Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

GIỚI THIỆU: ĐỂ THÔNG HIỂU ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 


GIỚI THIỆU: ĐỂ THÔNG HIỂU ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA


Nguyên tác: Introduction/ Understanding The Dalai Lama
Tác giả: Rajiv Mehrotra
Chuyển ngữ: Quảng Cơ /Tuệ Uyển hiệu đính 

***
Tenzin Gyatso là người thừa kế một truyền thống tôn giáo bắt đầu ở Ấn Độ hơn 2500 năm trước, khi ngồi dưới gốc cây, một hoàng tử Ấn Độ trẻ tuổi, từ thiền định sâu sắc, đạt được kiến thức tuyệt đối về tình trạng con người và sự chắc chắn không thể lay chuyển rằng ngài đã thoát khỏi đau khổ. Ngài đã trở thành Đức Phật, Đấng Giác ngộ. Cốt lõi của con đường Phật giáo là sự thừa nhận rằng cuộc sống là một vòng vô tận của khổ đau, bệnh tật, chết chóc và tái sinh — một chu kỳ gây ra bởi ham muốn sinh ra từ sự si mê và một quan niệm sai lầm bẩm sinh về thực tại.

Giải thoát hay giác ngộ xảy ra khi, thông qua sự rèn luyện của tâm thức, chính tâm thức được siêu xuất. Sau đó, có một kinh nghiệm về bản chất bẩm sinh của thực tại, sự thừa nhận rằng tất cả vật chất chỉ tồn tại dưới dạng vọng tưởng và trong một sự trống rỗng bản chất tức là tánh không. Một số chúng sanh đã đạt được giác ngộ và do đó được giải thoát khỏi sự tái sinh, đã tự nguyện lựa chọn đầu thai vì lòng từ bi đối với người khác, để giảng dạy và phục vụ nhân loại. Họ được gọi là những vị bồ tát. Các vị Đạt Lai Lạt Ma là những vị bồ tát, Quán Thế Âm, một hóa thân của vị thánh bảo hộ của Tây Tạng.

Phật giáo, từ những hình thức đầu tiên của nó, đã bao gồm triết lý đạo đức tốt nhất bao gồm sự phát triển tâm thức rộng lớn và tâm lý học tiên phong. Khi nó đi khắp thế giới, nó đã phát triển thành tôn giáo, triết học tiến bộ, thần bí, siêu hình học và bộ ba yogas[1] — những con đường của lý trí, sự tận tâm và hành động. Như vậy nó chưa đủ để được nói là luân lý và đạo đức. Phật giáo trở thành một cuộc phiêu lưu trong vấn đề ‘làm thế nào.’

Trải rộng 2000 dặm từ Trung Hoa ở phía đông, đến Afghanistan ở phía tây, với Ấn Độ, quê hương của nhiều nền văn hóa của nó, ở phía nam, Tây Tạng là một cao nguyên khắc nghiệt của Himalaya cao 15.000 bộ so với mực nước biển. Người Tây Tạng đã phải đối mặt với những kỳ vĩ thiên nhiên nghiệt ngã đến mức nó mang lại một nhận thức mãnh liệt về sự huy hoàng và kinh hoàng tương phản của Vũ trụ.

Nơi ở của họ là một vài vùng đồng bằng dễ chịu và một nhiệm vụ tâm linh. Đó là một Shangri-la[2] xa xôi, bí mật, được truyền cảm hứng sâu sắc từ quan điểm vũ trụ của Phật giáo đến mức nó theo đuổi tôn giáo của mình trong sự cô lập tuyệt vời với một lòng nhiệt thành khác thường. Săn bắn và giết chóc chấm dứt vì điều đó có nghĩa là sự gián đoạn tùy ý trong quá trình tiến hóa của chính sinh vật đó. Quân đội tan rã và binh lính của họ trở thành nhà sư. Các vị vua truyền thống đã được thay thế bằng sự cai trị của tôn giáo. Bản chất yêu chuộng hòa bình cơ bản trong tôn giáo của họ đã khuyến khích sự giản dị và chủ nghĩa thực dụng trầm lặng trong dân chúng. Nạn đói không rõ nguyên nhân, bệnh tật hiếm gặp.

‘Bất hạnh thay, một số tu viện, học viện, đã trở thành những chủ đất. Sự thực tập phổ thông công cộng của Phật pháp đã suy thoái. Mặc dù có rất nhiều sự tận tâm, nhưng chỉ có một ít thật sự có học vấn, Đức Đạt Lai Lạt Ma biết như thế. Cấu trúc xã hội đã trở thành phong kiến. Hầu hết người Tây Tạng là nông dân đóng thuế cho những đại tu viện và điền trang quý tộc. Một trong bốn người Tây Tạng là tăng hay ni và cấu thành giai cấp quyền quý trên thực tế. Có tấm lòng nhiệt thành tự nhiên, với óc trật tự và tiếu lâm bẩm sinh, các tầng lớp khác nhau đã được định nghĩa bất biến trong nhiều thế kỷ. Bên trong các tu viện đã phát triển một nền văn hóa và truyền thống phong phú.

Năm 1933, Đức Đạt Lai Lạt Ma vĩ đại thứ mười ba đã băng hà trong Không Gian Tôn Kính. Hai năm sau, quan nhiếp chính của Tây Tạng đã đi đến hồ thiêng của nó để tìm kiếm viễn tượng về người sẽ là nhà lãnh đạo mới trở lại trong một cơ thể mới. Ở dưới nước, ngài được cho thấy một tu viện, một ngôi nhà gần đó và một đứa bé.

Những điềm báo khác hướng nhóm tìm kiếm về phía đông bắc, tới tu viện và ngôi nhà của linh ảnh. Có một cậu bé hai tuổi rưỡi đến gần và nhận ra các Lạt ma cải trang, gọi tên của họ. Cậu bé nói trong phương ngữ của thủ đô, Lhasa, cách xa hơn 1000 dặm. Cậu bé nhận ra tràng hạt, gậy chống và trống cầm tay của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba. Trên cơ thể của thiếu niên là những dấu hiệu phân biệt các vị Đạt Lai Lạt Ma, bao gồm đôi tai lớn, những vệt sọc giống hình con cọp trên chân và hình in vỏ ốc xà cừ trên lòng bàn tay. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây thật sự là Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn của Tây Tạng. Nói về sự tái sinh của mình, ngài khiêm tốn nói, ‘Các vị Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên, đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, chắc chắn là những hóa thân của Quán Thế Âm. Tôi tin tôi là một người có phước đức, nhưng trình độ tâm linh của tôi không cao. Tôi vẫn đang thực hành.’

Vào một buổi sáng tháng 10 rạng rỡ năm 1939, cậu bé lúc này mới bốn tuổi tiến vào thành phố Lhasa rực rỡ trong một đám rước rực rỡ, nơi hàng nghìn người xếp hàng dọc theo con đường màu vàng và trắng reo hò và vẫy tay. Nhà vua-triết học[3] sinh ra từ cha mẹ là nông dân đã bắt đầu quá trình huấn luyện gian khổ lâu dài của mình trong khi một nhiếp chính nắm giữ quyền lực tạm thời. Được bao quanh bởi các giáo thọ và những người thị giả, ngài sống trong sự cô lập lộng lẫy nhưng đầy kỷ luật. Ngài sớm được công nhận là một học sinh xuất sắc. Như hầu hết những người ở Lhasa đã theo dõi, Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn đã giành được bằng Tiến sĩ Triết học Phật giáo  với những danh dự, trong các cuộc tranh luận công khai, ở tuổi hai mươi bốn.

Trong khi đó, Tàu Cộng đã bắt đầu khẳng định yêu sách đối với Tây Tạng khi cho rằng dân tộc Tây Tạng là một phần của mẫu quốc Trung Hoa vì người Tây Tạng, hậu duệ của người Mông Cổ, là một phần của năm chủng tộc bao gồm người Hoa. Vào Ngày Năm Mới năm 1950, khi ngài chưa đầy mười sáu tuổi, Tenzin Gyatso bắt đầu học về chính trị thật sự. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới tuyên bố đã tuyên bố ý định ‘giải phóng’ Tây Tạng. Khi quân đội của nó tiến quân vào một quốc gia chưa chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh, dưới sự thúc giục của tiên tri nhà nước Hộ Pháp Nãi Quỳnh và người dân của ngài, Đức Thánh Thiện đã nắm quyền thế tục chính thức của Tây Tạng với tư cách là Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn, để lèo lái đất nước vượt qua thời khắc đen tối nhất.

Vào ngày 17 tháng 3 năm 1959, sau chín năm cố gắng không có kết quả trong việc thỏa hiệp với người Tàu Cộng, khi các hành động tàn bạo chống lại người Tây Tạng ngày càng gia tăng, trong một đêm súng nổ, pháo kích và cuộc nổi dậy cùng khắp ở Lhasa, Đức Đạt Lai Lạt Ma, được bảo vệ bởi binh línhTây Tạng, từ từ bắt đầu cuộc hành trình dài của mình, đào thoát nguy hiểm đến Ấn Độ. Trong vài tuần sau, ước tính có khoảng 87.000 người Tây Tạng bị giết và 25.000 người bị cầm tù. Một trăm ngàn người đã theo ngài lưu vong.

Báo cáo năm 1960 của Ủy ban Luật gia Quốc tế đã công nhận địa vị của Tây Tạng là một quốc gia có chủ quyền hoàn toàn. Tàu Cộng bị kết tội diệt chủng — ‘tội ác nghiêm trọng nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng có thể bị buộc tội; ý định tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần, một nhóm dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo '. Tuy nhiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma tin rằng:


Là một Phật tử, yếu tố cơ bản hoặc nguyên nhân của tất cả những bi kịch này là nghiệp trước của chính một người. Các yếu tố bên ngoài là các thế lực của Tàu Cộng nhưng nguyên nhân cơ bản là do nghiệp xấu trước đây của chính ta. Mặc dù cá nhân kẻ thù đó đang làm hại bạn, hãy quên cái gọi là kẻ thù đó đi. Hãy nhìn anh ấy là một con người giống như bạn hay tôi, ai cũng mong muốn hạnh phúc. Với lý do đó, bạn có thể phát triển lòng cảm thông hoặc lòng từ bi thật sự.


Vào cuối cuộc ‘cách mạng văn hóa’, trật tự mới của Tàu Cộng tiết lộ rằng bốn mươi lăm trong số 6000 tu viện của Tây Tạng đã tồn tại. Con số sẽ sớm được tăng lên thứ năm mươi. Trong số hơn 500.000 tăng ni, chỉ 1.300 người sống sót ở Tây Tạng. Những con số này có thể tăng lên; tuy nhiên, một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ngày nay là điều kiện tiên quyết để được phép đi tu.

Vào chiều ngày 31 tháng 3 năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma đi lưu vong, xin tị nạn chính trị ở Ấn Độ. Điều này ban đầu khiến chính phủ Ấn Độ lúng túng, vì mặc dù Ấn Độ và Tây Tạng có chung một lịch sử tôn giáo và văn hóa lâu đời, nhưng Thủ tướng Nehru buộc phải tính đến mối quan hệ hợp tác mỏng manh gần đây giữa Ấn Độ và Tàu Cộng. Tuy nhiên, lòng nhân đạo đã chiến thắng chính trị và được cấp quyền tị nạn. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trở thành một vị khách danh dự trong vùng đất của Đức Phật đản sinh. Nhưng mặc dù có sự thông cảm sâu sắc và hỗ trợ vật chất đáng kể cho những người tị nạn, tuy thế, vẫn có rất ít sự ủng hộ về mặt chính trị trên toàn thế giới. Sự cô lập của Tây Tạng khiến nước này không có kinh nghiệm về ngoại giao quốc tế và ít bạn bè.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm thấy nơi cư trú ở Dharamsala, cách thủ đô New Delhi một ngày đường. Một khu dân cư có diện tích chưa đến 2 mẫu Anh, được chính phủ nước ngoài ban tặng một cách ân cần, bây giờ là lãnh địa vật chất của Đạt Lai Lạt Ma. Ngài đã rút ngắn các biểu tượng bên ngoài chứng thực quyền lực và uy quyền của mình ở Tây Tạng. Đó là lời kêu gọi Tenzin Gyatso xây dựng một đế chế [tâm linh] rộng lớn hơn nhiều lấy nguồn gốc từ một vương quốc bên trong — đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, việc nuôi dưỡng hòa bình nội tâm và sự chính trực tinh tế là những vũ khí tối thượng mà một cá nhân có thể sử dụng để tạo ra sự khác biệt trong thế giới dường như điên cuồng này .

Trong hơn bốn thập niên, ngài đã sống lưu vong, trong khi sự áp bức của Tàu Cộng  ở Tây Tạng vẫn tiếp diễn, cũng như sự suy tàn có hệ thống đối với nền văn hóa và di sản của nó. Ngài vẫn là người tạm thời trong hộ chiếu của người tị nạn, phụ thuộc vào lòng hảo tâm của người nước ngoài.

Giải Nobel Hòa bình được trao cho ngài vào tháng 12 năm 1989 đã trở thành sự thừa nhận chính thức trên toàn cầu về sự phấn đấu tinh thần của cá nhân ngài và mục tiêu mà ngài là hiện thân, là giải thoát Tây Tạng khỏi sự áp bức của Tàu Cộng. Khi trao giải Nobel cho một nhà lãnh đạo tôn giáo, Ủy ban Nobel đã xác định ba yếu tố cụ thể trong triết lý của ngài: bất bạo động, tính liên quan chặc chẽ của nhân quyền xã hội và cá nhân, và nhu cầu quan trọng của thế hệ chúng ta đối với mối đe dọa của thảm họa môi trường toàn cầu. Điều quan trọng là vấn đề sinh thái đã được một nhà lãnh đạo tinh thần đưa vào chương trình nghị sự của Giải Nobel Hòa bình. Ngài kết hợp tính hợp lý, chủ nghĩa nhân văn và truyền thống tôn giáo làm nền tảng cho các phản ứng đạo đức trước những thách thức lớn của thế kỷ chúng ta. Ủy ban Nobel cũng không né tránh việc xác định Đức Đạt Lai Lạt Ma  là ‘nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần’ của người dân Tây Tạng và cuộc đấu tranh của ngài cho sự ‘giải thoát Tây Tạng’, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Tàu Cộng.

Tây Tạng ngày nay vừa là một thảm kịch vừa là một chiến thắng, một ví dụ rõ ràng về chủ nghĩa toàn trị hiện đại chiến đấu để chống lại một xã hội truyền thống miễn cưỡng. Một số phái đoàn của Đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tiên đến thăm Tây Tạng vào những năm 1980, gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ trong những người Tây Tạng ở khu tự trị Tây Tạng. Sau cái chết của Mao, vào năm 1976, các liên hệ tinh tế và có tiềm năng thực chất lần đầu tiên được thiết lập giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và Bắc Kinh. Tiếp sau đó là sự bế tắc hầu như không còn tồn tại sau cuộc biểu tình của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 5 năm 1989, theo lời của chính phủ Trung Quốc, là bởi những kẻ phản cách mạng, tay sai tư bản và kẻ thù của nhân dân. Các cuộc biểu tình và biểu tình vẫn tiếp tục ở Tây Tạng. Thiết quân luật đã có hiệu lực hơn một năm và chỉ những nhóm khách du lịch có giám sát mới được phép vào Lhasa. Chính phủ Tàu Cộng  nhiều lần, một cách khoa trương, tiếp tục cáo buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma xúi giục chống người Hoa và chống đối tình cảm quốc gia.Tàu Cộng  ngày càng lo lắng về sự ủng hộ ngày càng tăng trên toàn cầu đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma và áp lực quốc tế để giải quyết vấn đề Tây Tạng, ngay cả khi thường dưới chiêu bài thu hút sự chú ý đến các vấn đề nhân quyền ở Tây Tạng.

Trong những năm gần đây,Tàu Cộng đã áp dụng một chiến lược khôn khéo hơn để vượt qua Tây Tạng. Họ đã sử dụng các biện pháp khuyến khích hấp dẫn để tạo ra một làn sóng ồ ạt người Hoa vào vùng địa hình khắc nghiệt của Tây Tạng. Ví dụ như ở vùng Kokonor ở đông bắc Tây Tạng, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma được sinh ra, ước tính hiện có khoảng 3,5 triệu người Hoa so với 500.000 người Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn cởi mở đối thoại thông qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp và các chuyến thăm Bắc Kinh của các đại diện của Ngài. Trong khi những điều này được mô tả là một bước xây dựng lòng tin, có vẻ như lập trường của Tây Tạng dựa trên đề xuất hàng thập niên về Kế hoạch Hòa bình 5 điểm do Đức Đạt Lai Lạt Ma đề ra. Ngài tin:

      Vấn đề Tây Tạng là vấn đề của sáu triệu tâm linh con người, không phải của      thể chế Đạt Lai Lạt Ma. Đạt Lai Lạt Ma không quá quan trọng, điều quan trọng là quốc gia phải còn. Trong tương lai, nó sẽ vẫn còn. Hạnh phúc và quyền lợi của quốc gia là rất quan trọng. Thể chế của Đức Đạt Lai Lạt Ma ... sẽ đến và đi, điều đó phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Nếu mọi người cảm thấy rằng nên có một Đạt Lai Lạt Ma khác, thì tôi sẽ xuất hiện. Là hóa thân của chính tôi, tôi sẽ ở đó. Khi đau khổ của chúng sinh còn có, tôi sẽ phục vụ hết sức có thể, đây là quyết tâm của tôi. Đây không phải là điều gì đó phi thường. Đây là cách suy nghĩ của tất cả những người thành tâm thực hành lời dạy của Đức Phật. Tôi có thể tái sinh thành người Mỹ, người Canada, người Tây Tạng, người Ấn Độ, tôi không biết.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đề xuất việc biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, từ bỏ việc di chuyển dân số của Tàu Cộng, bảo vệ môi trường của Tây Tạng và bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc. Tiếp theo là một lời đề nghị, được đưa ra trước Nghị viện Châu Âu, từ bỏ nền độc lập của Tây Tạng và bất kỳ vai trò chính trị nào cho chính mình ở Tây Tạng trong tương lai. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng cảnh báo rằng nếu không có phản ứng cụ thể từ phía Tàu Cộng trong tương lai gần, ngài sẽ buộc phải xem xét lại lập trường của mình.

*


Sống lưu vong ở Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã lao vào các hoạt động quay cuồng với vai trò là nhà lãnh đạo và là người giảm sốc cho những người bị chấn thương vì phải rời bỏ khỏi môi trường sống tự nhiên của họ trước cái nóng và khói bụi của Ấn Độ. Dựa trên một triết lý cung cấp những hiểu biết quan trọng về bản chất vĩnh viễn về sự thay đổi của dòng chảy, về cách ‘trở thành’ là một khía cạnh quan trọng của ‘hiện hữu’, những người tị nạn Tây Tạng không chỉ tồn tại trong thay đổi mà còn phát triển mạnh mẽ.

Trong khi thế giới chuẩn bị đưa Tây Tạng trở lại thế giới của thần thoại và truyền thuyết, thì Đức Đạt Lai Lạt Ma và người dân của ngài đã bị thúc đẩy bởi một nhận thức khác về thực tế. Tôn giáo là cội nguồn tốt đẹp của họ và nó được ưu tiên hàng đầu. Bảo tồn nó khi nó đã phát triển, và duy trì tôn giáo và văn hóa Tây Tạng đã trở thành một chiến lược cần thiết khi lưu vong để chống lại những nỗ lực của Tàu Cộng nhằm tiêu diệt nó. Bản sắc Tây Tạng không thể được phép chết. Đối với mỗi tu viện lớn bị phá hủy ở Tây Tạng, một tu viện mới, cho dù nhỏ hơn, được xây dựng ở Ấn Độ, tiếp tục truyền thừa và thực hành giống như ở Tây Tạng. Trẻ em, niềm hy vọng của bất kỳ người lưu vong nào, tiếp tục được xuất gia làm tu sĩ và các lạt ma cao cấp giờ đây bắt đầu tái sanh trong cuộc sống lưu vong. Đức Thánh Thiện đã nhận xét, ‘Bởi vì tôi ở bên ngoài Tây Tạng, hình thức thuần túy của văn hóa Tây Tạng vẫn tồn tại. Ngày nay, thật kỳ lạ, văn hóa hoặc cộng đồng thật sự của Tây Tạng được tìm thấy bên ngoài Tây Tạng, chứ không phải bên trong.’

Thách thức lớn là phục hồi. Những người tị nạn đến với ít tài sản và ít khả năng miễn dịch đối với nhiều loại bệnh chưa được biết đến trong bầu không khí khô hạn của Tây Tạng nhưng lại phổ biến ở Ấn Độ cận nhiệt đới. Từ từ những người sống sót bắt đầu dệt nên một phép mầu kinh tế nhỏ. Cuộc sống cũ trước đây của họ nhanh chóng bị xóa bỏ. Vùng đất cằn cỗi được phân phối công bằng và một tập thể tiếp thị và thu mua được thành lập. Y học Tây Tạng, nghệ thuật và thủ công Tây Tạng và giáo dục Tây Tạng được khuyến khích. Những người Tây Tạng lưu vong đã khắc họa một trong những câu chuyện thành công nhất về sự phục hồi của một dân tộc — về việc duy trì mạnh mẽ bản sắc riêng của họ nhưng vẫn hòa hợp với môi trường mới để được chủ nhà chào đón. Vào những năm 1990, 44 khu định cư Tây Tạng được liên kết bởi các mối quan hệ thương mại, chính trị và tôn giáo, gần như tất cả 100.000 người lưu vong đều xem Dharamsala như trụ sở chính của họ.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đảm nhận ở Ấn Độ là thiết lập một hệ thống giáo dục nhằm khắc sâu các giá trị và văn hóa truyền thống của Tây Tạng trong khi truyền đạt lại sự giảng dạy theo những cách thức hiện đại. Các trường học đầu tiên của Tây Tạng dành cho trẻ mồ côi, nhưng ngay sau đó một mạng lưới các trường học đã phù hợp cho tất cả trẻ em. Nhiều người trong số họ sau đó đã theo học các trường đại học của Ấn Độ và hiện đang phục vụ trong Chính Phủ Lưu Vong. Mối quan tâm cá nhân sâu sắc của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong việc hiện đại hóa hệ thống xã hội thời trung cổ đã được đền đáp bằng sự xuất hiện của một thế hệ người Tây Tạng mới trung thành mãnh liệt với chính nghĩa của họ, những đứa trẻ đầu tiên nhìn thấy bản đồ thế giới và nghe về những người không phải của họ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, khi còn ở Tây Tạng, đã nhận ra những nhược điểm và bất công của cung cách cũ. Luôn hướng tới những tầng lớp thấp nhất trong xã hội, Đức Đạt Lai Lạt Ma giờ đây đã đưa họ vào một kế hoạch chia sẻ quyền lực với những người cầm quyền cũ của họ.

      Chúng tôi có một dự thảo hiến pháp dựa trên các nguyên tắc cơ bản của hệ thống dân chủ. Sự thực hành Phật giáo, đặc biệt là hệ thống tu sĩ, thật sự là một hệ thống dân chủ, vì vậy trong dự thảo hiến pháp tôi đã đề cập đến ‘theo các nguyên tắc của giáo lý Phật giáo, chúng tôi đang thực hiện một hiến pháp dân chủ". Vì vậy, chúng tôi đang cố gắng thực hiện nhiều nhất như có thể trong khi sống lưu vong ở một đất nước khác. Bây giờ trong tương lai, như tôi thường đề cập, tôi coi mình như một phát ngôn viên tự do của người dân Tây Tạng. . . quyết định cuối cùng sẽ do những người bên trong Tây Tạng thực hiện.

Văn bản của hiến pháp chủ yếu dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, nhưng đặc biệt Tây Tạng; phần mở đầu đề cập đến nguyên tắc công bằng, bình đẳng và dân chủ do Đức Phật đặt ra. Ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma là người đứng đầu chính quyền, được hỗ trợ bởi Kalon Tripa hoặc thủ tướng trên thực tế được bầu trực tiếp và nội các của ông. Một quốc hội bao gồm các đại biểu được lựa chọn theo sự ủy thác phổ biến từ cộng đồng lưu vong. Một cuộc họp chung thường niên cho phép đặt câu hỏi công khai đối với các bộ phận riêng lẻ. Điều 36, Mục (e) của dự thảo hiến pháp quy định việc đình chỉ các chức năng điều hành của Đức Đạt Lai Lạt Ma bởi đa số 2/3 đại hội.

Đích thân Đạt Lai Lạt Ma đã đặt nền móng cho chính quyền của mình khi sống lưu vong. Một nội các, một văn phòng liên lạc với chính phủ Ấn Độ và một cơ quan dân sự được thành lập vào đầu năm 1959. Mặc dù không có quốc gia nào công nhận Chính phủ lưu vong của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng ngài có đại diện ở một số quốc gia bao gồm Mỹ, Anh, Thụy Sĩ, Pháp, Nam Phi, Đài Loan và Nhật Bản, thường làm việc với tư cách là trung tâm văn hóa Tây Tạng hơn là vai trò người được đề cử chính trị. Họ đã cùng nhau xoay sở để giữ vấn đề Tây Tạng trong chương trình nghị sự quốc tế.

Nhà sư Phật giáo, nhà lãnh đạo tinh thần, người đứng đầu chính trị, con người từ bi — đây chỉ là một số khía cạnh trong tính cách của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mỗi khía cạnh này được thảo luận trong phần đóng góp trong cuốn sách này.

Đối với sáu triệu tín đồ của ngài, ngài là Đức Thánh Thiện, Bậc Cao Quý Vinh Quang, Nhà Hùng Biện, Đấng Từ Bi, Người Ham Học Hỏi, Người Bảo Vệ Đức Tin, Đại dương của Trí tuệ — Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn của Tây Tạng. Ngài đại diện cho quá khứ cũng như lịch sử tương lai của Tây Tạng. Nhà Tây Tạng học Jeffrey Hopkins từng là thông dịch viên chính thức của Đức Thánh Thiện trong hơn một thập niên và cung cấp bản dịch theo từng âm tiết trong tiếng Anh tên đầy đủ của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Matthieu Ricard, bản thân là một tu sĩ, đã ghi lại trong hồ sơ của mình rằng ‘ngài [Đức Đạt Lai Lạt Ma] luôn mô tả mình là một nhà sư Phật giáo giản dị, nhưng đối với nhiều nhà văn khác, ngài là Thánh Vương của Tây Tạng; đối với người Tàu Cộng, là một 'kẻ ly khai; đối với hầu hết các chính trị gia, nguyên thủ thật sự của Tây Tạng; đối với các môn đồ học giáo pháp ở khắp mọi nơi, là một vị thầy vĩ đại; và với thế giới nói chung, là một người đoạt giải Nobel, là một chính khách vĩ đại, người ủng hộ bất bạo động và hòa bình hàng đầu, tiếng nói của Phật giáo và nói chung, là hy vọng tốt nhất của chúng ta cho tương lai.'

Pico Iyer gợi ý rằng không chỉ những gì ngài nói mang lại ý nghĩa cho tất cả những gì khiến ngài trở nên độc nhất mà còn vì ‘trái tim của vị hiền nhân ấy. . . hiện hữu trong im lặng.’ Đó không phải là một sự im lặng nghiêm khắc mà là một sự im lặng luôn tràn ngập niềm vui và tiếng cười truyền cảm thường xuyên tràn ra, giải trừ và đưa tất cả chúng ta tiến gần hơn đến con người thật của mình.

Nhà văn Mary Craig mô tả ngài là "một con người rất con người" nhấn mạnh rằng ngài là một "người sáng chói độc nhất có thể khiến bạn muốn cười to vì niềm vui tuyệt đối khi được sống ... người có thể chế giễu với niềm vui." Trong một buổi chiều kéo dài ngoài dự kiến mà cô dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, cô nhìn thấy vài Đức Đạt Lai Lạt Ma: một trong số đó đang đạp chiếc xe đạp tập thể dục mới tinh, được một phụ nữ Thụy Sĩ tặng cho ngài, với sự nhiệt tình của một thiếu niên! Điều mà nhà văn này đã học được để đánh giá cao nhất là sự khiêm tốn và từ chối thật sự của Đức Thánh Thiện, bất chấp mọi thứ, để ghét người Hoa. Luôn luôn tìm kiếm những thẩm thấu chiều sâu và thông hiểu, Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu nghiên cứu chủ nghĩa Mác để tìm ra điểm chung với người Tàu Cộng.

Tôi nghĩ trong Phật giáo nhấn mạnh nhiều đến từ ái và bi mẫn. Trong chủ nghĩa Mác, cơ sở nào đó của cuộc đấu tranh giai cấp là lòng căm thù. Ngoài ra, tất nhiên, Phật giáo không chỉ nghĩ đến đời này mà còn là đời sau. Nhưng cả hai đều tin rằng cá nhân có khả năng kiểm soát vận mệnh của chính mình, không có niềm tin vào đấng tạo hóa. Tôi tin rằng cả hai có thể cùng tồn tại.

Nhà tâm lý học và tác giả Daniel Goleman nhận xét rằng gốc rễ của sự đồng cảm tiềm ẩn trong lòng từ bi. Ông gợi ý rằng sự đồng cảm và đạo đức có mối liên hệ chặc chẽ với nhau và sự đồng cảm là nền tảng của nhiều khía cạnh của phán đoán và hành động đạo đức. Triết lý thế tục của Đức Đạt Lai Lạt Ma về Trách nhiệm Phổ quát, dựa trên một cái nhìn sâu sắc về sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng ta, đã có một tác động to lớn. Goleman tiếp tục: ‘Khoa học và kỷ thuật đã mang lại sự kiểm soát to lớn đối với tự nhiên, nhưng sức mạnh mà không có trí tuệ thì rất nguy hiểm. Chúng ta cần cân bằng khả năng hiện đại của mình với một trí tuệ cổ xưa... Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã nói rằng chỉ vì những thời điểm này quá thảm khốc, cho nên thật là vinh dự lớn khi được sống ngay bây giờ, vào lúc này, trên hành tinh này. Chính chúng ta là người chịu trách nhiệm, người phải đối mặt với thử thách, người phải chăm sóc hành tinh, không chỉ cho bản thân chúng ta, mà cho tương lai của con cái chúng ta.’

Đức Đạt Lai Lạt Ma làm thế giới nhớ đến ngài như thế nào? ‘Chỉ là một con người, có lẽ là một con người mỉm cười?’ Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với Ela Gandhi, cháu gái của Thánh Gandhi, trong khi thảo luận về Tây Tạng với cô ấy: Mô tả ngài như một "tu sĩ giản dị mỉm cười," cô ấy nói rằng "sức mạnh của ngài đến từ một cuộc sống đạo đức, sức mạnh của sự thật. Bằng tiếng Tây Tạng, ngài nói với một trình độ, chiều sâu, truyền cảm hứng, sự hài hước và chân thành vốn gây cảm hứng cho cái nhìn sâu sắc và tích cực tận tụy.'

Đối với những người Tây Tạng mà ngài đại diện cho chính nghĩa, ngài đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cho một Tây Tạng tự do và sự tồn tại của di sản cổ xưa của nó. Nhà nghiên cứu Senthil Ram quan sát cách ‘từ khi sống lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã theo đuổi những cải cách mang tính bước ngoặt khác nhau: một mặt để dân chủ hóa chính trị Tây Tạng và mặt khác để xử lý xung đột với Tàu Cộng một cách bất bạo động.” Dalip Mehta, một cựu quan chức ngoại giao Ấn Độ, lưu ý, "Ngài đã thành công trong việc duy trì khát vọng và hy vọng của người dân Tây Tạng, cũng như trong việc bảo tồn nền văn hóa độc đáo của Tây Tạng. Ngài đã đạt được nhiệm vụ phức tạp là tuân thủ các nguyên tắc của mình, đồng thời không gây nguy hại cho lợi ích của đất nước mà ngài đang sống lưu vong. Và ngài đã đảm bảo rằng cộng đồng người Tây Tạng, không chỉ ở Ấn Độ, mà ở những nơi khác trên thế giới, đã phát triển và tiến bộ trong thế giới hiện đại, ngay cả khi vẫn bám rễ vào truyền thống của họ.

Trong hành trình tìm kiếm "tự do khi sống lưu vong" ở Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma có lẽ đã đạt được nhiều hơn những gì ngài có thể có được nếu số phận không buộc ngài phải chạy trốn khỏi Tây Tạng." Hoàn toàn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ đánh giá nào về di sản trí tuệ của ngài nhưng như Thubten Jinpa, người phiên dịch và thông dịch cho Đức Thánh Thiện, nhận xét, "Cuộc đời của ngài phản ánh bức tranh rộng lớn hơn về cuộc gặp gỡ giữa văn hóa Tây Tạng cổ điển với hiện đại." Sự lưu vong bất đắc dĩ của Đức Đạt Lai Lạt Ma có ý nghĩa lớn là ngài đã vươn tới một thế giới rộng lớn hơn nhiều, và thế giới đã rất dễ tiếp nhận tính cách và thông điệp của ngài.

Robert Thurman, một trong những học trò phương Tây đầu tiên của Đức Đạt Lai Lạt Ma, viết: 'Đức Đạt Lai Lạt Ma là một người khổng lồ về sự phát triển tâm linh — một tấm gương sống về những phẩm chất tốt nhất của một tu sĩ Phật giáo, một hành giả và bậc thầy truyền cảm hứng về các con đường đạo đức, tôn giáo và triết học của vị Bồ Tát, và một người sử dụng quyền trượng kim cương của bậc thầy Mật tông thanh lịch và tràn đầy năng lượng.'

Một chủ đề liên tục trong lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma là bản chất của cuộc sống của một Phật tử nằm ở nỗ lực thanh lọc tâm trí của chính người si mê bằng nhẫn nhục, trí tuệ và bình đẳng, để có thể đạt được hạnh phúc nội tại lâu dài, không phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài.

Nếu không tập luyện, bạn không thể sử dụng ngay cả ngón tay út của mình đúng cách. Một khi bạn rèn luyện trí óc đúng cách thì ngay cả một ngón tay nhỏ cũng có thể làm được những việc lớn. Đôi khi dường như rất khó, gần như là không thể, nhưng thông qua quá trình rèn luyện dần dần, từng bước một, bạn có thể làm được những điều này. Vì vậy, đó là một trong những phẩm chất tốt đẹp của ý thức con người; nó thường là một kẻ gây rắc rối, nhưng nếu bạn rèn luyện đúng cách thì nó sẽ rất dễ thương, rất hữu ích, giống như một viên ngọc thật sự.

Do đó, đối với một trí óc được trau dồi, tính chính xác và logic của khoa học và kỷ thuật hiện đại có một sức hút mạnh mẽ. Đây là niềm đam mê từ khi còn nhỏ, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thời niên thiếu tháo ráp đồng hồ, máy chiếu phim và ba chiếc xe  hơi của Tây Tạng; ngày nay ngài là một chuyên gia và thích mày mò với những thứ cơ khí. Nhà báo Swati Chopra viết "Khoa học phát triển từ tinh thần khám phá và tôi biết rằng Phật giáo, và chắc chắn là Đức Đạt Lai Lạt Ma, luôn quan tâm đến việc dẫn dắt các cuộc khám phá vào lãnh vực vượt ra ngoài phạm vi của niềm tin giáo lý." Bản thân Đức Đạt Lai Lạt Ma tin rằng:

Nghiên cứu khoa học là rất quan trọng. Thái độ chung của Phật giáo là chúng ta phải chấp nhận lý trí. Nếu chúng ta không thể tin một điều nào đó hay điều gì đó bằng lý trí là sự thật thì chúng ta phải chấp nhận sự thật hơn là điều nào đó được mô tả trong kinh luận. Ví dụ, chính Đức Phật nói rằng bạn phải chấp nhận một số điều nhất định thông qua sự khảo sát của chính bạn, sự sử dụng của chính bạn cùng logic và lý trí, chứ không phải vì niềm tin.

Bằng lời nói và việc làm, Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm cách chứng minh đạo đức và các nguyên tắc cao quý đã bị che khuất như thế nào bởi cái bóng tư lợi, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị. Các công cụ của nền văn hóa chính trị của chúng ta đã phá hủy hơn nữa các lý tưởng và khái niệm có ý nghĩa đối với phúc lợi con người. Ngài đặt câu hỏi về giả định phổ biến rằng tôn giáo và đạo đức không có vị trí trong chính trị và những người tôn giáo nên ẩn mình như những ẩn sĩ. Đạo đức cũng quan trọng đối với một chính trị gia cũng như đối với một người thực hành tôn giáo. Những phẩm chất của con người như đạo đức, lòng từ bi, lễ nghĩa và trí tuệ đã là nền tảng của tất cả các nền văn minh vĩ đại. Ngài nói:

Chúng ta [phải] cố gắng phát triển cảm giác thật của con người. Không cần biết sự khác biệt về hệ tư tưởng hay khoảng cách, tất cả đều là con người, tất cả đều phải sống cùng nhau trên hành tinh này. Ở cấp độ này [cần] tiếp xúc nhiều hơn, trao đổi nhiều hơn. Ngay cả những bất đồng cũng là con người, vì vậy [lãnh vực] con người vẫn ở đó. Trên cơ sở đó, chúng ta nên hiểu nhau, theo cách đó bạn có thể đạt được sự tin tưởng lẫn nhau. Sau đó, bạn có thể nói chuyện.

Vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma như một tu sĩ Phật giáo lỗi lạc ngày nay hầu như được thừa nhận rộng rãi giữa các trường phái Phật giáo khác nhau. Trong khi cuộc chiến giữa chủ nghĩa duy vật Marxist hoặc gần đây là chủ nghĩa duy vật phương Tây và chủ nghĩa tâm linh Phật giáo ở Trung Hoa, giữa sức mạnh của súng đạn và sức mạnh của trí tuệ và lòng từ bi tiếp tục sôi sục, thì bản thân Đạt Lai Lạt Ma đã vươn tới một thế giới ngày càng đáp ứng với nhân cách, lời dạy và thông điệp của ngài, nếu không phải vì mục đích chính trị. Trong thế giới ngày càng bị chia cắt của chúng ta, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tìm kiếm những cuộc đối thoại với các tín ngưỡng khác. Sư huynh (Brother) Wayne Teasdale cảm thấy ‘Sự cam kết của Đức Thánh Thiện đối với cuộc đối thoại liên tôn, thật sự là một cuộc đối thoại của chính cuộc sống, không phải là một hoạt động cứng nhắc, chính thức như thường thấy trong các diễn đàn học thuật.’ Ông nói thêm, "Về cơ bản, những gì tôi nhận thấy trong tấm gương của ngài là một chủ nghĩa nhân văn rất phát triển bắt nguồn từ việc thực hành tâm linh và được mở rộng cho tất cả chúng sanh."

Sự nhấn mạnh của ngài về tính liên kết giữa mọi thứ đã giúp tạo ra một sự nhạy cảm mới về tầm quan trọng của môi trường của chúng ta và tiềm năng thật sự cho một cuộc đối thoại thế tục chân thành giữa các tôn giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã không tìm kiếm một tôn giáo chung cho tất cả mọi người. Thay vào đó, ngài đã vươn tới điểm chung của tất cả các tôn giáo để tìm kiếm hạnh phúc. Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma nói:

Các tôn giáo lớn trên thế giới ít nhiều đều mang những giáo lý, những thông điệp giống nhau. Tôi luôn tìm kiếm mục đích thật sự của những lời dạy khác nhau, những triết lý khác nhau này. Tôi thấy tất cả đều dành cho toàn thể nhân loại. Tất cả đều tập trung hoặc nhắm đến cùng một mục đích ... trong khi đó, bởi vì có quá nhiều cách biệt về tinh thần giữa con người, nên một tôn giáo có thể không phù hợp với tất cả mọi người. Trong hoàn cảnh đó, một điều chúng ta nên ghi nhớ là quan hệ gần gũi hơn và thấu hiểu nhau hơn. [Điều này] sẽ phát triển sự tôn trọng lẫn nhau.

Những khác biệt nhỏ giữa nhà thờ này hay nhà thờ kia hoặc niềm tin này hay niềm tin kia, là rất nhỏ.
Luôn là mục tiêu chính, điều tối cao, rất quan trọng. Quên những điều nhỏ nhặt này đi; hãy cố gắng nỗ lực chung cho mục tiêu lớn hơn.

Tôi cảm thấy mục đích cuối cùng là niết bàn của xã hội — định nghĩa của tôi là hoàn toàn hòa bình, hòa thuận, không có thù hận lẫn nhau. Ngay cả khi có bất đồng nào đó, hãy giải quyết nó bằng sự hiểu biết của con người.
Không nên có rắc rối chủng tộc, không nên có rắc rối hệ tư tưởng. Ý thức hệ là một chuyện cá nhân. Nếu ai đó tin vào một hệ tư tưởng nào đó, phương tiện tốt nhất để anh ta đạt được hạnh phúc, thì đó là quyền của anh ta để theo đuổi điều đó; những người khác có quyền theo một hệ tư tưởng khác hoặc một đức tin khác, nếu họ nghĩ rằng điều đó là phù hợp, họ có thể làm theo điều đó. [Mỗi người] không nên can thiệp vào người kia, hãy hiểu rằng cả hai đều là con người, là thành viên của gia đình nhân loại. Cả hai đều muốn hạnh phúc, và không muốn đau khổ. Cả hai đều có quyền được hạnh phúc. Trong hoàn cảnh đó, họ vẫn là anh chị em của nhau. Bây giờ đó là ước mơ của tôi.

Tính cách giải giáp của ngài thể hiện niềm vui và tiếng cười trong hành trình. Đạo Phật * không bao giờ là một tôn giáo truyền giáo, nó được bộc lộ trên khuôn mặt tươi cười của Đức Thánh Thiện.

Trong sự pha trộn cân bằng giữa tâm linh và chính trị, sự siêu việt và sự quán chiếu hàng ngày, cá nhân và hành động vị tha, còn chỗ nào cho vị hiền nhân, tu sĩ? Ngài liên tục gây bất ngờ, đặt vấn đề hoặc lật ngược những thói quen cũ, thay đổi những điều chắc chắn đã cố gắng. Ở giữa một bài diễn thuyết giải Nobel trang trọng, ngài có thể dừng lại, vẫy tay chào một gương mặt quen thuộc trong khán giả và rồi tiếp tục như không có gì xảy ra, ngài có thể rơi nước mắt khi làm việc với Baba Amte, bùng ra tiếng cười lây lan khi anh ngài không thể diễn đạt bằng tiếng Anh, hay thừa nhận ‘tôi không biết’ khi ngài không có một câu trả lời với vô số câu hỏi ngài đối mặt. Đức Đạt Lai Lạt Ma mang theo sự uyên bác và hiểu biết sâu sắc của mình một cách dễ dàng, thoải mái.

Tenzin Gyatso, khi đó, không chỉ là một tu sĩ Phật giáo đơn thuần hay nhà lãnh đạo tinh thần và thế tục của những người dân Tây Tạng tị nạn. Thông điệp về lòng từ bi, lòng vị tha và hòa bình của ngài đã khiến ngài trở thành một chính khách cho thời kỳ rối rắm của chúng ta. Đức Thánh Thiện đã được đón nhận và hoan nghênh rộng rãi tại nhiều thủ đô trên khắp thế giới bởi các chính trị gia, những người, những người lo lắng sợ làm mất lòng Tàu Cộng, thường chào đón ngài chỉ đơn thuần như một nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại, phục vụ một cách kín đáo cho sự nghiệp chính trị của ngài.

Nhưng vấn đề Tây Tạng không bao giờ xa với suy nghĩ của những người hành hương. Hôm nay có hy vọng đổi mới; Giải Nobel Hòa bình phản ánh một thước đo về sự đồng thuận trong công luận quốc tế ủng hộ cả mục tiêu của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sách lược mà ngài thể hiện. Bốn mươi năm sau, Quốc hội Hoa Kỳ, Nghị viện Châu Âu và nhiều nhóm trên chính trường đã nêu rõ mối quan tâm của họ về những vi phạm nhân quyền, mối đe dọa đối với môi trường ở Tây Tạng và tương lai của người dân nơi đây.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tin rằng chỉ bằng cách xây dựng công đức thiện nghiệp tập thể thông qua việc vượt qua những ảo tưởng của mỗi cá nhân thì tình huống mới có thể tự giải quyết một cách thuận lợi. Những lời giảng dạy mỗi ngày kết thúc bằng những lời cầu nguyện cho anh em, cả bạn bè và kẻ áp bức của họ, những người vẫn còn đau khổ, tiếp theo là hồi hướng công đức đạt được để nhanh chóng kết thúc đau khổ của họ. Theo lời cầu nguyện Tây Tạng:

Bằng những hành động thô bạo của họ, hàng loạt những kẻ độc ác đang gây ra sự hủy hoại cho chính họ và cho những người khác. Họ say sưa với những ảo tưởng quỷ quyệt. Hãy tạo dựng sự đoàn kết tuyệt vời của tình bạn giữa họ, những đối tượng của lòng từ bi, và tình yêu cùng lòng thương xót giúp họ có được Con mắt Trí tuệ để nhìn ra điều gì là đúng và điều gì là sai.

 

Việc nuôi dưỡng lòng vị tha vẫn là mục tiêu cốt yếu và then chốt của việc thực hành Phật giáo và là bản chất thực hành của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma.


Giáo lý cốt yếu của Phật pháp là tâm Bồ đề— quyết tâm vững chắc để đạt được Phật quả vì lợi ích của người khác, đó là nền tảng của bi mẫn và từ ái. Tôi đang phát triển tư duy đó trong ba mươi năm qua và thế nào đó tôi đang tích lũy được kinh nghiệm.

Điều còn lại là trí tuệ, là tánh không. Bằng cách học cách hiểu tánh không là gì, tôi đang có được kinh nghiệm. Lời dạy của Đức Phật là lời kêu gọi tất cả mọi người hãy dấn thân vào cuộc sống và vượt qua những tham muốn và khó khăn của ta, không phải chạy trốn khỏi một thế giới không hoàn hảo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, với nhiều tính cách khác nhau và trong thực hành hàng ngày, là một tấm gương phi thường về việc sống một cuộc sống bình thường dựa trên lời dạy của Đức Phật, và khi làm như vậy, Ngài đã trở thành siêu nhân hơn là phàm nhân (more God than man).

***

Trích từ quyển Understanding The Dalai Lama

Saturday, July 3, 2021



[1] (1)Karma Yoga, (2) Bhakti Yoga, (3)  Jnana Yoga 

 

[2] Shangri-la: một nơi tưởng tượng đẹp đẽ từ xa nơi cuộc sống tiếp cận với sự hoàn hảo. Shangri-la được cho là biến thể của Shambhala - trong Phật giáo Tây Tạng là một vương quốc huyền bí được ẩn tại một nơi nào đó ở Trung Á. Địa danh này được đề cập trong một số văn bản cổ xưa, như Pháp thời luân Kim Cang, hoặc một số tác phẩm cổ xưa của Hưng Thương, mà các Phật tử Tây Tạng ở phương Tây đang khám phá.

[3] Theo Plato, một vị vua triết học là một người cai trị sở hữu cả tình yêu khôn ngoan, cũng như trí thông minh, độ tin cậy và sẵn sàng sống một cuộc sống đơn giản. 

MỞ CỬA ĐẾN THẾ GIỚI DIỆU HỈ

 


MỞ CỬA ĐẾN THẾ GIỚI DIỆU HỈ
Abhirati Prayer | Lotsawa House

 

*** 
Trong hướng đông có một cõi Phật
Diệu Hỉ, Biểu Hiện Hân Hoan, một thế giới của những phẩm chất như đại dương
Nơi vị Vua Như Lai thuần khiết A Súc Bệ,
Bậc đã hoàn toàn thoát khỏi mọi nhiễm ô, ngự trị.

Với hình tướng của một bậc bảo hộ toàn thể thế giới kể cả chư thiên ,
Ngài chiếu vô số những tia sáng của những tướng chánh và phụ phi thường.
Bao gồm những yếu tố nguyên tắc rực rỡ rộng lớn như đại dương,
Ngài biểu hiện những phẩm chất của tính kiên nhẫn cao  thượng phi phàm.

Đấng chủ tể với mười năng lực[1] với hải hội tăng già của ngài,
Số lượng như những nguyên tử vượt khỏi những con số.
Trước tất cả hải hội, chúng con cầu nguyện với tâm tư đầy tận tụy.
Khi chúng con quy y với ngài từ giờ này đến khi thành tựu giác ngộ,

Nguyện cho tất cả những ai với họ chúng con có kết nối nghiệp tốt hoặc xấu,
Ngay khi chúng con lìa khỏi những thành phần của kiếp sống này,
Được tiếp xúc với ánh sáng thân tướng kim cang rực rỡ của ngài,
Và nguyện cho sự tiếp xúc đơn sơ nhất như vậy cũng xua tan vô số khổ đau

Với trạng thái trung ấm mệt mỏi và chán chường.
Với sự chấm dứt mọi phiền não tinh thần trong giờ phút lâm chung
Nguyện cho ánh sáng của thế giới thuần khiết này là một kho báu
Của đạo đức rộng lớn vô tận và tinh tuý tuyệt vời, hiện lên.

Và trong lúc ấy khi những Đấng Thiện Thệ như mặt trời cùng những vị thừa kế
Ló dạng trong khoảng rộng trong sáng như bầu trời của tâm thức chúng con,
Nguyện cho tất cả những âm u thù địch, tham muốn, nghiệp chướng và những phiền não
Được xua tan hoàn toàn, và trong kinh nghiệm trực tiếp của ánh sáng ấy,

Trước cây châu báu bao trùm ba nghìn đại thiên thế giới
Nguyện cho chúng con được gặp Đấng Chủ Tể của các bậc chinh phục , tột đỉnh của giải thoát,
Mà âm nhạc kỳ diệu của ngài vang khắp mọi thế giới,
Và nguyện cho tất cả những khổ đau trong tâm thức chúng con được bình định.
 
Nguyện cho chúng con học hỏi hàng triệu triệu phương tiện để thâm nhập giáo pháp
Của cổ xe cao thượng kỳ diệu từ những cửa miệng giống như lục bình tuyệt diệu
Của những Đức Phật Như Lai và nhớ được tất cả trong ký ức của chúng con,
Và nguyện cho chúng con đạt được năng lực làm hoan hỉ những thế giới trong mười phương.

Phù hợp với cuộc sống giải thoát của ngài, hỡi đấng bảo hộ,
Nguyện cho chúng con cũng trở một trong những người được vào những thế giới ngoài sức tưởng tượng ấy.
Chỉ danh hiệu ấy thôi, khi nghe cũng mang đến sự thuần khiết của tu tập,
Và ngài là sự chiến thắng, đã hoàn toàn chế ngự những cõi khổ đau.

Qua năng lực không bị ngăn trở của tâm thức chúng con,
Nguyện cho chúng con hướng dẫn tất cả những ai mà chúng con phải rèn luyện
Đến thế giới của đấng đại Hiền nhân và hướng đạo, Kim Cang A Súc Bệ
Và đưa họ đến trình độ của chư Phật và các bậc thừa kế.

Tóm lại, nguyện cho chúng con nhanh chóng hoàn thành tất cả những điều kỳ diệu
Của Đức Như Lai đã thành lập thế giới Diệu Hỉ
Và thực hiện những lời khẩn cầu nguyện vọng,
Và nguyện cho chúng con đạt được trình độ của một đấng tối cao của giáo Pháp.


 Như thế ấy, một tu sĩ-môn đồ của Śākya, Situ Chökyi Gyatso, đã sáng tác lời nguyện vọng này ở nơi biệt lập của Tashi Deden Ling. Cầu mong đạo đức và sự xuất sắc ngày càng tăng.



***

Nguyên bản: Opening the Door to a Pure Realm
An Aspiration Towards Abhirati
Tác giả: Katok Situ Chökyi Gyatso
Anh dịch: Adam Pearcey, 2020.
chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Ẩn tâm lộ, 15/06/21

 

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

KINH MẬT NGÔN DÒNG SUỐI CỦA SỰ GIÀU CÓ

 


 

‘KINH MẬT NGÔN DÒNG SUỐI CỦA SỰ GIÀU CÓ’

 
Kính lễ tất cả chư Phật và chư Bồ tát! 

Tôi nghe như vầy: một thuở nọ Đức Thế Tôn đang ở gần Kauśāmbī trong khu rừng lớn gọi là Kaṇṭaka, cùng với một đại chúng khoảng năm trăm tỳ kheo và một chúng đại Bồ tát đều có tất cả những phẩm chất của các Đức Phật.

Vào lúc đó có một gia chủ tên là Sucandra (Diệu Nguyệt) sống trong thành lớn Kauśāmbī, giác quan điềm tĩnh và tâm tư thoải mái. Ông có nhiều con trai và con gái trung thực và tận tụy cũng như những người giúp việc.

Sucandra đến gần Đức Phật, bày tỏ lòng tôn kính bằng việc chạm đầu ông vào chân của Đức Phật, và nhiễu quanh Đức Phật hàng trăm nghìn lần.

Cuối cùng, ông ngồi xuống một bên. Trong khi ngồi ở đấy, gia chủ Sucandra nói với Đức Phật những lời sau đây:

“Con muốn hỏi Đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Toàn Thiện Hoàn Hảo Phật một câu hỏi, nếu Đức Thế Tôn có thời gian để trả lời nó.”

Đức Phật sau đó đã trả lời gia chủ Sucandra như sau:

“Này ông gia chủ, xin hãy cứ hỏi bất cứ điều gì ông muốn. Ta sẽ trả lời câu hỏi của ông và làm cho sự quan tâm của ông được thư thái.”

Khi nghe những lời này của Đức Phật, ông gia chủ Sucandra trả lời, “Bạch Đức Thế Tôn, vậy thì tốt quá,” và hỏi Đức Phật như sau:

“Bạch Đức Thế Tôn, một người con trai hay con gái của một gia đình tôn quý bị đau khổ vì nghèo cùng thì tự giải thoát họ khỏi nghèo cùng như thế nào? Giống như thế, nếu họ đau khổ vì bệnh tật, thì họ tự giải thoát họ khỏi bệnh tật như thế nào?

Đức Phật hiểu như vậy, và nói với gia chủ Sucandra:

“Ông gia chủ, tại sao ông hỏi ta về nghèo cùng?”

Ông gia chủ Sucandra trả lời Đức Phật:

“Bạch Đức Thế Tôn, mặc dù con rất nghèo, nhưng con phải chăm sóc nhiều con trai, con gái và những người thân thuộc. Do vậy, con muốn thỉnh cầu Đức Thế Tôn ban cho một giáo pháp làm cho nghèo cùng được giàu có và phục hồi bệnh tật thành khỏe mạnh, ban cho chúng con sự giàu có và lúa thóc và những của báu và những dự trữ kho báu, làm cho chúng con dễ thương, duyên dáng, xinh đẹp và quý phái, hấp dẫn những người bảo hộ mà không cần phải yêu cầu, và ban cho châu báu, vàng, sự giàu có, những kho thóc lúa, những dự trữ kho báu, cũng như ban cho đá quý, ngọc trai, kim cương, lưu ly, xa cừ, pha lê, san hô, vàng và bạc mà không cần tìm kiếm hay van xin, và hoàn trả cho người cộng sự và những những người thân thuộc ổn định và an toàn.”

Như được nói, Đức Phật sau đó đã trả lời gia chủ Sucandra:

“Này ông gia chủ, một thuở nọ, vô lượng kiếp về thuở quá khứ, Đức Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Hoàn Thiện Toàn Hảo Phật, ngự trị trong thế giới với tri thức cùng hạnh kiểm đạo đức hoàn hảo . Đức Thiện Thệ, Thế Gian Giải, vô thượng sĩ, Điều Ngự Trượng Phụ, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn này tên là Kim Cang Trì Hải Âm (Vajradhara-sāgaranirghoṣa)

Thiện nam tử, chính từ Đức Như Lai này ta đã nghe và nhớ được Vasudhārā Dhāraṇī. Ta giữ nó, trì tụng nó, lãnh hội nó, vui hưởng trong nó, và dạy nó rộng rãi đến những người khác.

Này thiện nam tử, bây giờ ta sẽ chia sẻ nó với ông.

Này thiện nam tử, qua năng lực của dhāraṇī này
không một người nào có thể làm hại ông được. Sẽ không có dạ-xoa nào làm hại ông. Không có la sát nào sẽ làm hại ông. Không có ngạ quỷ nào sẽ làm hại con. Sẽ không có tỳ xá xà nào làm hại con. Sẽ không có phú đơn na nào làm hại ông. Không cưu bàn trà nào có thể làm hại ông. Không có a bạt ma la nào có thể làm hại ông. Không có ostāraka nào có thể làm hại ông. Không kaṭapūtana nào sẽ làm hại ông. Không có chư thiên nào có thể làm hại ông. Không có a tu la nào có thể làm hại ông. Không có quỷ thần nào, cho dù chúng ăn phân, nước tiểu, máu, thịt, mủ, dầu mỡ, tủy, nước mũi, nước thải hoặc hơi thở, cũng như những linh thức nào có thể chiếm hữu ông, có thể làm hại ông!

Này thiện nam tử, người con trai hay con gái nào lấy Vasudhārā Dhāraṇī và để nó trong nhà họ, giữ nó trong tim, cầm nó trên tay họ, sao chép nó thành bản, lắng nghe nó, lãnh hội nó, đọc nó, nhớ nó, vui hưởng trong nó, và dạy nó rộng rãi đến những người khác, sẽ thụ hưởng những lợi ích, hạnh phúc, tinh hoa, thuận lợi , an lạc và thu hoạch tốt đẹp lâu dài.

Bất cứ người nào lễ lạy chư Như Lai và sau đó lúc nửa đêm trì tụng Vasudhārā Dhāraṇī hai, ba, bốn lần sẽ làm chư bổn tôn vui mừng. Họ sẽ mang niềm hoan hỉ qua giáo huấn của Như Lai, và qua việc cống hiến đến việc phổ biến giáo pháp và phát triển Tăng già, và mang niềm vui đến những ai giảng dạy giáo pháp. Những tư tưởng tôn quý sẽ đến với họ và một cơn mưa thóc lúa sẽ tuôn xuống cho họ.

 (Tạng âm)
namo benza dhara sagara nirghoshaya tathagataya ||
teyata | om surubé bhadré bhadra bati amgalé mamga é mamgala bati alé atsalé atsala balé udghatini udbhédini shasya bati dhana bati dhanya bati shri mati trabha bati amalé bimalé nimalé rurumé surupé surupa bimalé bimalé tsalé atsanasté atanasté bitanaté bishokeshi bishonishi amkuré mamkuré trabamkuré biramé bidhamé ririmé didimé dudumé khakhamé tataré tara tara tara tara badzré badzré badzropamé také také thaké thaké ukké bukké thaké tharaké abartani barashani shadani benzadhara sagara nirghosham tathagatam anusmara smara smara sarva tathagata satyam anusmara dharma satyam anusmara sangha satyam anusmara data data pura pura puraya puraya purani bhara bharani amalé sumamgalé shanta mati shubha mati mamgala bhani maha mati bhadra bati trabha bati sutsandra mati agatsa gatsa samayam anusmara soha | awaranim anusmara soha | trabhawam anusmara soha | didim anusmara soha tédzom anusmara soha | bidzayam anusmara soha | hridayam anusmara soha sarva sato binayam anusmara soha |
om basudharé soha | om basushriyé soha | om shribasu soha | om basu soha |
(Phạn âm)
namo vajradhara-sāgara-nirghoṣāya tathāgatāya
tadyathā | oṃ surūpe bhadre bhadravati aṅgale maṅgale maṅgalavati ale acale acala-bale udghātini udbhedini śasyavati dhanavati dhānyavati śrīmati prabhavati amale vimale nirmale rurume surūpe surūpavimale vimale cale arcanaste atanaste vitanaste viśvakeśi viśvaniśi aṅkure maṅkure prabhaṅkure virame vidhame ririme dhidhime dhudhume khakhame tatare tara tara tāra tāra vajre vajre vajropame ṭake ṭake ṭhake ṭhake ukke bukke ṭhake ṭharake āvartani varṣaṇi (ni)ṣ(p)ādani vajradhāra-sāgara-nirdhoṣaṃ tathāgataṃ anusmara smara smara sarva-tathāgata-satyam-anusmara dharma-satyam-anusmara saṅgha-satyam-anusmara data data pūra pūra pūraya pūraya pūraṇi bhara bharaṇi amale sumaṅgale śāntamati śubhamati maṅgalabhaṇi mahāmati bhadravati prabhavati sucandramati āgacchāgaccha samayam-anusmara svāhā | avaraṇim-anusmara svāhā | prabhavam-anusmara svāhā | dīdim-anusmara svāhā | tejom-anusmara svāhā | vijayam-anusmara svāhā | hṛdayam-anusmara svāhā | sarva-sattva-vijayam-anusmara svāhā |
oṃ vasudhāre svāhā | oṃ vasuśriye svāhā | oṃ śrīvasu svāhā | oṃ vasu svāhā ||1
 
Thiện nam tử, đây là Vasudhārā Dhāraṇī. Đói kém, dịch bệnh, và chết yểu sẽ được ngăn ngừa qua năng lực của dhāraṇī-mantra này.

Thiện nam tử, bất cứ ai lễ lạy chư Đức Như Lai, Ứng Cúng, Hoàn Thiện Toàn Hảo Phật, và trì tụng những từ ngữ của mantra bí mật này, Vasudhārā Dhāraṇī,, trong khi hướng về phương Tây sẽ đạt đến thành công.

Để giải thích chi tiết hơn: hãy thiết lập một mạn đà la trong một nơi thích hợp - chẳng như tại nhà, một nơi sạch sẽ, hay một nhà kho - sử dụng trầm hương cúng dường cho Đức Như Lai, Quán Thế Âm, và tất cả chư Phật, chư Bồ tát cùng những bổn tôn mantra bí mật, và trì tụng dhāraṇī trong khi hướng về phía Tây. Thiện nam tử, nhà của người ấy chẳng bao lâu sẽ đầy tràn với một dòng suối của châu báu, lúa thóc, vàng, bạc, và tất cả các thứ cần dùng và tổn hại sẽ đi đến chấm dứt.

Do vậy, này thiện nam tử, hãy giữ gìn Vasudhārā Dhāraṇī thân quý. Nhớ nó! Thuộc lòng nó! Trì tụng nó! Dạy nó! Cũng như giải thích nó cho người khác! Việc này sẽ mang lại cho ông lợi ích, thịnh vượng, và hạnh phúc lâu dài.”

Gia chủ Sucandra nói “ Bạch Đức Thế Tôn như vậy tốt quá!”, sau khi thọ nhận Vasudhārā Dhāraṇī từ Đức Phật.

Sucandra vui mừng, hài lòng, hân hoan, thỏa mãn, hạnh phúc, toại nguyện và sung sướng
khi ông tỏ lòng tôn kính bằng cách chạm vào bàn chân Đức Thế Tôn trên đầu mình. Sau đó ông nói với Đức Thế Tôn:

“Bạch Đức Thế Tôn, bây giờ con đã thọ nhận nghi thức Vasudhārā, con sẽ giữ dhāraṇī  này trong tâm; con sẽ thuộc lòng, con sẽ trì tụng; con sẽ quán triệt ; con sẽ vui hưởng trong nó; và con cũng sẽ giải thích nó chi tiết với người khác!”

Ngay lúc ấy, những nhà kho của gia chủ Sucandra đã trở nên hoàn toàn đầy ấp.

Gia chủ Sucandra đã đi nhiễu quanh Đức Phật hàng trăm nghìn lần, và sau khi chạm đầu ông vào chân Phật, ông ra về.

Đức Phật sau đó nói với tôn giả Ānanda:

“Này Ānanda:, hãy đi đến nhà gia chủ Sucandra, nhà của ông đầy ấp tất cả các loại giàu có và lúa thóc và của báu to lớn cùng kho lẫm đầy đủ tất cả các các thứ mà người mong muốn.”

Với những lời này của Đức Phật, tôn giả Ānanda đi vào đại thành Kausambi nơi nhà của Sucandra toạ lạc. Lúc đến nhà ngài đi vào, và thấy nó đầy ấp những sự giàu có và lúa thóc. Ngọc ngà quý giá dư dật, và có một nhà kho lớn đủ tất cả các loại vật phẩm. Những kho tàng như vậy hoàn toàn đầy ấp! Vui mừng, hài lòng, hân hoan, thỏa mãn, hạnh phúc, toại nguyện và sung sướng lúc thấy điều này, ngài trở về với Đức Phật.

Tôn giả Ānanda đến gần Đức Phật, và trong sự ngạc nhiên, hạnh phúc và hoan hỉ, ngài nói với Đức Phật:

Bạch Đức Thế Tôn, tại sao gia chủ Sucandra có rất nhiều của cải như vậy? Nguyên nhân gì và những trường hợp nào mà kho tàng cùng những nhà chứa của ông ta đầy tràn những tài sản và lúa thóc?”

Đức Phật trả lời:

“Ānanda, chính là bởi vì thiện nam tử gia chủ Sucandra đã tiếp nhận và trì tụng Vasudhārā Dhāraṇī với sự thành tâm, hết sức tin tưởng, và động cơ trong sạch. Ông giữ nó, trì tụng nó, quán triệt nó, vui hưởng trong nó, và cũng dẫn giải chi tiết cho những người khác.

Ānanda, do đó, ông cũng nên nhận Vasudhārā Dhāraṇī, giữ nó trong tâm, trì tụng nó, dạy nó, ghi nhớ nó, quán triệt nó và giải thích nó cho người khác một cách chi tiết. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho nhiều người. Nó sẽ mang lại hạnh phúc cho họ. Nó sẽ mang lại từ ái và bi mẫn cho thế giới, và nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho đám đông chúng sanh, chư thiên và loài người.

Ānanda, ta không thấy bất cứ ai trong thế giới của chư thiên, ma vương, bà la môn, loài người hoặc a tu la, những người sẽ nói khác về vidyā-mantra này. Không thể không nhận được những lợi ích của mantra sau khi trì tụng nó hai hoặc ba lần.

Ānanda, những lời mantra bí mật của dhāraṇī này là không thể phá hủy được.

Ānanda, rõ ràng là những lời này, khi được nghe, sẽ mang lại lợi ích ngay cả những người đã cạn kiệt gốc rễ của công đức. Vì vậy, không cần phải đề cập đến lợi ích của việc viết chúng thành một cuốn sách hoặc ghi nhớ chúng.

Tại sao trường hợp này? Đó là bởi vì dhāraṇī này đã được dạy bởi tất cả chư Như lai. Dhāraṇī-mantra này đã được nói, giải thích, tôn vinh, tiết lộ, khen ngợi, làm sáng tỏ, làm trong sáng, giải thích, gia hộ, chứng thực bởi pháp ấn, được khen ngợi, ca hát, tuyên bố và nói với tất cả chúng sanh bởi tất cả chư Như lai vì lợi ích của tất cả chúng sinh sống trong cảnh nghèo đói, đau khổ vì bệnh tật, sống trong sợ hãi hoặc bị kẻ ác hãm hại.

Tôn giả Ānanda sau đó đứng dậy khỏi chỗ ngồi và chắp tay lại, ngài thốt ra lời tán thán này trong bài kệ:

“Không thể tưởng tượng được là Đức Thế Tôn.
Pháp của Đức Phật cũng không thể tưởng tượng được.
Đối với những người có niềm tin vào điều không thể nghĩ bàn,
Không thể tưởng tượng được cũng sẽ là kết quả của họ.

Người biết yên lặng về mọi thứ và tất cả,
Pháp Vương không bị tuổi già và sự chết,
Người đã đến bến bờ của trí tuệ,
Đức Phật Anh Hùng, con kính lễ ngài! ”

Tôn giả Ānanda toại nguyện và hoan hỉ, sung sướng và vui mừng khôn xiết. Trong niềm vui và hạnh phúc, ngài thưa với Đức Phật:

“Bạch Đức Thế Tôn, giáo pháp này tên là gì? Con sẽ nhớ nó như thế nào? "

Đức Phật đáp:

“Ānanda, hãy nhớ giáo huấn này là‘ Câu Hỏi Của Gia Chủ Sucandra.’ Hãy nhớ nó như‘ Kho Báu Của Sự Thịnh Vượng Và Lúa Thóc Cùng Tất Cả Những Gì Quý Giá.’Hãy nhớ nó như ‘Vasudhārā Dhāraṇī Được Tất Cả Các Chư Như Lai Ca Ngợi.’”

Khi Đức Phật nói lời này, tôn giả Ānanda, các vị tỳ kheo và chư Bồ tát ma ha tát, cùng tất cả hội chúng và thế giới của chư thiên, loài người, a tu la, càn thát bà vui mừng và ca ngợi lời của Đức Phật.


Điều này kết luận về Vasudhārā Dhāraṇī Tôn Quý.

***


Nguyên bản:  The Noble Vasudhārā Dhāraṇī
Ấn ngữ: Vasudhārā-dhāraṇī
Tạng ngữ: nor gyün mé zung
Anh ngữ: The ‘Stream of Wealth’ Incantation
Hán ngữ: Trì Thế Bồ tát Pháp Kinh
Anh dịch: Lhasey Lotsawa Translations (Stefan Mang and Peter Woods), 2019.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Ẩn tâm lộ, Friday, July 2, 2021


 

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021

MỘT GIẢI THÍCH VỀ BÀI CA NGỢI VĂN THÙ TÔN QUÝ

 


MỘT GIẢI THÍCH VỀ BÀI CA NGỢI VĂN THÙ TÔN QUÝ
ĐƯỢC BIẾT NHƯ TUỆ TRÍ VINH QUANG
CỦA NHỮNG PHẨM CHẤT TUYỆT VỜI


Nam mô Đạo sư Văn Thù Diệu Âm!

Giải thích này về ca ngợi Tuệ Trí Vinh Quang của những Phẩm Chất Tuyệt Vời gồm năm phần: (I) tác giả, (II) tựa đề tác phẩm, (III) kính lễ dịch giả, (IV) phần chánh thật sự và  (V) kết luận

I- Tác Giả

Chỗ này, một số học giả cho rằng văn bản này được viết bởi Ācārya Vajrāyudha. Những người khác nói rằng trong quá khứ, ở vùng đất tôn quý Ấn Độ, năm trăm học giả được vị Viện Trưởng yêu cầu sáng tác lời ca ngợi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, và họ đã làm như vậy, Văn Thù Bồ tát đã gia hộ họ cho nên tất cả những lời ca ngợi của họ hoá ra đều giống y như nhau, và họ vững tin rằng việc này chắc chắn phải là do sự gia hộ của ngài Văn Thù Sư Lợi. Lời ca ngợi cũng được lấy tên từ vị viện trưởng của họ là Śrī Jñāna Guṇaphala.

Trong bất cứ trường hợp nào thì tác giả là một người mà chúng ta có thể có sự tin tưởng.

II. Danh hiệu

Trong ngônngữ thánh thiện Sanskrit của vùng đất tôn quý Ấn Độ là śrī jñāna guṇa phala nāmastuti. Trong tiếng Tây Tạng là dpal ye shes yon tan bzang po zhes bya ba’i bstod pa. trong tiếng Việt là Ca Ngợi Văn Thù Tôn Quý Được Biết Như Tuệ Trí Vinh Quang Của Những Phẩm Chất Tuyệt Vời

III. Tôn kính dịch giá

“Tôi phủ phục Đấng Chinh Phục Siêu Việt Và Hoàn Thiện, Đấng Chủ Tể Vinh Quang Văn Thù Diệu Âm.” Đây là sự tôn kính của dịch giả, được thực hiện trước khi tiến hành việc phiên dịch, cho mục tiêu đặc biệt là bảo đảm sự hoàn thiện của nó.

IV.  Phần Chánh Yếu Thật Sự

Trong đây, có hai phần: (1) ca ngợi thật sự và (2) những lợi ích

   1- Ca Ngợi Thật Sự

Phần thứ nhất có ba mục:  ca ngợi đến (i) tâm Giác Ngộ, (ii) lời nói Giác Ngộ, và (iii) thân Giác Ngộ.

       (i) Tâm Giác Ngộ
Ở đây có phần ca ngợi tuệ trí và phần ca ngợi từ ái

a* Ca ngợi tuệ trí

Sự thông tuệ minh mẫn của ngài, hỡi Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử, từ phụ của tất cả các Đấng chiến thắng, đã hoàn toàn vượt khỏi bóng tối của hai chướng ngại[1] vốn đã được từ bỏ, cả những thứ cảm xúc vốn là gốc rễ của tham vọng và.v.v... và những thứ tri giác vốn là gốc rễ của những nhận thức nhị nguyên rối rắm.

Sao thế này? Điều đó cũng được giải thích ở đây. Hãy tưởng tượng mặt trời thoát khỏi những màn chướng ngại của những đám mây và bụi mờ; giống như thế, tuệ trí của ngài, khi nó thấy rõ tất cả các pháp là tịnh hoá hoàn toàn khỏi những nhiễm ô của vọng tưởng che khuất bản chất chân thật của chúng ta, và nó sáng rỡ với hào quang của tuệ trí xuyên qua mọi thứ có thể biết được. Tuệ trí này nhận thức đối tượng của nó như thế nào cũng được giải thích. Nó nói rằng ngài nhận thức toàn bộ thực tại, mọi thứ vốn tồn tại, tất cả các pháp - ngay cả thứ vi tế nhất - kể cả trong ‘hoàn toàn phiền não’ và hoàn toàn thanh tịnh’ từ vọng tưởng hình thành cho đến khi toàn tri toàn giác, và ngài thấy chúng một cách trực tiếp và trọn vẹn, chính xác như chúng là, nhận thức một cách rõ ràng tinh tuý của chúng và những đặc trưng riêng biệt của chúng.

Trong tim ngài, ngài giữ một quyền kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, những giáo huấn đầy đủ về những con đường thậm thâm và thành tựu rộng lớn của chư Bồ tát, để biểu thị sự kiện rằng - như đã nói ở trên - ngài sở hữu tuệ trí nhân đôi vốn biết tất cả mọi thứ một cách chính xác như chúng là.

b* Ca ngợi từ ái

Tất cả chúng sanh không có những phẩm chất lâu dài như vậy bị vướng trong tù ngục luân hồi - từ cõi trời cao nhất xuống đến cõi thấp nhất là địa ngục a tỳ - nơi ba cánh cửa của thân, miệng, ý của họ bị bao phủ trong bóng tối dày đặc của si mê, khi họ bám víu vào những khái niệm ‘tôi’ và của tôi’. Đối với tất cả chúng sanh này không ngoại trừ ai, như một hậu quả bị dày vò bởi ba loại khổ đau, ngài sở hữu một lòng bi mẫn quan tâm sâu sắc. Điều này được làm sáng tỏ bởi một thí dụ; giống như từ thân có đứa con duy nhất thương con vô cùng dịu dàng, ngài, Văn Thù Diệu Âm, có mong ước từ ái và không thành kiến cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau, những kẻ đang bị dày vò trong chán chường và đau khổ.

      (ii) Lời nói giác ngộ

Được truyền cảm hứng bởi tình cảm đại từ này, và thấy cách mà mọi thứ vốn là, để thiết lập tất cả chúng sanh trong thể trạng thành tựu cao nhất như có thể, vì vậy ngài nói và khơi bày một cách rõ ràng những gì nên tiếp nhận và những gì nên từ bỏ, trong một giọng đơn nhất tuy nhiên lại có sáu mươi âm điệu du dương của lời Phạm Vương. Chức năng của nó là gì?’ Ta có thể hỏi. Khi rồng sấm sét phát ra tiếng rống phi thường của nó, nó đánh thức tất cả chúng sanh khác đang mê ngủ. Tương tự thế, khi ngài nói với giọng sở hữu những phẩm chất đặc biệt, và chúng sanh được hướng dẫn nghe tiếng rống vĩ đại của tám mươi bốn nghìn giáo Pháp sấm động trong tai họ nó làm họ thức tỉnh khỏi giấc ngủ của những cảm xúc quấy rầy, và phá xuyên những xiềng xích chặc chẽ của nghiệp chướng phiền não nhiễm ô, là thứ đưa đẩy họ vào vòng luân hồi đau khổ, làm nó mãi mãi và giữ họ ràng buộc trong nó.

Để ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng sanh đạt được thể trạng giải thoát và toàn tri toàn giác, bên phải ngài giữ thanh gươm kiến thức, tinh hoa tuệ trí của tất cả chư Phật, có ý nghĩa tượng trưng của nó. Trên căn bản của tuệ trí và lòng từ bi yêu thương được diễn tả ở trên, với hoạt động nói năng giác ngộ của ngài, ngài xua tan bóng tối của si mê, mà trong ấy chúng sanh bám chấp với ‘tôi’ và ‘của tôi’ và vì thế bị ngăn trở để thấy thực tại. Vì trong tiến trình ngài cắt xuyên qua tất cả những mầm non của đau khổ, như sanh, già, bệnh, chết, vốn phát triển từ si mê, ngài đã giữ thanh gươm tuệ trí, biểu tượng điều này hiện hữu một cách trong sáng và không chướng ngại.

      (iii) Thân thể giác ngộ

Nói một cách rõ ràng, ngài Văn Thù Sư Lợi bây giờ, và ngay từ đầu ngài luôn luôn là, một Đức Phật chân thành, trong ngài tất cả những phẩm chất của viễn ly và thực chứng là hoàn thiện tuyệt vời, vì ngài đã hoàn toàn vượt qua tất cả mười địa, như hoan hỉ địa và.v.v..., và tịnh hoá hai chướng ngại, cùng với bất cứ xu hướng tiềm tàng thường xuyên nào, vô lượng a tăng kỳ kiếp qua. Tuy nhiên, từ một nhận thức tạm thời, ngài xuất hiện như thượng thủ của tất cả Bồ tát, và chứng minh phương tiện rèn luyện như một vị Bồ tát trong sự hiện diện của tất cả những Đấng Chiến Thắng và các vị thừa kế trong khắp mười phương.

Hơn thế nữa, từ nhận thức của mật thừa, không nghi ngờ gì, dù thế nào đi nữa thì ngài, Văn Thù Sư Lợi, là một Đức Phật. Trong thực tế, điều này thậm chí đã được tuyên bố trong kinh điển. Thí dụ trong Văn Thù Trang Nghiêm Tịnh Độ kinh[2]...nói rằng ngài đã hoàn thành mười địa. Và trong hai kinh khác- Thủ-Lăng-Nghiêm-Tam-Muội KinhƯơng Quật Ma La Kinh ngài rõ ràng được nhắc đến như một Đức Phật.

Hình tướng giác ngộ của ngài được trang nghiêm với mười nhân mười hai - là một trăm mười hai - tướng chính và tướng phụ.

Cho rằng ngài, Văn Thù Diệu Âm, giọng nói êm dịu, sở hữu những phẩm chất giác ngộ của thân, miệng, ý và hành vi trong sự trọn vẹn của chúng, chúng con đảnh lễ cúng dường ngài, dâng lòng thành kính tột cùng với thân, khẩu, ý của chúng con, và nguyện cầu ngài xua tan tất cả tối tăm khỏi tâm thức chúng con, và rộng rãi hơn, khỏi tâm thức của tất cả chúng sanh.

   2- Lợi lạc

Chỗ này có hai mục: lợi ích của việc trì tụng điều này trong một khoảng thời gian nào đó và lợi ích của việc trì tụng một cách liên tục.

     (i) Lợi ích của việc trì tụng trong một khoảng thời gian nào đó

Liên quan đến lợi ích đạt được từ việc trì tụng này, vua của những ca tụng, trong một khoảng thời gian nhất định, một người nào đó với niềm tin và cần mẫn, trì tụng sự ca ngợi này với một động cơ trong sạch và vị tha không nhiễm ô bởi đạo đức giả, và người hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn vì lợi ích của người khác, sẽ nhận những lợi ích phù hợp với sự trì tụng. Khi họ trì tụng một lần, bảy lần, hai mươi mốt lần, hay thậm chí một trăm hay một nghìn lần mỗi ngày trong một tháng hay một năm hay bất cứ khoảng thời gian nào, họ sẽ thu thập sự gia tăng những phẩm chất, như sự tịnh hoá các chướng ngại của họ. Bằng việc trì tụng nó một lần trong cách này, những chướng ngại ngăn trở việc sinh khởi các phẩm chất giác ngộ sẽ được tịnh hoá một cách nhẹ nhàng, và họ sẽ đạt được vào trong bốn sự ứng dụng chánh niệm thân cận. Bằng việc trì tụng nó bảy lần, họ sẽ đạt được năng lực nhớ lại giáo Pháp một cách chính xác như họ đã nghe nó, là nguyên nhân trực tiếp cho việc phát triển những phẩm chất giác ngộ. Bằng việc trì tụng nó hai mươi mốt lần, họ sẽ phát triển tài hùng biện can đảm - đó là, sự thông tuệ không bị chướng ngại là phạm trù cho những phẩm chất giác ngộ - và do thế ứng dụng sự chuyên cần của bốn nổ lực đúng đắn.

Với một trăm lần trì tụng để những phẩm chất có thể hoàn thành, họ sẽ đạt được năng lực nhớ lại hết, vì thế bất cứ điều gì học hỏi và tài hùng biện can đảm mà họ đã đạt được không bao giờ bị mất, và họ sẽ đạt được định lực của bốn chi thần kỳ[3]. Qua một nghìn lần trì tụng, họ sẽ đạt được chức năng những phẩm chất giác ngộ của bạn, năng lực tuệ trí cho phép một người đánh bại đối thủ trong tranh luận.

Vì thế nó tiếp tục, vậy nên nếu bạn có thể trì tụng hơn một nghìn lần, bạn sẽ đạt được sức mạnh của tuệ trí, ở chỗ mà tuệ trí của bạn trở thành có thể chống cự những thử thách từ các đối thủ và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Điều này để làm sáng tỏ rằng bạn sẽ đạt được những phẩm chất vô hạn của những con đường tu tập, như những năng lực và sức mạnh (niềm tin và v.v...), bảy chi giác ngộ, tám chính đạo, cũng như những phẩm chất của con đường không phải tu tập nữa.

     ii. Lợi ích của việc trì tụng liên tục

Xa hơn điều này, nó sẽ giải thích vấn đề những lợi ích phát sinh như thế nào từ việc trì tụng lời cầu nguyện liên tục. Người nào đó mà dòng suối tâm của họ đã được tịnh hoá qua niềm tin, chuyên cần và tâm bồ đề hai bậc, người trì tụng lời cầu nguyện ba lần một ngày suốt đời sống của họ sẽ sở hữu tất cả những phẩm chất được để cập ở trên. Trên nền tảng của tâm bồ đề tuyệt đối, hành thiền tánh không (khía cạnh trí tuệ) trở thành nguyên nhân trực tiếp, và lòng từ bi (khía cạnh phương tiện thiện xảo) trở thành điều kiện đóng góp, cho việc hoàn thành năm con đường. Sau đó, trên nền tảng của tâm bồ đề tương đối, phương tiện thiện xảo và lòng từ bi trở thành nguyên nhân trực tiếp, và tuệ trí và tánh không điều kiện đóng góp, cho việc đạt đến mười địa.

Khi những con đường và mười địa dần dần được vượt qua trong cách này, những phẩm chất của viễn ly và thực chứng lớn mạnh hơn một cách tương ứng, và hành giả nhanh chóng đi đến ‘ngôi thành’ ở trong đó mọi thứ có thể biết được thấu hiểu với tuệ trí hoàn thiện. Ở cực điểm của những con đường, hành giả thực chứng pháp thân cho lợi ích của chính mình. Ở cực điểm của mười địa, hành giả làm lợi ích cho người khác qua hai thân, và, như một thuyền trưởng, thể hiện những hành vi giác ngộ của việc giải thoát tất cả chúng sanh không chỉ từ những khổ đau biến dạng của luân hồi mà cũng là những nguyên nhân của chúng, một cách liên tục, cho đến khi không gian còn tồn tại.

V. Kết luận

Ở đây có ba phần: lời cuối sách của tác giả, lời cuối sách của dịch giả, và truyền cảm hứng hoan hỉ bằng phương tiện của một lịch sử ngẫu nhiên. Thứ nhất là bắt đầu ‘Tuệ trí vinh quang của những phẩm chất tuyệt vời...’ thứ hai là bắt đầu những dịch giả thánh thiện...’ và thứ ba bắt đầu với Ācārya Dignāga và...’ là dễ dàng để thấu hiểu.

Những lợi ích và gia hộ không thể lường được của những lời nguyện vương này luôn luôn là chứng cứ, và tồn tại rõ ràng cho đến ngày nay. Lần đầu tiên tiếp nhận sự trao truyền cho việc tập trung sự tỉnh thức của bạn từ một vị thầy thuộc dòng truyền thừa, hãy tự sử dụng trong thực hành với niềm tin nhất tâm và sự tinh tấn.

***
Được viết bởi Mañjughoṣa chỉ đơn giản là một ghi chú để hỗ trợ trí nhớ của chính mình và người khác.

Sarva satāhito bhavatu.


Nguyên tác:Explanation of Praise to Noble Mañjuśrī |
 known as Glorious Wisdom’s Excellent Qualities
Tác giả: Jamyang Khyentse Wangpo
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Ẩn Tâm Lộ, Monday, May 24, 2021

 



[1] Sở tri chướng và phiền não chướng
[2] Sūtra of the Array of Mañjuśrīs Pure Land - - Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh Kinh
[3] Tứ thần túc

 

LUẬN GIẢI BÀI CA NGỢI BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI

 



LUẬN GIẢI BÀI CA NGỢI BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI


***
CA NGỢI BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI


Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát!
Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê,
Ngài giữ trong tim một bộ kinh biểu tượng của việc thấy tất cả mọi thứ như chúng là,
Người dạy trong sáu mươi cách, với lòng từ bi yêu thương của một từ thân với đứa con duy nhất,
Đến tất cả các tạo vật bị giam trong tù ngục của luân hồi,
Bối rối trong bóng tối của si mê, tràn ngập bởi khổ đau của họ.
Ngài tuyên dương giáo pháp như rồng sấm sét đánh thức chúng con khỏi ngất ngây của vọng tưởng
Và giải thoát chúng con khỏi xiềng xích sắt thép nghiệp chướng của chúng con,
Người vung thanh gươm trí tuệ chặt khổ đau xuống bất cứ khi nào mầm móng của nó xuất hiện,
Xua tan bóng tối của của tất cả mọi si mê;
Ngài, thân thể lộng lẫy và rực rỡ với một trăm mười hai dấu ấn của một Đức Phật,
Người đã hoàn thành những giai tầng đạt được những hoàn thiện cao nhất của một vị Bồ tát,
Người đã thanh tịnh từ lúc khởi đầu.
Hỡi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con đảnh lễ ngài.

OM A RA PA TSA NA DHI

Với sự chiếu sáng của trí tuệ ngài, hỡi đấng từ bi,
Hãy soi sáng bóng tối bao phủ tâm thức chúng con
Hãy soi sáng sự thông minh và trí tuệ của chúng con
Vì thế chúng con có thể đạt được hiểu biết thâm nhập vào trong những lời Đức Phật và những luận giải về chúng.

Nguyên Bản Tạng Âm
Gang-lo-ma
La ma dang gön po jé tsün jam päi yang la chak tsäl lo
Gang gi lo drö drip nyi trin drel nyi tar nam dak rap sel wä
Ji nyé dön kün ji zhin zik chir nyi kyi tuk kar lek bam dzin
Gang dak si pä tsön rar ma rik mün tom duk ngel gyi zir wä
Dro tsok kün la bu chik tar tsé yän lak druk chü yang dän sung
Druk tar cher drok nyön mong nyi long lä kyi chak drok dröl dzä ching
Ma rik mün sel duk ngäl nyu gu ji nyé chö dzé rel dri nam
Dö nä dak ching sa chü tar sön yön tän lhün dzok gyel sä tu bö ku
Chu trak chu dang chu nyi gyän trä dak lö mün sel jam päi yang la dü

OM A RA PA TSA NA DHI

Tsé dän khyö kyi khyen rap ö zer gyi
Dak lö ti muk mün pa rap säl nä
Ka dang tän chö zhung luk tok pa yi
Lo drö pop päi nang wa tsäl du söl
 

***
LUẬN GIẢI 

Theo truyền thống của những đạo sư giáo huấn truyền khẩu, như giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, thì Lời Ca Ngợi Bồ tát Văn Thù (Gang-lo-ma ) được sáng tác bởi 100 vị Đại Thành Tựu Ấn Độ đã tập hợp lại với nhau. Tự riêng mỗi người quyết định nói một bài kệ để ca ngợi Bồ tát Văn Thù, khi ấy đang gia hộ tâm trí của họ. 99 người đã viết cùng lời ca ngợi, vốn được biết như Gang-lo-ma. Vị thứ 100 viết hơi khác, vốn trở thành lời ca ngợi bổ sung cho Gang-lo-ma gọi là Sheja-kha-yingpa. Điều này rất, rất nổi tiếng và được lập lại bởi ngài Vidyakokila the Younger (Avadhutipa). Văn bản ngày nay; gần như thất truyền; nó cực kỳ hiếm hoi và là điều gì đó mà nhiều người đang tìm kiếm, bởi vì nó là lời cầu nguyện rất rất quan trọng đối với Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Mặc dù văn bản bắt đầu với “Con lễ phủ phục đến đạo sư và Bồ tát Văn Thù Sư Lợi,”[1] nhưng trong sự quán tưởng, trong tâm thức ta, không nên riêng biệt. Không có bất cứ sự chia cách nào giữa đạo sư và Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, cho nên bất cứ khi nào ta thấy Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, thì ta thấy đạo sư. Không nên có sự phân chia. Điều này rất quan trọng. Trong một số thực hành, bất cứ khi nào từ đạo sư (lama) được đề cập - cho dù một bổn tôn được để cập và quán tưởng, hay cho dù mặt trời được sử dụng, thí dụ thế, không có gì khác biệt. Đôi khi thay gì dùng mặt trời, người ta dùng mặt trăng, nhưng đó là giống nhau, biểu lộ sự trong sáng, hay sự hoàn toàn tan biến những chướng ngại vật chất và tinh thần.

Ji nyé dön kün có nghĩa là “bất cứ điều gì con có thể thấy” hay “bất cứ điều gì có thể được nhận thức”, và liên hệ đến lẽ thật quy ước (thế đế). Mọi thứ mà có thể khai triển trên trình độ quy ước là được nhận thức bởi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Ji zhin zik có nghĩa là “lẽ thật tuyệt đối” (chân đế) - không chỉ là sự thấu hiểu khía cạnh quy ước của việc mọi thứ xuất hiện đến chúng ta như thế nào, kiểu mẫu tồn tại thông thường - mà là việc thấy thực tại tuyệt đối. Kiểu mẫu chân thật của sự tồn tại hay lẽ thật tuyệt đối được thấu hiểu bởi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Ji-zhin zik cũng liên hệ “đạo sư tuyệt đối.” Ta nên thấy là không có sự khác biệt giữa Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và đạo sư, theo mật điển cũng như kinh điển. Không có quan điểm khác biệt và không có khác nhau trong những truyền thống. Tất cả những truyền thống của Phật giáo đều đồng ý về điều này.

Gang gi lo-drö có nghĩa là “trí tuệ của bậc (hiền thánh) “, liên hệ đến Bồ tát Văn Thù Sư Lợi giống như mặt trời giữa không gian trống trải không có bất cứ chướng ngại và che phủ của mây. Nếu có những đám mây, những tia nắng mặt trời không thể chiếu trực tiếp đến chúng ta; có những sự chướng ngại. Trí tuệ của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi sạch không hai loại chướng ngại: chướng ngại của những cảm xúc quấy rầy (phiền não chướng), những chướng ngại với tri thức (sở tri chướng). Ngài có tự do khỏi những vọng tưởng thông thường và thuộc bản năng, và ngài có những phẩm chất chân thật của một bậc giác ngộ.

Không có gì khác nhau cho dù mặt trời hay mặt trăng được sử dụng để trình bày lẽ thật; ngài có trí tuệ thấu hiểu những chân lý nhị nguyên. Để biểu thị đại trí tuệ siêu việt trống không mọi chướng ngại, vốn không thể thấy trong bất cứ hình tướng vật lý nào, ngài cầm một quyển kinh trên tay trái tại trái tim ngài. Cầm quyền kinh tại trái tim biểu thị rằng ngài có những phẩm chất tinh thần này. Những phẩm chất vật lý có thể biểu hiện bằng những dấu hiệu cùng những biểu tượng, và bằng những gì ngài làm, qua những hành vi từ bi; nhưng để biểu thị những phẩm chất tâm lý của ngài như thế nào, thì ngài cầm một quyển kinh, biểu thị trí tuệ của việc thông hiểu hai trình độ của lẽ thật.

Những phẩm chất căn bản của những bậc giác ngộ là trí tuệ, từ bi và năng lực. Bên cạnh là phẩm chất từ bi. Gang-dag liên hệ đến chúng sanh. Si-pa tsön-rar có nghĩa là “trong ngục tù của luân hồi.” Điều này liên hệ đặc biệt đến hai loại chướng ngại: chấp trước vào sự tồn tại thật sự của các hiện tượng (pháp chấp) và chấp trước vào sự tồn tại thật sự của cá nhân ( ngã chấp). Hai loại chấp thủ này là những gì ngăn trở chúng ta vượt ra khỏi luân hồi. Chúng ta bị ngăn trở chỉ vì hai loại sai lầm chính này của tâm thức - ngã chấp và pháp chấp, tự ngã sai lầm và những thứ như vậy. Đây là những gì được liên hệ đến như ngục tù của luân hồi.

Ma-rig mün-thom có nghĩa là “hoàn toàn bị quay cuồng bởi si mê “. Nguyên nhân sự quay cuồng của chúng ta là hai loại chấp trước này. Bằng sự quay cuồng này chúng ta làm nhiều thứ sai phạm và không phân biệt được giữa tiêu cực và tích cực. Qua làm nhiều việc tiêu cực hơn, hầu như chúng ta bị say bởi khổ đau. Hơn thế nữa “bị tràn ngập (bởi đau khổ),” zir-wa có nghĩa là say[2].

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi có lòng đại từ bi - giống như cha mẹ với đứa con duy nhất - đối với chúng sanh bị sự quay cuồng này về hai phẩm chất căn bản sai lạc hay những lỗi lầm của tâm thức. Bu-chik có nghĩa là “đứa con duy nhất”. Lòng từ bi của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đối với chúng sanh giống như cha mẹ đối với đứa con duy nhất. Cha mẹ dành mọi sự chú ý và yêu thương cho đứa con đó, cho nên nó trở thành một món vật báu và một sự tập trung của từ thân. Thật sự lòng từ bi của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể tưởng tượng và giải thích bằng bất cứ phương tiện hay thí dụ nào. Mặc dù thí dụ về tình thương của từ thân cho đứa con duy nhất là điều tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể sử dụng, nhưng nó khá giới hạn. Đôi khi sự chăm sóc và tình thương là cho thái độ tự yêu mến - cho chính chúng ta.

Lòng từ bi không thể tưởng tượng được của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi được biểu hiện bằng druk tar cher drok, có nghĩa “tiếng rống của rồng sấm sét.” Ngài làm giáo pháp được biết qua một khoảng cách vĩ đại với một âm thanh to lớn. Đây là một biểu hiện cho sự quan tâm ân cần và lòng từ bi của ngài cho chúng sanh. Cung cách tột cùng của việc làm lợi ích cho chúng sanh không phải là cải thiện phẩm chất của đời sống vật chất, mà là cải thiện phẩm chất tâm linh của họ.

Nyön mong nyi long có nghĩa là “chúng ta được đánh thức khỏi giấc ngủ của si mê,”[3] giống như chuông báo thức làm chúng ta hoàn toàn tỉnh giấc khỏi cơn ngủ say. Lời dạy của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi giống như tiếng rống của rồng sấm sét, làm xáo trộn hoàn toàn giấc ngủ của si mê. Đôi khi chúng ta ngủ trong khi hành thiền, và chúng ta cần được đánh thức.

Lä kyi chak drok có nghĩa là “gông cùm của nghiệp chướng.”[4] Chúng ta bị ràng buộc và giam cầm đối với những hành động trước đây của chính chúng ta, vì vậy những gì chúng ta làm bây giờ hầu như đã bị quyết định. Những hoạt động như sấm sét của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cắt mối ràng buộc của của nghiệp thức si mê của chúng ta.

Có nhiều thứ chúng ta không thể tự làm cho chúng ta bởi vì chúng ta đã tạo nên những quy luật nhất định cho chính chúng ta - những quy định của vọng tưởng. Chúng ta có thể xem điều này như nghiệp chướng vốn ngăn trở chúng ta làm nhiều thứ mà chúng ta thích làm. Chúng ta phải vượt qua những loại hành vi này vốn giữ chúng ta rất giới hạn và giam hãm trong một quan điểm hẹp hòi. Một khi chúng ta phá vỡ những thứ này, thì chúng ta sẽ thoát khỏi việc tích lũy hay hình thành thêm những nghiệp thức.

Những hành động của chúng ta là những giới hạn của chúng ta, giống như còng tay và xiềng chân của một tù nhân. Khi một tù nhân bị xiềng sắt ngang chân, người ấy không thể đi đâu được. Chúng ta đã tạo nên những thứ này trong chính tâm thức của chúng ta, nhưng hành vi tích cực của chúng ta có thể ngăn chúng ta khỏi tích lũy thêm những nghiệp chướng. Đây là bằng phương tiện của sự tự kiểm soát, nó thường được quyết định bởi chúng ta. Chúng ta không nên cho phép loại tương tục của những hành vi quá khứ quyết định tương lai chúng ta.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cầm thanh gươm trí tuệ, biểu thị năng lực của ngài. Đây là một biểu thị lòng từ bi của ngài, vốn cắt sự ràng buộc của hành vi và ràng buộc của si mê và vọng tưởng của chúng sanh. Đây không phải điều gì đó mà ngài không có phương tiện để làm; ngài có nhiều năng lực để làm việc này, như được biểu thị bằng thanh gươm trong tay phải của ngài.

Dö nä dak có nghĩa là “thuần khiết ngay từ đầu.” Điều này liên hệ đến tướng trạng tối hậu của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Tướng trạng diễn giải của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi có thể là Bồ tát vốn không thanh tịnh ngay lúc đầu, mà là người phải hành động và tịnh hoá chính mình. Tuy nhiên, tướng trạng tối hậu là biểu hiện của trí tuệ Phật. Phương diện này của Văn Thù Sư Lợi là thuần khiết ngay từ đầu.

“Ngài là bậc thuần khiết ngay từ đầu và đã trải qua mười giai tầng và đã đạt đến quả Phật, tuy nhiên đã tự biểu hiện như con trai của chư Phật.”[5]

Gyal-sä tu-wö-ku có nghĩa là “con trai của Đức Phật, người có thể làm được nhiều việc.”[6] Điều này giải thích năng lực của thành tựu, của biểu hiện phù hợp với nhu cầu của chúng sanh - đôi khi như một vị Vua giác ngộ, đôi khi như một hoàng tử của Đức Phật, một vị Bồ tát.

Khi những phẩm chất trí tuệ, từ bi, và năng lực của Đức Phật được diễn tả, thì trí tuệ là phẩm chất của tâm thức ngài, và từ bi được diễn tả bằng sự biểu hiện của nó - là giáo huấn, phẩm chất lời nói của ngài. Rồi thì có năng lực vật lý của ngài; những phẩm chất của thân thể ngài.

Chu trak chu có nghĩa là “mười lần mười” và dang chu nyi là “cộng mười hai.” Điều này biểu thị cho 112 thuộc tính vật lý của Đức Phật; 80 tướng phụ và 32 tướng chính. Đây như là những trang nghiêm tự nhiên của một bậc giác ngộ, vốn không phải là gánh nặng. Những trang sức bạc và vàng có sức nặng vô kể; chúng có thể trông xinh xắn nhưng ta có thể mệt mỏi vì sức nặng của chúng và sự săn sóc ta phải có.

Dak lö mün sel jam päi yang la dü có nghĩa là “con chào đón Đức Văn Thù Sư Lợi với lòng tôn kính sâu sắc của thân thể, lời nói và tâm ý, bậc sẽ loại trừ bóng tối của tâm thức con.”[7] Bây giờ là nói về những phẩm chất trí tuệ, từ bi và năng lực của Đức Phật, và những phẩm chất của thân thể, lời nói và tâm ý. Chúng ta ca ngợi Văn Thù Sư Lợi chỉ bằng việc biểu hiện những phẩm chất đa dạng này.

có nghĩa là “đi xuống, cong xuống, cúi xuống.” Việc này giống như một cây có nhiều trái sẽ kéo cành cây xuống - điều này gọi là . Khi ta chú ý những phẩm chất nào đó ở một người, rồi thì tính tự hào và kiêu hãnh trở nên bị cúi xuống. Ta không còn cảm thấy rằng ta lớn, nhưng ta thấy điều gì đấy ở chính ta trong người nào đấy; điều gì đấy mà ta có thể đúng là tự nhiên trở thành. Ta chỉ cúi đầu: đây là việc tất cả sự sùng mộ và tôn kính được thể hiện như thế nào.

Tại chỗ này mật ngôn OM AH RA PA TSA NA DHI nên được trì tụng khoảng một trăm lần. Nếu ta tụng mật ngôn này hàng ngày kết hợp với lời cầu nguyện này; nếu ta thật sự tập trung, sau đó trí tuệ có thể tiến bộ trong một tháng. Trong một tháng ta có thể cảm nhận sự khác biệt trong trí thông minh của ta, và trí tuệ của ta thật sự mở rộng. Đây là đại mật ngôn của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Sau khi tụng mật ngôn có lời cầu nguyện kết luận.[8]

Một người rất sáng láng chưa bao giờ học hỏi bất cứ vị thầy nào có lẽ có thể thông hiểu bất cứ bài bản nào người ấy cầm đọc, nhưng đó có thể chỉ là một sự thấu hiểu nông cạn. Người ấy chỉ thấu hiểu những gì có trong quyền sách, không phải những ý nghĩa thật sự sâu xa tiềm ẩn hoàn toàn. Chắc chắn trí tuệ rất đặc biệt là cần thiết cho việc này, giống như năng lực của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, sự truyền trao của dòng truyền thừa, năng lực của đạo sư và những thứ như vậy.

Đây là sự thực hành hàng ngày mà chúng ta nên làm tại nhà. Việc đầu tiên chúng ta nên làm sau khi thức dậy là súc miệng, rồi thì trì tụng lời cầu nguyện đến Văn Thù Sư Lợi và mật ngôn này. Việc này là cực kỳ Lợi lạc; nó sẽ làm nên một sự khác biệt lớn lao cho một ngày của chúng ta và cho chúng ta trí tuệ lớn. Nó có thể hổ trợ, nó có thể làm nên một sự một sự khác biệt hoàn toàn lớn lao.

Sau đó thật tốt để thực hiện một sự cúng dường mạn đà la đến Văn Thù Sư Lợi bằng các câu kệ này:

“Trong một nơi trang nghiêm với bông hoa và những hoàn cảnh xinh đẹp, trên bề mặt lớn này, trái đất, chúng con quán tưởng tất cả những lục địa, mặt trời và mặt trăng. Cùng với tài sản, thân thể, lời nói và tâm ý của chúng con, chúng con xin cúng dường đến ngài.”

Đó là một sự thực hành thánh thiện để làm một sự cúng dường mạn đà la ngắn gọn. Có hai cách để tụng câu kệ này, vì những sự quán tưởng có hơi khác nhau. Sang-gyä zhing-la có nghĩa là ta đem cả vũ trụ và thực hiện sự cúng dường đến một nơi khác - đến một cõi tịnh độ khác nơi chư Phật đang ngự trị. Khi ta nói zhing-du, thì ta quán tưởng chính nơi ta đang đứng bây giờ như một cõi tịnh độ và cúng dường nó đến những đối tượng quy y. Cho nên nếu thấy đánh vần như zhing-la hay zhing-du thì không phải sai, nhưng là một sự quán tưởng khác.

Về Văn Thù Sư Lợi

Tổ Sư Je Tsongkhapa nói về Bồ tát Văn Thù Sư Lợi “Giống như voi mong muốn dòng sông, thì con cũng mong muốn những phẩm chất thánh thiện của ngài.” Trong một thế giới hệ khác, có cùng dòng suối tâm như Văn Thù Sư Lợi. Đức Phật ngự trị là Dawa Kunzik,[9] vị Vua Của Âm Thanh Rồng. Văn Thù Sư Lợi là một trong bốn hoàng đế thời luân khi đó, và có một gia đình lớn công việc chỉ là săn sóc Đức Phật và những đệ tử của Phật. Ông thực hành liên tục việc cúng dường, năm này qua năm khác, nhưng không biết hồi hướng công đức như thế nào. Một âm thanh từ không trung nói rằng ông nên hồi hướng công đức cho sự giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Văn Thù Sư Lợi đã đi đến Đức Phật với một nhóm đông đảo và Đức Phật nói rằng năng lực công đức của ông sẽ thành tựu cho những gì ông mong ước và hồi hướng. Ngài khuyên vị vua phát tâm Bồ đề và thọ Bồ tát giới. Ông vua thực hiện những sự cúng dường công phu và đã mạnh mẽ nguyện tiêu trừ thái độ vị kỷ, vì ông có thể không bao giờ hưởng được những kết quả nếu ông thấy mình lừa dối những chúng sanh khác bằng việc có thái độ vị kỷ.

Nhiều người cùng thọ giới Bồ tát vào lúc ấy. Chỉ một người sót lại là Tathagata Sa-lha, bổn tôn của trái đất, vị vẫn ở dưới trái đất theo thệ nguyện Bồ tát của ông. Tất cả những vị khác đã đi đến những thế giới khác.

Chính Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là bậc sẽ làm tất cả chư Phật của thế giới hệ này thọ giới Bồ tát. Ngài tên là Chö-gyäl-tsän, (Banner of Dharma), Biểu Pháp. Ngài trở thành đạo sư của 100 Đức Phật nguyện ước. Văn Thù Sư Lợi là từ phụ của tất cả chư Phật sẽ thành. Ngài luôn luôn nói năng như một vị Bồ tát và những biểu hiện của ngài là những gì của một Bồ tát, nhưng ngài thật sự là một Đức Phật toàn giác. Ngài đã thành tựu giác ngộ nhiều lần để làm những gương mẫu, xuyên qua mười hai hành vi[10]. Khi ngài đạt được giác ngộ, chính là trong vũ trụ này, vài lần ở phương nam.

Có một cõi tịnh độ của Văn Thù Sư Lợi nhưng rất khó để sanh vào. Thậm chí nếu tất cả chư Bồ tát cầu nguyện để sanh về cõi ấy, thì chỉ có 16 vị có thể sanh về đó được. Chỉ có những vị Bồ tát trong cõi tịnh độ này; ngay cả những vị a la hán cũng không thể đến đó được. Không có khổ đau hay thiếu tự do, cho nên có tiến trình nhanh chóng. Chính Đức Phật ngự trị, Kunzik, sẽ chăm sóc chúng ta và giảng dạy giáo huấn cho chúng ta. Để được đến đó cần phải tu trì sự thực hành của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, sự thực hành dawa-para(?), và có tâm Bồ đề.

Văn Thù Sư Lợi phải được quán tưởng như một Đức Phật, nhưng toàn màu vàng. Tay trái ngài là thủ ấn giáo hoá và tay phải là thủ ấn vô uý. Ngài phải được quán tưởng như cao hàng dặm. Làm nhiều bức hoạ hay tượng Bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Chúng ta không cần thỉnh cầu ngài; chỉ hiện diện ở đấy, ngài sẽ giải quyết tất cả những yêu cầu và rắc rối của chúng ta. Hãy thành tâm đến Văn Thù Sư Lợi giống như thành tâm đến tất cả các bổn tôn của hiển giáo và mật giáo. Tốt nhất là trì niệm danh hiệu của Văn Thù Sư Lợi hơn là của tất cả chư Phật.

Vào thời Văn Thù, có một vị vua đã giết cha mình bằng cách đánh ông ta trong cơn giận dữ. Vua tràn ngập sự hối hận, và Đức Phật hiện tại đã đến gặp vua và nói rằng Bồ tát Văn Thù Sư Lợi có thể giải quyết vấn đề, mặc dù bản thân ngài không thể. Mahakashek và Văn Thù Sư Lợi mỗi người đến với 499 đệ tử. Nhà vua chuẩn bị lễ vật và thức ăn cho 1.000 người, nhưng 100.000 hóa thân của Văn Thù Sư Lợi đã đến. Nhà vua thất vọng vì không có đủ lễ vật để cúng dường. Hơn nữa, ông không có đủ bát, vì vậy Văn Thù Sư Lợi đã bày ra những chiếc bát khất thực trước những hóa thân của ngài. Nhà vua muốn dâng y phục cho Văn Thù, nhưng Văn Thù, người có các hình dạng khác nhau, biến thành ánh sáng và nói: "Ông là hình vuông, hình tròn, hình tam giác hay cái gì khác?" Vì vậy, ông đã dùng phương tiện dạy nhà vua để thiền định về sự trống rỗng.

Văn Thù là cha, là phương pháp, bồ đề tâm, và mẹ, là trí tuệ hiểu biết tánh không. Danh hiệu của Văn Thù Sư Lợi có uy lực hơn các vị Phật khác, không phải vì phẩm chất giác ngộ, mà vì sự khác biệt về khả năng mở rộng của lời thệ nguyện được coi như một Bồ tát.

Hầu hết các hiền giả[11] Ấn Độ đều có Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là vị bổn tôn chính của họ. Ví dụ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là bạn thân nhất và là cố vấn của Tổ sư Tsongkhapa. Văn Thù không phân biệt thời điểm xuất hiện; điều này phụ thuộc vào sự nhiệt tình của người đệ tử, như trong câu chuyện về Vô Trước[12] và con chó

***
Nguyên bản: The Praise to Manjushri
Luận giải: Geshe Rabten/ Dharamsala, Ấn Độ/ June, 1975.
Anh dịch: Gonsar Rinpoche.
Biên tập: Sandra Smith và Ven. Gyalten Lekden/ March, 2013.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, June 30, 2021


[1] “đạo sư/Lạt ma” có thể được coi là một đối tượng ca ngợi và “Văn Thù bảo hộ” là đối tượng ca ngợi khác, do đó Geshe Rabten nhận xét rằng cả hai không thể tách rời.
[2] Zir-wa thường được dịch là "đau khổ", nhưng trong lời cầu nguyện FPMT ở trên, nó được dịch là "tràn ngập (bởi đau khổ)." Việc áp dụng nghĩa “say” cho thuật ngữ này phải là một cách thay thế hoặc truyền khẩu.
[3] Khác với bản dịch FPMT; cả hai đều đúng.
[4] Khác với bản dịch FPMT; cả hai đều đúng.
[5] Thập địa Bồ tát
[6] Điều này có nghĩa là “con trai chính của đấng chinh phục”, là một cách nói tục ngữ để chỉ bồ tát. Đây là một cách diễn giải, không phải là một bản dịch theo nghĩa đen
[7] Khác với bản dịch FPMT. Đây là một cách diễn giải, không phải là một bản dịch theo nghĩa đen. Những lời nói rằng, "Với Văn Thù, người xóa bỏ bóng tối của tâm trí con, con cúi xuống."
[8] Bản dịch của Lạt ma Thubten Yeshe về lời cầu nguyện này:
Bồ tát  Văn Thù từ bi nhất:
Với lòng tốt của ngài, xin vui lòng
Xua tan Bóng tối vô minh của con,
Qua ánh sáng lộng lẫy của ngài
Của sự trí tuệ hiểu biết
Để con có thể lãnh hội đầy đủ tất cả
Kinh điển của Đức Phật và những hiền giả Đại thừa '
Các bài bình luận, bằng cách tiếp nhận sự can đảm
Tầm nhìn của sự hiểu biết trí tuệ tri thức.
[9] Đây là dự đoán đúng nhất, tuy nhiên, “Dawa Kunzik” thậm chí không gần nghĩa với “Vua của âm thanh của rồng”, vì vậy có thể hai người này là các thực thể riêng biệt.
[10] ĐẠI CA NGỢI MƯỜI HAI HÀNH VI CỦA ĐỨC PHẬT
[11] pandit
[12] Cuộc Đời Của Tổ Sư Asanga