Jung's Interest in Zen Buddhism and the Tibetan Book of the Dead
Tác giả: David Zuniga
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Cách
đây vài tuần, tôi đã bắt đầu viết về các hình thức tham vấn tâm lý khác nhau.
Mọi người càng hiểu rõ về các loại liệu pháp trò chuyện bao nhiêu, thì tâm lý
trị liệu càng có nhiều khả năng phát triển tốt bấy nhiêu
Gần đây nhất, tôi đã viết về liệu pháp trò
chuyện tâm động học hay phân tâm học, được Sigmund Freud đề xuất lần đầu tiên.
Freud đã tạo ra mô hình phân tâm học/tâm động học và lập luận rằng các bệnh tâm
thần phát sinh từ những xung đột vô thức bên trong mỗi cá nhân. Mặc dù tư tưởng
của Freud vẫn còn ảnh hưởng, nhưng các phương pháp phân tâm học đã phát triển
đáng kể kể từ thời Freud.
Carl Jung là một trong những người ủng hộ
Phật giáo có ảnh hưởng nhất ở phương Tây thời kỳ đầu và là nhà lý thuyết hàng
đầu về sức khỏe tâm thần, người đã công khai ủng hộ giá trị tâm lý có hệ thống
của tôn giáo cổ xưa này. Jung nổi tiếng là đã đoạn tuyệt với người thầy của
mình, Sigmund Freud, vì nhiều lý do, nhưng một trong những khác biệt là ở sự
quan tâm khác nhau của họ đối với triết học và tôn giáo phương Đông nói chung,
và Phật giáo nói riêng. Đối với Jung, Phật giáo có lẽ là nền tảng trong công
việc của ông, trong khi Freud lại ít nhiệt tình hơn. Nhận xét về sự khác biệt
rõ rệt này, Freud đã nói: “Trong anh, cơn bão đang hoành hành; còn với tôi, nó
đến như tiếng sấm xa xăm” (McGuire, 2003, tr. 434).
Sự quan tâm của Jung đối với Phật giáo
không chỉ mang tính học thuật; ở cấp độ cá nhân sâu sắc, ông đã tìm cách tích
hợp những giáo lý của Phật giáo vào cuộc sống của mình. Ví dụ, khi phục vụ
trong quân đội trong Thế chiến thứ nhất, mỗi sáng khi thức dậy, ông đều vẽ một
mandala (một hình thức thiền định của Phật giáo) như một hình thức sùng kính cá
nhân. Jung coi cuốn Sách Tử thư Tây Tạng là một trong những ảnh hưởng và nguồn
cảm hứng mạnh mẽ và bền vững nhất của mình. Như ông đã ghi nhận, “Trong nhiều
năm, kể từ khi được xuất bản lần đầu, cuốn Bardo Thodol đã là người bạn đồng
hành không thể thiếu của tôi, và tôi không chỉ nợ nó nhiều ý tưởng và khám phá
thú vị, mà còn nhiều hiểu biết cơ bản” (1935, tr. xxxvi).
Jung đã viết một số tác phẩm có ảnh hưởng lớn
bình luận về tôn giáo và triết học châu Á, bao gồm lời tựa cho cuốn Bí mật của
bông hoa vàng và Kinh Dịch, cũng như Hồi ức, Giấc mơ và Suy ngẫm. Nhưng chính
trong lời tựa cho cuốn Tử thư Tây Tạng (1935; Tibetan Bardo Thodol) và cuốn
Giới thiệu về Thiền tông của D. T. Suzuki (1964) mà ông đã trực tiếp tìm cách
đặt nền tảng cho quan điểm tâm lý học của mình trong tư tưởng Phật giáo. Những
văn bản nổi tiếng này đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu quan điểm của
Jung về tư tưởng châu Á bởi vì chính trong hai tác phẩm sau này, Jung đã trực
tiếp tuyên bố sự tôn kính và dựa dẫm của mình vào Phật giáo.
Jung coi cuốn "Tử thư Tây Tạng" là nền tảng trong hệ thống tâm lý học của
mình, và trong phần Giới thiệu về văn bản Tây Tạng, Jung tìm thấy nhiều điểm
tương đồng giữa triết học Phật giáo cổ đại và phương pháp tâm lý học của ông,
so sánh khái niệm giác ngộ trong Phật giáo với niềm tin tâm lý học của ông rằng
"nền tảng sáng tạo của mọi khẳng
định siêu hình là ý thức" (trang xxxix). Và ông đồng nhất khái niệm
nghiệp của Phật giáo với quan niệm về vô thức tập thể của mình (trang xliii).
Trong lời tựa cho cuốn "Giới thiệu về Thiền tông" của D. T.
Suzuki, Jung đã tán thành định nghĩa Thiền là một "bí ẩn không thể diễn tả" và ông mô tả Thiền có "bản chất hoa lá của tinh thần phương Đông"
và là "một trong những đóa hoa tuyệt
vời nhất của tinh thần Trung Hoa" (trang 11, 12). Tương tự như cách
giải thích của ông về "Tử thư Tây
Tạng", Jung mô tả satori, một trải nghiệm giác ngộ trong Thiền, như
một hiện tượng tâm lý.
Giống như cuốn "Tử thư Tây Tạng", Jung tìm thấy sự tương đồng và nền tảng cho
thực hành tâm lý học của mình trong Thiền tông. Ông lập luận rằng bản chất bí
ẩn của thiền koan (công án) dẫn đến
việc người thực hành vượt lên trên ý thức hàng ngày và các phương tiện hiểu
biết trí tuệ thông thường. Kết quả thu được từ các koan Thiền tông, theo Jung, là sự tiết lộ trực tiếp về tiềm thức.
Do đó, thông qua thực hành koan Thiền
tông, Jung tin rằng ông đã tìm thấy một phương tiện để hiện thực hóa các mục
tiêu của tâm lý học của mình. Jung viết: "Sự dịch chuyển này thường xảy ra trong Thiền tông thông qua việc năng
lượng của ý thức bị rút khỏi nội dung và được chuyển sang khái niệm về tánh
không hoặc sang koan… Điều này làm
tăng sự sẵn sàng của nội dung tiềm thức để đột phá lên ý thức… Mối liên hệ về
bản chất là một mối quan hệ bù trừ: nội dung của tiềm thức đưa lên bề mặt mọi
thứ cần thiết theo nghĩa rộng nhất để hoàn thiện, tức là sự trọn vẹn, của định
hướng ý thức… và do đó xóa bỏ xung đột vô ích giữa nhân cách ý thức và tiềm
thức (trang 22-23)."
Cũng như trong cuốn "Tử Thư Tây Tạng", Jung tìm thấy sự tương đồng sâu sắc giữa các lý thuyết của mình với sự hiểu biết về Phật giáo Thiền tông. Và để đáp lại lời bình luận của ông về "Tử Thư Tây Tạng", Jung đã sử dụng lời tựa cho tác phẩm Thiền tông của D. T. Suzuki để phê phán quan niệm về vô thức của Freud. Jung coi hệ thống tâm lý học của mình rất phù hợp với Phật giáo, và ông thường xuyên nhận thấy Phật giáo đã định hình tư tưởng cá nhân và nghề nghiệp của ông như thế nào. Trong bài viết tiếp theo, tôi sẽ trình bày một số suy ngẫm về cách Jung và các nhà tâm lý học động lực đã sử dụng triết học Phật giáo.
***
Tư Liệu Liên Hệ:
- Bardo
Thodol: Tử thư Tây Tạng – Giáo pháp Giải thoát thông qua sự Nghe, đến từ Tâm
Giác ngộ của Đạo sư Liên Hoa Sinh
-
Jung, C. (1935). The
Tibetan Book of the Dead: Psychological commentary. In W. Y. Evans-Wentz
(Ed.). The Tibetan Book of the Dead. London: Oxford University
Press.
-
Jung, C. (1964).
Foreword. In Daisetz Teitaro Suzuki. An introduction to Zen Buddhism.
New York: Grove Press.
-
McGuire, W. (2003).
Jung, Evans-Wentz and various other gurus. Journal of Analytical
Psychology, 48, 433-445.
https://www.drdavidzuniga.com/blog/jungs-interest-in-zen-buddhism-and-the-tibetan-book-of-the-dead

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét