THỜI KỲ HOÀNG KIM CỦA SỰ LAN TỎA CỦA PHÁP MÔN THA KHÔNG (TỰ TÁNH THA KHÔNG LUẬN ĐƯỢC HOẰNG DƯƠNG)
CHƯƠNG 3:
TRUYỀN
THỐNG THA KHÔNG: LUẬN TỐI
THƯỢNG THỪA TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA DÖLPOPA
Mục lục
1- Giới thiệu |
2- Sự ưu thế của các kinh điển thuộc Chuyển pháp
luân lần thứ ba (bánh xe pháp cuối cùng) |
3- Luận Tối Thượng Thừa là một văn bản thuộc Duy
Thức Tông (Cittamātra) hay Trung Quán Tông (Madhyamaka)? |
4- Hệ Thống Phân Loại Của
Duy Thức Tông
5- Hệ Thống Phân Loại Của
Trung
Quán Tông |
6- Kết luận |
***
1- GIỚI THIỆU
Như
tôi đã lập luận trong chương trước, các tư tưởng gia Tây Tạng một mặt như
Sapen, và mặt khác như Rikrel, vị Karmapa thứ Ba cùng những người khác, đã đặt
một nền móng vững chắc cho sự trỗi dậy của luận tối thượng thừa (Uttaratantra).
Nhà học giả Tây Tạng biết tận dụng "trận cuồng phong" tranh luận hoàn
hảo này chính là Dölpopa — một tác giả kiêm nhà phân loại giáo học tông phái
người Tây Tạng. Ông đã đưa luận tối thượng thừa cùng giáo lý về Như Lai Tạng
(tathāgata-essence) vào vị trí trung tâm, và biến nó thành cốt tủy trong hệ
thống giáo lý của mình. Như dịch giả Gö Lotsawa đã ghi chép trong cuốn Thanh
sử (Blue Annals): "Dù có nhiều người khiển trách bậc Nhất thiết
trí xứ Giác-nang [Dölpopa] vì đã sai lầm khi thừa nhận Như Lai Tạng đại diện
cho một chân lý thật tính vật chất, nhưng dường như rất nhiều người ở vùng dbus
Ü (dbus) và Tsang (gtsaṅ) — những người từng
chuyên tâm nghiên cứu luận tối thượng thừa — đều đã được thọ học từ ngài.¹
Mặc dù bản chú giải của Dölpopa về bộ luận Ấn Độ này không
trực tiếp làm hiển lộ những tư tưởng cốt lõi tạo nên tên tuổi của ông,² nhưng
thực tế là Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra)
đóng vai trò trung tâm trong việc định hình giáo lý Tha Không của ông. Điều này
có thể được tìm thấy một cách dễ dàng trong cuốn Sơn Pháp (Mountain
Doctrine) — một tác phẩm mang tính nền tảng đã trình bày quan điểm giáo lý
của ông một cách vô cùng sáng tỏ và uyên bác. Trong tác phẩm nguyên tác này,
ông đã trích dẫn bộ luận một cách phóng khoáng để chứng minh cho các quan điểm
của mình.
Do đó, rõ ràng là Luận Tối Thượng Thừa đã đóng một vai trò quan trọng đối với Dölpopa trong việc thiết lập quan điểm Tha Không cùng các tư tưởng hệ lụy đi kèm — những tư tưởng mà sau này, như sẽ được thảo luận ở các chương sau, đã bị một số học giả Tây Tạng coi là gây tranh cãi và đôi khi là báng bổ. Tương đồng với nhận định của Wilfred Smith: "Không có văn bản nào tự thân và mặc nhiên là một kinh điển thiêng liêng. Chính con người — một cộng đồng cụ thể — biến một văn bản thành kinh điển, hoặc duy trì vị thế kinh điển của nó bằng cách đối xử với nó theo một phương thức nhất định."³ Mặc dù bộ luận này vốn đã đạt được vị thế của một "kinh điển" từ trước đó, nhưng chính trong thời kỳ này, luận tối thượng thừa mới đạt đến đỉnh cao hoàng kim của nó.
2- SỰ ƯU THẾ CỦA CÁC KINH ĐIỂN THUỘC CHUYỂN PHÁP LUÂN LẦN THỨ BA (bánh xe pháp cuối cùng) |
Tiếp bước các nhà chú giải Tây
Tạng tiên phong về Luận Tối Thượng Thừa
(Uttaratantra), những tư tưởng gia Tây Tạng vào thế kỷ mười
bốn như Dölpopa, Sazang), Gyelsé Tokmé và Longchenpa đều lập luận rằng: Luận Tối Thượng Thừa là một tác phẩm chú
giải chuyên sâu về nghĩa lý rốt ráo (liễu nghĩa) của các kinh điển thuộc thời kỳ
Chuyển pháp luân cuối cùng.
Đối với Dölpopa, một văn bản được
coi là liễu nghĩa (nghĩa rốt ráo) hay bất liễu nghĩa (nghĩa phương tiện) mang
hàm ý gì? Dựa trên các bộ kinh như Kinh Vô Tận Tuệ Sở Thuyết
(Akṣayamatinirdeśa-sūtra) và Kinh Tam Muội Vương (Samādhirāja-sūtra),
ông thường định nghĩa những kinh điển nào dạy một cách hiển ngôn về chân lý quy
ước (Tục đế) là bất liễu nghĩa (provisional), và những kinh điển nào giải thích
rõ ràng về chân lý tối hậu (Chân đế) là liễu nghĩa (definitive).
Chẳng hạn, ông sử dụng cụm từ “tục đế tự không” (kun
rdzob rang stong)⁴ khi thảo luận về nghĩa bất liễu nghĩa của các giáo lý
thuộc thời kỳ Chuyển pháp luân lần thứ hai (Nhị chuyển pháp luân), và cụm từ
“chân đế quyết định” (don dam nges pa)⁵ để chỉ nghĩa liễu nghĩa của các
kinh điển thuộc thời kỳ Chuyển pháp luân cuối cùng.
Nói cách khác, Dölpopa
giải thích khái niệm về nghĩa bất liễu nghĩa bằng ngôn ngữ phủ định (negative
language) — chẳng hạn như các hiện tượng trống rỗng không có tự tánh hoặc không
tồn tại thực thể — đồng thời sử dụng các ẩn dụ như ảo ảnh và giấc mơ để biểu thị
ý niệm rằng vạn vật không hề tồn tại theo cách mà tâm trí chúng ta nhìn thấy.
Ngược lại, ông mô tả nghĩa liễu nghĩa bằng ngôn ngữ khẳng định (cataphatic
language) — thông qua các thuật ngữ như “tự tánh thanh tịnh”, “đầy đủ các công
đức của Phật”, và “tồn tại một cách rốt ráo” — bằng cách viện dẫn các ví dụ như
mặt trời và vàng ròng nhằm biểu trưng cho một thực tính kiên cố, trường tồn đối
với chúng sinh thông thường.
Mặc dù Dölpopa và các tư tưởng
gia Tây Tạng khác đồng thuận về những định nghĩa được trình bày trong Kinh
Vô Tận Tuệ Sở Thuyết và Kinh Tam Muội Vương, họ lại không đồng nhất
ý kiến về việc cái gì cấu thành nên chân lý quy ước (Tục đế) hoặc chân lý tối hậu
(Chân đế).
Hơn nữa, Dölpopa còn
viện dẫn Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocana-sūtra) như một nguồn
văn bản căn bản khác để vạch rõ sự khác biệt giữa các giáo lý liễu nghĩa và các
giáo lý cần phải diễn giải (bất liễu nghĩa). Ông phát biểu: “Sự khác biệt của
Ba thời chuyển pháp luân liên quan đến việc chúng thuộc loại cần diễn giải hay
là liễu nghĩa, cũng như liên quan đến việc chúng có được giảng dạy một cách rõ
ràng trong sự phân định rạch ròi (thiện phân biệt) hay không, đã được thiết lập
cụ thể trong Kinh Giải Thâm Mật.”⁶
(Như bạn sẽ thấy ở phần sau, các đối thủ của ông, như
Tông-khách-ba [Tsongkhapa] và những người khác, cực kỳ phản đối Dölpopa trong việc khẳng định Kinh
Giải Thâm Mật là một nguồn văn bản hợp pháp để phân định giữa nghĩa liễu
nghĩa và nghĩa bất liễu nghĩa.) Dölpopa
mở rộng thêm về những gì được hàm chứa trong khái niệm “phân định rạch
ròi” (thiện phân biệt) này:
Theo cách này, thời kỳ Chuyển pháp luân thứ hai (Nhị chuyển
pháp luân) do xuất phát từ ý định có chủ ý (mật ý) nên đã giảng dạy rằng ngay cả
những gì không phải là 'tự không' cũng đều là 'tự không', và cứ tiếp tục như vậy;
do đó, thời kỳ này không sở hữu sự phân định rạch ròi (thiện phân biệt), nghĩa
là không tránh khỏi những mâu thuẫn nội tại. Vì những lý do như vậy, [Kinh
Giải Thâm Mật] tuyên thuyết rằng [thời kỳ chuyển pháp luân thứ hai] 'là hữu
thượng (có thể vượt qua), tạo cơ hội [cho sự bác bỏ], thuộc loại cần phải diễn
giải (bất liễu nghĩa), và đóng vai trò làm chỗ dựa cho các cuộc luận chiến.'
Ngược lại, đối với thời kỳ Chuyển pháp luân thứ ba (Tam
chuyển pháp luân), nhờ vào lý do rằng nó phân định các nghĩa lý một cách rạch
ròi đúng như thực tính của chúng, và các điều tương tự như vậy, [Kinh Giải
Thâm Mật] tuyên thuyết rằng thời kỳ này 'là vô thượng (không thể vượt qua),
không tạo cơ hội [cho sự bác bỏ], thuộc về nghĩa lý rốt ráo (liễu nghĩa), và
không đóng vai trò làm chỗ dựa cho các cuộc luận chiến.'”⁷
Dölpopa lập luận một cách cốt lõi rằng các kinh điển diễn
giải vạn pháp là tự tánh không (self-empty) hay không có tự tánh thì đều
thuộc loại bất liễu nghĩa (cần phải được diễn giải); trái lại, các kinh điển
không đưa ra một tuyên bố hiển ngôn như vậy, mà đúng hơn là phân định rõ ràng
giữa các hiện tượng vô tự tánh và các hiện tượng không vô tự tánh, mới là liễu
nghĩa (nghĩa rốt ráo). Do đó, Chuyển Pháp Luân lần thứ nhất thuộc loại bất liễu
nghĩa còn Chuyển Pháp Luân lần thứ ba thì không (tức là liễu nghĩa), bởi vì hệ
thống thứ nhất giảng dạy rằng các hiện tượng thuộc tục đế tồn tại một cách có tự
tánh, trong khi hệ thống thứ ba lại giải thích rõ ràng rằng các hiện tượng thuộc
tục đế thì trống rỗng không có tự tánh, còn Như Lai Tạng mới là thực tại tối hậu—thứ
tương đương với Tha Tánh Không (other-emptiness). Mặc dù Dölpopa không hề
ngần ngại khi phân loại Chuyển Pháp Luân lần thứ nhất hay lần thứ ba vào nhóm
giáo lý phương tiện thuyết hay liễu nghĩa, ông lại không có được một nhiệm vụ dễ
dàng như vậy đối với các giáo lý thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ hai. Trong tác
phẩm Biện Định Sơ Lược (gshags ’byed bsdus pa), ông tuyên thuyết:
“Hơn
nữa, sau khi đã chủ yếu giải thích về đối tượng phủ định—tức cái tự tánh không
thuộc tục đế vốn không vượt ra ngoài duyên khởi—Chuyển Pháp Luân lần thứ hai,
thì Chuyển Pháp Luân lần thứ ba chủ yếu giảng dạy về nền tảng của sự phủ định—tức
cái tha tánh không thuộc thắng nghĩa vốn vượt ngoài duyên khởi. Tuy nhiên, điều
đó không có nghĩa là nền tảng của sự phủ định không được giải thích trong Chuyển
Pháp Luân lần thứ hai.”8
Đối với Dölpopa, hoàn toàn rõ ràng rằng Chuyển Pháp Luân lần thứ hai cũng diễn
giải về cái tha tánh không thuộc thắng nghĩa.9 Hơn thế nữa, Dölpopa
chứng minh rằng Chuyển Pháp Luân lần thứ
hai tạo ra một mối liên kết đến trí tuệ Bát-nhã ba-la-mật thâm diệu—thứ vốn
để chỉ cái tha tánh không thuộc thắng nghĩa được xiển dương trong Chuyển Pháp
Luân lần thứ ba.10
Xét các định nghĩa được đề cập ở trên, phải chăng điều
này có nghĩa là Dölpopa quả quyết các giáo lý thuộc Chuyển Pháp Luân lần thứ
hai là liễu nghĩa (nghĩa rốt ráo)? Trong tác phẩm Mặt Trời Làm Sáng Tỏ Nhị Đế
(bden gnyis gsal ba’i nyi ma), Dölpopa khẳng định: 'Đức Thế Tôn đã giải
thích trong kinh Giải Thâm Mật rằng Chuyển
Pháp Luân thứ nhất và thứ hai đều thuộc loại bất liễu nghĩa (phương tiện
thuyết).'11 Jeffrey Hopkins cũng lập luận rằng: ‘Chuyển
Pháp Luân lần thứ hai cần phải được diễn giải (bất liễu nghĩa) vì
nó vừa thiếu sự minh bạch về việc cái gì thật sự tồn
tại và không tồn tại về mặt rốt ráo, vì nó lại vừa đã thổi phồng giáo lý về tự tánh không khi mở
rộng khái niệm này sang cả cõi thắng nghĩa bằng cách tuyên bố rằng thắng nghĩa
đế không có sự tồn tại rốt ráo.'12 Do đó, mặc dù Dölpopa tuyên bố rằng
bánh xe giáo pháp ở giữa có giảng dạy về cái tha tánh không thuộc thắng nghĩa,
ông lại chứng minh rằng đó là một giáo lý mang tính bất liễu nghĩa bởi vì nó dạy
một cách hiển ngôn rằng tất cả vạn pháp đều trống rỗng không có tự tánh.13
Nói cách khác, nó không giảng dạy một cách hiển ngôn về thắng nghĩa đế. Chẳng hạn,
Dölpopa đã khẳng định trong bản chú giải Luận
Tối Thượng Thừa của
mình: 'Nếu quan niệm rằng Như Lai Tạng tồn tại là một nghĩa liễu nghĩa, thì mật
ý đằng sau các kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa và vân vân—vốn dạy rằng tất cả
vạn pháp đều trống rỗng không có tự tánh nhưng lại hiển hiện [như thể có tự
tánh], tựa như những đám mây, giấc mơ, và ảo ảnh—là gì?'14
Đối với Dölpopa, các kinh điển thuộc Chuyển Pháp Luân lần
thứ ba chẳng hạn như kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra),
kinh Lăng Già (Laṅkāvatārasūtra), và kinh Như Lai Tạng (Tathāgatagarbhasūtra),
cùng các nguồn luận sớ Ấn Độ của chúng như các tác phẩm của Di Lặc, Vô Trước
(Asaṅga), và Thế Thân (Vasubandhu) là những yếu tố cốt lõi để xác định điều gì
cấu thành nên cái tha tánh không thuộc thắng nghĩa và nghĩa liễu nghĩa (nghĩa rốt
ráo). Trong tác phẩm Mặt Trời Làm Sáng Tỏ Nhị Đế, Dölpopa đã đưa ra một
câu hỏi tu từ mang tính lập luận rằng: nếu các kinh điển giảng dạy về Như Lai Tạng
không phải là liễu nghĩa, thì làm sao các văn bản mật tông như Thời Luân Kim
Cang (Kālacakra), Thắng Lạc Kim Cang (Cakrasaṃvara),
và vân vân, có thể là liễu nghĩa được?15 Do đó, ông không để lại
chút hoài nghi nào về việc Luận Tối Thượng
Thừa nắm giữ một vị thế vô cùng
trọng yếu trong lòng hệ thống văn tịch Đại thừa, bởi lẽ nó giảng dạy về nghĩa
liễu nghĩa của thắng nghĩa đế (chân lý tối hậu). Giống như bánh xe giáo pháp ở
giữa được xem là văn bản tạo mối liên kết đến 'trí tuệ Bát-nhã ba-la-mật thâm
diệu', các giáo lý thuộc bánh xe giáo pháp cuối cùng bao gồm cả Luận Tối Thượng Thừa chính là các luận thư nối kết giữa Hiển giáo và Mật giáo
(mdo sngags gnyis kyi mtshams sbyor gyi gzhung) trong truyền thống Jonang.
3- LUẬN TỐI THƯỢNG THỪA LÀ MỘT VĂN BẢN THUỘC
DUY THỨC TÔNG (CITTAMĀTRA) HAY TRUNG QUÁN TÔNG (MADHYAMAKA)? |
Như đã được trình bày trong hai chương trước, Luận Tối Thượng Thừa nhìn chung được chấp nhận là một luận thư thuộc hệ Trung
Quán (Madhyamaka) trong phần lớn giai đoạn đầu của lịch sử văn bản này tại
Tây Tạng. Tuy nhiên, tại Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn, như sẽ được thấy
trong chương 5 và chương 6, các học giả như Butön, Rendawa, và Tsongkhapa đã
thách thức vị thế thẩm quyền của văn bản này bên trong hệ thống giáo lý Đại thừa
bằng cách đặt nó vào trong khuôn khổ của Duy Thức tông (Cittamātra). Việc
họ hạ thấp thứ hạng tông phái của Luận Tối
Thượng Thừa trong
bảng phân loại giáo lý Đại thừa được thực hiện một cách chiến lược, chủ yếu nhằm
phản ứng lại phần trình bày giáo lý do Dölpopa thiết lập. Giờ đây, tôi xin được
chuyển sang phân tích cách thức mà ông [Dölpopa] trình bày về hai tông phái
này.
Bằng cách trích dẫn vô số nguồn tư liệu Ấn Độ có thẩm quyền
được lựa chọn một cách chiến lược—một phần để minh chứng cho cách diễn giải của
mình về Tha Tánh Không (other-emptiness),17 và một phần nhằm
phản hồi lại những lời phê phán mà các đối thủ hướng vào cách luận giải của ông
đối với các văn bản Đại thừa—Dölpopa đã lập luận các điểm sau: (1) Duy Thức
tông (Cittamātra) được phân chia thành Thế tục Duy Thức (kun rdzob
pa’i sems tsam) và Thắng nghĩa Duy Thức (don dam pa’i sems tsam);
(2) Duy Thức tông không được phép bị đánh đồng với Biểu thức bộ (Vijñānavāda
/ Duy thức luận phái); (3) Trung Quán tông (Madhyamaka) được nhóm thành
Trung Quán Vô Tướng (snang med dbu ma) và Trung Quán Hữu Tướng (snang
bcas dbu ma). Hệ thống phân loại giáo lý Đại thừa này của ông khác biệt một
cách đáng kể so với hệ thống của các học giả Tây Tạng khác vào thế kỷ thứ mười
bốn."
Để xem xét các phân loại giáo lý Đại thừa của Dölpopa, những
câu hỏi sau đây cần được giải quyết: Dölpopa dựa vào các nguồn văn bản kinh điển
nào cho việc phân loại các học phái Đại thừa của mình? Tại sao và bằng cách nào
ông phân biệt hệ thống Trung Quán của mình với Duy Thức tông (Cittamātra)?
Tại sao và bằng cách nào ông lập luận cho sự khác biệt giữa Duy Thức tông và Biểu
thức bộ (Vijñānavāda)?18 Ai là người trực tiếp ảnh hưởng đến
ông? Các vấn đề này sẽ được thảo luận chủ yếu, nhưng không chỉ giới hạn, dựa
trên các tác phẩm của Dölpopa như Nhị Đế Minh Hiển Nhật Luân Luận, Bức
Thư Gửi Ponjangba;19 Đại Kế Toán Của Đại Hội Kết Tập Thứ Tư20
cùng bản chú giải của nó;21 và bản chú giải tác phẩm Hiện Quán
Trang Nghiêm Luận của ông.22
Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các
phương pháp phân loại văn tịch Đại thừa khác nhau, cách luận giải của Dölpopa vẫn
mang lại những kiến giải vô cùng sắc sảo và tinh tế, vốn là điều độc nhất vô nhị
trong bối cảnh lịch sử và tư tưởng của riêng ông. Cho đến nay, giới học giả quốc
tế chủ yếu tập trung vào các cách phân loại giáo lý như: Du Già Hạnh - Trung
Quán tông và Kinh Lượng - Trung Quán tông;23 Trung Quán Ứng Thành
phái và Trung Quán Tự Tự Khởi phái;24 hay Duy Thức Hữu Tướng và Duy
Thức Vô Tướng25 bên trong lịch sử văn bản của các hệ thống triết học
Phật giáo.26 Một số học giả Tây Tạng truyền thống và quốc tế mặc định
rằng các nhà tư tưởng Tây Tạng đã luôn đi theo hệ Trung Quán chứ không phải Duy
Thức tông27 ngay từ thời kỳ đầu khi truyền thống học thuật Phật giáo
được du nhập vào Tây Tạng vào thế kỷ thứ tám; và rằng các học giả Tây Tạng truyền
thống luôn ưu tiên phái Trung Quán Ứng Thành hơn là Trung Quán Tự Tự Khởi kể từ
thế kỷ thứ mười ba tại Tây Tạng.28 Rõ ràng, như sẽ được chứng minh ở phần sau,
hệ thống phân loại Đại thừa của Dölpopa không hề khớp vào bất kỳ cấu trúc phân
loại Đại thừa nào vốn thường được chấp nhận là chuẩn tắc này. Giờ đây, tôi xin
được chuyển sang phân tích hệ thống phân loại giáo lý đầy tinh tế của Dölpopa—một
hệ thống phần lớn đã bị gạt ra ngoài lề vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là
các yếu tố mang tính tông phái, chính trị và giáo điều."
4 - HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CỦA DUY THỨC TÔNG
Thuật ngữ Cittamātra (Duy Thức) vốn dĩ được tìm thấy
trong nhiều kinh điển Đại thừa thời kỳ đầu với các lớp nghĩa khác nhau, như
Christian Lindtner đã lập luận: 'có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ kinh
điển Cittamātra trong Đại thừa: cách hiểu của hệ Trung Quán, cách hiểu của
hệ Du Già Hành Tông (Yogācāra),
và có lẽ là cả của hệ 'Trung Quán - Du Già Hạnh.' '29 Do đó, mặc dù Cittamātra
không phải là thuật ngữ được sử dụng độc quyền bởi học phái mang chính tên gọi
này, nhưng với tư cách là một danh từ riêng, nó được dùng đồng nghĩa với phái
Du Già Hành Tông hoặc
Biểu thức bộ (Vijñānavāda) trong lịch sử phân loại giáo lý Đại thừa. Vì
danh từ riêng này chính là điều mà Dölpopa cùng các học giả Tây Tạng khác cùng
thời chủ yếu quan tâm khi đưa ra các lời luận giải về những yếu tố cấu thành
nên Duy Thức tông, nên tôi đã sử dụng từ này thay vì các thuật ngữ khác trong
phần lớn chương này.
Theo M. D’amato,30 Duy thức tông (Cittamātra) giai đoạn đầu có thể được cấu
trúc một cách khái quát thành ba giai đoạn lớn. "Giai đoạn đầu tiên"
của Duy thức tông bao gồm các kinh điển
có tầm ảnh hưởng lớn như Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra) và Luận
Du-già Sư Địa (Yogācāryabhūmi); "giai đoạn thứ hai" gồm các
tác phẩm luận giải như Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahāyānasūtrālaṃkāra)
cùng bản chú giải của nó; và "giai đoạn thứ ba" – nơi mà D’amato gọi
là "giai đoạn cổ điển" – bao gồm các tác phẩm Duy thức tông của Vô Trước (Asaṅga) và Thế Thân
(Vasubandhu). Bất kể việc có tồn tại một trường phái tư tưởng mang tên
Duy thức tông trong các giai đoạn này hay không, các học
giả Phật giáo đời sau vẫn xem những tác phẩm và nhân vật này là nguồn tảng nền
móng cho Duy thức tông31.
Do đó, hệ tư tưởng Duy thức tông
mà Dölpopa cùng các học giả Tây Tạng khác giải thích trong các tác phẩm của họ
không thể được thảo luận hay thấu hiểu một cách chính xác nếu không tham chiếu
đến các nhân vật32 hoặc nguồn kinh luận Ấn Độ được đề cập ở đây. Hơn
nữa, hệ tư tưởng Duy thức tông
vốn là tâm điểm tranh luận trong môi trường học thuật Tây Tạng thời Dölpopa
chính là hệ tư tưởng Duy thức tông
từng bị các học giả Trung quán tông (Madhyamaka) Ấn Độ như Thanh Biện (Bhāviveka),
Nguyệt Xứng (Candrakīrti), và Tịch Thiên (Śāntideva) chỉ trích
trong các tác phẩm của họ. Sự phê phán Duy thức tông
của các bậc thầy Ấn Độ này sau đó đã được các môn đồ Tây Tạng của họ tiếp nối một
cách trung thành.
Dölpopa rõ ràng đang đối mặt với một thách thức lớn ở
đây. Làm thế nào mà một trường phái vốn bị xem là thứ yếu so với Trung quán
tông (Madhyamaka) trong suốt một thời gian dài – ít nhất là từ thế kỷ thứ
sáu trong văn học Đại thừa Ấn Độ – lại có thể được bảo vệ tại Tây Tạng vào thế
kỷ mười bốn, nơi mà Trung quán tông, trái ngược với Duy thức tông (Cittamātra), đã được tuyên bố là
quan điểm giáo lý tối cao? Để trả lời điều này, chúng ta cần hiểu lập trường của
các đối thủ của Dölpopa đối với Duy biểu tông là gì. Theo Dölpopa, nhiều học giả
Tây Tạng đương thời với ông đã khẳng định một cách sai lầm rằng: (1) Kinh Giải
Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra), Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahāyānasūtrālaṃkāra),
v.v. là các văn bản thuộc Biểu Thức
bộ (Vijñānavāda); (2) các thuật ngữ như
"ba tự tính" (ngo bo nyid gsum) và "A-lại-da thức"
(thức nền tảng của vạn vật) là đặc thù riêng của Duy Thức học; (3) Vô Trước (Asaṅga)
và Thế Thân (Vasubandhu) chỉ thuần túy là những người truyền bá Duy Thức
học. Như người ta có thể dễ dàng suy luận từ điều này, cách diễn giải của
Dölpopa về Duy Thức tông rõ ràng khác biệt với Duy Thức tông của "giai đoạn
cổ điển" và khác với quan điểm của các học giả Tây Tạng về Duy Thức tông tại
Tây Tạng vào thế kỷ mười bốn.
Dölpopa, người vốn am tường lịch sử căng thẳng giữa Trung
quán tông (Madhyamaka) và Duy Thức tông (Cittamātra) trong các
nguồn tài liệu Ấn Độ, không thể chỉ bác bỏ các quan điểm do những học giả Tây Tạng
đương thời đưa ra mà không đưa ra bất kỳ nguồn văn bản luận giải nào, bởi ông
nhận thức đầy đủ một thực tế rằng Vô Trước (Asaṅga) và Thế Thân (Vasubandhu)
có giải thích quan điểm Biểu Thức
bộ (Vijñānavāda) trong các tác phẩm của họ.
Do đó, điều ông đề xuất một cách chiến lược là các học giả Ấn Độ thời kỳ đầu
này đã làm sáng tỏ trong văn bản của họ nhiều điều hơn là thứ Duy thức tông vốn được hiểu bởi những học giả Tây Tạng
đương thời với ông. Vì vậy, ông lập luận rằng Duy thức tông được phân loại thành Duy thức Tục đế (Duy biểu Tương đối) và Duy thức Chân đế (Duy biểu Tuyệt đối),33 mà
không tham chiếu nhiều đến cách phân chia Duy thức tông vốn được biết đến rộng rãi hơn.34
Ông tranh luận rằng Duy thức Tục
đế chính là Biểu Thức
bộ, thứ mà các học giả Tây Tạng đương thời đã lầm tưởng là loại Duy thức tông duy nhất. Ông tiếp tục lập luận rằng Duy
thức Chân đế mới là ý nguyện rốt ráo của Vô Trước
và Thế Thân, điều mà các đồng nghiệp học giả Tây Tạng của ông cùng một số bậc
thầy Ấn Độ thời kỳ đầu như Sư Tử Hiền (Haribhadra) và Giải Thoát Quân (Vimuktisena)
đã không thấu hiểu trọn vẹn. Ông chứng minh thêm rằng chính Duy thức Chân đế này mới là Đại Trung quán của tính
"Tha không" (không về cái khác), vốn là trung tâm trong thế giới quan
Đại thừa của ông. Hơn nữa, ông sử dụng các thuật ngữ như "Duy thức Phi Chân đế" và "Duy thức Chân đế",35 cùng với
"Duy thức Thế gian" và "Duy thức Xuất thế gian"36 để lần lượt
chỉ hai danh mục này. Do đó, đối với Dölpopa, không có sự khác biệt nào giữa
Duy thức Chân đế và Trung quán tông mà ông trung thành
phụng sự, vốn không gì khác hơn là Trung quán tông Hữu tướng. (Điều này sẽ được
nói rõ hơn ở phần sau của chương.) Ông cũng không thấy có bất kỳ sự khác biệt
nào giữa Duy thức Tục
đế và thứ Duy thức tông
mà những người khác đã gán ghép một cách sai lầm—theo Dölpopa—là quan điểm rốt
ráo của Vô Trước và Thế Thân.
Vậy, Duy thức Tục
đế là gì, và Dölpopa có những nguồn văn bản luận giải nào, nếu có, để hỗ trợ
cho khẳng định của mình? Như Dölpopa lập luận, “Bởi
vì chỉ thuần túy có thức được khẳng định là tồn tại một cách rốt ráo, nên đó là
Duy thức tông- Cittamātra
[Biểu Thức bộ- Vijñānavāda].”37 Hơn
nữa, Dölpopa nói: “Những ai khẳng định rằng
các hiện tượng rốt ráo là chân thật [tồn tại cũng như là] thức (consciousness)
thì là những người truyền bá
Duy thức tông
[Biểu Thức bộ].” Những ai khẳng định rằng [chân lý rốt ráo] là
bản giác (trí tuệ nguyên sơ) vượt ngoài sự chân thật [tồn tại] và thức thì là những người truyền bá Trung
quán tông.”38 Do
đó, Dölpopa chủ yếu định nghĩa Duy thức Tục đế là một trường phái tuyên bố rằng
chỉ thuần túy có thức (rnam shes tsam) là tồn tại một cách rốt ráo, điều
mà đối với ông có nghĩa là thức (rnam
shes) – thứ vốn không thuộc phạm vi của bản giác (ye shes) – được chấp
nhận là thực tại rốt ráo. Một
điều thú vị là, chính vì lý do này mà ông lập luận rằng “Duy Thức Tục đế cũng giống như Duy Thức tông [Cittamātra]
được biết đến rộng rãi ngày
nay, và nó được gọi là Biểu Thức
bộ [Vijñānavāda].”39 Trong khi
ông khẳng định rằng việc xem thức tồn
tại một cách rốt ráo là một đặc điểm định hình của Biểu Thức
bộ [Vijñānavāda], ông lại không chấp nhận rằng
ba tự tính40 và tám thức là những đặc trưng phân biệt riêng của Duy Thức Tục đế.42
Đối với các nguồn văn bản luận giải cho sự phân biệt giữa
Biểu Thức
bộ (Vijñānavāda)
và Duy Thức tông (Cittamātra) – trường phái mà ông khẳng
định là giáo phái rốt ráo của Phật giáo – ông lập luận: “Tóm lại, việc khẳng định
các hiện tượng rốt ráo như thực
thể và thức chính là Duy Thức tông, và
việc khẳng định [các hiện tượng rốt ráo] là bản giác, thứ vượt ngoài thực thể
và thức, chính là Trung Quán Tông,
như đã được giải thích trong Kinh Thời Luân (Śrīkālacakra) . . . và bản
chú giải của nó, Vô Cấu Quang Luận (Vimalaprabhā).”43 Cả Kinh
Thời Luân lẫn Vô Cấu Quang Luận đều
không đưa ra bất kỳ sự tương quan nào giữa Biểu Thức bộ (Vijñānavāda) với các khái niệm về ba tự tính và A-lại-da
thức (thức nền tảng), mà thay vào đó, cả hai văn bản này đều giải thích Biểu Thức
bộ trong
phạm vi khẳng định vạn vật chỉ thuần túy là thức
(rnam shes tsam). Mặc dù thuật ngữ Duy
thức tông (Cittamātra)
không được sử dụng trong cả Kinh Thời
Luân và Vô Cấu Quang Luận, nhưng
các thuật ngữ “Biểu Thức bộ” (Vijñānavāda) và “Du-già hành tông” (Yogācāra)
lại được dùng thay thế cho nhau trong Vô
Cấu Quang Luận để chỉ trường phái mà Dölpopa dán nhãn là Duy thức Tục
đế
trong các tác phẩm của mình. Việc
ưu tiên lựa chọn ngôn ngữ sử dụng thuật ngữ Biểu Thức bộ (Vijñānavāda thay
vì Duy thức tông (cittamatra) để phân biệt trường phái trước
với Trung quán tông trong các văn bản có thẩm quyền này dường như đồng điệu mạnh
mẽ với sự phân biệt mà Dölpopa vạch ra giữa Biểu Thức bộ và Duy thức
tông.
Như đã được đề cập trong chương này, thuật ngữ trước (Biểu Thức
bộ)
cũng tương tự như Duy thức Tục đế, trong khi thuật ngữ
sau (Duy thức tông) được chia thành Duy thức Tục
đế
– thứ mà Dölpopa không theo đuổi – và Duy
thức Chân đế, điều
mà ông xem là quan điểm rốt ráo của Phật giáo Đại thừa.
Tuy nhiên, một thách thức mà Dölpopa phải đối mặt khi cấu
trúc lại Duy thức tông
(Cittamātra) là vấn đề về các nguồn văn bản có thẩm quyền cho Duy thức Tục đế hay Biểu Thức
bộ (Vijñānavāda).
Không giống như các học giả Tây Tạng đương thời, ông gặp phải một số vướng mắc
trong việc xác định bất kỳ bản kinh hay tác phẩm luận giải Ấn Độ nào để làm nguồn
tài liệu chính thống cho Biểu Thức bộ.45
Vì những lý do rõ ràng, ông cũng không tuyên bố Vô Trước (Asaṅga) là bậc
khai tổ của Duy Thức học, Duy
Thức Luận phái, hay Biểu Thức
bộ. Thế nhưng, Dölpopa đã lập luận một cách khéo
léo rằng Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra) cùng các luận thư được
cho là của Di Lặc (Maitreya) và Vô Trước chỉ giảng dạy Duy thức tông như một phương tiện tạm thời.46
Đối với ông, các kinh điển này tạm thời dạy Biểu Thức học ở chỗ chúng sử dụng một số thuật ngữ Biểu Thức
bộ
theo nghĩa đen, đóng vai trò như một bước đệm để hướng tới sự thấu hiểu rốt ráo
về Duy thức Chân đế—vốn là điều mà các bản
kinh này hướng đến giảng dạy một cách tối hậu và triệt để. Mặc dù vậy, Jangsem Gyelwa Yeshé (byang
sems rgyal ba ye shes, 1247–1320), vị tổ thứ hai của truyền thừa Jonang
(Giác-tạng phái), lại xác định rõ ràng47 rằng cả Vô Trước và Thế
Thân (Vasubandhu) đều là những người truyền bá Duy Thức Tông hay
Biểu Thức
Bộ,
và các luận thư của họ chính là nguồn văn bản cho Duy Thức Tông, mà
không đưa ra bất kỳ sự phân biệt nào giữa Duy thức Tục đế và Duy thức Chân đế.
Tóm lại, với tư cách là một học giả Tây Tạng đầy tranh
cãi ở thế kỷ mười bốn khi diễn giải các luận thư Đại thừa, Dölpopa đã đi ngược
lại với cách cấu trúc mang tính chủ lưu của Tây Tạng về Duy Thức Tông (Cittamātra)
– trường phái vốn thường bị xem là thấp kém hơn Trung Quán Tông (Madhyamaka) xét về mặt diễn giải chân lý rốt
ráo. Bằng cách sử dụng các nguồn tài liệu Ấn Độ, Dölpopa đã thiết lập hai danh
mục của Duy thức tông,
đáng chú ý là Duy thức Tục đế và Duy thức Chân
đế.
Qua đó, ông đã đưa trường phái sau (Duy thức Chân
đế) – vốn không gì khác hơn chính là hệ Trung
quán tông mà truyền thừa của ông theo đuổi – trở thành trung tâm trong truyền
thống Jonang (Giác-tạng phái) của mình. Giờ đây, chúng ta sẽ chuyển sang phần
bàn về sự phân loại Trung quán tông.
5- HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CỦA TRUNG
QUÁN TÔNG
Với tư cách là một học giả Tây Tạng được đào tạo tại truyền
thống Sakya vào thế kỷ XIV ở Tây Tạng, Dölpopa chắc chắn thông thạo toàn bộ các
phạm trù phân loại học thuyết (doxographical categories) của Trung Quán
(Madhyamaka), chẳng hạn như Du-già hành
Trung Quán (Yogācāra-Madhyamaka) và Kinh lượng bộ Trung Quán (Sautrāntika-Madhyamaka), vốn được sử dụng
ở Tây Tạng từ thế kỷ VIII đến XI; cũng như Ứng Thành Trung
Quán (Prāsaṅgika-Madhyamaka) và Tự Quản Tông Trung Quán
(Svātantrika-Madhyamaka), những hệ thống đã chi phối phần lớn các trước
tác về hệ thống giáo nghĩa Tây Tạng kể từ thế kỷ XIII. Ông cũng hoàn toàn nhận thức được ảnh hưởng
ngày càng gia tăng của phái Ứng Thành Trung Quán (Prāsaṅgika-Madhyamaka)
trong diễn ngôn học thuật Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ XIV. Tuy nhiên, vì mục
tiêu chính của ông là làm sáng tỏ khái niệm tha không (other-emptiness, gzhan stong) và phê phán quan
điểm tự không (self-emptiness, rang
stong) nói chung, nên trong các trước tác của mình, Dölpopa không
bày tỏ sự quan tâm đến việc trình bày hay phân tích sự khác biệt giữa Ứng
Thành Trung Quán và Tự
Quản Tông Trung Quán.49
Trong khi các học giả Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn
nhìn chung đều xem Trung quán Quy mậu Luận phái (Prāsaṅgika-Madhyamaka /
Ứng thành phái) là học phái cao nhất của hệ thống Đại thừa, thì ngài Dölpopa lại
công khai lập luận ngược lại rằng: học phái Phật giáo tối cao phải tuyên thuyết
về cái mà ngài gọi là "Tha không" (other-emptiness / Shentong),
chứ không phải "Tự không" (self-emptiness / Rangtong).
Do đó, đối với Dölpopa, Trung quán chân chính là học phái không chỉ thoát ly khỏi
cực đoan xem "duy thức" là thực tại tối hậu, mà còn phải thoát ly khỏi
cực đoan xem "tục đế/chân đế tối hậu" là trống rỗng không có tự tánh.
Vì vậy, Dölpopa đề xuất rằng Trung quán Hữu tướng
(Madhyamaka with Appearance) mới là học phái cao nhất của Phật giáo, vượt
xa cả cái mà ngài gọi là "Trung quán Vô tướng" (Madhyamaka
without Appearance) — hệ thống mà Dölpopa xếp các học phái như Trung quán
Quy mậu (Prāsaṅgika-Madhyamaka / Ứng thành phái) và Trung quán Tự
Quản Tông (Svātantrika-Madhyamaka
/ Tự ý phái) vào trong đó. Do đó, Dölpopa lập luận rằng chính cách phân loại
Trung quán này mới là một hệ thống phân loại khả thi và hợp lý, chứ không phải
những hệ thống đang hiện hành vào thời bấy giờ của ngài.
Ở đây, một câu hỏi có thể được đặt ra là liệu Dölpopa có
bất kỳ nguồn giải thích (kinh điển) nào cho cách phân loại Trung quán của mình
hay không. Ông lập luận rằng hai loại Trung quán này được tìm thấy trong Kinh
Lăng Già (Laṅkāvatārasūtra).52
Nương vào duy tâm,
Người ta không tưởng tượng về ngoại cảnh.
Nương vào bất hiện (không hiển hiện),
Người ta vượt lên trên duy tâm.
Nương vào việc quán sát thực tại,
Người ta vượt lên trên bất hiện.
Nếu các hành giả du-già trụ vào bất hiện,
Họ sẽ không chứng ngộ được Đại thừa.53
Ngay sau các bài kệ trích từ kinh, Dölpopa kết luận: “Mật
ý của các kinh thuộc [Chuyển pháp luân] thời kỳ giữa, cái vốn vượt trên Duy thức
tông (Cittamātra), được thiết lập dựa trên hệ Trung quán tạm thời Không có Tướng
trạng (Madhyamaka without Appearance). Mật ý của các kinh thuộc [Chuyển pháp
luân] thời kỳ cuối, cái vốn vượt trên hệ Trung quán tạm thời Không có Tướng trạng,
được thiết lập dựa trên hệ Trung quán rốt ráo Có Tướng trạng (Madhyamaka with
Appearance).”54
Mặc dù các thuật ngữ chính xác như “Trung quán Có Tướng
trạng” và “Trung quán Không có Tướng trạng” không hiển thị rõ ràng trong Kinh
Lăng Già, Dölpopa lập luận rằng các bài kệ được trích dẫn ở trên đã giải
thích ba tông phái Đại thừa—gồm Biểu thức
bộ (Vijñānavāda), Trung quán Không có Tướng trạng,
và Trung quán Có Tướng trạng—theo một trật tự tôn ti từ thấp lên cao trên nấc
thang phân loại tông nghĩa của Đại thừa.55
Hơn nữa, Dölpopa cũng chỉ ra các nguồn tài liệu khác để
chứng minh cho quan điểm của mình. Như Vesna Wallace khẳng định: “Mặc dù truyền thống Thời Luân (Kālacakra) thừa
nhận quan kiến Trung quán về tính không như nền tảng lý thuyết căn bản của
mình, truyền thống này lại có cách giải thích độc đáo riêng về tính không; nó
không chỉ đơn thuần là sự phủ định tự tánh (svabhāva) [của vạn vật], mà còn là
sự vắng bóng của các thành phần vật chất cấu thành nên thân và tâm của cá nhân.
. . . Đó là một sắc tướng được trang nghiêm bởi tất cả các tướng hảo và tùy
hình hảo của Đức Phật.”56 Mặc
dù hai phạm trù Trung quán này không hiển thị rõ ràng trong mật điển Thời Luân,
văn bản này tuy vậy vẫn giải thích một loại tính không không chỉ đơn thuần là
trống rỗng tự tánh như được mô tả trong các kinh điển thời kỳ chuyển pháp luân
thứ hai; thay vào đó, nó hiển thị một tính không mang đầy đủ các phẩm tính giác
ngộ viên mãn vốn được tìm thấy trong các kinh điển về Như Lai Tạng như Kinh
Như Lai Tạng (Tathāgatagarbhasūtra) và Kinh Thắng Man Phu Nhân
(Śrīmāladevīsūtra). Do đó, chính dựa trên các tác phẩm uy quyền như mật điển Thời
Luân, luận sớ Vô Cấu Quang (Vimalaprabhā) và Kinh Lăng Già mà sự
phân biệt của Dölpopa giữa hai tông phái Trung quán mới có thể được hiểu rõ.
Trong khi theo Dölpopa, Kinh Lăng Già là một trong
số rất ít kinh điển có đề cập đến hai phạm trù Trung quán này, thì lại có rất
nhiều kinh điển khác—chẳng hạn như Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocanasūtra),
Kinh Như Lai Tạng—được xếp vào nhóm Mười kinh liễu nghĩa (nges don
gyi mdo bcu)57 hoặc vào bộ Mười kinh Như Lai Tạng (snying
po’i mdo bcu)58 mà Dölpopa xem là các nguồn kinh điển uy quyền
cho hệ Trung quán Có Tướng trạng. Như đã đề cập ở trên, Dölpopa nhìn chung
không chấp nhận tính liễu nghĩa của các kinh điển Bát Nhã Ba La Mật Đa
(Prajñāpāramitāsūtras)—vốn là nguồn kinh điển nền tảng cho tông phái Trung quán
mà các học giả Tây Tạng cuối thế kỷ XIV như Rendawa và Tsongkhapa truyền bá.59
Về mặt các tác phẩm luận sớ uy quyền cho hệ Trung quán Có
Tướng trạng của Dölpopa, các tác phẩm theo truyền thống được quy cho Di Lặc
(Maitreya), Vô Trước (Asaṅga) và Thế Thân (Vasubandhu) trở nên có sức ảnh hưởng
lớn.60 Để đúc kết phần này, nhằm phản ứng lại các học giả cùng thời—những
người dựa vào các văn bản như kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa và luận Nhập
Trung Luận (Madhyamakāvatāra) để giải thích hệ phân loại tông nghĩa Đại thừa—Dölpopa
thay vào đó đã sử dụng Kinh Giải Thâm Mật cùng các tác phẩm của Di Lặc,
Vô Trước và Thế Thân để làm sáng tỏ toàn bộ kho tàng văn bản giáo lý bao la của
Đại thừa.
Do đó, trái ngược với sự phân biệt (1) giữa Duy thức tông
và Trung quán tông trong hệ phân loại tông nghĩa Đại thừa, và (2) giữa Trung
quán Quy Mậu Ứng Thành (Prāsaṅgika) và Trung quán Tự Quản (Svātantrika) trong hệ Trung quán vốn phổ biến
trong môi trường học viện Phật giáo Tây Tạng thời bấy giờ, Dölpopa đã lập luận
cho một sự phân biệt (1) giữa Biểu thức
bộ (Vijñānavāda) và Duy thức tông (Cittamātra), (2) giữa
Duy tâm thế tục và Duy tâm rốt ráo, và (3) giữa Trung quán hữu Tướng và Trung quán vô Tướng.
Sự tái cấu trúc hệ phân loại tông nghĩa Đại thừa như vậy
đã cho phép Dölpopa giải thích các văn bản Đại thừa theo một cách khá độc lạ so
với thời đại của ông, nhưng lại là một cách giải thích có cội nguồn từ các nguồn
tài liệu Ấn Độ thời kỳ đầu. Sự tái cấu trúc này cũng cho phép Dölpopa giới hạn
tầm quan trọng của các kinh điển Bát Nhã Ba La Mật Đa cũng như các tác
phẩm của Nguyệt Xứng (Candrakīrti) như luận Minh Cú Luận (Prasannapadā)
và Nhập Trung Luận trong việc trình bày về giáo lý Tha tánh không
(other-emptiness) của ông.
6- KẾT LUẬN
Thời điểm không thể nào tốt hơn cho việc định hình sự
trình bày giáo lý Tha tánh không (other-emptiness) của Dölpopa. Theo quan điểm
của Dölpopa, các phương pháp giải thích Trung quán mà các học giả Tây Tạng nói
chung, và các trí thức Tây Tạng vào thế kỷ XIV nói riêng đang áp dụng, không gì
khác hơn là một dấu hiệu suy thoái của giáo lý Phật giáo hoàn hảo thuộc Thời kỳ
Viên mãn (rdzogs ldan gyi bskal pa - Thời Tựu viên / Thời Viên mãn).
Mặc dù tác phẩm chú giải Luận Tối Thượng Thừa hay Cứu Cánh Bản Thể Luận
(Uttaratantra) của chính Dölpopa chưa từng đề cập đến "Tha tánh
không" và "Nhất thiết căn bản trí" (all-basis-gnosis)—những khái
niệm theo một nghĩa nào đó vốn là "thuật ngữ riêng của ông"—nhưng tác
phẩm tinh hoa của ông mang tên Sơn Pháp Giáo Lý (Mountain Doctrine) lại
sử dụng Luận Tối Thượng Thừa (Uttaratantra) như một nguồn văn bản cốt lõi để trình
bày cấu trúc đạo lộ của phái Jonang dựa trên quan kiến Tha tánh không. Ông thực
hiện điều này mà không cần dựa vào các văn bản Trung quán "chuẩn mực",
chẳng hạn như luận Nhập Trung Luận (Madhyamakāvatāra) và Trung Quán
Luận Tụng (Mūlamadhyamakakārikā). Tuy nhiên, sự trình bày giáo lý thành công của ông đã khiến
một số học giả hàng đầu thời bấy giờ như Butön, Dratsépa, Rendawa, Tsongkhapa
và Gyeltsap đưa ra những lời chỉ trích sắc bén nhắm vào hệ thống giáo lý của ông.
Tôi sẽ xem xét các lời chỉ trích của họ trong phần thứ ba của cuốn sách, nhưng
trước đó, tôi sẽ thảo luận về sự lan tỏa của Luận Tối Thượng Thừa vào
thế kỷ XIV, nơi tôi khảo sát các tác phẩm của Sazang, Gendün Özer, Gyelsé Tokmé
và Longchenpa./.

