Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (14)



HỎI: Ngẫu nhiên, nghệ sĩ Ngãi Vị Vị (Ai Weiwei) dự tính hiện diện ở đây hôm nay, nhưng không được. Ngài có khuyên bảo gì đối với ông ấy và những người đang hoạt động để làm cho Trung Hoa là một nơi tốt đẹp hơn?

ĐÁP: Bất hạnh thay, trong những năm gần đây và đặc biệt trong những tháng gần đây, chính quyền Trung Cộng, qua suy nghĩ cứng nhắc của họ, đã kiểm soát chặc chẽ những nhà trí thức và nghệ sĩ. Tôi nghĩ những người này nên nhìn về quá khứ, trong và ngay cả trước khi Cách Mạng Văn  Hóa. Trong nhiều trường hợp, có nhiều hạn chế và đàn áp trí thức. Nhưng trí thức, tôi nghĩ, nó là kho tàng của não bộ con người, cho nên nó không thể bị kiểm soát. Trong nhiều năm, một số những người này bị bỏ tù hay giam lỏng tại gia, nhưng rồi thì lại có những nhà trí thức mới, và ngay cả những người này sẽ có tự do. Cho nên ở Trung Hoa, đất nước đông dân nhất trên thế giới, với chiều dài lịch sử và văn hóa, những người làm việc cần cù, thì thảm kịch này đôi khi đến và biến mất. Điều quan trọng là những người – đặc biệt là những người trí thức – không có lý do gì để cảm thấy tuyệt vọng hay mất tinh thần; cho phải giữ tinh thần của họ và nhiệt tình của họ.

HỎI: Đâu là sự cân bằng giữa chấp thủ vào nhà cửa của một người và sự buông xả được Phật giáo giảng dạy? Xin hãy trình bày câu hỏi này trên cả trình độ cá nhân – chấp thủ với trẻ em – và trên trình độ xã hội – chấp thủ với USA.

ĐÁP: Có hai trình độ đối với việc quan tâm đến những người khác. Một trình độ, như tôi đã đề cập trước đây, là nhân tố sinh học. Những gì quý vị gọi là lòng trắc ẩn, hay thái độ tình cảm, cho nên vì vậy, trình độ ấy của lòng trắc ẩn có thể được phát triển đối với bạn bè của quý vị, chứ không với kẻ thù quý vị, vì một thái độ của kẻ thù là tiêu cực đối với quý vị. Với truyền thống tôn giáo, kể cả Phật giáo, khi chúng ta nói về lòng trắc ẩn, hay lòng từ bi, thì nó không hướng về tình cảm của họ, nhưng là, tự sáng tạo. Thí dụ, một số nuôi dưỡng bản thân không phải vì quý vị tử tế với chính quý vị mà bởi vì, một cách tự động, quý vị muốn hạnh phúc, quý vị không muốn đau khổ.

Do vậy, những người khác cũng thế, kể cả kẻ thù của quý vị, có cùng khát vọng và quyền vượt thắng khổ đau, để đạt được hạnh phúc. Trên căn bản đó, chúng ta có thể mở rộng lòng từ bi của chúng ta, vì thế lòng từ bi là không thành kiến. Lòng trắc ẩn trước là thành kiến và liên hệ rất nhiều với dính mắc, chấp thủ. Lòng từ bi nói sau là không có dính mắc, và chấp thủ.

Cho nên một lần nọ, nhà cơ học lượng tử này đã đề cập với tôi rằng ông không nên phát triển sự chấp trước vào lãnh vực khoa học của chính ông. Điều đó thật tuyệt vời. Trong trường hợp của riêng tôi, tôi là một Phật tử, nhưng tôi không nên phát triển một sự chấp trước đối với Phật giáo. Nếu tôi phát triển một sự dính mắc đối với Phật giáo, thì tôi sẽ không thấy giá trị của người khác một cách khách quan. Phật giáo không bao giờ khuyến khích việc phát triển dính mắc. Chấp trước và từ bi là hai vấn đề riêng biệt.

Do vậy, nhằm để phát triển một lòng từ bi không thành kiến, lòng từ ái và bi mẫn vô giới hạn, trước tiên ta phải tự tách riêng ra. Ta phải có lòng bình đẳng cho tất cả - cả những kẻ thù và những người bạn. Sau đó phát triển lòng từ bi không thành kiến. Và rồi thì cũng thường rằng người ta lẫn lộn Phật giáo với những tôn giáo khác nào đó, và xem khát vọng như điều gì đó tiêu cực. Khát vọng với dính mắc là tiêu cực. Chúng ta phải phát triển khát vọng với lý trí, thí dụ, khát vọng cho sự cát tường của người khác, hay khát vọng để vượt thắng sự khổ đau của chính ta. Điều đó là đúng. Khát vọng không có cơ sở thích đáng là rất liên hệ với dính mắc. Loại khát vọng đó phải được giảm thiểu. Và rồi, có sân hận. Có những loại sân hận đa dạng khác nhau – sân hận với cảm giác xấu ác thì khác với sân hận vì lòng từ bi hay một cảm giác quan tâm. Sân hận cũng có thể đến từ một thái độ vị kỷ, vốn có thể đưa đến bắt nạt và bóc lột người khác. Loại thái độ vị kỷ đó là tiêu cực. Nhưng một cảm giác vị kỷ khác - cảm giác của một tự ngã mạnh mẽ - là cần thiết. Chúng ta cần cảm giác của một tự ngã mạnh mẽ để phát triển lòng can đảm và ý chí. Thế nên, trong thế giới tinh thần và cảm giác, có rất nhiều loại đa dạng.

Tự nuôi dưỡng ta không phải qua việc ta thể hiện tử tế với chính mình; đó là vì, tự nhiên, ta muốn hạnh phúc, ta không muốn khổ đau, cho nên cảm giác chăm sóc này hiện hữu. Điều này tích cực hơn. Ngay cả niềm tin cũng là một điều tốt, nhưng niềm tin trong một điều sai lầm – niềm tin mù quáng – là nguy hiểm. Do vậy, niềm tin hành động với trí tuệ và thông minh là rất tốt. Niềm tin chỉ hành động với dính mắc là tiêu cực. Thế nên, có nhiều loại đa dạng.

HỎI: Câu hỏi này đến từ một đứa bé chín tuổi – Nếu ngài có thể giải quyết hoàn toàn một vấn nạn trên thế giới, đó sẽ là gì?

ĐÁP: Tôi không biết. Tôi nghĩ, trong thực tế, có rất nhiều vấn nạn cùng loại mà chỉ một con người không thể giải quyết bất cứ điều nào trong chúng. Mọi người – trên sáu tỉ con người – phải có trách nhiệm để giải quyết những vấn nạn này.

HỎI: Ngài thấy internet có vai trò gì trong việc hổ trợ con người trải nghiệm và khám phá một trái tim, một tâm hồn, và một vũ trụ? Chúng ta có thể làm gì xa hơn với vai trò này?

ĐÁP: Tôi nghĩ internet là một trong những phương cách giao tiếp rất tiến bộ. Và tôi nghĩ rằng, một cách căn bản, nhằm để phát triển tâm thức con người trong dạng thức phức tạp hơn, chúng ta cần nhiều thông tin. Chỉ một cảnh báo – tin tức một chiều rất tai hại, cho nên chúng ta cần thông tin đa chiều. Nếu một nhận thức gọi là điều gì đó tốt và một điều khác gọi là xấu, thì chúng ta cần cả hai nhận thức ấy. Điều đó cho chúng ta cơ hội để khảo sát bởi chính chúng ta. Do vậy, ngày nay, trong lãnh vực thông tin, Internet là tuyệt vời. Tôi nghĩ, do bởi đó, nhiều thay đổi tích cực đang xảy ra trên hành tinh này. Không như đầu hay giữa thế kỷ hai mươi, khi thiếu thốn thông tin rất nhiều và thế nên thật dễ dàng hơn để phát triển những cảm xúc tiêu cực không cần thiết.

Vì vậy thông tin, vốn xây dựng một bức ảnh rõ ràng về toàn bộ thế giới, là vô cùng lợi lạc. Tôi luôn luôn nói khi tôi gặp giới truyền thông rằng người ta nên có những chiếc mũi dài – giống như mũi của con voi – và nên ngữi cả những gì trước mặt chúng và, quan trọng nhất là những gì ở phía sau, những gì đang xảy ra. Điều đó rất rất quan trọng. Họ phải thực hiện một sự điều tra xuyên suốt những gì đang xảy ra và rồi thông báo cho công chúng, cho thấy rằng họ đã làm việc đó một cách trung thực, chân thật, không thành kiến, và khách quan. Điều đó rất quan trọng, đặc biệt trong xã hội dân chủ. Tôi đang muốn nói rằng thế giới thuộc về sáu tỉ con người – không phải là những chính phủ, và không phải bất cứ một tôn giáo đặc thù nào. Thí dụ, USA thuộc về người dân của USA, chứ không phải thuộc về Đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa.

Dĩ nhiên, không thể cho tất cả ba trăm triệu người của một đất nước chi phối một quốc gia cùng một lúc, cho nên tốt nhất là chọn một số người qua bầu cử. Một chính quyền qua bầu cử dân chủ thật sự bởi dân, do dân và vì dân. Cung cách tốt nhất để quản trị xứ sở của quý vị là qua một hệ thống dân chủ. Và nhằm để tạo một hệ thống dân chủ hoạt động một cách hiệu quả theo những nguyên tắc đạo đức, đôi khi một hiến pháp là rất tốt. Mọi người bình đẳng dưới luật pháp; vâng, xứ sở này thật sự thực hành điều đó. Tuy nhiên, đôi khi não bộ con người là rất năng động mà ngay cả trong một hệ thống rất tốt đẹp, những rủi ro được biết xảy ra. Do thế, những người truyền thông là quan trọng. Họ cần làm rõ ràng những gì sai, những gì là tâm tư sai sót, những gì hư hỏng đang xảy ra và ở đâu. Đó là những gì mà người làm truyền thông – chứ không phải chính quyền mà những tổ chức công cộng như truyền thông – phải khảo sát và làm rõ ràng.

Trong những lãnh vực này, Internet tôi nghĩ có một vai trò rất quan trọng. Và như tôi luôn luôn nói, người làm truyền thông cũng có một vai trò rất quan trọng để tạo nên những quan điểm nào đó tỉnh thức hơn mà vốn chúng ta thường quên lãng. Đạo đức luân lý là một trong những điều đó. Tôi nghĩ kỷ thuật mới và sự lan truyền thông tin là rất tuyệt vời. Dĩ nhiên, nếu quý vị sử dụng nó trong một cách sai lầm, thì đôi khi nó cũng tạo thêm rắc rối; nhưng tôi nghĩ cho đến khi mà quý vị sử dụng nó một cách trung thực, chân thật, và trong sáng, càng nhiều tin tức, càng tốt đẹp hơn. Nếu quý vị có điều gì đó để che dấu, điều này làm nó khó khăn hơn. Nếu quý vị đạo đức giả trong những cung cách của quý vị, thế thì quý vị phải rất, rất cẩn trọng.

HỎI: Ngài nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn hay tệ hại hơn và tại sao?

ĐÁP: Tốt đẹp hơn. Lý do là không chỉ sự quan sát của tôi. Trong năm 1996 – khoảng cuối thế kỷ hai mươi – tôi có cơ hội tiếp xúc với cố Hoàng Thái Hậu của Anh quốc. Tuổi của bà là chín mươi sáu. Bà đã được sanh ra vào đầu thế kỷ hai mươi, cho nên trong một cách bà quan sát hầu như cả toàn bộ thế kỷ. Cùng lúc đó, tôi hỏi bà, “Vì ngài đã quán sát hầu như cả toàn bộ thế kỷ, ngài nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn hay tệ hại hơn, hay cũng giống như vậy?” Không do dự, bà đã nói với tôi rằng nó đang trở nên tốt đẹp hơn. Khi bà trẻ, không có những khái niệm về nhân quyền hay những quyền tự quyết. Bây giờ chúng trở thành phổ quát. Bà đã đưa ra hai điều này như những thí dụ chứng minh rằng thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn.

Với kinh nghiệm của riêng tôi, tôi nghĩ rằng vào đầu thế kỷ hai mươi, không ai nói về tầm quan trọng của sinh quyển. Bây giờ nhiều người biểu lộ một cách chân thành việc quan tâm cho môi trường. Điều đó là tuyệt vời. Có ngay cả những đảng phái chính trị là những đảng xanh lục. Một lần nọ tôi gặp gở những người từ những đảng xanh này ở New Zealand hay một quốc gia nào đó, tôi đã nói đùa với những người ấy rằng nếu tôi vẫn ở xứ sở ấy, tôi sẽ tham gia vào đảng xanh của họ.

Trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, tôi nghĩ, những dấu hiệu trưởng thành hơn. Tôi nghĩ các nhà khoa học bây giờ cũng đang nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh hơn trong tâm thức. Trước đây, các nhà khoa học chỉ nghiên cứu về khoa học thô cứng – chỉ những thứ mà chúng ta có thể cân đong hay đo đếm. Tâm thức và những cảm giác là những thứ gì đó khác biệt. Bây giờ khoa học hiện đại đang tiến triển một cách chậm chạp, các nhà khoa học đang cho thấy một sự quan tâm trong tâm ý – mối quan hệ nào đó giữa não bộ và tâm thức. Và cũng thế, tôi nghĩ có một mối hòa hiệp hơn giữa những tôn giáo. Thí dụ, Đức Giáo Hoàng John Paul II triệu tập hội nghị Assisi, nơi ngài mời những lãnh tụ của những giáo phái Ki Tô khác nhau cũng như vài tông phái Phật giáo và Ấn giáo. Ý tưởng về một-chân lý-một-tôn giáo dần dần chuyển thành vài-chân lý-vài-tôn giáo. Cho nên đây là những dấu hiệu mà tôi nghĩ là rõ ràng cho một sự tiến triển và văn minh rộng lớn hơn.

Tôi cũng nghĩ kinh nghiệm về giáo dục thật sự đã thực hiện một sự đóng góp vô vàn để khai triển và mở rộng tâm thức chúng ta, dạy chúng ta thấy một cách toàn diện hơn. Quý vị nghĩ gì? Và rồi chữ “từ bi”. Trước đây, trong những tuyên bố của một nhà chính trị, tôi nghĩ không có chỗ cho từ bi. Về sau này của thế kỷ hai mươi, tôi nhớ một trong những tuyên bố của cố nữ Thủ tướng Anh Thatcher, bà đã đề cập từ bi và rồi bất bạo động.

Và trong đầu thế kỷ hai mươi, các nhà khoa học, viên chức, và chính quyền hoàn toàn hăng hái để chế tạo bom hạt nhân. Bây giờ, người ta đang nói về vấn đề giảm thiểu và đi đến việc từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân như thế nào. Đây là những dấu hiệu của sự tiến bộ.

*
Ẩn Tâm Lộ, Friday, June 28, 2019
 Trích từ quyển The Big Book of Happiness


HỎI VÀ ĐÁP

 HỎI: Khi tâm thức tiêu cực của chúng ta mạnh quá vì thế chúng ta không thể áp dụng những sự đối trị, chúng ta phải làm gì?

ĐÁP: Tôi nghĩ đối với những cảm xúc tiêu cực chẳng hạn như sân hận hay sợ hãi, thì có hai loại. Một sợ hãi nào đó là hợp lý và hữu ích và một sợ hãi nào đó là không cần thiết. Vì vậy, một cách căn bản, tôi nghĩ thù oán sinh ra một cảm giác rất tiêu cực. Trái lại, sân hận cũng có thể tích cực và tiêu cực, cũng như thái độ vị kỷ.

Như tôi đề cập trước đây, trong sự sợ hãi tiêu cực và sân hận liên tục hay quá nhiều dính mắc, trong thời khắc ấy việc thực hành đối trị là khó khăn. Thì phải có một loại trạng thái trung tính. Tôi  nghĩ phương pháp dễ dàng nhất là chỉ quên lãng đối tượng mà chúng ta cảm thấy tiêu cực, quên nó đi, chỉ quan tâm đến hơi thở, thở vào, thở ra, chỉ thiền tập về hơi thở. Hai mươi lần, ba mươi, bốn mươi, một trăm lần. Rồi thì sau đó, tâm thức chúng ta hơi tĩnh lặng hơn. Sau đó có thể quán chiếu dễ dàng hơn, để áp dụng những phương pháp đối trị. Ngay thời điểm đó, đừng nghĩ cả hai bên, hãy thiền tập về hơi thở. Sau đó một lúc tâm tư ta sẽ tĩnh lặng hơn, rồi thì hãy nghĩ về những phía tích cực. Hãy cố gắng điều đó. Đó là một phương pháp.

Rồi thì một cách căn bản giống như hệ thống miễn nhiễm của chúng ta, thái độ căn bản của chúng ta là quan trọng. Nếu thái độ căn bản của chúng ta từ bi hơn và rồi thì những sự khích động nào đó đến và đi, và không có tác động nhiều. Thế nên, nếu thái độ căn bản của chúng ta là nghèo nàn, thì không dễ xử trí những thứ này. Nhằm để phát triển thái độ tích cực hơn, đầu tiên chúng ta cần tri thức. Rồi thì thứ đến là,  hãy nổ lực liên tục. Kế đến thứ ba là nhân tố thời gian. Hãy nổ lực liên tục với tri thức trọn vẹn hơn. Hàng tuần hay hàng tháng có thể cho một kết quả tích cực. Hàng năm có thể cần đến. Rồi thì thái độ tinh thần chính yếu của ta có thể được chuyển hóa. Cho nên chúng ta cần nhẫn nại. Và một số hành giả của chúng ta, một số người muốn thay đổi một cách nhanh chóng. Điều đó là không thực tế với sự mong đợi của ta. Không thực tế. Cần thời gian. Việc định hình tâm thức ta cần thời gian. Không dễ dàng. Câu hỏi tiếp.

HỎI: Cội nguồn sức mạnh và chịu đựng của ngài là gì khi đối diện với sự xúc phạm?

ĐÁP: Ngủ ngon! Ăn ngon! (Cười) Rồi thì, dĩ nhiên, những gì tôi gọi là thiền quán (phân tích). Ah, có một số vấn đề rắc rối. Như Shantideva nói, tôi lập lại hàng ngày câu: “Khi đối diện với thảm kịch, hãy suy nghĩ. Rồi thì khi có cách để vượt thắng thảm kịch ấy, thế thì không cần phải lo lắng, hãy thực hiện nổ lực để hành động về việc đó. Nếu không có cách để chiến thắng thảm kịch, thế thì lo lắng không ích gì. Hãy chấp nhận.” Như một Phật tử, hãy đổ thừa nghiệp. Hãy chấp nhận. Nếu bạn tin tưởng Thượng đế, với một mức độ nào đó, với sự tôn kính, hãy đổ thừa Thượng đế.

HỎI: Phương pháp nào hữu ích nhất của việc có được đạo đức, để động viên mọi người tất cả mọi tầng lớp, một cách cá nhân hay trong từng nhóm, để tha thứ những lỗi lầm trước đây, và không có ý xấu đối với người khác?

ĐÁP: Tôi nghĩ tha thứ có lẽ liên hệ với việc chấp nhận thực tế. Điều gì đó xảy ra. Điều gì xấu xảy ra. Hãy chấp nhận nó. Rồi thì nếu người khác làm gì đó, hãy tha thứ. Ôm ấp cảm giác xấu thì không lợi ích gì. Tha thứ không có nghĩa là quên lãng. Hay tha thứ không có nghĩa là chấp nhận việc làm sai trái của người khác. Tôi nghĩ tinh yếu là không có những cảm giác tiêu cực chẳng hạn như sân hận sinh khởi đối với người làm sai. Tha thứ không có nghĩa là ta chấp nhận việc làm sai của những người khác. Bây giờ khi ta quan tâm đến việc làm sai, trong một số trường hợp chúng ta cần biện pháp đối phó nhằm để chấm dứt việc làm đó. Nhưng biện pháp đối phó nên được tiến hành với một cảm giác quan tâm cho người làm sai. Nếu ta để người làm sai liên tục làm sai, họ sẽ bị tổn hại. Cho nên vì một cảm nhận quan tâm, vì lòng từ bi, hãy ngừng họ lại. Hãy cố gắng để dừng lại. Hãy sử dụng những biện pháp đối phó nào đó. Điều đó, tôi nghĩ, thật sự không để sân hận phát ra, vì một cảm nhận quan tâm lòng từ bi. Đó là cảm nhận đúng đắn của tha thứ. Quý vị thấy, đôi khi người ta có ấn tượng rằng sự thực hành từ bi liên hệ với một loại ngu ngơ nào đó, không thể phân biệt giữa đúng và sai. Hay dững dưng. Không phải như vậy.

HỎI: Thật là kinh ngạc khi thấy người Tây Tạng vẫn còn đủ sự đồng nhất để nổi dậy chống nhà cầm quyền Trung Cộng như họ làm đầu năm nay. Ngài có thể nói với chúng tôi những gì ngài biết về vị thế của người Tây Tạng ở Tây Tạng trong dạng thức của bản sắc dân tộc, và sức sống của sự tồn tại Phật giáo, sức mạnh của Phật giáo, trong họ?

ĐÁP: Tôi  nghĩ bản sắc của mỗi cộng đồng nhân loại là rất liên hệ với văn hóa và di sản văn hóa của nó. Một giáo sư đến từ Hoa Lục và rất trung thực và không thành kiến một lần đã diễn tả, “nền văn hóa Tây Tạng mạnh hơn nền văn hóa Trung Hoa.” Ông đã nhận xét như thế.

Thí dụ, Trung Hoa gần đây đã rất cởi mở với thế giới bên ngoài, và bây giờ, rất nhiều người trẻ Trung Hoa đang đổ xô bắt chước nền văn hóa phương Tây. Kể cả nền văn hóa ở đây. (Chỉ vào đầu ngài) Quý vị cũng có thể thấy điều này trong những người Nhật Bản. Tôi nghĩ trong những người Ấn Độ, rất ít người nhuộm tóc của họ. Dĩ nhiên, một số diễn viên cần nhuộm tóc cho phim ảnh mà họ đang quay; nhưng trong những trường hợp khác thì rất ít người nhuộm tóc ở Ấn Độ.

Dĩ nhiên, tôi nghĩ một cách phổ quát, thì tôi không phải chuyên môn trong những thứ này – mà chúng ta cần nghiên cứu hơn nữa. Vì Ấn Độ là một phần thuộc địa của đế quốc Anh, nền giáo dục Anh quốc của người Ấn Độ là rất tốt, nhưng họ vẫn duy trì nền văn hóa của họ. Trong những người Tây Tạng, tôi đã thấy một ít người nhuộm tóc của họ trong những màu sắc khác nhau. Nhưng người Tây Tạng, nói chung, cũng có một nền văn hóa hữu dụng truyền thống lâu dài. Tôi nghĩ điều đó đã cho họ một loại sức mạnh  nội tại nào đó. Phật giáo cũng hổ trợ một cách nào đó. Tôi thường phát biểu khát vọng rằng những người nào đó nên tiến hành việc nghiên cứu để quyết định tình trạng tinh thần của những người tị nạn – những người tị nạn từ Tây Tạng, từ Shinjang (Tân Cương) gần Bangladesh, và cũng từ những quốc gia Phật giáo khác như Campuchia và Việt Nam. Những khác biệt gì trong các trình độ tinh thần của họ? Tôi đã gặp một số người tị nạn từ  Shinjang, những người gần sáu mươi. Thái độ của họ và thái độ của người Tây Tạng đối với người Trung Hoa hơi khác nhau.

Tôi nghĩ điều này phải là do bởi một sự khác biệt trong lòng từ bi. Những người Tây Tạng chúng tôi cầu nguyện và cầu nguyện cho “tất cả”, có nghĩa là tất cả chúng sanh. Có  nghĩa là kể cả những anh chị em Trung Hoa. Qua sự tuyên truyền gần đây của chính quyền, nhiều người Trung Hoa có cảm giác rằng những người Tây Tạng chúng tôi chống người Hoa. Chắc chắn là không. Những người Tây Tạng chúng tôi tôn trọng dân tộc Trung Hoa rất nhiều – như một dân tộc văn hóa, làm việc cần mẫn, và thực tiển. Bất cứ nơi nào người Trung Hoa sống, họ cuối cùng tạo nên một phố Tàu (Chinatown), với ngôn ngữ Trung Hoa, chữ viết Trung Hoa, và chắc chắn là với thực phẩm Trung Hoa, thực phẩm tuyệt vời! Cho nên quý vị thấy, họ là những người làm việc cần mẫn và văn hóa. Nhưng rồi thì, do bởi sự tuyên truyền của chính quyền, họ đã quay sang chống lại Tây Tạng rất nhiều. Và điều đó là rất xấu, rất xấu. Cho nên tôi muốn làm rõ điều này – chúng tôi luôn luôn tôn trọng dân tộc Trung Hoa, nhưng chúng tôi không tôn trọng chính quyền Trung Cộng và chế độ chuyên chế. Mọi người đều biết bản chất của loài người là yêu tự do. Chủ nghĩa chuyên chế là một chướng ngại cho tự do. Cho nên xin vui lòng đừng hiểu sai sự ngoan cường chống lại chế độ chuyên chế của chúng tôi. Nó không nên bị xem là hành động chống lại người Hoa, xin quý vị.

HỎI: Những tôn giáo khác nói về sự bắt đầu và kết thúc của thế giới. Đức Phật nói gì về điều này?

ĐÁP: Không phải chỉ Đức Phật mà Mahavira, vị thầy của đạo Jain (Kỳ Na giáo), như tôi biết, cả hai tin tưởng trong luật nhân quả. Cho nên luật nhân quả có nghĩa là một sự kiện nào đó xảy ra qua những nguyên nhân của chính nó. Nguyên nhân đó cũng qua những nguyên nhân của chính nó. Vì thế từ cung cách ấy, nguyên nhân của một sự kiện khác thật sự là một sự kiện, của chính nguyên nhân của nó.

Bây giờ thí dụ, Big Bang, vụ nổ lớn. Thế nào đi nữa nó là sự bắt đầu của một vũ trụ mới. Nhưng Big Bang phải có những nguyên nhân và điều kiện của chính nó. Nhưng rõ ràng năng lượng kinh khủng, năng lượng dày đặc vốn tạo nên Big Bang. Vậy thì năng lượng ấy đến từ đâu, nguyên nhân và điều kiện của nó là gì, để đi đến nơi chốn bắt đầu.

Rồi thì một khía cạnh  khác là trình độ vật lý. Một khía cạnh khác là một tự ngã. Tự ngã. Một tự ngã độc lập. Tự ngã thiết kế phức thể thân và tâm. Như tôi đã đề cập trước đây, những phân tử căn bản của thân thể này đến từ cha mẹ đến cha mẹ đến cha mẹ đến cha mẹ. Và vì thế nó đi đến, sự bắt đầu của thế giới, trước đó, không gian trống rỗng, có những hạt; thậm chí là những hạt vi tế là nguyên nhân của sự phát triển sau này. Do thế, thân-tâm ngày nay là sự tương tục căn bản của những hạt thân-tâm liên hệ với thời điểm trước. Vì vậy nó là không có sự bắt đầu, vô thỉ. Tương tự thế, tâm thức là một hiện tượng khác. Nó không có tướng mạo, màu sắc, hình thức. Do vậy nó thay đổi luôn luôn. Điều đó có nghĩa là phải có những nguyên nhân.

Người Phật tử nói không có sự bắt đầu của tự ngã, vì không có bắt đầu của tâm thức. Nếu quý vị chấp nhận sự bắt đầu của tâm thức, thế thì tâm thức nguyên thỉ phải đến từ những loại hiện tượng khác. Điều đó là không hợp lý. Điều đó là căn bản những đời sống trước và sự tái sanh. Nếu quý vị cảm thấy không thoải mái, thế thì quên nó đi. Đừng nghĩ. Bây giờ kết thúc trong Phật giáo, trong truyền thống Phật giáo, có hai loại. Một nói, sau giai tầng Phật, một giai tầng cao hơn, cơ thể của một người biến mất. Nhưng hầu hết mọi truyền thống Phật giáo phủ nhận điều đó. Không có lý do gì để chấm dứt tâm thức của chúng ta. Do vậy cho nên, quan điểm của Phật giáo, tâm thức là không có bắt đầu và không có kết thúc, vô thỉ và vô chung.

HỎI: Mục tiêu của sự sống của tôi là gì và đặc biệt hơn, mục tiêu sự sống của tôi được phục vụ tốt nhất trong dạng thức của một nghề  nghiệp tương lai và năng lực của tôi liên  hệ với sinh kế của tôi với sự phát triển tâm linh của tôi như thế nào? Thí dụ, ngay bây giờ, tôi làm trong một công ty Hoa Kỳ, trong thương nghiệp, và tạo nên một cuộc sống tuyệt vời nhưng cảm thấy không đầy đủ và vướng mắc thế nào đấy. Tôi biết đây là sáng tạo của riêng tôi, có phải trở thành nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc y tá cho người sắp chết sẽ phù hợp hơn với tôi trong cuộc sống này  hay không? Điều này có nghĩa là trở lại trường học và kiếm được ít tiền hơn. Nói tóm lại, bước tiếp theo của tôi là gì trong việc nhận ra, và tiến tới, kiếp sống tới của tôi?

ĐÁP: Tôi cảm kích câu hỏi chân thành của bạn. Rất tốt. Tôi nghĩ một cách căn bản như tôi đề cập trước đây, có những giá trị bên ngoài, giá trị vật chất, và những giá trị tinh thần hay giá trị bên trong. Tôi nghĩ chúng tôi nên tiến tới những giá trị nội tại. Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý. Việc phụng sự, những giáo viên, y tá, đây là điều gì đó giúp đở, phục vụ một cách trực tiếp. Những thứ này thông thường tôi gọi là những hành động từ bi. Tuyệt vời. Nhưng nếu mọi người liên hệ trong việc điều dưỡng hay giảng dạy, thế thì tiền bạc sẽ đến từ đâu?

Chúng ta nên có những thương gia. Chúng ta nên có những người cộng tác trong các công ty. Và tôi nghĩ những người kinh nghiệm, thông tuệ là rất cần thiết trong lãnh vực này. Bằng khác đi, thế giới công ty sẽ sụp đổ. Cho nên xã hội con người cần những con người đa dạng và chuyên nghiệp. Nhưng ở đây, mọi hành động của con người, cho dù tiêu cực hay tích cực, cuối cùng tùy thuộc vào động cơ.

Làm ra tiền, không phải từ động cơ vị kỷ hay sự không hài lòng về lối sống xa hoa của ta, nhưng mà cũng nghĩ về thế giới và những người nghèo. Có rất nhiều người nghèo đói ở Phi châu. Nhiều người đang đối diện với nạn đói. Cùng là những con người. Cùng là nhân loại. Họ cũng có quyền để tồn tại. Không chỉ tồn tại mà hạnh phúc. Chúng ta cần tiền. Thế thì câu hỏi là chúng ta sử dụng tiền như thế nào.

Chỉ có một lối sống cá nhân xa hoa thì tôi nghĩ là sai đạo đức. Nhưng chúng ta cũng cần tiền. Và để tiêu dùng một cách thông tuệ. Khoảng cách này giữa giàu và nghèo là rất, rất tệ. Ở đây, bây giờ những người tỉ phú đang gia tăng. Người nghèo vẫn nghèo, đôi khi lại nghèo hơn. Điều đó là đáng xấu hổ, là tệ hại. Do thế, chúng ta cần tiền để giảm thiểu khoảng cách này, và cung cấp dụng cụ và chuyên môn qua giáo dục. Rồi thì những vùng nghèo hơn, thay vì chán chường và giận dữ, hoạt động cần mẫn cho giáo dục, cho huấn nghệ, căn cứ trên sự tự tin. Chúng ta là những con người giống nhau, chăm sóc nhau, chúng ta phải làm việc cần mẫn, và chúng ta phải rèn luyện. Cho nên tôi nghĩ chúng ta cần tiền. Tôi nghĩ chúng ta làm việc. Tiến hành với động cơ chân thành và một viễn cảnh toàn cầu. Tôi nghĩ điều đó là có thể. Đó là việc làm từ bi yêu thương. Việc làm tích cực. Rất tốt.

HỎI: Tôi ba mươi chín tuổi, tôi là một góa phụ. Chồng tôi chết sau một thời gian chống chỏi với ma túy và rượu. Ông quá liều vào lúc chỉ ba mươi sáu tuổi. Tôi cần tìm sự an tĩnh tâm hồn của tôi. Tôi vật vả với điều này mỗi ngày. Ngài có thể đề nghị những cung cách nào đó để tôi có thể tập trung vào chính tôi để giúp tôi tìm ra một lối thoát vượt qua nổi đau đớn và thống khổ này không?  Tôi yêu cuộc sống và tôi thích cảm thấy hạnh phúc. Tôi nhớ những cảm xúc này. Trái tim tôi nặng nề, và tâm hồn tôi tổn thương. Ngài có thể ban cho tôi bất cứ lời khuyên nào không? Cảm ơn.

ĐÁP: Rất buồn. Câu chuyện buồn. Tôi không biết. Như tôi đã đề cập trong sự thực tập của chính tôi. Tôi cũng đã trải nghiệm những thảm kịch. Điều đó đã xảy ra. Bây giờ tôi nghĩ một điều, nếu bà lo lắng, lo lắng, lo lắng, bà vẫn như thế. Nếu người chồng quá cố của bà thật sự yêu bà, và, tôi nghĩ, cha mẹ bà thật sự thương bà, do vậy trong một cung cách nào đó họ biết về tình trạng tinh thần của bà hôm nay.

Nếu tâm tư bà, trạng thái tinh thần của bà thay vì ở trạng thái này, thì hãy cố gắng để tĩnh lặng và tiến hành mọi công việc một cách bình thường, tôi nghĩ cha mẹ bà cũng như người chồng quá cố của bà, phải cảm thấy hạnh phúc. Nếu bà vẫn với loại tình trạng rất buồn thế này, trong cách nào đó, thì biết rằng cha mẹ bà và bạn bè của bà cũng sẽ cảm thấy rất buồn. Do vì thảm kịch đã xảy ra. Bây giờ tôi nghĩ thảm kịch này nên chuyển hóa sự tự tin của bà và mang đến năng lượng mạnh hơn, đời sống của bà nên là điều gì đó hữu ích cho xã hội, cho cộng đồng. Và qua cách ấy, bà sẽ đạt được sự tự tin hơn và vui sướng hơn. Nếu bà vẫn buồn, buồn, buồn, thế thì không có cách nào để đạt được sự tự tin.

Do vậy hãy làm việc cần mẫn. Và thảm kịch này, nỗi buồn thảm này, nên được chuyển hóa thành năng lượng mới. Hãy làm việc chăm chỉ. Và trường hợp  thảm kịch của bà, trong sáu tỉ con người, những thứ như vậy phải là vô số. Không chỉ trường hợp của riêng bà. Như vậy bà cũng thấy lợi lạc, tôi nghĩ thế. Đôi khi một thảm kịch nào đó xảy ra và rồi phản ứng đầu tiên của ta là, “Ô, tôi đã có kinh nghiệm loại này tệ hại như thế nào.” Rồi nghĩ, “Ô, trong sáu tỉ người, có nhiều người khác cũng trải nghiệm như tôi vậy, một số trường hợp thậm chí tệ hại hơn.” Điều đó đôi khi cũng rất lợi lạc, để giảm thiểu cảm giác không thể chịu đựng nổi của bà. Rồi thì nếu bà tin tưởng trong Thượng đế, thế thì hãy nghĩ về Thượng đế. Nếu đây là thảm kịch, thế thì ở trình độ sâu hơn, phải có ý nghĩa nào đó. Điều đó cũng giúp đở ít nhiều. Nếu bà là một người có tín ngưỡng, thế thì hãy sử dụng cảm nhận thông thường như tôi đề cập trước đây. Nếu sự thảo luận đưa đến một loại tri thức hay quan tâm đến Thượng đế, tôn giáo vô thần, thế thì tôi nghĩ luật nhân quả. Mỗi sự kiện, mỗi kinh nghiệm xảy ra qua nguyên nhân và điều kiện của nó. Cho nên một cách chính yếu những nguyên nhân này là do chính chúng ta tạo ra. Những hậu quả nào đó xảy ra hôm nay do bởi những hành vi nào đó trước đây. Điều đó cũng hữu ích.

Cảm ơn.

*

Ẩn Tâm Lộ, Friday, July 19, 2019
Trích từ quyển the Big Book of Happiness

Bài liên hệ




Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2019

HY VỌNG CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH




Nguyên bản: Hope for a Peaceful World
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Tôi rất vui mừng gặp gở những người trẻ Nhật Bản vì tôi luôn luôn cảm thấy rằng những người của thế hệ tôi thuộc về thế kỷ hai mươi. Thế kỷ hai mươi đã qua. Với thế kỷ hai mươi, chúng ta đã chứng kiến một thế kỷ của máu đổ và bạo động. Theo một số nhà lịch sử nào đó, trong thế kỷ vừa rồi, hơn hai trăm triệu người đã bị giết qua bạo động. Chỉ trong phần sau của thế kỷ một khát vọng cho hòa bình và bất bạo động đã bắt đầu. Có một cảm giác của phẩn uất hay mệt mõi về bạo động.

Trong sự quan tâm đó, các bạn những người trẻ Nhật Bản có kinh nghiệm riêng của các bạn – trong Thế Chiến thứ hai các bạn đã khổ đau vô vàn. Hai trái bom nguyên tử được những người Nhật Bản ở Hiroshima và Nagasaki trải nghiệm. Cho nên các bạn là những  người phải hướng thế giới đến hòa bình và chống lại chiến tranh, một cách đặc biệt chống lại vũ khĩ nguyên tử. Quý vị - những người trẻ tuổi, hai mươi, ba mươi, và thấp hơn – là những người của thế kỷ hai mươi mốt. Thế kỷ hai mươi mốt đã qua mười năm rồi, nhưng còn chín mươi năm nữa chưa đến. Đây là thế kỷ như thế nào là rất tùy thuộc vào quý vị. Cho nên tôi thật sự vui mừng để gặp gở quý vị, và cho sự trao đổi quan điểm này.

Bây giờ, tôi muốn nói với quý vị, trong những phần khác nhau của thế giới, một số người cảm thấy rằng tính người một cách căn bản là tiêu cực tự nhiên. Quan điểm của họ là bạo động là một bộ phận tự nhiên của con người, và do vậy thế giới là như vậy. Tôi nghĩ điều đó là hoàn toàn sai và hiểu sai. Ở Ấn Độ, vẫn có những bạo động đâu đó, nhưng nếu quý vị nhìn vào tổng thể, một tỉ con người dường như đang sống một cách rất hòa bình. Thế kỷ hai mươi đã có nhiều đau khổ, nhưng những con người chúng ta đang trưởng thành hơn. Có một sự thay đổi lớn trong những nhận thức của con người về chiến tranh từ đầu và cuối của thế kỷ hai mươi; cũng thế trong vấn đề môi trường. Vào đầu thế kỷ, nói chung không có khái niệm hay tỉnh thức về môi trường. Vào lúc đó, người ta chỉ thích tiêu thụ mọi thứ, mà không có bất cứ sự tỉnh thức nào về sự giới hạn của những tài nguyên quan trọng. Ngay cả khái niệm về tâm linh vào đầu thế kỷ hai mươi thậm chí người ta chỉ nói về sự phát triển vật chất. Vào cuối thế kỷ hai mươi, người ta đã bắt đầu cảm thấy rằng có một sự giới hạn về giá trị vật chất – cuối cùng, sự hòa bình của tâm thức là rất quan yếu. Cho nên, người ta đang chú ý đến tầm quan trọng của hòa bình tâm hồn. Cho dù người có tín ngưỡng  hay không tín ngưỡng, càng ngày càng có  nhiều người hơn đang nói và nghĩ về giá trị tâm linh.

Cũng thế, vào đầu thế kỷ hai mươi, nhiều triều đại quân chủ đã cáo chung. Đây là những thay đổi lớn trong phạm vi một thế kỷ. Do vậy, phán xét từ toàn cảnh, con người đang trở thành trưởng thành hơn và thực tế hơn, thế nên mọi thứ đang trở nên tốt đẹp hơn và tốt đẹp hơn.

Ngày nay, các quyền con người và quyền tự quyết là phổ quát. Tôi sinh ra trong năm 1935, chỉ ngay trước Thế Chiến Thứ Hai. Nhật Bản đã sẳn sàng xâm lược Trung Hoa, khoảng 1935 có phải không? Tôi không thể nhớ chính xác ngày tháng.

Thế nào đi nữa, Thế Chiến Thứ Hai đã sắp xảy ra, và ở Âu Châu Đức Quốc Xã đã phát triển, tiếp theo là Mussolini ở Ý Đại Lợi – những gì quý vị gọi là đảng Phát xít. Sau Thế Chiến Thứ Hai, rồi chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, và v.v… - cho nên dường như là khoảng đầu cuộc đời tôi, tin tức đầy dẫy về chiến tranh. Và sự bạo động vô cùng này thất bại trong việc giải quyết những vấn nạn của loài người; trong thực tế, nó chỉ tạo thêm rắc rối. Chiến tranh, tôi nghĩ, sử dụng bạo động trong một cách tối đa, và thay vì giải quyết các vấn nạn, nó chỉ gieo thêm những hạt giống cho những rắc rối sâu xa hơn. Bây giờ, bất hạnh thay, mở đầu của thế kỷ hai mươi mốt cũng giống hệt như vậy. Sự tiết chế của Tổng Thống Bush là tuyệt vời – mục tiêu, vốn là để đem lại dân chủ cho Iraq, là thiện ý – nhưng phương pháp là bạo động, cho nên không ngờ đến những hậu quả xảy ra. Ngày nay, tôi cảm thấy con người đang trở nên trưởng thành hơn và thực tế hơn. Do những kin nghiệm của chính chúng ta, bây giờ chúng ta chú ý hơn đến những lãnh vực nào đó mà trước đây chúng ta quên lãng. Không ai biết những gì sẽ xảy ra cho con người sau vài nghìn năm, nhưng tôi nghĩ sau thế kỷ tới, và thế kỷ sau đó, và sau đó, con người và hành tinh chúng ta chắc chắn sẽ trở thành hòa bình hơn, từ bi hơn, và hạnh phúc hơn.

Có những khả năng ở đó. Nhưng rồi thì toàn bộ tùy thuộc vào những nổ lực của chính chúng ta và sự trong sáng của viễn tượng. Rồi thì, cũng vậy, tôi có thể nói rằng trong Thế Chiến Thứ Hai và buổi đầu của thế kỷ hai mươi, các quốc gia đang thi đua chế tạo bom nguyên tử. Trong phần sau của thế kỷ, những quốc gia quan trọng – chủ yếu là USA và Liên Bang Nga – bây giờ thật sự, đang nói một cách nghiêm chỉnh về việc giảm thiểu các đầu đạn hạt nhân và cuối cùng hoàn toàn từ bỏ vũ khí hạt nhân. Có những dấu hiệu rất, rất tích cực. Do bởi quá khứ như vậy, cho nên có một khả năng thật sự của một thế giới tốt đẹp hơn. Tôi chỉ là một con người trong sáu tỉ người. Tôi luôn luôn tin tưởng rằng mọi người có trách nhiệm để nghĩ về thế giới. Tôi là một người Tây Tạng, nhưng chúng tôi thuộc về sáu tỉ người – toàn bộ hành tinh.

Quý vị là người Nhật. Nhưng bây giờ thời gian để nói về Nhật Bản mà thôi đã qua. Bây giờ quý vị phải nghĩ và nói về toàn bộ thế giới, bởi vì tương lai của Nhật Bản tùy thuộc vào toàn bộ thế giới. Vào thời cổ xưa – thế kỷ mười tám hay mười chín, quý vị thấy – các quốc gia không nhiều thì ít độc lập với nhau. Họ là điều gì đó như tự cung tự cấp. Ngày nay, hoàn cảnh thế đó đã hoàn toàn thay đổi. Ngay cả Iraq là một nước hùng mạnh – nhưng tương lai của họ tùy thuộc vào toàn bộ thế giới. Và hãy nhìn vào tinh thần của Liên Hiệp Châu Âu.

Trong thế kỷ trước những quốc gia nhỏ bé đã đấu tranh cho chủ quyền của họ. Dân tộc của mỗi quốc gia đã sẵn sàng để hy sinh mạng sống của họ để bảo vệ chủ quyền của họ. Bây giờ,  họ đã nhận ra rằng quan tâm chung là quan trọng hơn quan tâm cá nhân. Quan tâm cá nhân được trộn lẫn rất nhiều với quan tâm chung. Do vậy, sau Thế Chiến Thứ Hai, như khái niệm mới, Liên Hiệp Châu Âu tạo ra đồng euro. Đồng mác của đức là một loại tiền tệ rất mạnh, nhưng họ sẵn sàng để hy sinh nó cho đồng tiền tệ chung. Đồng lira của Ý, như đồng Yen của Nhật, không có nhiều giá trị. Những việc này là một dấu hiệu rõ ràng rằng con người đang lo lắng hơn, và rằng họ bây giờ nhận ra rằng một quan tâm rộng rãi hơn là quan trọng hơn sự quan tâm vị kỷ. Điều này là rất quan trọng.

Bây giờ, Thượng đỉnh Copenhagen về sự ấm lên toàn cầu đã thất bại trong việc đem đến những kết quả cụ thể. Tại sao? Một số quốc gia quan trọng xem những quan tâm của quốc gia họ là quan trọng hơn những quan tâm của toàn cầu. Đó là tại sao nó thất bại. Một số quốc gia trẻ vẫn đang nghĩ về những quan tâm của quốc gia họ hơn là quan tâm toàn cầu. Nhưng trong thế giới rộng lớn, mọi việc đang thay đổi. Do vậy, tôi – như một con người trong sáu tỉ người , với một cảm nhận trách nhiệm toàn cầu – có hai chí nguyện. Chí nguyện thứ nhất của tôi là thúc đẩy những giá trị nội tại.

Giá trị nội tại có nghĩa là từ lúc sinh ra, một cách sinh học, chúng ta đã được trang bị để biểu lộ tình cảm đến người khác. Chúng ta có một cảm giác quan tâm đến sự cát tường của những người khác. Từ lúc ấu thơ, do bởi nhân tố sinh học này, chúng ta đã có được những thứ này. Điều đó là rất, rất quý giá, vì chúng ta là những tạo vật xã hội. Đời sống cá nhân lệ thuộc vào những thành viên khác của cộng đồng, do thế, một cách tình cảm, có điều gì đó đưa chúng ta lại với nhau, ban cho chúng ta với tình cảm con người và mối đồng cảm con người. Do vậy cho dù chúng ta có tin tưởng Thượng đế hay không, thì đây là những thứ được trang bị một cách sinh học. Theo những khám phá mới nhất của khoa học, nhiệt tình là rất quan trọng cho một thân thể khỏe mạnh. Đôi khi họ nói rằng tâm-khỏe-thân-khỏe. Điều này là đúng. Sân hận và sợ hãi liên tục thật sự ăn thủng vào hệ thống miễn nhiễm của chúng ta, theo một số nhà khoa học. Một tâm tĩnh lặng hơn và thấu cảm hơn tự động mang đến sự hòa bình nội tại. Một tâm tĩnh lặng là rất cần yếu cho một thân thể khỏe mạnh. Vì vậy, những thứ này tôi diễn tả như các giá trị nhân bản. Bất cứ nơi đâu tôi đến, tôi  luôn luôn cố gắng để làm rõ ràng điều này. Tiền bạc là quan trọng, nhưng sự giàu có nội tại này là quan trọng hơn sự giàu có bên ngoài. Đây là chí nguyện thứ nhất của tôi.

Chí nguyện thứ hai là điều này – tôi là một Phật tử. Tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng, mặc dù triết lý khác nhau, có cùng tiềm năng và cũng như cùng thông điệp – một thông điệp của từ ái, bi mẫn, tha thứ, bao dung và kỷ luật tự giác. Do vậy, tất cả những truyền thống tôn giáo, có cùng loại tiềm năng để giúp nhân loại và mang đến những giá trị nhân bản nội tại này. Những sự tiếp cận và triết lý khác nhau là cần thiết nhằm để làm lợi lạc, ảnh hưởng hay tác động những loại khác nhau đến những con người khác nhau, vì những con người khác nhau có nhiều khuynh hướng khác nhau. Chỉ một triết lý đơn giản là không đủ - chúng ta cần các triết lý và tiếp cận đa dạng. Như vậy là hữu dụng  hơn cho những con người đa dạng, cho đến khi mà mục tiêu căn bản là giống nhau – cố gắng để là một loại con người thấu cảm hơn, chân thật hơn. Chân thật và thấu cảm là những mục tiêu của tất cả mọi truyền thống tôn giáo quan trọng. Những phương pháp khác nhau là cần thiết. Trong chính Phật giáo, có nhiều triết lý khác nhau và những nhận thức khác nhau về thực tại. Chính tự Đức Phật đã giảng dạy những triết lý mâu thuẩn. Tại sao? Vì trong chính những đệ tử của Ngài, có những con người khác nhau và nhiều thiên hướng khác nhau. Chỉ một quan điểm triết lý là không đủ cho những con người đa dạng. Vì thế rõ ràng chúng ta cần những cung cách khác nhau để tiếp cận. Nhưng những khác biệt này chỉ là bề mặt. Cốt lõi là giống nhau – để mang đến sự an bình nội tại. Do vậy, có một nền tảng chung và một mục tiêu chung, vốn có thể được sử dụng và để cố gắng mang đến một mối quan hệ gần gũi hơn giữa những truyền thống tôn giáo khác nhau. Cho nên, đây là chí nguyện thứ hai của tôi – để thúc đẩy sự hòa hiệp giữa những truyền thống tôn giáo khác nhau.

Thế nên điều đó gần như một sự giới thiệu của chính tôi.

*
Ẩn Tâm Lộ, Friday, July 5, 2019


Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

HÒA BÌNH QUA HÒA BÌNH NỘI TẠI




Nguyên tác: Peace Through Inner Peace
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Minneapolis 2011
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Trân trọng ông chủ tịch (hỏi người thông dịch) của trường đại học Minnesota nổi tiếng và to lớn này – (thính chúng cười) tôi phải chắc chắn những tên tuổi này, những thứ này – tâm trí tôi không quá đáng tin cậy hay tốt lắm với những chi tiết. Quý vị đã tặng tôi bằng cấp danh dự này, nên tôi cảm ơn rất nhiều. Tôi thường nói, khi tôi nhận loại bằng cấp danh dự loại này, rằng tôi đã có một học vị cao cấp đặc biệt rồi, có được mà không qua học tập. Tôi chắc rằng những người bình thường, nhằm để có được một bằng cấp loại này, thì cần nổ lực rất nhiều. Và rồi, đặc biệt cảm ơn cho chiếc mũ này. Đôi khi tôi chú ý rằng những người đầu hói yêu thích những chiếc nón. Tôi không muốn che dấu chiếc đầu trọc của tôi. (Cười) Vậy thì, sau mười năm, một lần nữa, tôi lại ở đây. Và mỗi lần mọi người thật sự biểu lộ cảm nhận chân thành, nhân bản, ấm áp. Tôi rất cảm kích điều đó.

Từ phía tôi cũng thế, bất cứ khi nào gặp gở mọi người, bất chấp văn hóa của họ là gì, bất chấp tín ngưỡng, hay màu da của họ là gì, thì tôi luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của cấp độ nền tảng mà trên ấy chúng ta cùng là những con người giống nhau – tinh thần, cảm xúc, thân thể chúng ta là giống nhau. Và, quan trọng hơn, mọi người – kể cả thú vật và côn trùng – muốn một đời sống hòa bình, không muốn những quấy rầy, và mỗi người có quyền để có một đời sống hạnh phúc thành công. Và rồi thì, dĩ nhiên, một học viện giáo dục như vậy là rất, rất quan trọng, vì não bộ của con người chúng ta có tiềm năng vĩ đại cho kiến thức tăng trưởng.

Vậy nên, những học viện giáo dục như trường đại học này, tôi nghĩ, cống hiến sự hổ trợ tuyệt diệu để phát triển tiềm năng này. Hệ thống giáo dục hiện đại, mức độ mà tôi biết, đã bắt đầu khoảng một nghìn năm trước ở lục địa châu Âu, như những học viện giáo dục riêng biệt. Vào lúc ấy, những học viện tôn giáo chăm sóc những khía cạnh đạo đức, tâm linh, và luân lý của tâm thức. Những học viện tôn giáo chịu hoàn toàn trách nhiệm cho khía cạnh tâm linh này. Và cũng thế, tôi nghĩ có sự nhấn mạnh rất nhiều về những giá trị gia đình. Vì vậy, vào lúc ấy, những học viện giáo dục được phát triển một cách mới mẻ, được thành lập một cách mới  mẻ chỉ quan tâm về sự phát triền và giáo dục não bộ. Thời gian trôi qua và sự ảnh hưởng của Nhà thờ cũng suy thoái một ít, cũng như các giá trị gia đình. Do vậy, học viện giáo dục tự nó bây giờ nên chăm sóc của những khía cạnh này – về kiến thức và lòng nhiệt tình. Vì thế ở đây, dường như rằng chúng ta không chú ý tương xứng để phát triển và duy trì tâm bi mẫn thương cảm của con người.

Chúng ta đang bắt đầu thế kỷ 21. Nói một cách tổng quát, tôi nghĩ cả điều kiện vật chất hiện đại và nền giáo dục hiện đại và phát triển rất cao. Tuy nhiên, điều đó không nhất thiết giảm thiểu vấn nạn của nhân loại. Thí dụ, trong lịch sử loài người, tôi nghĩ thế kỷ 20 là quan trọng nhất. Trong thế kỷ ấy, một cách chính yếu nhiều phát minh và cải cách xảy ra trong lãnh vực của khoa học và kỷ thuật; cũng vậy trong kinh tế và trong giáo dục, đã phát triển nhiều.

Tuy nhiên, theo một số nhà sử học, trong thế kỷ 20, số lượng con người bị giết qua bạo động, qua chiến tranh – ngay cả qua nội chiến – là khoảng 200 triệu. Tôi nghĩ về tất cả những thế kỷ đã qua, con số lớn nhất của các tai họa qua bạo động là trong thế kỷ 20. Và cũng thế, như một kết quả của sáng chế trong kỷ thuật và khoa học, vũ khí nguyên tử được phát triển... Vũ khí tàn phá vô cùng này đã đem đến nhiều sợ hãi và lo lắng hơn cho hành tinh này – những thành tựu thật sự phi thường này của não bộ con người mang đến nhiều sợ hãi hơn cho thế giới. Vậy thì, điều gì sai lầm – não bộ? Ô, tri thức là kỳ diệu. Nhưng rồi thì, tôi sợ các nguyên lý đạo đức đang thiếu vắng. Vì thế, do bởi những kinh nghiệm quá khứ, tôi nghĩ rằng bây giờ đã đến lúc cho chúng ta nghĩ về vấn đề chúng ta cần trau dồi và duy trì một hệ thống nhạy cảm của đạo đức luân lý.

Đạo đức luân lý là gì? Tôi nghĩ chính chữ “đạo đức” là liên hệ với tâm thức và cảm xúc, mà không phải với vật chất. Chúng ta không thể nói, trên căn bản của vật chất đạo đức là khó khăn. Đạo đức liên hệ đến phẩm chất tinh thần. Vậy nên, chắc chắn, những tâm thức hay cảm xúc hay động cơ ấy những thứ mang đến sự thoải mái, hạnh phúc, và vui sướng, thì đó là đạo đức. Động cơ hay cảm xúc, mang đến sợ hãi, đau khổ, mất lòng tin, thì những thứ này là phi đạo đức. Do thế, chúng ta những con người, là những tạo vật xã hội, và để tồn tại thì chúng ta cần những cộng đồng loài người. Đó là tự nhiên của con người. Tự nhiên đã tạo chúng ta như những tạo vật xã hội, cho nên hợp tác chân thành là rất cần thiết. Ngay cả những côn trùng nhỏ hay chim chóc hay thú vật không tôn giáo, không hiến pháp, không chính phủ, nhưng tự nhiên, chúng hoạt động với nhau, và hợp tác.

Một cách căn bản, chúng ta cũng là những tạo vật xã hội và thật sự cần hợp tác. Nhưng sự hợp tác chân thành không thể được phát triển bằng sức mạnh, bằng tiền bạc, bằng năng lực – nó hoàn toàn căn cứ trên tình thân hữu. Tính hữu nghị là hoàn toàn căn cứ trên sự tin tưởng và sự tin tưởng căn cứ trên sự cởi mở. Nếu quý vị nhìn vào sự cởi mở và trung thực khác, nói năng và hành động một cách trung thực và chân thật, vốn mang đến sự tin tưởng. Tin tưởng mang đến tình bạn; và tình bạn mang đến sự hòa hiệp và hợp tác chân thành. Vậy nên, tôi nghĩ, yếu tố căn bản cho sự cởi mở hay tin tưởng là nhiệt tình.

Nếu ta xem những người khác, cũng giống như chúng ta, muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau thì ta sẽ thấy rằng thật không hợp lý để làm tổn hại, lừa gạt, và dối trá với người khác. Nếu ta bị lừa gạt bởi một người nào đó, ta cảm thấy không thoải mái. Do vậy, phù hợp với kinh nghiệm của chính ta, chúng ta phải tránh bất cứ hành vi thân thể, lời nói, và tâm ý vốn mang đến sợ hãi, tổn hại, hay làm người khác không thoải mái. Những thứ này là phi đạo đức. Những hành vi của thân thể, tâm ý và lời nói mang đến hạnh phúc và vui vẻ - không chỉ tạm thời mà cũng là về lâu về dài – thì đây là những thứ đạo đức.

Vậy thì bây giờ vấn đề là, theo tự nhiên, tất cả chúng ta có tiềm năng cho nhiệt tình, vì tất cả chúng ta đến từ của các bà mẹ của chúng ta, và chúng ta đã lớn lên dưới tình cảm vô biên của những bà mẹ. Tất cả chúng ta có cùng kinh nghiệm. Điều đó là rất, rất quan trọng. Tình cảm vô biên vào lúc ấu thơ thật sự làm nên một sự khác biệt cho toàn bộ đời sống của chúng ta. Bây giờ là kinh nghiệm của riêng tôi – tôi đến từ một vùng rất xa xôi, hẻo lánh, vùng đông bắc của Tây Tạng. Đặc biệt, ngôi làng của tôi, và rất xa xôi và nhà tôi là một nông trại. Cả cha mẹ tôi đều mù chữ; tuy nhiên, mẹ tôi thì rất nhân từ và một bà mẹ rất tốt. Do thế, chúng tôi, những đứa con của bà, lớn lên trong không khí ấy. điều đó tôi nghĩ thật sự có một tác động vô biên.

Đôi khi, tôi nói đùa với các bạn của tôi, mẹ tôi yêu thương tôi hơn. Tôi là đứa con nhỏ nhất của bà. Thông thường bà mẹ trải rộng niềm yêu thương cho tất cả, nhưng đặc biệt cho đứa con bé nhất của bà. Do thế điều đó tôi hơi bị hư hỏng đôi chút, tôi nghĩ thế. Trong một ngôi làng, bà mẹ thường mang đứa bé trên vai – mẹ tôi cũng thế, thường mang tôi. Bà yêu thương tôi lắm vì thế mà tôi hơi hung hăng. Cho nên trong khi tôi ngồi trên vai bà, tôi nắm hai lỗ tai của bà – khi tôi muốn đi hướng này, tôi làm thế này, và cho hướng nọ tôi làm thế nọ. (Diễn kéo lỗ tai) Nếu mẹ tôi không đi hướng ấy, thế thì tôi khóc và đôi chân tôi làm thế ấy. (Diễn đá chân) Vì vậy, trong bất cứ cách nào đi nữa, tôi cũng cảm thấy một niềm ấm ấp tự nhiên xuất phát từ mẹ tôi.

Và rồi, rõ ràng, nếu chúng ta thẩm tra mỗi cá nhân một cách toàn diện, những ai bề ngoài có vẻ hiểu biết là thông minh. Nhưng, ở một trình độ sâu xa, những ai đã tiếp nhận tình cảm tối đa từ những bà mẹ của họ vào lứa tuổi ấu thơ là trầm tĩnh hơn và ít sợ hãi – họ có một cảm giác an toàn. Một số người có thể là rất thông tuệ, học vấn cao hay nổi tiếng, nhưng nếu họ vốn tiếp nhận ít tình cảm hay đã từng bị ngược đãi, thì sâu thẩm bên trong có một cảm giác gì đó không an toàn. Những người như vậy thấy khó biểu lộ tình cảm thật sự cho những người khác. Cho nên cả đời của họ, sâu bên trong, họ mang một cảm giác cô đơn nào đó – họ bất lực. Đó là kinh nghiệm chung của chúng ta.

Cho nên tất cả chúng ta có tiềm năng của lòng nhiệt tình, vốn chúng ta tiếp nhận từ những bà mẹ và những người bạn của chúng ta. Thế thì, rõ ràng, chúng ta nhìn mọi người hay các gia đình của chúng ta. Các gia đình đầy những tình thân và tình bạn là hạnh phúc trọn vẹn ngay cả nếu họ có thể không giàu có gì. Rồi thì, có những gia đình vốn giàu có và đầy quyền lực, nhưng có một sự nghi ngờ, ganh đua, và thiếu tình cảm chân thật hay sự tin tưởng trong những thành viên của gia đình. Như một trình độ thật sự của con người về hạnh phúc hay hài lòng chân thật, họ khiếm khuyết nhiều. Điều đó là rõ ràng.

Và đôi khi, tôi diễn tả nó như cánh cửa bên trong của chúng ta vốn mở rộng và qua con đường ấy, thì chúng ta có thể dễ dàng giao tiếp với những người khác và tạo nên tình bạn. Trái lại, một thái độ cực kỳ vị kỷ làm cho chúng ta đóng cánh cửa bên trong lại. Thật khó mà giao tiếp với những người khác. Cũng thế, khi chúng ta chỉ nghĩ về mình, cái nhìn tinh thần toàn diện của chúng ta trở thành rất hạn hẹp. Và với quan kiến hẹp hòi ấy, ngay cả những rắc rối nhỏ nhoi xuất hiện như không thể chịu nổi với ta. Khi chúng ta nghĩ nhiều về sự cát tường của những người khác thì tâm tư chúng ta có được một nhận thức rộng rãi hơn, ngay cả một vấn đề thật sự nghiêm trọng cũng hiện hữu như không sao, okay. Nó có thể vẫn là không may và xấu, nhưng nó okay, bởi vì thái độ của ta mở rộng. Quá nhiều suy nghĩ vị kỷ, sẽ đưa chúng ta đến sự nguy hiểm hơn của phiền muộn và đau tim.

Đến một sự mở rộng nào đó, tôi cũng có thể nói với quý vị là điều này đến từ kinh nghiệm của riêng tôi. Tôi nghĩ thể trạng tinh thần của tôi tương đối khá yên bình. Ngay cả khi trải qua những thời điểm khó khăn nào đó, tâm tư của tôi hoàn toàn điềm tĩnh. Không bởi vì nó mờ tối – tôi nghĩ tôi có một tâm thức hoàn toàn sắc bén – nhưng sâu bên trong, có cảm nhận của tình cảm và quan tâm cho sự cát tường của người khác. Cũng thế, tôi thật sự xem những người khác như anh chị em của tôi. Họ có thể có những nhận thức và quan tâm khác biệt, nhưng họ vẫn là những con người. Thái độ đó thật sự hổ trợ vô vàn để giữ sự hòa bình của tâm hồn, vốn rất hữu ích để giữ một thân thể khỏe mạnh. Cho nên đôi khi chúng tôi gọi nó là tâm-khỏe-thân-khỏe. Chúng ta không được chỉ chăm sóc sức khỏe của thân thể. Tiền tài, những tiện nghi vật chất, và cũng thế, học vấn chính yếu biểu lộ cho quan tâm về sự thịnh vượng vật chất, vốn không đầy đủ. Phải có một chương trình nào đó để học hỏi về tâm thức chúng ta và vấn đề giải quyết những cảm xúc tàn phá như thế nào.

Bây giờ ở đây, tôi thường cảm thấy rằng có ba cách để thúc đẩy những giá trị nội tại này. Một là tôn giáo hữu thần – khái niệm về Thượng đế, vốn là rất năng lực để gia tăng từ ái và bi mẫn. Trong một trường hợp ở Jerusalem, tôi đã thảo luận với những giáo viên nào đó. Một người giáo viên Do Thái giáo đã nói với hội nghị của chúng tôi rằng ông thường nói với học trò của ông, “Khi các em gặp những người kích động các em, thì hãy nghĩ rằng người ấy là được làm từ hình ảnh của Thượng đế. Như vậy sẽ rất hữu ích.” Thế nên, trong những học sinh của ông ấy, có một số người Palestine và một số là Do Thái. Sau này một số học sinh người Palestine đã nói ông, “Sau khi nghe lời khuyến tấn và dạy dỗ của thầy, chúng em thực tập mỗi khi chúng em đến gần những trạm kiểm soát Israel.” Một trong những người bạn Hồi giáo của tôi đã nói với tôi rằng, như những người thực hành chân thành của Hồi giáo, bạn phải mở rộng tình thương của bạn đến tất cả mọi tạo vật. Vì bạn tôn kính và mến yêu Allah, thì bạn phải mở rộng tình thương của bạn đối với toàn thể tạo vật của ngài. Đây là một sự tiếp cận hữu thần rất hợp lý.

Rồi thì, có những truyền thống tôn giáo vô thần, như Phật giáo và Kỳ na giáo. Họ tuân theo quy luật nhân quả, cho nên không có Thượng đế - không có khái niệm Thượng đế hay đấng tạo hóa. Phù hợp với điều đó, nếu bạn giúp đở hay làm những việc tốt đẹp cho những người khác, thì bạn sẽ được những lợi lạc. Nếu bạn làm tổn hại một người khác, thì bạn sẽ có những hậu quả tiêu cực. Sự tiếp cận đó cũng rất lợi ích để làm gia tăng một cảm giác quan tâm cho sự cát tường của những người khác.

Rồi thì phải có một cách thứ ba, vì những giá trị này chúng ta không nói về sự quan tâm đến thiên đàng, địa ngục hay kiếp sống tương lai. Chúng ta đơn giản chỉ nói về sự cát tường trong kiếp sống này - ở những trình độ của gia đình và cộng đồng. Như tôi đã đề cập trước đây, đầu tiên chúng ta học hỏi từ những bà mẹ của chúng ta – cho dù chúng ta là những người tín ngưỡng hay không tín ngưỡng. Cho nên bản năng để nhận và cho tình yêu và nguyên tắc đạo đức này tự nó là thế tục, và không phải căn cứ trên đức tin tôn giáo. Tất nhiên, tất cả những tôn giáo quan trọng nhấn mạnh tầm quan trọng của những thứ này và có một phương pháp để làm mạnh sự thực hành này và những giá trị này. Nhưng những giá trị này tự chúng đúng là bản chất nhân tính – một bộ phận của tâm thức con người và cảm xúc con người. Do vậy, vì đối tượng tự nó, nói một cách nghiêm chỉnh, là thế tục, không có gì với tôn giáo. Ngay cả những con vật cũng ưa thích tình cảm. Các con vật cũng có khả năng để trông nom những con cái của chúng. Đây là những nhân tố sinh học, không phải là điều gì đó có được từ giáo lý tôn giáo.  Vậy nên, nó là điều gì đó thế tục. Do thế, cũng phải nên có một cung cách để thúc đẩy điều này trong một cung cách thế tục.

Như tôi đã đề cập trước đây, do sự kiện là chúng ta cùng đến từ những bà mẹ của chúng ta, và việc sử dụng cảm nhận chung, thì chúng ta thấy rằng tình cảm gia đình là hạnh phúc hơn nhiều hơn cả. Những nghiên cứu khoa học cũng hổ trợ sự quán sát này. Cho nên, hãy sử dụng những sự kiện này và phát triển sự tỉnh thức về tầm quan trọng của những thứ này, và chúng ta có thể phát triển lòng tin. Nhiệt tình là quan trọng cho sự cát tường của chính chúng ta, do vậy đó là cung cách thế tục để giáo dục. Thế nên, khi chúng ta sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa thế tục” hay “thế tục”, nó không có nghĩa là không tôn trọng tôn giáo mà đúng hơn là tôn trọng tất cả mọi tôn giáo, kể cả những người không tín ngưỡng.

Điều này không phải là mới, các bạn biết, ở Ấn Độ. Ngoài ba nền văn minh tôn giáo thế giới cổ xưa nhất – Ai Cập, Trung Hoa, và thung lũng Sông Ấn – thì dường như nền văn minh phát triển phức tạp hơn nhiều về những quan điểm triết lý. Cho nên cả nghìn năm ở Ấn Độ, một quan điểm triết lý khác biệt gọi là chủ nghĩa hư vô đã tồn tại. Nó không tin tưởng trong một Thượng đế, không kiếp sống sau, không cứu độ - không có gì ngoài cuộc sống hằng ngày. Đó là những gì họ gọi là trường phái tư tưởng hư vô. Những trường phái tư tưởng Ấn Độ khác chỉ trích quan điểm hư vô; nhưng người tin tưởng trong trường phái tư tưởng ấy được xem như một “rishi,” rishi có nghĩa là “hiền nhân” (sage).

Đó là truyền thống nghìn năm tuổi của Ấn Độ. Chúng ta có thể có những quan điểm khác nhau, và chúng ta có thể phê phán và tranh luận, nhưng như một con người thì ta phải tôn trọng những người khác. Do vậy, một người bạn Ấn Độ của tôi – một cựu phó thủ tướng Ấn Độ - đã nói với tôi rằng một trong những lý do mà Ấn Độ là một nền dân chủ rất thành công là do bởi truyền thống đó. Sự thông hiểu của Ấn Độ về chủ nghĩa thế tục tôn trọng ngay cả những người không tín ngưỡng. Điều đó tôi nghĩ, là rất liên hệ với thế giới ngày nay của chúng ta. Thế nên, khi chúng ta sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa thế tục”, thì vui lòng đừng nghĩ rằng đó là một thái độ tiêu cực với tôn giáo; mà đúng hơn, nó biểu lộ sự tôn kính.

Ấn Độ là một cộng đồng nghìn năm tuổi đa tôn giáo, kể cả vài vương quốc, bên cạnh những truyền thống tôn giáo bản địa khác. Tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng cuối cùng tìm thấy ngôi nhà của họ và định cư ở đấy; kể cả Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism) – mà những người theo tôn giáo ấy được gọi là Parsi – nguyên thỉ vốn đến từ Ba Tư. Ngày nay ở Ấn Độ trong một thành phố lớn, Bombay, toàn bộ dân số của họ ít hơn 100,000 người thậm chí nhỏ hơn dân số người tị nạn Tây Tạng. Nhưng họ đã giữ tôn giáo của họ. Họ luôn luôn giữ sự thờ cúng lửa mà không có hiểm họa hay sợ hãi.

Vừa mới đây tôi đã gặp một người Âu châu đến từ Romania. Bà đã tiến hành một nghiên cứu nào đó về hòa hiệp trong những truyền thống tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ. Bà đã nói với tôi rằng bà thật ngạc nhiên khi thấy rằng trong một ngôi làng, nơi cộng đồng Hồi giáo là đa số và chỉ có ba gia đình Ấn giáo, những gia đình Ấn giáo không phải sợ hãi hay bị đe dọa gì cả. Mọi người sống rất hạnh phúc và trong mối quan hệ thân hữu gần gũi. Bà đã ngạc nhiên. Đó là truyền thống Ấn Độ - hàng nghìn năm hòa hiệp giữa những truyền thống tôn giáo khác nhau. Và tự chính hiến pháp Ấn Độ, do bởi thực tế ấy, được căn cứ trên chủ nghĩa thế tục.

Cho nên, vấn nạn là một số người tin rằng những nguyên tắc đạo đức phải được căn cứ trên niềm tin tôn giáo, và những phiền phức sinh khởi do bởi đấy. Ở Ấn Độ, do bởi thực tế của nó là một xã hội đa tôn giáo, nếu luân lý đạo đức được căn cứ trên đức tin tôn giáo – thì chúng ta nên chọn tôn giáo nào? Sẽ có nhiều phiền phức. Một số nói rằng có Thượng đế; một số nói không có Thượng đế. Đơn giản là căn cứ trên luân lý đạo đức thế tục, nó sẽ dễ dàng và tốt đẹp hơn nhiều. Điều đó sẽ là phổ thông. Đức tin tôn giáo không thể là phổ quát.

Ở đây tôi muốn chia sẻ một điều. Theo những truyền thống tôn giáo, khái niệm một- chân lý - một - tôn giáo là rất quan trọng. Ở mức độ cá nhân, điều đó rất liên hệ nhằm để tăng trưởng đức tin tôn giáo của chính ta. Nhưng trong những hình thức của cộng đồng, bây giờ, khái niệm một- chân lý - một - tôn giáo là không thực tiển. Trong những dạng thức của cộng đồng, những người khác nhau có những niềm tin khác nhau, kể cả những người không tín ngưỡng. Thế thì làm sao chúng ta có thể nói rằng tôn giáo có một người nào đó là chân lý duy nhất và tôn giáo duy nhất? Làm thế nào để ép buộc người khác? Rằng họ phải nên chấp nhận tôn giáo của ta là không thể. Do đó cho nên, nói một cách thực tế, trong những hình thức của cộng đồng, khái niệm vài-chân lý-vài- tôn giáo là thích hợp.

Bất cứ khi nào tôi có cơ hội để nói về những thứ này, tôi cảm kích nó rất nhiều. Bây giờ, trường đại học này đã tiến thêm một bước trong việc nói về tâm linh và trị liệu. Tôi nghĩ rằng rất tốt. Do vậy, Tôi đang mong đợi nhiều tiến bộ và hoạt động trong lãnh vực ấy. Trong vài năm tới đây, tôi sẽ trở lại nhằm để xem việc phát triển đã được thực hiện bao nhiêu.

Trong bất cứ trường hợp nào, tôi thật sự đánh giá cao mọi nổ lực. Một vài trường đại học khác – như Wincosin, Stanford, và Emory, như tôi biết – là đã tiến hành một số chương trình về việc rèn luyện tâm thức và tác động của nó như thế nào trên thân thể, trên tâm thức. Bây giờ, tôi đã thấy bốn trường đại học – trường đại học Minesota. Nên trong tương lai, tôi sẽ đề cập bốn trường đại học thật sự đang tiến hành một cách nghiêm chỉnh những hoạt động nghiên cứu trong sự quan tâm đó. Thế nên tôi cảm kích cơ hội này rất nhiều. Cảm ơn. Đó là tất cả, cảm ơn.

HỎI VÀ ĐÁP


HỎI: Ngẫu nhiên, nghệ sĩ Ngãi Vị Vị (Ai Weiwei) dự tính hiện diện ở đây hôm nay, nhưng không được. Ngài có khuyên bảo gì đối với ông ấy và những người đang hoạt động để làm cho Trung Hoa là một nơi tốt đẹp hơn?

ĐÁP: Bất hạnh thay, trong những năm gần đây và đặc biệt trong những tháng gần đây, chính quyền Trung Cộng, qua suy nghĩ cứng nhắc của họ, đã kiểm soát chặc chẽ những nhà trí thức và nghệ sĩ. Tôi nghĩ những người này nên nhìn về quá khứ, trong và ngay cả trước khi Cách Mạng Văn  Hóa. Trong nhiều trường hợp, có nhiều hạn chế và đàn áp trí thức. Nhưng trí thức, tôi nghĩ, nó là kho tàng của não bộ con người, cho nên nó không thể bị kiểm soát. Trong nhiều năm, một số những người này bị bỏ tù hay giam lỏng tại gia, nhưng rồi thì lại có những nhà trí thức mới, và ngay cả những người này sẽ có tự do. Cho nên ở Trung Hoa, đất nước đông dân nhất trên thế giới, với chiều dài lịch sử và văn hóa, những người làm việc cần cù, thì thảm kịch này đôi khi đến và biến mất. Điều quan trọng là những người – đặc biệt là những người trí thức – không có lý do gì để cảm thấy tuyệt vọng hay mất tinh thần; cho phải giữ tinh thần của họ và nhiệt tình của họ.

HỎI: Đâu là sự cân bằng giữa chấp thủ vào nhà cửa của một người và sự buông xả được Phật giáo giảng dạy? Xin hãy trình bày câu hỏi này trên cả trình độ cá nhân – chấp thủ với trẻ em – và trên trình độ xã hội – chấp thủ với USA.

ĐÁP: Có hai trình độ đối với việc quan tâm đến những người khác. Một trình độ, như tôi đã đề cập trước đây, là nhân tố sinh học. Những gì quý vị gọi là lòng trắc ẩn, hay thái độ tình cảm, cho nên vì vậy, trình độ ấy của lòng trắc ẩn có thể được phát triển đối với bạn bè của quý vị, chứ không với kẻ thù quý vị, vì một thái độ của kẻ thù là tiêu cực đối với quý vị. Với truyền thống tôn giáo, kể cả Phật giáo, khi chúng ta nói về lòng trắc ẩn, hay lòng từ bi, thì nó không hướng về tình cảm của họ, nhưng là, tự sáng tạo. Thí dụ, một số nuôi dưỡng bản thân không phải vì quý vị tử tế với chính quý vị mà bởi vì, một cách tự động, quý vị muốn hạnh phúc, quý vị không muốn đau khổ.

Do vậy, những người khác cũng thế, kể cả kẻ thù của quý vị, có cùng khát vọng và quyền vượt thắng khổ đau, để đạt được hạnh phúc. Trên căn bản đó, chúng ta có thể mở rộng lòng từ bi của chúng ta, vì thế lòng từ bi là không thành kiến. Lòng trắc ẩn trước là thành kiến và liên hệ rất nhiều với dính mắc, chấp thủ. Lòng từ bi nói sau là không có dính mắc, và chấp thủ.

Cho nên một lần nọ, nhà cơ học lượng tử này đã đề cập với tôi rằng ông không nên phát triển sự chấp trước vào lãnh vực khoa học của chính ông. Điều đó thật tuyệt vời. Trong trường hợp của riêng tôi, tôi là một Phật tử, nhưng tôi không nên phát triển một sự chấp trước đối với Phật giáo. Nếu tôi phát triển một sự dính mắc đối với Phật giáo, thì tôi sẽ không thấy giá trị của người khác một cách khách quan. Phật giáo không bao giờ khuyến khích việc phát triển dính mắc. Chấp trước và từ bi là hai vấn đề riêng biệt.

Do vậy, nhằm để phát triển một lòng từ bi không thành kiến, lòng từ ái và bi mẫn vô giới hạn, trước tiên ta phải tự tách riêng ra. Ta phải có lòng bình đẳng cho tất cả - cả những kẻ thù và những người bạn. Sau đó phát triển lòng từ bi không thành kiến. Và rồi thì cũng thường rằng người ta lẫn lộn Phật giáo với những tôn giáo khác nào đó, và xem khát vọng như điều gì đó tiêu cực. Khát vọng với dính mắc là tiêu cực. Chúng ta phải phát triển khát vọng với lý trí, thí dụ, khát vọng cho sự cát tường của người khác, hay khát vọng để vượt thắng sự khổ đau của chính ta. Điều đó là đúng. Khát vọng không có cơ sở thích đáng là rất liên hệ với dính mắc. Loại khát vọng đó phải được giảm thiểu. Và rồi, có sân hận. Có những loại sân hận đa dạng khác nhau – sân hận với cảm giác xấu ác thì khác với sân hận vì lòng từ bi hay một cảm giác quan tâm. Sân hận cũng có thể đến từ một thái độ vị kỷ, vốn có thể đưa đến bắt nạt và bóc lột người khác. Loại thái độ vị kỷ đó là tiêu cực. Nhưng một cảm giác vị kỷ khác - cảm giác của một tự ngã mạnh mẽ - là cần thiết. Chúng ta cần cảm giác của một tự ngã mạnh mẽ để phát triển lòng can đảm và ý chí. Thế nên, trong thế giới tinh thần và cảm giác, có rất nhiều loại đa dạng.

Tự nuôi dưỡng ta không phải qua việc ta thể hiện tử tế với chính mình; đó là vì, tự nhiên, ta muốn hạnh phúc, ta không muốn khổ đau, cho nên cảm giác chăm sóc này hiện hữu. Điều này tích cực hơn. Ngay cả niềm tin cũng là một điều tốt, nhưng niềm tin trong một điều sai lầm – niềm tin mù quáng – là nguy hiểm. Do vậy, niềm tin hành động với trí tuệ và thông minh là rất tốt. Niềm tin chỉ hành động với dính mắc là tiêu cực. Thế nên, có nhiều loại đa dạng.

HỎI: Câu hỏi này đến từ một đứa bé chín tuổi – Nếu ngài có thể giải quyết hoàn toàn một vấn nạn trên thế giới, đó sẽ là gì?

ĐÁP: Tôi không biết. Tôi nghĩ, trong thực tế, có rất nhiều vấn nạn cùng loại mà chỉ một con người không thể giải quyết bất cứ điều nào trong chúng. Mọi người – trên sáu tỉ con người – phải có trách nhiệm để giải quyết những vấn nạn này.

HỎI: Ngài thấy internet có vai trò gì trong việc hổ trợ con người trải nghiệm và khám phá một trái tim, một tâm hồn, và một vũ trụ? Chúng ta có thể làm gì xa hơn với vai trò này?

ĐÁP: Tôi nghĩ internet là một trong những phương cách giao tiếp rất tiến bộ. Và tôi nghĩ rằng, một cách căn bản, nhằm để phát triển tâm thức con người trong dạng thức phức tạp hơn, chúng ta cần nhiều thông tin. Chỉ một cảnh báo – tin tức một chiều rất tai hại, cho nên chúng ta cần thông tin đa chiều. Nếu một nhận thức gọi là điều gì đó tốt và một điều khác gọi là xấu, thì chúng ta cần cả hai nhận thức ấy. Điều đó cho chúng ta cơ hội để khảo sát bởi chính chúng ta. Do vậy, ngày nay, trong lãnh vực thông tin, Internet là tuyệt vời. Tôi nghĩ, do bởi đó, nhiều thay đổi tích cực đang xảy ra trên hành tinh này. Không như đầu hay giữa thế kỷ hai mươi, khi thiếu thốn thông tin rất nhiều và thế nên thật dễ dàng hơn để phát triển những cảm xúc tiêu cực không cần thiết.

Vì vậy thông tin, vốn xây dựng một bức ảnh rõ ràng về toàn bộ thế giới, là vô cùng lợi lạc. Tôi luôn luôn nói khi tôi gặp giới truyền thông rằng người ta nên có những chiếc mũi dài – giống như mũi của con voi – và nên ngữi cả những gì trước mặt chúng và, quan trọng nhất là những gì ở phía sau, những gì đang xảy ra. Điều đó rất rất quan trọng. Họ phải thực hiện một sự điều tra xuyên suốt những gì đang xảy ra và rồi thông báo cho công chúng, cho thấy rằng họ đã làm việc đó một cách trung thực, chân thật, không thành kiến, và khách quan. Điều đó rất quan trọng, đặc biệt trong xã hội dân chủ. Tôi đang muốn nói rằng thế giới thuộc về sáu tỉ con người – không phải là những chính phủ, và không phải bất cứ một tôn giáo đặc thù nào. Thí dụ, USA thuộc về người dân của USA, chứ không phải thuộc về Đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa.

Dĩ nhiên, không thể cho tất cả ba trăm triệu người của một đất nước chi phối một quốc gia cùng một lúc, cho nên tốt nhất là chọn một số người qua bầu cử. Một chính quyền qua bầu cử dân chủ thật sự bởi dân, do dân và vì dân. Cung cách tốt nhất để quản trị xứ sở của quý vị là qua một hệ thống dân chủ. Và nhằm để tạo một hệ thống dân chủ hoạt động một cách hiệu quả theo những nguyên tắc đạo đức, đôi khi một hiến pháp là rất tốt. Mọi người bình đẳng dưới luật pháp; vâng, xứ sở này thật sự thực hành điều đó. Tuy nhiên, đôi khi não bộ con người là rất năng động mà ngay cả trong một hệ thống rất tốt đẹp, những rủi ro được biết xảy ra. Do thế, những người truyền thông là quan trọng. Họ cần làm rõ ràng những gì sai, những gì là tâm tư sai sót, những gì hư hỏng đang xảy ra và ở đâu. Đó là những gì mà người làm truyền thông – chứ không phải chính quyền mà những tổ chức công cộng như truyền thông – phải khảo sát và làm rõ ràng.

Trong những lãnh vực này, Internet tôi nghĩ có một vai trò rất quan trọng. Và như tôi luôn luôn nói, người làm truyền thông cũng có một vai trò rất quan trọng để tạo nên những quan điểm nào đó tỉnh thức hơn mà vốn chúng ta thường quên lãng. Đạo đức luân lý là một trong những điều đó. Tôi nghĩ kỷ thuật mới và sự lan truyền thông tin là rất tuyệt vời. Dĩ nhiên, nếu quý vị sử dụng nó trong một cách sai lầm, thì đôi khi nó cũng tạo thêm rắc rối; nhưng tôi nghĩ cho đến khi mà quý vị sử dụng nó một cách trung thực, chân thật, và trong sáng, càng nhiều tin tức, càng tốt đẹp hơn. Nếu quý vị có điều gì đó để che dấu, điều này làm nó khó khăn hơn. Nếu quý vị đạo đức giả trong những cung cách của quý vị, thế thì quý vị phải rất, rất cẩn trọng.

HỎI: Ngài nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn hay tệ hại hơn và tại sao?

ĐÁP: Tốt đẹp hơn. Lý do là không chỉ sự quan sát của tôi. Trong năm 1996 – khoảng cuối thế kỷ hai mươi – tôi có cơ hội tiếp xúc với cố Hoàng Thái Hậu của Anh quốc. Tuổi của bà là chín mươi sáu. Bà đã được sanh ra vào đầu thế kỷ hai mươi, cho nên trong một cách bà quan sát hầu như cả toàn bộ thế kỷ. Cùng lúc đó, tôi hỏi bà, “Vì ngài đã quán sát hầu như cả toàn bộ thế kỷ, ngài nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn hay tệ hại hơn, hay cũng giống như vậy?” Không do dự, bà đã nói với tôi rằng nó đang trở nên tốt đẹp hơn. Khi bà trẻ, không có những khái niệm về nhân quyền hay những quyền tự quyết. Bây giờ chúng trở thành phổ quát. Bà đã đưa ra hai điều này như những thí dụ chứng minh rằng thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn.

Với kinh nghiệm của riêng tôi, tôi nghĩ rằng vào đầu thế kỷ hai mươi, không ai nói về tầm quan trọng của sinh quyển. Bây giờ nhiều người biểu lộ một cách chân thành việc quan tâm cho môi trường. Điều đó là tuyệt vời. Có ngay cả những đảng phái chính trị là những đảng xanh lục. Một lần nọ tôi gặp gở những người từ những đảng xanh này ở New Zealand hay một quốc gia nào đó, tôi đã nói đùa với những người ấy rằng nếu tôi vẫn ở xứ sở ấy, tôi sẽ tham gia vào đảng xanh của họ.

Trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, tôi nghĩ, những dấu hiệu trưởng thành hơn. Tôi nghĩ các nhà khoa học bây giờ cũng đang nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh hơn trong tâm thức. Trước đây, các nhà khoa học chỉ nghiên cứu về khoa học thô cứng – chỉ những thứ mà chúng ta có thể cân đong hay đo đếm. Tâm thức và những cảm giác là những thứ gì đó khác biệt. Bây giờ khoa học hiện đại đang tiến triển một cách chậm chạp, các nhà khoa học đang cho thấy một sự quan tâm trong tâm ý – mối quan hệ nào đó giữa não bộ và tâm thức. Và cũng thế, tôi nghĩ có một mối hòa hiệp hơn giữa những tôn giáo. Thí dụ, Đức Giáo Hoàng John Paul II triệu tập hội nghị Assisi, nơi ngài mời những lãnh tụ của những giáo phái Ki Tô khác nhau cũng như vài tông phái Phật giáo và Ấn giáo. Ý tưởng về một-chân lý-một-tôn giáo dần dần chuyển thành vài-chân lý-vài-tôn giáo. Cho nên đây là những dấu hiệu mà tôi nghĩ là rõ ràng cho một sự tiến triển và văn minh rộng lớn hơn.

Tôi cũng nghĩ kinh nghiệm về giáo dục thật sự đã thực hiện một sự đóng góp vô vàn để khai triển và mở rộng tâm thức chúng ta, dạy chúng ta thấy một cách toàn diện hơn. Quý vị nghĩ gì? Và rồi chữ “từ bi”. Trước đây, trong những tuyên bố của một nhà chính trị, tôi nghĩ không có chỗ cho từ bi. Về sau này của thế kỷ hai mươi, tôi nhớ một trong những tuyên bố của cố nữ Thủ tướng Anh Thatcher, bà đã đề cập từ bi và rồi bất bạo động.

Và trong đầu thế kỷ hai mươi, các nhà khoa học, viên chức, và chính quyền hoàn toàn hăng hái để chế tạo bom hạt nhân. Bây giờ, người ta đang nói về vấn đề giảm thiểu và đi đến việc từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân như thế nào. Đây là những dấu hiệu của sự tiến bộ.

Trích từ quyển the Big Book of Happiness
Ẩn Tâm Lộ, Friday, June 28, 2019



Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

Mạn Đà La Thời Luân







Trong trung tâm của vũ trụ, mạn đà la Thời Luân, Kakachakra, được dâng hiến cho hòa bình . Nó được diễn tả như không gian vô giới hạn, bao hàm tất cả yêu thương, được diễn tả bởi lời cầu nguyện này của Shantideva, được Đức Đạt Lai Lạt Ma trích dẫn ở Oslo vào cuối bài phát biểu nhận giải Nobel Hòa Bình. Lời cầu nguyện này được diễn dịch bằng Tạng ngữ, Hoa ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ, và Việt ngữ:

As long as space remains,
As long as sentient beings remain,
Until then, may I too remain
And dispel the miseries of the world

Khi không gian vẫn còn tồn tại
Khi chúng sanh vẫn còn hiện hữu
Cho đến lúc ấy, tôi nguyện cũng sẽ hiện diện
Để xua tan khổ đau của trần thế

Chữ ký của Đức Đạt Lai Lạt Ma vào ngày 11 tháng Hai, 2008 ở Dharamsala


Ẩn Tâm Lộ, Friday, June 14, 2019


PHÁT BIỂU HÀNG NĂM CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NHÂN LỄ KỶ NIỆM NGÀY ĐỒNG KHỞI Ở LHASA 10 THÁNG BA NĂM 1959




10 Tháng Ba năm 2007

Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 48 cuộc đồng khởi hòa bình của người Tây Tạng ở Lhasa năm 1959, tôi bày tỏ lòng tôn kính đến tất cả những người Tây Tạng đã đau khổ và những người đã hy sinh mạng sống của họ vì vấn đề Tây Tạng. Tôi dâng lời cầu nguyện cho họ. Tôi cũng khẳng định lòng đoàn kết của tôi với những người đàn ông và đàn bà, những người vẫn tiếp tục đau khổ từ sự đàn áp và những người ở trong nhà tù bây giờ.

Năm 2006, chúng ta đã quán sát thấy những sự thay đổi cả tích cực và tiêu cực ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Về một mặt, vị thế cứng rắn được tăng cường, đáng chú ý với cuộc vận động phá hoại chống lại chúng ta và thậm chí sự đàn áp hạn chế chính trị ồn ào, cao độ hơn ở Tây Tạng. Về mặt khác, tại chính Trung Hoa, tự do ngôn luận trở thành lan rộng một cách rõ ràng. Đặc biệt, những nhà trí thức Trung Hoa đã làm sinh khởi một ý tưởng rằng thật cần thiết để phát triển một xã hội đầy đủ ý nghĩa hơn căn cứ trên những giá trị tâm linh. Ý tưởng rằng hệ thống hiện tại ở trong một vị trí không thích hợp để tạo nên một xã hội như vậy đang đặt nền tảng; vì thế việc phát triển niềm tin tôn giáo trong phổ quát, và quan tâm trong Phật giáo và văn hóa Tây Tạng trong đặc thù. Điều gì nữa, nhiều người đang bày tỏ mong ước tôi thực hiện một cuộc hành hương đến Trung Hoa và giảng dạy cho họ.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã lập lại lời kêu gọi cho một xã hội hòa hiệp là đáng ca tụng. Việc nhận ra một xã hội như vậy liên hệ đến việc phát triển lòng tin giữa những con người, vốn chỉ có thể xảy ra khi có tự do ngôn luận, sự thật, công lý và cai trị bình đẳng. Do thế, thật thiết yếu rằng tất cả mọi cơ chế có thẩm quyền ở tất cả mọi trình độ không chi chấp nhận những nguyên tắc này mà phải thật sự đưa chúng vào trong thực hành.

Như những mối quan hệ của chúng tôi với Trung Hoa, từ 1974 chúng tôi đã nhận ra rằng cơ hội để mở ra một cuộc đối thoại với Trung Hoa sẽ hiện diện không thể tránh khỏi một ngày này hay một ngày khác. Chúng tôi đã và đang chuẩn bị cho chính mình để đạt được một sự tự trị thật sự mà trong ấy tất cả mọi người Tây Tạng sẽ được thống nhất, như hiến pháp Trung Hoa đã long trọng tuyên bố. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã gợi ý rằng trừ việc độc lập, tất cả mọi vấn đề liên quan đến Tây Tạng đều có thể giải quyết thông qua đối thoại. Vì điều đó đồng thuận với nhận thức của chính chúng tôi, cho nên chúng tôi đã chọn chính sách Trung Đạo lợi ích hổ tương. Vì lúc ấy, trong hai mươi tám năm, điều đó đã xảy ra, chúng tôi đã theo đuổi chính sách này với sự kiên định và chân thành. nó đã được hình thành sau khi những cuộc thảo luận sâu và phân tích nghiêm chỉnh với mục tiêu phục vụ những quan tâm ngay lập tức và lâu dài của cả người Tây Tạng và Trung Hoa. Nó cũng cống hiến cho sự chung sống hòa bình ở Á châu và bảo vệ môi trường. Chính sách này được tán thành và hổ trợ bởi nhiều người Tây Tạng thực tiển cả ở bên trong và bên ngoài Tây Tạng, cũng như nhiều quốc gia.

Lý do chính phía sau đề xuất của tôi cho một khu tự trị chân thật cho tất cả mọi người Tây Tạng được bảo đảm bình đẳng thật sự và để tạo nên một cảm giác thống nhất giữa những người Tây Tạng và Trung Hoa, bằng loại trừ cả chủ nghĩa sô vanh người Hán và chủ nghĩa quốc gia địa phương. Nó cũng sẽ cống hiến cho sự ổn định của xứ sở, cảm ơn sự hổ trợ, tin tưởng và hữu nghị  hổ tương giữa hai dân tộc chúng ta. Nó cũng giúp duy trì sự phong phú về văn hóa và ngôn ngữ của chúng tôi trong một sự cân bằng thích đáng giữa việc phát triển vật chất và tâm linh, vì lợi ích của toàn thể nhân loại.

Đúng là hiến pháp Trung Hoa bảo đảm dân tộc tính một khu tự trị dân tộc. Vấn đề là nguyên tắc không được thực hành một cách trọn vẹn. Điều đó giải thích tại sao mục tiêu của nó, vốn là rõ ràng, lại không được thực hiện: bảo vệ bản sắc, văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Điều xảy ra trên căn bản giải quyết vấn đề trên các vùng thiểu số là phải theo dân tộc đa số. Kết quả là, dân tộc thiểu số, thay vì được bảo tồn bản sắc của chính họ, văn hóa và ngôn ngữ, đã không có lựa chọn nào khác mà phải tiếp nhận ngôn ngữ và phong tục của dân tộc đa số trong đời sống hàng ngày. Vì thế, hiểm họa của một tiến trình tiêu diệt ngôn ngữ và truyền thống phong phú của những dân tộc thiểu số. Không có gì sai gắn liền với việc muốn phát triển cơ sở hạn tầng, như đường sắt. Ngoại trừ đây là những nguồn gốc của nhiều vấn nạn, vì từ khi đường sắt đi vào hoạt động. Tây Tạng đã trải nghiệm việc tái lập di dân mới Trung Hoa, một sự tăng tốc làm xấu đi môi trường của nó, một sự gia tăng trong ô nhiễm, một sự quản lý sai lầm về nguồn nước và khai thác tài  nguyên thiên nhiên – tất cả những nguyên nhân của sự tàn phá đất nước và hủy hoại sự sống của những cư dân ở đấy.

Mặc dù có nhiều đảng viên có học thức, và có thẩm quyền là những người dân tộc thiểu số, đáng tiếc là quá ít người trong họ có được những vị trí lãnh đạo trên cấp độ quốc gia. Một số người trong họ đã bị buộc tội ly khai. Nếu chúng ta có được những lợi ích rõ ràng cho cả những dân tộc đa số và thiểu số, cũng như cho chính quyền trung ương và địa phương, thì một khu tự trị đầy đủ ý nghĩa nên được thành lập. Vì đây là khu tự trị quan tâm đến những dân tộc thiểu số trong cá biệt, cho nên sự đòi hỏi để thấy tất cả những người dân Tây Tạng được đặt dưới một cơ cấu hành chính là chân thành, công bằng và minh bạch. Rõ ràng là đối với thế giới chúng tôi không có chương trình gì dấu diếm. Cho nên đó là một nhiệm vụ thiên nhiên cho tất cả những người Tây Tạng tiếp tục đấu tranh cho đến khi đòi hỏi hợp lý này được hiện thực. Bất chấp là lâu dài như thế nào đi nữa; lòng nhiệt tình và quyết tâm của chúng tôi sẽ duy trì không thay đổi cho đến khi hoàn thành những nguyện vọng của chúng tôi. Cuộc đấu tranh của dân tộc Tây Tạng không phải là một cuộc chiến đấu vì vị thế đặc biệt của một vài cá nhân; đó là một cuộc đấu tranh của cả dân tộc. Chúng tôi đã chuyển biến cơ quan hành chính và cộng đồng lưu vong thành một cơ cấu dân chủ thiết thực vốn thấy một sự kế tục của những lãnh đạo được bầu cử bởi người dân của nó. Vì vậy, chúng tôi đã thiết lập một tổ chức xã hội và chính trị có gốc rễ sâu sắc và đầy năng lượng nhiệt tình sẽ tiếp tục sự đấu tranh của chúng tôi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chung cuộc, những quyết định tối hậu sẽ được thực hiện một cách dân chủ bởi chính những người dân.

Vì việc nối lại sự tiếp xúc trực tiếp giữa những người Tây Tạng và Trung Cộng trong năm 2002, những đại diện của tôi đã đưa năm vòng thảo luận toàn diện với những đại diện của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đáp ứng cho vấn đề. Trong những cuộc thảo luận này, cả hai bên có thể trình bày một cách rõ ràng trong hình thức của những sự nghi ngại, ngờ vực, và những khó khăn thật sự cố chấp của cả hai bên. Tuy nhiên, những vòng thảo luận này giúp chúng tôi tạo nên một kênh truyền thông giữa hai bên. Phái đoàn Tây Tạng sẵn sàng tiếp tục cuộc đối thoại vào bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào. Nội các sẽ đưa ra những chi tiết trong báo cáo của nó.

Tôi chúc mừng tất cả những người Tây Tạng ở quê hương Tuyết Sơn, những người như những thành viên của Cộng đảng, lãnh đạo, công chức, chuyên gia và những người khác, đã duy trì tâm linh Tây Tạng bằng việc theo đuổi một cách kiên trì nổ lực của họ trong vấn đề của dân tộc Tây Tạng. Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi cho người Tây Tạng ở Tây Tạng, những người mặc cho tất cả những thử thách đã hành động để bảo tồn bản sắc, văn hóa và ngôn ngữ Tây Tạng. Tôi ngưỡng mộ quyết tâm và lòng can đảm không lay chuyển trong việc nhận ra nguyện vọng của dân tộc Tây Tạng. Tôi chắc chắn họ sẽ tiếp tục chiến đấu cho vấn đề chung của chúng ta với sự hy hiến và quyết tâm. Tôi kêu gọi tất cả những người Tây Tạng cả ở bên trong và bên ngoài Tây Tạng hãy hành động cùng nhau cho một tương lai bảo đảm căn cứ trên sự bình đẳng và hòa hiệp giữa những dân tộc.

Tôi muốn nhân cơ hội này để cảm ơn dân tộc và chính phủ Ấn Độ từ đáy lòng của tôi vì sự hổ trợ rộng lượng, không lay chuyển và vô song của họ.

Tôi bày tỏ tất cả sự biết ơn của tôi đến các chính phủ và các dân tộc của cộng đồng quốc tế vì sự quan tâm và hổ trợ mà họ đã mang đến cho vấn đề Tây Tạng.

Với những lời cầu nguyện cho hòa bình và sự cát tường đến tất cả chúng sanh.

Đức Đạt Lai Lạt Ma

*