Đại thừa Cứu cánh Nhất thừa Thực tính Luận - LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA TẠI QUỐC ĐỘ TUYẾT SƠN: CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG TÂY TẠNG TRANH LUẬN VỀ VỊ TRÍ TRUNG TÂM CỦA BẢN LUẬN PHẬT TÁNH
The Uttaratantra in
the Land of Snows Tibetan
Thinkers Debate the Centrality of the Buddha-Nature Treatise
Tác giả: Tsering Wangchuk
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Chương 4: Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
tại Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn |
Mục lục
1- Giới thiệu
2- Sazang Nối gót Bậc Thầy của Mình
3- Luận sớ Uttaratantra của Hai Bậc Thầy phái Kadam vào
Thế kỷ Mười Bốn
4- Quan kiến của Longchenpa về Luận Uttaratantra
5- Kết luận
***
I- GIỚI THIỆU
Khi nhìn vào số lượng các bản luận sớ Tây Tạng viết về Luận Tối Thượng Thừa xuyên suốt lịch sử Phật giáo Tây Tạng, chúng ta khám phá
ra rằng hầu hết các tác phẩm này đều được biên soạn vào thế giới thứ mười bốn.
Vào thế kỷ XIV, không chỉ có Dölpopa đóng vai trò chủ chốt trong việc nâng cao
vị thế uy quyền của Luận Tối Thượng Thừa,
mà các nhà giải thích kinh điển có tầm ảnh hưởng khác của Tây Tạng như Sazang,
Gendün Özer, Gyelsé Tokmé và Longchenpa cũng góp phần vào việc truyền bá bộ luận
này. Chính các tác phẩm của bốn nhà tư tưởng Tây Tạng này là đối tượng nghiên cứu
chính của tôi trong chương này, nhằm mang lại một cái nhìn thoáng qua về một thế
kỷ có thể được gọi là kỷ nguyên của sự bùng nổ tập thể dành cho Luận Tối Thượng Thừa.
Trong khi Sazang, Gendün Özer, Gyelsé Tokmé và Longchenpa
đều giải thích Luận Tối Thượng Thừa là liễu nghĩa, họ lại đến từ các dòng truyền thừa Tây Tạng
khác nhau với những câu chuyện riêng biệt về lịch sử truyền thừa tông phái tôn giáo của mình.
Sazang từng tu học tại tu viện Sakya và sau đó trở thành một trong những đệ tử
được kính trọng nhất của Dölpopa; Gendün Özer và Gyelsé Tokmé là các bậc thầy
phái Kadam, trong đó Gyelsé Tokmé nổi tiếng với sự hiểu biết sâu rộng về Năm
Bộ Luận của Di Lặc; và Longchenpa được coi là một trong những nhà xiển
dương vĩ đại nhất của truyền thống Đại Viên Mãn (Dzogchen) thuộc phái Nyingma.1
Người ta chỉ có thể hình dung ra sức ảnh hưởng to lớn mà
các bậc thầy Tây Tạng có tầm vóc tôn giáo như vậy đã tác động lên những người
pháp tử (đệ tử) của họ.
2-
Sazang Nối Gót Bậc Thầy Của Mình
Mặc dù Luận Tối Thượng
Thừa đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc Dölpopa định hình cấu trúc đạo lộ Đại thừa xoay quanh học thuyết Tha
tánh không (other-emptiness), vị đại sư này lại không viết một bản luận sớ chi
tiết nào về bộ luận đó. Tuy nhiên, như thường thấy trong mối quan hệ thầy trò
thuộc truyền thống Tây Tạng, Sazang đã khỏa lấp khoảng trống ấy bằng cách biên
soạn một tác phẩm luận giải dài về bộ luận này, trong đó vận dụng các tư tưởng
và quan điểm của Dölpopa. Như chúng ta tìm thấy ở phần cuối bản Luận Sớ Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) của
Sazang:
Theo những lời khẩn cầu lặp đi lặp lại từ các đệ tử
trí tuệ [của tôi],
[Tôi], Lodrö Gyeltsen Pel, đã biên soạn [bản luận giải này],
Để làm sáng tỏ ý nghĩa của tối thượng thừa thâm diệu,
Theo đúng như những gì bậc vị thầy xuất chúng [Dölpopa] của tôi truyền dạy.”2
Phần lời bạt (colophon) cho biết
thêm rằng Sazang đã nhận được sự truyền thừa Luận
Tối Thượng Thừa trực tiếp từ Dölpopa,3 nhờ đó tạo nên
tính uy quyền và chân thật cho tiếng nói của ông đối với các đệ tử đương thời
và tương lai.
Mặc dù tác giả tự hào khi trình
bày quan điểm của Dölpopa, Sazang chưa từng sử dụng thuật ngữ “Tha tánh không”
(other-emptiness) trong bản luận sớ của mình. Tuy nhiên, đúng như những gì đã tuyên
bố, ông giải thích Luận
Tối Thượng Thừa theo cách hoàn toàn tương đồng với Dölpopa trong tác
phẩm tinh hoa của vị thầy mình là Sơn
Pháp Giáo Lý (Mountain Doctrine). Sazang chứng minh rằng Luận Tối Thượng Thừa là lời luận giải cho các kinh điển thuộc thời kỳ chuyển pháp luân thứ ba, rằng các kinh điển thời kỳ cuối này là những giáo lý
liễu nghĩa; rằng các kinh điển Bát Nhã Ba La Mật Đa—không giống như Kinh
Giải Thâm Mật—đã không đưa ra sự phân biệt rõ ràng giữa những gì cấu thành
nên chân lý rốt ráo và những gì không phải; và rằng các kinh điển thời kỳ cuối
này là các văn bản Trung quán chứ không phải các văn bản Duy thức tông. Ông
cũng khẳng định rằng chân lý rốt ráo hay Như Lai Tạng (tathāgata-essence)—ý
nghĩa cốt lõi của giáo lý thời kỳ cuối và của Luận
Tối Thượng Thừa—vốn tự tánh sẵn có
(exists inherently) trong tất cả chúng sinh. Do đó, Sazang đã sử dụng bản Sớ Giải Luận
Tối Thượng Thừa của mình để cụ thể hóa giáo lý của vị bổn sư, từ đó
củng cố thêm vị trí trung tâm của Luận
Tối Thượng Thừa đối với phái Jonang.
Ở phần đầu của bản luận sớ chi
tiết, Sazang chỉ ra rằng các tác phẩm của Di Lặc, chẳng hạn như Luận Tối Thượng Thừa, mô tả một cách rõ ràng và triệt để về pháp tánh
hay chân lý rốt ráo, cái mà ông mô tả là “chỉ có trong quan kiến của giáo lý thời
kỳ chuyển pháp luân thứ ba.”4 Theo chân vị bổn sư của mình, Sazang
cũng lập luận rằng chân lý rốt ráo hay pháp tánh là nội dung cốt lõi của các
giáo lý liễu nghĩa (definitive teachings), trong khi chân lý thế tục vẫn là
nghĩa cốt tủy của các giáo lý bất liễu nghĩa (provisional teachings).5
Ông còn giải thích chi tiết hơn
khi khẳng định rằng chân lý rốt ráo không hề trống rỗng tự tánh, trái lại, nó tồn
tại một cách tự tánh sẵn có.6
Dưới ánh sáng của điều này,
Sazang chứng minh rằng lời khẳng định của kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa về việc vạn pháp đều trống rỗng tự tánh
không được hiểu theo nghĩa đen bề mặt. Ông lập luận: “Mặc dù kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa bản trường hàng
dạy rằng vạn pháp đều trống rỗng tự tánh, người ta không nên chấp nhận điều đó
theo nghĩa đen.”7 Hơn nữa, trong bản luận sớ giải cho luận A-tỳ-đạt-ma Tập Luận
(Abhidharmasamuccaya), Sazang cũng đưa ra một quan điểm tương tự bằng cách viện
dẫn giáo lý thời kỳ chuyển pháp luân thứ ba làm căn cứ: “Như Kinh Giải Thâm Mật đã tuyên bố, [các
kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa]
không được hiểu theo nghĩa đen.”8 Bên cạnh đó, bằng cách nương vào thẩm quyền văn bản của Kinh Giải Thâm
Mật,9 Sazang chỉ ra rằng bởi vì giáo lý thời kỳ thứ ba là liễu
nghĩa, nó đoạn trừ được cả hai cực đoan là [chấp] có và [chấp] không; trong khi
đó, các kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa
thuộc thời kỳ thứ hai chỉ loại bỏ được một cực đoan, đó là cực đoan chấp có.10
Giống như cách Dölpopa cẩn trọng
trong việc thiết lập tính chất liễu nghĩa lâm thời (bất liễu nghĩa) của các
giáo pháp thuộc Chuyển pháp luân lần thứ hai (thời kỳ giữa), Sazang cũng hết sức
cẩn trọng khi giải quyết vấn đề liên quan đến Kinh điển Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitāsūtras).
Ngài khẳng định:
Người ta có thể nghĩ rằng tất cả những gì được thuyết
trong Chuyển pháp luân lần thứ hai đều là hư vọng. Tuy nhiên, không nên suy
nghĩ theo cách như vậy, bởi vì:
- (1) [Chuyển pháp luân lần thứ hai] chủ yếu thuyết về sự vắng mặt của tự
tính (vô tự tính) đối với các cấu nhiễm hư vọng tạm thời (khách trần phiền
não);
- (2) vì [các kinh điển này] thuyết về những [pháp] không tồn tại như là
không tồn tại, nên chúng không phải là hư vọng;
- (3) và vì các cụm từ như “tự tính của tâm là tự tánh thanh tịnh sáng suốt...”
v.v., cũng hiển thị rằng pháp tính (chân lý thực tại) có tồn tại; do đó, ý
nghĩa cứu cánh [của giáo pháp Chuyển pháp luân lần thứ hai] hoàn toàn đồng
nhất với Chuyển pháp luân lần thứ ba (thời kỳ cuối), và chúng cũng vô cùng
thâm sâu.
Tuy nhiên, bởi vì Chuyển pháp luân lần thứ ba chủ yếu
thuyết về pháp tính (chân lý thực tại), cho nên nó cần được hiểu là có phần
siêu việt hơn.11
Khi diễn đọc văn bản này qua lăng kính của Kinh Giải Thâm
Mật (Saṃdhinirmocanasūtra) nhưng không làm giảm đi giá trị của Kinh điển
Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitāsūtras), Sazang đã khéo léo chứng
minh rằng bộ kinh trước [Kinh Giải Thâm Mật] chính là nguồn văn bản mẫu mực tối
thượng đối với ngài. Tất cả những điều này đặt ra một câu hỏi: Bản bình giảng Luận Tối Thượng Thừa (Kinh Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận) của Sazang giải
thích như thế nào về chân lý tối hậu hay pháp tính vốn là đặc tính định hình
cho nội dung của giáo pháp liễu nghĩa? Dù bản bình giảng này không sử dụng thuật
ngữ “Tha tánh không” (other-emptiness / shentong) để mô tả chân lý tối hậu,
nhưng nó lại giải thích về chân lý tối hậu hay Như Lai Tạng (tathāgata-essence)
theo cách mà Tha tánh không được phác họa trong các tác phẩm của Dölpopa.
Sazang định tính chân lý tối hậu là một thực thể thường hằng, không có phần đoạn
(vô vi), vượt ngoài tâm thức, là pháp thân, và tự tính vốn tự hữu. Ngược lại, tục
đế (chân lý quy ước) thì không phải là thực thể thường hằng, không phải là vô
vi, không vượt ngoài tâm thức, không phải là pháp thân, và không tự tính tự hữu.
Nói một cách đơn giản, chân lý tối hậu hay Như Lai Tạng
là một thực thể thường hằng bởi vì nó không chịu sự biến đổi do các nhân và
duyên mang lại.13 Nó là vô vi (không có phần đoạn) bởi vì nó cùng khắp
tất cả, hiện hữu như một bản thể nền tảng cho mọi hiện tượng.14 Nó
vượt ngoài tâm thức bởi vì nó không thể được nhận thức bằng tư duy khái niệm.15
Nó là pháp thân16 bởi vì nó là hiện thực tối thượng, là sự chứng ngộ
cứu cánh ở trạng thái thanh tịnh nhất. Đối với việc chân lý tối hậu hay Như Lai
Tạng tính vốn tự hữu (tự tính tự hữu), Sazang lập luận rằng điều này đề cập đến
một thực thể vốn là đối tượng của bản giác (trí tuệ tự chứng), chứ không phải của
tư duy khái niệm.17 Đối với ngài, các thuật ngữ như “thật có”, “tự
tính tự hữu” và “tự nhiên tự hữu” là tương đương nhau. Sazang cũng chứng minh rằng
cả Như Lai Tạng và các phẩm tính giác ngộ đi kèm đều tồn tại một cách tự hữu và
thường hằng trong tự tính của tất cả chúng sinh.18
Cuối cùng, mặc dù bản bình giảng Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa) của Sazang không đề
cập một cách rõ ràng về vấn
đề liệu các văn bản thuộc Chuyển pháp luân lần thứ ba – như Kinh Giải Thâm Mật
(Saṃdhinirmocanasūtra) và Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahāyānasūtrālaṃkāra)
– đang giải thích theo quan điểm của Duy Thức tông (Cittamātra) hay
Trung Quán tông (Madhyamaka), nhưng bản bình giảng của ngài về luận điển
Đại Thừa A-tỳ-đạt-ma Tập Luận (Abhidharmasamuccaya) đã giải quyết câu hỏi
này và tuân theo lập trường của Dölpopa một cách rất chặt chẽ.19
Trong tác phẩm đó, ngài chứng minh rõ ràng rằng các luận điển này giải thích về
Duy Thức như một phương tiện tạm thời,
nhưng về mặt cứu cánh, chúng lại thuyết về chân lý tối hậu của Trung Quán.
Sazang chỉ kém bậc thầy của
mình vài tuổi, nhưng có vẻ như ngài lần đầu tiên được thụ nhận giáo pháp từ
Dölpopa là vào khoảng những năm 1320, khi Dölpopa bắt đầu truyền giảng giáo
pháp tại Jonang. Đến thời điểm Sazang viết bản bình giảng Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa), ngài đã hoàn toàn làm chủ hệ thống giáo lý của
Dölpopa, đồng thời nhận ra nét tương đồng giữa tư tưởng của thầy mình với quan
điểm được trình bày trong luận điển Tối Thượng Thừa. Sazang đã tạo ra một sự tổng hợp giữa hai tư tưởng
này trong bản bình giảng Luận
Tối Thượng Thừa của ông. Như nhiều
học giả Tây Tạng đã nhận định, đây có lẽ là phẩm vật cúng dường sự tu chứng (sgrub pa’i mchod pa) cao quý nhất mà
Sazang dâng lên bậc thầy vĩ đại của mình – người vốn được tôn vinh là Đức Toàn
Tri (kun mkhyen dol po pa).
3- Sớ giải Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa) của hai Đại sư
tông Kadam vào thế kỷ thứ mười bốn
Như đã đề cập trước đó, các bản bình giảng được viết bởi
những học giả Tây Tạng khác vào thế kỷ thứ mười bốn cũng góp phần tạo nên một
làn sóng thảo luận vô cùng sôi nổi xung quanh luận điển Uttaratantra (Luận Tối
Thượng Thừa). Các học giả thuộc tông Kadam là Gendün Özer và Gyelsé
Tokmé, mỗi vị đều viết một bản bình giảng cho Luận Tối Thượng Thừa.
Tôi sẽ cùng xem xét các bản bình giảng của họ trong phần này bởi vì họ xuất
phát từ cùng một cộng đồng học thuật văn bản tương đồng.
Chúng ta biết rất ít về Gendün Özer,20 nhưng
có thể an tâm giả định rằng ngài là một bậc thầy tông Kadam sống vào khoảng giữa
thế kỷ mười ba và mười bốn. Trong bản bình giảng của mình, ngài đề cập rằng tác
phẩm này được biên soạn dành cho các học trò – những người đã thỉnh cầu ngài viết
một luận giải khác biệt với "lối giải thích thô lác" (bshad nyog
rtsing po)21 về Luận Tối
Thượng Thừa vốn được đưa ra bởi "các nhà bình
giải thời kỳ đầu" (snga rabs pa)22 thuộc truyền thừa
Kadam. Dù Gendün Özer không có ý định đi theo lối "giải thích thô
lác" của bản luận gốc Ấn Độ này, ngài vẫn tuân theo sự diễn giải của các bậc
tiền bối Kadam đi trước xét về mặt lập trường giáo lý, ngay cả khi phong cách
văn học của ngài có sự khác biệt với rất nhiều vần thơ tán thán đầy tính thi
ca. Trong giai đoạn lịch sử này, không có gì ngạc nhiên khi ngài viết bản bình
giảng này chủ yếu dựa trên sự tham chiếu với bản dịch tiếng Tạng của Ngok (rngog
’gyur) về Luận Tối Thượng Thừa,
tuy nhiên vị tác giả cũng sử dụng các bản dịch của Naktso và Patsap bất cứ khi
nào cần thiết.23
Gyelsé Tokmé được biết đến rộng rãi thông qua các tác phẩm
tiểu sử do chính những học trò của ngài biên soạn.24 Ngài đã tiếp nhận
nền giáo dục tu viện của mình tại tu viện Bodong E và tu viện Sakya, và sau đó
đảm nhiệm vị trí trụ trì tại tu viện Tara.25 Ngài là một tác giả viết
rất khỏe (đồ sộ), người được biết đến nhiều nhất với tác phẩm Ba Mươi Bảy
Pháp Hành Bồ Tát – một văn bản ngắn về giáo pháp luyện tâm (Lojong). Hơn thế
nữa, ngài được các môn đồ tôn kính như là bậc Vô Trước Thứ Hai (thogs med
gnyis pa) hay Đức Vô Trước Mới (thogs med gsar ma) nhờ vào sự hiểu
biết uyên thâm của ngài đối với Năm Bộ Luận của Đức Di Lặc.
Gyelsé Tokmé đã hoàn thành bản bình giảng Luận Tối Thượng Thừa (Luận Bảo Tính) của mình với tựa đề Làm
Sáng Tỏ Nghĩa Liễu Nghĩa của Luận Bảo Tính (Illuminating the Definitive
Meaning of the Uttaratantra)26 vào năm 133327 ở tuổi
ba mươi tám, ngay sau khi ngài hoàn thành bản bình giảng về Đại Thừa Trang
Nghiêm Kinh Luận (Mahāyānasūtrālaṃkāra). Để đặt bản bình giảng của
ngài vào bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, tính đến trước năm 1335, Rikrel, Đức
Karmapa thứ ba, Sangpu Lodrö và Rinchen Yeshé đều đã công bố rộng rãi các quan
điểm của họ về Luận Tối Thượng Thừa cũng như về Như Lai Tạng tại miền trung Tây Tạng. Hơn thế
nữa, vào thời điểm đó, Dölpopa và Butön cũng lần lượt hoàn thành các tác phẩm để
đời của mình là Sơn Pháp (Mountain Doctrine) và Lịch sử Phật
giáo (History of Buddhism). Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi một
bậc trí giả được ví với đại sư Ấn Độ lừng danh Vô Trước (Asaṅga) lại đang viết
một bản bình giảng về Luận Tối Thượng Thừa vào cùng khoảng thời gian đó. Tiếp bước các nhà diễn dịch
thuộc tông Kadam khác về luận điển Luận Tối
Thượng Thừa, cả Gendün Özer và Gyelsé Tokmé đều hiển thị và giải thích Uttaratantra (Luận
Tối Thượng Thừa)
trong khuôn khổ của hệ thống Kinh thừa (Sutric framework).
Cả hai học giả tông Kadam đều dành cho luận điển Luận Tối Thượng Thừa (Luận Bảo Tính) những lời tán thán nồng nhiệt nhằm làm
sáng tỏ tầm vóc quan trọng của bộ luận này trong truyền thống Đại thừa. Gendün
Özer gọi Luận Tối Thượng Thừa là “bộ luận xuất sắc nhất”28 và ca ngợi nó bằng
những vần thơ đầy tính gợi hình như sau:
Ôi hãy lắng nghe! Tác phẩm này [Uttaratantra]
xứng đáng được gọi là “Kanjur” (Đại Tạng Kinh – phần Kinh) chứa đựng các nghĩa
liễu nghĩa,
Bởi đây là nơi kết tinh tất cả thâm ý của các bộ kinh liễu nghĩa.
Tác phẩm này [Uttaratantra] xứng đáng được gọi là “Tengyur” (Đại Tạng Kinh –
phần Luận) chứa đựng các nghĩa liễu nghĩa,
Bởi đây là nơi hội tụ tất cả lời sớ giải của các bản bình giảng liễu nghĩa.
Do đó, những bậc hữu duyên khát ngưỡng giáo pháp liễu nghĩa hãy tìm kiếm
giáo pháp này,
Vì nơi đây chắc chắn hiển thị trọn vẹn nghĩa liễu nghĩa.29
Gyelsé Tokmé thì tôn vinh bộ luận theo cách như sau:
Được trang nghiêm bằng những đóa sen của lời
lời vô lậu,
Được trang bị bằng cốt tủy nhụy hoa của nghĩa liễu nghĩa tối hậu,
Chính là rừng sen giáo pháp này của Đức Từ Thị Di Lặc.
[Tôi] xin được triển khai rộng nghĩa lý này cho những ai đang tìm kiếm giọt
mật lợi tha.30
Đối với hai vị đại sư này, rõ ràng bộ Luận Tối Thượng Thừachiếm giữ một vị trí
vô cùng trọng yếu trong số các kinh điển Phật giáo.
Về cách họ đối chiếu giáo pháp thuộc Chuyển pháp luân lần
thứ ba với các văn bản thuộc Chuyển pháp
luân lần thứ hai, Gendün Özer luận giải về sự khác biệt này theo cách gần như
tương đồng với hai nhà bình luận thời kỳ đầu của tông Kadam về Luận Tối Thượng Thừa. Ngài phát biểu về
bản chất của giáo pháp Chuyển pháp luân lần thứ hai như sau: “Nơi nào giáo lý dạy
rằng [mọi hiện tượng] đều như mây nổi, mộng mị và huyễn hóa? Đó chính là trong
các bộ kinh thuộc Chuyển pháp luân lần thứ hai. Điều gì được giảng dạy [ở đó]?
Giáo lý ở đó dạy rằng từng hiện tượng riêng biệt—như sắc uẩn và các pháp
khác—luôn luôn trống rỗng đối với chính nó (tự tánh không).”31 Ngược
lại, ngài giải thích về giáo pháp Chuyển pháp luân lần thứ ba theo cách này:
“Nơi nào [Phật tính/Như Lai Tạng] được giảng dạy? Nó được dạy trong bộ kinh thuộc
Chuyển pháp luân lần thứ ba này... Điều gì được giảng dạy [trong kinh điển Chuyển
pháp luân lần thứ ba]? Giáo lý ở đó dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính
vốn hiện hữu như một bản thể cốt tủy.”32
Trong khi Gendün Özer lập luận rằng các kinh điển thuộc
Chuyển pháp luân lần thứ hai dạy rằng mọi hiện tượng đều trống rỗng đối với
chính chúng (rang rang gis stong pa – tự tánh không) thông qua ẩn dụ về
mây nổi và mộng mị, thì ngài – giống như Ngok và Chapa – lại không chứng minh rằng
chúng là những giáo pháp tạm thời
cần phải được diễn dịch lại (bất liễu nghĩa). Tương tự như vậy, mặc dù ngài chỉ
ra rằng Chuyển pháp luân lần thứ ba thuyết về Phật tính vốn hiện hữu như một bản
thể cốt tủy (sangs rgyas kyi khams grub pa snying por gyur pa), ngài lại
không khẳng định rằng Phật tính đó là tự tính tự hữu (rang gi mtshan nyid
kyis grub pa) hay thật có (bden par grub pa). Do đó, rõ ràng là
Gendün Özer kính chuộng các giáo pháp thuộc Chuyển pháp luân lần thứ ba hơn các
văn bản thuộc Chuyển pháp luân lần thứ hai, xét trên khía cạnh bộ kinh trước
[Chuyển pháp luân lần thứ ba] mang tính thẩm quyền giáo lý cao hơn bộ kinh sau.
Để giữ cho tinh thần của tông Kadam luôn sống động,
Gyelsé Tokmé cũng đề xuất một quan điểm tương tự về sự phân biệt giữa hai thời
kỳ chuyển pháp luân. Câu trả lời của ngài đối với một câu hỏi về mục đích của
việc giảng dạy tánh Không vô tự tính trong các kinh điển thuộc Chuyển pháp luân
lần thứ hai (thời kỳ giữa) như sau:
Mật ý của việc giảng dạy [trong Chuyển pháp
luân lần thứ hai] rằng [mọi hiện tượng] đều trống rỗng không có sự thật hữu giống
như mây nổi, mộng mị và các huyễn cảnh khác là gì? Điều đó nhằm hiển thị rằng
phiền não, các nghiệp hành do phiền não sinh ra, và các uẩn vốn là quả chín muồi
của phiền não và nghiệp hành, tất thảy đều [trống rỗng không có sự thật hữu] giống
như mây nổi, mộng mị và các huyễn cảnh khác.33
Giống như Gendün Özer, Gyelsé Tokmé lập luận rằng chỉ có
các hiện tượng thuộc tục đế (chân lý quy ước) như phiền não, nghiệp hành, các uẩn,
v.v., mới được giảng dạy là trống rỗng không có tự tính (vô tự tính) trong các
giáo pháp thuộc Chuyển pháp luân lần thứ hai. Gyelsé Tokmé nhấn mạnh rằng các
giáo pháp thuộc Chuyển pháp luân lần thứ ba mới là nơi thuyết về nghĩa liễu
nghĩa tối hậu trong tư tưởng của Đức Phật. Ngài khẳng định: “Ý nghĩa này, vốn
được mô tả qua chín ví dụ theo cách như vậy, là cái thâm sâu nhất trong các cái
thâm sâu, và nó chính là nghĩa liễu nghĩa tối hậu.”34 Do đó, cả
Gendün Özer lẫn Gyelsé Tokmé đều không hề mảy may hoài nghi về việc liệu các
giáo pháp về Như Lai Tạng có phần kém thẩm quyền giáo lý hơn các giáo pháp thuộc
Chuyển pháp luân lần thứ hai hay không. Ngược lại, như các bản bình giảng của họ
đã hiển thị, các giáo pháp về Như Lai Tạng chính là nơi diễn giải về chân lý tối
hậu cốt tủy nhất.
Nếu luận Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa) và các kinh điển về Như Lai Tạng
(tathāgata-essence) khác dạy về ý nghĩa cứu cánh trong tư tưởng của Đức Phật,
thì điều này có nghĩa là hai nhà tư tưởng dòng Kadam giải thích Như Lai Tạng phần
lớn theo cùng một cách như Dölpopa hay Sazang hay không?
Gendün Özer đặc trưng hóa Phật tính (buddha-element) bằng
ba phẩm tính đi kèm: Phật thân (buddha-body), tự tính của chân như (nature of
suchness), và Phật chủng tính (buddha-nature).35 Theo ông, bản tính
của Phật tính hoàn toàn thanh tịnh khỏi các phiền não,36 và các phẩm
tính tích cực luôn luôn thường trụ trong đó.37 Ông đã tóm tắt điều
này một cách cô đọng trong bài kệ sau, mặc dù không tuyên bố một cách rõ ràng rằng
chúng sinh sở hữu Phật tính có đầy đủ các tướng hảo và vẻ đẹp của một vị Phật:
Tất
cả chúng sinh không ngoại lệ,
Từ khởi thủy đã tự tính viên mãn các phẩm tính tích cực.
Để hiển bày rõ ràng thực tại như thị ấy,
[Con] phát bồ-đề tâm mà không hề hủy báng [Phật tính].38
Gyelsé Tokmé không có quan điểm khác biệt so với Gendün
Özer. Ông lập luận rằng:
Bởi
lẽ các lỗi lầm, như phiền não và những thứ tương tự, chỉ tồn tại nhất thời
(khách trần) chứ không phải tồn tại một cách cố hữu [trong Phật tính], nên các
phẩm tính như [thần] lực [giác ngộ] và những thứ tương tự vốn tự nhiên tồn tại
[bên trong Phật tính]. Phật tính ở giai đoạn thanh tịnh hoàn toàn cũng tồn tại
y hệt như cách nó từng tồn tại trước đó ở giai đoạn ô nhiễm. Chính vì lý do đó,
[Phật tính] là pháp tính mà bản tính của nó không bao giờ thay đổi.39
Hơn nữa, Gyelsé Tokmé đồng nhất pháp thân thanh tịnh tự
nhiên với Như Lai Tạng khi lập luận rằng, chính vì Như Lai Tạng tồn tại trong tất
cả chúng sinh nên người ta mới có thể khẳng định rằng pháp thân cũng tồn tại
trong tất cả chúng sinh.40 Tuy nhiên, khác với Dölpopa, ông chưa bao
giờ tuyên bố một cách rõ ràng trong luận giải của mình rằng chúng sinh có một vị
Phật giác ngộ hoàn toàn ở bên trong. Có lẽ chính vì cách diễn đạt như vậy mà học
trò của ông đã ghi nhận rằng Gyelsé Tokmé tin rằng hệ thống giáo lý do cả
Dölpopa và Butön trình bày đều chính xác và có nguồn gốc hợp pháp từ Ấn Độ. Dẫu
vậy, theo khẳng định của người học trò này, Gyelsé Tokmé cuối cùng vẫn ưa chuộng
cách trình bày của Butön hơn là của Dölpopa.41
Tóm lại, mặc dù Gendün Özer và Gyelsé Tokmé có quan điểm
khác biệt với cách diễn dịch luận Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa) của các nhà tư tưởng thế kỷ 14 như Dölpopa và
Sazang, cũng như các học giả thế kỷ 13 như Rikrel và Karmapa thứ Ba, họ đều đồng
thuận về sự tối thượng của luận Uttaratantra hoặc các giáo lý về Như Lai
Tạng so với các giáo lý nói rằng các hiện tượng đều trống rỗng không có tự tính
(tự tính không). Bằng việc viết các luận giải ủng hộ tính chất liễu nghĩa
(nghĩa cứu cánh) của Luận Tối Thượng Thừa,
hai học giả này đã góp phần tạo nên động lực đưa luận thư Ấn Độ này trở thành một
văn bản trung tâm trong thế kỷ 14.
4- Quan điểm của Longchenpa về Luận Tối Thượng
Thừa |
Giống như trường hợp của các nhà tư tưởng cổ phái Nyingma
khác, Longchenpa đã không viết một luận giải riêng nào cho luận Uttaratantra
(Luận Tối Thượng Thừa). Tuy nhiên,
các tác phẩm của ông như Treasury of Words and Meaning (Từ Nghĩa Tạng/ tshig
don mdzod),42 Treasury of Abiding Reality (Thật Tướng Tạng
/ gnas lugs mdzod),43 và Commentary to the Treasury of the
Precious Dharma Reality (Luận giải Pháp Giới Bảo Tạng / chos dbyings rin
po che’i mdzod kyi ’grel pa) đều cho thấy sức ảnh hưởng sâu rộng của hệ thống
kinh văn Như Lai Tạng nói chung. Đặc biệt, tác phẩm Treasury of Tenets
(Tông Phái Bảo Tạng) của ông chứa đầy các trích dẫn từ Luận Tối Thượng Thừa. Đúng như Mathes đã lập luận,
Cách
diễn dịch của Longchenpa về Phật tính trong tác phẩm Treasure of Tenets (Tông Phái Bảo Tạng / Grub mtha’ mdzod) xứng đáng nhận được sự quan tâm của chúng ta
vì nhiều lý do. Thứ nhất, hầu hết các kệ ngôn đề cập đến điểm kim cương thứ tư
(về Phật tính) trong luận Ratnagotravibhāga
(Luận Tối Thượng Thừa) đều được trích dẫn và luận giải liên tục trong suốt ba
mươi trang sách của bộ Tông Phái Bảo Tạng.
Thứ hai, lý thuyết về Phật tính trong tác phẩm này đóng vai trò trung tâm trong
việc kết nối các giáo pháp Dzogchen (Đại Viên Mãn) với các mạch tư tưởng cổ xưa
hơn của Phật giáo Ấn Độ. Thứ ba là cách diễn dịch mang tính khẳng định (tích cực)
của bộ Grub mtha’ mdzod đối với
Luận Tối Thượng Thừa), khi duy trì quan điểm rằng tính Không cần phải được hiểu
theo nghĩa là tánh sáng suốt (minh quang / quang minh) của Phật tính, và một sự
đánh giá mang tính khẳng định như vậy về thực tại cứu cánh mới có ý nghĩa liễu
nghĩa (nghĩa cứu cánh).45
Như vậy, Longchenpa cũng đã góp phần gián tiếp vào việc
hoằng truyền luận Uttaratantra (Luận
Tối Thượng Thừa) vào thế kỷ 14 bằng cách trích dẫn và luận giải vô số kệ
ngôn cũng như các phân đoạn từ chương thảo luận về Phật tính (buddha-element).
Khi luận giải về một bài kệ trong Luận Tối Thượng Thừa, Longchenpa đã phát biểu trong tác phẩm Treasury
of Tenets (Tông Phái Bảo Tạng) của mình rằng:
[Để
trả lời cho câu hỏi]: “Tại sao không phải là mâu thuẫn khi các kinh điển thuộc
[Chuyển pháp luân] lần thứ hai, [một mặt], dạy rằng tất cả các hiện tượng đều
vô thường như mây khói, hư vọng như mộng mị, [được tạo ra bởi] sự hòa hợp của
các nhân duyên nhưng lại không có tự tính như ảo ảnh, v.v., còn ở đây [các kinh
điển thuộc Chuyển pháp luân lần thứ ba] lại dạy rằng [Phật tính] là thường hằng
vì nó tồn tại từ khởi thủy mà không hề thay đổi, là chân thật vì nó tự tính thường
trú, và là vô vi vì nó không do các nhân duyên tạo ra? . . .” [Câu trả lời là]
bản thể [Như Lai] Tạng này cũng là Không vì nó trống rỗng khỏi các lỗi lầm, khỏi
[tự tính] hữu vi, v.v., nhưng nó không phải là Không theo nghĩa là không có các
phẩm tính của chính nó.47
Trong việc sử dụng luận Uttaratantra (Luận Tối Thượng Thừa), giống như nhiều
nhà diễn dịch mang tính khẳng định (định danh / cataphatic) khác về luận
thư Ấn Độ này, Longchenpa lập luận rằng Như Lai Tạng được dạy trong các kinh điển
thuộc chuyển pháp luân lần cuối chỉ trống rỗng (không) khỏi các phiền não, tính
vô thường và các hiện tượng huyễn hóa, chứ không trống rỗng khỏi các phẩm tính
giác ngộ vốn có của chính nó. Chẳng hạn, ông chỉ ra rằng: "Bởi vì Phật
tính — bản thể giác ngộ vốn dĩ tồn tại trong chúng sinh — tự tính vốn thanh tịnh
và viên mãn các phẩm tính, nên nó được gọi là tự tính của pháp thân".48
Về việc các phẩm tính giác ngộ này là gì đối với bậc thầy phái Nyingma, Mathes khẳng định: "Không có nơi nào
trong toàn bộ tác phẩm Grub mtha’ mdzod (Tông Phái Bảo Tạng) mà
Longchenpa phân biệt giữa ba mươi hai phẩm tính của pháp thân (dharmakāya) và
các phẩm tính của sắc thân (form kāyas). Cả hai loại phẩm tính này đều tồn tại
xuyên suốt từ thời khởi thủy vô thủy".49 Hơn nữa, khi luận giải
về một bài kệ trong Luận Tối Thượng Thừa
ở bộ Tông Phái Bảo Tạng của mình, Longchenpa lập luận rằng không có phiền
não nào là vốn có trong Như Lai Tạng, vì Như Lai Tạng đã vốn thanh tịnh một
cách tự nhiên từ thời vô thủy.50
Khác với các nhà diễn dịch mang tính phủ định (vô ngôn / apophatic)
về Luận Tối Thượng Thừa, nhà tư tưởng
phái Nyingma khẳng định rằng các kinh điển thuộc chuyển pháp luân lần cuối giải
thích về Như Lai Tạng theo cách thức như vậy là liễu nghĩa (nghĩa cứu cánh), chứ
không phải là những giáo pháp cần phải diễn dịch lại (bất liễu nghĩa). Khi đúc
kết phần bàn về Phật tính trong tác phẩm Tông
Phái Bảo Tạng (Treasury
of Tenet)
của
mình, một lần nữa chủ yếu dựa trên các trích dẫn từ Luận Tối Thượng Thừa, ông tuyên bố: "Ý nghĩa của Phật tính phải
được khẳng định và thấu hiểu duy nhất như là liễu nghĩa, chứ không phải là bất
liễu nghĩa. Bởi vì chủ đề này về Phật tính [từ Luận Tối Thượng Thừa] là khía cạnh cốt tủy và khó chứng ngộ nhất của
Đại thừa, đó là lý do tại sao nó được giải thích một cách chi tiết ở đây".51
David Germano lập luận rằng tác phẩm Treasury of Words and Meaning (Từ Nghĩa Tạng hay Cú Nghĩa Bảo Tạng)
cũng xếp các giáo pháp thuộc chuyển pháp luân lần thứ hai vào danh mục bất liễu
nghĩa (nghĩa phương tiện) và xếp chuyển pháp luân lần cuối vào danh mục liễu
nghĩa.52
Cuối cùng, để làm sáng tỏ hơn nữa tầm quan trọng của các
bài học về Như Lai Tạng được dạy trong chuyển pháp luân lần cuối, trong tác phẩm
Tông Phái Bảo Tạng (Treasury
of Tenets) của mình, Longchenpa đã phân chia các mức độ vi tế — từ
các giáo pháp ít vi tế nhất đến vi tế nhất — của ba thời kỳ chuyển pháp luân của
Đức Phật tương ứng với tuổi thọ của Ngài. Ông cho biết Đức Phật đã giảng chuyển
pháp luân lần thứ nhất, giáo pháp ít vi tế nhất, trong khoảng từ 36 đến 42 tuổi;
chuyển pháp luân lần thứ hai, vi tế hơn lần thứ nhất, trong khoảng từ 43 đến 72
tuổi; và chuyển pháp luân lần cuối, giáo pháp vi tế nhất trong các giáo pháp,
trong khoảng từ 73 đến 82 tuổi.56
Để tóm tắt phần này, mặc dù chúng ta không thấy ở cổ phái
Nyingma (Ninh Mã) một sự quan tâm mang tính học thuật đặc biệt nào đối với nguồn
luận giải Ấn Độ này cho đến tận thế kỷ 14, nhưng hoàn toàn không phải là một sự
tình cờ lịch sử khi Longchenpa (Long Thần Ba) — bậc đại biểu kiệt xuất nhất của
giáo pháp Đại Viên Mãn (Dzogchen) — đã đưa phần lớn chương bàn về Phật tính của
Luận Tối Thượng Thừa vào tác phẩm Tông Phái Bảo Tạng (Treasury
of Tenets) của mình. Trong hệ thống thứ bậc của các kinh văn và tư
tưởng Phật giáo, ông đã trình bày Luận Tối
Thượng Thừa một
cách hệ thống như một nguồn kinh điển chính thống cho các giáo pháp Dzogchen
vào ngay thời kỳ đỉnh cao của sự phát triển luận thư này tại Tây Tạng.
5- Kết Luận
Vào giữa thế kỷ 13, Sapen (Sakya Pandita) đã làm rõ các
quan điểm của mình về giáo lý Như Lai Tạng bằng cách viện dẫn thẩm quyền giáo
lý từ (Madhyamakāvatāra) của
Nguyệt Xứng (Candrakīrti). Là một nhà diễn dịch mang tính phủ định (vô ngôn / apophatic)
và là người ủng hộ Nhập Trung Luận của
Nguyệt Xứng, cái giá mà Sapen phải trả chính là việc làm suy giảm thẩm quyền của
luận Uttaratantra (Tối Thượng Thừa Luận). Sapen ít ai ngờ rằng đốm lửa
mà ông tạo ra lại có một tác động lâu dài đến vậy đối với lịch sử của luận Uttaratantra
tại Tây Tạng. Chỉ trong vòng một thế kỷ, từ giữa thế kỷ 13 đến giữa thế kỷ 14,
nhiều học giả Tây Tạng thuộc các tông phái khác nhau đã viết các luận giải về Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) nhằm
bảo vệ cách trình bày của luận thư này về chân lý cứu cánh. Xét trên phương diện
này, Sapen và những người kế thừa ông có lẽ được xem là đã thất bại trong cuộc
chiến chống lại các bậc vĩ nhân Tây Tạng như Rikrel, Karmapa thứ Ba, Dölpopa,
Longchenpa và những vị khác mà tác phẩm của họ đã được chúng ta khảo sát trong
chương này và các chương trước.
Như Northrop Frye đã nhận định một cách đầy thi vị rằng:
“Lịch sử vận hành theo một nhịp điệu chu kỳ nhưng không bao giờ tạo thành một
vòng tròn khép kín hay hoàn chỉnh. Một trào lưu mới bắt đầu, diễn tiến cho đến
khi kiệt quệ, và rồi một phần của trạng thái nguyên thủy lại tái xuất hiện, dẫu
vậy là trong một bối cảnh hoàn toàn mới với những điều kiện mới.” Chu kỳ tiếp
theo này trong lịch sử của luận Uttaratantra (Tối Thượng Thừa Luận) đưa
chúng ta đến với Butön, Dratsépa, Rendawa, Tsongkhapa và Gyaltsab. Giờ đây,
chúng ta sẽ bước sang phần cuối cùng này của cuốn sách./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét