Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

NHẬN DIỆN PHẠM VI CỦA KHỔ ĐAU




***

Nguyên bản: Identify the Scope of Suffering
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Tuesday, January 9, 2018

TỔNG QUÁT VỀ NHỮNG LOẠI ĐẠO ĐỨC

Nguyên lý chính của đạo đức Phật giáo là để giúp đở người khác, và , nếu không thể, thì tối thiểu không làm tổn hại người khác. Chí nguyện nền tảng này với bất bạo động, được động viên bởi việc quan tâm vì người khác, là trung tâm của ba loại đạo đức trong Phật giáo:

·        Đạo đức của việc giải thoát cá nhân (là chủ đề của chương này) một cách chính yếu được thực tập từ việc kiềm chế khỏi những hành vi của thân thể và lời nói làm tổn hại. Sự thực tập này được gọi là “cá nhân” vì nó cung ứng một phương pháp cho một người chuẩn bị để vượt khỏi chu kỳ lẩn quẩn của sanh, già, bệnh, và chết, mà Phật tử gọi là vòng luân hồi (samsara).
·        Đạo đức của việc quan tâm vì người khác – được gọi là đạo đức của Bồ tát (những chúng sanh quan tâm chính yếu với việc hổ trợ người khác) – thực tập một cách chính yếu bởi việc kiềm chế tâm thức khỏi rơi vào vị kỷ. Vì đối với những người thực tập đạo đức Bồ tát, điểm quan trọng là để kiềm chế khỏi sự yêu mến vị kỷ, mà cũng kiềm chế khỏi những hành vi xấu ác của thân thể và lời nói.
·        Đạo đức của Mật tông tập trung chung quanh những kỷ năng đặc biệt cho việc quán tưởng một thể trạng phát triển toàn vẹn của thân thể và tâm thức hổ trợ người khác một cách hiệu quả. Nó cung ứng một phương pháp để kiềm chế và vì vậy vượt thoát nhận thức giới hạn của chúng ta về thân thể và tâm thức vì thế chúng ta có thể nhận thức chính chúng ta tỏa sáng với tuệ trí và yêu thương.

ĐẠO ĐỨC CỦA SỰ GIẢI THOÁT CÁ NHÂN

Việc thực tập đạo đức cho giải thoát cá nhân đòi hỏi sự tự tỉnh thức cần thiết để tránh khỏi những hành vi của thân thể và lời nói đem đến sự tổn hại cho người khác. Điều này có nghĩa là từ bỏ những gì Phật giáo gọi là mười điều bất thiện. Những điều này tạo thành ba đặc trưng. Thân thể bất thiện là giết hại, trộm cắp, và ,tà dâm. Lời nói bất thiện là nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời độc ác và nói lời vô nghĩa. Tinh thần bất thiện là tham muốn, xu hướng tổn hại, và tà kiến.

Vì động cơ có trước và lèo lái hành vi, việc kiểm soát nó tốt nhất là ngăn ngừa sự thôi thúc và sự lạm dụng tiềm tàng các hành vi của thân thể và lời nói. Khi chúng ta đột nhiên muốn điều gì đó và chỉ tiến tới và thực hiện nó mà không nghĩ đến các hậu quả, sự tham muốn của ta tự biểu hiện một cách hăng hái, không có quán chiếu lợi hại. Trong sự thực tập hàng ngày, chúng ta nghiên cứu việc thẩm tra cộng cơ của ta một cách liên tục.

Khi tôi là một thiếu niên, Ling Rinpoche, người lúc đó là giáo thọ phó của tôi, luôn luôn rất nghiêm khắc; ngài không bao giờ mĩm cười, ngay cả không một chút nào. Điều này làm tôi rất chán nản. Bằng việc tự hỏi tại sao ngài quá cứng nhắc như vậy, tôi thẩm tra nhiều hơn và nhiều hơn những gì tôi đang làm trong tâm thức tôi. Điều này giúp tôi phát triển sự tự tỉnh thức với việc quan tâm đến động cơ của tôi. Lúc mới 20 khi tôi vừa trưởng thành, Ling Rinpoche hoàn toàn thay đổi; ngài luôn luôn có một nụ mĩm cười rạng rở khi chúng tôi bên nhau.

Sự thực tập hiệu quả đạo  đức giải thoát cá nhân tùy thuộc vào động cơ lành mạnh, dài lâu. Thí dụ, người ta không nên trở thành tăng ni để tránh phải làm việc nặng nhọc vì ăn mặc. Cũng thế, thật không đầy đủ để chỉ mong cầu tránh khỏi sự khó khăn trong kiếp sống này. Được động viên bởi một mục tiêu tầm thường như vậy không giúp để thành tựu sự giải thoát khỏi vòng luân hồi – lý do tối hậu để thực tập đạo đức giải thoát cá nhân.

Điều này được củng cố bởi câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật. Một ngày nọ Đức Thích Ca đi ra ngoài tường thành của hoàng cung để chính ngài trải nghiệm cuộc đời. Lần đầu tiên ngài đã thấy một người bệnh, một người già, và một xác chết. Khốn khó sâu xa bởi khổ đau của bệnh tật, tuổi già, và sự chết, ngài đi đến kết luận rằng cuộc sống trần gian là không bền chắc. Sau này, cảm hứng từ một số hành giả tôn giáo, Đức Phật trở nên say mê bởi khả năng của  một đời sống tâm linh cao siêu, và đầy đủ ý nghĩa hơn. Đến lúc ấy ngài đã vượt thoát kinh thành, để lại cuộc sống thông thường sau lưng và theo đuổi viễn tượng ấy.

Điều này dạy cho chúng ta những gì? Giống như Đức Phật chúng ta cần bắt đầu bằng việc quan tâm về nổi khổ đau của sinh tử  luân hồi và bằng việc quay lưng với những xao lãng tạm thời. Được tác động với thái độ mới này, chúng ta phải áp dụng một hệ thống đạo đức bằng việc viễn ly cõi luân hồi và bằng việc tiếp nhận những thệ nguyện của thái độ tinh khiết qua việc tầm cầu để tránh mười hành vi bất thiện.

BỐN CHÂN LÝ CAO QUÝ

Nhằm để giải thoát chúng ta khỏi sinh tử luân hồi thì chúng ta cần thấu hiểu bản chất của nó. Chúng ta cần (1) biết những loại khổ đau đặc thù liên hệ, (2) khám phá những nguyên nhân của các khổ đau ấy, (3) thấy có thể loại trừ những nguyên nhân ấy không, và sau đó (4) quyết định những gì nên thực tập. Viễn ly, do thế, liên hệ ít nhất một sự thấu hiểu phần nào đó về Bốn Chân Lý Cao Quý:

1-    Sự thật về khổ đau
2-    Sự thật về nguồn gốc của khổ đau
3-    Sự thật về sự chấm dứt khổ đau và cội nguồn của nó
4-    Sự thật về những con đường cho việc thực chứng sự chấm dứt chân thật [khổ đau]

Khi Đức Phật giảng dạy lần đầu tiên, ngài đã dạy về Bốn Chân Lý Cao Quý trong thứ tự nêu trên. Tuy nhiên, thứ tự này không phản chiếu vấn đề những sự thật này hình thành như thế nào. Theo trình tự thời gian, sự thật thứ hai – nguồn gốc của khổ đau – đứng trước sự thật thứ nhất. Tương tự thế, sự thật thứ tư – những con đường thực tập – phải đứng trước sự thật thứ ba – sự chấm dứt khổ đau. Tuy nhiên, Đức Phật dạy Bốn Sự Thật trong trình tự của việc thực tập, chứ không trong thứ tự mà trong ấy chúng hình thành.

Trong thực tập, chúng ta phải xác định mức độ của khổ đau trước nhất, để biết rằng lối sống này bị bao vây bởi khốn khó; điều này làm sâu sắc mong ước tự nhiên được thoát khỏi khổ đau của chúng ta. Khi chúng ta nhận ra khổ đau là gì, như Đức Phật đã làm, rồi thì chúng ta sẽ bị lôi cuốn vào việc khám phá những nguyên nhân của nó, nguồn gốc của khổ đau. Giống như một vị bác sĩ trước tiên phải chẩn đoán cơn bệnh, thì chúng ta cũng phải thấu hiểu gốc rể của khổ đau trước khi chúng ta có thể điều trị nó. Không phải cho đến khi chúng ta đã xác định những nguồn gốc của khổ đau thì chúng ta mới có thể thấu hiểu rằng có thể có một sự chấm dứt nó hay sao. Cũng thế, không có một sự thấu hiểu quả quyết rằng việc chấm dứt khổ đau là có thể, thì chúng ta có thể xem việc thực hành con đường này giống như sự thử thách khó khăn vô hiệu quả. Sau đó chúng ta có thể tìm đến những con đường của sự thật cho việc thực chứng việc chấm dứt [khổ đau]. Đây là tại sao Đức Phật đã trình bày Bốn Chân Lý Cao Quý trong trình tự của việc thực tập.

Tôi thảo luận sự thật thứ nhất ở chương này và ba sự thật kế tiếp ở chương thứ ba.

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ NHẤT VỀ KHỔ ĐAU

Khổ đau giống như một cơn bệnh mà tất cả chúng ta mắc phải. Để tìm việc chửa trị, chúng ta phải thận trọng xác định toàn thể phạm vi của cơn bệnh: đau khổ, thay đổi, và điều kiện cùng khắp.

1-    Khổ khổ: Một trình độ của khổ đau là hiện tướng đau đớn mà tất cả chúng ta cùng nhận ra như vậy. Ngay cả những con thú cũng muốn thoát khỏi nó. Những sự đau đớn thân thể và tinh thần trong đời sống hàng ngày, nhức đầu và đau khổ vì chia lìa là thuộc phạm trù này.
2-    Hoại khổ: Những gì chúng ta thường trải nghiệm như vui sướng là chủ yếu giảm đau đớn. Nếu thực phẩm hay thức uống ngon lành, thí dụ thế, thật sự đúng là vui lòng – nếu chúng có một bản chất nội tại vui lòng – thế thì bất chấp chúng ta ăn hay uống thế nào, thì chúng ta cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc và hạnh phúc lớn hơn trong sự đo lường tương ứng. Thay vì thế, nếu chúng ta hưởng thụ quá mức, thì chúng ta bắt đầu khổ sở trong thân thể và tâm thức chúng ta. Điều này cho thấy rằng những trải nghiệm vui sướng này có bản chất nội tại là đau khổ. Tôi muốn kể một câu chuyện về một gia đình đã mua một máy truyền hình mới. So sánh với máy cũ, nó thật sự là tuyệt vời, và mọi người xem nó ngày ngày. Nhưng cuối cùng họ cũng mệt mõi vì nó. Điều này cho thấy rằng căn nguyên của vui sướng là khổ đau. Những tình trạng như vậy về hạnh phúc tạm thời được gọi là khổ đau của sự thay đổi.
3-    Hành khổ: Thêm nữa một đau khổ thông thường và khổ đau của thay đổi, có một trình độ sâu xa hơn của khổ đau gọi là điều kiện cùng khắp. Tâm thức và thân thể hoạt động dưới sự ảnh hưởng của nghiệp (những xu hướng được tạo ra bởi những hành vi trước đây) và của phiền não, hay chướng ngại ẩn tàng, các cảm xúc chẳng hạn như tham muốn, và thù hận. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta được sinh ra từ và trong ảnh hưởng cùng khắp của nghiệp và các cảm xúc phiền não. Ngay cả những tình trạng trung tính của cảm giác cũng ở dưới tác động của các nguyên nhân và điều kiện vượt khỏi sự kiểm soát của chúng ta – chúng ta bị vướng trong một tiến trình dễ bị tác động với khổ đau.

Điều Kiện Con Người

Khởi đầu sự sống của chúng ta là sự sinh ra, trong tiến trình ấy chúng ta đau khổ, và vào lúc kết thúc sự sống là sự chết, trong tiến trình ấy chúng ta cũng đau khổ.
Giữa hai điều này, hai thứ đến là tuổi già và bệnh tật. Bất chấp chúng ta giàu sang như thế nào hay thân thể mạnh khỏe thế nào, thì chúng ta cũng phải đau khổ qua những hoàn cảnh thế này.

Trên tất cả những điều này làm đưa đến sự không toại nguyện. Ta muốn nữa và nữa và nữa. Điều này, trong một ý nghĩa, thật sự là nghèo đói – luôn luôn là đói, đói, đói mà không có lúc nào hài lòng. Những người khác có thể không giàu có, nhưng sự toại nguyện làm cho họ ít lo lắng hơn, ít kẻ thù hơn, ít rắc rối hơn, và ngủ rất ngon lành. Hơn một lần, khi tôi viếng một ngôi nhà rất xinh đẹp trong những cộng đồng giàu có, tôi đã nhìn trộm tủ đựng thuốc trong nhà tắm và đã thấy một số thuốc men cung cấp năng lượng hàng ngày và những thứ khác phụ trợ cho giấc ngủ ban đêm. Toại nguyện có thể làm cả hai việc này tốt hơn vì nó làm giảm thiểu lo lắng trong ngày, mở đường cho giấc ngủ một cách an bình.

Trong cuộc sống tất bật hiện đại, chúng ta đánh mất tầm nhìn với giá trị thật sự của con người. Mọi người trở thành tổng lượng những gì họ sản xuất. Con người hành động như những máy móc vốn thể hiện chức năng làm ra tiền. Điều này chắc chắn là sai. Mục tiêu của việc làm ra tiền là vì hạnh phúc cho con người, chứ không phải thứ khác. Con người không phải vì tiền, mà tiền là vì con người. Chúng ta cần đủ tiền để sống, cho nên tiền là cần thiết, nhưng chúng ta cũng cần nhận ra rằng nếu quá dính mắc vào cảnh sung sướng, thì cũng không giúp ích gì. Tất cả những vị thánh nói với chúng ta rằng, càng trở nên giàu sang, ta càng phải chịu đựng khổ đau hơn.

Ngay cả thân hữu cũng có thể đem đến khổ đau. Thông thường người ta cảm thấy rằng thân hữu mang đến vui sướng hơn và hạnh phúc hơn, nhưng đôi khi họ mang đế rắc rối hơn. Ngày nay thân hữu ta có bộ mặt mĩm cười, nhưng trong một lúc đàm luận có thể biến thành chua chát, và bắt đầu đấu tranh, không có chút gì hữu nghị. Chúng ta thật sự có được hạnh phúc và hài lòng từ những thân hữu của chúng ta, nhưng nó là tạm thời, không phải là hạnh phúc chân thật. Trong một ý nghĩa sâu xa, mối thân hữu thông thường cũng là bản chất của khổ đau.

Hãy nhìn vào thân thể của chính ta. Bất chấp ta hòa nhã, đáng yêu thế nào và hình dáng của ta đẹp đẻ thế nào, nhưng nếu ta để rơi ngay cả một giọt máu, thì ta đột nhiên trông không đẹp lắm. Dưới làn da này là thịt sống; nhìn sâu hơn thì ta thấy xương. Bộ xương trong một viện bảo tàng hay một nhà thương làm cho hầu hết mọi người chúng ta không thoải mái, nhưng bên dưới tất cả chúng ta hoàn toàn giống nhau. Một số người có thể mập béo, những người khác gầy ốm, một số đẹp trai, nhưng nếu ta nhìn họ qua máy quang tuyến X, ta sẽ thấy một phòng đầy những bộ xương với những hố mắt khổng lồ. Bản chất thân thể của chúng ta là như vậy.

Hãy xem đến niềm sung sướng của việc ăn uống. Hôm nay ta có một số thức ăn ngon  miệng. Khi ta ăn nó, thật là tuyệt vời, nhưng khi nó đi qua dạ dày và ruột của ta, nó thay đổi thành thứ gì đó không quá tuyệt vời. Khi ăn, chúng ta tránh chú ý rằng điều này là những gì xảy ra, và chúng ta vui mừng suy nghĩ, “Ô, bây giờ là thức ăn rất tốt! Tôi thật sự vui sướng.” Nhưng thức ăn tốt lành ấy dần dần đi qua thân thể ta, và cuối cùng đi vào nhà vệ sinh trong một dạng thức mà không ai xem là đẹp đẽ. Thứ này mọi người xem như rất dơ bẩn thật sự là sản phẩm của thân thể con người này. Trong một ý nghĩa, việc làm ra phẩn tiểu là một chức năng chính của thân thể chúng ta!

Ăn uống, hoạt động và làm ra tiền tự chính nó là vô nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả một hành vi nhỏ của từ bi có ý nghĩa và mục tiêu cho cuộc sống của chúng ta.

BỀN BỈ VÀ HY VỌNG

Hãy phân tích. Suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ. Khi ta làm vậy, ta sẽ nhận ra rằng phương thức thông thường của cuộc sống chúng ta hầu như vô nghĩa. Đừng nản lòng. Thật là ngu ngơ nếu bỏ cuộc bây giờ. Trong những trường hợp như thế khi ta cảm thấy hầu như vô vọng, thì ta phải thực hiện một cố gắng đầy năng lực. Chúng ta quá quen thuộc với những trạng thái sai lầm của tâm thức mà thật khó khăn để thay đổi với một ít thực tập nhỏ nhoi. Chỉ một giọt mật không thể thay đổi vị đắng chát áp đảo. Chúng ta phải kiên nhẫn khi đối mặt với thất bại.

Trong những hoàn cảnh khó khăn cá nhân thì phương kế tốt nhất là cố gắng duy trì tính trung thực và chân thành tối đa như có thể. Trái lại, bằng việc đáp trả một cách nghiệt ngã và ích kỷ, đơn giản là ta sẽ làm vấn đề tệ hại hơn. Điều này rỏ ràng trong nhưng hoàn cảnh đau thương của gia đình. Chúng ta phải nhận ra rằng những trường hợp khó khăn hiện tại là hoàn toàn qua những hành vi vô nguyên tắc của ta trong quá khứ, cho nên khi chúng ta trải nghiệm một thời điểm khó khăn, thì hãy hành động một cách tốt đẹp nhất để tránh thái độ sẽ làm gia tăng gánh nặng cho ta về sau.

Thật quan trọng để giảm dần những trạng thái vô nguyên tắc của tâm thức, nhưng thậm chí quan trọng hơn là đối diện với nghịch cảnh với một thái độ tích cực hơn. Hãy giữ điều này trong lòng: Bằng việc chào đón rắc rối với sự lạc quan và hy vọng, thì ta đang làm giảm thiểu mức độ của những rắc rối tệ hại nhất. Xa hơn thế, hãy tưởng tượng rằng chúng ta đang làm dịu bớt gánh nặng của những vấn nạn khổ đau của mọi người trong cách đó. Sự thực tập này – việc quán tưởng rằng bằng việc chấp nhận nổi đau khổ của ta là ta đang sử dụng hết những nghiệp chướng tiêu cực của mọi người dành để cảm nhận nổi đau như vậy – là rất hiệu quả. Đôi khi tôi bị bệnh, tôi thực tập tiếp nhận nổi khổ đau của người khác cho chính tôi và ban cho họ năng lượng hạnh phúc của tôi; điều này cung ứng tốt cho một sự giảm nhẹ tinh thần.

Mỗi ngày vào buổi sáng sớm, và đặc biệt khi tôi có thời gian, tôi thực hành việc này trong một cung cách tổng quát với việc quan tâm đến tất cả chúng sinh. Nhưng đặc biệt tôi tách rời những lãnh tụ Trung Cộng và những cán bộ nào đã quyết định trong vấn đề tra tấn và giết hại những người Tây Tạng nào đó, tôi quán tưởng họ, tôi đưa thành kiến, thù hận, và kiêu ngạo của họ vào trong chính tôi. Tôi cảm thấy rằng, do bởi sự tu tập của chính tôi, ngay cả nếu trong thực tế tôi có thể hấp thu một phần thái độ tiêu cực của họ, nhưng nó không thể tác động thái độ của tôi và biến tôi thành một người tiêu cực. Thế nên, hấp thụ những tiêu cực của họ không phải là một vấn đề lớn lao đối với tôi, nhưng nó làm giảm đi các rắc rối của họ. Tôi làm việc này với một cảm giác mạnh mẽ rằng nếu trong ngày ở văn phòng tôi nghe sự diệt chủng của họ, mặc dù một phần của tâm tư tôi hơi bị kích thích và sân hận, nhưng bộ phận chính vẫn ở dưới ảnh hưởng của sự thực hành buổi sáng; cường độ của sân hận được giảm thiểu đến mức độ không còn hiện hữu.

Cho dù sự thiền quán này có thật sự hổ trợ cho những cán bộ đó hay không, thì nó cũng cho tôi một sự bình an của tâm hồn. Rồi thì tôi có thể hiệu quả hơn, lợi lạc là vô biên.

-*-

Không hoàn cảnh nào có thể làm ta mất hy vọng. Tuyệt vọng là nguyên nhân thật sự của thất bại. Hãy nhớ rằng, ta có thể vượt thắng bất cứ vấn nạn nào. Hãy điềm tĩnh, ngay cả khi hoàn cảnh ngoại tại là rối rắm hay phức tạp; sẽ có một hiệu quả nho nhỏ nếu tâm thức ta hòa bình. Trái lại, nếu tâm tư ta bị cuốn hút với sân hận, thế thì ngay cả khi thế giới là hòa bình và thoải mái, thì sự hòa bình của tâm hồn cũng sẽ lẫn tránh ta.

-*-

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

1-    Kiểm soát động cơ của ta thường xuyên như có thể. Ngay cả trước khi rời khỏi giường ngủ vào buổi sáng, hãy thiết lập một quan điểm bất bạo động, không lạm dụng cho một ngày của ta. Vào buổi tối, hãy thẩm tra những gì chúng ta đã làm trong ngày.

2-    Hãy chú ý có bao nhiêu khổ đau trong cuộc đời của chính ta:


      * Có những nổi đau thân thể và tinh thần nào từ bệnh tật, tuổi già, và sự chết, mà một cách tự nhiên ta tìm cách lẫn tránh.
      * Có những trải nghiệm tạm thời, như ăn thức ăn ngon, vốn dường như sung sướng trong và của chính nó, nhưng, nếu làm thỏa thích một cách liên tục, sẽ biến thành đau khổ. Đây là khổ đau của sự thay đổi – hoại khổ. Khi một hoàn cảnh chuyển từ sung sướng sang đau khổ, hãy quán chiếu trên sự kiện rằng bản chất sâu xa của niềm sung sướng ban đầu tự nó bộc lộ. Dính mắc vào những sự sung sướng nông cạn sẽ chỉ mang đến khổ đau hơn.
      * Hãy quán chiếu trên vấn đề ta bị vướng trong một tiến trình rộng khắp của điều kiện – hành khổ, chính là ở dưới sự kiểm soát của nghiệp và cảm xúc phiền não, hơn là ở dưới sự kiểm soát của ta

3-    Dần dần phát triển một quan điểm sâu xa hơn, thực tế hơn về thân thể bằng việc quan tâm đến những thành phần của nó – da, máu, thịt, xương, và v.v…

4-    Hãy phân tích đời sống của ta một cách chặc chẽ. Nếu ta làm vậy, thì cuối cùng ta thấy rằng thật khó để mà lạm dụng đời sống của ta bằng việc trở thành một người máy hay bằng việc tìm ra tiền như con đường đi đến hạnh phúc.

5-    Hãy tiếp nhận một thái độ tích cực khi đối mặt với khó khăn. Hãy quán tưởng rằng bằng việc chịu đựng một hoàn cảnh khó khăn với sự uyển chuyển thì ta cũng đang ngăn ngừa những hậu quả tệ hại của nghiệp chướng mà bằng khác đi ta có thể trải nghiệm trong tương lai. Hãy tự mang lấy gánh nặng khổ đau của mọi người như vậy.

6-    Hãy thường xuyên đánh giá những hệ quả tiêu cực và tích cực có thể có của những cảm giác chẳng hạnh như tham dục, sân hận, ganh tỵ, và thù oán.

            *Khi rõ ràng rằng hậu quả của chúng là rất tai hại thì hãy tiếp tục phân tích. Dần dần sự tự tin của ta sẽ mạnh thêm. Hãy lập đi lập lại việc quán chiếu vào những bất lợi của sân hận, thí dụ, nó sẽ làm cho ta hận ra rằng sân hận là vô nghĩa.
            *Quyết định này sẽ làm cho sân hận giảm thiểu dần dần.

-*-
Ẩn Tâm Lộ, Friday, February 15, 2019




Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

BA PHƯƠNG DIỆN THỰC TẬP



                                                 
Nguyên bản: Three Ways to Practice
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển /Wednesday, December 27, 2017

SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT NHƯ MỘT MẪU MỰC

Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác Ngộ ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập. Tuy nhiên, những người khác tin rằng Đức Phật đã thành tựu Giác Ngộ trước đó lâu xa và rằng trong hóa thân vào thế kỷ thứ 6 Đức Phật chỉ thị hiện con đường tu tập. Ở Tây Tạng, chúng tôi chấp nhận quan điểm sau, và những môn đồ học hỏi từ mẫu mực của ngài vấn đề thực hành như thế nào nhằm để đạt đến Giác Ngộ cho chính họ.

Trong trường hợp nào đi nữa, thì chúng ta cũng cần phải chú ý rằng:

·        Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra trong một đời sống giàu sang của một hoàng tử trong một hoàng gia Ấn Độ. Vào lúc 29 tuổi, qua việc thấy khổ đau của thế giới, ngài đã từ bỏ vị trí vương giả, cắt bỏ mái tóc, rời bỏ gia đình và tiếp nhận đạo đức của một tu sĩ, một hệ thống của thái độ luân lý phẩm hạnh.
·        Trong sáu năm sau đó, ngài đã dấn thân trong thiền tập khổ hạnh vì mục tiêu thành tựu thiền định.
·        Sau đó, dưới gốc cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đã thực tập những kỷ năng đặc biệt để phát triển tuệ trí, và thành tựu Giác Ngộ. Ngài đã đi giáo hóa trong 45 năm, và nhập niết bàn vào lúc 81 tuổi.

Trong lịch sử cuộc đời Đức Phật, chúng ta thấy ba giai đoạn thực hành: đạo đức đến trước tiên, rồi thì thiền định và sau cùng là tuệ trí. Và chúng ta thấy rằng con đường tu tập cần thời gian.

THAY ĐỔI DẦN DẦN

Việc phát triển tâm thức phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện nội tại, rất giống một trạm không gian lệ thuộc vào hoạt động của nhiều thế hệ khoa học gia đã phân tích và thử nghiệm ngay cả một thành phần nhỏ nhất của nó. Không một trạm không gian hay một tâm thức Giác Ngộ nào có thể hoàn thành trong một đêm. Tương tự thế, những phẩm chất tâm linh phải được xây dựng qua những phương cách đa dạng. Tuy nhiên, không giống như trạm không gian, vốn được tạo thành bởi nhiều người hoạt động với nhau, thì tâm thức phải được phát triển bởi chính bạn mà thôi. Không có cách nào để cho người khác làm công việc giùm cho ta để ta thu thập các kết quả. Đọc những tường thuật về tiến trình tâm linh của một người nào đó sẽ không thể chuyển giao sự thực chứng của nó cho ta. Chúng ta phải tự phát triển nó.

Trau dồi một thái độ yêu thương và phát triển tuệ trí là những tiến trình chậm rãi. Khi chúng ta dần dần nhập tâm những kỷ năng cho việc phát triển đạo đức, tập trung tâm thức, và tuệ trí, những tình trạng không được chế ngự của tâm thức trở thành lập lại ngày càng ít dần và ít dần. Chúng ta sẽ cần thực tập những kỷ năng này ngày qua ngày, năm qua năm. Khi chúng ta chuyển hóa tâm thức chúng ta, chúng ta sẽ chuyển hóa [môi trường] chung quanh chúng ta. Những người khác sẽ thấy các lợi lạc từ sự thực tập của chúng ta về bao dung và yêu thương, và sẽ hành động để đem những sự lợi lạc này vào trong đời sống của chính họ.

BA SỰ THỰC TẬP

Giáo huấn của Đức Phật được phân chia thành ba tập hợp của kinh điển – tam vô lậu học.

·        Những nguyên tắc đạo đức – Giới
·        Những lời dạy về thiền tập trung  - Định
·        Những biểu hiện của tri thức giải thích về việc rèn luyện tuệ trí – Tuệ

Trong mỗi phần này, sự thực tập chính được diễn tả như một thể trạng đặc biệt từ sự hợp nhất của (1) “tĩnh lặng bất biến” (định) và (2) “tuệ giác đặc biệt” (tuệ). Nhưng nhằm để thành tựu một sự hợp nhất như vậy, trước tiên chúng ta phải chuẩn bị nền tảng của nó: đạo đức – giới.

THỨ TỰ THỰC TẬP

Đạo đức, thiền định, và tuệ trí – đây là thứ tự cần thiết của thực tập. Những lý do như sau:

·        Nhằm để cho trí của tuệ đặc biệt loại trừ những chướng ngại cho việc thấu hiểu thích đáng, và loại trừ những tình trạng tinh thần sai lầm ngay tại chính gốc rể của chúng, chúng ta cần thiền tập trung (chỉ - thiền định), một thể trạng nhất tâm hoàn toàn mà trong ấy tất cả những xao lãng nội tại đã được loại trừ. Bằng khác đi thì tâm quá bị phân tán. Không có thiền tập trung nhất điểm như vậy, tuệ trí không có năng lực, giống như ánh sáng của ngọn đèn trong ngọn gió nhẹ không thể chiếu sáng nhiều được. Do vậy, thiền định phải có trước tuệ trí.
·        Thiền nhất tâm liên hệ việc loại trừ những tán loạn vi tế nội tại chẳng hạn như tâm bị quá giải đải hay quá căng thẳng. Để làm như vậy chúng ta phải chấm dứt những tán loạn qua việc rèn luyện trong đạo đức của việc duy trì chánh niệm và ý thức với việc quan tâm đến các hành vi của thân thể và lời nói – liên tục tỉnh thức về những gì chúng ta đang làm với thân thể và lời nói. Không vượt thắng những tán loạn rõ ràng này, thì thật không thể vượt thắng những tán loạn vi tế hơn bên trong. Vì là qua duy trì chánh niệm mà chúng ta có thể thành đạt một sự tịch tĩnh của tâm thức, cho nên sự thực tập đạo đức phải đến trước sự thực tập thiền định (thiền tập trung, chỉ).

Trong kinh nghiệm của riêng tôi, việc tiếp nhận những thệ nguyện của một tu sĩ yêu cầu cho việc giảm thiểu những liên hệ và hoạt động nội tại, có nghĩa là tôi có thể tập trung hơn trong việc nghiên cứu tâm linh. Những thệ nguyện ngăn ngừa các hành vi thân thể và lời nói phản tác dụng làm cho tôi chánh niệm với thái độ của tôi và tiến về phía thẩm tra kỷ lưỡng những gì đang xảy ra trong tâm thức tôi. Điều này có nghĩa là ngay cả khi tôi không cố ý thực tập thiền tập trung, thì tôi cũng phải kiểm soát tâm thức tôi khỏi phân tán và vì vậy liên tục tiến về phía của thiền nhất tâm nội tại. Thệ nguyện đạo đức chắc chắn hành động như một nền tảng.

Nhìn vào ba sự thực tập – đạo đức, thiền định, và tuệ trí – chúng ta thấy rằng mỗi thứ phục vụ như căn bản của thứ kế tiếp. (Thứ tự này là minh chứng rõ ràng trong lịch sử cuộc đời của Đức Phật). Do vậy, tất cả những tiến trình tâm linh lệ thuộc vào nền tảng của đạo đức thích hợp.

Trích từ quyển How to Practice the Way to a Meaningful Life
Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, January 3, 2018



LỜI ĐẦU SÁCH SỐNG TRỌN VẸN NHƯ THẾ NÀO



CỦA TIẾN SĨ JEFFREY HOPKINS
(How to Practice the Way to a Meaningful Life)


Tôi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng lần đầu tiên vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Dharamsala ở miền bắc Ấn, ngài đã bắt đầu khóa thuyết giảng 16 ngày,  bốn đến sáu tiếng mỗi ngày về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ. Tôi đã bắt đầu học Tạng ngữ và thực tập Phật giáo Tây Tạng vào năm 1962, và những vị thầy của tôi, đặc biệt chỉ bảo về những sự phức tạp của các luận điển Tây Tạng, đã chuẩn bị cho tôi việc học hỏi với những học giả du già Tây Tạng tị nạn ở Ấn Độ. Nhưng thật tình mà  nói, tôi không nghĩ rằng một vị tái sanh được chỉ định nắm quyền sinh ra ở đông bắc Tây Tạng năm 1935 và được nhìn nhận qua những sự tiên đoán, các giấc mộng, những biến cố cực kỳ phi thường, và các thử nghiệm như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào lúc 2 tuổi – có thể đảm đương nhiệm vụ quan trọng như vậy.

Tuy nhiên tôi đã kinh ngạc.

Ngài đã nói về một biên độ rộng của những đề tài liên quan đến con đường Giác Ngộ, chiếm được tâm hồn và trái tim tôi với những khái niệm, rộng và hẹp, phân loại những vấn đề từ lâu chưa được giải quyết, mở rộng đến những người khác và đưa tôi vào những lãnh vực thấu hiểu mới.

Bằng Tạng ngữ Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với một tốc độ tường tận và minh bạch khiến tôi không thể bị xao lãng. Một lần, ngài hào hứng đặc biệt trong khi đang diễn tả những quán chiếu về việc phát sinh lòng bi mẫn. Giọng của ngài vang lên đến một cấp độ mà ngài nói đùa như “giọng-dê”, trong ấy tôi đã nghe niềm say mê đầy cảm hứng của thi ca. Trong loạt thuyết giảng ấy ngài trình bày phạm vi lãnh hội của những thực tập đưa đến Giác Ngộ, với chiều sâu của triết lý, vốn dĩ là những đề tài thường thường kề cận nhau mà người khác để trong trạng thái cách li. Cùng giọng của cả thi ca và triết lý được trình bày trong quyển sách này, đôi khi chạm vào trái tim với những tường thuật xúc động về thân phận của sự sống và các phẩm chất tốt đẹp của lòng vị tha, và vào những lúc khác là các phân biệt cẩn thận về những thực tập thậm thâm như thiền quán về tánh không, vốn phục vụ như việc nuôi dưỡng qua năm tháng cho quán chiếu.

Lúc 5 tuổi, Đức Đạt Lai Lạt được đưa về Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, nơi ngài phải trải qua việc rèn luyện theo chương trình trọn vẹn của tu viện. Qua sự xâm chiếm miền Đông Tây Tạng của Trung Cộng năm 1950, ngài bất ngờ lãnh trách nhiệm chấp chánh thế quyền trung ương lúc 16 tuổi. Mặc dù cố gắng để hợp tác với những kẻ xâm lược, nhưng ngài phải đối diện với hiểm họa cá nhân đang đe dọa và đào thoát đến Ấn Độ năm 1959. Trong lưu vong, ngài đã thành công trong việc tái lập lại trên diện rộng những trung tâm văn hóa Tây Tạng. Ngài đã du hành một cách rộng rãi gần như khắp thế giới, mang theo thông điệp – không chỉ cho những người Phật tử và tín đồ của những tôn giáo khác, mà cho mọi người – về tầm quan trọng của ân cần tử tế với chính kết cấu của xã hội. Trong việc công nhận về những nổ lực không mệt mõi của ngài nhân danh đồng bào Tây Tạng và tất cả mọi dân tộc, ngài đã được trao giải Nobel hòa bình năm 1989.

Đức Thánh Thiện đã xuất bản nhiều quyển sách, một số cho những độc giả phổ thông và một số khác cho những người đặc biệt thích thú với Phật giáo. Trong quyển sách này, ngài đã trình bày một truyền thống thực tập tâm linh lâu đời ở Tây Tạng và về kinh nghiệm của chính ngài để cống hiến những ý kiến về vấn đề thực tập một con đường tâm linh như thế nào sẽ đưa đến sự trong sáng tinh thần và việc chuyển hóa cảm xúc. Trong cách này, ngài cho thấy đời sống có thể hiện thực một cách đầy đủ ý nghĩa như thế nào.

Qua ba mươi năm mà tôi đã biết ngài và trong mười năm phục vụ như thông dịch viên trưởng của ngài trong những chuyến thuyết giảng ở Hoa Kỳ, Canada, Indonesia, Singapore, Malaysia, Úc Đại Lợi, Anh quốc, và Thụy Sĩ, tôi đã chứng kiến hóa thân của ngài trong những thực tập này với chính thâm tâm thị hiện của ngài. Thật quan trọng để cho chúng ta nhận ra con người tuệ giác tròn đầy, từ bi, hài hước và kỳ diệu này phát xuất từ nền văn hóa Tây Tạng. Chúng ta cần đánh giá rằng văn hóa như một trong những kỳ quan vĩ đại của thế giới.

Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Giáo sư Tây Tạng học,
Đại học Virginia, Hoa Kỳ
Ẩn Tâm Lộ, Sunday, December 24, 2017





NHU CẦU VÌ HÒA BÌNH VÀ ÂN CẦN




Nguyên bản: The Need for Peace and Kindness
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / December 24, 2017


  
Tôi đã du hành qua nhiều nơi khắp thế giới, và bất cứ khi nào tôi nói chuyện với mọi người, thì tôi luôn luôn có cảm giác rằng tôi là một thành viên trong gia đình của họ. Mặc dù chúng ta có thể mới gặp lần đầu, nhưng tôi xem mọi người như bạn. Thật sự chúng ta đã biết nhau, một cách sâu sắc, như những con người mà chúng ta cùng chia sẻ những mục tiêu căn bản như nhau: Tất cả chúng ta đều tìm cầu hạnh phúc và không muốn khổ đau.

HAI CÁCH ĐỂ HẠNH PHÚC

hai cách để tạo dựng hạnh phúc. Thứ nhất là bên ngoài. Bằng việc có được chỗ ở tốt đẹp hơn, áo quần tốt đẹp hơn, và những người bạn tốt đẹp hơn thì chúng ta có thể thấy được một tiêu chẩn nào đó của hạnh phúc và hài lòng. Thứ hai là qua phát triển tinh thần, vốn có thể mang lại hạnh phúc nội tại. Tuy nhiên, hai sự tiếp cận này không thể phát triển một cách như nhau. Hạnh phúc bên ngoài không thể tồn tại lâu dài mà không có bộ phận tương ứng của nó. Nếu điều gì đó đang vắng mặt trong nhận thức của ta – nếu điều gì đó tâm hồn ta đang thấy thiếu – thế thì mặc cho quanh ta là những thứ xa hoa nhất, thì ta cũng không thể hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu ta có hòa bình trong tâm hồn, thì ta có thể thấy hạnh phúc ngay cả dưới những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Tiến bộ vật chất không thôi đôi khi giải quyết một vấn đề nhưng lại tạo ra một rắc rối khác. Thí dụ, những người nào đó có thể có được giàu sang, một nền giáo dục tốt, và vị trí xã hội cao, nhưng hạnh phúc lãng tránh họ. Họ dùng thuốc ngủ và uống rượu quá nhiều. Đôi khi là thiếu thốn thứ gì đó khiến họ không thể hài lòng, vì thế những người này nương tựa vào ma túy hay rượu chè. Trái lại, một số người ít tiền bạc để lo lắng nhưng hưởng thụ hòa bình nhiều hơn. Họ ngủ ngon về đêm. Mặc cho nghèo trong ý nghĩa vật chất, nhưng họ toại nguyện và hạnh phúc. Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của một thái độ tinh thần tốt. Sự tiến bộ vật chất không thôi sẽ không thể giải quyết toàn bộ vấn nạn khổ đau của nhân loại.

Trong quyển sách này, tôi cống hiến với quý vị, những độc giả, các kỷ năng từ những truyền thống Tây Tạng, nếu thực hành hằng ngày, thì sẽ đưa đến hòa bình tinh thần. Khi quý vị tĩnh lặng tâm hồn và trái tim, thì sự khuấy động và lo lắng của quý vị sẽ tự nhiên lắng đọng, và quý vị sẽ hạnh phúc hơn. Các mối quan hệ của quý vị với những người khác sẽ phản chiếu những sự thay đổi này. Và như những con người tốt đẹp hơn, quý vị sẽ là những công dân tốt đẹp hơn của đất nước quý vị, và cuối cùng là những công dân tốt đẹp hơn của thế giới.

ÂN CẦN TỬ TẾ

Tất cả chúng ta bất lực khi được sanh ra. Không có lòng ân cần của cha mẹ thì chúng ta không thể sống còn, kém thành công hơn nhiều. Khi trẻ con lớn lên trong sợ hãi liên tục, không ai tựa nương, chúng đau khổ cả đời. Vì tâm hồn trẻ nhỏ rất yếu đuối, thế nên nhu cầu cho lòng ân cần của chúng đặc biệt rõ ràng.

Người trưởng thành cũng cần lòng ân cần. Nếu người nào đó chào đón tôi với một nụ cười dễ thương, và biểu lộ một thái độ thân hữu chân thành, tôi sẽ cảm kích rất nhiều. Cho dù tôi có thể không biết người đó hay thấu hiểu ngôn ngữ của họ, nhưng họ làm cho trái tim tôi vui sướng tức thời. Trái lại, nếu lòng ân cần thiếu vắng, thì ngay cả với người nào đó trong nền văn hóa của tôi, người mà tôi đã biết trong nhiều năm, tôi cũng cảm thấy được. Ân cần và yêu thương, một cảm nhận thật sự của tình anh chị em, những thứ này là rất quý giá. Chúng tạo thành cộng đồng hiện thực và vì vậy là rất quan trọng trong xã hội.

TIỀM NĂNG CON NGƯỜI

Mỗi chúng ta có cảm nhận tất yếu về tự ngã, “cái tôi”. Chúng ta cũng chia sẻ những mục tiêu căn bản: Chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Thú vật và côn trùng cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, nhưng chúng không có năng lực đặc biệt để nghĩ đến việc đạt được hạnh phúc sâu hơn và vượt thắng khổ đau như thế nào. Như những con người, được ban cho khả năng tư duy, chúng ta có tiềm năng này, và chúng ta phải sử dụng nó.

Trong mọi cấp độ - như những cá nhân, và như những thành viên của một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia, và một hành tinh – những kẻ gây rối hiểm độc mà chúng ta đối diện là sân hận và vị kỷ. Loại vị kỷ mà tôi liên hệ ở đây không chỉ là một cảm nhận của cái tôi, nhưng là một sự phóng đại của tính tự cho mình là trung tâm. Không ai tuyên bố cảm thấy hạnh phúc trong khi sân hận. Khi nào mà sân hận vẫn còn khống chế tính khí của chúng ta, thì không thể có sự hạnh phúc tồn tại lâu dài.  Để đạt được hòa bình, tĩnh lặng, và tình thân hữu thật sự, chúng ta phải giảm thiểu tối đa sân hận và trau dồi lòng ân cần cùng một trái tim nhiệt tình. Điều này có thể đạt được qua những sự thực tập mà tôi sẽ diễn tả trong quyển sách này.

Việc phát triển một trái tim nhiệt tình của chính chúng ta cũng có thể chuyển hóa những người khác. Khi chúng ta trở thành những con người dễ thương hơn, thì những người láng giềng, bạn bè, cha mẹ, người phối ngẫu, và con trẻ sẽ trải nghiệm ít sân hận hơn. Họ sẽ trở thành nhiệt tình hơn, yêu thương hơn và hòa hiệp hơn. Chính không khí trở thành hạnh phúc hơn sẽ thúc đẩy sức khỏe tốt hơn, có lẻ ngay cả sống lâu hơn.

Quý vị có thể giàu sang, quyền lực và học vấn tốt, nhưng nếu không có những cảm nhận lành mạnh của lòng ân cần và yêu thương thì sẽ không có hòa bình trong chính quý vị, không có hòa bình trong gia đình quý vị - ngay cả con cái của quý vị cũng đau khổ. Lòng ân cần là thiết yếu cho hòa bình tinh thần. Khi quý vị thấy những trang sách sắp đến, phương pháp trung tâm cho việc đạt được một đời sống hạnh phúc hơn là rèn luyện tâm thức quý vị trong sự thực tập hàng ngày vốn làm suy yếu những thái độ tiêu cực và làm mạnh những thứ tích cực.

Câu hỏi lớn là chúng ta có thể thực tập ân cần và hòa bình hay không. Nhiều vấn nạn đã xuất phát từ các thái độ như đặt chúng ta lên trước bằng mọi giá. Tôi biết từ kinh nghiệm của chính tôi là có thể thay đổi những thái độ này và cải thiện tâm thức con người. Dù nó không màu sắc, không hình thể, và đôi khi yếu đuối, nhưng tâm thức con người có thể trở thành mạnh hơn sắt thép. Để rèn luyện tâm thức, quý vị phải tập nhẫn nại và quyết chí, nó tạo hình cho sắt thép ấy. Nếu quý vị thực tập cải thiện tâm thức với một ý chí mạnh mẽ và khoan dung, bằng việc cố gắng, cố gắng, cố gắng, thì bất chấp bao nhiêu khó khăn mà quý vị có thể chạm trán vào lúc đầu, nhưng rồi thì quý vị sẽ thành công. Với sự nhẫn nại, và thực tập, cùng thời gian, sự thay đổi sẽ đến.

Đừng bỏ dở. Nếu quý vị bi quan vào lúc khởi đầu, thì quý vị không thể thành công. Nếu hy vọng và quyết tâm, quý vị sẽ luôn luôn thấy một mức độ nào đó của thành công. Giành được huy chương vàng không thành vấn đề. Quý vị sẽ phải cố gắng tột cùng.

LỆ THUỘC HỔ TƯƠNG

Phần lớn thế giới bây giờ được nối kết với nhau bởi một mạng lưới truyền thông điện tử và thông tin tức thời. Trong thế kỷ 21, nền kinh tế toàn cầu của chúng ta đã làm cho các quốc gia và người dân của chúng lệ thuộc nặng nề vào nhau. Thời xa xưa, sự trao đổi giữa các quốc gia không cần thiết. Ngày nay, thật không thể duy trì sự cô lập, thế nên nếu các quốc gia không có sự tôn trọng hổ tương, thì các vấn nạn phải sinh ra. Mặc dù có những dấu hiệu nghiêm trọng của rắc rối giữa các quốc gia giàu nghèo, và giữa những nhóm người giàu nghèo trong các quốc gia, thì những rạn nứt kinh tế này có thể được chửa trị bằng một cảm nhận mạnh mẽ hơn của sự lệ thuộc hổ tương và trách nhiệm toàn cầu. Người dân trong nước này phải xem người dân trong nước khác như anh chị em, những người cũng xứng đáng phát triển quê hương của họ.

Mặc cho mọi nổ lực tốt nhất của các lãnh tụ thế giới, các khủng hoảng cứ bùng lên. Chiến tranh giết hại người dân vô tội; người già và trẻ con chết liên tục không ngừng. Nhiều chiến binh đang đánh nhau ở đấy không phải do ý muốn của họ, nổi khổ đau thật sự mà các chiến binh vô tội này đang trải nghiệm là rất đau buồn. Việc buôn bán vũ khí – hàng nghìn và hàng nghìn loại vũ khí và đạn dược được sản xuất trong những nhà máy như đổ dầu vào lửa bạo động, nhưng nguy hiểm hơn súng ống hay bom đạn là sự thù hận, thiếu vắng yêu thương, và thiếu vắng sự tôn trọng các quyền lợi của người khác. Khi mà thù hận vẫn còn lưu trú trong tâm thức con người, thì nền hòa bình thật sự là không thể có.

Chúng ta phải làm mọi cách để chấm dứt chiến tranh, và để thoát khỏi thế giới của vũ khí hạt nhân. Lần đầu tiên khi tôi viếng Hiroshima, nơi trái bom nguyên tử đầu tiên được thả xuống, khi tôi thấy ngay hiện trường và nghe các câu chuyện của những người sống sót, trái tim tôi xúc động sâu sắc. Bao nhiêu người đã chết ngay trong thời khắc ấy! Bao nhiêu người nữa bị thương tật! Bao nhiêu đau đớn và thê lương mà chiến tranh nguyên tử đã tạo ra! Tuy thế, hãy nhìn vào biết bao tiền của được dành cho vũ khí hủy diệt hàng loạt. Thật sốc, đáng hổ thẹn vô cùng.

Những tiến bộ trong khoa học và kỷ thuật đã làm lợi lạc vô vàn cho nhân loại, nhưng không phải là không có giá của nó. Trong khi chúng ta hưởng thụ sự phát triển của máy bay phản lực, thí dụ thế, vốn làm cho chúng ta có thể du lịch một cách dễ dàng trên thế giới, thì những vũ khí tàn phá kinh khủng cũng được tạo ra. Bất chấp quê hương của họ xinh đẹp và xa xôi như thế nào đi nữa, nhiều người vẫn sống trong sợ hãi liên tục của một hiểm họa thật sự: hàng nghìn và hàng nghìn đầu đạn hạt nhân đang chờ tấn công. Nhưng nút bấm phải được một người nào đó nhấn tay vào, và vì thế quyết định của con người là trách nhiệm tối hậu.

Cách duy nhất để đạt đến nền hòa bình trường cửu là qua sự tin tưởng, tôn trọng hổ tương, yêu thương và ân cần. Cách duy nhất. Những cố gắng bằng sức mạnh toàn cầu để chiếm ưu thế qua chạy đua vũ trang – cho dù nguyên tử, hóa học, sinh học, và quy ước – là phản tác dụng. Làm thế nào một thế giới đầy thù oán và sân hận đạt được nền hòa bình thật sự? Hòa bình bên ngoài không thể có được nếu không có hòa bình nội tại. Thật cao quý để hành động cho những giải pháp bên ngoài, nhưng chúng không thể được thực hiện một cách đầy đủ khi người ta vẫn còn thù oán và sân hận trong tâm thức họ. Đây là nơi sự thay đổi sâu sắc phải được bắt đầu. Cá biệt thì chúng ta phải hành động để thay đổi những nhận thức căn bản mà những cảm nhận chúng ta lệ thuộc. Chúng ta chỉ có thể làm như vậy qua rèn luyện, bằng việc dấn thân vào việc thực tập với mục tiêu định hướng lại dần dần cung cách chúng ta nhận thức chính mình và người khác.

Tình trạng tuyệt vọng của thế giới chúng ta kêu gọi chúng ta hành động. Mỗi chúng ta có trách nhiệm cố gắng để hổ trợ ở cấp độ sâu xa hơn cho cộng đồng nhân loại chung của chúng ta. Bất hạnh thay, nhân loại thường bị hy sinh quá nhiều trong việc bảo vệ lý tưởng. Điều này chắc chắn là sai lầm. Những hệ thống chính trị phải thật sự làm lợi ích cho con người, nhưng, như tiền bạc, chúng có thể điều khiển chúng ta thay vì hoạt động cho chúng ta. Bất kỳ lúc nào, với trái tim nhiệt tình và nhẫn nại chúng ta cũng có thể quan tâm đến những quan điểm của người khác, và trao đổi ý kiến trong những thảo luận trầm tĩnh, thì chúng ta sẽ tìm ra những điểm đồng thuận. Đó là trách nhiệm của chúng ta – vì lòng từ ái và bi mẫn cho con người – để tìm sự hòa hiệp giữa các quốc gia, các lý tưởng, các nền văn hóa, các nhóm chủng tộc, và kinh tế cùng những hệ thống chính trị. Khi chúng ta thật sự nhận ra tính duy nhất của toàn thể nhân loại, thì động cơ của chúng ta để tìm hòa bình sẽ phát triền mạnh mẽ hơn. Trong cảm nhận sâu xa nhất, chúng ta thật sự là những anh chị em của nhau, cho nên chúng ta phải chia sẻ đau khổ của nhau. Sự tôn trọng, tin tưởng và quan tâm hổ tương cho sự cát tường của nhau là hy vọng tuyệt vời nhất cho một nền hòa bình bền lâu.

Dĩ nhiên, các lãnh tụ quốc gia có một trách nhiệm đặc biệt trong lãnh vực này, nhưng mỗi cá nhân cũng phải phát huy sáng kiến, bất chấp niềm tin tôn giáo. Quả thật như là con người, bằng việc tìm cầu để thành đạt hạnh phúc và tránh khổ đau, chúng ta là những công dân của hành tinh này. Tất cả chúng ta có trách nhiệm cho việc tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn.

Để có được một thái độ thân hữu, một trái tim nhiệt tình, tôn trọng cho các quyền của người khác, và quan tâm cho lợi ích của họ thì chúng ta phải rèn luyện tâm thức. Trong quyển sách này, tôi sẽ trình bày một loạt những thực tập được vạch ra từ các truyền thống Tây Tạng sẽ rất hữu ích cho việc hoàn thành những mục tiêu này. Đối tượng chủ yếu của sự thực tập hàng ngày là để trau dồi một thái độ của yêu thương và tĩnh lặng – một thể trạng của tâm thức đặc biệt quan trọng trong xã hội con người ngày nay vì năng lực của nó mang lại một sự  hòa hiệp chân thật giữa các quốc gia, chủng tộc và dân tộc từ những hệ thống tôn giáo, chính trị và kinh tế khác biệt.

TẠO DỰNG HÒA HIỆP

Hòa hiệp và hữu nghị vốn cần thiết trong gia đình, quốc gia, và thế giới của chúng ta chỉ có thể đạt được qua yêu thương và ân cần tử tế. Bằng việc hổ trợ nhau, với sự quan tâm và tôn trọng, chúng ta có thể giải quyết nhiều vấn nạn một cách dễ dàng. Hòa hiệp không thể xuất phát từ đỉnh điểm của mất lòng tin, lừa dối, bắt nạt và tinh thần ganh đua không thiện cảm. Thành công qua hăm dọa và bạo động là thắng thế tạm thời; thành quả tầm thường của nó chỉ có thể tạo thêm những rắc rối mới. Đó là tại sao chỉ trong vài thập niên sau thảm họa vô vàn của Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II đã nổ ra và hàng triệu người nữa đã chết. Nếu chúng ta thẩm tra lịch sử lâu dài của thù oán và sân hận, thì rõ ràng chúng ta thấy nhu cầu để tìm ra một phương cách tốt đẹp hơn. Chúng ta chỉ có thể giải quyết các vấn nạn của chúng ta qua những phương tiện hòa bình chân thật – không chỉ những lời nói hòa bình mà là một nền hòa bình từ tâm hồn và trái tim. Trong cách này, chúng ta sẽ có một thế giới tốt đẹp hơn.

Điều này có thể chứ? Đánh đấm, lừa dối, và bắt nạt đã cột chúng ta vào trong hoàn cảnh hiện tại; bây giờ chúng ta cần sự rèn luyện trong những sự thực tập mới để tìm lối ra. Dường như nó phi thực tế và lý tưởng hóa, nhưng chúng ta không có sự thay thế cho yêu thương, việc nhìn nhận giá trị nhân bản và tính duy nhất của nhân loại. Đây là cách duy nhất để đạt được niềm hạnh phúc miên viễn.

Tôi đã du hành từ quốc gia này qua quốc gia khác với ý nghĩa duy nhất này. Tôi đã rèn luyện tâm thức trong nhiều thập niên, vì thế khi tôi gặp gở mọi người từ những nền văn hóa khác nhau thì không có rào cản nào. Tôi tự tin rằng mặc cho những nền văn hóa khác nhau cùng những hệ thống chính trị kinh tế khác nhau, nhưng một cách căn bản tất cả chúng ta là giống nhau. Càng gặp gở nhiều người hơn sự tự tin của tôi càng trở nên mạnh mẽ hơn về tính duy nhất của nhân loại, được đặt nền tảng trong sự thấu hiểu và tôn trọng, là một căn bản thực tế và có thể thành tựu được cho tư cách của chúng ta. Bất cứ nơi nào tôi đến, đây là điều mà tôi nói đến. Tôi tin rằng từ ái và bi mẫn -  một cảm nhận chân thành về tình anh chị em – là tôn giáo phổ quát. Bất chấp ta là Phật tử hay Ki tô hữu, Hồi giáo hay Ấn giáo, cho dù chúng ta hoàn toàn không thực tập tôn giáo gì cả thì vấn đề quan trọng là cảm nhận đồng nhất với nhân loại của chúng ta.

Quý vị có đồng ý không? Quý vị có nghĩ là điều này vô nghĩa không? Tôi không phải là một Thánh Vương (God King) như một số người gọi tôi. Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo. Những gì tôi đang nói là từ sự thực tập của tôi, rất giới hạn. Nhưng tôi thật sự cố gắng để thực hiện những ý tưởng này trong đời sống hàng ngày của tôi, một cách đặc biệt khi tôi đối diện với những rắc rối. Dĩ nhiên đôi khi tôi thất bại. Đôi khi tôi bực tức. Có khi tôi sử dụng những lời thô tháo, nhưng khi xảy ra như vậy, lập tức tôi nghĩ “Ô, như vậy là sai rồi.” Tôi cảm nhận điều này vì tôi đã tiếp thu những sự thực tập yêu thương và tuệ trí làm cốt lõi cho quyển sách này. Những sự thực tập hàng ngày này là rất hữu ích và rất giá trị trong đời sống của tôi. Do vậy, vì biết rằng quý vị và tôi có tâm hồn và trái tim như nhau, cho nên tôi chia sẻ chúng với quý vị.

***

Khi tôi mới 15, Hồng Quân đánh chiếm miền Đông Tây Tạng, và chỉ trong một năm chính quyền Tây Tạng quyết định tôi nên trực tiếp điều khiển công việc của quốc gia. Đó là một thời điểm khó khăn khi chúng tôi nhìn sự tự do của chúng tôi bị xói mòn, và trong năm 1959, tôi bị buộc phải đào thoát khỏi thủ đô dưới sự che chở của màn đêm. Trong lưu vong ở Ấn Độ, chúng tôi đối diện với các rắc rối hàng ngày từ nhu cầu điều hòa với khí hậu khác biệt quá lớn đến nhu cầu tái thiết lập những cơ cấu văn hóa. Sự thực tập tâm linh đã cho tôi một triển vọng để có thể giữ sự tìm kiếm cho những giải pháp mà không đánh mất quan điểm về sự kiện rằng tất cả chúng ta là những con người bị hướng dẫn lạc lối bởi những ý kiến sai lầm và được hợp nhất bởi những mối quan hệ chung, sẳn sàng cho sự cải thiện.

Điều này đã dạy tôi rằng những nhận thức của yêu thương, tĩnh lặng, và tuệ giác là quan trọng với đời sống hàng ngày và phải được trau dồi trong sự thực tập hàng ngày. Rắc rối bắt buộc phải xảy ra, cho nên việc trau dồi thái độ đúng đắn là cần thiết. Sân hận làm suy giảm năng lực phân biệt đúng và sai, và năng lực này là một trong những cống hiến cao cấp nhất của loài người. Nếu nó bị đánh mất thì chúng ta cũng không còn. Đôi khi cũng cần phản ứng một cách mạnh mẽ, nhưng điều này  nên được thực hiện mà không có sân hận. Sân hận là không cần thiết. Nó vô giá trị.

Tôi gọi từ bi yêu thương là nguyên liệu chính của địa cầu. Loài người muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Hòa bình tinh thần là nhu cầu căn bản cho toàn thể nhân loại. Đối với những chính trị gia, kỷ , khoa học gia, người nội trợ, bác sĩ, giáo viên, luật sư – cho tất cả mọi người trong mỗi nỗ lực – một động cơ lành mạnh, yêu thương là nền tảng của sự lớn mạnh tâm linh.

TỔNG QUAN CỦA QUYỂN SÁCH

Trong những chương tiếp theo, tôi sẽ diễn tả những kỷ năng Phật giáo đặc thù cho việc đạt đến hòa bình tinh thần và một năng lực lớn hơn cho từ bi yêu thương trong phạm vi của hành động để vượt thắng những gì mà Đạo Phật xem như các khái niệm sai lầm về vấn đề sự sống và sự vật tồn tại như thế nào. Trong thuật ngữ Phật giáo, đây là con đường đến Giác Ngộ. Tuy nhiên, bất cứ người nào cũng có thể hiện thực những bước đặc thù đối với việc tự cải thiện khi họ thấy thích hợp.

Tôi đã bố cục quyển sách này làm sáu phần. Bắt đầu bằng Những Căn Bản, với câu chuyện về Đức Phật như một sự hướng dẫn cho cuộc sống đầy đủ ý nghĩa, sống trọn vẹn: ở đây tôi giới thiệu ba khía cạnh của sự thực tập tâm linh – đạo đức, thiền định và tuệ trí – vốn là chủ đề chính của quyển sách. Trong phần thứ hai, Thực Hành Đạo Đức, tôi diễn tả hai loại đạo đức: tái định hướng những hành vi của thân thể và lời nói để không làm tổn hại người khác, và việc trau dồi quan tâm sâu sắc hơn cho người khác. Trong phần thứ ba, Thực Tập Thiền Định, tôi diễn tả vấn đề thành tựu tập trung tinh thần như thế nào và khôi phục tĩnh lặng trong những hoàn cảnh căng thẳng như thế nào. Điều này được tiếp theo bởi Thực Hành Tuệ Trí, trình bày chủ đề khó nhưng bổ ích của duyên khởi và tánh không. Ở đây, chúng ta đi sâu hơn vào tư duy Phật giáo khi chúng ta quan tâm đến sự khác biệt giữa tâm thức và bản chất tối hậu của nó. Trong phần thứ tư này, tôi hy vọng giảng giải bất cứ khái niệm nào mà Phật giáo vì một lý do nào đấy cho là hư vô và bi quan bằng việc diễn tả tính tương hợp giữa hiện tướng và thực tại.

Những sự thảo luận này về đạo đức, thiền định và tuệ trí diễn ra nhẹ nhàng trong phần thứ năm, Mật Tông tantra, trình bày một sự thực tập du già đặc biệt phối hợp ba thứ này. Tôi cũng thảo luận vấn đề tham muốn có thể được sử dụng trong con đường tâm linh như thế nào bởi những hành giả lão luyện.

Phần kết luận, Những Bước Trên Đường Đi, trình bày tổng quan về con đường thực tập từ lúc bắt đầu thẳng đến sự Giác Ngộ, một thể trạng nơi tâm thức và thân thể phát triển trọn vẹn để phụng sự người khác.

Từ lúc bắt đầu đến kết thúc, sự tập trung của chúng ta ở trong sự phát triển một trái tim và tâm thức thuần thiện qua một thái độ đạo đức và một sự thấu hiểu về thực tại, được tăng cường bởi sự tập trung. Hãy nghĩ về đạo đức, thiền định và tuệ trí như một như một bản đồ cho sự Giác Ngộ, nhắc nhở chúng ta về mục tiêu cao nhất của sự thực tập – một sự chuyển hóa thái độ đối với hòa bình, yêu thương, tập trung tĩnh lặng, và tuệ trí. Việc thấu hiểu bản đồ, tự nó là một phần của con đường, vạch ra cho chúng ta hướng đến mục tiêu. Tôi hy vọng rằng, những phần của quyển sách này có thể hữu dụng, nhưng nếu không thì cũng tốt thôi!

Trích từ quyển How to Practice the Way to a Meaningful Life
Ẩn Tâm Lộ, Tuesday, December 26, 2017




Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

THI KỆ QUÁN CHIẾU HÀNG NGÀY


                                                                                               


Nguyên bản: Daily Reflection on the Poem
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

-***-

Giống như dòng thác đổ mạnh mẽ
 Không thể chảy ngược lại
Cũng vậy chuyển dịch của một đời sống con người
Cũng không thể đảo ngược được.
-         ĐỨC PHẬT –

-***-

Đây là toàn bộ thi kệ của Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma

Nguyện Ước Giải Thoát Khỏi Tình Cảnh Nguy Hiểm Của Thân Trung ấm,
Anh Hùng Thoát Ra Từ Sự Sợ Hãi.
Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma
Losang Chokyi Gyeltsen

Thi kệ 1:

Con và tất cả chúng sanh trong khắp không gian, không loại trừ ai
Xin quy y cho đến khi Giác Ngộ tối hậu
Với chư Phật, giáo pháp, và cộng đồng tâm linh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Nguyện cho chúng con được giải thoát khỏi sự khiếp sợ của kiếp sống này, thân trung ấm, và kiếp sống tới.

Thi Kệ 2

Xin cho chúng tôi rút ra ý nghĩa tinh hoa mà kiếp sống này hổ trợ
Không bị xao lãng với những mối quan hệ vô nghĩa của kiếp sống này,
Vì nền tảng tốt đẹp này, khó để đạt được và dễ bị suy tàn,
Hiện tại là một cơ hội của chọn lựa giữa được và mất, thoải mái và khổ đau.

Thi Kệ 3

Xin cho chúng tôi nhận ra rằng không có thời gian để lãng phí,
Sự chết là chắc chắn nhưng lúc nào chết là không xác định.
Những gì đã tập họp sẽ bị chia lìa, những gì đã được tích tập sẽ được tiêu thụ mà không dư thừa.
Điểm cuối của đỉnh cao là đi xuống, kết thúc của sự sinh là sự chết.

Thi Kệ 4

Xin cho chúng tôi được giải tỏa khỏi sự tràn ngập của đau khổ
Qua nhiều nguyên nhân của sự chết
Khi trong tập họp này của những nhận thức sai lầm về chủ thể và đối tượng
Thân thể của ảo tưởng được cấu thành bởi bốn yếu tố bất tịnh
Và tâm thức sắp chia ly

Thi Kệ 5

Xin cho chúng tôi được thoát khỏi những hiện tướng sai lầm phi đạo đức
Khi, bị lừa dối vào lúc nhu cầu kéo dài thân thể này quá thiết tha
Những kẻ thù kinh khủng – thần chết – biểu hiện
Và chúng ta tự giết mình
với những vũ khí của ba độc tố: tham luyến, thù oán, và bối rối.

Thi Kệ 6

Xin cho chúng tôi ghi nhớ những giáo huấn cho sự thực tập
Khi bác sĩ bỏ rơi chúng tôi và các nghi thức không có kết quả,
Bạn bè đã bó tay với sự sống của chúng tôi,
Và chúng tôi không còn gì nữa để làm.

Thi Kệ 7

Xin cho chúng tôi có sự tự tin hân hoan và hỉ lạc
Khi thực phẩm và tài sản được tích lũy với những sự đau khổ bị bỏ lại phía sau
Và chúng tôi chia lìa mãi mãi với những người thân yêu mến và ước mong,
Ra đi đơn độc tới một hoàn cảnh hiểm nghèo.

Thi Kệ 8

Xin cho chúng tôi phát sinh một tâm thức mạnh mẽ của đạo đức
Khi những yêu tố - đất, nước, gió, lửa – tan rã trong những giai đoạn
Và sức mạnh thân thể bị mất, miệng và mũi khô và co lại
Sức ấm rút lui, hơi thở hổn hển, và âm thanh khò khè nổi lên

Thi Kệ 9

Xin cho chúng tôi nhận ra phương thức bất tử của chúng sanh
Khi những hiện tướng sai lầm đủ thứ sợ hãi và kinh khiếp
Và trong ảo giác, làn khói, và đom đóm đặc thù xuất hiện
Và khung sườn của tám mươi nhận thức biểu thị chấm dứt

Thi Kệ 10

Xin cho chúng tôi phát sinh sự tỉnh thức và quán chiếu mạnh mẽ
Khi yếu tố gió bắt đầu hòa tan vào thức
Và sự tương tục của hơi thở bên ngoài chấm dứt,
các hiện tướng thô nhị nguyên tan rã,
Và một hiện tướng như ngọn đèn bơ cháy ló dạng.

Thi Kệ 11

Xin cho chúng tôi biết bản chất của chính chúng tôi
Qua du già việc nhận biết luân hồi và niết bàn như trống rỗng
Khi xuất hiện, gia tăng, và gần đạt đến hòa tan – thứ trước vào thứ sau –
Cùng những trải nghiệm như ánh sáng
của mặt trăng, mặt trời, và bình minh đen tối.


Thi Kệ 12

Xin cho linh quang của mẹ  và con gặp nhau
Khi gần thành tựu hòa tan vào trong tất cả trống không
Và tất cả các sự khuếch đại nhận thức dừng lại và
Một kinh nghiệm như bầu trời mùa thu
 thoát khỏi những điều kiện ô nhiễm ló dạng

Thi Kệ 13

Xin cho chúng con được thiết lập
 trong thiền nhất tâm thậm thâm
Trong tuệ trí quý báu của sự kết hợp
an lạc bẩm sinh và tánh không
Trong bốn sự trống rỗng trên sự tan biến
của thành phần giống như mặt trăng trắng
Bằng lửa giống như tia chớp nữ mạnh mẽ.

Thi Kệ 14

Xin cho tôi hoàn thiện thể trạng trung ấm thân
Thiền định về vọng tưởng vì thế trên việc rời khỏi linh quang
Chúng tôi thành đạt một Thọ dụng thân sáng chói với sự huy hoàng của những biểu hiện và hảo tướng của một Đức Phật
Phát sinh thuần khiết từ gió năng lượng và tâm linh quang của sự chết

Thi kệ 15

Nếu, qua nghiệp, một thể trạng trung ấm thân được thiết lập,
Nguyện cho những hiện tướng sai lầm được tịnh hóa
Qua sự phân tích tức thời và thực chứng việc vắng mặt của sự tồn tại cố hữu
Của những khổ đau của sanh, tử và thể trạng trung ấm thân.

Thi kệ 16

Nguyện cho chúng tôi được sinh ra trong một vùng đất tinh khiết
Qua việc chuyển hóa du già ngoại tại, nội tại và bí mật
Khi những dấu hiệu đa dạng – 4 âm thanh của sự đảo ngược của 4 yếu tố
Ba hiện tướng sợ hãi, và những điều không xác thực – xuất hiện

Thi Kệ 17

Xin cho chúng tôi được tái sanh với sự hổ trợ của sự sống siêu việt của một hành giả Mật thừa sử dụng bầu trời
Hay thân thể của một tu sĩ hay một cư sĩ hành giả sở hữu ba sự thực tập
Và xin cho chúng tôi hoàn thành sự thực chứng về những con đường của hai giai đoạn của sự phát sinh và hoàn thành,
Do thế thành tựu nhanh chóng những thân của một Đức Phật – Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.

-***-
Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, December 12, 2018










ĐÓN NHẬN SỰ TÁI SANH TÍCH CỰC




Nguyên bản: Taking a Positve Rebirth
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển


-***-

Bất chấp ta đã đạt được những may mắn nào đi nữa,
Khi ta bắt đầu cho một kiếp sống khác
Ta đơn độc không có người phối ngẫu hay con cái,
Không có áo quần, không có bè bạn,
Giống như một người nào đó bị chinh phục bởi một kẻ thù trong sa mạc
Nếu ta sẽ không có ngay cả một cái tên cho chính ta,
Thì cần gì lưu tâm đến bất cứ thứ gì khác nữa?
-         ĐỨC PHẬT –

           -***-

Thi Kệ 17

Xin cho chúng tôi được tái sanh với sự hổ trợ của sự sống siêu việt của một hành giả Mật thừa sử dụng bầu trời
Hay thân thể của một tu sĩ hay một cư sĩ hành giả sở hữu ba sự thực tập
Và xin cho chúng tôi hoàn thành sự thực chứng về những con đường của hai giai đoạn của sự phát sinh và hoàn thành,
Do thế thành tựu nhanh chóng những thân của một Đức Phật – Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.

Việc nối kết kiếp sống tới khi ở trong thể trạng trung ấm là một tiến trình của sức hút và sức đẩy. Cả những súc sanh được sanh từ trứng bên ngoài thân thể và được sanh trong tử cung hoặc thấy cha mẹ chúng một cách thật sự trong tiến trình sinh dục, hay một ý tưởng về điều này, và rồi phát sinh tham luyến (sức hút) với cha hoặc mẹ đối ngược giới tính và sức đẩy [ra xa] với cha hoặc mẹ cùng giới tính. Khi chúng sanh trung ấm sắp ôm lấy cha hoặc mẹ mà nó tham luyến, đột nhiên tất cả nó chỉ thấy là bộ phận sinh dục của người ấy, và vì vậy nó nổi giận. Trong cách này, sức hút và sức đẩy mang đến sự chết cuối cùng của chúng sanh trung ấm.

Chúng ta phải nói rằng đây là cách mà đôi khi thể trạng trung ấm chấm dứt, vì sự thụ tinh trong ống nghiệm mâu thuẩn với những gì mà một số luận điển của chúng ta nói thì phải là như vậy – một cách đặc biệt, rằng cha mẹ phải ăn nằm dưới một điều kiện của sự kích thích tình dục mạnh mẽ. Ngày nay, tinh dịch của người cha có thể được giữ trong phòng thí nghiệm và được đưa vào tử cung bà mẹ mà không có sự kích thích tình dục nào. Tiến trình này mâu thuẩn với những luận điển nào đó với thực tế ngày nay, và chúng ta phải chấp nhận nó. Như những môn nhân của truyền thống Đại học tu viện Na Lan Đà Ấn Độ cổ xưa, chúng ta phải chấp nhận lý tính và khảo sát. Từ quan điểm ấy sự giải thích thông thường của chúng ta chưa hoàn toàn.

Ngay cả trong kinh điển Phật giáo có một câu chuyện về một đôi vợ chồng trở thành độc thân – một người là tăng và người kia là ni. Một ngày nọ vị tăng, bị ảnh hưởng bởi những ký ức quá khứ, đùa ghẹo người vợ cũ. Với việc xúc chạm thân thể, tinh dịch của ông bắn vào áo quần của bà ta. Sau này, bà cũng bị tác động với ký ức và để tinh dịch vào bộ phận của bà. Đúng thời gian, một đứa bé được sinh ra.. Cho nên, ngay cả kinh điển Phật giáo ban sơ này cũng mâu thuẩn với lý thuyết rằng sự thụ thai chỉ xảy ra trong khi đôi nam nữ ở trong tình trạng ôm ấp tình dục.

Trong một cách tương tự, được kể rằng dòng truyền thừa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đi ngược đến một cá nhân tên là Sun-Friend do vì tinh dịch của cha ông rơi trên lá cây, được phát triển bởi sức nóng của mặt trời vì vậy hai đứa bé được hình thành. Hai câu chuyện này, một thời dường như là chuyện thần thoại, ngày nay được hiện thực trong khoa học. Mặc dù, một cách phổ quát đó là trường hợp mà việc thụ thai xảy ra dưới những điều kiện nào đó, nó không phải luôn luôn như thế. Tương tự, việc chấm dứt thể trạng trung ấm không nhất thiết đòi hỏi sức hút với cha mẹ khác giới tình và việc phản kháng vào lúc cuối cùng vì chỉ thấy bộ phận sinh dục.

Trong sự chết của trung ấm thân, chúng sanh nhanh chóng đi qua 8 giai đoạn trong trình tự tiến tới:
1-ảo giác
2-luồng khói
3-đom đóm
4-ngọn đèn dầu
5-tâm bầu trời sống động trắng
6-tâm bầu trời sống động đỏ-cam
7-tâm bầu trời sống động đen
8-linh quang

Vào thời điểm thụ thai, chúng sanh đi qua 7 giai đoạn còn lại theo trình tự ngược lại:
7-tâm bầu trời sống động đen
6-tâm bầu trời sống động đỏ-cam
5-tâm bầu trời sống động trắng
4-ngọn đèn dầu
3-đom đóm
2-luồng khói
1-ảo giác

Có những giải thích khác nhau cho vấn đề chúng sanh đi vào tử cung như thế nào. Một số luận điển nói rằng bằng việc đi vào miệng của đàn ông hay đỉnh đầu và đi qua thân thể của ông ấy và dương vật đi vào tử cung của người đàn bà. Một số sách khác nói rằng chúng sanh đi trực tiếp qua bộ phận nữ vào tử cung. Một người với đạo đức chiếm ưu thế sẽ có một cảm giác của việc đi vào một ngôi nhà êm đềm và nghe những âm thanh dễ chịu. Một người bị khống chế bởi phi đạo đức sẽ có một cảm giác đi vào một đầm lầy hay khu rừng tối tăm giữa những tiếng kêu la khàn khàn.

Gió và tâm rất vi tế của chúng sanh đi vào vật chất (trứng và tinh trùng) được cha mẹ góp phần. Trong bào thai, vốn vào lúc này là bằng một hạt mù tạt lớn, kinh mạch trung tâm hình thành với những kinh mạch bên trái và phải cuộn vào nhau ba lần. Sau đó luồng gió chuyển-lên và gió chuyển-xuống di chuyển vào những hướng tương ứng của chúng và ba kinh mạch trở thành mở rộng. Thân thể dần dần phát triển và cuối cùng xuất hiện trong tử cung.

Bằng việc tiếp tục duy trì sự thực tập tâm linh được giải thích trong những thi kệ trước của Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma, ta có thể được tái sanh với một thân thể vật lý đặc biệt hổ trợ cho một kiếp sống mà trong đó ta sẽ có thể hoàn tất những con đường tu tập Mật thừa còn lại vốn đưa đến sự Giác Ngộ trọn vẹn. Ta có thể được tái sanh trong những nơi chốn lạ thường với những chúng sanh được gọi là “người sử dụng bầu trời” (sky-users), những người thực tập Mật thừa, hay trong những địa vực khác thông thường hơn nơi giáo huấn, đạo sư và sự tự do để thực tập hiện hữu. Trong một nơi tái sanh thuận lợi như vậy, ta sẽ phát những thệ nguyện của hành vi tinh khiết và đi đến sở hữu ba sự thực tập – đạo đức, thiền định, và tuệ trí – như gốc rễ cho sự tiến bộ tâm linh của ta. Với những điều này như nền tảng, ta sẽ tìm cầu để hoàn thành những thực chứng của hai giai đoạn cao nhất của Tantra Yoga Tối Thượng.

·        Bổn tôn du già cùng với thiền quán về tánh không và 8 dấu hiệu của sự chết.
·        Bổn tôn du già với thiền quán về tánh không, sự rút lui của những luồng gió trong kinh mạch trung tâm, và việc thực chứng về những trình độ thậm thâm của thức.

Qua những giai đoạn này, ta sẽ hoàn thành những bước còn lại đến Quả Phật, ở một thể trạng phục vụ hoàn toàn cho người khác. Nguyện ước cuối cùng trong thi kệ của Đức Ban Thiền Lạt Ma là chỉ cho một kiếp sống tương lai như vậy. Hãy nhớ, mục tiêu tối hậu trong sự thực tập của Phật giáo là để phụng sự người khác, và cho một tình trạng tác động nhất cho việc phụng sự là nhất thiết phải đạt được thân và tâm tinh khiết. Mục đích là để có thể hổ trợ một số lượng rộng lớn chúng sanh qua vô số phương tiện.

Khi ta thực tập, đừng để con đường [tu tập] chỉ đi bên ngoài chính ta, mà phải hướng tâm ta vào con đường tâm linh. Bằng khác đi, mặc dù ta cố gắng để thực tập, ta có thể trở thành mệt mõi và ngay cả làm phiền người khác sau một thời gian. Đừng chỉ lập lại những từ ngữ thi kệ của Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma, Những Nguyện Ước Cho Việc Thoát Khỏi Những Tình Trạng Khó Khăn Của Trung ấm Thân, Người Anh Hùng Thoát Khỏi Sợ Hãi, mà hãy thực tập nó hàng ngày từ việc tiếp cận quán chiếu, đưa ý nghĩa và tâm. Đó là lời khuyên của tôi.

TOÁT YẾU QUÁN CHIẾU

1-    Mục tiêu trong việc tái sanh của ta là được sanh ra với một thân thể trong một hoàn cảnh có thể hoàn thành những con đường tâm linh còn lại.
2-    Mục tiêu của việc trở thành Giác Ngộ hoàn toàn là để phụng sự người khác.

-***-

Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, December 12, 2018