Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

NHỮNG LÀN SÓNG TÍCH CỰC KHÔNG THẤY



Đức Đạt Lai Lạt Ma rời khu vực giản dị của ngài ở tầng thượng một tu viện Tây Tạng tại Đạo Tràng Giác Ngộ và đi xuống cầu thang bên ngoài khoảnh sân hẹp của tu viện. Chiếc xe Đại sứ trắng đậu ở đấy. Nó trông cũng giống như những chiếc xe taxi khác thấy trong những thành phố Ấn Độ. Nhưng chiếc này được bọc sắt, cửa sổ dày, kính màu đủ mạnh để chống lại đạn. Một nhóm nhỏ Maoists cực đoan đã kích động gần Đạo Tràng Giác Ngộ mấy tháng gần đây. Và vùng này của Bihar, tiểu bang nghèo nhất của Ấn Độ, được biết như thỉnh thoảng có cướp vũ trang. Văn phòng ngoại giao ở Delhi đã gửi chiếc xe từ thành phố Lucknow kế cạnh cho Đức Đạt Lai Lạt Ma sử dụng trong chuyến hành hương đến Đạo Tràng Giác Ngộ và những nơi gần các Phật tích.

Đức Đạt Lai Lạt Ma bước qua chiếc xe và khỏi tu viện, cùng theo có đoàn tùy tùng khoảng năm mươi người: những người phụ tá và thị giả, một số lạt ma cao cấp, một đội bảo vệ Ấn Độ và Tây Tạng. Khu vực bên ngoài tu viện, trung tâm Đạo Tràng Giác Ngộ đã được dọn dẹp. Một đám đông những người hành hương và cầu mong tốt lành đang xếp hàng đợi chờ bên lề đường một cách nhẫn nại để được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ tôn kính Tây Tạng. Cảnh sát không cho xe hơi, xe đạp, xe kéo di chuyển trên đường.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thú vị với đoạn đường đi bộ ngắn này đến Đại Tháp Giác Ngộ thiêng liêng, nơi Đức Phật đã thành tựu Giác Ngộ. Đây sẽ là cơ hội để ngài gặp gở với những người bình thường. Hết lần này đến lần khác, ngài đã tách ra khỏi những người bảo vệ để chào mừng một người nào đó trong đám đông.

Một đội quân ăn xin nhỏ, hầu hết là đàn bà không rõ tuổi tác trong những bộ sari đủ màu sắc, ngồi chồm hổm bên ngoài cổng tháp. Họ là những người thuộc đẳng cấp cùng đinh của Ấn Độ, và đã trải qua một đoạn đường dài để đến Đạo Tràng Giác Ngộ, đúng thời gian của lễ khai đạo Thời Luân 2002 - trong mười một ngày nghi lễ Phật Giáo được tiến hành bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma trước hai trăm nghìn người (200,000). "Ở đây nơi Đạo Tràng Giác Ngộ," Đức Đạt Lai Lạt Ma từng giải thích cho tôi, "một số đông người như vậy sẽ đến với nhau trong vài ngày để tập trung vào lòng vị tha. Do bởi điều này, tôi nghĩ là những làn sóng tích cực , có lẻ ở mức độ không thấy được, có thể xảy ra. Nhưng tôi có thể bảo đảm với ông, bất kể là tích cực hay không, tối thiểu là vô hại. Và tôi nghĩ những  người tham dự, trong một thời khắc ngắn ngủi nào đó, có thể trải nghiệm một sự tĩnh lặng nào đó, một sự hòa bình và toại nguyện nào đó. Điều đó thường xảy ra trong lễ Khai đạo Thời Luân."

Một điều chắc chắn là, những người ăn xin biết là họ sẽ không đói. Và họ biết là, kết thúc hai tuần phóng túng, mỗi người trong họ chắc là sẽ về nhà với một xấp tiền giấy rupee (tiền tệ Ấn Độ).

Những người ăn xin chỉ hơi chú ý sự tiếp cận Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thay vì thế, sự chú ý chính của họ tập trung mạnh vào năm sáu người Tây Tạng đang kéo một thùng nhôm lớn chứa cơm màu vàng nghệ đến trước họ. Với những động tác nhanh, nhuần nhuyển, hai người trai trẻ múc những  phần bố thí vào chiếc ca thiếc chìa ra. Nghi thức này được tiến hành hai lần một ngày. Đi vội vàng trên đôi tay và đầu gối của chúng theo những người Tây Tạng di chuyển nhanh là năm hay sáu đứa bé bị tê liệt, những đôi chân như que diêm của chúng rung động nhịp nhàng phía sau thân thể gầy còm của chúng như những cái đuôi. Những đứa trẻ cũng sẽ không đói - không đói khi Đức Đạt Lai Lạt Ma ở trong thị trấn này.


Ở cửa ra vào phía trước chánh điện của Đại Tháp, Đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ đôi dép nhựa ra và lễ phủ phục ba lần trên một tấm tọa cụ lụa đỏ thắm trải trên nền bởi những thị giả của ngài. Sau đó ngài bước qua một lối hẹp vào chánh điện nổi bật tận cùng là một tượng Phật lớn.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tiến đến bảo tọa, bức tượng cao ngất phía trên ngài. Ngài lễ phủ phục ba lần nữa. Một nhóm tu sĩ Tích Lan, chói lọi trong những bộ y vàng nghệ của họ đi lượn đến gần. Họ là những bảo vệ chính thức của đại tháp. Chỉ một tá lạt ma cao cấp Tây Tạng trong y áo đỏ sậm và một ít bảo vệ Tây Tạng là những người khác trong điện Phật. Không khí gần như cay nồng với mùi nhang dày đặc phảng phất và mùi hơi người ẩm lâu ngày của vô số khách hành hương.

Tôi đứng chen bên cạnh Senge Rabten, trưởng nhóm bảo vệ của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhà chuyên môn karate với thân hình ngắn gọn đang vói lên cố gắng sửa một chiếc quạt trần. Sau một dò dẫm nào đó, ông ta đã thành công trong việc hướng dòng không khí thẳng đến Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi có thể nghe những tiếng động của một đám đông khổng lồ bên ngoài, được giữ trong sự hạn chế bởi những chiến binh trang bị vũ khí tự động.

Một tu sĩ Tích Lan đưa chiếc bật lửa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Hai cây nến màu tím, hình xoắn và để trên chân đèn bằng đồng, đặt trên bệ trước tượng Phật. Đức Đạt Lai Lạt Ma thắp đèn một cách cẩn thận, từng chiếc một. Sau đó ngài nhìn lên Phật tượng và chấp tay trong tư thế quy kính.

Tôi nheo mắt nhìn bức tượng cổ bằng đá, nghe nói là được tạc khoảng 1,700 năm trước. Khi được khai quật bởi những nhà khảo cổ Anh thế kỷ 19, đầu của bức tượng bị rời khỏi thân. Họ đã hàn gắn lại trước khi cung nghinh Phật tượng vào nội điện của đại tháp. Tôi đã biết rằng khi Đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tiên chiêm ngưỡng bức tượng quan trọng nhất này, ngài đã bị khích động vì thấy chính mối ráp lại. Ngài đã cúng dường một số tiền lớn, thỉnh cầu được sơn bức tượng bằng vàng. Cơ quan khảo cổ Ấn Độ đã chống đối, nhưng cuối cùng, tình cảm tôn giáo đã thắng. Bức tường phía sau tượng Phật được sơn màu xanh dương và chiếu ánh sáng nhẹ, để tạo ảnh hưởng của khung cửa sổ lớn giống như bầu trời xanh. Tôi cố gắng để thấy nếp nhăn của mối ráp chung quanh cổ tượng nhưng không thành công.

Đức Đạt Lai Lạt Ma bước trở ra Phật điện. Ngài xoay sang bên phải và đi nhiễu chung quanh đại tháp.

Ngay trước khi ngài đến cổng tháp, ngài đột nhiên thay đổi hướng đi và rẻ sang bên phải, đến gần một đám đông người Tây Tạng đang căng thẳng chống lại những nhân viên bảo vệ. Với người bảo vệ bên cạnh, ngài hướng đến một người trai trẻ ngồi trên mặt đất bên cạnh lão bà nét mặt rộng của người Mông Cổ, tóc bà kết thành hai bím dài. Người trai trẻ, khoảng mới hai mươi tuổi, có một cây gậy trong tay. Thế nào đấy, mặc dù mắt anh ta mở rộng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đoán là anh ta mù. Người tu sĩ Tây Tạng khom mình xuống, cầm tay người thanh niên, và nói với ngài trong một giọng sâu lắng. Ngài muốn biết anh ta từ đâu đến, anh ta có được chửa trị gì chưa. Tôi kinh ngạc với năng lực kỳ lạ của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi chọn ra người mất khả năng, tàn tật trong một đám đông khổng lồ.

Sau này tôi mới được biết người trai trẻ, Lobsang Thinley, đã đến với mẹ anh ta từ vùng Machen của Amdo, một bộ phận của tỉnh Thanh Hải, Trung Hoa, phía Đông Bắc Tây Tạng. Anh ta đã bị mù vào lúc mưởi lăm tuổi, khi đau đớn từ một chấn động nghiêm trọng sau khi bị té. Việc giải phẩu đã hồi phục khả năng nhìn của anh ta một phần nào, nhưng trước đó lâu rồi sự mù lòa của anh ta đã trở lại. Trải qua nhiều năm, mẹ anh ta đã cố gắng một cách tuyệt vọng để tìm cách cứu  chửa cho con trai bà, đưa anh ta đến những bệnh viện quan trọng ở Chengdu và Bắc Kinh, nơi anh ta được giải phẩu một lần nữa, và cũng được chửa trị bằng châm cứu. Không gì có kết quả. Thần kinh thị giác của anh ta đã bị hư hại nghiêm trọng, và anh được nói là anh không thể thấy lại lần nữa.

Khi anh ta nghe rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma, lần đầu tiên trong mười lăm năm, sẽ tiến  hành lễ Khai đạo Thời Luân ở Đạo Tràng Giác Ngộ đầu năm 2002, người con trai quyết định đi. Anh ta muốn được gần Đức Đạt Lai Lạt Ma, để nghe ngài giảng đạo. Gia đình và bè bạn cố gắng để khuyên ngăn: hành trình từ Đông Bắc Tây Tạng đến Nepal và Ấn Độ qua Hy Mã Lạp Sơn sẽ gian khó và nguy hiểm. Nhưng anh ta không nghe. Mẹ anh ta đã bán hết nữ trang và trâu bò và mượn người thân để dành dụm đủ tiền cho hành trình. Bà vẫn hy vọng rằng con trai bà ta sẽ thấy lại một ngày nào đó. Có lẻ họ gặp may mắn ở Ấn Độ, nơi khai sinh Phật Giáo.

Sau một vài trao đổi ngắn với bà mẹ và đứa con, Đức Đạt Lai Lạt Ma quay đi. Người trai trẻ cầm tay ngài thêm một lúc nữa, không muốn buông ra. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với một người phụ giúp của ngài. Ngài muốn Bác sĩ Tseten Dorji Sadutshang, một trong những bác sĩ riêng của ngài và giám đốc của bệnh viện Delek ở Dharamsala, khám nghiệm cho người trai trẻ xem có thể làm được gì không. Sau đó ngài rời Đại Tháp Giác Ngộ và đi bộ về tu viện Tây Tạng.

Ẩn Tâm Lộ, Tuesday, December 08, 2015

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

MỘT HỌC GIẢ ĐẠI HÀN Ở ĐẠO TRÀNG GIÁC NGỘ



Một học giả nổi tiếng của Đại Hàn, mặc áo dài đen của Khổng Giáo với cổ cao, và tay dài rộng, ngồi xếp bằng trước Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Đó là đầu tháng Giêng 2002. Chúng tôi được ngồi trên những tấm tọa cụ bọc vải Tây Tạng trong khu vực của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên tầng thượng của một tu viện Tây Tạng, nơi tạm trú trong thời gian ngài ở Đạo Tràng Giác Ngộ. Tôi đang cảm thấy hơi cáu kỉnh. Đáng lẻ tôi phải có ít nhất hai buổi phỏng vấn với Đức Đạt Lai Lạt Ma ở đây, trước khi tôi cùng với ngài đến Linh Thứu. Nhưng học giả, Kim Yong-Oak, tốt nghiệp Harvard và điều khiển một tiết mục phổ biến trên TV Đại Hàn về Khổng Tử, đã xoay sở để có thêm một buổi yết kiến ngày hôm trước. Ông cho thấy rất cảm kích Đức Đạt Lai Lạt Ma là ông đã được có thêm một buổi phỏng vấn vào ngày đó. Tôi đã có một buổi phỏng vấn hai ngày trước đây, và xem ra đó là tất cả những gì tôi có mà thôi.

"Đây có thể là một câu hỏi rất ngờ nghệch .. " vị học giả nói một cách do dự khi ông bắt đầu buổi phỏng vấn với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ông lấy chiếc mũ không vành ra, giống như một nón kết của thủy thủ Mỹ, cho thấy một cái đầu cạo nhẵn bóng. Tôi đoán ông khoảng vào độ mới năm mươi tuổi. "Trong suốt cuộc đời ngài," vị học giả tiếp tục, những lời của ông như dính liền nhau, "ngài đã học hỏi rất nhiều và đã rèn luyện thân thể ngài rất nhiều. Và ngài có đủ loại kinh nghiệm. Ngài là một nhà tư tưởng lớn. Ngài có thể nói cho tôi nghe điều gì đó riêng tư về ngài, một kinh nghiệm Giác Ngộ nào đó?"

Tôi thật ngạc nhiên với câu hỏi. Điều đó là cá nhân và không thích đáng, đặc biệt chỉ mới lần gặp gở thứ hai. Tuy nhiên, tôi vẫn thích thú trong câu trả lời. Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ bày tỏ điều riêng tư sâu lắng gì đó không với một người xa lạ thực sự này, để thảo luận về điều gì đó mà những đại sư tôn giáo hiếm khi nói đến? Ngài sẽ thuật lại kinh nghiệm của ngài về sự tỉnh giác tâm linh chứ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngả về phía sau, phát biểu trang nghiêm từ tốn.

"Thân thể này, bây giờ sáu mươi năm rồi. Nhưng trình độ tâm linh của tôi, tôi rất trẻ," vị tu sĩ Tây Tạng nói. Ngài dừng lại để cười vang động vào lời nói đùa của chính ngài, toàn thân ngài rung lên. "Nhưng dĩ nhiên, khái niệm về vô thường, và tánh không, rất năng động. Rất hữu ích," ngài nói, thâm trầm sâu lắng. "Đặc biệt khái niệm về tánh không." Kim lấy vở ra và bắt đầu ghi chép cẩn thận.

"Theo Long Thọ, tánh không nghĩa là nhân duyên hay liên hệ hổ tương, liên kết hổ tương," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói khi ngài nghiêng mình về phía nhà học giả Đại Hàn. Long Thọ là một đạo sư vào thế kỷ thứ hai của Ấn Độ mà những giảng dạy của ngài cung cấp nền tảng cho Phật Giáo Tây Tạng.

"Tánh không không phải là không có gì,'' Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục. ''Tánh không là trọn vẹn, không phải trỗng rỗng. Việc nhận ra tánh không, hiểu biết tánh không … Tôi nghĩ tôi có một sự thấu hiểu thông tuệ nào đó. Tánh không - bạn cũng có thể nghĩ về nó như sự liên hệ hổ tương - giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Tầm nhìn của chúng ta về thế giới, tầm nhìn của chúng ta về chính cuộc đời của chúng ta. Nó thật sự mở rộng. Thật rất hữu ích để phát triển khái niệm thiêng liêng này."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn qua bên Lhakdor, thông dịch viên của ngài và nói bằng tiếng Tây Tạng.

"Cà phê hay trà?" Lhakdor, ngồi trên sàn bên cạnh ngài, và hỏi vị học giả.

"Thứ nào cũng được. À … trà."

"Có lẻ là cà phê," Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc nhở một cách hữu ích.

"Vâng, cà phê …"

"Một người Đại Hàn, được Mỹ hóa bằng Harvard," Đức Đạt Lai Lạt Ma đùa.

"Okay, trà," vị học giả đáp lại. "Vâng, có lẻ tôi Mỹ quá. Nhưng mặc dù tôi tiếp nhận sự học vấn ở một nước ngoài, nhưng tôi được xem như một người truyền thống nhất ở Đại Hàn."

"Như vậy là rất tốt. Rất tốt." Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu.

"Đây chính là áo quần do tôi tự thiết kế," Kim nói, vỗ vào chiếc áo dài đen đẹp của ông. "Nhưng thường thì tôi mặc áo quần truyền thống. Không bao giờ là đồ Tây."

Kim mang theo cùng hai người chụp hình và một thư ký cho cuộc phỏng vấn. Một, người đàn ông trẻ đang chụp hình nhanh một cách lặng lẽ bên cạnh. Kim bây giờ quay sang và nói ngắn gọn với người chụp hình, người ấy bây giờ tiến ra phía sau Đức Đạt Lai Lạt Ma để có thể tập trung tốt hơn vào vị học giả.

Đức Đạt Lai Lạt Ma hào hứng tiếp tục với cuộc phỏng vấn. "Bây giờ, tánh không và từ bi," ngài nói với người Đại Hàn, không chú ý gì đến ánh đèn chớp của máy chụp hình. "Dĩ nhiên, trước tiên nhất, chúng ta thông hiểu những ý tưởng này ở một trình độ hiểu biết. Cũng như những khía cạnh tích cực của từ bi và những tàn phá của vị kỷ. Sau đó, cuối cùng, có tác động trên cảm xúc của chúng ta. Cảm xúc của chúng ta thay đổi một cách chầm chậm. Đó là cung cách của Phật Giáo. Hãy sử dụng lý trí, hãy làm cho sự hiểu biết hữu dụng. Cho nên, liên hệ đến từ bi và thông hiểu tánh không, tôi có một ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm đó chắc chắn mang đến lợi ích. Lợi ích lớn. Tôi hoàn toàn tin tưởng, bây giờ tôi có kinh nghiệm nho nhỏ này, nếu thực tập xa hơn, thì thậm chí những lợi ích lớn hơn sẽ đến với tôi. Điều đó là bảo đảm. Ông phát triển những phẩm chất này, thì ông sẽ có được hòa bình và hạnh phúc."

"Thưa Đức Thánh Thiện, ngài có thể nói điều gì đó về tánh không chứ?" vị học giả hỏi. Tôi mừng rằng ông ta, cũng như Oprah và tôi gặp khó khăn với khái niệm tánh không.

''Có hai trình độ về thực tại," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích với người khách Đại Hàn. "Một trình độ của thực tại: ông thấy đây là một cái bàn." Ngài đưa tay trái nhẹ nhàng qua phần dưới của cái bàn giữa hai người. Sau đó ngài chỉ cái ca sành nước nóng của ngài, ngài thích uống cả ngày như vậy. "Đây là nước."

"Thực tại quy ước (thế đế)," người Đại Hàn nói.

"Bây giờ, làm thế nào để chứng minh sự hiện hữu của thực tại quy ước này?" Đức Đạt Lai Lạt Ma nói khi ngài di chuyển chiếc ca ngay trước mặt ngài. "Nước này hiện hữu. Tôi thấy, tôi cảm nhận … đây là nước." Ngài chồm mình tới gần cái bàn hơn, đổ nước vào ca, nhúng mạnh một ngón tay vào đó vài lần để nhấn mạnh. Ngài lấy kính ra và khom mình tới cho đến khi khuôn mặt ngài chỉ cách chiếc ca vài  phân. "Trong cái nhìn lần thứ hai, vẫn là nước."

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi thẳng dậy, mang kính vào lại, và chỉ vào Lhakdor, ngồi trên thảm phía bên phải ngài. ''Hãy hỏi người nào khác, vâng, vẫn là nước. Sau đó chúng ta chấp nhận nó: điều này là thật."

Kim Yong-Oak
"Ngài nói về sự thật quy ước," Kim Yong-Oak  nói.

"Vâng, sự thật quy ước. Nhưng hãy nói là, đột nhiên, tôi thấy nước trái cây. Thay vì nước, tôi thấy chiếc ca này đầy nước trái cây - màu vàng." Đức Đạt Lai Lạt Ma lại lấy kính ra lần nữa. Ngài dụi mắt với lưng bàn tay và khom mình tới chiếc ca một lần nữa. "Rồi thì tôi nhìn một cách cẩn thận: tất cả tôi thấy là nước. Cho nên, điều này chứng tỏ rằng nhận thức thứ nhất là sai - việc thấy màu vàng là một lỗi lầm. Khi tôi nhìn gần hơn, nước trái cây không có ở đó."

Đức Đạt Lai Lạt Ma mang mắt kính vào và chăm chú nhìn vị học giả trong một lúc để thấy có bất cứ điều gì đã thẩm thấu vào không. Ngài đang nói rằng nhận thức hàng  ngày của chúng ta có thể là đáng nghi ngờ. Những sai sót vật lý, như điều kiện ánh sáng phức tạp, có thể làm chúng ta thấy mọi thứ không một cách không đúng đắn.

"Một thí dụ khác. Vì sự mù màu của tôi, cho nên tôi luôn luôn thấy mọi thứ màu đen." Ngài chỉ chiếc ca và nói với nhà học giả, "Hôm nay, tôi thấy chiếc ca đen, và trưa nay cũng thấy chiếc ca đen. Nhưng rồi thì tôi không thể chắc. Tôi hỏi người nào đó: 'Hãy nhìn kìa, cái này màu gì?' Nếu người đó xác nhận cái này màu đen, thế thì nó được chứng thực một cách quy ước: cái này màu đen."

Ngài chỉ Lhakdor và hai người chụp hình đi cùng với nhà học giả tới buổi yết kiến. "Nhưng nếu người thứ hai, người thứ ba, thứ tư nói, 'Cái này màu vàng,' thế thì mặc dù tôi luôn luôn thấy cái này như màu đen, thì có điều gì đó sai sót với đôi mắt tôi. Thật sự nó không màu đen. Chính là trong cách này mà tôi luôn luôn cố gắng để tìm kiếm sự thật, sự thật quy ước - qua sự thẩm tra dựa trên lý trí."

Đức Đạt Lai Lạt Ma đang giải thích điều gì đó thân yêu với trái tim ngài: một quan điểm khoa học, đơn giản, hợp lý về thế giới. Ngài không sử dụng những ý tưởng vô vị, nửa vời. Xét cho cùng, đây là một nhân vật đã học hỏi luận lý học trong hơn một thập niên vào lúc tuổi trẻ.  Những gì ngài đang cố để giải thích là điều này: hầu hết chúng ta dính mắc ý tưởng và nghĩa lý với mọi thứ như một cách để thấu hiểu và diễn giải thế giới chúng ta. Nhưng kinh nghiệm của chúng ta ảnh hưởng vấn đề chúng ta thấy thế giới như thế nào. Để thấu hiểu mọi thứ mà không bị biến thể [bởi vọng tưởng], thì chúng ta cần thẩm tra chúng với sự nghiêm khắc của khoa học.

"Bây giờ hãy nhìn vào thực tại cứu kính (chân đế)," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, chỉ vào ngón tay út vào chiếc ca của ngài. "Nó chính xác là gì?" Đức Đạt Lai Lạt Ma dựa rất gần với vị học giả Đại Hàn và nhìn chăm chú vào ông ta. "Chúng ta đang thấy màu sắc, hình thế. Nhưng nếu chúng ta lấy màu sắc, hình thể, vật chất đi thì chiếc ca là gì? Chiếc ca đâu? Chiếc ca này là sự kết hợp của những phần tử: nguyên tử, điện tử, vi lượng tử (quark). Nhưng mỗi phần tử không là 'chiếc ca'. Cũng có thể nói giống như thế với bốn đại (đất, nước, gió, lửa), thế giới, mọi thứ. Đức Phật. Chúng ta không thể tìm ra Đức Phật. Cho nên đó là thực tại cứu kính [ chân lý tối hậu]. Nếu chúng ta không thỏa mãn với thực tại quy ước, nếu chúng ta thâm nhập sâu vào và cố gắng để tìm thứ thật sự, rốt cùng chúng ta sẽ không tìm ra nó."

Vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang nói là, chiếc ca trống rỗng. Thuật ngữ 'chiếc ca' chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu, điều gì đó chúng ta sử dụng để diễn tả thực tại hàng ngày. Nhưng  mỗi chiếc ca hình thành sự hiện hữu do bởi một mạng lưới phức tạp của những nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên). Nó không tồn tại một cách độc lập. Nó không thể hình thành bởi tự nó, của chính ý muốn của nó.

Thí dụ, giả sử tôi quyết định làm một chiếc ca đen. Để làm việc này, tôi trộn đất sét đen và nước, nắn nó như tôi thích và để hổn hợp kết quả trong một máy nung. Đất sét cộng với nước biến thành một chiếc ca do bởi những hành động của tôi. Nhưng nó hiện hữu vô số cách khác nhau mà những nguyên tử và phân tử tương tác. Và về tôi thì sao, đấng tạo hóa của chiếc ca đen, tôi là gì? Nếu cha mẹ tôi chưa bao giờ gặp nhau, chiếc ca đen có thể không bao giờ hiện hữu.

Do thế, chiếc ca không hiện hữu một cách độc lập. Nó hình thành chỉ qua một mạng lưới phức tạp của những mối quan hệ. Trong ngôn ngữ của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma, và đây là khái niệm then chốt trong thế giới quan của ngài, chiếc ca được "hình thành một cách lệ thuộc." Sự hình thành chiếc ca do bởi một số nhiều những nhân tố khác nhau, không phải dưới sự hoạt động của chính nó. Nó là trống rỗng. "Trống rỗng" là tóm tắt cho "sự trống rỗng bản chất, hay không có sự tồn tại cố hữu, hay vô tự tánh". Hay nói cách khác, trống rỗng là một từ ngữ khác của sự liên hệ nhân duyên hổ tương.

Đôi mắt của Đức Đạt Lai Lạt Ma không rời khuôn mặt của vị học giả Đại Hàn. Tôi phải chú ý với cái nhìn chằm chằm mãnh liệt của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sự chuyển dịch lóng ngóng của người chụp hình chung quanh ngài và tiếng lách cách ồn ào của máy chụp hình không ảnh hưởng gì đến ngài.

Tại sao chúng ta quan tâm đến tánh không? Nó làm gì với đời sống thật sự của chúng ta? Đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, quan điểm là tất cả. Rất nhiều nổi bất hạnh, khổ đau của chúng ta được tạo ra bởi sự khác biệt đối kháng giữa những quan điểm của chúng ta và những gì thật sự. Thí dụ, tôi thấy chính tôi là một thực thể riêng biệt. Tôi khác biệt với em gái tôi, vợ tôi, kẻ thù tôi. Cho dù tôi thương những người này hay ghét họ, tôi tin rằng tôi tồn tại một cách độc lập với họ. Cả đời sống của tôi, không nghi ngờ gì trong tâm tư tôi có một sự phân biệt rõ ràng giữa chính tôi và những người khác. Ý tưởng vị kỷ, của mỗi người vì chính họ, có ý nghĩa với quan điểm này.

Tuy nhiên, nếu tôi chấp nhận quan điểm của Đức Đạt Lai Lạt Ma, thì tôi thấy rằng sự tồn tại của tôi lệ thuộc vào những chuỗi liên kết phức tạp vô hạn của những sự kiện, những con người, những nguyên nhân, và những điều kiện (vô số nhân duyên). Nếu bất cứ thứ nào trong đây khác biệt, thì tôi sẽ hiện hữu trong những cách khác nhau. Nếu cha mẹ tôi đã sinh ra ở Lhasa, tôi chắc chắn sẽ là một người Tạng hơn là một người Tàu. Nếu tôi không bị bắt cóc ở A Phú Hản năm 1972, thì tôi có thể đã không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Từ nhận thức này, "tự thân" và "người khác" chỉ có nghĩa trong hình thức của những mối quan hệ. Đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, tinh túy, then chốt của thực tại, là mối quan hệ hổ tương nền tảng giữa người với người, và giữa con người với sự vật. Đây là việc ngài đã nhìn thế giới chung quanh ngài như thế nào. Trong hơn nửa thế kỷ, ngài đã tin tưởng, trong cối lõi sự hiện hữu của ngài, sự quan tâm "của ngài" và sự quan tâm "của ta" là liên kết không thể tách rời. Trong một cách rất hiển nhiên, chúng giao nhau. Và đó là tại sao ngài đã tận hiến trọn đời ngài cho sự cát tường của người khác. Ngài kêu gọi nó soi sáng cho sự vị kỷ. Ngài tin tưởng rằng nếu ngài có thể hổ trợ người khác, thì chính ngài sẽ lợi lạc  trước nhất - ngài sẽ là một người hạnh phúc hơn như một kết quả. Ngài không có sự kêu gọi nào cao hơn điều này.

Cuộc phỏng vấn kết thúc. Trong khoảng một tiếng đồng hồ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kiên nhẫn giải thích cho Kim Yong-Oak vấn đề chính ngài được chuyển hóa trong những bước vở lòng, trải qua năm tháng, bằng việc sử dụng sự tiếp cận hợp lý đúng đắn với sự thực tập tâm linh của ngài. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của lý trí. Ngài dứt khoát rằng bất cứ người nào cũng có thể đạt được hạnh phúc chân thật bằng việc tập trung vào hai nền tảng căn bản của Phật Giáo: từ bi và tánh không. Nhưng vào lúc chấm dứt, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã không nói về những kinh nghiệm Giác Ngộ của chính ngài với vị học giả Đại Hàn.

Ẩn Tâm Lộ, Monday, December 07, 2015

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

BIỂN CẢ CỦA NHỮNG CON RÙA VÀNG






Đã là ngày thứ mười lăm của lịch Tây Tạng, một cách truyền thống đây là thời gian để làm mới. Đức Đạt Lai Lạt Ma đang ở thị trấn của Đạo Tràng Giác Ngộ, Bodhgaya, để tỏ lòng tôn kính đến Phật tích thiêng liêng nhất của Phật Giáo. Sau một vài ngày cần thiết để nghỉ ngơi ở đây, ngài sẽ tiếp tục cuộc hành hương đến đỉnh Linh Thứu trước khi trở lại để truyền lễ quán đảnh Thời Luân. Đức Đạt Lai Lạt Ma bước lên ngai của ngài bên trong Đại Tháp Giác Ngộ, dưới tàng cây bồ đề cổ kính, hậu duệ trực tiếp của cây bồ đề xưa kia nơi Đức Phật đã đạt đến Giác Ngộ hai nghìn năm trăm trước. đông đảo những tu sĩ Tây Tạng ngồi đối diện với ngài trong khoảng sân rộng. Họ đã đến đây để tham dự nghi thức sojong hai lần một tháng - sám hối.

Khi các tu sĩ bắt đầu tán tụng, Đức Đạt Lai Lạt Ma uốn mình gần như hình chữ Z. Từ tư thế quỳ gối, ngài quỳ bẹp xuống trên hai gót chân. Sau đó ngài cúi thân mình xuống cho đến khi trán ngài đụng sàn ngay phía trước hai gối ngài, như biểu lộ một tư thế khiêm hạ thuần khiết. Bởi vì thân thể ngài vô cùng mềm dẽo từ hàng thập niên ngồi thiền trong tư thế hoa sen, cho nên ngài có thể xử trí để uốn mình thành một hình thể chắc nịt nhất. Với tấm y vàng nhiều mãnh buông ngang lưng,  ngài giống như một hoàng kim quy to lớn giữa một biển  người khác.

Đó là lần đầu tiên tôi được đặc ân chứng kiến những nghi lễ mật nhiệm như thế này, và tôi phải kính sợ trong lòng. Điều đáng chú ý nhất là vì sự kiện được diễn ra ngay chính nơi Đức Phật Giác Ngộ thành đạo với sự tham dự của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Hơn thế  nữa còn có đại diện của các tu sĩ thuộc bốn trường phái của Phật Giáo Tây Tạng. Đó là một thời khắc thiêng liêng cát tường. Sau một lúc, một tu sĩ vươn cao đầu lên ướm thử - một cái đầu hói trong cánh đồng hoàng kim. Ông nhìn trộm vội vả chung quanh, sau đó thụp xuống trở lại.

Sau này khi có cơ  hội, tôi đã hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma, điều gì diễn ra trong tâm tư ngài trong lễ sám hối Sojong. Ngài nói với tôi: "Tôi nhớ Đức Phật và tất cả những vị đại sư ấy - như Long Thọ - người đã viếng Đạo Tràng Giác Ngộ."

"Ngài cũng sám hối chứ?" tôi hỏi.

"Dĩ nhiên. Sojong có nghĩa là sám hối."

"Ngài sám hối điều gì?"

"Ăn bánh bích quy vào buổi tối," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. "Như một tu sĩ, tôi đáng lẽ không ăn gì sau buổi ăn ngọ giữa trưa."

***
Sau phần kết thúc của lễ sám hối, Đức Đạt Lai Lạt Ma đứng dậy và bước tới cây bồ đề, một khoảnh đất thiêng liêng được bao quanh bởi những hàng rào đá dày. Năm hay sáu nhánh cây nặng nề nhô ra theo chiều ngang của cây bồ đề tráng lệ. Những cây chống đở bằng sắt, sơn màu xanh lục đậm được củng cố từ nền đất, để giữ những cành cây không quằn xuống sâu hơn có thể làm hư hại những hàng rào vô giá bằng đá chạm trổ phức tạp. Những khăn lụa cúng dường đã được quăng lên những cành cây, cùng với những chuỗi lá cờ cầu nguyện Tây Tạng nhiều màu sắc. Hai cây dù điểm vàng và đen, làm thế nào được được đặt giữa điểm gặp nhau của thân và cành cây, một biểu tượng cúng dường khác.

Đẩy một đám cờ cầu nguyện dày đặc qua một bên, Đức Đạt Lai Lạt Ma cúi đầu qua một lối hẹp giữa hàng rào đá và thân cây khổng lồ. Phần dưới thấp của thân cây được vấn quanh hoàn toàn trong những vải lụa màu đỏ sậm và vàng nghệ. Những lá vàng kim được gắn chặc bởi những người dâng cúng lung linh phía trên. Một mái che bằng đồng cao hơn đầu người, được treo những dây đèn màu chớp tắt, bảo vệ một chiếc bàn đá rộng được gọi là Kim Cương Tòa. Đức Đạt Lai Lạt Ma quỳ xuống và chạm đầu ngài vào phiến cổ xưa trong sự tôn kính.

Kim Cương Tòa là nơi Đức Phật ngồi và hành thiền về tánh không 2,500 năm trước. Ngài đã đạt đến Giác Ngộ khi thực chứng lẽ thật thậm thâm - rằng mọi hiện tượng vốn trống rỗng, chúng không hiện hữu một cách độc lập với các nhân và duyên của chúng.

Trong nhiều bài diễn thuyết và phỏng vấn, Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn luôn nêu lên chủ đề về tánh không. Ngài đã nói biết bao lần rằng mọi thứ mà Đức Phật dạy có thể tóm tắt vào ý tưởng tinh hoa của việc hợp nhất tánh không và từ bi. Đây là công thức cho hạnh phúc: Tánh Không + Từ Bi = Hạnh Phúc.

Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng ta cần trước nhất đạt đến tuệ giác bằng việc thấy thế giới như nó là. Tuệ giác hàm ý một cái thấy trong sáng rõ ràng. Với tuệ giác, chúng ta có thể thấy mọi thứ chung quanh chúng ta một cách rõ ràng, mà không bị định kiến. Cái nhìn của chúng ta xuyên qua làn sương mù ngoài đó như một tia laser. Để làm điều này, chúng ta phải trau dồi một sự  hiểu biết thẩm thấu thật sự đối với  tánh không. Và tánh không là gì? Tánh không chỉ là một cách nói khác của vấn đề mọi thứ là trống rỗng sự tồn tại cố hữu riêng biệt, vô tự tánh. Nó nói rằng, trong sự phân tích sau cùng, không có gì [- con người, tư tưởng, xe cộ -] có thể tồn tại một cách độc lập trong chính nó. Đó là cung cách Giác Ngộ của việc nhìn vào thế giới chung quanh chúng ta. Nó làm hiển lộ một lẽ thật vi tế nhưng cứu kính: liên hệ nhân duyên hổ tương thay vì độc lập, xác định rõ tính chất đời sống của chúng ta và mọi thứ chung quanh chúng ta. Không ai trong chúng ta là một hải đảo. Thế giới là một mạng lưới rộng lớn của những sự kiện quấn bện vào nhau, con người, và sự vật. Những sự liên hợp này có thể khó khăn để thấy, nhưng chúng là thật, luôn luôn ở đó, tiềm ẩn ngay dưới bề mặt. Đồng thời với việc phát triển tuệ giác, chúng ta cần phương pháp. Và phương pháp này là gì? Chỉ trau dồi từ bi.

Từ bi, tôi có thể đối diện với nó. Mặc dù tôi không giỏi lắm với việc áp dụng ý tưởng ấy trong đời sống thật sự, nhựng tôi có thể thấu hiểu nó hoàn hảo. Nhưng tánh không là một vấn đề khó. Mặc dù tôi biết nó là nền tảng quan trọng, và tôi có một sự thấu hiểu như cư sĩ về khái niệm căn bản, nhưng tôi vẫn có những khó khăn với những sự diễn giải nó vi tế hơn. Xét cho cùng, qua các thời đại, toàn bộ sách vở đã được viết về ý tưởng cổ xưa khó năm bắt này - một ý tưởng có liên hệ thật sự cho đời sống hiện tại của chúng ta. Có lẻ tôi quá khoắc khoải về  ngữ học, với ý nghĩa giản dị hàng ngày của chữ nghĩa. "Trống không", theo từ điển trong đầu tôi, bằng không có gì. Nhưng đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, mọi thứ trên thế giới [- mọi thứ, loài người, tư tưởng, cảm xúc, sự vật, bạn đặt tên cho nó -] là trống rỗng. Bởi vì mọi thứ là quấn bện vào nhau, không có sự độc lập. Bởi vì không có sự độc lập, không có gì tồn tại trong và tự chính nó. Tôi đã thấy rằng đó là một khái niệm thật khó để nắm bắt.

***
Trong một lần phỏng vấn, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói với tôi: "Theo niềm tin của Phật Giáo, ngoại trừ ông thiền quán và trải nghiệm tánh không một cách toàn diện và trực tiếp, bằng không thì khó mà loại trừ những cảm xúc phiền  não của ông." Người em út của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngari Rinpoche, đã hiện diện trong buổi ấy. Hầu hết thời gian, ông đơn giản là lắng nghe. Nhưng vào lúc bình luận, ông nhảy vào: "Victor không thích tánh không, ông từ chối nghe tôi nói về vấn đề ấy." Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy đó là một tin tức vui vui.

"Rinpoche thường đùa với tôi," tôi nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma. "Tôi rất thích thú về tánh không. Tôi hy vọng được ngài giải thích để cho ngay cả một cư sĩ như tôi cũng có thể thấu hiểu."

"Ông đã tham dự nhiều buổi diễn giảng của tôi," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói ngay lập tức. "Ông đến Dharamsala rất nhiều lần. Và ông đã thu băng từng lời của tôi. Sao bây giờ ông lại mong chờ thêm nữa? Một học nhân đáng thất vọng."

Nhưng tôi không phải là người duy nhất. Tôi biết là Oprah Winfrey cũng gặp rắc rối với tánh không.

Tháng Năm 2001, tôi đã cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một chuyến du hành vũ bão đến Hoa Kỳ, thăm viếng chín thành phố trong hai mươi mốt ngày. Điểm nhấn của chuyến ấy là cuộc gặp gở của Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng thống George W. Bush. Sự kiện ấy vương vấn trong đầu tôi không phải bởi vì những gì hai người thảo luận (đó là một lời mời lịch sự hơn là thực chất) nhưng bởi vì vật Đức Đạt Lai Lạt Ma mang trong chân: ngài đã mang đôi dép nhựa của Ấn Độ làm vào tòa Bạch Ốc.

Sau cuộc gặp gở với tổng thống, Đức Đạt Lai Lạt Ma trở lại khách sạn. Oprah đang chờ đợi ngài. Cùng đi với cô là một đội quân nhỏ các nhà chụp hình, trang điểm, và chủ bút kỳ cựu của tạp chí O. The Oprah Magazine, một tạp chí hết sức thành công của cô. Họ được dẫn đến dãy phòng thanh lịch cho một cuộc phỏng vấn sâu sắc.

Buổi phỏng vấn một giờ đồng hồ bắt đầu khá tốt. Oprah bắt đầu bằng việc hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma: "Ngài có bao giờ tha thứ cho chính mình bất cứ việc gì không?"

"Những biến cố nhỏ, như vô tình giết một con côn trùng," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời.

"Giết một con côn trùng," Oprah nói. "Một con côn trùng … hmm. Okay."

Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp, "Thái độ của tôi đối với những con muỗi là không thích lắm, không hòa bình lắm. Những con rệp giường cũng thế."

"Và đó là như thế?" Oprah không thể hoàn toàn tin tưởng những gì cô vừa nghe. "Trong đời của ngài, đó điều ngài đã tha thứ cho chính ngài ư?"

"Có thể những lỗi lầm nho nhỏ hàng ngày," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một cách thản nhiên. "Nhưng những sai sót lớn, dường như là không."

"Không có những sai sót lớn,"Oprah lập lại, nghiền ngẫm ý kiến ấy. Cô bổng im lặng và nhìn ra ngoài cửa sổ.

Có một nổi kinh sợ trong giọng của cô khi cuối cùng cô tiếp tục: "Ngài không có điều gì trong đời để hối hận. Đó là một đời sống tốt đẹp … đó là một đời sống vĩ đại, không có những hối hận."

"Liên quan đến việc phụng sự cho Tây Tạng," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, "phụng sự cho Phật Giáo, phụng sự cho con người … tôi đã hoàn thành tối đa những điều tôi có thể. Liên hệ đến sự thực tập tâm linh của tôi, khi tôi chia sẻ kinh nghiệm với những thiền giả tiến bộ hơn - ngay cả những người đã tu tập hàng năm trên núi, thực hành nhất tâm bất loạn - tôi không tụt hậu quá xa họ."

"Ngài sẽ khuyến khích toàn thế giới hành thiền chứ?" Oprah hỏi.

"Một câu hỏi ngu ngốc." Câu trả lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma phát ra ngay lập tức một cách không ngờ tới.

Khuôn mặt của Oprah đóng băng lại. Cả phòng khách sạn im lặng sửng sốt. Một ý tưởng nẩy ra trong đầu mọi người: đây chắc chắn là lần đầu tiên có một người nói thẳng vào mặt Oprah như vậy.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một cách thận trọng. "Mọi người nên hành thiền chứ? Tôi cũng  nghĩ như vậy," ngài nói sau khi dừng lại một chút. Có thể đó là một câu hỏi ngu ngốc, nhưng ngài vẫn muốn trả lời một cách cẩn thận. "Thật đáng để cả thế giới nhìn vào bên trong nhiều hơn. Chúng ta không thực hiện đầy đủ ở đây. Tôi không đang nói rằng mọi người nên có đầu óc tôn giáo. Tôi không đang nói như thế. Nhưng những gì tôi đang nói là: chúng ta nên tập trung hơn vào năng lực nội tại của chúng ta."

"Ô, tôi tin tưởng điều đó!" Oprah nói, sự thư giản hiện ra. "Đó là tại sao tôi hỏi một câu ngu ngốc." Mọi người trong phòng như nhẹ ra. "Tôi muốn ngài nói việc ấy, nhưng tôi chắc chắn tin như điều đó."

"Dĩ nhiên, đó không phải là điều gì đó mà chúng ta có thể áp đặt lên người khác. Người ta phải đón nhận nó một cách tự nguyện," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục.

Nhưng bây giờ sự căng thẳng đã tan biến, Oprah muốn thay đổi đề tài.

''Trong tạp chí của tôi, tôi làm một mục gọi 'Điều tôi muốn biết chắc,' " Oprah nói. "Điều gì ngài biết chắc. Một điều mà ngài không nghi ngờ cả."

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói không do dự. "Từ bi là cội nguồn của hạnh phúc - cho đời sống hạnh phúc và thế giới hạnh phúc. Không nghi ngờ gì cả."

"Đó là những gì chúng ta ban tặng cho người khác sẽ trở lại. Tôi đồng ý với điều đó."

"Tốt quá … đồng ý quá đi chứ." Đức Đạt Lai Lạt Ma cười vang. "Mặc dù văn hóa khác nhau, ý tưởng khác nhau, cung cách sống khác nhau. Nhưng chúng ta cùng là những con người như nhau."

"Khi ngài nói 'con người', ngài muốn nói là chúng ta cùng một tư tưởng chứ?"

"Thế đó thì phức tạp hơn," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. "Không có sự thẩm tra, mọi người nói về con người, con người. Nhưng nếu chúng ta phân tích cái gì là con người, chúng ta không thể tìm thấy."

"Chúng ta không thể tìm thấy?"

"Đó là một nhận thức Phật Giáo - tánh không. Tánh không không có nghĩa là không có gì tồn tại. Mọi thứ tồn tại, nhưng cách chúng tồn tại, chúng ta không thể tìm thấy. Do thế là trống rỗng."

"Ahhh … " Oprah suy nghĩ về chút trí tuệ đó.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục: "Cho nên tánh không có nghĩa cái chậu này," chạm tay tới một chậu hoa trên bàn cà phê, "nó tồn tại, nhưng cách nó tồn tại chúng ta không thể tìm ra. Cho nên trống rỗng. Bản chất trống rỗng."

Tôi có cảm giác rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn biến cuộc phỏng vấn ngài thành một sự giải thích đầy đủ hơn về tánh không. Nhưng Oprah do dự. "Điều đó thật khó để giải thích cho những độc giả của tôi," cô nói với ngài. Thay vì thế cô bắt đầu hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma về thời thơ ấu của ngài ở Tây Tạng.

Tháng Tám 2001 tạp chí O. the Oprah Magazine, độc giả của Oprah được xem một câu chuyện sâu sắc giải khuây về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng không có chữ nào về tánh không. Tuy thế, vài tháng sau cuộc phỏng vấn của Oprah, tôi được dịp học hỏi thêm về khái niệm khó nắm bắt này trong thị trấn hành hương, Đạo Tràng Giác Ngộ của Ấn Độ.

Ẩn Tâm Lộ, Saturday, December 05, 2015


Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

SÚNG TRƯỜNG TRONG PHÒNG NGỦ





Ánh sáng buổi trưa chiếu ấm áp và dễ chịu trên những tàn tích của Đại Học Na Lan Đà cổ xưa. Đức Đạt Lai Lạt Ma và một đoàn tùy tùng khoảng một trăm tu sĩ ngồi và trì tụng kinh chú trên bãi cỏ đối diện trực tiếp với phần còn lại của ngôi tháp cao chín mươi bộ. Tất cả đã đến đây sau khi dừng chân ở Sarnath, trong một cuộc hành hiếm hoi để tỏ lòng tôn kính đến những Phật tử ưu việt Ấn Độ, những người đã học và dạy tại Na Lan Đà. Lãnh tụ Tây Tạng đã không đến đây trong hơn hai thập niên.

Một con chó trắng xuất hiện không biết từ đâu và đi thong thả đến gần hội chúng tu sĩ. Nó chọn một nơi cạnh với họ và ngồi xuống, đầu nó vễnh lên hướng một cách chế giễu về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi ngồi đó một lúc, nó dường như điều chỉnh đi vào trong những điệu tán tụng trầm bổng sâu lắng rồi nằm xuống và ngủ.

Tôi bước đến ngôi tháp gạch đỏ, phế tích nghìn năm tuổi ấn tượng giống như một cầu thang khổng lồ đứng trơ trọi. Trèo lên trên những bức tường nửa vời, tôi nhanh chóng đến một điện thờ nhỏ không mái. Trong khoảng lõm của một bức tường là phù điêu của một bổn tôn. Một hình tượng điêu khắc tinh xảo, xinh xắn và thanh lịch, ở trong tình trạng nguyên sơ. Mông và vai của bổn tôn khớp với nhau trong những phương hướng tương phản với cử động gợi ý. Khuôn mặt hình trái tim, một nụ cười mĩm trên đôi môi. Có một cảm giác xúc chạm được với niềm an bình nội tại. Tôi đứng ở đấy, sửng sờ, như đang nghe những lời kinh kệ Tây Tạng nhẹ nhàng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma rất tỉnh giác với món nợ lớn của Phật Giáo Tây Tạng đối với những đạo sư Ấn Độ, những vị đã sống và dạy ở Na Lan Đà từ thế kỷ thứ hai đến thứ chín Tây lịch - một Kỷ Nguyên Vàng Son của tư tưởng Ấn Độ. Na Lan Đà đã là một đại học lớn nhất và nổi tiếng nhất của Ấn Độ cổ xưa. Những vị vua Phật tử Gupta và Pala là những người bảo trợ tận tâm. Trong một nghìn năm Na Lan Đà, huy hoàng như Harvard, đã hấp dẫn những người ưu tú nhất và rực sáng nhất khắp Á châu. Vào đỉnh điểm, nó có hơn 10,000 sinh viên và một đội  ngũ giảng viên đến 1,500 vị. Vào cuối thế kỷ mười hai, những đội quân Hồi Giáo đã quét sạch Na Lan Đà. Những tu sĩ bị giết hại, và những thư viện của nó, với những văn bản viết tay phong phú choáng ngợp bị đốt cháy.

Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, không có những học giả và những hành giả của Na Lan Đà, thì sẽ không có Phật Giáo Tây Tạng như chúng ta biết ngày hôm nay. "Mỗi văn bản quan trọng mà chúng tôi học bằng trái tim, những văn bản này được sáng tác bởi các đạo sư Na Lan Đà," Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng giải thích cho tôi nghe. "Cho nên tên tuổi của các đạo sư này, đặc biệt là Long Thọ, vị đạo sư thế kỷ thứ hai, rất gần gũi trong tâm thức chúng tôi. Họ là điều gì đó rất thật. Chúng tôi thực tập theo những luận điển của họ."

Soạn thảo công phu trong tuệ giác của Đức Phật, Long Thọ mở rộng một lý thuyết về thực tại đặt nền tảng trong ý tưởng của mối liên hệ nhân duyên hổ tương của tất cả mọi thứ. Đức Đạt Lai Lạt Ma, qua nhiều thập niên, hấp thu những tinh hoa của khái niệm này một cách hoàn hảo. Những điều kiện liên hệ nhân duyên hổ tương cả trong cách ngài hành động và cung cách ngài nhìn vào cuộc đời.

***
Liên hệ nhân duyên hổ tương không là một trong những ý tưởng dễ dàng để thông hiểu. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã sử dụng cái nhìn của ngài về sự cùng tồn tại hòa bình với Trung Hoa để giải thích nó cho tôi. Bây giờ tôi cùng đồng hành với ngài đến Na Lan Đà để bày tỏ lòng tôn kính đến Long Thọ, cho nên tôi muốn ngài chi tiết hóa khái niệm ấy. Như thường lệ, Lhakdor, vị tu sĩ thông dịch, đã cùng với chúng tôi.

Trước khi bắt đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma tháo dây giày của ngài ra, cẩn thận để đôi giày oxford màu nâu của ngài một bên, và xếp bằng đôi chân trong tư thế hoa sen trên ghế của ngài. Ngài sẽ ngồi như thế trong cả buổi giảng hai tiếng đồng hồ. Liên hệ nhân duyên hổ tương là một trong những chủ đề ưa thích của ngài, và ngài thích thú với viễn cảnh thảo luận dai dẳng về nó.

"Giáo thuyết liên hệ nhân duyên hổ tương cho phép chúng ta phát triển một nhận thức rộng rãi hơn," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. "Với tâm thức rộng rãi hơn, thì ít dính mắc với những cảm xúc tàn phá hơn như sân hận, do thế tha thứ hơn. Trong thế giới ngày nay, mọi quốc gia liên hệ hổ tương, liên kết hổ tương. Dưới những hoàn cảnh như vậy, tiêu diệt kẻ thù của bạn - láng giềng của bạn - có nghĩa là tiêu diệt chính bạn về lâu về dài. Bạn cần láng giềng của bạn. Làng giềng bạn phồn thịnh hơn, thì bạn sẽ được lợi ích.

"Bây giờ này, chúng ta không nói về việc loại trừ hoàn toàn những cảm xúc như sân hận, dính mắc, hay kiêu mạn. Chỉ giảm thiểu. Liên hệ hổ tương là quan trọng bởi vì nó không chỉ đơn thuần là khái niệm, nó có thể thật sự giúp giảm thiểu khổ đau được tạo ra bởi những cảm xúc tàn phá này.

"Chúng ta có thể nói rằng giáo thuyết liên hệ nhân duyên hổ tương, hay  phụ thuộc lẫn nhau là một sự thấu hiểu thực tại," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp. "Chúng ta thấu hiểu rằng tương lai chúng ta phụ thuộc vào sự cát tường của toàn cầu. Có quan điểm này sẽ làm giảm thiểu đầu óc hẹp hòi. Với đầu óc hẹp hòi, chắc chắn là sẽ phát triển dính mắc, thù hận. Tôi  nghĩ đây là điều tốt đẹp nhất về giáo thuyết liên hệ nhân duyên hổ tương - nó là một sự giải thích về quy luật của tự nhiên. Nó ảnh hưởng một cách sâu sắc, thí dụ, môi trường."

Liên hệ nhân duyên hổ tương là nguyên tắc nền tảng trong cả Phật Giáo và sinh thái học. Niềm tin cốt lõi là tất cả mọi thứ là liên kết với  nhau trong một cách không thể biết nhưng hiển nhiên. Một cách cơ bản, tất cả mọi thứ lệ thuộc vào nhau. Tất cả chúng ta ở trong chiếc lưới của Đế Thích.

Tôi chợt nhớ lại điều gì đó mà một lần tôi đã đọc về Charles Darwin. Trong một vở kịch kỳ quái, ông tạo ra lý luận rằng những bà cô yêu mèo đã làm Luân Đôn thành một trong những nơi dễ chịu nhất để sống trên thế giới. Đây là vấn đề lý luận của ông diễn tiến như thế nào. Một số lớn  mèo được các bà cô nuôi dưỡng có một ảnh hưởng bất lợi cho sự sinh nở của chuột. Đây là một tin tức tốt cho những con ong nghệ - những hang ổ dưới đất cả chúng sẽ không bị tàn phá bởi sự cướp bóc của các con chuột. Càng nhiều con ong nghệ hóa ra sẽ làm cho nhiều bông hoa hơn được thụ phấn. Do thế, Darwin đi đến kết luận rằng càng nhiều bà cô yêu mèo hơn tương đương với việc càng có nhiều bông hoa hơn ở Luân Đôn.

Phát biểu một tuệ giác tương tự, một vị thầy Việt Nam Thích Nhất Hạnh một lần đã viết: "Nếu bạn là một nhà thơ, bạn sẽ thấy rằng có một đám mây trong trang giấy này. Không có đám mây, thì sẽ không có mưa; không có mưa, cây cối không thể sinh trưởng; và không có cây cối, chúng ta không thể làm ra giấy."

Trải qua hàng năm, tôi chú ý rằng Văn Phòng Riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma rất hà tiện giấy tờ. Bất khi nào tôi nhận một văn bản gì từ họ, chúng luôn luôn được in từ một mặt trắng của giấy đã sử dụng. Những thư ký riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma là những người cuồng nhiệt về giấy tờ tái sử dụng, chu đáo không vi phạm những nhạy cảm môi trường của chủ nhân họ.

Tôi có thể tưởng tượng Đức Đạt Lai Lạt Ma đang sử dụng nổ lực khiêm tốn này để bảo vệ cây cối trong phạm trù liên hệ nhân duyên hổ tương. Văn Phòng Riêng của ngài, trong nhiều thập niên, đã tìm cách để bảo vệ một ít cây cối qua những nổ lực tái sử dụng của họ. Càng nhiều cây cối làm cho môi trường sống tốt hơn cho những cây cỏ và bông hoa khác.  Càng nhiều cây cỏ, bông hoa tạo ra những điều kiện hiện hữu khám phá cho thi sĩ, và thi sĩ sống trong môi trường hiện hữu khám phá như vậy có khuynh hướng sản sinh ra nhiều thi phẩm phong phú hơn. Việc này bảo đảm cho việc sáng tác mà những hiệu sách chuyên về thơ sẽ đầy ấp những thi phẩm. Vì Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn tiết kiệm giấy, thế nên những người yêu thơ khắp nơi sẽ được lợi lạc.

Tôi gián đoạn ảo tưởng của tôi về Darwin, thơ, và bông hoa để hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma: "Ngài đã phát triển sự thông hiểu của ngài về mối liên hệ nhân duyên hổ tương như thế nào?"

"Với tôi, với tôi," ngài trả lời. Tiến trình tâm linh cần thời gian. Không như việc bật công tắc của đèn. Giống như việc nhóm lửa, bắt đầu từ một đóm lửa nhỏ, sau đó lần lần lớn lên và lớn hơn, càng nhiều ánh sáng, nhiều ánh sáng hơn, thế ấy. Tất cả những sự chuyển hóa tinh thần là như thế. Không phải: lên một tầng nào đó, tới một kỳ hạn nào đó, tối đen … rồi đưa ánh sáng tới. Không như thế. Dần dần, dần dần. Vào lúc đầu, không có gì đáng chú ý. Tôi thường nói với mọi người: sự phát triển tâm linh - chúng ta không thể thấy kết quả trong những tuần hay tháng. Ngay cả hàng năm. Nhưng nếu chúng ta so sánh, kinh nghiệm ngày hôm nay so sánh với mười năm trước, hay hai mươi năm trước, thế thì ông thấy một sự thay đổi nào đó. Tôi luôn luôn nói với mọi người như thế đó. Trường hợp của riêng tôi cũng thế."

"Trường hợp của ngài hiện tại là thế nào?" tôi hỏi.

"Vì tôi hành thiền hay phân tích đề tài liên hệ nhân duyên hổ tương trong nhiều năm, bây giờ nó đã quen thuộc," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. "Cho nên vì thế, khi tôi nhìn vào mọi thứ, ngay khi mà tôi nhớ lẽ thật về sự liên hệ hổ tương, cảnh tượng trở thành khác biệt một cách rõ ràng. Và cảm nhận đến không cần phải cố gắng nhiều - gần như tự động. Thí dụ, ở Mongolia, sự quy tụ lớn…" Ngài chuyển sang Tạng ngữ.

"Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ở Ulan Bator," Lhakdor thông dịch. "Trong thời gian giảng dạy, khi ngài phản chiếu về sự liên hệ hổ tương, ngài thấy sự trống vắng của tính xác thật trong tất cả những người ở trước ngài và ngay trong chính ngài - không có gì cụ thể, mọi thứ như quấn vào nhau. Ngài có cảm giác mạnh rằng ngài được nối kết một cách trực tiếp với thính chúng trong một cách nào đó. Giống như những ranh giới cá nhân của ngài đã được hòa tan."

Kinh nghiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc tôi nhớ đến công trình của Andrew Newberg[1] và Eugene d'Aquili[2], hai khoa học gia Hoa Kỳ đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh nghiệm tôn giáo và chức năng não bộ trong nhiều năm. Trong một thí nghiệm nổi tiếng, họ tranh thủ được sự hổ trợ của một thiền giả cấp tiến, một Phật tử Hoa Kỳ trẻ tên là Robert. Trong một phòng thí nghiệm tối, Robert bắt đầu một thời hành thiền với ngón tay nhỏ của ông nối kết với một cuộn dây dài. Những nhà khoa học, chờ đợi trong một phòng khác, giữ một đầu dây.
superior parietal lobule.

 Một giờ sau, Robert kéo mạnh sợi dây cho Newberg và d'Aquili biết rằng ông đã thâm nhập vào một thể trạng sâu của thiền tập. Một hợp chất phóng xạ sau đó được được tiêm vào tĩnh mạch của ông qua một thiết bị nhỏ giọt. Hợp chất phóng xạ màu đi vào đường máu, ngấm vào những tế bào máu, và một máy quay phim kỷ thuật cao cho các nhà khoa học một ảnh chụp nhanh những hoạt động của não bộ Robert. Các nhà khoa học thấy điều gì đó bất thường: hậu thùy đỉnh cao (superior parietal lobule), gọi là vùng phối hợp định hướng hay OAA (orientation associaton area), cho thấy giảm thiểu rõ rệt hoạt động vào đỉnh cao sự hành thiền của ông.

Trong não bộ chúng ta, OAA hoạt động như một máy định vị (GPS), máy con quay và radar tất cả trong một. Khi chúng ta chuyển động trong sinh hoạt hàng ngày, OAA thể hiện chức năng như một máy siêu điện toán, liên tục tính toán tọa độ thay đổi của thân thể chúng ta trong mối quan hệ với mọi thứ chung quanh chúng ta. Nó cho phép chúng ta điều chỉnh cung cách qua một nhà hàng đông đúc và để cởi xe đạp trong giao thông.

Trong nghiên cứu trước đây, Newberg và d'Aquili biết rằng OAA không bao giờ bỏ cuộc. Thế thì tại sao nó lại giảm thiểu hoạt động trong OAA của Robert? Chỉ có một giải thích hợp lý: cảm giác nội tại trong OAA của Robert bị chặn lại khi ông đạt tới một thể trạng siêu việt trong lúc ông hành thiền. Không có dữ liệu nào cung ứng, máy siêu điện toán gặp phải khó khăn trong việc phác họa những giới hạn vật lý của Robert. Nó không có sự lựa chọn nào khác mà phải kết luận rằng Robert không có những giới hạn, rằng ông là một với mọi thứ chung quanh ông: mọi người, mọi thứ, toàn bộ những công việc.

Khi Robert được hỏi sau này là ông cảm thấy gì trong thời khắc tột đỉnh của thiền tập, ông trả lời, "Cảm thấy như tôi là bộ phận của mọi người và mọi thứ trong sự hiện hữu. Tôi liên kết với mọi thứ." Thật chính xác như những gì mà những bậc thầy tâm linh và yoga đã nói hàng thế kỷ. Và nó thật ấn tượng giống như những gì Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa nói với tôi: khi ngài tập trung vào mối liên hệ hổ tương, ngài thấy thế giới một cách khác biệt - mọi thứ và mọi người xuất hiện thiếu cụ thể; những góc cạnh mềm mại và những ranh giới thân thể giữa ngài và mọi thứ trở thành mờ nhạt trong những thời gian tâm linh trong sáng này. Do bởi điều này, Đức Đạt Lai Lạt Ma trải nghiệm một mối liên kết sâu xa  hơn giữa ngài và người khác.

"Ngài vừa nói với tôi là ngài có thể thâm nhập vào một kinh nghiệm của mối liên hệ hổ tương chỉ đơn thuần qua việc suy tư về nó," tôi nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma. "Vậy thì, thí dụ, lấy tôi và ngài. Khi ngài nghĩ về mối liên hệ hổ tương, tôi có thay đổi trong một cách vi tế trước mắt ngài không?"

"Vấn là con người, nhưng sau đó … không như nó xuất hiện, không là điều gì đó rắn chắc. Vì vậy là điều gì đó mềm. Sự nối kết giữa chúng ta mạnh mẽ hơn, từ bi được củng cố," Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp lời. Ngài suy nghĩ trong một khắc, sau đó nói với Lhakdor bằng Tạng ngữ.

"Qua sự thấu hiểu này về thực tại liên hệ hổ tương," Lhakdor thông dịch, "ông sẽ đi đến nhận ra rằng nếu những điều tốt lành xảy ra cho người khác, ông cũng sẽ lợi lạc, nếu không ngay lập tức, thế thì cuối cùng sẽ như thế. Nếu họ đau khổ, ông cuối cùng cũng sẽ đau khổ. Do vậy, ông có thể thấu cảm tốt hơn, ngay cả với những người từ những căn bản quá khứ khác nhau. Từ bi cho họ sẽ đến dễ dàng hơn."

"Thí dụ, Saddam Hussein," Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục. "Tôi có cảm giác trong con mắt của Tổng thống [George W.] Bush, Saddam một trăm phần trăm là tiêu cực, tiêu cực một cách chắc chắn. Chỉ có cách là loại trừ ông ta. Nhưng thực tại không phải thế."

"Thực tại là gì?" tôi hỏi.

"Tôi nghĩ trong hai trình độ. Ở trình độ quy ước, Saddam Hussein không phải là nguy hại một trăm phần trăm từ lúc mới sinh ra - không phải là điều gì đó xấu ác không thay đổi." Đôi bàn tay Đức Đạt Lai Lạt Ma nắm lại nhau, cấu thành một quả cầu vô hình. "Sự nguy hại ấy đến từ nhiều nhân tố khác nhau không chỉ từ ông ta. Do thế không độc lập. Nó lệ thuộc vào nhiều nhân tố khác, kể cả chính những người Mỹ. Trong cuộc Chiến Tranh Vùng Vịnh, mọi người quy trách nhiệm cho Saddam Hussein. Như vậy tôi nghĩ là không công bằng, và trái tim tôi cảm thông cho ông ta."

Trái tim của Đức Đạt Lai Lạt Ma cảm thông cho Saddam Hussein? Đến một người nào đó đã gây thảm họa cho hàng triệu người?  Điều này làm nổi bật một lẽ thật hiếm có của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Quan điểm thế giới của ngài, cung cách tâm tư ngài làm việc - tuy có lý và gợi hứng thế nào đi nữa - thì cũng rất khác với tôi.

"Sự độc tài của Saddam Hussein không phải tự đến từ trên trời," Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích. "Sadda Hussein: độc tài, xâm lược, xấu." Ngài điểm trên đầu ngón tay của  ngài, sự biểu lộ của ngài trang trọng." Nhưng những thứ xấu xảy ra do bởi quân đội của ông ta. Không có quân đội, không có vũ khí, ông ta không thể là loại người gây hấn như thế. Những thứ vũ khí này không phải do từ người Iraq tự làm ra, nhưng đến từ phương Tây. Những công ty phương Tây giúp sản sinh ra con người gây hấn này. Họ làm thế, nhưng sau đó họ đổ thừa con người đó. Không công bằng." Đức Đạt Lai Lạt Ma dựa sâu ra phía sau chiếc ghế của ngài, giọng của ngài vươn ngắt lên. Ngài đã làm việc về điều này.

"Cho nên ở đây, ở trình độ quy ước. Saddam Hussein không phải xấu một trăm phần trăm," ngài nói. "Rồi thì ở một trình độ vi tế hơn, khi một người nào đó như ông Bush có những cảm nhận tiêu cực với Saddam Hussein, thế thì trong con mắt của ông, Hussein là điều gì đó cụ thể, độc lập, tuyệt đối - hoàn toàn xấu." Ngài giơ chặc nắm đấm trước mặt ngài và nhìn trừng trừng vào nó.

"Tương tự thế, trong con mắt của Saddam … " Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu cười khúc khích, ngài gặp rắc rối trong việc chấm dứt những gì ngài muốn nói. "Bush là điều gì đó rất tiêu cực. Sự biểu hiện tuyệt đối, không tùy thuộc… của điều ác." Lời nói của ngài bây giờ ngắt quảng ồn ào như chế giễu, đôi vai của ngài rung lên rung xuống không thể kềm chế. Đức Đạt Lai Lạt Ma đang chen vào việc nói đùa với một người quyền lực nhất thế giới.

Khi cơn cười của ngài dịu xuống, ngài kết luận: "Cho nên, trong cả hai trường hợp, đều là sự thấu hiểu sai lầm mạnh mẽ về thực tại. Thực tại này chỉ đơn thuần là vọng tưởng hay phóng chiếu tinh thần."

"Ngài đang nói rằng Saddam Hussein không phải một trăm phần trăm nguy hại một cách chắc chắn, thí dụ, ông ta có thể vẫn dễ thương với vợ ông ta chứ gì?" Tôi hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma.

"Ô, vâng vâng," Đức Đạt Lai Lạt Ma đồng ý một cách nhiệt tình. Ngài mừng vì tôi nhận ra ý tưởng của ngài. "Nếu những hoàn cảnh thay đổi đi, con người ấy có thể trở thành một người thật dễ thương. Rất có thể. Một thí dụ khác. Trong con mắt của Osama bin Laden, nước Mỹ một trăm phần trăm là xấu ác. Sự mê  muội này đem đến thảm họa. Đối với bin Laden, toàn bộ thế giới phương Tây là chống Hồi Giáo. Đặc biệt Mỹ, kẻ gây hấn của thế giới. Cho nên ông ta quyết định có một kẻ thù cụ thể không tùy thuộc này. Đây là quan niệm sai lầm về thực tại."

"Quan niệm của ông ta nên như thế nào?" tôi hỏi.

"Mỹ là một bộ phận của Ả Rập, Mỹ là một bộ phận của ông ta," Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời không do dự.

"Liên hệ nhân duyên hổ tương," tôi nói.

"Vâng, liên hệ nhân duyên hổ tương. Và không chỉ Mỹ. Ở Tây Âu, có những sự phê phán về Hồi Giáo ở đấy. Nhưng Mỹ và Âu châu không phải chống Hồi Giáo một trăm phần trăm. Dĩ nhiên không phải thế. Cho nên xét cho cùng là vọng tưởng, phóng chiếu tinh thần. Đây là một sự chú ý hẹp hòi. Sai lầm. Cho nên quan niệm liên hệ nhân duyên hổ tương: rộng rãi hơn bây giờ, dịu dàng. Không là thứ cụ thể cứng nhắc đó để mà ôm lấy. Quan điểm này làm giảm thiểu sự chấp trước mạnh mẽ, sự dính mắc mạnh mẽ - bởi vì không có đối tượng bị bám víu một cách mạnh mẽ. Sự tham muốn của chúng ta, sự dục vọng của chúng ta về mọi thứ và mọi người được giảm thiểu."

Qua hàng thập niên thực tập kéo dài, lẽ thật vô cùng của liên hệ nhân duyên hổ tương đã ấn dấu trong tâm thức của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nó đã định hình tư tưởng, niềm tin, và thái độ của ngài. Ngài bắt đầu những chương trình của ngài, phản ứng với những sự kiện của thế giới qua qua quy trình của mối liên hệ nhân duyên hổ tương. Ngài không sợ công luận. Những quyết định của ngài không phải đến từ sự đồng lòng của những người cố vấn hay của số phiếu của công luận. Sự thấu cảm của ngài, hay, vô cùng tối thiểu, sự vắng bóng ác ý của ngài, đối với Saddam Hussein là kết quả của cung cách thấy biết đặc biệt của ngài, được khúc xạ qua lăng kính của mối liên hệ hổ tương.

Cũng có điều gì đó ở đây nữa. Đức Đạt Lai Lạt Ma có ấn tượng rằng Hoa Kỳ và các đồng minh đã họp lại để chống nhà độc tài Iraq và những người dân lạc hậu của ông ta còn sống trong sa mạc. Lãnh tụ Tây Tạng có sự thông cảm bẩm sinh đối với người bị thua cuộc, có lẻ vì ảnh hưởng của từ bi từ mối liên hệ nhân duyên hổ tương. Tôi có một ý niệm mơ hồ về điều này trong một buổi trước với ngài khi tôi được cho phép để dành một thời gian nào đó với ngài vào buổi thiền tập sáng sớm trong khu cư trú của ngài ở Dharamsala.

Sau buổi hành thiền, Đức Đạt Lai Lạt Ma đứng lên từ bồ đoàn của ngài và đề  nghị giới thiệu cho tôi nơi ngài cư trú. Chúng tôi bước ra khỏi thiền phòng tĩnh lặng của ngài để đi ra tiền sảnh đưa đến một phòng thoáng khí rộng lớn. Cầm tay tôi, ngài đưa tôi đến một phòng nhỏ đồ đạc lưa thưa mở cửa ra tiền sảnh. Một chiếc giường đơn chiếm gần hết không gian ốp gổ, một cây đèn bàn với chụp đèn hình bông sen và một máy phát thanh để trên chiếc bàn bên cạnh.

"Đây là phòng ngủ cũ của tôi," Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với tôi." Vì có một vài cảnh báo về động đất năm ngoái, cho nên tôi đã chuyển đến một phòng khác dưới hầm."

Ngài chỉ khoảng nửa tá tấm hình  phai màu trên tường. Gần như đấy chỉ là những tấm hình của các tu sĩ, giáo thọ Tây Tạng mà ngài đã từng học  hỏi. Trong một tấm hình hiếm hoi mà ngài yêu thích của vị trưởng lão giáo thọ đã viên tịch, Ling Rinpoche, người phân cắt công việc nghiêm khắc có một nụ cười mĩm nhẹ nhàng trên gương mặt ngài. Trong một góc của phòng là những tấm hình toàn bộ gia đình ngài: các anh chị em và ngài cùng với cha mẹ của họ.

Rồi thì, ở cuối bức tường, tôi đã thấy điều gì đó ngoại lệ, ngay cả không hợp. Ngay bên trên chiếc giường của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một cây súng trường. Nó được treo thẳng đứng với dây da của nó. Tôi có mang theo máy chụp hình, và tôi chuẩn bị ghi hình một vật không hợp lý ở đây.

"Không, không, đừng chụp hình," Đức Đạt Lai Lạt Ma vội vả bảo tôi dừng lại. "Người ta có thể nghĩ sai rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma là một người bạo động, thích súng." Tôi dẹp máy chụp hình một cách ngoan ngoản. Nhưng tôi có một ý tưởng khó chịu dai dẳng: Đức Đạt Lai Lạt Ma lại quan tâm đến suy nghĩ của người khác từ khi nào vậy? Thái độ này thật đáng ngạc nhiên, thật mâu thuẩn với những gì tôi đã biết về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một người với những mâu thuẩn?

Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục nói với tôi rằng ngài có súng trường không khí (air rifle) nhiều thập niên qua. "Tôi thường cho những con chim nhỏ ăn, nhưng khi chúng đến, thì những con diều hâu cũng đến. Thứ này tôi không thích. Những con diều hâu lớn ăn những con chim nhỏ. Cho nên, để bảo vệ những tạo vật bé  nhỏ này, tôi giữ chiếc súng trường. Không phải để làm tổn thương, nhưng để làm chúng sợ bỏ chạy thôi."

Ẩn Tâm Lộ, Thursday, December 03, 2015
                                                                       


[1] Andrew Newberg, MD: nhà thần kinh học người Mỹ, sinh năm 1966.
[2] Eugene d'Aquili (1940-1998): giáo sư nghiên cứu tâm lý trị liệu.