thông tuệ hơn nhà khoa học ‘cứng’.

Đức Thánh Thiện đã và đang bị hấp dẫn với khái niệm tổng hợp,
nỗ lực có ý thức để tìm ra điểm chung giữa tất cả các lĩnh vực kiến thức, và một mô hình thống nhất lớn hài hòa giữa khoa học, tôn giáo, tâm linh, công bằng xã hội, hòa bình và môi trường. Công việc hướng tới việc tìm ra một mô hình như vậy lần đầu tiên được hình thành trong hội nghị Tổng hợp I, hoặc Đối thoại Dharamsala, được tổ chức tại Dharamsala từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 9 năm 1999. Đức Thánh Thiện đã tham gia vào cuộc tụ họp quan trọng này, trong đó 110 người có mặt, 35 người trong số họ là những người tổng hợp tích cực, trong khi những người còn lại là các nhà quan sát và giới truyền thông. Các tổng hợp viên đại diện cho tất cả các ngành và lĩnh vực hoạt động chính. Có các nhà vật lý, nhà toán học, nhà sinh vật học, nhà thiên văn học, giáo thọ tâm linh và nhà thần học, những người trong chính phủ và ngoại giao, cũng như các nhà hoạt động làm việc vì sự thúc đẩy của hòa bình, công lý và môi trường.

Theo nhiều cách, sự kiện này mang tính lịch sử chứ không phải những gì nó đạt được, vì nó chỉ là sự khởi đầu và do đó không có kết quả đáng kể nào, mà là sự công nhận tâm linh như là cơ sở để tích hợp mọi tri thức.
Trong sự thừa nhận này, có một cái nhìn sâu sắc rằng tất cả kiến thức phải có mối quan hệ thực tế với sự cải thiện bản chất của con người và của những chúng sinh khác. Tâm linh, cuộc sống huyền bí, cung cấp một tầm nhìn thống nhất cho tri thức, và cho phép khoa học và tôn giáo có một sự cộng tác tích cực hơn, thật sự thân thiện hơn.

Hội nghị Tổng hợp II được triệu tập tại Trent, Ý từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7 năm 2001.
Khoảng 30 tổng hợp viên đã tham gia sự kiện này trong khung cảnh tuyệt đẹp xung quanh dãy núi Dolomite. Cuộc họp này tập trung hơn nhiều so với Đối thoại Dharamsala. Mục đích quan trọng của hội nghị này, và những cuộc đối thoại này, chỉ đơn giản là để có một số cuộc đối thoại liên quan vô ngã và chương trình nghị sự ẩn, trong tinh thần hữu nghị và cộng đồng theo cách mà một cảm giác xác thực thông cảm hiện hữu và một tầm nhìn mới xuất hiện.

Đối Thoại Tu Sĩ Phật Giáo / Kitô Giáo

Một mối quan tâm quan trọng khác của Đức Thánh Thiện là đối thoại giữa các tu viện. Mối quan tâm này đã được tiếp tục kể từ chuyến thăm của Thomas Merton đến Dharamsala, mặc dù đã có sự tiếp xúc giữa những tu sĩ theo Kitô giáo và các thành viên của truyền thống Thiền (Zen) và Phật giáo Thượng Toạ Bộ (Theravadan) trước chuyến hành trình của Merton đến Ấn Độ. Mối liên hệ với những tu sĩ Thiên Chúa giáo rất được lòng Đức Thánh Thiện và ngài đã nói rất nhiều điều với nhiều người trong những năm qua. Với Nghị Hội của các tôn giáo trên thế giới ở Chicago vào năm 1993 và Cuộc Gặp Gỡ Gethsemani tại tu viện Merton ở Kentucky vào tháng 7 năm 1996, cuộc đối thoại giữa các tu sĩ đã tiến bộ nhiều. Tháng 4 năm 2002 chứng kiến một hội nghị khác khi Gethsemani II được triệu tập. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tiếp tục tham gia như Ngài đã làm trong hai phiên họp trước. Trọng tâm của cuộc đối thoại tại Nghị viện rất cụ thể: Tánh Không (Sunyata) và sự từ bỏ của thiên tính (Kenosis[3]): Sự Trỗi Dậy Của Lòng Từ Bi Phổ Quát Trong Hành Trình Tâm Linh. Gethsemani I đã tổng quát hơn và khám phá nhiều chủ đề cùng quan tâm như đời sống tu viện trong mỗi truyền thống, vai trò của người thầy, giáo dục tu viện, kinh nghiệm huyền bí và thiền định. Nó mang tính lịch sử sâu sắc và hữu ích, là bước ngoặt trong mối quan hệ Thiên Chúa giáo / Phật giáo. Gethsemani II cũng quan trọng không kém.

Có thể thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các mối quan hệ giữa các tu viện và đối thoại giữa các tôn giáo với việc xuất bản cuốn Bách khoa toàn thư đầu tiên về Đời Sống ở Tu Viện.
Tác phẩm gồm hai tập này bao gồm chủ nghĩa tu viện của đạo Hindu, đạo Phật, đạo Kitô và đạo Jain, và thể hiện sự đóng góp rất cần thiết cho một khu vực bị bỏ quên cho đến nay. Các cuộc trò chuyện căng thẳng đang diễn ra, cùng với trao đổi hiếu khách giữa các tu viện do MID và Đức Thánh Thiện khởi xướng, không nghi ngờ gì nữa, là mối quan tâm cao độ đối với những gì đang diễn ra.

Sự trao đổi hiếu khách tu viện giữa các tu sĩ Thiên Chúa giáo và Tây Tạng đã diễn ra từ năm 1980.
Ngay từ khi bắt đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiệt tình ủng hộ nó và tiếp tục làm như vậy. Việc trao đổi hoạt động theo cách này. Bốn hoặc năm tu sĩ nam nữ Tây Tạng đến Hoa Kỳ và dành sáu tháng để thăm một số tu viện và các tổng thể của các cộng đồng Xitô (Cistercian), Trappist và Biển Đức (Benedictine). Thời gian họ ở một nơi lâu nhất có thể là ba tuần đến một tháng, tối thiểu là một tuần. Các tu sĩ nam nữ Kitô giáo , bốn hoặc năm người trong số họ, cũng dành một khoảng thời gian tương tự trong các tu viện lớn của Tây Tạng ở Ấn Độ. Các nhóm Thiên Chúa giáo luôn đến thăm Đức Thánh Thiện. Trong mỗi trường hợp — cho dù người Tây Tạng đến Hoa Kỳ, hay những tu sĩ Hoa Kỳ đến Ấn Độ để thăm các tu viện Tây Tạng — họ đi sâu vào việc tuân thủ quy luật tu viện của mỗi cộng đồng. Chất lượng và sự phong phú của các cuộc đối thoại cả tại Nghị Hội của các tôn giáo trên thế giới và tại Gethsemani, tôi mang ơn rất nhiều cho những cuộc trao đổi đặc biệt này trong những năm qua. Đức Thánh Thiện luôn nhấn mạnh sự cần thiết của tình bạn làm nền tảng cho cuộc đối thoại chân thành, một cuộc đối thoại đạt đến mức độ sâu sắc của sự thừa nhận lẫn nhau về truyền thống của nhau. Trong nhiều mối quan hệ của mình với những Kitô hữu, cũng như những người theo đạo Hindu, đạo Jain và người Do Thái, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuân theo lời dạy của chính mình: Ngài đã kết bạn với những người có truyền thống khác, và từ sự cởi mở và tình cảm, xuất phát và xung quanh những tình bạn này, Ngài trò chuyện với những người thân thiết với mình từ những truyền thống khác.

Đó là kinh nghiệm của tôi với Ngài kể từ khi bắt đầu tình bạn và sự cộng tác của chúng tôi.
Bởi vì chúng tôi có liên hệ với nhau, tức là vì chúng tôi là bạn bè, những người bạn tinh thần có mối liên kết bền chặt, chúng tôi có thể nói về bất kỳ chủ đề nào, ngay cả những chủ đề được coi là nhạy cảm trong truyền thống của mỗi chúng tôi. Chính tình bạn này có thể trở thành một loại công việc rất quan trọng mà người ta hy vọng sẽ dẫn đến vận mệnh cuối cùng của loài người: giải thoát và cứu độ.

Tầm Nhìn Tiên Tri Về Mối Quan Hệ Phật Giáo / Kitô Giáo

Công việc quan trọng này là một sự hợp tác mang tính tiên tri, thông qua quá trình đối thoại sâu sắc, thúc đẩy ý thức tiến lên trong mỗi truyền thống và theo nghĩa toàn cầu, phổ quát.
Từ mở màn-kết thúc của cuộc đối thoại, một cái gì đó mới sẽ xuất hiện cho nhân loại và cuối cùng, cho tất cả chúng sinh. Việc hướng tới nền tảng chung và hiểu biết nhiều hơn sẽ tạo ra một nhận thức mới, một quan điểm nâng cao hơn nhằm thống nhất những gì chân thật nhất trong mỗi truyền thống. Công việc này có thể mất hàng thế kỷ, thậm chí hàng thiên niên kỷ, nhưng sẽ đến một ngày Kitô giáo và Phật giáo cùng nhau đưa ra một tầm nhìn mới cho thế giới.

Trong hội nghị Tổng hợp I tại Dharamsala, tôi chợt nhận ra một cái nhìn sâu sắc lúc gần kết thúc hội nghị, một cái nhìn sâu sắc mà tôi gọi là hạt giống của sự tổng hợp, và nó có liên quan đến mối quan hệ cộng tác và đối thoại Phật giáo / Kitô giáo.
‘Hạt giống’ của sự tổng hợp có thể được hình thành theo cách này: Thần thánh như một ma trận (khuôn thước) của sự phát sinh phụ thuộc hay duyên sanh. Đức Thánh Thiện đã có mặt vì điều này và những ‘hạt giống’ khác từ những người tham gia khác trong Các cuộc Đối thoại Dharamsala. Hãy để tôi giải thích ngắn gọn ở đây. Tôi tin rằng sự tích hợp hai hiểu biết chính này đại diện cho một hiện thân của Trí tuệ Nhập thể Thần thánh (tuệ trí hiện hữu siêu nhiên).

Thần thánh như một ma trận của duyên sanh và hợp nhất cái nhìn sâu sắc thiết yếu của mỗi truyền thống này.
Duyên khởi là sự liên kết của tất cả chúng sinh; sự phụ thuộc lẫn nhau nội tại của chúng tồn tại trong ranh giới ma trận của ý thức vô biên, và ý thức này chính là Thần thánh. Ma trận vừa định nghĩa vừa chứa đựng, và trong trường hợp của ma trận Thần thánh, nó xác định và chứa mối liên kết của tất cả chúng sinh. Thần thánh, theo kinh nghiệm thần bí của Kitô giáo, là chính sự liên hệ, hay sự kết nối, của tất cả chúng sinh cùng phát sinh. Đó là ý thức vô hạn được khởi động bởi lòng từ bi và tình yêu thương thiêng liêng. Ý thức như yêu thương, từ bi, nhân hậu, tốt bụng, thông minh và hiểu biết kết nối tất cả chúng sinh trong một cộng đồng vũ trụ, bản thể học. Đây là một cái nhìn sâu sắc phải được xem xét hết sức cẩn thận.

Có nhiều điểm chung khác giữa truyền thống Phật giáo và Kitô giáo và một số điểm chung này đang được thảo luận trong các cuộc đối thoại giữa các tu sĩ,
trong các diễn đàn của Hiệp hội Nghiên cứu Phật giáo / Kitô giáo, và trong hàng trăm diễn đàn học thuật trên khắp thế giới. Chúng đang được suy nghĩ bởi cá nhân các hành giả và các nhà văn, những người tiên phong của tâm linh, mở ra những tầm nhìn mới về hiện thực và văn hóa phổ quát. Một lần nữa, Đức Thánh Thiện thường dẫn đường bằng sự cởi mở và những hiểu biết sâu sắc của Ngài về điểm chung có thể có, chẳng hạn như khi Ngài gặp gỡ các Kitô hữu và phản chiếu về ý nghĩa bên trong của Tin Mừng.

Phật tử và Kitô hữu là bạn bè và tham gia vào các cấp độ đối thoại cuối cùng là những người phục vụ cho một mục đích lớn hơn của cả hai truyền thống,
và họ chịu trách nhiệm về công việc này bởi vì họ có ý thức làm cho nó trở nên khả thi. Với ý thức của họ là gánh nặng trách nhiệm mà họ không thể lẫn tránh hay chạy trốn. Đức Thánh Thiện có ý thức về điều này khi ngài nói về trách nhiệm phổ quát của chúng ta.

Tây Tạng, Cơ chế Tu viện và Giáo hội Thiên Chúa giáo

Trong nhiều năm nay, nhiều người trong chúng tôi từ giới tu sĩ đã đứng trong tình đoàn kết với Đức Thánh Thiện  và dân tộc Tây Tạng,
đã cố gắng và tiếp tục cố gắng đánh thức Giáo hội Thiên Chúa giáo về trách nhiệm đạo đức mà nó phải có trong việc hỗ trợ tương tự cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Trong thần học và văn hóa Thiên Chúa giáo, chúng tôi thích thuật ngữ ý thức hoá (khoa học phê phán) để chỉ sự thức tỉnh luân lý đối với các vấn đề công lý. Chúng tôi đang tham gia vào quá trình sáng tạo như vậy, và không chỉ đơn giản là trong nhà thờ, mà còn mở rộng ra tất cả các tôn giáo khác và trên thế giới nói chung.

Đức Thánh Thiện đã theo dõi sự phát triển này với sự quan tâm sâu sắc và chủ nghĩa hiện thực.
Cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa thành công trong việc nâng mức độ quan tâm của La Mã (Rome) về vấn đề Tây Tạng lên một vị trí ưu tiên cao. Tại Nghị Hội của các Tôn giáo Thế giới năm 1993, giữa phiên Đối thoại Tu sĩ Phật giáo / Kitô giáo, MID đã giới thiệu Văn kiện Nghị quyết về Tây Tạng. Nó đã được đọc và trình bày cho Đức Thánh Thiện. Ngài rất hài lòng với hành động này.

Tôi tin rằng sẽ có một ngày nhà thờ xuất hiện mạnh mẽ, đứng cùng với người dân Tây Tạng, nhưng điều này vẫn sẽ mất một thời gian nào đó.
Tôi cảm thấy thời gian gần hơn nhiều so với suy nghĩ của nhiều người. Chúng ta cần tiếp tục thúc đẩy, tức là nêu vấn đề bất cứ khi nào có cơ hội và sẵn sàng trò chuyện với bất kỳ ai sẵn sàng lắng nghe. Không ngừng theo đuổi công lý cuối cùng sẽ được một mùa bội thu. Tôi tin rằng tiếng nói của nhà thờ Thiên Chúa giáo sẽ cung cấp sự hỗ trợ giúp nhân loại cụ thể hóa thảm kịch Tây Tạng.

Tầm Quan Trọng Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Có nhiều lý do khiến tôi cảm thấy không đủ tư cách để đánh giá sự đóng góp của Ngài đối với hành tinh của chúng ta và đề xuất ý nghĩa lịch sử của Ngài.
Ngài là một nhân vật hiếm có, rất độc đáo và vô cùng quý giá, được làm nên xa hơn bởi hoàn cảnh của dân tộc Ngài và vai trò hấp dẫn mà Ngài đang đảm nhận với tư cách là một vị thầy tâm linh toàn cầu. Một số thuộc tính nâng cao đóng góp của Ngài và cực kỳ có giá trị trong thời đại mới này.

Đầu tiên là cái mà tôi gọi là chủ nghĩa nhân văn tinh thần của Ngài, khả năng của Ngài để liên hệ với mọi loại người, có và không có bất kỳ cam kết cụ thể nào đối với một truyền thống.
Ngài đã thấy rõ điều gì thật sự quan trọng: chủ yếu là cách chúng ta đối xử với nhau, kể cả những chúng sinh khác như thế nào. Trong cuốn sách Đạo Đức Cho Thiên Niên Kỷ Mới, Đức Thánh Thiện đã đưa ra một tầm nhìn về đạo đức có thể nói là một dạng tâm linh tự nhiên, sự hiểu biết về đạo đức cho thấy những phẩm chất trong bản chất con người của chúng ta mang tính phổ biến và là nền tảng không chỉ của đạo đức mà còn là những gì tốt đẹp nhất của tôn giáo và tâm linh. Ngài cam kết trình bày một hướng dẫn thiết thực về đời sống đạo đức dựa trên điểm chung của các đặc điểm của con người là lòng trắc ẩn, tình yêu thương, lòng nhân từ và lòng thương xót cho những người theo hoặc không thuộc bất kỳ tôn giáo nào trên thế giới. Trong lời dạy này, Ngài đưa ra lời khuyên cụ thể cho toàn thể nhân loại.

Sự nổi bật của Ngài là một biểu tượng của chiều sâu tâm linh và nhân bản, một sự hiện diện mạnh mẽ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết ủng hộ sự thay đổi, chuyển hóa trái tim và công lý cho dân tộc của mình.
Sự hiện diện về con người và tinh thần của Ngài trong lịch sử được củng cố bởi phong cách lãnh đạo khiêm tốn, ôn hoà, thường được truyền tải bằng sự tiếu lâm và tiếng cười. Bản chất của sự hiện diện và sự giảng dạy của Ngài cũng được biểu lộ qua con người của Ngài, hơn là vị trí của Ngài.

Sự hào phóng của Ngài với tư cách là một người thầy mang lại lợi ích cho tất cả chúng ta, và đã đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống của hàng nghìn người phương Tây và hàng triệu người Tây Tạng.
Lời dạy tinh tế của Đức Thánh Thiện về trách nhiệm phổ quát thể hiện một điều gì đó mới mẻ và thích thú; nó xoay xở để tránh quan điểm thô kệch, hoặc cạm bẫy của chủ nghĩa dân tộc và gợi lên những gì sâu sắc nhất, chân thật nhất trong tất cả chúng ta. Nó kêu gọi lòng nhân hậu cơ bản và thông thường của chúng ta. Đức Đạt Lai Lạt Ma, giống như các nhà lãnh đạo tinh thần khác trên thế giới, là một tiếng nói hùng hồn ủng hộ tích cực hành tinh và không có nhà lãnh đạo tinh thần nào khác có thể sánh bằng sự đóng góp của Ngài vào tỉnh thức sinh thái.

Nhìn chung, Đức Thánh Thiện là một người có tầm nhìn xa.
Về mặt này, giống như một vòng tròn, tôi muốn quay lại khoảnh khắc đó khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên cách đây nhiều năm ở Anh quốc. Khi Ngài nói vào dịp đó, anh ấy đã nói một điều gì đấy đã luôn ở lại với tôi, tạo nên một ấn tượng không thể phai mờ. Ngài nhận xét, "Chúng ta phải giữ sự chú ý và quyết tâm của mình hướng đến phía chân trời xa, và không bị phân tâm bởi những gì không quan trọng." Ngài là bậc thầy của vận mệnh mà tất cả chúng ta đang hướng tới. Ý nghĩa rốt ráo của Ngài liên quan đến vận mệnh này. /.

Ẩn Tâm Lộ - Wednesday, October 19, 2022
Trích từ quyển Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 

 



[1] Tu sĩ dòng Luyện tâm (giáo phái sống rất khắc khổ và phát nguyện không bao giờ nói)

[3] Kenosis: (trong thần học Kitô giáo) sự từ bỏ của thiên tính, ít nhất là một phần, bởi Chúa Kitô trong Nhập thể.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

TỪ BI TRONG THỰC HÀNH


Nguyên tác: Compassion In Practice[1]*
Tác giả: Matthieu Ricard
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn
***


Nằm dưới chân của đỉnh núi Himalaya bí ẩn và hùng vĩ, Dharamsala đang ngủ yên. Một vài ngọn đèn chiếu sáng trên đỉnh đồi cây cối rậm rạp. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn thức dậy. Bây giờ là 3 giờ 30 sáng. Đây là cách mà một ngày của một trong những người đáng chú ý nhất trong thế kỷ của chúng ta bắt đầu, với lời cầu nguyện và thiền định. Dù ở bất cứ đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mỗi ngày, vào buổi sáng, vị lãnh đạo tâm linh và thế tục của người dân Tây Tạng đều thiền định trong bốn giờ. Đó là một sự thiền định, trên hết là một lời cầu nguyện sâu sắc cho điều tốt đẹp của tất cả chúng sinh.

Đó là một căn phòng đơn giản, với những tấm gỗ được đánh vecni, không có những đồ trang trí quý giá thường thấy của các ngôi chùa Tây Tạng. Một bức tượng của Đức Phật, những bức ảnh của các bậc thầy tâm linh của Ngài và một số cuốn sách thiêng liêng được lưu giữ trên một bàn thờ nhỏ. Vào khoảng 6 giờ sáng, Đức Đạt Lai Lạt Ma dùng bữa sáng bổ dưỡng trong khi nghe tin tức trên đài BBC, vì giống như tất cả các nhà sư Phật giáo, Ngài không ăn vào buổi tối. Sau đó, Ngài tiếp tục thiền định cho đến 8 hoặc 9 giờ sáng.

Dù sao đi nữa, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn duy trì kỷ luật này, điều này mang lại cho Ngài sức mạnh mà Ngài rất cần để theo đuổi hoạt động của mình vì sự nghiệp Tây Tạng một cách không mệt mỏi. Năm 1989, khi Ngài nhận giải Nobel, các nhà báo đã lao vào sáng sớm để trở thành những người đầu tiên có được phản ứng của nhà lãnh đạo Tây Tạng. Câu trả lời duy nhất mà họ có thể nhận được từ nhà sư thị giả lịch sự và kín đáo, người mà trong suốt ba mươi năm qua, đã trung thành chăm sóc các nhu cầu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, là: “Ngài vẫn chưa có tin tức. Chúng tôi không bao giờ làm phiền Ngài khi Ngài đang cầu nguyện.”

Để kết thúc buổi thiền tập của mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma đi đến một căn phòng nơi cất giữ một số xá lợi quý giá được mang từ Tây Tạng về. Trong số đó có một bức tượng Phật bằng kích thước người thật, được điêu khắc bằng gỗ đàn hương, do những tín đồ của Ngài đã tặng cho Ngài, những người đã thành công trong việc cứu nó khỏi bị phá hủy trong cuộc xâm lược của  Tàu Cộng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đảnh lễ hàng trăm lần trước bức tượng thiêng liêng này, mà đối với Ngài là Đức Phật thật sự; đây là sự tôn kính khiêm tốn mà Ngài dành không phải cho một vị thần linh mà là cho sự Thức tỉnh, Tri thức tối cao.

Vào khoảng 9 giờ sáng. Tôi đến văn phòng của mình nếu tôi phải gặp gỡ mọi người, "Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. ‘Nếu không, tôi làm việc trên một số văn bản. Tôi làm mới lại trí nhớ của mình về những tác phẩm mà tôi đã nghiên cứu trong quá khứ và tôi suy ngẫm sâu sắc hơn về những lời bình luận của các bậc thầy vĩ đại của nhiều trường phái Phật giáo Tây Tạng. Tôi suy ngẫm về những lời dạy và tôi thực hiện một số thiền quán. Khoảng 2 giờ chiều, tôi ăn trưa. Sau đó, đến 5 giờ chiều. Tôi xem lại các công việc hiện tại. Tôi gặp những người được bầu chọn của người dân Tây Tạng, các bộ trưởng của Chính phủ Lưu vong và các bộ phận chức năng khác, và tôi gặp những vị khách. Khoảng 6 giờ chiều, tôi uống trà. Nếu tôi đói, tôi xin phép Đức Phật để ăn một ít bánh quy, [cười. . .] Cuối cùng tôi cầu nguyện buổi tối và tôi ngủ vào khoảng 9 giờ tối. Đó là phần tốt nhất trong ngày! Tôi ngủ ngon cho đến 3h30 sáng hôm sau.”

Vào cuối ngày, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ kết thúc bằng một lời cầu nguyện, mà Ngài nói rằng sẽ truyền cảm hứng cho mọi khoảnh khắc trong cuộc sống của Ngài:

Khi không gian còn tồn tại,
Khi chúng sinh còn hiện hữu,
Nguyện tôi cũng sẽ ở lại
Để xua tan sự khốn cùng của thế giới.


Gặp gỡ nhiều du khách đã đến từ Tây Tạng là một khoảnh khắc đặc biệt thương cảm. Để được gặp Đạt Lai Lạt Ma ít nhất một lần trong đời, Tendzin, vợ và hai con của ông đã vượt qua những con đèo tuyết ở độ cao hơn 5000 mét, trốn tránh quân đội  Tàu Cộng đang kiểm soát biên giới và từ chối cho phép người Tây Tạng đến Ấn Độ. Một số bạn đồng hành của Tendzin đã phải cắt cụt những ngón chân bị đóng băng của họ. Nhưng cuối cùng họ cũng ở đây, những giọt nước mắt tuôn dài trên má, cố gắng hết sức kìm nén cảm xúc để trả lời Đức Đạt Lai Lạt Ma, người, bằng giọng vang vang tuyệt vời của mình, đang hỏi về chuyến phiêu lưu của cá nhân họ và tình hình ở Tây Tạng. Ngài hỏi Guedun, một nhà sư, trong suốt hai mươi năm ở trong tù, đã bị tra tấn nhiều lần, “Ông đã bao giờ cảm thấy sợ hãi chưa?” Cúi đầu xuống, nhà sư trả lời; "Nỗi sợ hãi lớn nhất của tôi là cảm thấy căm thù những kẻ đã tra tấn mình."

Nơi ở của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn ra vùng đồng bằng rộng lớn của Ấn Độ mở ra vô tận dưới cửa sổ của ngài. Ở phía bắc, một số đỉnh núi hùng vĩ nhắc nhở chúng ta rằng Tây Tạng chỉ cách vài trăm km đường quạ bay, vượt ra ngoài dãy núi hùng vĩ bao quanh Nóc nhà của Thế giới. Đất nước tuyết sơn, gần như cho đến nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma thể tiếp cận, khi nào cư dân của nó vẫn bị từ chối các quyền tự do cơ bản.

Một bầu không khí dịu nhẹ và một sự yên bình tốt lành bao quanh nơi ở này. Mọi người đều nói chuyện nhẹ nhàng, ý thức về sự phù phiếm của những lời nói thừa và sự trôi đi vô tình của thời gian, món quà quý giá này sẽ cuốn đi mọi khoảnh khắc của cuộc đời chúng ta. Không một cử chỉ hay lời nói thừa. Sự im lặng bằng vàng này chỉ được chiếu sáng bằng âm thanh gợn sóng từ tiếng cười nhân từ của Kundun, ‘Đấng Thị Hiện’, như người Tây Tạng yêu thương và kính trọng gọi Đức Đạt Lai Lạt Ma: Ngài là người không bao giờ vắng mặt khi bạn ở trước mặt Ngài và luôn hiện diện khi bạn ở xa Ngài. Đôi khi tiếng cười vui vẻ này được thay thế bằng một nụ cười mỉm im lặng khi Đức Đạt Lai Lạt Ma nhập thất trong một tháng hoặc vài tuần mỗi năm. Những lời duy nhất của Ngài sau đó là những lời cầu nguyện mà Ngài truyền đạt thông qua cử chỉ hoặc bằng văn bản. Khóa tu hay nhập thất là mối quan hệ phong phú của một sự quán chiếu hướng nội và lòng trắc ẩn từ bi, những thứ dễ dàng tỏa sáng ra thế giới bên ngoài.

Một ngày điển hình của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại tư dinh của ngài dường như rất đơn giản và yên bình. Tuy nhiên, một vài tháng trong năm, lịch trình có trật tự này bị gián đoạn vì những chuyến đi xa của Ngài và những trao truyền mà Ngài giảng dạy ở Ấn Độ hoặc nước ngoài cho những đám đông đôi khi lên đến hàng trăm nghìn người. Sự cần thiết phải đáp ứng nguyện vọng của mọi người và để ủng hộ sự nghiệp của Tây Tạng tạo ra cho người hành hương hòa bình không mệt mỏi này một lịch trình bận rộn cho phép ít thời gian nghỉ ngơi. Bất chấp điều này, Kundun (Đấng Thị HIện) vẫn giữ một vẻ thanh thản không thay đổi. Đối với tất cả mọi người, dù là du khách hay người qua đường gặp ở sân bay, Ngài đều có mặt toàn bộ và ngay lập tức, với ánh mắt nhân hậu tràn ngập thấu tận trái tim bạn để lại nụ cười ở đó trước khi biến mất một cách kín đáo.

Tuy nhiên, lòng tốt không nên bị nhầm lẫn với sự yếu đuối và vì thế, khi cơ hội xuất hiện, sức mạnh của nhà hùng biện đột nhiên bừng tỉnh. Đến quán bar ở Paris, nơi đã chào đón Ngài rất nồng nhiệt, Ngài đã phát biểu như sau: “Cuộc đấu tranh của tôi cho người dân Tây Tạng không phải là một trong những trận chiến mà ở phần cuối, có một kẻ chiến thắng và một kẻ bại trận, hay thường xuyên hơn là hai kẻ bại trận. Những gì tôi cố gắng có được bằng tất cả khả năng của mình là chiến thắng của sự thật.”

Ngài thường giải thích mục tiêu chính của tất cả các chuyến đi của mình là để thúc đẩy giá trị con người và góp phần vào sự hiểu biết giữa các tôn giáo tốt hơn. Đối với Ngài, rõ ràng là một nền giáo dục nhằm mục đích phát triển trí thông minh của thanh thiếu niên và cung cấp cho chúng một lượng lớn thông tin là không đầy đủ. "Những người chuẩn bị cho thảm họa ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã dành thời gian cho nó với rất nhiều thông tin tình báo. Nhưng họ đã sử dụng thông tin tình báo này để chuẩn bị một hành động không thể tưởng tượng được như việc sử dụng một chiếc máy bay chở đầy người như một quả bom để giết những người khác." Ngài nhấn mạnh rằng điều cấp thiết là phải giúp thanh thiếu niên phát triển những phẩm chất của con người để giúp chúng sử dụng trí thông minh của mình một cách khôn ngoan và vị tha.

Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, điều quan trọng không kém là nhận ra rằng chính tâm trí của chúng ta mới trải qua hạnh phúc và đau khổ; với hy vọng tìm thấy hạnh phúc bên ngoài chính mình, chúng ta đang đi sai đường. Vào tháng 11 năm 2001, trong một chuyến thăm đến Bồ Đào Nha, nơi Ngài nhận thấy rằng lĩnh vực xây dựng đang hoạt động rất sôi nổi, Ngài đã sử dụng một hình ảnh nổi bật để minh họa cho điểm này. "Nếu ai đó vừa chuyển đến tầng một trăm của một căn chung cư sang trọng mà bản thân không hài lòng, điều duy nhất anh ta sẽ tìm kiếm là một cánh cửa sổ từ đó anh ta có thể tự tung mình." Do đó, điều cần thiết là phải tìm thấy hạnh phúc trong chính chúng ta và nhận ra rằng hạnh phúc của chúng ta được liên kết mật thiết với hạnh phúc của những người khác.

Tất cả điều này không loại trừ sự hài hước hoặc giản dị. Tôi đã thấy Ngài thường xuyên như thế nào, ngay sau khi chào tạm biệt một tổng thống hoặc một bộ trưởng, bắt tay với người gác cửa trong vọng gác của anh ấy, hoặc với nhân viên điều hành điện thoại sau cửa sổ kính của cô ấy, hoặc tinh nghịch gõ nhẹ vào mặt sau của người lính bảo vệ cộng hòa cứng rắn với thanh kiếm và bộ đồng phục tuyệt vời của mình, đến lượt mình, người này ngạc nhiên nhưng vui mừng vì ai đó đang đối xử với mình như một con người. Khi Danielle Mitterand, phu nhân của tổng thống Pháp đầu tiên, đến thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài đã đưa bà đi vòng quanh Dharamsala. Trước một bức tượng lớn của Đức Phật trong một ngôi chùa của tu viện, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kính cẩn chỉ vào và nói: ‘Ông chủ của tôi.’

Thông điệp của Ngài luôn giống nhau và Ngài không mệt mỏi khi lặp lại nó cho những người muốn nghe nó: ‘Mỗi người, dù là thù địch, cũng giống như tôi, là một sinh thể đang đối mặt với đau khổ và khao khát hạnh phúc; anh ta có mọi quyền để được thoát khỏi đau khổ và đạt được hạnh phúc. Sự phản chiếu này khiến chúng ta cảm thấy quan tâm sâu sắc đến hạnh phúc của người khác, dù người ấy là bạn hay kẻ thù. Đây là cơ sở của lòng trắc ẩn từ bi đích thực."

Sức mạnh không thể giải thích của lòng từ bi trắc ẩn trở nên rõ ràng nhất trong những chuyến viếng thăm bất ngờ. Tôi nhớ vào một đêm nọ, khi kết thúc cuộc gặp gỡ với các sinh viên trẻ tại Đại học Bordeaux, trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đang băng qua một đám đông tập hợp những người không tìm thấy chỗ trong giảng đường, có một cặp vợ chồng già ở bên cạnh, không dám hòa vào đám đông đang chen lấn. Người chồng đang đứng sau người vợ già yếu đang ngồi trên xe lăn. Ánh mắt luôn cảnh giác của Đức Đạt Lai Lạt Ma đổ dồn vào họ; Ngài băng qua đám đông để đi đến nắm tay bà cụ và nhìn sát vào bà, mỉm cười, không nói lời nào ngoại trừ lòng yêu thương vô hạn không thể diễn tả được. Sau những khoảnh khắc tưởng chừng như vĩnh viễn này, ông lão nói với vợ: "Bà thấy không, ông ấy là một vị thánh."

Vào một dịp khác, tại buổi hòa nhạc của Tổ chức Ân xá Quốc tế ở Bercy vào tháng 12 năm 1999, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma, một vị khách bất ngờ, bước lên sân khấu rực sáng giữa hai bài nhạc rock. 15.000 người trẻ đã đồng loạt đứng lên và bày tỏ sự hoan nghênh mạnh mẽ đối với một bậc thầy của bất bạo động. Sau đó, họ lắng nghe trong im lặng, điều không bình thường ở những nơi như vậy, đến những lời ấm áp mà Ngài nói với họ. Sau khi Ngài nói, một lần nữa vang lên tiếng hoan hô vang dội từ hội trường. Làm thế nào người ta giải thích được sự nhất trí như vậy, một phản ứng chân thành đến từ một đám đông không được chuẩn bị trước? Nó gợi nhớ đến Gandhi, Martin Luther King. . . đám đông này đã thẩm thấu được chiều sâu của trái tim Ngài.

Khi bạn hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma tại sao Ngài lại gợi lên những phản ứng nồng nhiệt như vậy, Ngài trả lời: “Tôi không có bất kỳ phẩm chất đặc biệt nào. Có lẽ đó là bởi vì trong suốt cuộc đời tôi, tôi đã thiền định với tất cả sức mạnh của tâm trí về tình yêu và lòng từ bi."

Một trong những tương tác mạnh mẽ nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma với những người khác là trong quá trình giảng dạy của Ngài. Không có những lời hùng biện rực lửa mà là một triết lý tĩnh lặng và sâu sắc (kết hợp với những lời khuyên chân thành và óc hài hước mạnh mẽ) về cách trở thành một con người tốt hơn. Cách giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma vô cùng hợp lý và thiết thực. Tuy nhiên, bởi vì những điều đơn giản mà Ngài nói là sự chắt lọc từ sự thực hành tâm linh đích thực suốt đời và kinh nghiệm trực tiếp của Ngài, chúng không bao giờ là viễn vông. Khi Ngài nói với bạn rằng một trái tim tốt là phẩm chất quý giá nhất mà bạn có thể phát triển, điều đó nghe có vẻ không bao giờ là sáo rỗng, vì bản thân Ngài cũng có một trái tim bao la như vậy.

Đôi khi Ngài có thể đọc ra một bài thi kệ.

Nguyện tôi trở thành người bảo vệ cho những người không được bảo vệ,
Một hướng dẫn cho những người du hành trên đường.
Đối với những người muốn đi qua mặt nước,
Nguyện cho tôi là thuyền, là bè, là cầu.
Nguyện cho tôi là một hòn đảo cho những ai khao khát được lên bờ,
Và một ngọn đèn cho những ai khao khát ánh sáng;
Đối với những người cần một nơi nghỉ ngơi, một chiếc giường;
Nguyện cho tôi được làm nô lệ cho tất cả những ai cần tôi tớ.
Giống như trái đất và các yếu tố lan tràn,
Trường tồn như bầu trời chịu đựng,
Đối với vô số sinh vật sống,
Nguyện cho tôi là nền tảng và nguồn sống của họ.
Vì vậy, đối với tất cả mọi thứ đang sống, Theo như giới hạn của bầu trời,
Nguyện tôi có thể cung cấp sinh kế và sự nuôi dưỡng cho họ
Cho đến khi họ vượt qua khỏi những ràng buộc của đau khổ.


Việc đọc một đoạn thi kệ như vậy có thể khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma rơi nước mắt. Ngài dừng lại và chờ đợi một cách im lặng, khiêm tốn, cho đến khi Ngài có thể nói lại. Không có dấu hiệu của sự phô trương trong sự biểu lộ cảm giác yên tĩnh này.

Vào những lúc khác, khi Ngài minh họa bài bình luận của mình bằng những giai thoại hoặc nhận xét về điều gì đó bất thường trong đám đông, Ngài có thể vỡ òa trong những tràng cười sảng khoái và tự phát với sự tự do không bị cấm đoán của một người sống tách biệt khỏi những bận tâm trần tục. Điều này gợi nhớ một thi kệ của thiền giả Tây Tạng Shabkar thế kỷ 19:

Nhìn tiếng cười thích thú của tôi!
Niềm vui của một tâm trí rộng lớn, tự do!
Kinh nghiệm của sự nhẹ nhàng của hiện hữu
Như khi trồi lên từ một hẻm núi hẹp
Lên đèo cao, đèo rộng!
Nhìn thế nào, khỏi lầm tưởng mọi thứ là thật,
Tôi hạnh phúc, và còn hạnh phúc hơn,
Tận hưởng cảnh giới của sự tỉnh thức nguyên thủy!


Khi Đức Thánh Thiện trao truyền những giáo lý mở rộng, chẳng hạn như quán đảnh Thời Luân Mật pháp hoặc Kalachakra, đám đông vô số tụ tập để lắng nghe Ngài một cách im lặng. Vào năm 1985 và 2002, khi ngài trao truyền Thời Luân Mật pháp ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật thành đạo, hơn 200.000 tín đồ đã tụ tập để tham dự các buổi giảng dạy, bao gồm cả những bậc thầy tâm linh chính của các truyền thống Phật giáo Tây Tạng khác nhau. Vài nghìn người đã tìm cách đi xuống từ Tây Tạng, thách  thức các lính  Tàu Cộng canh phòng biên giới để thoát khỏi một thời gian sự đàn áp không ngừng của chế độ cộng sản, vượt qua những đèo cao tuyết trắng trong những chuyến đi hiểm nguy mà phải trả giá bằng vài mạng sống của họ.

Thật là một cảnh tượng tuyệt vời khi nhìn họ, ngồi ở những hàng đầu tiên, ước mơ của họ đã thành hiện thực ngoài sức tưởng tượng— không chỉ có thể có được cái nhìn thầm kín về nhà lãnh đạo và bậc thầy tâm linh yêu quý của họ, mà cũng có thể ngồi cả ngày dài trong một tuần ngay trước mặt Ngài! Trong khí hậu ấm áp, họ vẫn đi giày ống bằng nỉ, áo khoác da cừu và giật xuống áo khoác của Trung Quốc hầu như không bảo vệ họ khỏi cái lạnh tê tái trong chuyến hành trình của họ. Đôi mắt của họ nhìn mọi thứ theo một cách khác với đôi mắt của những người Tây Tạng đã tị nạn ở Ấn Độ hơn ba mươi năm. Mọi thứ đều mới mẻ đối với họ, đặc biệt là sự tự do. Giữa những khán giả chăm chú này, họ là những gương mặt có tính cách và vẻ đẹp đáng kinh ngạc, ánh mắt của họ trong veo như bầu trời khi họ nhìn Đức Đạt Lai Lạt Ma với lòng nhiệt thành trào dâng từ tận xương tủy của họ. /.

Ẩn Tâm Lộ - Sunday, October 9, 2022
Trích từ quyển Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 

 



[1] *This article is a revised version o f the one earlier published in Buddhist Himalaya by Matthieu Ricard, Olivier Follmi and Danielle Follmi, Editions La Martiniere, Paris, 2002.





Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

MỘT CON NGƯỜI RẤT NGƯỜI


Nguyên tác: A Very Human Human Being
Tác giả: M. Craig
Chuyển ngữ: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính


***

Đó là tháng 9 năm 1989. Những cơn mưa gió mùa đang trút xuống và những con đường của Dharamsala đã trở thành bùn khi tôi lên đường đến tu viện Thekchen Choeling cho buổi yết kiến đầu tiên của tôi với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vài tháng trước đó, khi tôi đang tìm kiếm chủ đề cho cuốn sách tiếp theo của mình, một người bạn đã gợi ý về Tây Tạng. Tôi nghĩ đấy là một ý tưởng điên rồ - một đất nước xa xôi, một dân tộc có ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa mà tôi không biết gì về bất cứ điều gì. Mặc dù tôi đã nghe nói về Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng tôi phải thừa nhận hình ảnh tưởng tượng của mình đã xáo trộn khi đưa ra nhiều ký ức mờ nhạt về Đường Chân Trời Bị Mất hơn là thực tế. Tôi đã không nghe nói về Dharamsala, cũng như số lượng lớn người tị nạn ở đó, cũng không phải là nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thật sự sống.

Ý tưởng đã bắt nguồn và đặc biệt là sau khi tôi được hứa với một cuộc diện kiến với Đức Thánh Thiện, tôi bắt đầu khám phá khả năng đến Dharamsala để tự mình thấy. Tôi đã nghiên cứu cẩn thận về lịch sử Tây Tạng gần đây và bị choáng ngợp bởi sự khủng khiếp của những gì tôi khám phá về sự chiếm đóng của Tàu Cộng. Đến Dharamsala và được tiếp cận với những người tị nạn, tôi thấy mình khóc lóc với cơn thịnh nộ và thương hại và ghê tởm khi những câu chuyện của họ phơi bày. Khi thời gian đến gần với sự diện kiến của tôi với Đức Đạt Lai Lạt Ma, bằng cách nào đó nó bắt đầu có vẻ không cần thiết và tự sung sướng, một sự xao lãng từ thực tế khủng khiếp mà tôi đã đắm chìm. Đó chắc chắn là một cuộc gặp gỡ chính thức ngắn gọn, một sự diễn ra trong nghi thức hơn là một cuộc gặp gỡ của tâm trí.

Tôi đã sai như thế nào! Đức Đạt Lai Lạt Ma  đã chào đón, ấm áp và ấn tượng sâu sắc. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình nghĩ rằng đây là con người rạng rỡ nhất mà tôi từng gặp. Không có một sự trần tục vô nghĩa nào về Ngài, nhưng cũng là một sự thanh thản sâu sắc và bình yên bên trong. Không phải là một dịp cứng nhắc và trang trọng, đó là một cuộc gặp gỡ của người với người, trong đó tôi cảm thấy vừa bị thách thức và được hòa nhập. Vị hiền nhân này, tôi tự nói với mình một cách kinh ngạc, có thể đọc tôi như một cuốn sách mở, nhưng hoàn toàn chấp nhận những gì Ngài thấy.

Ngài bày tỏ sự quan tâm đến kế hoạch viết về những người tị nạn đang được hình thành một nửa của tôi, và ngay sau đó các câu hỏi được đưa ra - chủ yếu là về tình hình hiện tại ở Tây Tạng và về nguy cơ những người Tây Tạng trẻ tuổi ở Tây Tạng trở thành bạo lực (ngay sáng hôm đó Ngài đã tham dự Phiên khai mạc sôi nổi của một Đại hội Thanh niên Tây Tạng đồng cảm với ý kiến). Thời gian trôi qua, tôi phân bổ hai mươi phút trở thành nửa giờ, rồi một giờ, một giờ rưỡi, và chúng tôi vẫn đang ở trong tình trạng sôi nổi. Khi kết thúc, chúng tôi chụp ảnh chung, có những món quà gồm những cuốn sách có chữ ký, những chiếc khăn quàng cổ, những đồng xu cũ, và nó giống như sự chia tay của hai người bạn cũ, với rất nhiều bàn tay và lời mời tôi đến thăm lần sau. ở Dharamsala. Lần tới? Với cuộc gặp gỡ này, mọi nghi ngờ còn lại về cuốn sách đã tan biến. Tôi cảm thấy rất tốt đẹp và thật sự kết nối.

Tháng Năm năm sau, tôi trở lại cho một mùa mới với những cuộc phỏng vấn đau lòng hơn bao giờ hết với những người tị nạn. Một lần nữa tôi được gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma và mong chờ một buổi gặp gỡ lặp lại lần đầu tiên. Tôi vẫn chưa biết rằng không có hai cuộc gặp gỡ nào với Ngài là giống nhau; mỗi cuộc gặp gỡ là một kinh nghiệm học tập mới.

Trong phòng chờ, đang đợi đến lượt ông, là một vị lạt ma bốn tuổi, hóa thân mới được phát hiện gần đây của Ling Rinpoche, giáo thọ sư cũ của Đức Thánh Thiện. Một nhà sư lớn tuổi đang nhẹ nhàng dỗ dành đứa trẻ, đảm bảo rằng nó biết mình phải làm gì. Khi họ rời đi, cậu bé rón rén đặt tay vào tay người đàn ông lớn tuổi hơn.

Một thời gian ngắn sau, đứa trẻ xuất hiện trở lại, vòng tay mỉm cười, lần này là tay trong tay với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Người sau ôm một cái ôm trìu mến, cúi xuống chỉnh lại dây giày của cậu bé, sau đó cúi xuống, vẫy tay, mỉm cười và hôn hít như một người cha yêu thương cho đến khi cậu bé khuất dạng. Đó là một cảnh tượng vô cùng dịu dàng - và tôi sẽ không bao giờ quên nó. Sau đó, Ngài đứng dậy và chào đón bạn tôi và bản thân tôi với sự nồng nhiệt đến nỗi chúng tôi gần như tắt thở. Tôi lại cảm thấy rằng đây là một người có thể khiến bạn muốn cười lớn vì công việc hoàn toàn còn sống.

Bạn đồng hành của tôi là một nghệ sĩ người Mỹ, Brigid Marlin, người đã yêu cầu vẽ một bức chân dung của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vì Văn phòng Riêng Tư chỉ dành cho cô bốn mươi phút cho một bức chân dung mà thông thường sẽ mất vài ngày, Brigid có thể hiểu được là rất lo lắng. Tôi đã phải nói chuyện với Đức Thánh Thiện và giữ cho khuôn mặt của Ngài luôn hoạt bát trong khi cô ấy vẽ. Tôi bắt đầu bằng cách hỏi Ngài về giải Nobel Hòa bình mà Ngài ấy vừa nhận được. ‘Chậc chậc,’ Ngài cười cười, ‘sớm tối nghe đồn, tôi có chút cao hứng. Nhưng khi tôi nghe bản tin 8giờ30 thì không thấy đề cập gì. Vì vậy, tôi nghĩ, ồ, đó chỉ là tin đồn, và đi ngủ. Sáng hôm sau, tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng như thường lệ, và nghe nói rằng đó là sự thật. Nhưng đến lúc đó, không còn hào hứng nữa. ”Kết thúc câu chuyện.

Ngài tiếp tục nói về những thay đổi hiến pháp mới mà Ngài đang giới thiệu, về mối quan hệ của Tây Tạng với Trung Hoa và về việc Ngài đã ngưỡng mộ Mao Trạch Đông đến mức nào cho đến khi vỡ mộng. Đó là những thứ hấp dẫn và tôi bị cuốn hút vào nó. Đột nhiên tôi nhận ra rằng thời gian đã hết và Brigid sắp khóc. Đức Thánh Thiện cũng nhận thấy.
Bước tới để kiểm tra phần đầu sơ sài của một bức tranh sơn dầu, Ngài trêu cô rằng mắt trái của Ngài trông quá to. “Tôi không còn thời gian nữa,” Brigid rên rỉ, bật khóc. Đức Thánh Thiện ôm cô một cái thật thông cảm, lại ngồi xuống rồi giơ tay bảo cô đợi. “Tôi — chỉ — băn khoăn,” Ngài nói chậm rãi, trước khi cử một quan chức đến hỏi vị khách tiếp theo liệu cô ấy có phiền một nghệ sĩ đang ngồi trên khán giả của mình không. Khi người khách đồng ý, cảm xúc của Brigid trở nên tốt hơn với cô ấy. “Ôi, tôi thương Ngài,” cô ấy bật thốt lên. Đức Thánh Thiện chào bằng sự vui vẻ và chuẩn bị đón vị khách tiếp theo.
Cả hai chúng tôi đều thấy cách Ngài tự lãng trí trong một vài khoảnh khắc, dường như biến mất ở đâu đó sâu bên trong bản thân, lau sạch phiến đá, như nó vốn có, để tập trung sự chú ý của Ngài cho lần đến tiếp theo. Khi Brigid vẽ, tôi là một con ruồi trên tường trong vài giờ tiếp theo, quan sát cách Ngài có thể trở nên khác biệt với những người khác nhau, trả lời cho mỗi người trong lịch sự của sự hấp dẫn hoàn toàn vào mối quan tâm của họ. Với một cô gái người Mỹ, người dự định bắt đầu một bản tin điện tử cho người Tây Tạng ở Tây Tạng, Ngài là người thực tế, hiểu rõ về thế giới, thảo luận về chi phí, hậu cần, tài trợ, khám phá những giá trị và điểm yếu của kế hoạch này. Sau đó - sau khi Ngài cử quan chức lần thứ hai và một lần nữa thu mình lại - đến một cô gái Thụy Sĩ với chiếc xe đạp tập thể dục mới thông minh, một món quà từ cha cô, một chủ cửa hàng thể thao, người đã kinh hoàng khi nhìn thấy một bức ảnh tạp chí của Đức Đạt Lai Lạt Ma bên chiếc đạp cũ nát.
Ngay lập tức, Ngài lao ra hành lang để xem chiếc xe đạp, vén chiếc áo choàng và bắt đầu đạp với sự nhiệt tình của một cậu bé. Chuyến thăm kéo dài bất ngờ của chúng tôi đã mở ra một cơ hội cho chúng tôi: chiều hôm đó, chúng tôi đã thấy một số Đức Đạt Lai Lạt Ma — người cha yêu thương, người bạn từ bi, người đoạt giải Nobel không hề nao núng trước một chính trị gia nổi tiếng thế giới, nhiều kinh nghiệm, doanh nhân hiểu biết và một cậu bé nhiệt tình.

Tác phẩm “Huyết Lệ”[1] gần như hoàn thành khi tôi trở lại vào năm sau. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ở nước ngoài, nhưng như dự đoán Ngài sẽ trở lại bất cứ ngày nào, các lá cờ và biểu ngữ đã bay phất phới như mong đợi. Dharamsala chỉ là cái bóng của chính nó khi Ngài không có ở đó. Bằng cách nào đó, sự vắng mặt của Ngài có thể cảm nhận được. Tuy nhiên, tôi rất thất vọng khi nghe tin rằng Ngài sẽ rời đi gần như ngay lập tức và danh sách những người yết kiến đã bị đóng lại.

Khi tôi nhận được tin tức vào ngày hôm sau rằng cuối cùng tôi sẽ được phép gặp Đức Thánh Thiện, tôi đã rất vui mừng đến mức trượt chân và rơi xuống bùn — trời lại có gió mùa — và đến nơi ở với cánh tay của tôi treo trong một chiếc địu.
Không thành vấn đề, chúng tôi đã nói đùa về điều đó trong giây lát, nhưng suy nghĩ của tôi tràn đầy về một phụ nữ Tây Tạng trẻ mà tôi mới gặp, người đã bị Quân đội Giải phóng Nhân dân Tàu Cộng sử dụng làm gái mại dâm và sau đó đã chứng kiến những người Tây Tạng bị thí nghiệm trong bệnh viện. Tôi đã nói thẳng với Ngài. Ngài biết cô gái và chia sẻ nỗi kinh hoàng và ghê tởm của tôi, sau đó kể cho tôi nghe về một phụ nữ Amdo đã được một bác sĩ Tàu Cộng nói rằng để hoàn thành hạn chỉ tiêu phá thai của mình, ông ta thường giết những đứa trẻ khỏe mạnh, nói với các bà mẹ rằng chúng đã bị chết trước khi sanh.

Sự kinh khủng của nó khiến chúng tôi phải im lặng - đó là lần đầu tiên tôi thấy Ngài như thế này, rõ ràng là bị mất tinh thần trước số phận kinh hoàng của dân tộc của Ngài. Khi tôi rời đi, Ngài đã nắm tay tôi trong vài phút, cảm ơn tôi vì công việc tôi đã làm cho Tây Tạng. Ngài đã quàng chiếc khata quanh cổ tôi. “Đây, tốt hơn là bạn nên có cái này,” Ngài nói, cuối cùng vỡ òa trong tiếng cười khúc khích quen thuộc.

Tác phẩm Huyết Lệ (Tears of Blood) ra mắt vào năm 1993, và Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bật đèn xanh cho tôi cho cuốn sách thứ hai về Tây Tạng, một loại tiểu sử gia đình. Khi tôi trở lại vào năm 1994, tôi đã có vinh dự được gặp Ngài bốn lần. Đến tu viện Thekchen Choeling lần cuối cùng trong số những người yết kiến dài này, tôi được giới thiệu với một phụ nữ trẻ trong phòng trước. Đó là cuộc gặp đầu tiên của cô với Ngài và trông cô có vẻ e ngại. “Đừng lo lắng,” tôi nói, “Ngài là một người rất người nhất mà bạn có thể hy vọng được gặp.”

Cô ấy nhìn tôi một cách kinh ngạc. “Ngài là Phật sống!” Cô phản đối.

“Chà, đó không phải là điều tương tự sao?” Tôi hỏi cô ấy.

Đối với tôi, Phật Sống có nghĩa là một đấng giác ngộ về tâm linh, người đã thể hiện trong con người của chính mình ý nghĩa của việc làm người, và khiến chúng ta muốn noi theo tấm gương của Ngài.

Nổi lên từ sự yết kiến của mình, cô ấy trông đã biến đổi. Chúng tôi trao đổi với nhau vài lời trên hành lang, hẹn gặp nhau vào cuối ngày hôm đó. Đột nhiên tôi nhìn lên —Đức Thánh Thiện đang đợi ở cuối hành lang, với tiếng cười gấp bội. Xấu hổ với vẻ thô thiển của mình, tôi tích cực lao về phía Ngài, khata màu trắng của tôi mở ra khi tôi chạy. “Ôi, thưa Đức Thánh Thiện, tôi rất xin lỗi,” tôi lắp bắp, nâng chiếc khăn nhàu ra. Ngài tiếp tục cười, quàng tay tôi, và chúng tôi đi vào phòng yết kiến cùng nhau.

Sau đó, tôi nhận ra rằng Ngài thích thú và lớn mạnh như thế nào đối với lĩnh vực không chính thức. Chiều hôm đó, khi chúng tôi nói về thời thơ ấu của Ngài ở Amdo, Ngài nhớ lại cách mẹ Ngài sẽ cõng Ngài trên lưng ở mọi nơi bà đi, và nếu Ngài muốn bà ấy đổi hướng, Ngài sẽ giật chiếc bông tai dài của bà. “Đôi khi thật sự rất khó,” Ngài nói thêm một cách vui vẻ, nghiêng người về phía trước và giật chiếc bông tai của chính tôi cho tất cả những gì Ngài cho là xứng đáng. “Cứ như vậy!” Cả hai chúng tôi đều phá ra cười, và sau đó khi tôi rời đi, Ngài đã ôm tôi như một con gấu (bear hug) rất thân thiện. Tôi đã ôm lại Ngài.

Trong tất cả các chuyến viếng thăm của tôi đến Đức Đạt Lai Lạt Ma — và Ngài tiếp tục làm tôi thích thú và ngạc nhiên trong vài năm nữa — tôi nhận ra rằng điều tôi quý trọng nhất ở Ngài là sự khiêm tốn thật sự và sự từ chối của Ngài, bất chấp mọi thứ, để ghét người Hoa. Ngài thấy mình là một nhà sư giản dị và mơ ước kết thúc chuỗi ngày của mình trong một tu viện hẻo lánh ở Tây Tạng.
Ngài đã từng nói chuyện với tôi về một nhà sư mà Ngài đã gặp, người sau hơn hai mươi năm ở trong nhà tù  Tàu Cộng khẳng định rằng mối nguy hiểm tồi tệ nhất mà ông ấy phải đối mặt là nỗi sợ mất lòng trắc ẩn từ bi đối với những kẻ tra tấn mình. “Thật tuyệt vời phải không?” Đức Thánh Thiện hỏi với vẻ ngưỡng mộ mà tôi vừa thấu hiểu vừa chia sẻ. "Tôi cảm thấy chắc chắn rằng ở vị trí của Ngài, tôi đã để cơn thịnh nộ nhấn chìm mình. Hoặc tôi đã nhượng bộ và nói với họ những gì họ muốn nghe. ”Ngài thể hiện sự khiêm tốn tương tự khi nói về Đức Ban Thiền Lạt Ma thứ mười, mô tả Ngài ấy là‘ một chiến binh tự do thật sự ’có lòng dũng cảm mà Ngài không bao giờ sánh được. Có lẽ bởi vì Ngài quá chấp nhận những yếu đuối của bản thân mà người ta cảm thấy rất an tâm khi ở bên Ngài.

Cả hai cuốn sách (và cuốn thứ ba nữa) đều đã được xuất bản từ lâu. Tôi đã không trở lại Dharamsala, và tôi có thể sẽ không bao giờ gặp lại Ngài ngoại trừ khi ở cuối hàng dài tiếp tân ở London. Bạn không chỉ ghé thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thời gian của Ngài được ghi chép cẩn thận, và có một danh sách vô tận những người có nhu cầu gặp Ngài lớn hơn tôi. Tại sao tôi phải phàn nàn? Tôi đã có một giờ phơi nắng — thực tế là nhiều giờ. Trong gần một thập niên, tôi đã có một đặc ân không thể tin được khi gặp gỡ một con người đa diện, rất đặc biệt, với sự hiện diện của người đó, tôi cảm thấy bản thân mình giống một con người hơn. Vì điều đó, tôi sẽ luôn biết ơn. /.

 

Ẩn Tâm Lộ

Trích từ quyển Understand the Dalai Lama của Rajiv Mehrotra 

 

 



[1] Tears of Blood: A Cry For Tibet Paperback – September 22, 2000, by Mary Craig