Nguyên tác: Harmonizing the Five Buddha-Family Traits
Tác giả: Dr. Alexander
Berzin 33:02
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
TỔNG
QUAN NỘI DUNG
01•
Giới thiệu
02• Các đặc tính thường
trụ và phát triển
03• Ví dụ: Vấn đề Tự
ti
04• Ví dụ: Tính ích kỷ
05• Các hệ thống khác
nhau
06• So sánh qua các hệ
thống Y học
07• Những khả năng gây
nhầm lẫn
08• Tôi thuộc Phật Bộ nào?
09• Liệt kê Năm Gia
Tộc Phật
10• Năm phương diện
11• Bài thực hành
12• Thảo luận
13• Sự mất hòa điệu /
Bất quân bình
***
Việc
hài hòa Năm gia đình Phật (Five Buddha-Family Traits) là một pháp tu sâu sắc
trong Phật giáo Kim Cương thừa nhằm chuyển hóa những cảm xúc tiêu cực (ngũ độc)
thành năm loại trí tuệ thanh tịnh. Mỗi "Gia đình" đại diện cho một
phương diện của tâm thức con người.
Mỗi
chúng ta thường có một hoặc hai đặc điểm nổi trội trong năm bộ này. Thay vì
chối bỏ những cảm xúc tiêu cực, chúng ta học cách nhận diện năng lượng cốt lõi
của chúng để chuyển hóa thành trí tuệ.
***
Rất
hay — dưới đây là bản triển khai ngắn gọn Năm Gia Tộc Phật theo hướng tâm lý –
quan hệ – đời sống, nhấn mạnh phẩm tính lành mạnh, lệch pha thường gặp, và cách
quân bình trong thực hành hằng ngày:
I-
GIỚI THIỆU
Buổi
hội thảo này nói về cách năm đặc tính của các Phật bộ (năm Phật tánh) tạo nên
cách chúng ta nhìn nhận vũ trụ. Đây là một chủ đề liên quan đến điều mà trong
Phật giáo chúng ta gọi là “Phật tánh” (Buddha-nature). Từ “gia đình” trong
“Phật bộ” thực ra xuất phát từ từ Sanskrit chỉ “giai cấp” (caste), một hệ thống
xã hội đã phát triển ở Ấn Độ. Đức Phật là người Ấn Độ và Ngài thuyết pháp cho
thính chúng Ấn Độ, vì vậy ở đây Ngài nói đến giai cấp của Phật.
Tại
Ấn Độ, xã hội được chia thành nhiều giai cấp khác nhau. Điều Đức Phật nhấn mạnh
là khi chúng ta gia nhập tăng đoàn Phật giáo – ở đây Ngài đặc biệt muốn nói đến
tăng đoàn xuất gia – thì tất cả mọi người đều trở thành thành viên của giai cấp
Phật, và các phân chia giai cấp xã hội không còn tồn tại nữa. Về mặt nguyên
tắc, ai cũng thuộc về giai cấp Phật.
Ý
nghĩa của giai cấp Phật nằm ở chỗ: nó chỉ ra rằng mọi người đều có tiềm năng
trở thành một vị Phật. Theo nghĩa này, tất cả chúng ta đều thuộc về một giai
cấp, hay một gia đình, hay một dòng tộc (tùy cách dịch từ này). Khi nói đến
Phật tánh, chúng ta không chỉ nói về một bản tánh duy nhất, mà là nói đến rất
nhiều đặc điểm hay phẩm tính khác nhau của Phật bộ hay giai cấp Phật. Có vô số
đặc điểm, phương diện hay tiềm năng – mà chúng ta có, mà ai cũng có – cho phép
chúng ta trở thành một vị Phật. Đó chính là các yếu tố Phật tánh.
Vì
vậy, khi chúng ta nói đến năm Phật bộ (hay bất kỳ con số Phật bộ nào), thực
chất chúng ta đang nói đến năm hay nhiều nhóm đặc điểm khác nhau mà tất cả
chúng ta đều có, và chính những đặc điểm này cho phép chúng ta trở thành một vị
Phật. Điều này giống như trong một giai cấp có những phân nhánh nội bộ; ví dụ,
trong một gia đình có cha, mẹ, bà, cháu gái, v.v. Cũng tương tự như vậy, trong
Phật tánh có những nhóm đặc điểm khác nhau.
Nếu
xem xét kỹ hơn các yếu tố Phật tánh, chúng ta sẽ thấy rằng đó là những yếu tố
hoặc sẽ chuyển hóa thành các phương diện khác nhau của một vị Phật, hoặc chịu
trách nhiệm cho sự hiện hữu của những phương diện ấy. Việc chúng tồn tại trong
chúng ta có nghĩa là chúng cũng tồn tại trong một vị Phật.
Tôi
giải thích tất cả những điều này bởi vì tôi cho rằng, trước khi bắt đầu làm
việc với các Phật bộ khác nhau, điều quan trọng là phải có một sự hiểu biết
nhất định về nền tảng lý thuyết mà chúng xuất phát từ đó. Nếu không đặt chúng
vào bối cảnh thích hợp, chúng ta rất dễ hình thành những quan niệm khá kỳ lạ.
Vì được gọi là Phật bộ, nên hiển nhiên là nó có liên hệ đến Phật giáo; do đó,
chúng ta cần nói đôi chút về bối cảnh Phật học mà khái niệm này xuất phát.
Phật
tánh là một chủ đề phức tạp, giống như rất nhiều vấn đề khác trong Phật giáo.
Nhưng đó là vì cuộc sống vốn dĩ phức tạp. Để có thể đối diện và xử lý cuộc
sống, chúng ta cần những hệ thống cũng đủ phức tạp để bao quát mọi phương diện
của đời sống. Đó đơn giản là sự thật của sự vật. Thân thể chúng ta phức tạp,
phải không? Tâm thức chúng ta cũng phức tạp. Mọi thứ đều phức tạp. Chúng ta cần
tiếp cận và chấp nhận điều đó như nó là. Không có gì đáng ngạc nhiên hay đáng
lo lắng cả. Chúng ta hoàn toàn có khả năng đối phó với những điều phức tạp. Bất
kỳ ai từng sử dụng máy tính đều biết rằng chúng ta có thể làm việc với những hệ
thống vô cùng phức tạp.
II-
CÁC ĐẶC TÍNH PHẬT-TÁNH
THƯỜNG TRỤ VÀ PHÁT TRIỂN
Có
nhiều loại đặc tính thuộc Phật-tánh. Những đặc tính thường trụ là những gì
không bao giờ thay đổi, chẳng hạn như bản chất quy ước và bản chất tối hậu của
tâm. Chúng luôn luôn như vậy, không hề biến đổi. Hai khía cạnh khác nhau của
bản chất tâm – tâm của một người phàm và tâm của một vị Phật – vẫn hoàn toàn
giống nhau. Chúng không thay đổi. Việc tâm hạn cuộc của chúng ta có một bản
chất nhất định phù hợp với việc tâm của một vị Phật cũng có cùng loại bản chất
ấy. Chính vì tâm chúng ta có bản chất đó, nên chúng ta cũng có thể có một tâm
Phật mang cùng bản chất như vậy.
Một
khía cạnh khác là các đặc tính thường trụ có thể là những điều không thay đổi
về bản chất. Ví dụ, có thân, có lời nói hay khả năng giao tiếp, có tâm; những
sự kiện này không thay đổi về bản chất, dù rõ ràng loại thân mà ta có có thể
thay đổi. Đây là những đặc tính thường trụ.
Bên
cạnh đó, có những đặc tính phát triển. Các đặc tính phát triển này có thể là
những yếu tố vốn luôn hiện hữu, nhưng là các tiềm năng có thể được kích thích
để tăng trưởng, như các phẩm chất tốt đẹp, lòng bi mẫn hay tấm lòng nhân ái.
Việc chăm sóc ai đó – dù là chăm sóc chính mình hay chăm sóc người khác – là
một đặc tính luôn có mặt trong tâm của mọi chúng sinh; tuy nhiên, nó có thể
biểu hiện theo nhiều cách khác nhau và có thể được kích thích để phát triển. Nó
có thể tiến hóa để trở nên giống như của một vị Phật, đến mức cuối cùng chúng
ta chăm sóc tất cả mọi người một cách bình đẳng.
Cũng
có những đặc tính phát triển được đạt được lần đầu tiên, chứ không phải lúc nào
cũng có sẵn. Ví dụ như bồ-đề tâm, tức là tâm nguyện hướng đến giác ngộ nhằm lợi
ích cho tất cả mọi người; đây là điều chúng ta có thể phát triển vào một thời
điểm nhất định, lần đầu tiên – chúng ta không phải lúc nào cũng có nó. Hoặc đó
có thể là sự hiểu biết đúng đắn về tính không của thực tại. Ban đầu chúng ta
không có sự hiểu biết này, rồi sau đó phát triển nó lần đầu tiên. Một khi đã
được phát triển lần đầu, nó có thể được kích thích để tăng trưởng; hoặc nó có
thể củng cố các yếu tố khác vốn luôn hiện hữu.
Tất
cả những khía cạnh Phật-tánh khác nhau này là những yếu tố sẽ chuyển hóa thành,
hoặc giải thích cho, các khía cạnh khác nhau của bậc giác ngộ mà chúng ta sẽ
trở thành. Ở đây, chúng ta không nói một cách chung chung; chúng ta đang nói về
sự giác ngộ tương lai cụ thể của chính mỗi người, xa hơn trên dòng liên tục của
tâm thức mình. Không phải là sự tiếp nối của “thời gian” nói chung, mà là sự
tiếp nối của chính dòng tâm thức cá nhân của chúng ta. Đó chính là ý nghĩa của
bồ-đề tâm: một tâm hướng đến sự giác ngộ tương lai của chính mình trên dòng tâm
thức ấy, chứ không phải nhắm đến một sự giác ngộ chung chung – mà là sự giác
ngộ tương lai rất cụ thể của chính chúng ta. Chúng ta phải đạt được điều đó
càng sớm càng tốt để có thể giúp đỡ người khác. Điều này dựa trên sự xác tín
trọn vẹn rằng sự giác ngộ ấy thực sự tồn tại trong tương lai của dòng tâm thức
chúng ta và rằng việc đạt được nó là khả thi. Nếu không, chúng ta sẽ nhắm đến
một mục tiêu mà bản thân còn không chắc là mình có thể đạt được, điều đó khiến
sự phát triển tâm linh trở nên rất bấp bênh.
Vậy
làm sao chúng ta biết rằng việc đạt đến giác ngộ thực sự là khả thi? Một trong
những cách là hiểu rằng chúng ta có đầy đủ mọi tiềm năng cho điều đó: các yếu
tố thường trụ, các yếu tố phát triển – tất cả những yếu tố Phật-tánh này – hoặc
sẽ chuyển hóa thành các khía cạnh của sự giác ngộ tương lai ấy, hoặc sẽ giữ
nguyên và là cơ sở giải thích vì sao khi đã giác ngộ, chúng ta có những đặc
điểm đó.
III-
VÍ DỤ: VẤN ĐỀ TỰ TI (LOW SELF-ESTEEM)
Khi
chúng ta làm việc với các đặc tính của Phật-tánh, điều đang được nói đến là
cách chúng ta thực sự sử dụng “chất liệu Phật-tánh” như thế nào. Điều này bao
hàm việc lắng dịu lại để nhận ra những đặc tính vốn luôn hiện hữu, rồi kích
thích chúng phát triển. Đây là một điểm rất quan trọng: lắng dịu lại để nhận ra
chúng, hoặc kích thích chúng tăng trưởng, hoặc cả hai – đặc biệt khi chúng ta
đang khổ vì tự ti, như nghĩ rằng: “Tôi không đủ tốt,” hay “Tôi không có khả
năng. Làm sao tôi có thể trở thành một vị Phật được? Làm sao tôi có thể làm
được điều gì cho ra hồn?”
Kiểu
suy nghĩ này cho thấy việc có thể nhận ra rằng: “Tôi có tất cả những yếu tố
Phật-tánh này. Tôi có tất cả những yếu tố, những tiềm năng này – những thứ mà
ai cũng có. Tôi không khác gì người khác,” là vô cùng quan trọng. Vấn đề chỉ là
làm cho tâm mình lắng xuống. Thông thường chúng ta quá căng thẳng, quá lo âu
đến mức thậm chí không nhận ra những điều ấy. Nhưng nếu có thể lắng dịu lại,
chúng ta sẽ có khả năng khám phá ra những gì vốn luôn ở đó. Dùng hình ảnh so
sánh trong các kinh điển Phật giáo: “Khám phá kho báu vốn luôn nằm sẵn dưới bề
mặt.” Điều này mang lại cho chúng ta một mức độ tự tin rằng mình thực sự có đủ
“nguyên liệu làm việc” để trở thành một vị Phật, để giúp đỡ người khác ngày
càng nhiều hơn.
Các
vấn đề về tự ti rất thường xoay quanh việc chúng ta quá căng thẳng nên không
thể thấy rõ thực trạng của chính mình. Nếu chúng ta bớt căng thẳng hơn, dành
thời gian để lắng dịu lại và nhận ra những gì đang có, thì sẽ không có lý do gì
để tự ti cả. Khi nghĩ về các yếu tố Phật-tánh này theo khía cạnh phát triển –
tức là những điều cần được kích thích để tăng trưởng – điều chúng ta hiểu được
là: tất cả những yếu tố này đều hiện diện nơi mọi người, nhưng có một phổ mức
độ về việc chúng được phát triển đến đâu và hoạt động mạnh yếu thế nào.
Ở
mỗi người chúng ta, tại bất kỳ thời điểm nào, mỗi yếu tố cụ thể sẽ nằm ở một vị
trí khác nhau trên sự phân bố theo tính chất đó. Nhưng điều này không thành vấn đề gì cả. Dù nó đang ở điểm
nào trên phổ – xét về cường độ, về trí thông minh, về lòng từ bi, hay bất cứ
điều gì – thì cũng đều ổn cả. Ai cũng có một mức độ trí thông minh nào đó. Ai
cũng có một mức độ từ bi nào đó. Và đó chính là điều chúng ta làm việc cùng –
bất cứ thứ gì đang có ở đó.
Ở
mỗi người khác nhau, từng yếu tố này sẽ nằm ở những vị trí khác nhau trên phổ.
Ngay trong chính bản thân chúng ta, chúng cũng sẽ ở những vị trí khác nhau vào
những giai đoạn khác nhau của cuộc đời, thậm chí vào những thời điểm khác nhau
trong cùng một ngày. Việc ở những điểm khác nhau ấy không có gì to tát, cũng
chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Vấn đề đơn giản là: “Hãy làm việc với mức độ mà
tôi đang có hiện nay – trong cuộc sống nói chung, hay ngay tại khoảnh khắc này
trong ngày.” Ta làm việc với nó và kích thích nó phát triển.
IV-
VÍ DỤ: TÍNH ÍCH KỶ
Chúng
ta có thể nhận ra các yếu tố này nơi chính mình theo hai cách. Một cách là đơn
giản lắng dịu lại. Cách còn lại là vì nhiều yếu tố trong số này bị trộn lẫn với
sự mê lầm và trở nên méo mó, nên ta cần lắng dịu những sự méo mó đó. Khi làm
lắng dịu các sự méo mó, chúng ta sẽ thấy được phẩm chất nền tảng vốn có ở đó.
Hãy
lấy ví dụ về tính ích kỷ, khi chúng ta chỉ quan tâm đến bản thân, chỉ chăm lo
cho mình và cho những nhu cầu của mình. Nếu chúng ta làm cho điều này lắng dịu
đi một chút và cố gắng loại bỏ sự mê lầm đang hiện diện, thì cấu trúc nền tảng
ở đó là gì? Cấu trúc nền tảng chính là sự chăm sóc ai đó. Việc chăm sóc ai đó
đã bị trộn lẫn với sự mê lầm rằng: “Chỉ có tôi thôi, tôi là người quan trọng
nhất trên đời này, mặc kệ tất cả những người khác.” Nó bị trộn lẫn với sự mê
lầm đó, nên ta chỉ chăm sóc cho chính mình.
Tuy
nhiên, nếu chúng ta lắng dịu sự mê lầm ấy, thì tiềm năng, khả năng hay phẩm
chất chăm sóc ai đó này có thể được phát triển và kích thích để tăng trưởng, để
rồi chúng ta không chỉ chăm sóc một hay hai người khác mà cuối cùng có thể chăm
sóc tất cả mọi người, như một vị Phật. Đây chính là cách chúng ta làm việc với
các yếu tố Phật-tánh khác nhau, và điều này cho thấy ý nghĩa của việc làm việc
với cái gọi là các Phật bộ (Buddha-families).
Bây
giờ, tại sao chúng ta không dành vài phút để suy ngẫm về điều này? Khi đã nắm
được nền tảng lý thuyết, thì toàn bộ cuộc thảo luận này sẽ trở nên rõ ràng. Khi
thấy được bối cảnh, chúng ta mới có thể đi vào cách thức thực sự làm việc với
những chất liệu này.
[thiền]
Điểm
chính ở đây là hiểu được ý nghĩa của toàn bộ cuộc thảo luận về các Phật bộ. Vì
sao đây là một chủ đề có liên quan, và nó liên quan thế nào đến đời sống của
chúng ta? Vì sao chúng ta muốn làm việc với chúng? Chúng ta muốn làm việc với
chúng để có thể nhận ra những tài năng mà ai trong chúng ta cũng có, và có được
một ý niệm về cách phát triển và nuôi dưỡng chúng. Khi điều này đã rõ ràng, thì
điểm tiếp theo sẽ là các hệ thống phân loại khác nhau của những đặc tính Phật-tánh
này – tức là các sơ đồ phân loại.
V-
CÁC HỆ THỐNG KHÁC NHAU
Như
tôi đã nói, Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều pháp khác nhau cho rất nhiều căn cơ
khác nhau. Những đặc tính Phật-tính này có thể được gom lại thành nhiều nhóm
khác nhau, giống như các tiểu gia đình hay nhánh phụ. Chúng ta cũng có thể gọi
đó là những Phật bộ (Buddha-families) khác nhau. Vấn đề đặt ra là: có bao nhiêu
nhóm như vậy?
Chủ
đề này chủ yếu được bàn đến trong mật điển (tantra) của Phật giáo. Có nhiều
cách phân chia mật điển. Một cách là hệ thống chia tantra thành bốn cấp. Trong
hai cấp đầu, có ba Phật bộ. Trong cấp thứ ba, có bốn Phật bộ. Trong cấp thứ tư,
gọi là vô thượng du-già mật điển (anuttarayoga tantra) – cấp cao nhất của
tantra – thì thường có năm Phật bộ, ngoại trừ hệ thống Kalachakra và hệ thống
Đạo–Quả (Lamdre) của phái Sakya, nơi có sáu Phật bộ.
Trong
hệ thống “Vô Thượng Du Già Bí Mật Tập Hội”(Guhyasamaja anuttarayoga), lại có
cách trình bày chỉ một Phật bộ, hoặc năm Phật bộ, hoặc thậm chí một trăm Phật
bộ. Rõ ràng là không có một hệ thống phân loại cố định nào cả: người ta có thể
nhóm chúng theo nhiều cách khác nhau. Ở đây không có một “chân lý duy nhất” hay
“một Thượng đế duy nhất”. Bất kể chúng ta nói đến bao nhiêu Phật bộ, tất cả đều
liên quan đến chúng ta. Chúng chỉ đơn giản là những cách khác nhau để mô tả tất
cả những tiềm năng đa dạng mà chúng ta có.
Hôm
nay, chúng ta sẽ nói về hệ thống phân loại năm Phật bộ, có lẽ là hệ thống được
biết đến rộng rãi nhất. Tất nhiên, cách trình bày về năm Phật bộ cũng có vô số
biến thể. Không chỉ có một cách duy nhất để trình bày năm Phật bộ. Cá nhân tôi
biết ít nhất năm cách giải thích khác nhau, và chắc chắn còn nhiều hơn nữa.
Hệ
thống năm Phật bộ mà một số người trong chúng ta quen thuộc ở đây xuất phát từ
hệ thống “sự tỉnh thức không gian Từ Ái (Maitri space awareness)” do Chögyam
Trungpa Rinpoche phát triển. Đó chỉ là một trong năm hệ thống mà tôi biết;
ngoài ra vẫn còn những hệ thống khác.
VI-
SO SÁNH QUA CÁC
HỆ THỐNG Y HỌC
Làm
sao chúng ta liên hệ điều này với chính mình? Cách tốt nhất để liên hệ là thông
qua một phép so sánh. Chúng ta có thể dùng ví dụ truyền thống về con voi và
những người mù mà Đức Phật từng sử dụng, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta cũng có
thể hiểu điều này rất rõ qua phép so sánh với các hệ thống y học.
Tất
cả chúng ta đều có một thân thể, và có rất nhiều hệ thống y học khác nhau mà
chúng ta có thể sử dụng để làm việc với thân thể và chữa lành nó. Mỗi hệ thống
y học mô tả cơ thể theo một cách nhất định và chỉ ra phương pháp đưa cơ thể trở
lại trạng thái cân bằng khi nó bị mất cân bằng.
Chúng
ta có hệ thống y học Tây phương (allopathic), mô tả cơ thể qua mạch máu, thần
kinh, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, v.v. Đó là một mô tả hợp lệ về cơ thể. Khi có sự
mất cân bằng trong hệ thống này, chúng ta có thể dùng các loại thuốc và phương
pháp khác nhau để đưa hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hay bất cứ hệ nào, trở lại cân
bằng.
Tuy
nhiên, cũng có mô tả của y học Ayurveda (A Dục Phệ Đà -“tri thức về sự sống”),
nói về cơ thể theo các thể dịch như gió, mật, đờm, cùng với những phẩm chất
khác như rajas, tamas, sattva (trần, ám, thiện), vốn xuất hiện trong các hệ
thống yoga để mô tả cách cơ thể vận hành. Cách mô tả này cũng chính xác. Khi hệ
thống đó mất cân bằng, có những phương pháp cụ thể để đưa nó trở lại cân bằng,
và nó hoạt động – kết quả là sức khỏe tốt.
Rồi
còn có mô tả của y học Tây Tạng, cũng nói đến mật, gió và đờm, nhưng trong một
hệ thống khác, liên quan đến các đại (elements) và những yếu tố khác, và cũng
có thể được đưa trở lại cân bằng. Trong y học Trung Hoa, mô tả cơ thể bao gồm
các kinh mạch châm cứu, âm – dương và ngũ hành Trung Hoa (khác với ngũ hành của
Ấn Độ). Đây cũng là một hệ thống vận hành hoàn chỉnh, mô tả chính xác cơ thể và
có thể đưa nó trở lại cân bằng khi bị mất cân bằng.
Chúng
ta không thể nói rằng có một hệ thống duy nhất là đúng tuyệt đối. Tất cả các hệ
thống ấy đều hữu ích và đều chỉ ra những cách khác nhau để tái lập sự cân bằng
cho cơ thể. Điều này cũng hoàn toàn tương tự đối với các Phật bộ.
Ngay
cả khi chỉ giới hạn trong năm Phật bộ, vẫn có nhiều cách mô tả khác nhau về năm
Phật bộ và những gì thuộc về mỗi bộ. Có rất nhiều hệ thống khác nhau, nhưng mỗi
hệ thống đều trình bày một cấu trúc toàn diện và trọn vẹn mà chúng ta có thể
làm việc cùng – không chỉ để lập lại sự cân bằng, mà còn để phát triển tất cả
những phẩm chất này nhằm trở thành một vị Phật. Mỗi hệ thống đều có giá trị và
tính hữu dụng riêng, giống hệt như các hệ thống y học khác nhau vậy.
VII-
NHỮNG KHẢ NĂNG GÂY NHẦM LẪN
Tôi
nêu điều này ra bởi vì khi chúng ta làm việc với các Phật bộ – khi đọc các tài
liệu khác nhau, v.v. – thì mọi thứ có thể trở nên vô cùng rối rắm. Lý do là vì
đôi khi hoàn toàn không rõ rằng cuốn sách này đang nói về năm Phật bộ theo hệ
thống này, trong khi cuốn sách khác lại nói về năm Phật bộ theo một hệ thống
khác.
Điều
này xảy ra vì, bất kể chúng ta đang nói đến hệ thống nào, tất cả đều sử dụng
cùng năm tên tiêu chuẩn. Trong mỗi hệ thống, chúng ta đều nói đến một loại nhận
thức khác nhau. Tôi gọi nó là “tỉnh thức sâu”; một số bản dịch gọi là “trí
Phật”. Dù gọi bằng cách nào, thì vẫn là một loại nhận thức hay trí tuệ; và với
mỗi Phật bộ đều có những yếu tố đi kèm như đại (element), màu sắc và loại hoạt
động. Ngoài ra, mỗi Phật bộ còn có một dạng méo mó thần kinh (neurotic
distortion) đặc thù của nó.
Tuy
nhiên, trong mỗi hệ thống khác nhau, thì đại nào đi với Phật bộ nào, loại nhận
thức nào đi với Phật bộ nào, và màu sắc nào đi với Phật bộ nào lại không giống
nhau.
Ví
dụ, chúng ta có Phật bộ Ratna (bảo bộ, bộ châu báu). Trong một số hệ thống, địa
đại thuộc về bộ này; trong hệ thống khác, thủy đại thuộc về bộ này; còn trong
một hệ thống khác nữa, hỏa đại lại thuộc về bộ này. Điều đó có thể khiến chúng
ta nghĩ: “Rốt cuộc thì chuyện gì đang xảy ra vậy?”
Điều
quan trọng là đừng hoảng hốt hay bối rối vì điều
đó, bởi vì – như chúng ta thường nghe trong các lời giải thích của Phật giáo –
trong bất kỳ khía cạnh cụ thể nào của năm Phật bộ, thì tất cả bốn Phật bộ còn
lại đều có thể được bao hàm. Mọi thứ có thể đan xen vào nhau; điều này rất
“Phật giáo”!
Nếu
suy nghĩ kỹ, điều này cũng không hề kỳ lạ. Hình ảnh thường được dùng là lưới
của Phạm Thiên (lưới Indra / Brahma) – hình ảnh này cũng có trong Ấn Độ giáo –
được tạo thành từ những chiếc gương. Ở mỗi nút giao của sợi lưới đều có một
chiếc gương, và trong mỗi chiếc gương ấy, tất cả những chiếc gương khác đều
được phản chiếu. Đó chính là kiểu hình ảnh này.
Chúng
ta cũng thấy điều tương tự trong khoa học. Ví dụ, nếu lấy một tế bào gốc, thì
từ đó có thể phát triển thành bất cứ loại tế bào nào, hay có thể nhân bản thành
bất cứ thứ gì. Toàn bộ cơ thể của một chúng sinh có thể được nhân bản từ chỉ
một tế bào, nên toàn thể đều được phản chiếu trong từng phần rất nhỏ.
VIII-
TÔI THUỘC PHẬT BỘ NÀO?
Vậy
kết luận ở đây là gì? Rất thường khi tiếp cận với các Phật bộ, người ta hay đặt
câu hỏi: “Tôi thuộc Phật bộ nào?” Rồi từ đó, chúng ta lấy toàn bộ những đặc
điểm của Phật bộ cụ thể ấy. Nhưng vấn đề là: điều đó chỉ đúng theo một hệ thống
nhất định. Nếu nhìn theo một hệ thống khác (ví dụ với Ratna – Bảo bộ), chúng ta
sẽ có một hình ảnh hoàn toàn khác về Phật bộ đó, vì yếu tố đi kèm đã thay đổi.
Vì
vậy, tôi nghĩ rằng việc cố gắng xác định mình thuộc về một Phật bộ cụ thể nào
đó, nếu xem nó như một điều tuyệt đối, như một kiểu “chân lý duy nhất”, thì
không mấy hữu ích. Khi chúng ta thọ các quán đảnh mật tông, trong mỗi lần quán
đảnh, chúng ta đều tung hoa vào mạn-đà-la, và kết quả là mỗi lần lại thuộc về
một Phật bộ khác nhau! Rõ ràng là chúng ta có thể là bất kỳ Phật bộ nào.
Điều
này giống như Kinh Dịch: ta gieo đồng xu, và tại bất kỳ thời điểm nào cũng có
thể rơi vào bất kỳ quẻ nào, và quẻ nào cũng đều thích hợp. Tương tự như vậy,
tất cả các Phật bộ đều thích hợp với chúng ta vào những thời điểm khác nhau,
theo mỗi cách trình bày khác nhau của chúng.
Khi
làm việc với các Phật bộ, thay vì tiếp cận theo kiểu “trong năm Phật bộ thì tôi
là bộ nào?”, thì điều liên quan và thiết thực hơn là cố gắng nhận ra đầy đủ cả
năm khía cạnh ấy trong chính mình. Đừng quá bận tâm đến việc chúng được kết hợp
lại thành một Phật bộ cụ thể nào, trừ khi tâm chúng ta đủ linh hoạt để có thể
làm việc với rất nhiều hệ thống khác nhau.
Nếu
tâm chúng ta chưa đủ linh hoạt – đặc biệt khi đây còn là điều mới mẻ – thì việc
đó rất dễ gây rối và loạn. Tốt hơn, và theo tôi là hữu ích hơn, là nhận ra
rằng: luôn luôn có năm loại nhận thức khác nhau, năm kiểu hành động khác nhau,
năm kiểu giao tiếp khác nhau, và chúng ta đều có tiềm năng để là tất cả năm
loại đó. Khi ấy, chúng ta có thể làm việc với chúng, thay vì nghĩ rằng: “Tôi
chỉ là một loại mà thôi.”
Đó
chính là cách tiếp cận mà chúng ta sẽ theo trong cuối tuần này. Tôi sẽ chỉ ra
một vài biến thể giữa các hệ thống khác nhau, nhưng chúng ta đừng sa đà vào
kiểu suy nghĩ: “Loại nhận thức sâu này thuộc về bộ này, loại kia thuộc về bộ
kia, và hệ thống nọ thì đi chung với hệ thống kia.” Điều đó có thể khiến bạn
phát điên, trừ khi bạn có một cái đầu cực kỳ ngăn nắp và có trật tự.
Tôi
muốn làm việc với cả năm hơn. Chúng ta sẽ không làm một bài tập phân loại học –
kiểu như trong sinh học, xem con côn trùng này thuộc lớp nào, con kia thuộc lớp
nào. Chúng ta sẽ không làm kiểu bài tập đó với các Phật bộ, mà sẽ tiếp cận
chúng theo hướng ứng dụng thực tiễn.
XI-
LIỆT KÊ NĂM PHẬT
BỘ
Trước
hết, chúng ta nên gọi tên năm Phật bộ:
1. Như Lai bộ (Tathāgata family)
Tathāgata
là một từ khác để chỉ một vị Phật, vì vậy bộ này thường được gọi đơn giản là
Phật bộ.
Biểu
tượng của bộ này là bánh xe (pháp luân).
Thông
thường có một hình tướng Phật đại diện cho bộ này – giống như sự biểu hiện của
Phật bộ ấy – đó là Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana).
2. Bảo bộ (Ratna family)
Ratna
trong tiếng Phạn có nghĩa là châu báu.
Bộ
này được biểu trưng bằng bảo châu.
Vị
Phật chính của bộ này là Bảo Sinh Phật (Ratnasambhava).
3. Liên Hoa bộ (Padma family)
Padma
trong tiếng Phạn nghĩa là hoa sen.
Biểu
tượng của bộ này là hoa sen.
Vị
Phật chính là A Di Đà Phật (Amitābha), nhưng các tôn khác như Quán Thế Âm
(Avalokiteśvara) cũng thuộc về bộ này.
4. Nghiệp bộ / Hành động bộ (Karma family)
Đây
là bộ của hành động.
Biểu
tượng của bộ này là thanh kiếm.
Vị
Phật chính là Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi); ngoài ra, Đa-la (Tārā)
cũng thuộc về bộ này.
5. Kim Cang bộ (Vajra family)
Vajra
giống như chùy kim cang, hay tia sét; thực ra đó là một pháp khí nghi lễ.
Vị
Phật chính của bộ này là Bất Động Phật (Akṣobhya).
Đó
là những tên gọi chung của năm Phật bộ. Chúng ta cũng nên biết những tên này,
dù rằng chúng ta sẽ không làm việc quá nhiều trực tiếp với chúng. Với tư cách
là thông tin tổng quát, thì việc biết như vậy cũng khá hữu ích.
X-
NĂM PHƯƠNG DIỆN
Bất
kể trong các hệ thống khác nhau, phương diện nào được xếp vào Phật bộ nào, bây
giờ chúng ta hãy làm việc với một tầng mức của năm yếu tố này. Hệ thống tổng
quát nhất của các đặc tính thuộc năm Phật bộ chính là năm yếu tố sẽ phát triển
thành toàn bộ các phương diện của một vị Phật.
Năm
yếu tố đó là:
1. Hoạt động của tâm: Luôn luôn có một dạng hoạt động tâm nào đó đang diễn ra: sự khởi
lên của một hình ảnh, sự nhận biết, sự biết một điều gì đó.
2. Các phẩm chất tốt đẹp: Những phẩm chất đi kèm với hoạt động tâm ấy, như lòng từ bi, sự
hiểu biết, v.v.
3. Sự biểu hiện qua than: Tất cả chúng ta đều có một thân thể.
4. Sự biểu hiện qua lời nói: Tất cả chúng ta đều có khả năng nói năng hay giao tiếp.
5. Hoạt động / tác động: Một dạng hành động nào đó có ảnh hưởng đến người khác hoặc đến
chính bản thân mình.
Thông
thường, chúng ta nói về chúng theo các thuật ngữ: thân, khẩu, ý, phẩm chất và
hoạt động. Chúng cũng có thể được giải thích theo những thứ tự khác nhau.
Đây
là những điều mà ai trong chúng ta cũng có. Chúng không thay đổi về bản chất.
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta luôn có đủ năm phương diện này, và khi thành
Phật, chúng ta cũng vẫn có đủ năm phương diện ấy.
1.
Chúng ta sẽ luôn luôn có hoạt động tâm: biết một điều gì đó, thấy, nghe, hay
bất cứ điều gì.
2.
Hoạt động tâm ấy sẽ đi kèm với những phẩm chất nhất định.
3.
Nó sẽ có sự biểu hiện vật lý, ở mức độ thô qua thân thể: ngôn ngữ cơ thể, nét
mặt, dáng vẻ của chúng ta.
4.
Nó sẽ có sự biểu hiện qua lời nói. Có thể chúng ta không nói suốt cả thời gian,
nhưng luôn có một dạng giao tiếp nào đó, kể cả giao tiếp trong im lặng. Và khi
nói đến biểu hiện bằng lời, thì không chỉ có từ ngữ, mà còn có giọng điệu, âm
lượng, sự nhẹ nhàng hay cứng nhắc – tất cả những điều ấy đều truyền đạt thông
tin.
5.
Cuối cùng, nó sẽ có tác động: trạng thái tâm và cách biểu hiện của chúng ta sẽ
ảnh hưởng đến người khác khi ở cùng họ, hoặc ảnh hưởng đến chính bản thân chúng
ta khi ở một mình – đến cảm xúc, trạng thái của ta, v.v. Đúng không? Chúng ta
luôn luôn có năm phương diện này.
Những
yếu tố này có thể vận hành ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng chúng luôn hiện
diện; nói cách khác, chúng có thể được phát triển. Ít nhất thì phần lớn trong
số đó có thể được phát triển. Ví dụ, khi chúng ta nhận biết một điều gì đó, thì
những phẩm chất bên trong có thể phát triển theo hướng nhiều từ bi hơn hay ít
từ bi hơn, nhiều hiểu biết hơn hay ít hiểu biết hơn.
Biểu
hiện trên gương mặt hay cách chúng ta giữ thân mình có thể hoàn toàn trống
rỗng, hoặc có thể là một nét cau có khó chịu, hoặc cũng có thể là một nụ cười.
Hình ảnh mà chúng ta thể hiện ra ngoài luôn luôn có mặt, đúng không? Nó có thể
là một hình ảnh dễ chịu, hữu ích hơn cho người khác, hoặc có thể là trống rỗng
– và điều đó sẽ đóng vai trò trong cách chúng ta tương tác với người khác.
Những
điều này cũng ảnh hưởng đến chính bản thân chúng ta. Nếu lúc nào chúng ta cũng
khom lưng, cơ bắp lúc nào cũng căng thẳng, thì đó là trạng thái của thân thể,
và nó chắc chắn ảnh hưởng đến chúng ta. Tôi tin rằng các bạn hiểu điều này, đặc
biệt là nhiều người trong số các bạn có nền tảng yoga và khá nhạy cảm với
phương diện này.
Cách
chúng ta giao tiếp bằng lời có thể phù hợp hoặc không phù hợp. Chúng ta có thể
diễn đạt rõ ràng hoặc mơ hồ. Sắc thái cảm xúc đi kèm với lời nói là cực kỳ quan
trọng. Âm lượng cũng vậy. Tất cả những điều này đều có thể được điều chỉnh, làm
việc cùng và phát triển.
Điều
thường xảy ra là năm phương diện này không hòa hợp với nhau. Chúng ta có thể
nói những lời tử tế với ai đó, nhưng thực sự bên trong lại không hề có chút tử
tế nào. Chúng ta chỉ nói cho có, trong khi nét mặt thì trống rỗng. Những yếu tố
này không đồng bộ, và kết quả là người khác không tin chúng ta. Ảnh hưởng tạo
ra không phải là điều chúng ta mong muốn.
Chẳng
hạn, chúng ta nói: “Thật vui khi gặp bạn!” hay “Rất vui được gặp lại bạn!”
nhưng trong đầu lại nghĩ: “Trời ơi, lại là người này nữa rồi!” Chúng ta rất
lịch sự, nói những lời dễ nghe, nhưng cảm xúc hay phẩm chất phía sau lời nói
thì không có. Có thể nét mặt của chúng ta cũng không thực sự phù hợp với lời
nói.
Nếu
chúng ta trở nên tỉnh giác và nhận ra rằng – trong mỗi khoảnh khắc – mình luôn
có đủ năm phương diện này, thì chúng ta có thể tự kiểm tra xem năm phương diện
ấy đang vận hành ra sao, và cố gắng đưa chúng vào trạng thái hòa hợp hơn, rồi
làm việc với chúng.
Đây
chính là toàn bộ ý nghĩa của việc chúng ta làm việc với các Phật bộ. Ngay cả ở
phương diện hoạt động của tâm, cũng có thể xảy ra tình trạng: miệng thì nói
“Thật tuyệt khi gặp bạn!” nhưng trong tâm lại đang nghĩ điều khác. Tâm không hề
tập trung vào những gì đang nói. Ta đang nghĩ “Thật kinh khủng khi gặp bạn!” mà
lại nói điều hoàn toàn ngược lại. Điều đó cũng là một dạng mất hòa hợp.
XI-
BÀI THỰC
HÀNH
Điều
tôi đề nghị cho bài tập này là chúng ta chia thành các nhóm nhỏ gồm ba người.
Trong mỗi nhóm sẽ có: người nói, người nghe và người quan sát.
Một
người – người nói – sẽ nói với người kia, ví dụ như: “Thật vui được gặp bạn!”
hoặc “Bạn khỏe không?” Ta có một tương tác nhỏ như vậy. Đừng chỉ nói trong một
giây cho xong, mà hãy nói thành một câu, có nội dung.
Sau
đó, cả ba người trong nhóm cùng báo cáo và chia sẻ xem năm phương diện đã diễn
ra như thế nào:
•
Tâm đang như thế nào?
• Các phẩm chất hiện
diện là gì?
• Cảm giác và cảm xúc
là gì?
• Ngôn ngữ thân thể,
dáng vẻ ra sao?
• Nét mặt như thế nào?
• Giọng nói, từ ngữ
thực sự được dùng ra sao?
Và
đặc biệt là: ảnh hưởng của điều đó như thế nào:
•
từ góc nhìn của người nói,
• từ góc nhìn của
người nghe,
• và từ góc nhìn của
người quan sát?
Hãy
thảo luận trong nhóm của mình.
[bài tập]
Bây
giờ, chúng ta hãy lắng dịu lại trong một phút, vì nhiều người trong số các bạn
đã trở nên khá hào hứng trong phần thảo luận vừa rồi. Hãy lắng dịu bằng cách
đặt sự chú ý vào hơi thở trước khi tiếp tục.
XII-
THẢO LUẬN
Có
ai muốn chia sẻ với cả nhóm xem mình đã học được điều gì từ trải nghiệm, từ bài
tập này không?
Đối
với cô ấy, điều thú vị nhất là nhận ra rằng cách tiếp cận của một người – cách
tiếp cận về thân, tâm và lời nói – có thể tạo ra một chuyển động trong chính cơ
thể của mình.
–
Bạn nói “tạo ra một chuyển động trong cơ thể mình” là sao?
–
Trong cơ thể của người nghe, nó tạo ra một ấn tượng rất mạnh, không chỉ ở tâm
mà còn ở thân.
Điều
này hoàn toàn đúng. Đó chính là ảnh hưởng mà chúng ta có lên người khác. Thái
độ của chúng ta ảnh hưởng đến họ. Sự biểu hiện của thân thể ảnh hưởng đến họ.
Điều chúng ta nói và cách chúng ta nói cũng tạo ra ảnh hưởng. Và đôi khi, điều
rất thú vị là thấy rằng chúng ta đang gửi những thông điệp mâu thuẫn cho người
khác: những gì chúng ta nói thì mâu thuẫn với những gì chúng ta đang làm.
Chúng
ta có thể nói những lời rất dễ thương, nhưng thực ra lại đang xao lãng, không
nhìn vào người đối diện; chúng ta nhìn chỗ khác trong khi đang nói. Điều đó gửi
đi một thông điệp hoàn toàn khác với những lời tốt đẹp mà ta đang thốt ra. Rất
thường khi chúng ta không hề ý thức được điều đó, vì chúng ta có thể chỉ tập
trung vào cảm giác bên trong của mình mà thôi, và rất hay là chúng ta không chú
ý gì cả. Chúng ta không nhận ra rằng có khi tay mình đang vung vẩy loạn xạ.
Ví
dụ, tôi biết một người – một người bạn rất thân của tôi – khi nói chuyện thì
luôn đập tay xuống bàn, tạo ra những tiếng động to, thô và khá bạo lực, mặc dù
cô ấy đang nói những điều rất nhẹ nhàng và ngây thơ. Cô ấy tạo ra những cử chỉ
rất mạnh, gửi đi một thông điệp hoàn toàn khác, nhưng bản thân lại hoàn toàn
không ý thức được điều đó. Việc đập bàn như vậy làm tôi căng thẳng; nó gây khó
chịu. Không thể có một sự tương tác nhẹ nhàng với cô ấy khi cô ấy làm những cử
chỉ mạnh như thế, và cô ấy hoàn toàn không nhận ra điều đó.
Ở
mức độ tinh tế hơn, cô ấy nhận ra rằng người nói khá bất an, và vì thế anh ta
nói nhanh hơn. Anh ta trở nên gấp gáp, và điều đó cũng tạo ra trong cô ấy cảm
giác phải tăng tốc, cùng với những ấn tượng thiếu trật tự, không rõ ràng.
Có
hai loại ảnh hưởng mà một sự tương tác có thể tạo ra nơi chúng ta. Một là ảnh
hưởng về ấn tượng mà chúng ta có về người kia. Hai là ảnh hưởng về cách chúng
ta cảm thấy khi phản ứng lại với họ.
Ý
của cô ấy là trình tự này không phải lúc nào cũng giống nhau. Cái gì đến trước
có thể thay đổi, và thậm chí có thể thay đổi ngay trong cùng một tương tác.
–
Cô ấy có đưa ra ví dụ nào không?
–
Có. Những gì có trong tâm sẽ biểu hiện ra thân, nhưng thân cũng có thể ảnh
hưởng ngược lại đến thái độ của cô ấy. Vì vậy, trình tự không phải lúc nào cũng
giống nhau.
Điều
đó hoàn toàn đúng, đặc biệt khi chúng ta có đau cơ hay đau đầu chẳng hạn. Mặc
dù cảm giác căn bản – kiểu như sự quan tâm đến người khác – vẫn có thể hiện
diện, nhưng vì chúng ta bị đau đầu hay đau nhức cơ thể, nên điều đó ảnh hưởng
đến cảm xúc và rồi truyền đạt đi một điều gì đó hơi khác.
Có
ai khác không?
Cô
ấy nhận ra rằng mình nhận biết, lắng nghe và cảm nhận nhiều hơn bằng cảm xúc
chứ không phải bằng một cái tâm thật sự rõ ràng. Cô ấy tiếp nhận nhiều hơn qua
cảm giác hơn là qua sự nhận biết sáng tỏ của tâm.
Đó
chính là ảnh hưởng mà người khác có lên chúng ta. Khía cạnh này có thể là ảnh
hưởng ở mức độ nhận thức, ở mức độ cảm xúc, hoặc ở mức độ cảm giác thân thể. Có
rất nhiều chiều kích khác nhau mà trong đó chúng ta ảnh hưởng đến chính mình và
đến người khác.
Chúng
ta có thể ở bên ai đó, và vì họ quá căng thẳng, điều đó làm chúng ta cũng căng
thẳng và ảnh hưởng đến cảm xúc của mình; hoặc nó làm cho cơ bắp của chúng ta tự
động căng lên; hoặc ngược lại, khi ở bên người khác, cơ bắp của chúng ta tự
động trở nên thư giãn. Có rất nhiều chiều kích như vậy.
Ngoài
ra còn có chất lượng của chính hoạt động tâm của chúng ta nữa.
Việc
khi ở bên một người, hoạt động tâm của chúng ta có mang chất lượng cảm thông
hay chống đối, khó chịu hay không – điều này cũng chịu ảnh hưởng từ người kia,
và rõ ràng là cũng chịu ảnh hưởng từ tâm trạng và khuynh hướng của chính chúng
ta.
Một
điểm rất quan trọng là nhận ra rằng tất cả năm Phật bộ – tất cả các đặc tính
Phật-tính này – liên kết với nhau như một mạng lưới. Bởi vì ngay cả khi chúng
ta thấy ai đó là dễ mến, thì điều ảnh hưởng đến cảm giác phản ứng của chúng ta
cũng có thể là việc chúng ta có đau đầu hay không. Điều đó cũng ảnh hưởng. Hoặc
nếu chúng ta đang rất bận rộn, rất xao lãng, đang nghĩ đến chuyện khác. Tất cả
những yếu tố này tương tác với nhau như một mạng lưới. Phải không?
–
Khi ta cảm nhận một người là dễ mến, có phải điều đó có nghĩa là cả năm phương
diện đã được hòa hợp hoàn toàn không?
–
Không hẳn. Một người có thể đang rất giận dữ, la hét ầm ĩ, và tất cả những điều
đó lại hoàn toàn hòa hợp với nhau: nét mặt, cách nói, cảm xúc giận dữ, v.v.
Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ thấy họ dễ mến.
Khi
mọi thứ hòa hợp, ảnh hưởng tạo ra là một thông điệp rõ ràng, nhất quán. Về mặt
chúng ta có thể đáp lại một cách chân thật đến đâu, thì nếu chúng ta nhận được
những thông điệp mâu thuẫn, những thông tin xung đột từ ai đó, chúng ta biết
phải phản ứng thế nào ngoài sự bối rối? Chúng ta không thực sự biết phải làm
gì.
Ngược
lại, khi thông điệp nhất quán và hòa hợp, thì chúng ta có thể đáp lại một cách
rõ ràng hơn rất nhiều.
XIII- SỰ
KHÔNG HÒA HỢP
Dĩ
nhiên, xét về phản ứng của chính chúng ta, thì cả năm phương diện cũng cần được
hòa hợp; nếu không, sẽ nảy sinh khó khăn. Thường thì thân của chúng ta có thể
rất căng thẳng và lo lắng, ngay cả khi tâm thì tương đối thư giãn. Đôi khi,
không thể làm cho cả năm phương diện này hoàn toàn hòa hợp hay tương thích với
nhau.
Ví
dụ, khi chúng ta bị cảm lạnh, ho và hắt hơi, thì thân của chúng ta đang phát đi
một thông điệp nhất định, bất kể chúng ta đang nói gì hay đang cảm thấy thế
nào. Chúng ta phải chấp nhận rằng điều đó là như vậy. Khi ấy, vấn đề là: thông
điệp nào sẽ to và nổi bật hơn? Chúng ta muốn hòa theo tình trạng cảm lạnh đó và
chỉ than phiền với người khác, hay chúng ta muốn bỏ qua nó và không làm cho
việc mình bị cảm trở thành chuyện lớn?
Dù
sao đi nữa, chúng ta cần phải rất nhạy cảm với điều này. Theo tôi, đây là điểm
quan trọng. Ví dụ, đôi khi tôi bị hen suyễn, nên việc thở trở nên khó khăn. Khi
tôi thở rất nặng nhọc và khó thở, điều đó có thể gửi đi thông điệp rằng có lẽ
tôi đang gặp vấn đề gì đó, và người khác sẽ lo lắng cho tôi. Lúc đó, điều quan
trọng là nói với họ:
“Này,
tôi bị cái này từ lúc còn bé rồi. Không có gì to tát đâu. Tôi xử lý được. Nếu
khó quá thì tôi xịt thuốc. Xin đừng để ý.”
Bằng
cách đó, chúng ta làm dịu tình huống lại. Tương tự như việc nói: “Tôi đang bị
cảm, nên mình đừng lại gần quá, tôi không muốn lây cho bạn.” Như vậy, ta làm
dịu vấn đề để nó không trở thành trọng tâm thông tin mà người kia tiếp nhận,
kiểu như: “Tôi không muốn bị lây cảm!”
Điều
tôi thấy hữu ích nhất từ loại bài tập này và từ hệ thống này là cố gắng trở nên
có ý thức; và rất thường là điều đó cần đến người khác. Đó là lý do vì sao
chúng ta có người nghe và người quan sát – để chỉ ra cho chúng ta những điều
nhất định, chẳng hạn như biểu hiện của thân, hay cách chúng ta hành xử, những
thứ mà bản thân ta thậm chí không hề nhận ra, nhưng lại truyền đạt một thông
điệp rất khác với điều mà ta muốn truyền đạt.
Tôi
xin đưa ra một ví dụ về chính mình. Điều này được một người bạn tốt chỉ ra cho
tôi – một điều mà tôi chưa bao giờ ý thức được – đó là tôi có xu hướng đi rất
nhanh (khi đi một mình hoặc đi với người khác). Một trong những động cơ của tôi
là tôi không thích lãng phí thời gian. Ví dụ, nếu tôi đi xuống ga U-Bahn (tàu
điện ngầm) và xuống cầu thang, tôi sẽ đi rất nhanh, gần như chạy xuống cầu
thang để chắc chắn kịp chuyến tàu. Vì chuyện thường xảy ra là tàu đang ở đó,
nhưng chỉ vì bạn đi xuống cầu thang quá chậm mà tàu chạy mất, và bạn phải đợi
mười hay hai mươi phút. Tôi rất không thích điều đó, vì tôi thấy đó là lãng phí
thời gian; tôi thà đến nơi cần đến và làm việc mình cần làm, còn hơn là đứng
chờ ở ga tàu.
Vấn
đề là tôi thường làm như vậy khi đi cùng người khác, và tôi hoàn toàn không ý
thức rằng mình đang đi trước họ; tôi không đi cùng họ. Tôi chạy xuống cầu
thang, còn họ thì đi chậm rãi. Ấn tượng và ảnh hưởng mà điều đó tạo ra nơi họ
là: tôi không thật sự muốn ở bên họ, và tôi không có thời gian cho họ, tôi chỉ
đang chạy cho xong. Điều đó hoàn toàn không phải là ý định của tôi. Họ lại nghĩ
rằng tôi chỉ muốn kết thúc cuộc gặp này càng nhanh càng tốt để quay lại công
việc của mình.
Điều
họ chỉ ra là: “Thì sao nếu mình đứng ở ga tàu mười hay hai mươi phút? Vì trong
mười hay hai mươi phút đó, chúng ta vẫn có thể nói chuyện và tiếp tục có khoảng
thời gian dễ chịu với nhau.”
Đó
là một nhận ra rất lớn đối với tôi, điều mà trước đó tôi chưa từng thấy: rằng
cách tôi đi bộ lại tạo ra một ấn tượng hoàn toàn mâu thuẫn nơi người khác so
với những gì thực sự đang diễn ra trong tôi. Nó không hòa hợp.
Theo
tôi, đây chính là tầm quan trọng của vấn đề. Bởi vì thực tế là đa số chúng ta
hoàn toàn không ý thức về những thói quen vô thức của mình – những thói quen
truyền đạt đến người khác những thông điệp rất khác với điều mà ta thật sự muốn
nói – và những điều đó hoàn toàn có thể thay đổi.
Đó
chính là điểm quan trọng của những phẩm chất Phật-tính này: chúng có thể được
thay đổi. Một khi chúng ta nhận ra rằng những gì mình làm có ảnh hưởng đến
người khác, rằng nó đang giao tiếp với người khác, thì chúng ta có thể thay đổi
và phát triển chúng.
Ví
dụ, nếu chúng ta ăn quá chậm – thì khi ở với những người cũng ăn chậm, không
sao cả. Nhưng nếu chúng ta đang ở với những người cần phải đi đâu đó, họ ăn
nhanh hơn một chút, còn chúng ta thì ngồi đó chơi với thức ăn, ăn mãi không
xong, vì ta có một quan niệm nào đó rằng mình phải tận hưởng bữa ăn và không
nên ăn vội – thì điều đó hoàn toàn không hòa hợp với hoàn cảnh. Chúng ta thậm
chí không nhận ra sự không hòa hợp ấy, vì chúng ta đã quen ăn chậm rồi.
Đó
là một phần của chiều kích này trong các Phật bộ / phẩm chất Phật-tính.
***

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét