Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

TÒA SƯ TỬ

 



 

TÒA SƯ TỬ
Nguyên bản: The Lion Throne
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính / Tuesday, October 19, 2021

***

Tôi nhớ rất ít về mùa đông đầu tiên đó. Nhưng có một điều đã gắn chặc trong tâm trí tôi,vào cuối tháng cuối năm, theo truyền thống, các tu sĩ của tu viện Namgyal sẽ thực hiện việc biễu diễn cham, một điệu múa nghi lễ tượng trưng cho việc xua đuổi những thế lực tiêu cực trong năm qua. Tuy nhiên, vì tôi vẫn chưa được chính thức đăng quang nên Chính Phủ cảm thấy không thích hợp để tôi đến Potala xem buổi lễ ấy. Trái lại, Lobsang Samten được mẹ tôi đưa đi. Tôi vô cùng ghen tị với anh ấy. Khi anh ấy về muộn vào buổi tối hôm đó, anh ấy đã trêu chọc tôi bằng những lời mô tả rất đầy đủ về những bước nhảy và sà xuống của các vũ công lộng lẫy.

Trong suốt năm sau, tức là năm 1940, tôi vẫn ở Norbulingka. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều điều tốt của cha mẹ tôi trong những tháng mùa xuân và mùa hè. Khi tôi được tôn xưng là Đạt Lai Lạt Ma, họ tự động có được địa vị của giới quý tộc cao nhất và có thể coi là thế lực to lớn. Họ cũng có quyền sử dụng một ngôi nhà trong khuôn viên cung điện vào thời kỳ đó mỗi năm. Hầu như mỗi ngày, tôi thường đi lén với một người thị giả, để đến thăm họ. Điều này thật sự không được phép, nhưng quan Nhiếp Chính Vương, người chịu trách nhiệm về tôi, đã bỏ qua những chuyến đi ngoại lệ này. Tôi đặc biệt thích đi qua vào giờ ăn. Điều này là do khi còn là một cậu bé được mệnh danh là một tu sĩ, một số loại thực phẩm như trứng và thịt heo bị cấm đối với tôi, vì vậy tôi chỉ có cơ hội nếm thử chúng ở nhà của cha mẹ tôi. Một lần, tôi nhớ mình đã bị Gyop Kenpo, một trong những quan chức cấp cao của tôi, bắt quả tang ăn trứng. Ông ấy đã rất sốc, và tôi cũng vậy, “Đi đi,” tôi hét lên đến tột cùng của giọng nói của mình!

Vào một dịp khác, tôi nhớ đã ngồi cạnh cha tôi và xem ông như một chú chó nhỏ khi ông ăn da heo chiên dòn, hy vọng rằng ông sẽ cho tôi một ít – Và ông đã làm thế. Nó rất ngon. Vì vậy, nhìn chung, năm đầu tiên của tôi ở Lhasa là một khoảng thời gian rất hạnh phúc. Tôi vẫn chưa phải là một tu sĩ và học vấn của tôi đang ở phía trước. Về phần mình, Lobsang Samten đã được nghỉ một năm vì anh ấy đã học tại Kumbum trước đây.

Vào mùa đông năm 1940, tôi được đưa đến Potala, nơi tôi chính thức được đăng quang làm lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Tôi không nhớ lại bất cứ điều gì cụ thể về buổi lễ này, xin lưu ý rằng đó là lần đầu tiên tôi ngồi trên Tòa Sư Tử, một công trình kiến trúc bằng gỗ rộng lớn, nạm ngọc và chạm khắc tinh xảo nằm trong Si shiphuntsog (Đại Sảnh Của Tất Cả Các Hành Động Thánh Thiện Của Thế Giới Tâm Linh Và Trần Gian), phòng họp chính ở cánh đông của Potala.

Ngay sau đó, tôi được đưa đến chùa Jokhang, ở giữa thành phố, nơi tôi được giới thiệu như một sa di. Điều này liên quan đến một nghi lễ được gọi là taphue, có nghĩa là "cạo tóc". Kể từ bây giờ, tôi sẽ cạo đầu và mặc áo choàng của một nhà sư màu hạt dẻ. Một lần nữa, tôi không nhớ nhiều về chính buổi lễ ngoại trừ một thời điểm, khi nhìn thấy những bộ trang phục rực rỡ của một số vũ công nghi lễ, tôi hoàn toàn quên mất bản thân và thốt lên đầy hào hứng với Lobsang Samten, ‘Nhìn kia kìa!’

Các mớ tóc của tôi đã được cắt ngắn một cách tượng trưng bởi Nhiếp Chính Vương Reting Rinpoche, người ngoài nhiệm vụ Giám Quốc (Nhiếp Chính Vương) cho đến khi tôi đến tuổi trưởng thành, còn được bổ nhiệm làm Giáo Thọ Sư cao cấp của tôi. Lúc đầu, tôi tỏ ra thận trọng trong thái độ của mình với ông ấy, nhưng tôi dần dần thích ông. Đặc điểm nổi bật nhất của ông ấy, tôi nhớ là chiếc mũi liên tục bị nghẹt. Là một con người, ông khá giàu trí tưởng tượng, với tính cách tinh thần rất thoải mái, một người đàn ông dễ dàng trong mọi thứ. Ông thích dã ngoại và chơi ngựa, do đó ông ấy trở thành bạn tốt của cha tôi. Tuy nhiên, đáng buồn thay, trong những năm làm Nhiếp Chính, ông đã trở thành một nhân vật gây tranh cãi và bản thân Chính Phủ giờ đây đã khá thối nát. Ví dụ, việc mua và bán các vị trí cao đã phổ biến.

Vào thời điểm khởi đầu của lễ thế phát, có tin đồn rằng ông không xứng đáng để thực hiện nghi lễ xuống tóc. Có ý kiến cho rằng ông đã phá bỏ lời thề độc thân và do đó không còn là một tu sĩ nữa.

Cũng có những lời chỉ trích công khai về cách ông đã trừng phạt một quan chức đã phát biểu chống lại ông tại Quốc hội. Tuy nhiên, theo phong tục cổ truyền, tôi đã bỏ tên Lhamo Thondup và lấy tên của ông, Jamphel Yeshe, cùng với một số người khác, để tên đầy đủ của tôi bây giờ trở thành Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso.

Ngoài Reting Rinpoche làm giáo thọ sư cao cấp, tôi đã được bổ nhiệm một giáo thọ phụ tá, Tathag Rinpoche, một vị đặc biệt tâm linh, rất ấm áp và tốt bụng. Sau bài học của chúng tôi cùng nhau, ngài thường đắm chìm trong những cuộc nói chuyện và những câu chuyện cười thông thường mà tôi thấu hiểu toàn bộ. Cuối cùng, trong những năm đầu của tôi, Kewtsang Rinpoche, lãnh đạo của nhóm tìm kiếm, đã được trao trách nhiệm không chính thức như một giáo thọ thứ ba. Ngài thay thế cho những vị khác bất cứ khi nào họ đi vắng.

Tôi đặc biệt thích Kewtsang Rinpoche. Giống như chính tôi, ngài đến từ Amdo. Ngài rất ân cần đến nỗi tôi không bao giờ có thể nghiêm túc. Trong những bài học của chúng tôi, thay vì lập lại những gì tôi đáng lẻ phải làm, tôi đã từng ôm quanh cổ ngài và nói, ‘ngài lập lại đi! 'Sau đó, ngài đã cảnh báo Trijang Rinpoche, người đã trở thành giáo thọ của tôi khi tôi khoảng mười chín tuổi, rằng ngài nên cẩn thận không cười hoặc tôi chắc chắn sẽ tận dụng lợi thế của ngài ấy.

Tuy nhiên, những sắp xếp này đã không tồn tại lâu dài, ngay sau đó sau khi tôi bắt đầu việc tập sự của mình, Reting Rinpoche đã từ bỏ nhiệm vụ Nhiếp Chính, chủ yếu là sự giải thích do không được lòng mọi người. Mặc dù tôi chỉ mới sáu tuổi, tôi được hỏi tôi nghĩ ai nên thay thế ông. Tôi đã đề cử Tathag Rinpoche. Sau đó, ngài trở thành giáo thọ sư cao cấp của tôi và được thay thế vai trò giáo thọ phụ tá là Ling Rinpoche.

Trong khi Tathag Rinpoche là một người rất dịu dàng, thì Ling Rinpoche rất dè dặt và nghiêm khắc, và tôi bắt đầu thật sự sợ ngài. Tôi trở nên sợ hãi ngay cả khi nhìn thấy người hầu của ngài ấy và nhanh chóng học cách nhận ra âm thanh bước chân của ngài - trái tim tôi đã đập không trúng nhịp. Nhưng cuối cùng, tôi trở nên thân thiện với ngài và chúng tôi đã phát triển một mối quan hệ rất tốt. Ngài trở thành người tâm sự gần gũi nhất của tôi ngay lập tức cho đến khi viên tịch vào năm 1983.

Cũng như các giáo thọ của tôi, ba người được chỉ định làm thị giả riêng cho tôi, tất cả đều là nhà sư. Họ là Chopon Khenpo, chuyên trách về Nghi lễ, Solpon Khenpo, chuyên trách về nhà Bếp và Simpon Khenpo, chuyên trách về Y Áo. Người cuối cùng này là Kenrap Tenzin, thành viên của nhóm tìm kiếm có đôi mắt xuyên thấu đã gây ấn tượng mạnh với tôi.

Khi tôi còn rất nhỏ, tôi đã phát triển một sự gắn bó thân thiết với Sư Chuyên Trách Nhà Bếp. Mạnh mẽ đến nỗi vị ấy phải luôn trong tầm mắt của tôi, ngay cả khi chỉ là phần dưới áo choàng của vị ấy có thể nhìn thấy qua ô cửa hoặc dưới những tấm rèm được dùng làm cánh cửa bên trong các ngôi nhà Tây Tạng. May mắn thay, Sư ấy đã bao dung cho hành vi của tôi. Sư là một người đàn ông rất tốt bụng và giản dị, và gần như hoàn toàn bị hói. Vị ấy không phải là một người kể chuyện quá giỏi, cũng không phải là một người bạn đùa vui nhiệt tình, nhưng điều này không quan trọng chút nào.

Tôi đã thường xuyên thắc mắc về mối quan hệ của chúng tôi. Tôi thấy nó bây giờ giống như mối ràng buộc giữa một con mèo con hoặc một số động vật nhỏ và người cho nó ăn. Đôi khi tôi nghĩ rằng hành động mang thức ăn là một trong những gốc rễ cơ bản của mọi mối quan hệ.

Ngay sau khi tôi trở thành một sa di, tôi bắt đầu được học chương trình sơ cấp. Điều này chỉ bao gồm việc học đọc. Lobsang Samten và tôi đều được dạy như nhau. Tôi nhớ rất rõ các phòng học của chúng tôi (một ở Potala và một ở Norbulingka). Trên các bức tường đối diện treo hai chiếc roi, một chiếc bằng lụa màu vàng và một chiếc bằng da. Cái trước, chúng tôi được biết, được dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma và cái sau là dành cho anh trai của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Những công cụ trừng phạt này khiến cả hai chúng tôi khiếp sợ. Chỉ một cái liếc mắt của thầy giáo chúng tôi về cái này hoặc cái khác trong số những chiếc roi này thôi cũng khiến tôi rùng mình sợ hãi. Thật hạnh phúc, chiếc màu vàng không bao giờ được sử dụng, mặc dù chiếc da đã được lấy ra khỏi tường một hoặc hai lần. Lobsang Samten tội nghiệp! Thật không may cho anh ta, anh không phải là một học sinh giỏi như tôi. Nhưng sau đó, tôi nghi ngờ rằng việc đánh phạt của anh ta có thể đã theo câu ngạn ngữ cổ của người Tây Tạng: ‘Đánh dê để dọa cừu. ”Anh ta đã phải chịu đựng thay cho tôi.

Mặc dù cả tôi và Lobsang Samten đều không được phép có bạn cùng tuổi, nhưng chúng tôi không bao giờ thiếu bầu bạn. Cả ở NorbulingkaPotala đều có rất nhiều nhân viên phục vụ quét dọn hoặc nhân viên phục vụ phòng (bạn không thể gọi họ là những người thị giả). Phần lớn họ là những người đàn ông trung niên, ít hoặc không được học hành, một số đã đi làm việc này sau khi phục vụ trong quân đội. Nhiệm vụ của họ là giữ cho các phòng gọn gàng và để thấy rằng sàn nhà được đánh bóng. Điều cuối cùng này tôi rất đặc biệt vì tôi rất thích trượt băng trên chúng. Khi Lobsang Samten cuối cùng bị đưa đi vì hai chúng tôi cư xử quá tệ với nhau, cho nên những người đàn ông này là bạn đồng hành duy nhất của tôi. Nhưng họ là bạn đồng hành thế nào! Dù đã lớn tuổi nhưng họ chơi đùa như những đứa trẻ.

Tôi khoảng tám tuổi khi Lobsang Samten được gửi đến học tại một trường tư thục. Đương nhiên, điều này khiến tôi buồn vì anh ấy là liên hệ duy nhất của tôi với gia đình. Bây giờ tôi chỉ nhìn thấy anh ấy trong những ngày nghỉ học của anh ấy vào lúc trăng tròn. Khi anh ấy ra đi sau mỗi lần đến thăm, tôi nhớ mình đã đứng bên cửa sổ ngắm nhìn, lòng tôi đầy nỗi buồn khi anh ấy biến mất vào khoảng xa.

Ngoài những lần đoàn tụ hàng tháng, tôi chỉ thỉnh thoảng được mẹ tôi đến thăm. Khi bà ấy đến, bà thường đi cùng với chị gái tôi, Tsering Dolma. Tôi đặc biệt thích những chuyến thăm này vì họ luôn mang theo thức ăn. Mẹ tôi là một đầu bếp tuyệt vời và được nhiều người biết đến với việc làm thức ăn và bánh ngọt tuyệt vời của bà.

Khi tôi đến tuổi thiếu niên, mẹ tôi cũng mang theo Tenzin Choegyal, em trai út của tôi. Cậu ấy kém tôi mười hai tuổi và nếu có một đứa trẻ ngỗ nghịch hơn tôi, thì đó chính là cậu ấy. Một trong những trò chơi yêu thích của cậu ấy là dắt ngựa nhỏ (pony) lên nóc nhà của cha mẹ chúng tôi. Tôi cũng nhớ rõ có một lần, khi còn là một cậu bé, cậu ấy đã đến bên cạnh tôi để nói rằng gần đây mẹ đã đặt thịt heo từ hàng thịt. Điều này bị cấm, trong khi việc mua thịt được chấp nhận, nhưng không được chấp nhận đặt hàng vì điều đó có thể dẫn đến việc một con vật bị giết đặc biệt để đáp ứng yêu cầu của bạn.

Người Tây Tạng có một thái độ khá tò mò đối với việc ăn thực phẩm không chay lạc. Phật giáo không nhất thiết cấm ăn thịt, nhưng có nói rằng không nên giết động vật để làm thực phẩm. Trong xã hội Tây Tạng, người ta cho phép ăn thịt – thật sự đó là điều cần thiết, ngoài tsampa, thường không có nhiều thứ khác - nhưng không được tham gia vào việc giết thịt dưới bất kỳ hình thức nào. Điều này đã được để cho những người khác. Một số trong số đó được thực hiện bởi người Hồi giáo, trong đó có một cộng đồng thịnh vượng, với nhà thờ Hồi giáo riêng, định cư ở Lhasa. Trên khắp Tây Tạng, chắc hẳn đã có vài nghìn người theo đạo Hồi. Khoảng một nửa đến từ Kashmir, phần còn lại đến từ Trung Hoa.

Vào một dịp nọ, khi mẹ tôi mang cho tôi một món quà là một ít thịt (xúc xích đầy gạo và thịt băm - một đặc sản của Taktser), tôi nhớ đã ăn nó ngay lập tức, bởi vì tôi biết rằng nếu tôi nói với bất kỳ người quét rác nào của tôi về nó thì sẽ phải chia sẻ nó với họ. Ngày hôm sau, tôi vô cùng bệnh hoạn. Sau vụ việc này, Sư Phụ Trách Nhà Bếp suýt mất việc. Tathag Rinpoche nghĩ rằng ông ấy phải có lỗi, vì vậy tôi buộc phải thừa nhận sự thật của vấn đề. Đó là một bài học tốt.

Mặc dù nó rất đẹp, Potala không phải là một nơi dễ thương để sống. Nó được xây dựng trên một mỏm đá được gọi là ‘Đồi Đỏ’, trên địa điểm của một tòa nhà nhỏ hơn, vào cuối thời của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm vĩ đại, người trị vì trong thế kỷ XVII theo Dương lịch. Khi ngài qua đời vào năm 1682, công trình vẫn còn lâu mới hoàn thành nên Desi Sangye Gyatso, vị Tể Tướng trung thành của ngài, đã che giấu sự thật về cái chết của ngài trong mười lăm năm cho đến khi kết thúc, chỉ nói rằng Đức Thánh Thiện đã đi nhập thất dài ngày. Bản thân Potala không chỉ là một cung điện. Bên trong các bức tường không chỉ có các văn phòng chính phủ và nhiều kho chứa hàng, mà còn có tu viện Namgyal (có nghĩa là ‘Sự Chiến Thắng’) với 175 nhà sư và nhiều điện thờ, và một trường học dành cho các tu sĩ trẻ được mệnh danh là viên chức Tsedrung.

Khi còn nhỏ, tôi đã được cấp phòng ngủ riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma Đệ Ngũ Vĩ Đại ở tầng thứ bảy (trên cùng). Nó lạnh lẽo và thiếu ánh sáng một cách đáng thương và tôi nghi ngờ liệu nó có được ngó ngàng gì tới kể từ thời của ngài ấy hay không. Mọi thứ trong đó đều cổ kính và mục nát, đằng sau những tấm màn treo qua từng bức tường là lớp bụi lâu đời hàng thế kỷ. Ở cuối phòng có một bàn thờ. Trên đó có đặt những ngọn đèn bơ nhỏ (chén đựng bơ đã ôi thiu có đặt tim đèn và thắp sáng) và những đĩa thức ăn và nước uống nhỏ bé được đặt để cúng dường chư Phật. Hàng ngày những thứ này sẽ bị chuột ăn trộm. Tôi trở nên rất thích những sinh vật nhỏ bé này. Chúng rất dễ thương và không hề tỏ ra sợ hãi khi chúng tự lấy khẩu phần ăn hàng ngày. Vào ban đêm, khi tôi nằm trên giường, tôi sẽ nghe thấy những người bạn đồng hành của tôi chạy qua chạy lại. Đôi khi chúng đến giường của tôi. Đây là món đồ nội thất quan trọng duy nhất trong phòng tôi, ngoài bàn thờ, và kể cả một hộp gỗ lớn chứa đầy nệm và được bao quanh bởi những tấm rèm dài màu đỏ. Những con chuột cũng sẽ trèo qua những thứ này, nước tiểu của chúng nhỏ xuống khi tôi chui vào chăn bên dưới.

Thói quen hàng ngày của tôi giống nhau ở cả PotalaNorbulingka, mặc dù ở thời điểm sau, thời gian được tăng lên một giờ vì ngày dài hơn trong mùa hè. Nhưng đây không phải là khó khăn. Tôi chưa bao giờ thích thức dậy sau khi mặt trời mọc. Một lần tôi ngủ quên và thức dậy thì thấy Lobsang Samten đã ở ngoài, đang chơi đùa. Tôi đã tức giận.

Tại Potala, tôi thường dậy vào khoảng sáu giờ sáng. Sau khi mặc quần áo, tôi tiến hành một khoảng thời gian ngắn cầu nguyện và thiền tập, kéo dài khoảng một giờ. Sau đó, chỉ sau bảy giờ, bữa sáng của tôi đã được mang đến. Bữa sáng này luôn bao gồm trà và tsampa, với mật ong hoặc đường caramen. Sau đó tôi có thời gian học đầu tiên với Kenrap Tenzin. Sau khi tôi học đọc và cho đến khi tôi mười ba tuổi, đây vẫn luôn là cách viết chữ. Có hai loại chữ viết chính cho tiếng Tây Tạng, UchenUmé. Một dành cho các bản thảo và một dành cho các tài liệu chính thức và thông tin liên lạc cá nhân. Tôi chỉ cần biết cách viết Umé nhưng vì tôi học khá nhanh nên tôi cũng tự học Uchen.

Tôi không thể nhịn được cười khi nghĩ lại những bài học buổi sáng sớm này. Trong khi tôi ngồi dưới con mắt chăm chú của Sư Chuyên Trách Về Y Áo của mình, thì tôi có thể nghe Sư Chuyên Trách Về Nghi Lễ bên cạnh tụng kinh cầu nguyện. 'Phòng học' thật ra chỉ là một mái hiên, với những hàng chậu cây, nằm liền kề với phòng ngủ của tôi. Ở đó thường khá lạnh, nhưng trời nhẹ nhàng và tạo cơ hội tốt để nghiên cứu về dungkar, những con chim nhỏ, đen với chiếc mỏ màu đỏ sặc sỡ thường làm ổ trên cao ở Potala. Trong khi đó, Sư Chuyên Trách Về Nghi Lễ ngồi trong phòng ngủ của tôi. Thật không may, sư có thói quen ngủ gật trong khi đọc những lời cầu nguyện buổi sáng này. Khi điều này xảy ra, giọng nói của sư đứt quãng giống như một chiếc máy hát đang chạy xuống khi điện bị mất và tiếng tụng kinh của sư chuyển sang một tiếng lầm bầm và cuối cùng dừng lại. Sau đó sẽ có một khoảng thời gian tạm dừng cho đến khi sư thức dậy, sau đó sư sẽ bắt đầu lại. Chỉ khi đó sư mới rơi vào tình trạng bối rối vì không biết mình đã dừng lại ở đâu, vì vậy sư thường lặp đi lặp lại nhiều lần. Điều đó rất hài hước. Nhưng có một mặt tốt của điều này. Cuối cùng, khi tôi phải học những lời cầu nguyện này, thì tôi đã thuộc lòng.

Sau khi viết chữ là đến việc học thuộc lòng. Điều này chỉ đơn giản là học thuộc một kinh văn Phật giáo để đọc lại sau đó trong ngày. Tôi thấy điều này rất nhàm chán vì tôi học nhanh. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng tôi thường quên rất nhanh.

Lúc mười giờ là thời gian nghỉ ngơi sau giờ học buổi sáng khi có một cuộc họp dành cho các thành viên của Chính phủ, cuộc họp mà tôi phải tham dự ngay cả khi còn rất trẻ. Ngay từ đầu, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho ngày mà, ngoài cương vị là nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, tôi cũng sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo  thế tục. Tại Potala, hội trường nơi diễn ra sự kiện này nằm ngay cạnh phòng tôi: các quan chức đến từ các văn phòng chính phủ ở tầng hai và tầng ba của tòa nhà. Bản thân các cuộc họp là những dịp khá trang trọng - trong đó nhiệm vụ của mọi người trong ngày được đọc cho họ nghe - và tất nhiên, nghi thức liên quan đến bản thân tôi được tuân thủ nghiêm ngặt. Cung Vụ Đại Nhân[1] (Lord Chamberlain) của tôi, Donyer Chenmo, sẽ đến phòng tôi và dẫn tôi đến hội trường nơi tôi được chào đón trước tiên bởi Nhiếp Chính Vương và sau đó là bốn thành viên của Kashaq, theo cấp bậc mỗi người.

Sau cuộc họp buổi sáng với Chính phủ, tôi trở về phòng để được hướng dẫn thêm. Bây giờ tôi tham gia cùng với Giáo Thọ Phụ Tá của tôi, tôi đọc lại đoạn văn mà tôi đã học trong thời gian học thuộc lòng vào buổi sáng hôm đó. Sau đó ngài đọc cho tôi nghe bài văn vào ngày hôm sau, giải thích chi tiết cho tôi. Buổi học này kéo dài đến khoảng giữa trưa. Tại thời điểm này, một chiếc chuông được rung lên (như mọi giờ - ngoại trừ một lần khi người đổ chuông quên, vì vậy ông đã rung nó mười ba lần!). Cũng vào buổi trưa, một chiếc tù và được thổi lên. Sau đó, tiếp theo phần quan trọng nhất trong ngày của Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi: nô đùa.

Tôi rất may mắn là tôi có một bộ sưu tập đồ chơi khá tốt. Khi tôi còn rất nhỏ, có một quan chức ở Dromo, một ngôi làng ở biên giới với Ấn Độ, người thường gửi đồ chơi nhập cảng cho tôi, cùng với những hộp táo khi chúng có sẵn. Ngoài ra, tôi đã từng được nhiều quan chức nước ngoài đến Lhasa tặng quà. Một trong những thứ yêu thích của tôi là một bộ Meccano[2] do người đứng đầu Phái đoàn Thương mại Anh, có văn phòng ở thủ đô tặng cho tôi. Khi tôi lớn hơn, tôi có thêm một số bộ Meccano cho đến khi tôi khoảng mười lăm tuổi, tôi đã có tất cả chúng, từ dễ nhất đến khó nhất.

Khi tôi bảy tuổi, có hai quan chức Mỹ đến Lhasa. Họ mang theo bên mình, ngoài một lá thư của Tổng thống Roosevelt, một đôi chim hót tuyệt đẹp và một chiếc đồng hồ vàng lộng lẫy. Đây đều là những món quà chào mừng. Tuy nhiên, tôi không ấn tượng lắm với những món quà do các quan chức Trung Hoa đến thăm. Những sắp lụa không thích thú gì đối với một cậu bé.

Một món đồ chơi yêu thích khác là bộ xe lửa có đồng hồ. Tôi cũng có một bộ binh chì rất tốt, mà khi tôi lớn hơn, tôi đã học cách nấu chảy và đúc lại thành các tu sĩ. Ở dạng ban đầu, tôi rất thích sử dụng chúng trong các trò chơi chiến tranh. Tôi đã từng dành nhiều thời gian để sắp xếp chúng. Sau đó, khi trận chiến bắt đầu, chỉ mất vài phút để tàn phá hệ thống tuyệt đẹp mà tôi đã tạo dựng chúng. Điều tương tự cũng xảy ra với một trò chơi khác liên quan đến việc tạo ra các mô hình xe tăng và máy bay nhỏ bé từ bột tsampa, hoặc pa, như nó được biết đến nhiều.

Trước hết, tôi sẽ tổ chức một cuộc thi giữa những người bạn đã trưởng thành của mình để xem ai có thể tạo ra những mô hình tốt nhất. Mỗi người được phát một lượng bột như nhau và được phép xây dựng quân đội trong nửa giờ. Sau đó, tôi đánh giá kết quả. Không có nguy cơ thua giai đoạn này của trò chơi vì tôi khá khéo léo. Thường thì tôi sẽ loại những người khác vì đã tạo ra những mô hình tồi tệ như vậy. Sau đó, tôi sẽ bán một số mô hình của mình cho đối thủ với giá cao gấp đôi so với số bột phải bỏ ra để làm ra chúng. Bằng cách này, tôi đã tính toán để kết thúc với nhiều lực lượng mạnh nhất và đồng thời tôi có thể đạt được sự hài lòng từ việc trao đổi. Sau đó chúng tôi tham gia trận chiến. Cho đến bây giờ, tôi đã có mọi thứ theo cách riêng của mình, vì vậy đây là lúc tôi thường thua cuộc. Vì những người quét dọn của tôi không bao giờ đưa một phần tư trong bất kỳ cuộc thi nào, vì vậy tôi thường cố gắng sử dụng vị trí của mình với tư cách là Đạt Lai Lạt Ma để có lợi cho mình, nhưng không có ích gì. Tôi đã chơi rất mạnh mẽ. Tôi thường xuyên mất bình tĩnh và dùng nắm đấm, nhưng họ vẫn không nhượng bộ, thậm chí có lúc còn khiến tôi khóc.

Một mục tiêu theo đuổi yêu thích khác của tôi là diễn tập quân sự, mà tôi học được từ Norbu Thondup, nhân viên quét dọn yêu thích của tôi và là một trong những người đã từng tham gia quân đội. Tôi luôn tràn đầy năng lượng khi còn là một cậu bé nên tôi thích bất cứ thứ gì liên quan đến hoạt động thể chất. Tôi yêu thích một trò chơi nhảy cá nhân - trò chơi đã chính thức bị cấm - liên quan đến việc chạy nhanh hết mức có thể lên bảng đặt ở góc khoảng 45° và nhảy lên đỉnh. Tuy nhiên, khuynh hướng hiếu chiến của tôi đã từng suýt khiến tôi gặp rắc rối nghiêm trọng. Tôi đã tìm thấy một cây gậy cũ, có đầu bằng ngà voi trong số đồ đạc của người tiền nhiệm của tôi và tôi đã lấy cho riêng tôi. Một ngày nọ, tôi đang vung mạnh nó quanh đầu thì nó tuột khỏi tay tôi và quay mạnh vào mặt của Lobsang Samten. Anh ta ngã mạnh xuống sàn nhà. Trong một giây, tôi tin chắc rằng tôi đã giết anh ta. Sau một vài giây phút choáng váng, anh ta đứng dậy, trong nước mắt tràn trề và máu đổ ra từ một vết cứa sâu khủng khiếp trên lông mày bên phải của anh ta. Việc này làm sau đó anh ta bị nhiễm trùng và mất một thời gian rất dài để chữa lành. Lobsang Samten tội nghiệp đã kết thúc với một dấu ấn nổi bật như một vết sẹo cho phần còn lại của cuộc đời của anh.

Ngay sau một giờ trưa là bữa trưa nhẹ. Nó đã xảy ra như vậy, vì vị trí của Potala, ánh sáng mặt trời tràn ngập căn phòng vào giữa trưa khi buổi học buổi sáng của tôi kết thúc. Nhưng đến hai giờ chiều, trời bắt đầu mờ đi và căn phòng trở lại bóng tối. Tôi ghét khoảnh khắc này: khi căn phòng chìm vào bóng râm, một bóng đen đổ xuống trái tim tôi. Buổi học buổi chiều của tôi bắt đầu ngay sau bữa trưa. Một tiếng rưỡi đầu tiên bao gồm một thời gian học chung với Giáo Thọ Phụ Tá của tôi về các môn học phổ thông. Đó là tất cả những ngài ấy có thể làm để thu hút sự chú ý của tôi. Tôi là một học sinh rất miễn cưỡng và không thích tất cả các môn học đều như nhau.

Chương trình học mà tôi đã học cũng giống như chương trình dành cho tất cả các tu sĩ theo học bằng tiến sĩ Phật học. Nó rất mất cân bằng và về nhiều mặt hoàn toàn không phù hợp với người lãnh đạo một đất nước trong những năm cuối thế kỷ XX. Nhìn chung, chương trình giảng dạy của tôi bao gồm năm môn học chính và năm môn học phụ, chủ đề trước là: logic; Nghệ thuật và văn hóa Tây Tạng; Tiếng Phạn; y học; và triết học Phật giáo. Cuối cùng trong số này là quan trọng nhất (và khó nhất) và được chia thành năm loại tiếp theo: Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita) tuệ trí hoàn thiện; Madhyamika, triết lý Trung đạo; Vinaya hay Luật tạng, giới luật tu viện; A tỳ đạt ma (Abidharma), siêu hình học; và Lượng (Pramana), luận lý học (logic) và nhận thức luận (epistemology).

Năm môn phụ là thơ; âm nhạc và kịch; chiêm tinh học; vận luật và thành ngữ; và từ đồng nghĩa. Trên thực tế, bản thân bằng tiến sĩ chỉ được trao trên cơ sở triết học Phật giáo, luận lý học và biện chứng pháp. Vì lý do này, phải đến giữa những năm 1970, tôi mới học ngữ pháp tiếng Phạn; và một số môn học, chẳng hạn như y học, tôi chưa bao giờ học khác hơn một cách không chính thức.

Nền tảng của hệ thống giáo dục tu viện Tây Tạng là phép biện chứng, hay nghệ thuật tranh luận. Hai người thi đấu lần lượt đặt câu hỏi, họ đặt ra câu hỏi kèm theo điệu bộ cách điệu. Khi câu hỏi được đặt ra, người thẩm vấn đưa tay phải lên trên đầu và vỗ mạnh xuống bàn tay trái đang duỗi ra và dập chân trái xuống đất. Sau đó, anh ta trượt tay phải của mình ra khỏi bên trái, gần với đầu của đối thủ của mình. Người bị đặt câu hỏi vẫn bị động và tập trung cố gắng không chỉ để trả lời mà còn lật ngược thế cờ về phía đối thủ, người luôn đi lại xung quanh anh ta. Wit[3] là một phần quan trọng của các cuộc tranh luận này và bạn sẽ nhận được thành tích cao khi biến các định đề của đối thủ thành lợi thế tiếu lâm của riêng bạn. Điều này làm cho phép biện chứng trở thành một hình thức giải trí phổ biến ngay cả đối với những người Tây Tạng thất học, những người, mặc dù họ có thể không theo dõi các tình thế ngoạn mục trí tuệ liên quan, vẫn có thể đánh giá cao niềm vui và cảnh tượng. Ngày xưa, không có gì lạ khi thấy những người du mục và những người dân quê khác từ xa bên ngoài Lhasa dành một phần thời gian trong ngày để xem các cuộc tranh luận đã học trong sân của một tu viện.

Khả năng của một tu sĩ đối với hình thức tranh luận độc đáo này là tiêu chuẩn để đánh giá thành tựu tuệ trí của người ấy. Vì lý do này, với tư cách là Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi không chỉ phải có nền tảng tốt về triết học và luận lý học (logic) Phật giáo mà còn phải có khả năng tranh luận thành thạo. Do đó, tôi bắt đầu nghiên cứu những môn học này một cách nghiêm túc khi tôi mười tuổi và năm mười hai tuổi, tôi được bổ nhiệm hai tsenshap, những chuyên gia đã hướng dẫn tôi về nghệ thuật biện chứng.

Sau tiết học đầu tiên của buổi chiều, giáo thọ của tôi đã dành một giờ tiếp theo để giải thích cách tranh luận về chủ đề trong ngày. Sau đó vào lúc bốn giờ, trà đã được phục vụ. Nếu có ai uống trà nhiều hơn người Anh, thì đó là người Tây Tạng. Theo một thống kê của Trung Hoa mà tôi đã xem gần đây, Tây Tạng đã nhập khẩu 10 triệu tấn trà hàng năm từ Trung Quốc trước cuộc xâm lược. Điều này không thể đúng vì nó ngụ ý rằng mỗi người Tây Tạng uống gần hai tấn mỗi năm. Con số rõ ràng được tạo ra để cố gắng chứng minh sự phụ thuộc kinh tế của Tây Tạng vào Trung Hoa, nhưng nó cũng cho thấy sự yêu thích của chúng tôi đối với trà.

Phải nói rằng, tôi không hoàn toàn chia sẻ rằng đồng hương của tôi thích nó. Trong xã hội Tây Tạng, trà được uống theo truyền thống với muối và bơ dri [của con yak] thay cho sữa. Điều này làm thành một thức uống rất ngon và bổ dưỡng vì nó được pha chế cẩn thận, nhưng hương vị phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của bơ. Các nhà bếp ở Potala thường xuyên được cung cấp bơ tươi có nhiều kem và loại bia do họ sản xuất rất tuyệt vời. Nhưng đó là thời gian duy nhất tôi thật sự thưởng thức trà Tây Tạng. Ngày nay tôi thường uống trà theo kiểu Anh, vào buổi sáng và tối. Vào các buổi chiều, tôi uống nước nóng, một thói quen mà tôi có ở Trung Hoa trong những năm 1950. Mặc dù điều này nghe có vẻ vô vị, nhưng trên thực tế, nó cực kỳ tốt cho sức khỏe. Nước nóng được coi là phương thuốc đầu tiên trong hệ thống y tế Tây Tạng.

Sau khi uống trà, hai tu sĩ tsenshap đến, tôi dành một giờ tiếp theo và tranh luận một chút về những câu hỏi trừu tượng, ví dụ như, bản chất của Tâm thức là gì? Cuối cùng thì khổ nạn trong ngày sẽ kết thúc vào khoảng năm giờ rưỡi. Tôi không thể đưa ra thời gian chính xác vì người dân Tây Tạng không quan tâm nhiều đến đồng hồ như một số người và mọi thứ có xu hướng bắt đầu và kết thúc khi thuận tiện. Vội vàng luôn luôn được tránh.

Ngay sau khi giáo thọ của tôi đi, tôi sẽ lao lên mái nhà, nếu tôi đang ở Potala, với kính thiên văn của mình. Nó có một tầm nhìn tuyệt đẹp ra Lhasa từ Trường Y Học Chakpori gần đó đến Thành phố Thánh Thiện, một phần của thủ đô nằm xung quanh ngôi chùa Jokhang, ở phía xa. Tuy nhiên, tôi quan tâm nhiều hơn đến ngôi làng Shol, nằm xa dưới chân Đồi Đỏ. Vì chính nơi đây, nhà tù quốc gia tọa lạc và đây là thời điểm mà các tù nhân được phép đi lại trong khu nhà. Tôi coi họ là bạn của mình và luôn theo dõi sát sao nhất cử nhất động của họ. Họ biết điều này và bất cứ khi nào họ nhìn thấy tôi, họ đều ngã mình thi lễ vì kính ngưỡng. Tôi nhận ra tất cả và luôn biết khi nào có ai đó được trả tự do hoặc có người mới đến. Tôi cũng thường kiểm tra đống củi và thức ăn gia súc nằm trong sân.

Sau cuộc kiểm soát này, có thời gian để chơi nhiều hơn bên trong - ví dụ, vẽ - trước bữa ăn tối của tôi, vốn được mang đến cho tôi ngay sau bảy giờ. Món này bao gồm trà (chắc chắn là có), nước súp, đôi khi có một ít thịt, và sữa chua hoặc sho, cùng với một lượng lớn các loại bánh mì khác nhau do mẹ tôi làm và gửi cho tôi tươi mỗi tuần. Món yêu thích của tôi là được làm theo phong cách Amdo - những chiếc bánh tròn nhỏ với lớp vỏ cứng và bên trong nhẹ và xốp.

Khá thường xuyên, tôi đã cố gắng ăn bữa ăn này với một hoặc nhiều người quét dọn của tôi. Tất cả họ là những kẻ người háo ăn. Bát của họ đủ lớn để chứa cả một ấm trà. Những lần khác, tôi dùng bữa với một số tu sĩ từ tu viện Namgyal. Tuy nhiên, nói chung, tôi chia sẻ các bữa ăn của mình chỉ với ba vị sư thị giả và đôi khi là Chikyab Kenpo, vị Ngự Tiền Văn Phòng của tôi. Khi không có vị Ngự Tiền Văn Phòng, thì luôn là những dịp ầm ĩ, và cũng rất vui. Tôi đặc biệt nhớ những bữa tối mùa đông khi chúng tôi ngồi cạnh bếp lửa húp nước súp nóng hổi bên ánh đèn bơ leo lét và lắng nghe tiếng rên rỉ của cơn gió đầy tuyết bên ngoài.

Sau khi ăn xong, tôi sẽ đi xuống bảy bậc cầu thang vào sân trong, nơi tôi phải đọc kinh và cầu nguyện khi đi bộ. Nhưng khi tôi còn trẻ và còn vô tư, tôi hầu như không bao giờ làm như vậy. Thay vào đó, tôi sẽ dành thời gian để nghĩ ra những câu chuyện hoặc dự đoán những câu chuyện sẽ được kể cho tôi nghe trước khi đi ngủ. Thông thường, những điều này có tính chất siêu nhiên, vì vậy sẽ là một vị Đạt Lai Lạt Ma rất sợ hãi khi len lỏi vào phòng ngủ tối tăm, đầy côn trùng của mình lúc chín giờ tối. Một trong những câu chuyện đáng sợ nhất liên quan đến những con cú khổng lồ được cho là sẽ vồ những cậu bé nhỏ sau khi trời tối. Điều này dựa trên một bức bích họa cổ trong ngôi chùa Jokhang. Nó khiến tôi rất đặc biệt về việc ở bên trong khi màn đêm buông xuống.

Cuộc sống của tôi ở cả PotalaNorbulingka đều rất bình thường. Nó chỉ thay đổi vào thời điểm lễ hội quan trọng hoặc khi tôi thực hành một khóa tu. Trong thời gian sau đó, tôi được tháp tùng bởi một trong những Giáo Thọ của tôi, mặc dù đôi khi là cả hai, hoặc những Lạt ma cao cấp khác từ tu viện Namgyal. Thông thường, tôi đã thực hiện một lần mỗi năm, vào mùa đông. Nói chung, chúng kéo dài ba tuần, trong đó tôi chỉ có một bài học ngắn hạn và không được phép ra ngoài chơi, chỉ là thời gian dài cầu nguyện và thiền định được thực hiện dưới sự giám sát. Khi còn nhỏ, tôi không phải lúc nào cũng thích điều này. Tôi đã dành rất nhiều thời gian để nhìn ra một hoặc những cửa sổ khác trong phòng ngủ của mình. Một ở phía Bắc đối diện với tu viện Sera, với những ngọn núi ở phía sau. Một ở phía Nam quay mặt vào hội trường lớn, nơi tổ chức các cuộc họp buổi sáng với Chính phủ.

Đại sảnh này treo một bộ sưu tập các tranh thangka cũ, vô giá, các bức tranh bằng lụa thêu mô tả cuộc đời của Milarepa, một trong những bậc thầy tâm linh được yêu thích nhất của Tây Tạng. Tôi thường nhìn vào những bức ảnh đẹp này. Tôi tự hỏi điều gì đã xảy ra với họ.

Những buổi tối trong khóa tu của tôi thậm chí còn tồi tệ hơn những ngày thường, vì đó là thời điểm mà những cậu bé ở độ tuổi của tôi thường lùa bò trở về nhà ở làng Shol ở phía chân Potala. Tôi nhớ mình đã ngồi lặng lẽ đọc những câu mật ngôn trong sự tĩnh lặng của ánh sáng mờ dần và nghe những bài hát của những mục đồng khi họ trở về từ đồng cỏ gần đó. Trong một vài trường hợp, tôi ước rằng mình có thể đổi chỗ cho họ. Nhưng dần dần tôi hiểu ra giá trị của việc tĩnh tâm. Ngày nay, tôi thật sự ước mình có nhiều thời gian hơn cho họ.

Về cơ bản, tôi hòa nhập tốt với tất cả các giáo thọ của mình vì tôi tiếp thu nhanh. Tôi có một tâm trí khá tốt, vì tôi đã khám phá ra một chút hài lòng khi được giao tiếp với một số ‘siêu học giả’ của Tây Tạng. Nhưng chủ yếu là tôi chỉ làm việc đủ chăm chỉ để tránh gặp rắc rối. Tuy nhiên, đã đến lúc các giáo thọ của tôi lo lắng về tốc độ tiến bộ của tôi. Vì vậy, Kenrap Tenzin đã tổ chức một kỳ thi thử, trong đó tôi sẽ cạnh tranh với Norbu Thondup, nhân viên quét dọn yêu thích của tôi. Tôi không biết, vì Kenrap Tenzin đã thông báo cho anh ấy đầy đủ trước đó, với kết quả là tôi đã thua cuộc thi. Tôi đã rất phiền muộn, đặc biệt là khi sự mất mặt của tôi được công khai.

Thủ thuật đã thành công và trong một thời gian, tôi đã làm việc rất chăm chỉ vì sự giận dỗi thật sự. Nhưng cuối cùng ý định tốt của tôi lại phai mờ và tôi lại sa vào con đường cũ của mình. Mãi cho đến khi đến tuổi trưởng thành, tôi mới nhận ra rằng việc học của mình quan trọng như thế nào và sau đó tôi bắt đầu quan tâm đúng mức đến việc học của mình. Ngày nay tôi hối hận về sự nhàn rỗi sớm của mình và luôn học ít nhất bốn giờ một ngày. Một điều mà tôi nghĩ có thể đã tạo ra sự khác biệt cho thời đi học đầu đời của tôi là một số cuộc cạnh tranh thật sự. Bởi vì tôi không có bạn cùng lớp, tôi không bao giờ có bất kỳ ai để so sánh bản thân mình với họ.

Khi tôi khoảng chín tuổi, tôi phát hiện ra trong số đồ đạc của người tiền nhiệm của mình có hai máy chiếu phim cũ, quay tay và một số cuộn phim. Lúc đầu, không thể tìm ra ai biết cách vận hành chúng. Cuối cùng, một nhà sư già người Hoa, khi còn là một cậu bé đã được cha mẹ tặng cho Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba khi ông đến thăm Trung Hoa vào năm 1908 và hiện đang sống lâu dài tại Norbulingka, đã được phát hiện là một kỹ thuật viên giỏi. Ông là một người rất tốt bụng và rất chân thành, với sự tôn sùng nghiêm túc đối với thệ nguyện tôn giáo của mình, mặc dù, giống như nhiều người Hoa, ông có một tính nóng nảy rất tệ.

Một trong những bộ phim là tin tức về lễ đăng quang của Vua George V, bộ phim gây ấn tượng mạnh với tôi với hàng hàng lớp lớp những người lính mặc quân phục lộng lẫy từ khắp nơi trên thế giới. Một bức ảnh khác chứa thủ thuật hấp dẫn cho thấy các nữ vũ công đang nở ra từ trứng bằng cách nào đó. Nhưng thú vị nhất là một tài liệu về khai thác vàng. Từ đó, tôi biết được nghề nghiệp khai thác nguy hiểm là gì và những người thợ mỏ làm việc trong những điều kiện khó khăn nào. Sau này, mỗi khi nghe đến chuyện bóc lột giai cấp công nhân (mà tôi vẫn thường làm trong những năm sau này), tôi lại nghĩ đến bộ phim này.

Thật không may, vị sư già người Hoa, người mà tôi đã nhanh chóng trở thành những người bạn rất tốt, đã qua đời không lâu sau phát hiện quan trọng này. May mắn thay, thời gian này tôi đã tìm ra cách sử dụng máy chiếu cho bản thân và nhờ đó tôi đã có được kinh nghiệm đầu tiên về điện và hoạt động của máy phát điện. Điều này hóa ra rất hữu ích khi tôi nhận được một món quà, dường như từ Hoàng gia Anh, một máy chiếu điện hiện đại với máy phát điện riêng. Nó được gửi thông qua Phái đoàn Thương mại Anh, và Reginald Fox, Ủy Viên Thương Mại Phụ Trách, đến chỉ cho tôi cách sử dụng nó.

Do độ cao của nó, nhiều bệnh phổ biến ở các nơi khác trên thế giới không được biết đến ở Tây Tạng. Tuy nhiên, có một mối nguy hiểm luôn tồn tại: bệnh đậu mùa. Khi tôi khoảng mười tuổi, tôi được bổ nhiệm một bác sĩ mới, khá bụ bẫm, sử dụng thuốc ngoại nhập để tiêm phòng cho tôi. Đây là một kinh nghiệm rất đau, ngoài việc để lại cho tôi bốn vết sẹo nổi rõ trên cánh tay tôi, nó còn gây đau đớn đáng kể và khiến tôi bị sốt kéo dài khoảng hai tuần. Tôi nhớ mình đã phàn nàn rất nhiều về "bác sĩ mập mạp đó".

Một bác sĩ riêng khác của tôi vào thời điểm đó được đặt biệt danh là Bác sĩ Lenin do bộ râu dê của ông ấy.Là một người đàn ông nhỏ bé nhưng ăn rất mạnh và có khiếu tiếu lâm tuyệt vời. Tôi đặc biệt đánh giá cao ông vì kỹ năng kể chuyện. Cả hai người này đều được đào tạo theo hệ thống y học cổ truyền của Tây Tạng, về điều này tôi sẽ nói rõ hơn trong chương sau.

Cũng khi tôi mười tuổi, cuộc chiến tranh thế giới đã diễn ra trong năm năm qua đã kết thúc. Tôi biết rất ít về điều đó, trừ ra khi nó kết thúc, Chính phủ của tôi đã gửi một sứ mệnh mang theo những món quà và thông điệp chúc mừng đến Chính phủ Anh tại Ấn Độ. Các quan chức đã được tiếp đón bởi Huân Tước Wavell, Phó vương Ấn Độ. Năm sau, một phái đoàn lại được cử đến Ấn Độ để đại diện cho Tây Tạng tại một hội nghị về Quan hệ Châu Á.

Ngay sau đó, vào đầu mùa xuân năm 1947, một sự việc rất đáng buồn đã xảy ra, nó là điển hình cho cách mà việc theo đuổi lợi ích cá nhân ích kỷ của những người có chức vụ cao có thể gây ra hậu quả ảnh hưởng đến vận mệnh của một đất nước.

Một ngày nọ, khi đang xem một cuộc tranh luận, tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Tiếng ồn đến từ phía bắc, theo hướng của tu viện Sera. Tôi lao ra ngoài, đầy hào hứng trước viễn cảnh được làm một số công việc thật sự với kính viễn vọng của mình. Tuy nhiên, đồng thời tôi cũng rất bối rối khi nhận ra rằng tiếng súng cũng có nghĩa là giết chóc. Hóa ra là Reting Rinpoche, người đã tuyên bố nghỉ hưu sáu năm trước đó, đã quyết định đòi lại vị trí Nhiếp Chính Vương. Ông đã được hỗ trợ trong việc này bởi một số nhà sư và các quan chức cư sĩ, những người đã tổ chức một âm mưu chống lại Tathag Rinpoche. Điều này dẫn đến việc bắt giữ Reting Rinpoche và cái chết của một số lượng đáng kể các tín đồ của ngài.

Reting Rinpoche sau đó được đưa đến Potala, nơi ông ấy yêu cầu được phép gặp tôi. Thật không may, điều này đã bị từ chối thay cho tôi và ông đã chết trong tù không lâu sau đó. Đương nhiên, là một người vị thành niên, tôi có rất ít cơ hội tham gia vào các vấn đề tư pháp, nhưng nhìn lại, đôi khi tôi tự hỏi liệu trong trường hợp này, tôi có thể đã không làm được gì không. Nếu tôi can thiệp bằng một cách nào đó, có thể việc phá hủy tu viện Reting, một trong những lâu đài lâu đời nhất và đẹp nhất ở Tây Tạng, có thể đã được ngăn chặn. Nhìn chung, toàn bộ vụ việc đều rất ngớ ngẩn. Tuy nhiên, bất chấp những sai lầm của ông ấy, tôi vẫn giữ một lòng tôn kính cá nhân sâu sắc đối với Reting Rinpoche với tư cách là giáo thọ sư và đạo sư đầu tiên của tôi. Sau khi ông chết, tên của ông đã bị xóa khỏi tên tôi - cho đến khi tôi khôi phục chúng nhiều năm sau đó theo chỉ dẫn của nhà tiên tri.

Không lâu sau những sự kiện không vui này, tôi cùng Tathag Rinpoche đi đến các tu viện DrepungSera (nằm cách Lhasa khoảng 5 dặm về phía tây và 3 dặm rưỡi về phía bắc). Drepung vào thời điểm đó là tu viện lớn nhất trên thế giới, với hơn bảy nghìn tu sĩ. Sera không nhỏ hơn nhiều, với năm nghìn. Chuyến thăm này đánh dấu sự ra mắt công chúng của tôi với tư cách là một nhà biện chứng. Tôi đã tranh luận với các viện trưởng của mỗi trường trong số ba trường cao đẳng của Drepung và hai trường cao đẳng của Sera. Vì những xáo trộn gần đây, các biện pháp phòng ngừa an ninh bổ sung đã được thực hiện, điều này khiến tôi cảm thấy không thoải mái. Ngoài ra, tôi rất hồi hộp khi lần đầu tiên được đi đến những chỗ học tập tuyệt vời này trong cuộc đời này. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, cả hai đều rất quen thuộc với tôi và tôi bị thuyết phục về mối liên hệ nào đó từ kiếp trước của mình. Các cuộc tranh luận, được tiến hành trước hàng trăm tu sĩ, đã diễn ra khá suôn sẻ, mặc cho tôi rất lo lắng.

Ngoài ra, vào khoảng thời gian này, tôi đã nhận được từ Tathag Rinpoche giáo huấn đặc biệt của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, được coi là đặc biệt của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nó đã được tiếp nhận bởi Đệ Ngũ Vĩ Đại (như ngài vẫn được mọi người Tây Tạng biết đến) trong một linh ảnh. Trong những tuần tiếp theo, tôi đã có một số trải nghiệm bất thường, đặc biệt là trong hình thức những giấc mơ, mặc dù khi đó chúng có vẻ không đáng kể, nhưng giờ tôi thấy nó rất quan trọng.

***

Một trong những đền bù của cuộc sống ở Potala là nó có rất nhiều nhà kho. Đối với một cậu bé, những căn phòng này thú vị hơn nhiều so với những căn phòng chứa bạc hoặc vàng hoặc những vật phẩm tạo tác tôn giáo vô giá; thú vị hơn cả những ngôi mộ rộng lớn, nạm ngọc của từng người tiền nhiệm của tôi ở dưới hầm. Tôi thích kho vũ khí hơn với bộ sưu tập gồm những thanh kiếm cũ, súng bắn đạn ghém và những bộ áo giáp. Nhưng ngay cả điều này cũng chẳng thấm vào đâu so với những kho báu không thể tưởng tượng được trong những căn phòng chứa một số đồ đạc của người tiền nhiệm của tôi. Trong số này, tôi tìm thấy một khẩu súng trường hơi cũ, đầy đủ các bia mục tiêu và đạn dược, và kính viễn vọng mà tôi đã giới thiệu, chưa kể đến hàng đống sách minh họa bằng tiếng Anh về Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những điều này khiến tôi bị cuốn hút và cung cấp bản thiết kế cho các mô hình tàu thủy, xe tăng và máy bay mà tôi đã thực hiện. Khi tôi lớn hơn, tôi đã dịch một phần của chúng sang tiếng Tây Tạng.

Tôi cũng tìm thấy hai đôi giày châu Âu. Mặc dù bàn chân của tôi quá nhỏ, tôi vẫn mang chúng vào, nhét những mảnh vải vào các ngón chân để chúng vừa vặn hơn hoặc ít rộng hơn. Tôi xúc động trước âm thanh mà chúng tạo ra bằng đôi giày cao gót nặng nề, có mũi thép.

Một trong những điều tôi thích nhất khi còn nhỏ là tách rời các đồ vật ra và sau đó cố gắng lắp ráp chúng lại. Tôi đã trở nên khá giỏi về nó. Tuy nhiên, thời gian đầu, không phải lúc nào nỗ lực của tôi cũng thành công. Một trong những món đồ mà tôi bắt gặp trong số đồ đạc của người tiền nhiệm của tôi là một chiếc hộp nhạc cũ của Nga hoàng, người mà ngài đã có quan hệ thân thiện tặng cho ngài. Nó không hoạt động, vì vậy tôi quyết định cố gắng sửa chữa nó. Tôi thấy rằng dây thiều đã quá cứng và bị kẹt. Khi tôi đưa tu vít của mình vào, cơ chế này đã tự thoát một cách tự do và không bị ràng buộc một cách không kiểm soát, bật ra tất cả các mảnh kim loại mỏng tạo ra âm nhạc. Tôi sẽ không bao giờ quên bản giao hưởng âm thanh của ma quỷ khi những mảnh vụn bay quanh phòng. Khi nghĩ lại sự việc này, tôi nhận ra rằng mình đã may mắn không bị mất một con mắt. Khuôn mặt của tôi ở ngay cận cảnh khi tôi loay hoay với cơ chế. Kiếp sau tôi có thể nhầm với Moshe Dayan[4]!

Tôi rất biết ơn Thupten Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, vì đã được ban cho rất nhiều món quà tuyệt vời. Nhiều nhân viên quét dọn ở Potala đã phục vụ ngài trong suốt cuộc đời của ngài, và từ họ, tôi biết được vài điều về cuộc đời của ngài. Tôi biết được rằng ngài không chỉ là một bậc thầy tâm linh thành tựu cao, mà còn là một nhà lãnh đạo thế tục rất có năng lực và có tầm nhìn xa. Tôi cũng được biết rằng ngài đã hai lần bị bắt phải đi lưu vong bởi những kẻ xâm lược nước ngoài - lần đầu tiên là bởi người Anh, họ đã gửi đến một đội quân dưới sự chỉ huy của Đại tá Younghusband vào năm 1903, và lần thứ hai là bởi quân đội Mãn Châu vào năm 1910. Trong trường hợp đầu tiên, Người Anh rút lui theo cách riêng của họ, nhưng trong lần thứ hai, quân đội Mãn Châu đã bị buộc phải rút ra trong mùa đông năm 1911-12.

Người tiền nhiệm của tôi cũng rất quan tâm đến công nghệ hiện đại. Trong số những thứ ngài nhập cảng đến Tây Tạng có một nhà máy phát điện, một xưởng đúc tiền để sản xuất cả tiền xu và tiền giấy đầu tiên của Tây Tạng, và ba chiếc xe hơi. Những thứ này là sự náo động của Tây Tạng. Vào thời điểm đó, hầu như không có phương tiện giao thông bằng bánh xe trong nước. Ngay cả xe ngựa cũng hầu như không được biết đến. Tất nhiên chúng đã được biết đến, nhưng bản chất khó lay chuyển của phần lớn vùng đất Tây Tạng muốn nói động vật là hình thức vận chuyển thực tế duy nhất.

Thupten Gyatso cũng nhìn xa trông rộng theo những cách khác. Sau thời gian sống lưu vong lần thứ hai, ngài đã sắp xếp để gửi bốn thanh niên Tây Tạng sang Anh để học tập. Thí nghiệm đã thành công, các cậu bé làm tốt - và thậm chí còn được Hoàng gia Anh tiếp nhận, nhưng đáng buồn là không có sự theo tiếp nối nào. Nếu thông lệ gửi trẻ em đi học ở nước ngoài được thực hiện một cách thường xuyên, như ngài dự định, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng tình hình của Tây Tạng ngày nay sẽ rất khác. Cuộc cải tổ quân đội của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, được ngài công nhận là một biện pháp răn đe quan trọng, cũng thành công nhưng không bền sau khi ngài qua đời.

Một kế hoạch khác của ngài là củng cố quyền lực của Chính phủ LhasaKham. Ngài nhận ra rằng do khoảng cách xa với Lhasa, đặc biệt là Kham đã bị chính quyền trung ương bỏ bê. Do đó, ngài đề xuất rằng con trai của các thủ lĩnh địa phương được đưa đến Lhasa để giáo dục và sau đó được gửi trở lại các chức vụ của chính phủ. Ngài cũng muốn khuyến khích địa phương tuyển quân cho quân đội. Nhưng, thật không may, do tính trì trệ, không kế hoạch nào thành hiện thực.

Cái nhìn sâu sắc về chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba cũng rất phi thường. Trong di chúc bằng văn bản cuối cùng của mình, ngài cảnh báo rằng, trừ khi có những thay đổi triệt để,


Có thể xảy ra ở Tây Tạng là, tôn giáo và chính phủ sẽ bị tấn công từ bên ngoài lẫn bên trong. Trừ khi chúng ta bảo vệ đất nước của mình, nếu không thì giờ đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma, cha và con, và tất cả những người nắm giữ Niềm Tin được tôn kính, sẽ biến mất và trở thành vô danh. Các tu sĩ và tu viện của họ sẽ bị phá hủy. Nhà nước pháp quyền sẽ bị suy yếu. Đất đai và tài sản của các quan chức chính phủ sẽ bị tịch thu. Chính họ sẽ bị buộc phải phục vụ kẻ thù của họ hoặc lang thang trên đất nước như những kẻ ăn xin. Tất cả sẽ chìm trong khó khăn lớn và nỗi sợ hãi bao trùm; ngày và đêm sẽ kéo dài dần dần trong đau khổ.


Các Ban Thiền Lạt Ma được đề cập trong văn bản đại diện, theo sau Đạt Lai Lạt Ma, người có thẩm quyền tinh thần cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng. Theo kinh nghiệm, trụ sở của các vị là tu viện TashilhunpoShigatse, thành phố lớn thứ hai ở Tây Tạng.

Về mặt cá nhân, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba là một người rất giản dị. Ngài đã loại bỏ nhiều phong tục cũ. Ví dụ, từng có trường hợp rằng bất cứ khi nào Đức Đạt Lai Lạt Ma rời khỏi phòng của mình, bất kỳ người hầu nào tình cờ ở gần đó sẽ lập tức rời đi. Ngài nói rằng thủ tục này gây rắc rối không cần thiết cho mọi người và khiến ngài miễn cưỡng xuất hiện. Vì vậy, ngài đã bãi bỏ quy tắc ấy.

Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghe một số câu chuyện về người tiền nhiệm của mình để minh họa cho việc ngài là người bình thường như thế nào. Một trong số đó, được một người đàn ông rất già có con trai là một tu sĩ ở tu viện Namgyal kể lại cho tôi, liên quan thời điểm một tòa nhà mới đang được cất lên trong khuôn viên của Norbulingka. Như thường lệ, nhiều thành viên của công chúng đến đặt một viên đá trong nền móng để đánh dấu sự kính trọng và lời cầu chúc tốt đẹp của họ. Một ngày nọ, một người du mục từ phương xa (cha của người đã kể cho tôi nghe câu chuyện này) đến để đóng góp. Ông ta mang theo một con la rất kỳ quặc, ngay khi ông quay lưng lại để cúng dường, thì nó đã phóng nhanh đi tìm tự do. May mắn thay, có người đi ngược chiều. Người du mục gọi người này, yêu cầu ông ta tóm lấy con la lang thang. Điều này mà người lạ đã làm và mang nó đến. Người du mục lúc đầu rất vui mừng và sau đó là ngạc nhiên, vì người giải cứu ông ta hóa ra không ai khác chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba cũng rất nghiêm khắc. Ngài cấm hút thuốc lá cả ở Potala và trong khuôn viên của Norbulingka. Tuy nhiên, có một lần ngài đang đi dạo và đến một nơi có một số thợ đá đang làm việc. Họ không nhìn thấy ngài và đang nói chuyện với nhau. Một người trong số họ đã lớn tiếng phàn nàn về việc cấm thuốc lá, nói rằng nó rất tốt khi một người mệt mỏi và đói. Dù sao thì anh ấy cũng sẽ nhai một ít. Đức Đạt Lai Lạt Ma, khi nghe thấy điều này, đã quay lưng và rời đi mà không cho biết sự hiện diện của ngài.

Điều này không có nghĩa là ngài luôn khoan dung. Nếu tôi có bất cứ điều gì quan trọng để nói về ngài, đó là tôi cảm thấy ngài có thể đã hơi quá độc đoán. Ngài cực kỳ nghiêm khắc với các quan chức cấp cao của mình và lớn tiếng nặng nề với họ chỉ vì một sai lầm nhỏ nhất. Ngài giới hạn sự hào phóng của mình với những người đơn giản.

Những thành tựu lớn nhất của Thupten Gyatso trong lĩnh vực tâm linh thể hiện sự cống hiến của Ngài trong việc nâng cao tiêu chuẩn học thuật trong các tu viện (trong đó có hơn sáu nghìn ở khắp Tây Tạng). Khi làm như vậy, Ngài ưu tiên cho những tu sĩ có khả năng nhất, ngay cả khi họ là những người thấp hơn. Ngoài ra, Ngài còn đích thân truyền giới cho hàng nghìn sa-di. Cho đến những năm 1970, hầu hết các vị trưởng lão đều đã nhận được sự trao truyền đại giới tỳ-kheo từ ngài.

Cho đến tận những năm đầu hai mươi tuổi, khi tôi bắt đầu thường trú ở đó, hàng năm tôi chuyển đến Norbulingka vào đầu mùa xuân, trở lại Potala khoảng sáu tháng sau khi bắt đầu mùa đông. Ngày mà tôi rời khỏi căn phòng u ám của mình ở Potala chắc chắn là một trong những ngày yêu thích của tôi trong suốt cả năm. Nó bắt đầu bằng một buổi lễ kéo dài trong hai giờ đồng hồ (đối với tôi đó dường như là một sự bất tận). Rồi đến đám rước lớn mà tôi không quan tâm lắm. Tôi thà đi bộ và tận hưởng vùng nông thôn, nơi mà những vẻ đẹp thiên nhiên tươi mát mới bắt đầu hiện ra trong những chồi non xanh mướt.

Các sự rẽ hướng tại Norbulingka là vô tận. Nó bao gồm một công viên xinh đẹp được bao quanh bởi một bức tường cao. Trong đó có một số tòa nhà cho các nhân viên ở. Ngoài ra còn có một bức tường bên trong, được gọi là Bức Tường Vàng, vượt qua nó không ai ngoài Đức Đạt Lai Lạt Ma, gia đình trực hệ của ngài và một số tu sĩ nhất định được phép vào. Ở phía bên kia của nó có một số tòa nhà khác, bao gồm cả tư dinh của Đạt Lai Lạt Ma được bao quanh bởi một khu vườn được chăm sóc cẩn thận.

Tôi vui vẻ đi dạo hàng giờ trong công viên, đi dạo qua những khu vườn xinh đẹp và ngắm nhìn một số loài động vật và chim sống ở đó. Trong số này, lúc này hay lúc khác, là một đàn hươu xạ đã được thuần hóa; ít nhất sáu con chó ngao Tây Tạng (dogkhyi,) khổng lồ hoạt động như chó bảo vệ; một chú chó phúc cẩu (Pekinese) được gửi từ Kumbum; một vài con dê núi; một con khỉ; một số ít lạc đà được đưa từ Mông Cổ sang; hai con beo và một con cọp rất già và khá buồn (tất nhiên là những con cuối cùng trong chuồng); vài con két; nửa tá chim công; một số chim hạc (sếu); một cặp ngỗng vàng; và khoảng ba mươi con ngỗng Canada rất bất hạnh vì bị cắt bớt cánh khiến chúng không thể bay được: Tôi cảm thấy rất tiếc cho chúng.

Một trong những con két rất thân thiện với Kenrap Tenzin, Sư Phụ Trách Y Áo của tôi. Ông ấy đã từng cho nó ăn các loại hạt. Khi nó nhấm nháp ngón tay, ông thường vuốt đầu nó, lúc đó con chim dường như bước vào trạng thái sung sướng. Tôi rất muốn có sự thân thiện như vậy và đã nhiều lần cố gắng nhận được phản hồi tương tự, nhưng vô ích. Vì vậy, tôi đã lấy một cây gậy để trừng phạt nó. Tất nhiên, sau đó nó đã bỏ chạy trước mắt tôi. Đây là một bài học rất hay về cách kết bạn: không phải bằng vũ lực mà bằng lòng bi mẫn.

Ling Rinpoche cũng có mối quan hệ tốt đẹp tương tự với con khỉ. Nó chỉ thân thiện với ngài. Ngài thường cho nó ăn với thức ăn từ trong túi của mình, bất cứ khi nào con khỉ nhìn thấy ngài, nó sẽ chạy đến và bắt đầu chui vào giữa những nếp gấp của áo choàng ngài.

Tôi đã may mắn hơn một chút khi làm bạn với những con cá sống trong một hồ nước lớn, đầy ắp. Tôi đã từng đứng ở cạnh hồ và gọi chúng. Nếu chúng đáp lại, tôi thưởng cho họ những miếng bánh mì nhỏ và tsampa. Tuy nhiên, chúng có xu hướng không vâng lời và đôi khi sẽ phớt lờ tôi. Nếu điều này xảy ra, tôi rất tức giận và thay vì ném thức ăn cho chúng, tôi sẽ mở một loạt pháo kích với sỏi và đá. Nhưng khi chúng đến, tôi đã rất cẩn thận để xem rằng những con nhỏ có được chia sẻ công bằng không. Nếu cần, tôi sẽ dùng một cây gậy để đẩy những con lớn hơn ra chỗ khác.

Một lần khi đang chơi ở bờ hồ này, tôi bắt gặp một cục gỗ nổi gần mép hồ. Tôi bắt đầu cố gắng đánh chìm nó bằng chiếc gậy đánh cá của mình. Điều tiếp theo tôi biết, tôi đang nằm trên bãi cỏ nhìn thấy những ngôi sao. Tôi đã rơi vào hồ và sắp chết đuối. May mắn thay, một trong những nhân viên quét rác của tôi, một cựu binh từ miền tây Tây Tạng xa xôi, đã để mắt đến tôi và đến giải cứu.

Một điểm hấp dẫn khác của Norbulingka là nó nằm gần một nhánh của sông Kyichu, cách bức tường bên ngoài vài phút đi bộ. Khi còn là một cậu bé, tôi thường ra ngoài ẩn danh khá thường xuyên, đi cùng với một người phục vụ và đi bộ đến mép nước. Lúc đầu, việc làm này không bị chú ý, nhưng cuối cùng Tathag Rinpoche đã dừng nó lại. Thật không may, giao thức liên quan đến Đức Đạt Lai Lạt Ma rất nghiêm ngặt. Tôi buộc phải trốn đi như một con cú. Trên thực tế, sự bảo thủ của xã hội Tây Tạng vào thời điểm đó đến mức việc các bộ trưởng cấp cao của chính phủ bị coi là không đúng đắn thậm chí còn bị coi thường khi ra đường.

Norbulingka, cũng như ở Potala, tôi đã dành rất nhiều thời gian cho những người quét dọn. Ngay cả khi còn rất trẻ, tôi đã không thích hình thức và lễ nghi và rất thích chung đụng với những người phục vụ hơn là các thành viên của Chính phủ. Tôi đặc biệt thích ở cùng với những người phục vụ của cha mẹ, những người mà tôi đã dành rất nhiều thời gian mỗi khi đến nhà gia đình mình. Hầu hết họ đến từ Amdo và tôi rất thích nghe những câu chuyện về ngôi làng của tôi và những người khác gần đó.

Tôi cũng rất thích sự đồng hành của họ khi chúng tôi đi đột kích các kho thực phẩm của cha mẹ tôi. Họ cũng rất vui về tôi trong những dịp này, vì những lý do rõ ràng: đó là một hành động vì lợi ích chung. Thời điểm tốt nhất cho những chuyến đi này là vào cuối mùa thu khi luôn luôn có nguồn cung cấp thịt khô tươi ngon, có được thì chúng tôi chấm với tương ớt. Tôi thích món này đến nỗi, trong một lần, tôi đã ăn quá nhiều và ngay sau đó tôi bị bệnh dữ dội. Khi tôi cúi xuống, cố gắng nôn ói trong đau đớn, Kenrap Tenzin đã bắt gặp tôi và đưa ra một số lời động viên, đại loại như, "Như vậy đấy. Nôn hết ra. Nó tốt cho Ngài." Tôi cảm thấy rất ngu ngốc và không cảm ơn vì sự chú ý của ông ấy.

Mặc dù tôi là Đạt Lai Lạt Ma, nhưng những người phục vụ của cha mẹ tôi đối xử với tôi như họ đối với bất kỳ cậu bé nào khác, thực tế là với tất cả mọi người trừ những dịp trang trọng. Tôi không được đối xử đặc biệt và không ai ngại nói ra suy nghĩ của họ với tôi. Theo đó, ngay từ nhỏ tôi đã học được rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng đối với con người của tôi. Những người quét dọn của tôi cũng nói với tôi một cách thoải mái về bản thân họ và những bất công mà họ phải chịu dưới bàn tay của các quan chức và các lạt ma cấp cao. Họ cũng giữ liên lạc với tôi về tất cả những câu chuyện phiếm trong ngày. Điều này thường ở dạng các bài hát và thi kệ (ballad) mà mọi người đã hát khi họ làm việc. Vì vậy, mặc dù thời thơ ấu của tôi đôi khi khá cô đơn, và mặc dù ở tuổi khoảng mười hai, Tathag Rinpoche đã cấm tôi không được về nhà cha mẹ nữa, nhưng cuộc đời ban đầu của tôi tối thiểu không giống như của Thái tử Siddhartha hay của Phổ Nghi (Pu Yi), Hoàng đế cuối cùng của Mãn Thanh. Ngoài ra, khi lớn lên, tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người thú vị.

Có khoảng mười người châu Âu sống ở Lhasa trong suốt thời thơ ấu của tôi. Tôi không gặp nhiều người trong số họ và phải đến khi Lobsang Samten đưa Heinrich Harrer đến với tôi, tôi mới có cơ hội làm quen với một người inji, như người phương Tây được biết đến bằng tiếng Tây Tạng.

Trong số những người cư trú ở thủ đô khi tôi lớn lên có Sir Basil Gould, người đứng đầu Phái đoàn Thương mại Anh, và người kế nhiệm của ông, Hugh Richardson, người đã viết một số cuốn sách về Tây Tạng và tôi đã có một số cuộc thảo luận hữu ích kể từ khi lưu vong. Và ngoài Reginald Fox, còn có một nhân viên y tế người Anh, tôi không thể nhớ tên. Tuy nhiên, tôi sẽ không bao giờ quên một lần khi ông được triệu tập đến Norbulingka để chữa trị cho một trong những con công có u nang dưới mắt. Tôi đã quan sát ông rất kỹ và ngạc nhiên lắng nghe khi ông ấy nói với nó bằng giọng trấn an bằng cả phương ngữ Lhasa và tiếng Tây Tạng kính ngữ (hầu như là hai ngôn ngữ riêng biệt). Tôi ngạc nhiên vì một điều gì đó rất phi thường khi người đàn ông lạ mặt này gọi con chim là "Con công đáng kính"!

Heinrich Harrer hóa ra là một người hấp dẫn với mái tóc vàng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Tôi đặt biệt danh cho ông là Gopse, có nghĩa là "đầu vàng.” Là một người Áo, ông từng bị giam giữ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, là tù nhân của người Anh ở Ấn Độ. Nhưng bằng cách nào đó ông đã trốn thoát được cùng với một người bạn tù tên là Peter Aufschnaiter. Họ cùng nhau lên đường đến Lhasa. Đây là một thành tựu tuyệt vời, vì Tây Tạng đã chính thức cấm tất cả người nước ngoài, ngoại trừ một số ít người có số phận đặc biệt. Họ mất khoảng năm năm sống như những người du mục trước khi đến được thủ đô. Khi đến nơi, mọi người thán phục về sự dũng cảm và kiên trì của họ nên Chính phủ đã cho phép họ ở lại. Đương nhiên, tôi là một trong những người đầu tiên nghe tin họ đến và tôi khá tò mò muốn xem họ như thế nào, đặc biệt là Harrer, vì ông ấy nhanh chóng nổi tiếng là một người thú vị và hòa đồng.

Ông nói tiếng Tây Tạng thông tục xuất sắc và có khiếu tiếu lâm tuyệt vời, mặc dù ông cũng đầy tôn trọng và lịch sự. Khi tôi bắt đầu hiểu ông hơn, ông bỏ đi hình thức và trở nên rất thẳng thắn, ngoại trừ khi các quan chức của tôi có mặt. Tôi đánh giá rất cao phẩm chất này. Tôi nghĩ chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1948, và trong một năm rưỡi tiếp theo trước khi ông ấy rời Tây Tạng, tôi đã gặp ông thường xuyên, thường là một lần một tuần. Từ ông, tôi có thể học được điều gì đó về thế giới bên ngoài, đặc biệt là về Châu Âu và cuộc chiến gần đây. Ông cũng giúp tôi về tiếng Anh mà tôi đã bắt đầu học gần đây với một trong những quan chức của mình. Tôi đã biết bảng chữ cái, mà tôi đã dịch sang ngữ âm tiếng Tây Tạng, và rất muốn tìm hiểu thêm. Harrer cũng đã hỗ trợ tôi trong một số cách thực tế.

Ví dụ, ông đã giúp tôi với máy phát điện được tặng cho tôi cùng với máy chiếu phim. Hóa ra nó đã rất cũ và ốm yếu. Tôi thường tự hỏi liệu các quan chức Anh có phải đã giữ chiếc máy phát điện dành cho tôi sử dụng và chuyển chiếc máy cũ của họ cho tôi hay không!

Một nhiệt tình lớn khác của tôi vào thời điểm này là dành cho ba chiếc xe hơi mà Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba đã nhập cảng vào Tây Tạng. Mặc dù không có những con đường thích hợp, nhưng ngài đã thỉnh thoảng sử dụng chúng để đi lại trong và xung quanh Lhasa cho đến khi ngài qua đời. Sau đó chúng không được sử dụng và rơi vào tình trạng hư hỏng. Bây giờ chúng đang đứng trong một tòa nhà ở Norbulingka. Một trong số đó là một chiếc American Dodge; hai chiếc khác đều là Baby Austins. Tất cả đều là đồ cổ điển cuối những năm 1920. Ngoài ra còn có một chiếc xe jeep Willys, được mua lại bởi Phái đoàn Thương mại Tây Tạng đã đến Mỹ vào năm 1948, nhưng nó hiếm khi được sử dụng.

Cũng như đối với máy chiếu phim, phải mất một thời gian tôi mới tìm ra được người nào đó biết về xe  hơi. Nhưng tôi đã quyết định rằng chúng nên được đưa vào hoạt động trở lại. Cuối cùng, một người lái xe, Tashi Tsering, đã được tìm thấy, một người đàn ông có tính khí rất nóng nảy, người gốc Kalimpong, ngay phía nam biên giới với Ấn Độ. Giữa chúng tôi làm việc với những chiếc xe và cuối cùng, bằng cách lấy đi các bộ phận của một trong những chiếc Austins, và chúng tôi đã đưa những chiếc còn lại tiếp tục hoạt động. Cả Dodgejeep đều ở trong tình trạng tốt hơn và chúng đã chạy với một chút sửa chữa nhỏ.

Tất nhiên, một khi chúng tôi có những chiếc xe hoạt động, tôi không được phép đi bất cứ nơi nào gần chúng. Nhưng điều này trở nên quá sức đối với tôi và một ngày nọ, khi tôi biết rằng tài xế của mình đi vắng, tôi quyết định đưa một chiếc xe trong số chúng ra ngoài để lái xe. Cả Dodgejeep đều yêu cầu chìa khóa để khởi động và những thứ này thuộc quyền sở hữu của người lái xe của tôi. Tuy nhiên, Baby Austin có hệ thống đánh lửa từ tính và có thể khởi động bằng cách xoay một tay quay.

Rất thận trọng, tôi quay xe ra khỏi nhà xe và tiếp tục chạy một vòng quanh khu vườn. Thật không may, công viên Norbulingka đầy cây cối và không lâu lắm tôi đã va chạm với một trong số chúng.

Tôi kinh hoàng khi thấy kính của một trong những chiếc đèn pha đã bị đập bể. Trừ khi tôi có thể sửa chữa nó trước ngày hôm sau, bằng không chuyến đi niềm vui của tôi sẽ bị tài xế phát hiện và tôi sẽ gặp rắc rối

Tôi cố gắng có lại chiếc xe mà không bị hư hại thêm và ngay lập tức bắt đầu cố gắng sửa chữa kính bị vỡ. Trước sự thất vọng của tôi, khi tôi phát hiện ra rằng đó không phải là thủy tinh thông thường, mà đã được nhuộm màu. Vì vậy, mặc dù tôi đã cố gắng tìm được một món đồ mà tôi có thể làm đủ đẹp thích hợp, nhưng sau đó tôi phải đối mặt với vấn đề làm sao để nó phù hợp với bản gốc. Điều này cuối cùng tôi đã thành công bằng cách bôi nó với xi-rô đường. Cuối cùng thì tôi cũng hài lòng với công việc thủ công của mình. Nhưng ngay cả như vậy, tôi cảm thấy vô cùng tội lỗi khi lần sau nhìn thấy người tài xế của mình. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng ông ấy phải biết, hoặc ít nhất là ông sẽ phát hiện ra chuyện gì đã xảy ra. Nhưng ông không bao giờ nói một lời. Tôi sẽ không bao giờ quên Tashi Tsering. ông ấy vẫn còn sống và hiện đang sống ở Ấn Độ, và mặc dù tôi hiếm khi gặp ông, nhưng tôi vẫn coi ông ấy như một người bạn tốt.

Lịch Tây Tạng khá phức tạp. Nó được dựa trên tháng âm lịch. Ngoài ra, thay vì mỗi thế kỷ một trăm năm, chúng tôi tuân theo một chu kỳ sáu mươi năm, mỗi chu kỳ được gán cho một trong năm nguyên tố, có thứ tự là đất, không khí, lửa, nước và sắt; và một trong mười hai con vật: chuột, bò, cọp, thỏ rừng, rồng, rắn, ngựa, cừu, khỉ, chim, chó và lợn, lại theo thứ tự. Mỗi yếu tố đến hai lần, đầu tiên là nam và sau đó là nữ. Do đó, chúng kết thúc với năm thứ mười. Sau đó, phần tử đầu tiên được nối với các con vật thứ mười một và mười hai, phần tử thứ hai đến con vật thứ mười ba và mười bốn, v.v. Ví dụ, theo lịch Tây Tạng, năm 2.000 sau Công nguyên sẽ là năm Rồng Sắt.

Trong suốt nhiều thế kỷ trước khi Tây Tạng bị Tàu Cộng xâm lược, các mùa được đánh dấu bằng nhiều ngày lễ hội. Nói chung những điều này có ý nghĩa tôn giáo, nhưng chúng được tổ chức bởi các tu sĩ và tín đồ như nhau. Đối với phần sau, thời gian được dành cho việc ăn, uống, ca hát, nhảy múa và trò chơi, kết hợp với cầu nguyện không liên tục.

Một trong những sự kiện quan trọng nhất trong số những sự kiện này là lễ mừng năm mới, hay Losar, diễn ra vào tháng Hai hoặc tháng Ba theo Tây lịch. Đối với tôi, ý nghĩa đặc biệt của nó là cuộc họp công khai thường niên của tôi với Nechung (Nãi Quỳnh Hộ Pháp), nhà tiên tri của quốc gia. Tôi sẽ thảo luận vấn đề này trong chương sau, nhưng về cơ bản điều này đã cho tôi và Chính phủ cơ hội tham khảo ý kiến, thông qua một phương tiện, hoặc kuteny với Dorje Drakden, vị thần bảo hộ của Tây Tạng, về năm tới.

Có một lễ hội mà tôi có rất nhiều cảm xúc lẫn lộn. Đây là Monlam, Đại lễ cầu nguyện, diễn ra ngay sau Losar - lý do là với tư cách là Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi đã tham gia vào buổi lễ quan trọng nhất đó, ngay cả khi còn rất trẻ. Một điều tồi tệ khác của Monlam là việc tôi luôn phải chịu đựng một cơn cúm nặng, giống như tôi ngày nay mỗi khi tôi đến Bodh Gaya ở Ấn Độ, do khói bụi. Đó là bởi vì tôi đã sống trong những căn phòng ở chùa Jokhang, chúng còn không ai chú ý hơn cả căn phòng của tôi ở Potala.

Buổi lễ, hay lễ puja, mà tôi rất sợ diễn ra vào buổi chiều, vào cuối hai tuần đầu tiên dành cho Monlam. Nó theo sau một bài diễn văn dài về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca do Nhiếp Chính Vương thuyết trình. Bản thân lễ puja kéo dài hơn bốn giờ, sau đó tôi phải đọc lại từ trí nhớ một đoạn kinh dài và khó. Tôi đã rất lo lắng đến nỗi tôi không nhận ra một lời nào về những gì đã xảy ra trước đó. Giáo Thọ Sư Cấp Cao của tôi, Nhiếp chính vương, Giáo thọ sư phụ tá của tôi và các vị sư phụ trách về Nghi lễ, Áo choàng và Nhà bếp đều lo lắng như nhau. Lo lắng chính của họ là bởi vì tôi ngồi trên bảo tọa suốt buổi lễ, không ai có thể dễ dàng nhắc nhở tôi nếu tôi gặp khó khăn.

Nhưng nhớ lời xướng đọc của tôi chỉ là một nửa vấn đề. Bởi vì tiến trình diễn ra quá lâu, nên tôi có thêm một nỗi sợ hãi: tôi sợ rằng bàng quang của tôi có thể không cầm được. Cuối cùng thì mọi thứ cũng diễn ra tốt đẹp, ngay cả lần đầu tiên khi tôi còn quá trẻ. Nhưng tôi nhớ mình đã mơ màng vì sợ hãi. Nó làm mờ các giác quan của tôi đến mức tôi không còn nhận thấy những gì đang diễn ra xung quanh mình. Tôi không còn nhận thức được ngay cả những con chim bồ câu bay xung quanh bên trong tòa nhà, ăn trộm từ các đĩa cúng dường. Tôi chỉ chú ý đến chúng một lần nữa khi tôi đã hoàn thành một nửa phần diễn đọc của mình.

Khi nó kết thúc, tôi hạnh phúc tột độ. Toàn bộ công việc dễ sợ không chỉ kết thúc trong mười hai tháng nữa, mà giờ đây còn tiếp nối một trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong năm của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau buổi lễ, tôi được phép ra ngoài đi dạo quanh các con phố để có thể nhìn thấy thorma, những tác phẩm điêu khắc bằng bơ khổng lồ, có màu sắc sặc sỡ theo truyền thống được dâng lên các vị Phật vào ngày này. Ngoài ra còn có các buổi biểu diễn múa rối và âm nhạc do các ban nhạc quân đội biểu diễn và bầu không khí vô cùng hạnh phúc của người dân.

Ngôi đền Jokhang là ngôi đền linh thiêng nhất ở Tây Tạng. Nó được xây dựng dưới thời trị vì của Vua Songtsen Gampo vào thế kỷ thứ bảy sau Công nguyên. để đặt một bức tượng do một trong những người vợ của ông, Bhrikuti Devi, con gái của Quốc vương Nepal Anshuriaruam, mang đến. (Songtsen Gampo có bốn người vợ khác, ba người Tây Tạng và một người Trung Hoa, Công chúa Weng-chen Kongjo, con gái của Hoàng đế thứ hai của triều đại nhà Đường.) Qua nhiều thế kỷ, ngôi đền đã được mở rộng và tôn tạo đáng kinh ngạc. Một đặc điểm nổi bật của Jokhang là tấm bia bằng đá vẫn còn sừng sững ở lối vào, chứng nhân cho sức mạnh lịch sử của Tây Tạng. Dòng chữ của nó, được khắc bằng cả tiếng Tây Tạng và Trung Quốc, ghi lại hiệp ước vĩnh viễn được ký kết bởi Tây Tạng và Trung Quốc vào năm 821-2 sau Công Nguyên:

Đức vua vĩ đại của Tây Tạng, Chúa tể Thần kỳ và Đại vương của Trung Hoa, Hoàng Đế người cai trị Trung Quốc, trong mối quan hệ của cháu trai và chú, đã cùng nhau quy ước cho liên minh các vương quốc của họ. Họ đã thực hiện và phê chuẩn một thỏa thuận tuyệt vời. Thần linh và loài người đều biết điều đó và làm chứng để điều đó không bao giờ bị thay đổi; và một khoản của thỏa thuận đã được khắc trên cột đá này để thông báo cho các thời đại và thế hệ tương lai.

Vị Chủ Tể Thần Thánh Trisong Dretsen và Hoàng Đế Trung Hoa Văn Võ (Wen-Wu), người cháu và người chú hiếu thảo và nhân đức, tìm kiếm sự thông thái sâu rộng của mình để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây tổn hại đến phúc lợi của đất nước họ bây giờ hoặc trong tương lai, đã mở rộng lòng nhân từ của họ một cách vô tư trên tất cả. Với mong muốn duy nhất là hành động vì hòa bình và lợi ích của tất cả các đối tượng của họ, họ đã đồng ý với mục đích cao là đảm bảo tốt đẹp lâu dài; và họ đã thực hiện hiệp ước lớn này để thực hiện quyết định khôi phục tình bạn cổ xưa và sự tôn trọng lẫn nhau cũng như mối quan hệ láng giềng thân thiện cũ.

Tây Tạng và Trung Quốc sẽ tuân theo các biên giới mà họ đang chiếm giữ. Tất cả về phía đông là đất nước Trung Hoa vĩ đại; và tất cả về phía tây, không cần bàn cãi, là đất nước Tây Tạng vĩ đại. Do đó, không bên nào được tiến hành chiến tranh hay chiếm đoạt lãnh thổ. Nếu bất kỳ người nào làm phát sinh nghi ngờ, người đó sẽ bị bắt; công việc của người ấy sẽ được thẩm tra và người ấy sẽ được hộ tống trở lại.

Bây giờ hai vương quốc đã được liên minh bởi hiệp ước lớn này, điều cần thiết là các sứ giả phải được gửi một lần nữa theo con đường cũ để duy trì liên lạc và thực hiện trao đổi thông tin thân thiện liên quan đến mối quan hệ hài hòa giữa cháu trai và chú. Theo phong tục cũ, ngựa sẽ được đổi dưới chân đèo Chiang Chun, biên giới giữa Tây Tạng và Trung Hoa. Tại hàng rào Sui-yung, người Trung Hoa sẽ gặp các sứ thần Tây Tạng và cung cấp cho họ tất cả các phương tiện từ đó trở đi. Tại Ch’ing-Shui, người Tây Tạng sẽ gặp các sứ thần Trung Hoa và cung cấp mọi phương tiện. Ở cả hai bên, họ sẽ được đối xử với danh dự và sự tôn trọng theo phong tục, phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa cháu và chú.

Giữa hai nước không được nhìn thấy khói và bụi. Sẽ không có báo động đột ngột và từ ngữ "kẻ thù" sẽ không được nói ra. Ngay cả những người bảo vệ biên cương cũng không lo lắng hay sợ hãi và sẽ thoải mái tận hưởng đất đai và đời sống sung túc của họ. Tất cả sẽ được sống trong hòa bình và chia sẻ phúc lành cho muôn năm. Danh tiếng của điều này sẽ lan rộng đến tất cả những nơi mà mặt trời và mặt trăng vươn tới.|

Thỏa thuận long trọng này đã thiết lập một kỷ nguyên lớn khi người Tây Tạng sẽ hạnh phúc trên đất Tây Tạng, và người Trung Hoa trên đất Trung Hoa.Để nó có thể không bao giờ thay đổi, Tam Bảo, Hải Hội Thánh Hiền, Mặt Trời và Mặt Trăng, Các Hành Tinh và Các Vì Sao đã được thỉnh cầu làm nhân chứng. Một lời thề đã được thực hiện với những lời trang trọng và với sự hy sinh của động vật; và thỏa thuận đã được phê chuẩn

Nếu các bên không hành động theo thỏa thuận này hoặc nếu họ vi phạm, cho dù đó là Tây Tạng hay Trung Hoa, thì bất cứ điều gì mà bên kia có thể làm bằng cách trả đũa sẽ bị coi là vi phạm hiệp ước về phía họ.

Các vị Vua và Bộ trưởng của Tây Tạng và Trung Hoa đã tuyên thệ trước về hiệu lực này và thỏa thuận đã được viết chi tiết. Hai vị Vua đã đóng ấn. Các Bộ trưởng được trao quyền đặc biệt để thực hiện thỏa thuận đã ghi chữ ký của họ và các bản sao đã được lưu vào hồ sơ hoàng gia của mỗi bên.

Phòng của tôi ở Jokhang nằm trên tầng hai, tức là trên mái bằng của ngôi chùa. Từ đây, tôi không chỉ có thể nhìn xuống phần chính của tòa nhà mà còn có thể nhìn xuống khu chợ bên dưới. Cửa sổ nhìn về hướng Nam cho tôi tầm nhìn ra gian phòng chính, nơi tôi có thể thấy các nhà sư tụng kinh suốt cả ngày. Những nhà sư này luôn cư xử rất tốt và siêng năng trong văn phòng của họ.

Tuy nhiên, tầm nhìn từ cửa sổ phía Đông rất khác. Điều này giúp tôi có thể nhìn xuống một sân trong nơi mà các tu sĩ tập sự, giống như tôi, đang tụ tập. Tôi đã từng chứng kiến kinh ngạc khi họ trốn học và đôi khi đánh nhau. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi thường leo xuống cầu thang để có thể nhìn thấy họ tốt hơn. Tôi không thể tin được những gì tôi đã thấy và đã nghe. Ngay từ đầu, họ đã không tụng kinh như người ta vẫn tưởng. Họ ca hát bài tụng - ít nhất là nếu họ không muốn mở miệng. Rất nhiều người trong số họ dường như không bao giờ làm như vậy và thay vào đó dành toàn bộ thời gian để chơi đùa. Cứ thế thường xuyên xảy ra xô xát. Sau đó, họ sẽ lấy bát gỗ của mình ra và đập vào đầu nhau. Cảnh tượng này đã gây ra một phản ứng tò mò trong tôi. Một mặt, tôi tự nhủ rằng những tu sĩ này vô cùng ngu ngốc. Nhưng mặt khác, tôi không thể không ghen tị với họ. Họ dường như không được chăm sóc trên đời này. Nhưng khi cuộc chiến của họ trở nên bạo lực, tôi sợ hãi và bỏ đi.

Về phía Tây, tôi có thể nhìn ra khu chợ. Đây dễ dàng là góc nhìn yêu thích của tôi, nhưng tôi phải theo dõi hơn là nhìn trực tiếp vì đề phòng có ai nhìn thấy tôi. Nếu như vậy, tất cả mọi người sẽ chạy đến để lễ lạy. Tôi chỉ có thể nhìn qua rèm cửa, cảm thấy mình giống như một tên tội phạm. Tôi nhớ rằng lần đầu tiên hoặc lần thứ hai tôi ở lại Jokhang, lúc bảy hoặc tám tuổi, tôi đã tự làm xấu bản thân mình một cách thậm tệ. Cảnh tượng của tất cả những người dưới đó đối với tôi quá nhiều. Tôi mạnh dạn thò đầu qua rèm. Nhưng, như thể điều này vẫn chưa đủ tệ, tôi nhớ đã thổi bong bóng nước bọt rơi trúng đầu một số người khi họ ném mình xuống mặt đất phía xa bên dưới! Sau đó, tôi vui mừng nói rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi đã học được một số kỷ luật tự giác.

Tôi thích nhìn trộm các quầy hàng trong chợ và nhớ có lần tôi nhìn thấy một mô hình súng nhỏ bằng gỗ. Tôi đã cử người đi ra ngoài và mua nó cho tôi. Tôi đã trả tiền cho nó từ một số tiền cúng dường do những người hành hương dâng đến, mà đôi khi tôi dùng để tự giúp mình, vì tôi không được phép chính thức sử dụng tiền. Trong thực tế, ngay cả cho đến ngày nay, tôi không có giao dịch trực tiếp với nó. Tất cả thu nhập và chi tiêu của tôi đều do Văn Phòng Riêng của tôi xử lý.

Một trong những niềm vui khác khi ở tại Jokhang là cơ hội kết bạn mới giữa những người quét dọn ở đó. Như thường lệ, tất cả thời gian rảnh rỗi của tôi đều dành cho họ và tôi nghĩ rằng họ cũng rất tiếc khi tôi rời đi. Tuy nhiên, tôi nhớ một năm khi những người mà tôi đã kết bạn thân thiết như vậy trong lễ hội trước đó hóa ra không còn ở đó nữa. Tôi tự hỏi tại sao, vì tôi rất mong được gặp lại tất cả họ. Tôi yêu cầu được biết những gì đã xảy ra từ một người duy nhất còn lại. Ông ta nói với tôi rằng mười người khác đều đã bị sa thải vì tội trộm cắp. Sau khi tôi đi khỏi lần trước, họ tự vào căn phòng của tôi bằng cách trèo xuống cửa sổ trần trên trần nhà và lấy đi nhiều vật dụng khác nhau - đèn bơ vàng và những thứ tương tự. Rất nhiều thứ với những người chung sống mà tôi đã giữ riêng cho tôi!

Ngày cuối cùng của lễ hội Monlam được dành cho các hoạt động ngoài trời. Đầu tiên, một bức tượng lớn của Di Lặc, Đức Phật sẽ dẫn đầu một đoàn rước vòng quanh thành phố cổ. Tuyến đường này được gọi là Linjjkhor. Tôi nghe nói rằng nó không còn tồn tại vì sự phát triển thủ đô của Tàu Cộng, cảm ơn thay!, nhưng Barkhor hoặc vành đai bên trong chạy xung quanh bên ngoài Jokhang, vẫn còn. Trong thời gian trước đây, những người hành hương mộ đạo sẽ phủ phục thân mình dọc theo suốt chiều dài của Lingkhor như một bổn phận sùng kính.

Ngay sau khi bức tượng hoàn thành vòng quay của nó, sẽ có một sự náo động chung khi mọi người chuyển sự chú ý của họ sang các hoạt động thể thao. Đây là những niềm vui lớn và liên quan đến cả cuộc đua ngựa và cuộc đua chạy cho các thành viên của công chúng. Việc trước khá bất thường ở chỗ những con vật không có người cưỡi. Chúng được thả ra ngoài tu viện Drepung và được hướng dẫn về trung tâm Lhasa bởi các người nài và khán giả của chúng. Ngay trước khi ngựa đến, các vận động viên sẽ tham gia cuộc chạy đua cũng sẽ khởi hành trên một quãng đường ngắn hơn, cũng về phía trung tâm thành phố. Điều này có xu hướng dẫn đến sự nhầm lẫn thú vị vì cả hai đến cùng một lúc. Tuy nhiên, vào một năm nọ, đã có một sự cố đáng tiếc xảy ra khi một số người tham gia cuộc thi là con người nắm lấy đuôi của những con ngựa đang đi ngang qua để được kéo đi. Ngay sau khi cuộc đua kết thúc, Cung Vụ Đại Nhân đã buộc tội những người mà ông cho là có liên quan. Hầu hết họ đều là thành viên trong gia đình tôi. Tôi rất lấy làm tiếc khi biết tin họ có khả năng bị trừng phạt. Cuối cùng, tôi đã có thể can thiệp một lần thay mặt họ.

Một số khía cạnh của lễ hội Monlam đã ảnh hưởng mật thiết đến toàn bộ dân cư của Lhasa. Bởi vì, theo truyền thống cổ xưa, chính quyền dân sự của thành phố đã được trao cho trụ trì của tu viện Drepung. Sau đó, ông đã bổ nhiệm, trong số các nhà sư của mình, một nhân viên và cảnh sát để duy trì luật pháp và trật tự. Điều này đã được áp dụng nghiêm ngặt và bất kỳ tội nhẹ nào đều bị phạt với mức tiền khá nặng. Một trong những điều luôn được vị trụ trì chú trọng đó là vệ sinh sạch sẽ. Do đó, đây là thời điểm trong năm mọi tòa nhà đều được quét vôi mới và đường phố được quét dọn sạch sẽ.

Một điều quan trọng về Tết đối với tôi khi còn nhỏ là truyền thống nướng bánh khabse hoặc bánh quy losar. Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp lễ hội, ông chủ bếp của tôi lại làm những mẻ bánh ngọt thơm ngon, được tạo hình lộng lẫy và chiên giòn. Một năm, tôi quyết định thử tự mình làm bánh. Mọi thứ diễn ra tốt đẹp và tôi khá ấn tượng về công việc thủ công của mình, vì vậy tôi đã nói với vị chủ bếp rằng tôi sẽ quay lại làm thêm vào ngày hôm sau.

Điều này tôi đã làm, nhưng không may là dầu được đưa ra để sử dụng lần thứ hai là dầu mới và chưa được đun sôi đúng cách. Kết quả là, khi tôi thả hỗn hợp của mình vào chảo, nó đã phun trào như một ngọn núi lửa. Cánh tay phải của tôi dính đầy dầu sôi, gây phồng rộp ngay lập tức. Tuy nhiên, ký ức chính của tôi về sự kiện này là về một trong những người đầu bếp, một người đàn ông lớn tuổi dùng rất nhiều thuốc lá bột và không dễ bị kích động, chạy tới với thứ gì đó trông giống như kem đánh bông mà ông ấy bắt đầu thoa lên cánh tay của tôi. Bình thường ông là một người rất vui tính, nhưng dịp này ông lại vô cùng luống cuống. Tôi nhớ mình đã nghĩ ông ấy trông tiếu lâm như thế nào với những hạt thuốc và những giọt nước mũi chảy ra từ mũi, và một biểu hiện rất nghiêm túc trên khuôn mặt đầy vết rỗ của ông ấy.

Trong tất cả các lễ hội, lễ hội mà tôi thích thú nhất là lễ hội opera kéo dài một tuần, bắt đầu vào ngày đầu tiên của tháng thứ bảy hàng năm. Chương trình này có sự tham gia của các đoàn vũ công, ca sĩ và diễn viên từ khắp Tây Tạng. Họ đã biểu diễn trên một khu vực lát đá nằm ở phía xa, nhưng liền kề với Bức Tường Màu Vàng. Bản thân tôi đã xem quá trình trình diễn từ một khu nhà tạm được dựng lên trên đỉnh của một trong những tòa nhà tiếp giáp với bức tường ở bên trong. Trong số những khán giả khác là tất cả các thành viên của Chính phủ, và phu nhân của họ - những người đã sử dụng dịp này như một cái cớ để cạnh tranh với nhau về đồ trang sức và y phục. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này không chỉ giới hạn ở các quý cô. Vì đây cũng là khoảng thời gian yêu thích của các những người quét dọn tại Norbulingka. Trong những ngày trước lễ hội, họ đã dành nhiều thời gian và sức lực để đi mượn và thuê quần áo và đồ trang trí, tốt nhất là san hô, để diễn hành. Khoảnh khắc của họ đến khi họ vận chuyển những chiếc lục bình chứa những bông hoa được đánh giá trong một cuộc thi làm vườn được tổ chức trong lễ hội.

Tôi sẽ không bao giờ quên một trong những nhân viên quét dọn của tôi, người luôn xuất hiện với một chiếc mũ đặc biệt, mà ông ấy vô cùng tự hào. Nó có một tua dài bằng lụa đỏ được ông sắp xếp một cách nghệ thuật quanh cổ và qua vai.

Công chúng cũng đến xem sân khấu biểu diễn, mặc dù họ không được bố trí chỗ ngồi đặc biệt không giống như các quan chức chính phủ và tầng lớp quý tộc. Cũng như đến để xem các buổi biểu diễn, họ đến để ngạc nhiên trước các quan chức cấp cao trong các nghi lễ của họ. Họ cũng thường tận dụng cơ hội đi vòng quanh, tay cầm kinh luân, nhiễu quanh của Bức Tường Màu Vàng. (Bánh xe cầu nguyện bao gồm một hình trụ, chứa những lời cầu nguyện, được quay trong khi một người đọc các câu mật ngôn.)

Nhiều người khác ngoài Lhasa cũng đến: những người Khampa cao lớn, lém lỉnh từ phía Đông, mái tóc dài được bện lộng lẫy với những chiếc tua màu đỏ; Thương nhân người NepalSikkim từ phía Nam; và dĩ nhiên là có những dáng người nhỏ bé, gầy gò của những người nông dân du mục. Mọi người tự cho mình có được niềm vui - điều mà người Tây Tạng tự nhiên rất giỏi. Phần lớn chúng tôi là những người khá đơn giản, những người không thích gì tốt hơn một buổi biểu diễn hay và một bữa tiệc tốt. Ngay cả một số thành viên của cộng đồng tu viện cũng tham gia, mặc dù bất hợp pháp và do đó là che dấu.

Đó là một khoảng thời gian hạnh phúc! Mọi người ngồi nói chuyện trong suốt buổi biểu diễn, họ đã quen thuộc với những bài hát và điệu nhảy đến nỗi họ thuộc lòng từng sự việc. Hầu như tất cả mọi người đều mang theo một bữa ăn ngoài trời và trà và chang và họ sẽ đến và đi tùy thích. Những phụ nữ trẻ cho trẻ bú sữa mẹ. Những đứa trẻ chạy tới chạy lui - la hét và cười - chỉ dừng lại vài giây để trố mắt nhìn khi một nghệ sĩ mới biểu diễn, khoác trên mình bộ trang phục đầy màu sắc và cuồng nhiệt, bước vào lối vào. Lúc này, vẻ mặt của những ông già ngồi một mình và khuôn mặt như đá sẽ sáng lên và trong giây lát các bà già sẽ ngừng huyên thuyên. Sau đó mọi thứ sẽ tiếp tục như trước. Và trong suốt thời gian đó, mặt trời vẫn đều đặn lặn xuống qua bầu không khí núi rừng mỏng manh, hào hứng.

Lần duy nhất bạn có thể chắc chắn về sự chú ý hoàn toàn của mọi người là khi các tác phẩm châm biếm được thực hiện. Sau đó, các diễn viên xuất hiện trong trang phục như các tu sĩ và ni cô, các quan chức cấp cao và thậm chí là những vị tiên tri nhà nước biểu dương các nhân vật của công chúng. /.

***

Trích từ quyển Trích từ quyển Freedom In Exile
Ẩn Tâm Lộ, Saturday, November 27, 2021



[1] Vị quan chức cai quản Cung điện

[2]Meccano: hệ thống xây dựng mô hình

[3] Wit là một dạng hài hước thông minh, khả năng nói hoặc viết những điều thông minh và thường hài hước.

[4] Moshe Dayan, là nhà chính trị và tướng lĩnh quân đội của Israel. Trong thời gian làm Tổng tư lệnh Các lực lượng Phòng vệ Israel từ năm 1953 đến năm 1958, Moshe Dayan, tướng độc nhãn là biểu tượng của sức mạnh chiến đấu của dân Do Thái. Sau đó ông làm bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao của Israel.

Thi Kệ Kim Cang Về Trạng Thái Bản Nhiên

 

 



Nguyên bản: Vajra Verses on the Natural State
Tác Giả: Rigdzin Jigme Lingpa
Anh dịch: Adam Pearcey, 2015
Việt dịch: Quảng Cơ/ Tuệ Uyển hiệu đính /Wednesday, November 24, 2021

***

Đảnh lễ Phổ Hiền vinh hiển!
Trạng thái tự nhiên của mặt đất không phức tạp,
Và những sự xuất hiện trên mặt đất là pháp thân nền tảng.
Con đường luôn thoát khỏi mọi nỗ lực, ngay từ đầu.
Khi tự thân bản chất này được nhận ra, nó là nguồn gốc tuyệt vời của tự do.
Quả không phải là một cái gì đó riêng biệt và tách rời.
Khi tự thân kết quả hiện diện dưới dạng nguyên nhân,
An trú hoàn toàn là tĩnh tại (śamatha).
Bất kỳ sự gia tăng đột ngột nào cũng là sự rạng rỡ của chính sự tỉnh giác thuần khiết,
Và sự tỉnh giác sống động là tuệ sáng suốt (vipaśyanā).
Trực tiếp, khi mờ dần, có kinh nghiệm nguyên sơ.
Còn lại thật sự là Pháp thân,
Đồng hành với tỉnh giác là Báo thân,
Và tính bất nhị của sự tĩnh lặng và chuyển động là Hóa thân.
Đây là những gì chúng ta gọi là "ba thân tỉnh giác thuần khiết."
Trong khi vẫn thoải mái, không có gì bám víu vào kinh nghiệm.
Những chuyển động sống động của tâm trí được giải thoát, không thể phân biệt được.
Được tự do trong sự rõ ràng sống động, không có trạng thái tâm trí sau thiền định.
Đây là những gì chúng ta gọi là “ba thân hiện diện một cách tự nhiên.”
Không có bất kỳ cái nhìn chủ ý nào, nó nằm ngoài sự hôn trầm và kích động.
Nếu không có chủ ý thiền định, nó đang đi vào 'thai tạng' ban đầu.
Không có hành vi cố ý, nó thoát khỏi mọi quan niệm hoặc ý tưởng cứng nhắc.
Một người đã thành thạo điều này là một "thủ tọa trong số các thiền sinh."
Nếu bạn nhận thức được một ý nghĩ khi nó đột nhiên xuất hiện,
Và có thể duy trì tính liên tục của sự tri giác,
Đó là tuệ giác (vipaśyanā) đã đi lệch hướng về đặc tính.
Nó cũng có thể được gọi là “sau thiền định”.
Nhưng nó không phải là sự giải thoát của những tư tưởng như là pháp thân,
Và chúng ta phải cắt trực tiếp đến nguồn.
Sự tỉnh giác thuần khiết (Rigpa) luôn luôn thoát khỏi sự tạo tác của nhận thức.
Các quy ước như 'xem', 'thiền' hoặc 'hành vi' và
Mọi sự bám víu vào chúng đều được giải tỏa, không có cơ sở hay nguồn gốc.
Suy nghĩ tốt, suy nghĩ xấu và những suy nghĩ ở giữa,
Không sa vào bất kỳ phân loại nào như vậy,
Được tự do khi phát sinh, không có bất kỳ tác nhân nào để phân biệt.
Miễn là nhận thức không đánh mất nền tảng của chính nó,
Không cần bất cứ điều gì hơn thế này.
Ngay cả khi bạn gặp một trăm nhà sư uyên bác, một nghìn thành tựu giả,
Mười nghìn dịch giả và học giả (pandit), một trăm nghìn sự hướng dẫn,
Hoặc một tỷ luận thuyết, vẫn không có lời kêu gọi nào để làm sáng tỏ sự không chắc chắn hoặc nghi ngờ.
Samaya. Hãy để các dấu hiệu được hòa tan hấp thụ.
Đối với người con trai duy nhất của tôi, Khyentse Özer, điều này đã được Đức Phổ Hiền ban cho sự tỉnh giác theo cách thức trao truyền các phước lành và sự chứng ngộ. Đừng tỏ ra cùng ai mà hãy giấu kín trong lòng.
Vì vậy, trong hang động Akaniṣṭha vào ngày thứ hai mươi sáu của Tháng Phép lạ, vào thời điểm mà các ḍākinī tập trung trong cuộc nhập thất tăm tối của tôi, tôi đã đặt nó xuống một mặt giấy quý.
Sự truyền khẩu âm thanh sâu sắc này được niêm phong bằng atham.
Chỉ điều này! Chỉ điều này!
Nội dung được trình bày chi tiết trong Lời của Đấng Toàn Trí.

***
| Bản dịch của Adam Pearcey, 2015, theo yêu cầu của Dza Kilung Rinpoche. Người dịch rất biết ơn Sam van Schaik, người có phiên bản xuất sắc của văn bản này xuất hiện trong Tiếp cận Sự Hoàn hảo Vĩ đại (Boston: Wisdom Publications, 2004, pp. 170–171). Bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào trong cách giải thích ở đây đều dựa trên việc chúng tôi đọc bài bình luận của Yukhok Chatralwa Chöying Rangdrol. Được sửa đổi vào năm 2019, với sự hỗ trợ tận tình của Khenpo Yeshi.

 

 

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2021

NGƯỜI CẦM HOA SEN TRẮNG

 

 


 


 

NGƯỜI CẦM HOA SEN TRẮNG

Nguyên tác: Holder Of The White Lotus
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Việt dịch: Quảng Cơ/ Tuệ Uyển hiệu đính/ Tuesday, October 5, 2021

***
***

Tôi đào thoát khỏi Tây Tạng vào ngày 31 tháng 3 năm 1959. Kể từ đó tôi sống lưu vong ở Ấn Độ. Trong giai đoạn 1949-50, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gửi một đội quân đến xâm lược đất nước của tôi. Trong gần một thập kỷ, tôi vẫn là nhà lãnh đạo chính trị cũng như tinh thần của người dân và cố gắng thiết lập lại mối quan hệ hòa bình giữa hai quốc gia của chúng tôi. Nhưng nhiệm vụ được chứng minh là bất khả thi. Tôi đã đi đến một kết luận không mấy vui vẻ rằng tôi chỉ có thể phục vụ người dân của mình tốt hơn từ bên ngoài.

Khi tôi nhìn lại khoảng thời gian Tây Tạng vẫn còn là một đất nước tự do, tôi nhận ra rằng đó là những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Hôm nay tôi chắc chắn rất hạnh phúc, nhưng chắc chắn sự tồn tại của tôi bây giờ rất khác so với sự giáo dục của tôi. Và mặc dù rõ ràng là không có tác dụng gì đối với cảm giác nhớ nhung, nhưng tôi vẫn không thể không cảm thấy buồn khi nghĩ về quá khứ. Nó nhắc nhở tôi về những đau khổ khủng khiếp của đồng bào tôi. Tây Tạng cũ không hoàn hảo. Tuy nhiên, đúng là nói rằng cách sống của chúng tôi là một cái gì đó khá đáng chú ý. Chắc chắn rằng có rất nhiều thứ đáng để bảo tồn mà bây giờ đã bị mất đi vĩnh viễn.

Tôi đã nói rằng những từ ngữ Dalai Lama - Đạt Lai Lạt Ma có ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau, đối với tôi chúng chỉ ám chỉ chức vụ mà tôi nắm giữ. Trên thực tế, Dalai là một từ tiếng Mông Cổ có nghĩa là 'đại dương’ và Lama là một thuật ngữ tiếng Tây Tạng tương ứng với từ guru trong tiếng Ấn Độ, có nghĩa là một đạo sư. Cùng với nhau, các từ DalaiLama đôi khi được dịch một cách lỏng lẻo là 'Đại dương của Trí tuệ’. Nhưng đây là do một sự hiểu lầm mà tôi cảm thấy. Ban đầu, Dalai là bản dịch cục bộ của Sonam Gyatso, tên của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ ba: Gyatso có nghĩa là đại dương trong tiếng Tây Tạng. Một sự hiểu lầm đáng tiếc nữa là do tiếng Trung Hoa diễn tả từ lamahuo-fou – hoạt Phật, có hàm ý là 'Phật sống'. Điều này sai. Phật giáo Tây Tạng không công nhận điều đó. Nó chỉ chấp nhận rằng một số chúng sanh nhất định, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể chọn cách tái sanh của họ. Những người như vậy được gọi là tulkus (hóa thân). Tất nhiên, trong khi tôi sống ở Tây Tạng, trở thành Đạt Lai Lạt Ma có ý nghĩa rất lớn. Điều đó có nghĩa là tôi đã sống một cuộc sống khác xa với sự vất vả và nhọc nhằn của đại đa số người dân của tôi. Tôi đi đến đâu cũng được một đoàn người hầu cận tháp tùng. Xung quanh tôi là các bộ trưởng và cố vấn của chính phủ mặc áo choàng lụa xa hoa, những người đàn ông được thấy từ những gia đình quý tộc và tinh hoa trong đất nước. Những người bạn đồng hành hàng ngày của tôi là những học giả lỗi lạc và những người am hiểu về tôn giáo có thực chứng cao độ. Và mỗi khi tôi rời Potala, cung điện mùa đông - 1.000 phòng tráng lệ của các Đạt Lai Lạt Ma, tôi được hộ tống bởi một đám rước hàng trăm người.

Ở hàng đầu đoàn là một Ngagpa, một người đàn ông mang theo một 'bánh xe cuộc sống' mang tính biểu tượng. Theo sau ông là một đoàn tatara, những người kỵ mã mặc trang phục truyền thống, sặc sỡ và mang theo cờ phướng. Phía sau họ là những người khuân vác mang những con chim biết hót trong lồng và đồ đạc cá nhân của tôi đều được gói trong lụa vàng. Tiếp theo là một bộ phận các nhà sư từ Namgyal, tu viện riêng của Đạt Lai Lạt Ma. Mỗi người mang một biểu ngữ được trang trí bằng các đề mục thiêng liêng. Phía sau họ đi tiếp theo là các nhạc công cưỡi trên lưng ngựa. Sau đó, theo sau hai nhóm quan chức tu sĩ, đầu tiên là một bộ phận cấp dưới đóng vai trò là những người vận chuyển, sau đó là các nhà sư thuộc dòng Tsedrung, những vị là viên chức của Chính phủ. Đằng sau những con ngựa này là một đàn ngựa từ chuồng riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tất cả đều được trang trí xinh đẹp, và được dẫn dắt bởi các người giữ ngựa.

Theo sau đó là một đội quân ngựa khác mang những ấn tín của nhà nước. Tôi đến tiếp theo, đi trong một chiếc kiệu màu vàng, được khiêng bởi hai mươi người đàn ông, tất cả là sĩ quan trong quân đội và mặc áo choàng màu xanh lá cây với mũ màu đỏ. Không giống như các quan chức cấp cao nhất, những người để tóc cao, những người này có một bím tóc dài và duy nhất chạy dọc xuống lưng. Bản thân chiếc kiệu có màu vàng (để biểu thị đời sống tu hành), được hỗ trợ bởi thêm tám người đàn ông mặc áo dài bằng lụa màu vàng. Cùng với đó là bốn thành viên của Kashag (chính phủ), Nội các của Đạt Lai Lạt Ma, với sự tham dự của Kusun Depon, người đứng đầu vệ sĩ của Đạt Lai Lạt Ma và Mak-chi, Tổng tư lệnh quân đội nhỏ bé của Tây Tạng. Cả hai người này đều nghiêm nghị mang theo thanh kiếm của mình trong lễ chào. Họ mặc một bộ đồng phục gồm quần xanh lam và áo dài màu vàng được thắt bím vàng. Trên đầu họ đội một chiếc mũ topi tua rua. Vây quanh đoàn tùy tùng chính này, có đội hộ tống sing gha, cảnh sát tu viện. Những người đàn ông có vẻ ngoài đáng sợ này đều cao ít nhất 6 bộ và mặc áo lót dày, khiến họ có vẻ ngoài thậm chí còn ấn tượng hơn. Trên tay họ mang theo những chiếc roi dài, mà họ không ngần ngại sử dụng.

Đằng sau chiếc kiệu tôi ngồi là hai Giáo thọ của tôi, trưởng và phó (người trước từng là Nhiếp chính của Tây Tạng trước khi tôi đến tuổi trưởng thành). Sau đó đến cha mẹ tôi và các thành viên khác trong gia đình tôi. Theo sau họ là một nhóm đông đảo các quan chức cư sĩ, cả quý tộc và thường dân, được sắp xếp theo cấp bậc.

Luôn luôn gần như toàn bộ cư dân của thủ đô Lhasa, đến để cố gắng nhìn thấy tôi bất cứ khi nào tôi đi ra ngoài. Có một sự im lặng tràn ngập và thường có những giọt nước mắt khi mọi người cúi đầu hoặc phủ phục xuống đất khi tôi đi qua.

Đó là một cuộc sống rất khác so với cuộc sống mà tôi từng biết khi còn là một cậu bé. Tôi sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935 và tên là Lhamo Thondup. Theo nghĩa đen, điều này có nghĩa là ‘Nữ Thần Toại Nguyện’. Tên người, địa điểm và sự vật trong tiếng Tây Tạng thường đẹp như tranh vẽ trong diễn dịch. Ví dụ, Tsang- po, tên của một trong những con sông quan trọng nhất của Tây Tạng - và là nguồn của dòng Brahmaputra hùng vĩ của Ấn Độ - có nghĩa là "Kẻ Lọc Nước".Tên làng của chúng tôi là Taktser: Cọp Gầm. Đó là một khu định cư nhỏ và nghèo nàn, nằm trên một ngọn đồi nhìn ra một thung lũng rộng lớn. Đồng cỏ của nó đã không được định cư hoặc làm nông nghiệp trong thời gian dài, chỉ được chăn thả bởi những người du mục. Lý do cho điều này là sự không thể đoán trước của thời tiết ở khu vực đó. Trong suốt thời thơ ấu của tôi, gia đình tôi là một trong hai mươi gia đình kiếm sống bấp bênh từ mảnh đất đó.

Taktser nằm ở vùng cực đông bắc Tây Tạng, thuộc tỉnh Amdo. Về mặt địa lý, Tây Tạng có thể được chia thành bốn khu vực chính. Về phía tây bắc là Changtang, một khu vực sa mạc đóng băng chạy theo hướng đông tây kéo dài hơn tám trăm dặm. Nó gần như không có thảm thực vật và chỉ có một số người du mục chăm chỉ sống giữa sự hoang vắng của nó. Về phía nam của Changtang là các tỉnh UTsang. Khu vực này tiếp giáp về phía nam và tây nam bởi dãy Himalayas hùng vĩ. Về phía đông của U-Tsang là tỉnh Kham, đây là vùng màu mỡ nhất và do đó đông dân nhất cả nước. Về phía bắc của KhamAmdo. Trên biên giới phía đông của cả KhamAmdo là ranh giới quốc gia của Tây Tạng với Trung Hoa. Vào thời điểm tôi sinh ra, một lãnh chúa Hồi giáo, Ma Pu-Feng, gần đây đã thành công trong việc thành lập ở Amdo một chính quyền khu vực trung thành với Cộng hòa Trung Hoa Dân Quốc.

Cha mẹ tôi là những người nông dân nhỏ: chính xác không phải là nông nô, vì họ không bị ràng buộc bởi bất kỳ người chủ nào; nhưng họ hoàn toàn không phải là quý tộc. Họ thuê một ít đất và tự làm. Các loại cây trồng chính ở Tây Tạng là lúa mạch và kiều mạch và bố mẹ tôi đã trồng cả hai loại này cùng với khoai tây. Nhưng thường thì công việc trong năm của họ bị hủy hoại do mưa đá lớn hoặc hạn hán. Họ cũng nuôi một số động vật, đây là nguồn sản phẩm đáng tin cậy hơn. Tôi nhớ rằng chúng tôi có năm hoặc sáu con dzomos (con lai giữa yak và bò) để vắt sữa và một số gà thả rông để đẻ. Có một bầy hỗn hợp có lẽ là tám mươi con cừu và dê, và cha tôi gần như lúc nào cũng có một hoặc hai hoặc thậm chí ba con ngựa, vốn ông rất thích. Cuối cùng, gia đình tôi đã nuôi được một vài con yak (bò Tây Tạng hay tuyết ngưu).

Yak là một trong những món quà của Thiên nhiên dành cho nhân loại. Nó có thể tồn tại ở bất kỳ độ cao nào trên 10.000 bộ, vì vậy nó rất thích hợp cho Tây Tạng. Dưới đó là chúng chết. Vừa là một con thú chuyên chở, vừa là nguồn cung cấp sữa (trong trường hợp của con cái, được gọi là con dri), và thịt, yak thật sự là một mặt hàng chủ yếu của nông nghiệp vùng cao. Lúa mạch mà cha mẹ tôi trồng là một loại lương thực khác của Tây Tạng. Khi rang và nghiền thành bột mịn, nó sẽ trở thành tsampa. Hiếm khi có một bữa ăn nào được phục vụ ở Tây Tạng mà không bao gồm tsampa và, ngay cả khi sống lưu vong, tôi vẫn tiếp tục ăn nó mỗi ngày. Tất nhiên, nó không được ăn như bột. Đầu tiên bạn phải kết hợp nó với chất lỏng, thường là trà, nhưng sữa (mà tôi thích hơn) hoặc sữa chua hoặc thậm chí chanp (bia Tây Tạng) sẽ làm được. Sau đó, dùng các ngón tay vuốt quanh bát, bạn vo thành những viên nhỏ. Nếu không nó có thể được sử dụng như nguyên liệu căn bản cho cháo đặc (yến mạch). Đối với người Tây Tạng, nó rất ngon, theo kinh nghiệm của tôi, rất ít người nước ngoài thích nó. Người Hoa nói riêng không quan tâm đến nó chút nào.

Hầu hết những gì cha mẹ tôi trồng trong trang trại chỉ được sử dụng để nuôi chúng tôi. Nhưng cha tôi thỉnh thoảng vẫn buôn bán ngũ cốc hoặc một vài con cừu với những người du mục đi ngang qua hoặc xuống Siling, thị trấn và thủ phủ gần nhất của Amdo, cách đó ba giờ đi ngựa. Tiền tệ không được sử dụng nhiều ở những vùng nông thôn xa xôi này và hầu hết thương mại được thực hiện bằng hình thức trao đổi. Vì vậy, cha tôi sẽ đổi số tiền dư trong mùa lấy trà, đường, vải bông, có lẽ là một vài đồ trang trí, và có thể là một số đồ dùng bằng sắt. Thỉnh thoảng ông cũng quay lại với một con ngựa mới, điều này khiến cha tôi thích thú. Cha tôi có cảm tình rất tốt với chúng và khá nổi tiếng ở địa phương với tư cách là người chữa bệnh cho ngựa.

Ngôi nhà tôi sinh ra là điển hình của khu vực Tây Tạng của chúng tôi. Nó được xây bằng đá và bùn với một mái bằng dọc theo ba mặt của một hình vuông. Đặc điểm khác thường duy nhất của nó là rãnh nước, được làm từ những cành cây bách xù, khoét ra để tạo thành ống dẫn nước mưa. Ngay phía trước nó, giữa hai 'cánh tay' hay cánh gà, có một khoảng sân nhỏ ở giữa là một cột cờ cao. Trên đó treo một biểu ngữ, được bảo đảm ở trên và dưới, trên đó có viết vô số lời cầu nguyện.

Những con vật được giữ ở sau nhà. Bên trong có sáu phòng: một nhà bếp, nơi chúng tôi dành phần lớn thời gian khi ở trong nhà; một phòng cầu nguyện với một bàn thờ nhỏ, nơi tất cả chúng tôi sẽ tụ tập để cúng dường vào đầu ngày; phòng cha mẹ tôi; một phòng dự phòng cho bất kỳ khách nào mà chúng tôi có thể có; một kho chứa đồ của chúng tôi; và cuối cùng là một chuồng gia súc. Không có phòng ngủ cho bọn trẻ chúng tôi. Khi còn bé, tôi ngủ với mẹ tôi; sau đó, trong nhà bếp, bên bếp lò. Đối với đồ đạc, chúng tôi không có ghế hoặc giường như vậy, nhưng có những khu vực cao hơn để ngủ trong cả phòng của cha mẹ tôi và phòng phụ. Cũng có một số tủ làm bằng gỗ gai sơn. Sàn nhà cũng được làm bằng gỗ và lát ván gọn gàng.

Cha tôi là một người đàn ông có chiều cao trung bình và rất nóng nảy. Tôi nhớ có lần tôi đã kéo ria mép của ông ấy và bị đánh mạnh vì rắc rối của tôi. Tuy nhiên, cha tôi cũng là một người đàn ông tốt bụng và ông ấy không bao giờ có ác cảm. Một câu chuyện thú vị đã được kể về cha tôi vào thời điểm tôi sanh ra. Ông đã bị bệnh trong một số tuần và phải nằm trên giường của mình. Không ai biết điều gì đã xảy ra với ông và mọi người bắt đầu lo sợ cho cuộc sống của ông ấy. Nhưng vào ngày tôi chào đời, cha tôi đột nhiên bắt đầu hồi phục mà không rõ lý do. Thật không thể nào hào hứng hơn khi trở thành một người cha vì mẹ tôi đã sinh được tám người con, mặc dù chỉ có bốn người sống sót. (Tất nhiên, những gia đình nông dân như chúng tôi – sống trong những gia đình đông con và mẹ tôi sinh mười sáu người con, trong đó bảy người sống.) Vào thời điểm viết bài, Lobsang Samten, anh trai trực tiếp của tôi, và Tsering Dolma, chị cả của tôi, không còn sống, nhưng hai người anh trai khác, em gái tôi và em trai tôi vẫn sống khỏe mạnh.

Mẹ tôi chắc chắn là một trong những người tốt nhất mà tôi từng biết. Bà ấy thật sự tuyệt vời và được yêu mến, tôi khá chắc chắn, bởi tất cả những người biết bà ấy. Bà rất từ bi. Có lần, tôi nhớ mình được kể rằng, có một nạn đói khủng khiếp ở gần Trung Hoa. Kết quả là, nhiều người nghèo Trung Hoa đã bị đuổi qua biên giới để tìm kiếm thức ăn. Một ngày nọ, một cặp vợ chồng xuất hiện trước cửa nhà chúng tôi, mang trên tay một đứa trẻ đã chết. Họ cầu xin mẹ tôi cho thức ăn và bà đã sẵn sàng đưa cho họ. Sau đó, bà chỉ vào đứa con của họ và hỏi liệu họ có muốn giúp đỡ để chôn nó không. Khi họ hiểu được ý của bà ấy, họ lắc đầu và nói rõ rằng họ có ý định ăn thịt nó. Mẹ tôi đã rất kinh hoàng và ngay lập tức mời họ vào và làm sạch toàn bộ bên trong thùng mỡ trước khi hối tiếc đưa cho họ lên đường. Ngay cả khi nó có nghĩa là cho đi thức ăn của gia đình để bản thân chúng tôi đói, bà không bao giờ để bất kỳ người ăn xin nào về tay không.

Tsering Dolma hơn tôi mười tám tuổi. Vào thời điểm tôi mới sanh, chị ấy đã giúp mẹ tôi điều hành nhà và đóng vai trò như một bà mụ của tôi. Khi bà sanh tôi, chị ấy nhận thấy rằng một bên mắt của tôi không mở đúng cách. Không do dự, chị đặt ngón tay cái lên mí mắt và buộc nó mở rộng ra - thật may là không ảnh hưởng gì. Tsering Dolma cũng là người chịu trách nhiệm cho tôi bữa ăn đầu tiên, theo truyền thống, là một chất lỏng làm từ vỏ của một loại bụi cây đặc biệt mọc ở địa phương. Điều này được cho là để bảo đảm một đứa trẻ khỏe mạnh. Nó chắc chắn đã hoạt động trong trường hợp của tôi. Những năm sau này, chị gái tôi nói với tôi rằng tôi là một đứa bé rất bẩn thỉu. Chị ấy đã ôm tôi vào lòng ngay khi tôi quậy phá lung tung!

Tôi không liên hệ nhiều đến bất kỳ người nào trong ba người anh lơn của mình. Thupten Jigme Norbu, người lớn tuổi nhất, đã được công nhận là hóa thân của một vị lạt ma cao cấp, Taktser Rinpoche (Rinpoche là danh hiệu được đặt cho các bậc thầy tâm linh và có nghĩa là Bậc Tôn Quý), và được định vị tại Kumbum, một tu viện nổi tiếng vài giờ đi bằng ngựa. Anh trai kế của tôi, Gyalo Thondup, hơn tôi tám tuổi và vào thời điểm tôi sinh ra, anh ấy đang đi học ở một ngôi làng gần đó. Chỉ có người anh trai trực tiếp của tôi, Lobsang Samten, ở lại. Anh hơn tôi ba tuổi. Nhưng anh ấy cũng đã được gửi đến Kumbum để làm một tu sĩ, vì vậy tôi hầu như không biết anh ấy.

Tất nhiên, không ai biết rằng tôi có thể là gì hơn một đứa trẻ bình thường. Gần như không thể tưởng tượng được rằng nhiều hơn một tulku có thể được sinh ra trong cùng một gia đình và chắc chắn cha mẹ tôi không hề biết rằng tôi sẽ được tôn xưng là Đạt Lai Lạt Ma. Việc hồi phục của cha tôi là một điều tốt lành, nhưng nó không được coi là có ý nghĩa quan trọng. Bản thân tôi cũng không có mối quan tâm cụ thể nào về những gì đang diễn ra ở phía trước. Những ký ức đầu đời của tôi rất bình thường. Một số người nhấn mạnh nhiều vào hồi ức đầu tiên của một người, nhưng tôi thì không. Ví dụ, trong số ký ức, tôi nhớ, khi quan sát thấy một nhóm trẻ em đang chiến đấu và chạy để tham gia với bên yếu hơn. Tôi cũng nhớ lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con lạc đà. Những thứ này khá phổ biến ở các vùng của Mông Cổ và đôi khi chúng được mang qua biên giới. Nó trông rất lớn và hùng vĩ và rất đáng sợ. Tôi cũng nhớ lại một ngày nọ, tôi phát hiện ra mình bị nhiễm sán lãi - một nỗi đau phổ biến ở phương Đông.

Một điều mà tôi nhớ đặc biệt thích thú khi còn rất nhỏ là vào chuồng gà mái để nhặt trứng với mẹ và sau đó ở lại. Tôi thích ngồi trong ổ gà mái và tạo ra những tiếng ồn ào. Một việc yêu thích khác của tôi khi còn là một đứa bé con là đóng gói đồ đạc trong một chiếc túi như thể tôi sắp trải qua một cuộc hành trình dài. Tôi sẽ đến Lhasa, tôi sẽ đến Lhasa, tôi nói. Điều này, cùng với việc tôi khăng khăng rằng tôi luôn phải được phép ngồi ở đầu bàn, sau này được cho là một dấu hiệu cho thấy rằng tôi phải biết rằng tôi được định sẵn cho những điều lớn lao hơn. Khi còn nhỏ, tôi cũng có một số giấc mơ rõ ràng để có cách giải thích tương tự, nhưng tôi không thể nói một cách rõ ràng rằng tôi đã biết trước về tương lai của mình. Sau đó, mẹ tôi kể cho tôi nghe một số câu chuyện có thể được coi là dấu hiệu tái sanh cao cấp. Ví dụ, tôi không bao giờ cho phép ai khác ngoài bà ấy cầm chén tô của tôi. Tôi cũng không bao giờ tỏ ra sợ người lạ.

Trước khi tiếp tục kể về khám phá của tôi với tư cách là Đạt Lai Lạt Ma, trước tiên tôi phải nói đôi điều về Phật giáo và lịch sử của nó ở Tây Tạng. Người sáng lập ra Phật giáo là một nhân vật lịch sử, Sĩ Đạt Ta (Siddhartha), người được công nhận là Đức Phật Thích Ca. Ngài sanh ra cách đây hơn 2.500 năm. Giáo lý của ngài, ngày nay được gọi là giáo Pháp, hoặc Phật giáo, đã được du nhập vào Tây Tạng vào thế kỷ thứ tư sau Công nguyên. Đã mất vài thế kỷ để thay thế tôn giáo Bon bản địa và trở nên hoàn chỉnh, nhưng cuối cùng đất nước đã được chuyển đổi triệt để đến mức các nguyên tắc Phật giáo đã chi phối toàn bộ xã hội, ở mọi cấp độ. Và trong khi người Tây Tạng về bản chất là những người khá hung dữ và khá hiếu chiến, nhưng sự quan tâm ngày càng tăng của họ đối với việc thực hành tôn giáo là một yếu tố chính dẫn đến sự cô lập của đất nước. Trước đó, Tây Tạng đã chiếm hữu một đế chế rộng lớn, thống trị Trung Á với lãnh thổ bao gồm phần lớn phía bắc Ấn Độ, NepalBhutan ở phía nam. Nó cũng bao gồm nhiều lãnh thổ của Trung Hoa. Vào năm 763 sau Công Nguyên, các lực lượng Tây Tạng đã thật sự chiếm được thủ đô của Trung Hoa, nơi họ đưa ra những lời hứa về triều cống và các nhượng bộ khác. Tuy nhiên, khi sự nhiệt tình của người Tây Tạng đối với Phật giáo ngày càng tăng, thì mối quan hệ của Tây Tạng với các nước láng giềng ấy trở nên mang tính chất tâm linh hơn là bản chất chính trị. Điều này đặc biệt đúng với Trung Hoa, nơi phát triển mối quan hệ thân thiết-người bảo trợ các tu sĩ được phát triển. Các Hoàng đế Mãn Châu, những người theo đạo Phật, gọi Đức Đạt Lai Lạt Ma là 'Vua Truyền bá Phật giáo’.

Giáo lý nền tảng của Phật giáo là thuyết Duyên khởi hay Luật Nhân quả. Điều này chỉ đơn giản nói rằng mọi thứ mà một cá nhân trải nghiệm đều bắt nguồn qua hành động từ động cơ. Do đó, động cơ là gốc rễ của cả hành động và trải nghiệm. Từ sự hiểu biết này, các lý thuyết Phật giáo về tâm thức và tái sanh được hình thành.

Điều đầu tiên cho rằng, bởi vì nguyên nhân làm phát sinh kết quả mà sau đó trở thành nguyên nhân của kết quả tiếp theo, cho nên ý thức phải liên tục. Nó tiếp tục trôi chảy, thu thập kinh nghiệm và dấu vết từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc tiếp theo. Tại thời điểm của cái chết về thể chất, theo sau đó là ý thức của một chúng sanh chứa đựng dấu ấn của tất cả những kinh nghiệm và ấn tượng trong quá khứ, và những hành động xảy ra trước chúng. Đây được gọi là nghiệp, có nghĩa là "hành động". Do đó, ý thức, cùng với nghiệp tương ứng của nó, sau đó trở thành "tái sanh" trong một cơ thể mới - động vật, con người hoặc chư thiên, thần, thánh.

Vì vậy, để đưa ra một ví dụ đơn giản, một người đã dành cả cuộc đời của mình để ngược đãi động vật có thể khá dễ dàng được tái sanh trong kiếp sau như một con chó thuộc về một người không đối xử tốt với động vật. Tương tự, hạnh kiểm nghiêm chỉnh trong đời này sẽ giúp tái sanh thuận lợi trong đời sau.

Các Phật tử tin rằng vì bản chất cơ bản của ý thức là trung tính, nên có thể thoát khỏi vòng sanh, khổ, tử và tái sanh bất tận mà cuộc sống tất yếu phải kéo theo, nhưng chỉ khi tất cả ác nghiệp đã được loại bỏ cùng với tất cả dính mắc thế gian.. Khi đạt đến điểm này, ý thức trong vấn đề được cho là đạt được sự giải thoát đầu tiên và sau đó là thành Phật. Tuy nhiên, theo Phật giáo trong truyền thống Tây Tạng, một chúng sanh đạt được Phật quả, mặc dù được giải thoát khỏi Luân hồi, ‘bánh xe của đau khổ', như một hiện tượng tồn tại đã được biết đến, nhưng sẽ tiếp tục quay trở lại hoạt động vì lợi ích của tất cả chúng sanh khác cho đến khi mỗi người được giải thoát như nhau.

Bây giờ trong trường hợp của riêng tôi, tôi được coi là tái sanh của từng vị trong số mười ba vị Đạt Lai Lạt Ma trước đây của Tây Tạng (vị đầu tiên được sinh ra vào năm 1351 sau Công Nguyên), những người lần lượt được coi là biểu hiện của Đức Quán Thế Âm
(Avalokiteshvara), hay Chenrezig, Bồ tát từ bi, người nắm giữ Hoa Sen Trắng. Vì vậy, tôi cũng được cho là biểu hiện của Chenrezig, trên thực tế là vị thứ bảy mươi tư trong một dòng dõi có thể bắt nguồn từ một cậu bé Bà la môn sống vào thời Đức Phật Thích Ca. Tôi thường được hỏi liệu tôi có thật sự tin vào điều này hay không. Câu trả lời không đơn giản để đưa ra. Nhưng khi tôi đã năm mươi sáu tuổi, khi tôi xem xét những kinh nghiệm của mình trong cuộc sống hiện tại này và với niềm tin Phật giáo của mình, tôi không khó chấp nhận rằng tôi có liên hệ tâm linh với cả mười ba vị Đạt Lai Lạt Ma trước đó, với Chenrezig và với chính Đức Phật. .

Khi tôi chưa được ba tuổi, một nhóm tìm kiếm do Chính phủ cử đi để tìm hóa thân mới của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến tu viện Kumbum. Họ đã được dẫn đến đó bởi một số dấu hiệu. Một trong số những điều này liên quan đến thi thể xông ướp của người tiền nhiệm của tôi, Thupten Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, người đã qua đời ở tuổi năm mươi bảy vào năm 1933. Trong thời gian ở trong trạng thái ngồi, người ta phát hiện đầu đã quay từ hướng Nam sang Đông-Bắc. Ngay sau đó, Nhiếp Chính Vương, bản thân là một lạt ma cao cấp, đã có một giấc mộng. Nhìn xuống vùng nước của hồ thiêng Lhamoi Lhatso, ở phía nam Tây Tạng, ông thấy rõ ràng các chữ cái Tây Tạng Ah, Ka Ma trôi nổi trong tầm mắt. Tiếp theo là hình ảnh của một tu viện ba tầng với mái màu xanh ngọc và vàng và một con đường chạy từ đó đến một ngọn đồi. Cuối cùng, ngài nhìn thấy một ngôi nhà nhỏ có rãnh nước hình thù kỳ lạ. Ngài chắc chắn rằng những mẫu tự đề cập đến Amdo, tỉnh phía Đông Bắc, vì vậy chính nơi đó mà nhóm tìm kiếm đã được gửi đến.

Khi họ đến được Kumbum, các thành viên của nhóm tìm kiếm cảm thấy rằng họ đã đi đúng hướng. Có vẻ như nếu chữ Ah ám chỉ Amdo, thì Ka phải chỉ ra tu viện ở Kumbum - nơi thật sự có ba tầng và có mái màu xanh ngọc. Bây giờ họ chỉ cần xác định một ngọn đồi và một ngôi nhà có rãnh nước đặc biệt. Vì vậy, họ bắt đầu tìm kiếm các ngôi làng lân cận. Khi họ nhìn thấy những cành cây bách xù trên mái nhà của cha mẹ tôi, họ chắc chắn rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma mới sẽ không còn xa nữa. Tuy nhiên, thay vì tiết lộ mục đích chuyến thăm của họ, nhóm chỉ yêu cầu ở lại qua đêm. Thủ lãnh của đoàn tìm kiếm, Kewtsang Rinpoche, sau đó giả làm một người hầu và dành phần lớn thời gian buổi tối để quan sát và chơi với đứa trẻ nhỏ nhất trong nhà.

Đứa trẻ nhận ra ông và gọi ‘Sera Lama, Sera Lama’. Sera là tu viện của Kewtsang Rinpoche. Ngày hôm sau, họ rời đi - chỉ để trở lại vài ngày sau đó với tư cách là một chuyến đi chính thức. Lần này họ mang theo một số thứ thuộc về người tiền nhiệm của tôi, cùng với một số đồ vật tương tự không phải của ngài. Trong mọi trường hợp, đứa trẻ sơ sinh đã xác định chính xác những gì thuộc về Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba và nói, ‘Nó là của tôi. Nó là của tôi.” Điều này ít nhiều thuyết phục nhóm tìm kiếm rằng họ đã tìm thấy hóa thân mới. Tuy nhiên, có một ứng cử viên khác sẽ được xem xét trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Nhưng không lâu thì cậu bé đến từ Taktser được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma mới. Tôi là đứa trẻ đó.

Không cần phải nói, tôi không nhớ nhiều về những sự kiện này. Tôi quá nhỏ. Hồi ức thật sự duy nhất của tôi là về một người đàn ông với đôi mắt xuyên thấu. Những thứ này hóa ra thuộc về một người tên là Kenrap Tenzin, người đã trở thành Sư Phụ Trách Y Áo của tôi và sau đó dạy tôi viết.

Ngay sau khi nhóm tìm kiếm kết luận rằng đứa trẻ từ Taktser là hóa thân thật sự của Đạt Lai Lạt Ma, tin nhắn được gửi về cho Lhasa để thông báo cho Quan Nhiếp Chính. Sẽ mất vài tuần trước khi nhận được xác nhận chính thức. Cho đến lúc đó, tôi vẫn ở nhà. Trong khi đó, Thống đốc địa phương Ma Pu-Feng bắt đầu gây rối. Nhưng cuối cùng tôi đã được cha mẹ đưa đến tu viện Kumbum, nơi tôi được sắp đặt trong một buổi lễ diễn ra vào lúc bình minh. Tôi đặc biệt nhớ đến sự kiện này vì tôi đã rất ngạc nhiên khi được đánh thức và mặc quần áo trước khi mặt trời mọc. Tôi cũng nhớ mình đã được ngồi trên bảo tọa.

Bây giờ đã bắt đầu một giai đoạn có phần không vui trong cuộc đời tôi. Cha mẹ tôi đã không ở lại lâu và chẳng bao lâu sau tôi chỉ có một mình giữa môi trường xung quanh mới mẻ và xa lạ này. Rất khó để một đứa trẻ nhỏ bị tách khỏi cha mẹ của nó. Tuy nhiên, có hai điều an ủi khi sống tại tu viện. Đầu tiên, anh trai trực tiếp của tôi, Lobsang Samten đã ở đó. Dù chỉ hơn tôi ba tuổi nhưng anh ấy đã chăm sóc tôi rất chu đáo và chúng tôi nhanh chóng trở thành những người bạn thân thiết. Điều an ủi thứ hai là sư phụ của anh ấy là một tu sĩ già rất tốt bụng, người thường ôm tôi vào trong áo choàng của ông ấy. Có một lần tôi nhớ lại rằng ông ấy đã tặng tôi một quả đào. Tuy nhiên, phần lớn tôi không hài lòng. Tôi không hiểu Đức Đạt Lai Lạt Ma có nghĩa là gì. Theo những gì tôi biết, tôi chỉ là một cậu bé nhỏ trong số rất nhiều người. Không có gì lạ khi trẻ em vào tu viện khi còn rất nhỏ và tôi được đối xử giống như tất cả những người khác.

Một kỷ niệm đau buồn hơn là về một trong những người chú của tôi, người đã từng là một nhà sư ở Kumbum. Một buổi tối, trong khi ông ấy ngồi đọc kinh, tôi làm rối cuốn kinh của ông ấy. Như ngày nay, cuốn sách này đã bị rời rạc và các trang nằm ở khắp mọi nơi. Em trai của cha tôi đã bồng tôi lên và tát tôi rất mạnh. Ông ấy vô cùng tức giận và tôi vô cùng sợ hãi. Trong nhiều năm sau đó, tôi bị ám ảnh bởi khuôn mặt đen sạm, đầy vết rỗ và bộ ria mép dữ tợn của ông ta. Sau đó, bất cứ khi nào tôi nhìn thấy ông ta, tôi trở nên rất sợ hãi.

Khi rõ ràng rằng cuối cùng tôi sẽ được đoàn tụ với cha mẹ và chúng tôi sẽ cùng nhau hành trình đến Lhasa, tôi bắt đầu nhìn về tương lai với nhiều nhiệt tình hơn. Như bất kỳ đứa trẻ nào, tôi rất vui mừng trước viễn cảnh được đi du lịch. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra trong khoảng mười tám tháng, bởi vì Ma Pu-Feng từ chối để tôi được đưa đến Lhasa nếu không trả một khoản tiền chuộc lớn. Và sau khi nhận ra nó, ông ta đòi hỏi nhiều hơn, mặc dù không nhận được nó. Vì vậy, mãi đến mùa hè năm 1939, tôi mới đi đến thủ đô.

Cuối cùng thì ngày tuyệt vời cũng ló dạng, một tuần sau sinh nhật lần thứ tư của tôi, tôi nhớ lại cảm giác lạc quan vô cùng. Đoàn người lớn. Nó không chỉ bao gồm cha mẹ tôi và anh trai tôi Lobsang Samten, mà các thành viên của nhóm tìm kiếm và một số khách hành hương cũng đến. Ngoài ra còn có một số quan chức chính phủ tham dự, cùng với một số lượng lớn các nhà nghiên cứu và trinh sát. Những người đàn ông này đã dành cả cuộc đời của họ để làm việc trên các tuyến đường của đoàn lữ hành ở Tây Tạng và không thể thiếu trong bất kỳ cuộc hành trình dài nào. Họ biết chính xác nơi phải vượt qua từng con sông và mất bao nhiêu thời gian để leo đèo.

Sau vài ngày đi lại, chúng tôi rời khu vực do Ma Pu-Feng quản lý và Chính phủ Tây Tạng chính thức tuyên bố chấp nhận tư cách ứng cử viên của tôi. Bây giờ chúng tôi bước vào một số vùng quê xa xôi và xinh đẹp nhất trên thế giới: những ngọn núi khổng lồ nằm bên những đồng bằng phẳng rộng lớn mà chúng tôi phải vật lộn như những con côn trùng. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắt gặp dòng nước chảy xiết băng giá mà chúng tôi lội qua một cách ồn ào. Và cứ cách vài ngày, chúng tôi lại đến một khu định cư nhỏ nằm co ro giữa đồng cỏ xanh tươi, hoặc bám chặc như thể bằng những ngón tay của nó vào sườn đồi. Đôi khi chúng tôi có thể nhìn thấy từ xa một tu viện sừng sững trên đỉnh một vách đá. Nhưng phần lớn, nó chỉ là một không gian trống rỗng, khô cằn chỉ có những cơn gió đầy bụi hoang vu và những trận mưa đá dữ dội như những lời nhắc nhở về các năng lực sống của thiên nhiên.

Cuộc hành trình đến Lhasa mất ba tháng. Tôi nhớ rất ít chi tiết ngoài cảm giác ngạc nhiên tuyệt vời về mọi thứ tôi nhìn thấy: những đàn drong (yak rừng) rong ruổi khắp đồng bằng, những nhóm kyang (lừa hoang dã) nhỏ hơn và đôi khi là ánh sáng lung linh của gowanawa, những con nai nhỏ mà rất nhẹ và nhanh, chúng có thể là những con ma. Tôi cũng yêu những đàn ngỗng khổng lồ mà chúng tôi đã thấy thỉnh thoảng.

Trong phần lớn cuộc hành trình, tôi đã đi cùng Lobsang Samten trên một loại kiệu gọi là dreljam do một đôi la chở. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian để cãi vã và tranh cãi, như những đứa trẻ nhỏ, và thường xuyên phải chịu đòn. Điều này khiến việc vận chuyển của chúng tôi có nguy cơ bị mất cân bằng quá mức. Tại thời điểm đó, người lái xe sẽ dừng các con vật lại và gọi mẹ tôi. Khi bà ấy nhìn vào bên trong, bầ luôn thấy một điều giống nhau: Lobsang Samten đang rơi nước mắt và tôi ngồi đó với vẻ mặt đắc thắng. Vì dù tuổi của anh ấy lớn hơn, nhưng tôi vẫn quả quyết hơn. Mặc dù chúng tôi thật sự là bạn thân, nhưng chúng tôi không thể cư xử tốt với nhau. Một người trong chúng tôi sẽ đưa ra một nhận xét dẫn đến một cuộc tranh cãi và cuối cùng là những trận đòn và những giọt nước mắt - nhưng những giọt nước mắt luôn là của anh ấy chứ không phải của tôi. Lobsang Samten tốt bụng đến mức anh ấy không thể sử dụng sức mạnh vượt trội của mình để chống lại tôi.

Cuối cùng, nhóm của chúng tôi bắt đầu tiến gần đến Lhasa. Bây giờ là mùa thu. Khi chúng tôi đi được vài ngày, một nhóm quan chức cấp cao của chính phủ ra đón và hộ tống nhóm của chúng tôi đến đồng bằng Doeguthang, hai dặm bên ngoài cửa thủ đô. Ở đó, một cái lều khổng lồ đã được dựng lên. Ở trung tâm là một công trình kiến trúc màu xanh và trắng được gọi là Macha Chennio, "Đại Khổng Tước". Nó trông rất to lớn đối với mắt tôi và bao quanh một bảo tọa bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo, vốn chỉ được đưa ra với mục đích chào đón Đức Đạt Lai Lạt Ma sơ sinh trở về nhà.

Buổi lễ sau đó, trao cho tôi quyền lãnh đạo tinh thần của người dân của tôi, kéo dài cả ngày. Nhưng trí nhớ của tôi về nó rất mơ hồ. Tôi chỉ nhớ cảm giác trở về quê hương tuyệt vời và những đám đông vô tận: Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có thể có nhiều như vậy. Nói chung, tôi đã cư xử tốt với bản thân mình dù chỉ một vài năm tuổi, thậm chí với một hoặc hai tu sĩ cực kỳ cao cấp, những người đã tự mình đánh giá xem tôi có thật sự là hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba hay không. Sau đó, cuối cùng, tôi cùng với Lobsang Samten được đưa đến Norbulingka (có nghĩa là Công viên Ngọc) nằm ngay phía Tây của Lhasa.

Thông thường, nó chỉ được sử dụng làm cung điện mùa hè của Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng Nhiếp Chính Vương đã quyết định đợi đến cuối năm sau trước khi chính thức làm lễ đăng quang cho tôi tại cung điện Potala, nơi đặt trụ sở của Chính phủ Tây Tạng. Trong khi đó, tôi không cần thiết phải sống ở đó. Đây hóa ra là một động thái ân cần vì Norbulingka là nơi dễ chịu hơn nhiều so với hai nơi. Nó được bao quanh bởi những khu vườn và bao gồm một số tòa nhà nhỏ bên trong sáng sủa và thoáng mát. Ngược lại, Potala mà tôi có thể nhìn thấy cao ngất ngưởng phía trên thành phố từ xa, bên trong lại tối tăm, lạnh lẽo và u ám.

Vì vậy, tôi đã tận hưởng cả năm không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào, vui vẻ chơi với anh trai và gặp cha mẹ khá thường xuyên. Đó là sự tự do theo thời gian cuối cùng mà tôi từng biết.

***
Ẩn tâm lộ, Monday, October 18, 2021

Trích từ quyển Freedom In Exile


Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

ÁNH TRĂNG BÌNH ĐỊNH CAM LỒ AMRTA

ÁNH TRĂNG BÌNH ĐỊNH CAM LỒ AMRTA
Quán Tưởng và Trì Tụng Hàng Ngày Để Xua Tan Tất Cả Những Lầm Lạc Và Nhiễm Ô




***

namo gurūcchuṣmāya!

Quy Y Và Bồ Đề Tâm

namo! Trong đạo sư, tam bảo, và bổn tôn thần thể
Với lòng chân thành sâu sắc nhất chúng con quy y
Vì thế chúng con và tất cả chúng sanh, vô tận như bầu trời, đạt đến tỉnh giác vô thượng,
Chúng con phải thực hành Ucchuṣma, ‘Lửa Hút ẩm’.
(3 lần)

Quán Tưởng

oṃ mahā-śūnyatā-jñāna-vajra-svabhāvātmako ’ham ||

Từ thể trạng của tánh không, ngay lập tức
Trên đĩa hoa sen và mặt trời,
Con thiền quán trên chính con như đại phẫn nộ Ucchuṣma,

Màu xanh đậm và chiếu ra những tia sáng,
Với hai tay tại tim con hiển thị thủ ấn đe dọa,
Và hoàn thành với tất cả những thuộc tính của một phẫn nộ heruka.
Qua sự phát ra và hoà nhập trở lại của những âm tiết tại ba trung tâm của con,

Chúng con mời tất cả những vị hoà bình và phẫn nộ tan biến vào trong chính con.
Tại tim con, trên đĩa hoa sen và mặt trời,
Là hạt giống âm tiết vây quanh bởi mantra, xoay vần như một vòng lửa.
Khi chúng con trì tụng mantra, bắn ra những tia sáng lung linh
Thiêu đốt hoàn toàn những sự lầm lỗi tai hại và đổ vỡ mật nguyện.

Quán Tưởng Điều Này Và Trì Tụng Mantra

om i sa ca taya torya torya soha | u ta mi ṭaya torya torya soha | mön ta krodhaya torya torya soha | a ka krodhaya torya torya soha | a bhu krodhaya torya torya soha | u ta sha taya torya torya soha | é ling é taya torya torya soha | la mön taya torya torya soha | a sa ni bi sa ni taya torya torya soha |
om bhur kur mahapranaya bhur ci bhur ki vimala ucchushma krodharaja hum pé | torya torya soha ||

Đối với việc thực hành hàng ngày, hãy niệm mantra một trăm lần hoặc nhiều hơn, trong im lặng. Đối với việc thực hành cách tiếp cận, hãy tích lũy mantra mười nghìn lần. Và để thực hành được thành tựu, hãy trì tụng mantra bốn mươi nghìn lần.

Khi bạn xuất thiền này, hãy kết luận với:

Qua công đức này, nguyện cho chúng con mau chóng
Thành tựu thực chứng của Ucchuṣma,
Và do thế nguyện cho mỗi một chúng sanh
Cũng đạt được thể trạng hoàn thiện như thế!

Kết thúc bằng những lời cầu nguyện về sự hồi hướng và nguyện vọng.

Nếu bạn muốn tạo ra nước tẩy uế, trước tiên hãy thực hiện sơ bộ việc quán tưởng và trì tụng như sự chuẩn bị. Một khi bạn đã gia trì cho nước bọt của mình thông qua việc trì tụng thần chú, hãy nhổ vào nước để được gia hộ, đồng thời hãy tưởng tượng nước bọt của bạn như một tia lửa hóa lỏng hòa tan vào nước, khiến nó sôi lên và có khả năng tẩy rửa. Nếu bạn và những người khác uống và rửa bằng nước này, tất cả các ô nhiễm và tạp chất sẽ được tẩy sạch.


Gia hộ cho các loại thảo mộc dùng để cúng dường hương khói, chẳng hạn như  cây bách xù, với câu mantra, và tương tự như những loại thảo mộc mọc ở những nơi linh thiêng, nhựa cây sāla, lá cờ ngọt (grass-leaf sweet flag), và ajania tenuifolia, và sử dụng chúng làm hương, là cách tốt nhất để thanh lọc phiền não. Các hướng dẫn chi tiết hơn về điều này có thể được tìm thấy trong các văn bản khác.

Đối với việc xua tan các phiền não samaya làm gián đoạn thực hành giai đoạn phát sinh, nó được nêu rõ:
Nếu không có phương pháp để xua tan mật nguyện nhiễm ô trong giai đoạn phát sinh,
Xung đột, hư hỏng mật nguyện, tạp chất,
Sự suy giảm sinh lực, và sự che khuất của tất cả các con đường và bhūmis có thể xảy ra.
Phương pháp tối cao để xua tan những phiền não này không gì khác chính là Bổn tôn yidam của bạn[1].


Như đã nói ở trên, tạo ra niềm tự hào về Kim cang thừa vững chắc cho bất kỳ vị bổn tôn yidam chính nào của bạn sẽ đủ để xua tan những hư hỏng về mật nguyện (samaya). Tuy nhiên, nếu bạn muốn tự quán tưởng với tư cách là Ucchuṣma, hãy thực hiện việc quán tưởng và trì tụng này sơ bộ. Sau đó trì tụng:

Một lần nữa, những tia sáng của lửa trí tuệ bắn ra
Từ ánh sáng hạt giống âm tiết toả ra trong tim tôi,
Thiêu đốt tất cả những sai phạm và bất tịnh của mật nguyện.
oṃ, bản chất của Tỳ Lô Giá Na, là cung điện Phật giới
āḥ, là bản chất của A Di Đà, là bảo tọa hoa sen và đĩa mặt trời.
hūṃ, là sự quán tưởng hoàn thành, trì tụng những âm tiết này.4

Visualize this accordingly, and recite as much as you can:

Quán Tưởng Điều Này Một Cách Phù Hợp Và Trì Tụng Nhiều Nhất Như Có Thể:
ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om ah hung
oṃ āḥ hūṃ

***

Kết Thúc Bằng Những Lời Cầu Nguyện Về Sự Hồi Hướng Và Nguyện Vọng
 
Thực hành cô đọng hàng ngày này được trích xuất từ kho tàng sâu sắc của Prajñāraśmi, bậc thuần hóa chúng sinh, bởi Jamyang Khyentsé Wangpo. Đức hạnh!

 Nguyên bản: Moonlight of Pacifying Amṛta
A Daily Visualization and Recitation for the Dispeller of All Samaya Corruptions and Pollutions
Tác giả:  Jamyang Khyentsé Wangpo
Anh dịch: Stefan Mang, ed. Libby Hogg, 2021
 Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính /10-8, 22-10, 2021




[1] Ở đây các âm tiết oṃ, āḥ và hūṃ đại diện cho các khía cạnh khác nhau của giai đoạn phát sinh. Oṃ, thân phật và bản chất của Vairocana, đại diện cho cung điện. Āḥ, lời nói của chư Phật và bản chất của Amitābha, đại diện cho chỗ ngồi. Hūṃ, tâm của chư Phật và bản chất của Akṣobhya, đại diện cho vị bổn tôn (được Lama Öpak làm rõ bằng truyền khẩu ).


Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2021

TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI

 




TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI

Nguyên bản: The Quest for Human Happiness
Hiệu đính: Rajiv Mehrotra
Việt dịch: Tuệ Uyển / Friday, October 8, 2021

***
NHỮNG TỪ NGỮ CHÂN THÀNH

Lời cầu nguyện được đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn của Tây Tạng sáng tác, Vinh Danh và Nguyện Cầu Tam bảo Đại Bi: Đức Phật, Giáo Huấn, và Cộng Đồng Tâm Linh.

***

Ô chư Phật, chư Bồ tát và các hàng đệ tử của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Có phẩm cách phi thường tuyệt diệu
Không thể đo lường như biển cả bao la
Những người đang quán sát chúng sinh
Như đứa con duy nhất không ai giúp đỡ
Xin thương tưởng lời nguyện cầu chân thành của chúng con.
Lời Phật dạy xua tan khổ đau cho trần thế
Hiển hiện và tự tỏa ánh hòa bình
Nguyện giáo nghĩa hiển dương lan tỏa phồn thịnh và hạnh phúc khắp cả thế giới này
Ô những người thủ trì giáo pháp và những ai thực hành thành tựu
Nguyện cho sự thực hành mười điều lành đức hạnh của các ngài chiếu soi
Những chúng sinh phước bạc bị đọa đày với khổ đau không bao giờ ngưng nghĩ bị che lấp hoàn toàn không dứt bởi những hành vi tiêu cực dữ dội vô cùng
Nguyện cho tất cả những sự sợ hãi từ chiến tranh không thể chịu đựng,đói khát, và bệnh tât được yên bình.
Để thở tự do trong đại dương của hạnh phúc và cát tường.
Và riêng cho những người hiếu đạo trên vùng đất tuyết’, qua nhiều ý nghĩa khác nhau, bị tàn hại một cách nhẫn tâm bởi lũ người tàn ác bên màn đen tối.
Nguyện từ ái để năng lực từ bi hưng khởi
Để nhanh chóng đẩy lui nước mắt và máu tuôn tràn.
Những kẻ nhẫn tâm tàn ác đó, đối tượng của từ bi,
Nổi điên cuồng vì ám ảnh của tai ương
Cố tình tàn hại kẽ khác và chính họ
Nguyện cho họ đạt được con mắt của từ bi
Thông suốt những gì phải được làm và không nên làm
Và tồn tại trong vinh quang của của hữu nghị và yêu thương.
Tâm nguyện này xin cho sự tự do hoàn toàn của Tây tạng
Điều được đợi chờ suốt cả thời gian dài
Được thanh thoát tự nhiên toại nguyện
Nguyện chóng được điều may mắn để mừng vui
Lễ hội hạnh phúc tinh thần với lệ thường trần thế
Ô đấng hộ vệ Quán Tự Tại, từ bi thương xót cho
Những ai đó đang chịu đựng vô vàn gian khổ
Hoàn toàn hy hiến cuộc sống thật đáng yêu, thân thể và tài vật, vì lợi ích của giáo nghĩa, hành giả, dân tộc và quốc gia.
Vì vậy, đấng hộ vệ Quán Tự Tại đã phát lời nguyện rộng sâu
Trước chư Phật, chư Bồ tát,
Để hoàn toàn hộ trì non nước Tuyết
Nguyện cho quả lành của những lời cầu nguyện này xuất hiện nhanh bởi sự thâm sâu của tương thuộc tính không và hình thể tương liên.
Kết hợp với năng lực của từ bi vĩ đại
trong ba ngôi tôn quý và những Từ ngữ của chân lý 
Và qua năng lực của quy luật không sai chạy của hành động và kết quả
Xin cho lời cầu nguyện chân thành này không bị trở ngại và nhanh chóng toại nguyện.

***


TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI

Tôi là một người tương đối mới đến với thế giới hiện đại. Mặc dù tôi đào thóat khỏi quê hương tôi lâu rồi từ năm 1959, và mặc dù đời sống của tôi từ lúc đó như một người tị nạn tại Ấn Độ đã đưa tôi tiếp xúc gần hơn với xã hội đương thời, nhiều năm của tôi phần lớn bị cắt rời khỏi những thực tế của thế kỷ hai mươi. Điều này là bởi vì tôi được chỉ định như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi đã trở thành tu sĩ vào lúc rất sớm. Nó cũng phản chiếu sự kiện rằng những người Tây Tạng đã chọn lựa – một cách sai lầm theo tôi thấy – duy trì sự cô lập phía sau những rặng núi cao vốn bị tách rời xứ sở chúng tôi với thế giới còn lại. Tuy nhiên, ngày nay, tôi đã du hành rất nhiều, và đó cũng là may mắn của tôi khi được gặp những người mới mẻ một cách liên tục.

Hơn thế nữa, những con người của tất cả mọi tầng lớp của cuộc sống đến gặp tôi. Rất nhiều – đặc biệt những người cố gắng thực hiện một nổ lực để du lịch đến vùng đồi núi Ấn Độ ở Dharamsala nơi tôi sống lưu vong đến để tìm kiếm điều gì đó. Giữa những người này là những người bị bệnh ung thư và AIDS. Rồi thì, dĩ nhiên, là những đồng bào Tây Tạng với những câu chuyện khốn khó và khổ đau. Bất hạnh thay, nhiều người có những mong ước không thực tế, cho rằng tôi có năng lực để chữa bệnh hay tôi có thể ban cho một loại phước lành nào đó.  Nhưng tôi chỉ là một con người bình thường. Điều tốt nhất mà tôi có thể làm là cố gắng để giúp đở họ bằng việc chia sẻ trong sự khổ đau của họ.

Về phần tôi, việc gặp gở với vô số người khắp thế giới và từ mọi tấng lớp của cuộc sống nhắc nhở tôi về căn bản giống nhau của chúng ta như những con người. Thực tế, càng thấy thế giới nhiều hơn, thì càng trở nên rõ ràng hơn rằng bất chấp hoàn cảnh chúng ta là gì, cho dù chúng ta giàu hay nghèo, có học vấn hay không, chủng tộc, giới tính, tôn giáo này hay kia, thì tất cả chúng ta đều khao khát được hạnh phúc và không muốn khổ đau. Mọi mục tiêu của hành động chúng ta, trong ý nghĩa của cả cuộc đời chúng ta, chúng ta lựa chọn để sống như thế nào trong phạm trù của những giới hạn bắt buộc bởi những hoàn cảnh của chúng ta, có thể được thấy như câu trả lời của chúng ta đến câu hỏi lớn đối diện tất cả chúng ta: “Làm sao tôi được hạnh phúc?”

Chúng ta kiên trì trong nhu cầu lớn cho hạnh phúc, dường như đối với tôi, là bằng hy vọng. Chúng ta biết, ngay cả nếu chúng ta không thừa nhận nó, thì không thể có gì bảo đảm cho một đời sống hạnh phúc hơn, tốt đẹp hơn là cuộc sống mà chúng ta có hiện tại. Như một thành ngữ cổ của Tây Tạng nói, “Cuộc sống kế hay ngày mai – chúng ta không bao giờ chắc chắn điều nào đến trước.” Nhưng chúng ta hy vọng để tiếp tục sống. Chúng ta hy vọng rằng qua hành động này hay nọ chúng ta có thể mang đến hạnh phúc. Mọi thứ chúng ta làm không chỉ như những cá nhân mà cũng trên cấp độ của xã hội, có thể được thấy trong dạng thức nguyện vọng căn bản này. Thực tế, nó là một điều được tất cả mọi chúng sanh chia sẻ. Khát vọng hay xu hướng hạnh phúc và không bị khổ đau được biết là không giới hạn. Đó là bản chất của chúng ta. Như thế ấy, không cần biện minh và được xác thực bởi sự kiện đơn giản là chúng ta muốn điều này một cách tự nhiên và đúng đắn.

Và điều này là chính xác với những gì chúng ta thấy trong xứ sở của chúng ta cả giàu và nghèo. Mọi nơi, bằng mọi phương tiện không thể tưởng tượng được, mọi người đang cố gắng để cải thiện đời sống của họ. Tuy nhiên một cách lạ lùng, ấn tượng của tôi là những người đang sống trong những xứ vật chất phát triển, đối với tất cả kỷ nghệ của họ, thì trong những cách nào đó kém hài lòng, ít hạnh phúc và một số khổ sở hơn những người sống ở những nước kém phát triển hơn. Thực tế, nếu chúng ta so sánh người giàu với người nghèo, thì thường thấy rằng những người không có gì, trong thực tế ít băn khoăn lo lắng hơn, mặc dù họ bệnh tật với những đau đớn khổ sở của thân thể. Đối với những người giàu, trong khi số ít biết sử dụng sự giàu có của họ một cách thông minh, phải nói là, không sống trong sự xa hoa mà biết chia sẻ nó với những người cần thiết – nhiều người không làm như vậy. Họ bị nhiễm quá nhiều với ý tưởng đòi hỏi hơn nữa rằng họ không có chỗ cho điều gì khác trong cuộc sống của họ. Trong sự miệt mài của họ, thì họ thật sự đánh mất giấc mơ của hạnh phúc, vốn với sự giàu có cung cấp. Như một kết quả, họ liên tục bị dày vò, bị giằng co giữa nghi ngờ về những gì có thể xảy ra và hy vọng có thêm nữa, và nổi khổ đau bệnh tật tinh thần và cảm xúc – mặc dù bên ngoài họ trông có vẻ hoàn toàn thành công và cuộc sống thoải mái. Điều này cho thấy rằng cả bởi cấp độ cao và bởi những quấy rầy phổ biến giữa những người ở những xứ phát triển vật chất về băn khoăn, bất toại, chán nản, không chắc chắn và căng thẳng. Hơn thế nữa, sự đau khổ nội tại này rõ ràng bị nối kết với sự lớn mạnh mơ hồ của những gì cấu thành một cách đạo đức và nền tảng của chúng là gì.

Tôi thường được nhắc lại nghịch lý này khi tôi ra ngoại quốc. Nó thường xảy ra khi tôi đến một xứ sở mới, ban đầu mọi thứ dường rất hài lòng, rất xinh đẹp. Mọi người tôi gặp gở rất thân mật. Không có gì để phàn nàn. Nhưng sau đó, ngày qua ngày khi tôi lắng nghe, tôi đã nghe những rắc rối của con người, sự quan tâm và lo lắng của họ. Ở dưới bề mặt, rất nhiều người cảm thấy không dễ dàng và không hài lòng với cuộc sống của họ. Họ trải nghiệm cảm giác cô lập; rồi theo đó là căng thẳng. Kết quả là không khí rắc rối như vậy vốn là một đặc trưng của thế giới phát triển.

Nghịch lý này nhờ đó nội tại – hay chúng ta có thể nói một cách tâm lý và cảm xúc – đau khổ thì rất thường thấy giữa sự dồi dào vật chất rõ ràng hiện hữu khắp nhiều nước phương Tây. Thực tế, nó cũng rất rộng rãi mà chúng ta có thể tự hỏi có điều gì đó trong nền văn hóa phương Tây vốn đưa đến những người sống ở đó đến những loại khổ đau như vậy. Điều này tôi nghi ngờ. Rất nhiều yếu tố đã liên hệ. Một cách rõ ràng, tự sự phát triển vật chất đóng một vai trò hoạt động. Nhưng chúng ta cũng có thể nêu ra sự đô thị hóa gia tăng của xã hội hiện đại, nơi mà những sự tập trung cao độ của những con người sống gần gũi với nhau. Trong phạm vi này, cho rằng ở nơi sự lệ thuộc của chúng ta với nhau để hổ trợ nhau, thì ngày nay, bất cứ nơi nào có thể, thì chúng ta có xu hướng nương tựa máy móc và những sự phục vụ. Trái lại trước đây, những người nông dân sẽ kêu gọi tất cả những thành viên trong gia đình để giúp đở với việc thu hoạch, ngày nay chỉ đơn giản là gọi những công ty làm việc ấy. Chúng ta thấy cuộc sống hiện đại được tổ chức như vậy vì thế nó chỉ đòi hỏi sự lệ thuộc rõ ràng tối thiểu có thể với những người khác. Khát vọng phổ quát nhiều hơn hay ít hơn dường như đối với mọi người là sở hữu ngôi nhà của chính họ, chiếc xe của chính họ, máy tính của chính họ và v.v…nhằm để như là độc lập như có thể. Điều này là tự nhiên và có thể hiểu được. Chúng ta cũng có thể chỉ ra sự gia tăng việc tự quản - tự do ý - chí mà mọi người thích thú như một kết quả tiến bộ trong khoa học và kỷ thuật. Trong thực tế, có thể là ngày nay chúng ta độc lập hơn bao giờ hết. Nhưng với những sự phát triển này, cũng phát sinh một cảm giác rằng tương lai của tôi sẽ không lệ thuộc vào hàng xóm của tôi mà đúng hơn là nghề nghiệp của tôi, nhất là, chủ nhân của tôi. Điều này hóa ra là khuyến khích chúng ta cho rằng những người khác không quan trọng cho hạnh phúc của tôi, hạnh phúc của họ là không quan trọng đối với tôi.

Trong cái nhìn của tôi, thì chúng ta đã tạo nên một xã hội mà trong đó chúng ta thấy ngày càng khó hơn để biểu lộ tình cảm căn bản cho nhau. Thay cho cảm nhận cộng đồng và quan hệ, thứ mà chúng ta thấy một sự trấn an như vậy của những xã hội giàu có (và nói chung là nông thôn), chúng ta thấy một cấp độ cao của cô độc và xa lánh. Mặc dù thật sự là hàng triệu người sống gần gũi với nhau, nhưng dường như rằng nhiều người, đặc biệt trong những người già, không có ai để nói chuyện ngoài những con thú của họ. Xã hội kỷ nghệ hiện đại thường làm tôi chú ý giống như là một bộ máy khổng lồ tự đẩy tới. Thay vì con người phụ trách, thì mỗi cá nhân là một thành phần nhỏ bé, không đáng kể không có lựa chọn nào khác hơn là chuyển động khi bộ máy chuyển động.

Rõ ràng, lý do quan trọng cho sự hết lòng của xã hội hiện đại với tiến trình vật chất là sự rất thành công của khoa học và kỷ thuật. Bây giờ, điều kỳ diệu về những hình thức này của nổ lực con người là chúng mang đến sự hài lòng ngay tức thời. Không như sự cầu nguyện, các kết quả phần lớn là không thấy – nếu thật sự việc cầu nguyện hoàn toàn có tác dụng. Và chúng ta ấn tượng bởi những kết quả. Điều gì bình thường hơn? Bất hạnh thay, sự tận tâm này khuyến khích chúng ta cho rằng những chìa khóa cho sự hạnh phúc là sự cát tường vật chất về một mặt và năng lực được trao bởi kiến thức về mặt khác. Và trong khi rõ ràng rằng với bất cứ người nào với tư tưởng thành thục này rằng chìa khóa cho sự hạnh phúc là sự cát tường về vật chất thì không thể tự mang đến hạnh phúc cho chúng ta, điều tiếp theo thì càng tệ hơn. Nhưng sự thật là, kiến thức không thôi không thể cung ứng hạnh phúc vốn xuất hiện từ sự phát triển nội tại chứ không liên hệ đến những nhân tố ngoại tại. Thực tế, mặc dù kiến thức rất chi tiết và đặc thù của những hiện tượng ngoại tại là một thành tựu vô biên, nhưng sự thúc đẩy để giảm thiểu, thu hẹp để theo đuổi nó, còn lâu mới mang lại hạnh phúc cho chúng ta có thể thật sự là nguy hiểm. Nó có thể làm cho chúng ta xa rời thực tế rộng lớn hơn của kinh nghiệm con người, và trong đặc thù, sự lệ thuộc của chúng ta với những người khác.

Chúng ta cũng cần nhận ra những gì xảy ra khi chúng ta lệ thuộc quá nhiều vào những thành tựu ngoại tại của khoa học. Thí dụ, như ảnh hưởng của những sự suy đồi tôn giáo, có sự gia tăng bối rối liên quan đến vấn đề chúng ta điều khiển mình trong cuộc sống như thế nào. Trong quá khứ, tôn giáo và đạo đức hòa quyện vào nhau. Bây giờ, nhiều người, tin tưởng rằng khoa học đã “bác bỏ” tôn giáo, cho nên họ càng kiêu ngạo hơn rằng bởi vì không có những bằng chứng cuối cùng nào cho bất cứ thẩm quyền của tâm linh nào, thì đạo đức tự nó phải là một vấn đề ưu tiên của cá nhân. Và trái lại trong quá khứ, những nhà khoa học và triết học cảm thấy một nhu cầu thúc ép để tìm ra những nền tảng cụ thể mà trên đó thiết lập những luật lệ bất biến và những lẽ thật tuyệt đối, thì bây giờ loại tìm kiếm như vậy là vô ích. Như một kết quả, chúng ta thấy một sự đảo ngược hoàn toàn, hướng đến cực đoan đối kháng, nơi mà không có gì tuyệt đối tồn tại nữa, nơi mà thực tại tự nó bị đặt câu hỏi. Điều này chỉ dẫn đến hổn loạn.

Nói như vậy, tôi không có ý phê phán nổ lực của khoa học. Tôi đã biết rất nhiều từ việc chạm trán với những nhà khoa học, và tôi thấy không có trở ngại gì để dấn thân trong việc đối thoại với  họ ngay cả khi quan điểm của họ là một thứ chủ nghĩa vật chất. Thực tế, cho đến khi mà tôi có thể nhớ, thì tôi đã rất hào hứng bởi cái nhìn sâu sắc của khoa học. Như một đứa trẻ, có một thời khi mà tôi đúng là quan tâm hơn trong việc tìm hiểu về cơ cấu của một máy chiếu phim cũ mà tôi thấy trong kho của cung điện mùa hè của Đạt Lai Lạt Ma hơn là những bài học tôn giáo và học thuật. Sự quan tâm của tôi đúng hơn là chúng ta có thể bỏ qua những giới hạn của khoa học. Trong việc thay thế tôn giáo như là nguồn cuối cùng của kiến thức trong sự đánh giá thông thường, thì khoa học bắt đầu nhìn tự nó hơi giống như một loại tôn giáo khác.Với điều này đi đến một hiểm họa tương tự trên phần của một điều gì đó của những môn đồ của nó của một niềm tin mù quáng trong những nguyên lý của nó, và, một cách tương ứng, không bao dung những quan điểm loại trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, sự hất cẳng tôn giáo đã xảy ra là không có gì ngạc nhiên cho những thành tựu ngoại lệ của khoa học. Ai mà không ấn tượng về năng lực của chúng ta đã đưa con người đặt chân lên mặt trăng? Nhưng vấn đề tồn tại rằng, thí dụ nếu chúng ta đi đến một nhà khoa học nguyên tử và nói, “tôi đang đối diện một vấn đề khó xử, tôi nên làm gì?” người ấy có thể chỉ lắc đầu và đề nghị chúng ta tìm nơi nào khác cho câu trả lời. Nói một cách tổng quát, một nhà khoa học có một vị trí không hơn gì một luật sư trong trường hợp này. Vì trong khi cả khoa học và luật học có thể giúp chúng ta dự báo trước hậu quả có thể có trong các hành động của chúng ta, nhưng không thể nói vấn đề chúng ta phải làm thế nào trong một ý nghĩa đạo đức. Hơn thế nữa, chúng ta cần nhận ra những giới hạn của khoa học trong chính câu hỏi. Thí dụ, mặc dù chúng ta đã nhận thấy ý thức con người hàng thiên niên kỷ, và mặc dù nó đã là chủ đề của sự thẩm tra suốt chiểu dài của lịch sử, mặc cho những nổ lực tối đa của các nhà khoa học thì họ vẫn không thấu hiểu nó thật sự là gì, hay tại sao nó tồn tại, nó thể hiện chức năng như thế nào, hay bản chất cơ bản của nó là gì. Khoa học không thể nói với chúng ta nguyên nhân căn bản của ý thức là gì, cũng không thể nói những ảnh hưởng của nó là gì. Dĩ nhiên, ý thức thuộc về loại hiện tượng không có hình tướng, vật chất hay màu sắc. Nó không dễ bị khảo sát bởi những phương tiện ngoại tại. Nhưng điều này không có nghĩa là những thứ như vậy không tồn tại, chỉ đơn thuần khoa học thì không thể tìm thấy chúng.

Do vậy, chúng ta có nên từ bỏ những thẩm tra của khoa học trên cơ sở đã làm chúng ta thất vọng không? Chắc chắc là không. Cũng không có nghĩa là tôi cho rằng mục tiêu cho sự thịnh vượng vì tất cả chúng ta là vô giá trị. Do bởi bản chất của tất cả chúng ta, những kinh nghiệm thân thể và vật lý đóng một vai trò ưu thắng trong đời sống của chúng ta. Những thành tựu của khoa học và kỷ thuật rõ ràng phản chiếu mong muốn của chúng ta đạt được một sự tồn tại tốt đẹp hơn và thoải mái hơn. Điều này là rất tốt. Ai mà không vổ tay ca ngợi cho nhiều tiến bộ của y dược hiện đại?

Cùng lúc, tôi nghĩ thật chân thành rằng những thành viên của những cộng đồng thôn dã truyền thống nào đó thật sự hưởng thụ sự hòa hợp lớn hơn và tĩnh lặng hơn với cư ngụ trong những thành phố hiện đại của chúng ta. Thí dụ, trong vùng Spiti ở bắc Ấn Độ, vẫn duy trì phong tục cho những cư dân địa phương là không khóa cửa nhà của họ khi đi ra ngoài. Họ nghĩ rằng một khách viếng thăm thấy nhà trống vắng sẽ đi vào và tự làm thức ăn trong khi chờ đợi gia đình trở về. Điều như vậy cũng từng tồn tại trong thời xưa ở Tây Tạng. Điều này không nói rằng không tội phạm trong những vùng như vậy. Như trong trường hợp của Tây Tạng bị chiếm đóng, những thứ như vậy dĩ nhiên xảy ra thỉnh thoảng.  Nhưng khi họ làm như vậy, người ta sẽ cau mày trong ngạc nhiên. Nó là một sự kiện hiếm hoi và bất thường. Với sự đô thị hóa đã đi đến sự bất hòa hợp.

Tuy nhiên, chúng ta phải thật cẩn thận không lý tưởng hóa những cung cách sống xưa cũ. Trình độ hợp tác cao mà chúng ta thấy trong những cộng đồng thôn dã kém phát triển có thể là những nơi dựa trên nhu cầu nhiều hơn là thiện chí. Người ta nhận ra nó như một giải pháp thay thế cho khó khăn lớn hơn. Và sự toại nguyện mà chúng ta nhận thức có thể có nhiều để làm với sự không biết. Những người này có thể không nhận hay tưởng tượng rằng có bất cứ cung cách sống nào khác của cuộc sống là có thể. Nếu họ biết, rất có thể họ nắm lấy nó một cách hăng hái. Sự thử thách mà chúng ta đối diện do đó là việc tìm ra một phương pháp nào đó để hưởng thụ cùng cấp độ hòa hợp và tĩnh lặng như những cộng đồng truyền thống hơn đó trong khi hoàn toàn lợi lạc với những sự phát triển vật chất của thế giới như chúng ta thấy nó vào lúc bình minh của thiên niên kỷ mới. Bằng khác hơn nó hàm ý rằng những cộng đồng này không nên cố gắng ngay cả cải thiện tiêu chuẩn đời sống của họ. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng, thí dụ, đại đa số người du mục Tây Tạng sẽ rất vui mừng để có quần áo giữ nhiệt mới nhất cho mùa đông, nhiên liệu không khói để nấu ăn, những lợi ích của thuốc men hiện đại và những máy truyền hình di động trong những căn lều của họ. Và tôi là một người sẽ không mong phủ nhận những thứ này của họ. Xã hội hiện đại, với tất cả những lợi ích và nhược điểm của nó, đã nổi bật lên trong bối cảnh của vô số nguyên nhân và điều kiện. Cho rằng chỉ đơn thuần bằng việc từ bỏ tiến trình vật chất thì chúng ta có thể vượt qua tất cả những rắc rối của thời đại sẽ là thiển cận. Như vậy sẽ bỏ qua những nguyên nhân tiềm tàng của chúng. Bên cạnh đó, vẫn có nhiều điều tích cực trong thế giới hiện đại.

Có vô số người trong những nước phát triển nhất rất năng động trong sự quan tâm của họ cho người khác. Gần nhà hơn, tôi nghĩ về lòng ân cần tử tế lớn lao mà những người Tây Tạng tị nạn được cho thấy bởi những người mà tài nguyên cá nhân cũng rất giới hạn. Thí dụ, những trẻ em Tây Tạng đã lợi lạc không kể xiết từ những đóng góp vô ngã của những giáo viên Ấn Độ, nhiều người buộc phải sống dưới những điều kiện khó khăn xa nhà của họ. Trên mức độ rộng hơn, chúng ta cũng có thể quan tâm đến nhận thức ngày càng lớn mạnh về những quyền con người cơ bản khắp mọi nơi trên thế giới. Điều này cho thấy một sự phát triển rất tích cực trong cái nhìn của tôi. Cung cách mà trong ấy mà cộng đồng quốc tế đáp ứng chung đến những thảm họa thiên nhiên với sự giúp đở tức thời cũng là một đặc trưng tuyệt vời của thế giới hiện đại. Sự thừa nhận gia tăng rằng chúng ta không bao giờ có thể tiếp tục ngược đãi môi trường tự thiên nhiên của chúng ta mà không đối diện với những hậu quả nghiêm trọng như một nguyên nhân cho hy vọng. Hơn thế nữa, tôi tin rằng, việc cảm ơn rộng rãi cho sự đối thoại hiện đại, con người chắc chắn chấp nhận hơn cho sự đa dạng hiện tại. Và những tiêu chuẩn của trình độ học vấn và giáo dục khắp thế giới nói chung là cao hơn trước đây. Những phát triển tích cực như vậy tôi xem như là một biểu hiện của những gì con người có thể làm được.

Mới đây, tôi đã có cơ hội để gặp Mẹ của Nữ Hoàng Anh Quốc. Bà đã là một nhân vật quen thuộc suốt cuộc đời tôi, cho nên điều này đã cho tôi một niềm vui lớn.  Nhưng điều hào hứng là được nghe ý kiến của bà, như một phụ nữ già của chính thế kỷ hai mươi, là người ta đã trở nên tỉnh thức hơn về những người khác hơn là khi bà ta còn trẻ. Trong những ngày đó, bà nói, người ta quan tâm chính yếu trong xứ sở của họ, trái lại ngày nay có nhiều quan tâm cho những cư dân của các quốc gia khác. Khi tôi hỏi bà rằng bà có lạc quan về tương lai không, thì bà đã trả lời một cách khẳng định không chút do dự.

Tuy nhiên, không giống như những khổ đau của bệnh tật, tuổi già và sự chết, không rắc rối nào trên đây là bởi tự nhiên không tránh khỏi. Chúng cũng không phải do thiếu kiến thức. Khi chúng ta suy nghĩ một cách cẩn thận, thì chúng ta thấy rằng tất  cả chúng là vấn nạn đạo đức. Mỗi thứ trong chúng phản chiếu sự thấu hiểu của chúng ta về những gì đúng và sai, về những gì tích cực và những gì tiêu cực, về những gì thích đáng và không thích đáng. Nhưng vượt qua điều này thì chúng ta có thể chỉ đến điều gì đó căn bản hơn: sự quên lãng về những gì chúng ta gọi là không gian bên trong chúng ta.

Tôi muốn nói gì qua điều này? Theo sự thấu hiểu của tôi, sự nhấn mạnh quá mức về những thành tựu vật chất của chúng ta phản chiếu một sự kiêu hảnh tiềm tàng rằng, những gì nó có thể mua có thể bằng tự chính nó, cung cấp chúng ta với tất cả sự hài lòng mà chúng ta yêu cầu. Tuy thế tự nhiên, thì sự hài lòng của thành tựu vật chất có thể cung ứng cho chúng ta sẽ bị giới hạn với trình độ của cảm giác. Nếu đúng là con người chúng ta không khác với thú vật, thì điều này sẽ tốt thôi. Tuy nhiên, chủng loại của chúng ta là phức tạp – trong đặc thù, sự kiện rằng những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta cũng như sự tưởng tượng và năng lực phê bình – rõ ràng rằng những nhu cầu của chúng ta vượt lên trên cảm giác đơn thuần. Sự phổ biến của băn khoăn, căng thẳng, bối rối, không chắc chắn và chán nản trong những người mà nhu cầu căn bản của họ đã gặp là một biểu thị rõ ràng cho điều này. Những rắc rối của chúng ta, cả những trải nghiệm ngoại tại – chẳng hạn như chiến tranh, tội ác và bạo động và những thứ chúng ta kinh nghiệm bên trong – những khổ đau cảm xúc và tâm lý – là không thể giải quyết cho đến khi chúng ta nói về sự quên lãng tiềm tàng này. Đó là tại sao những vận động lớn của một trăm năm qua và hơn nữa – dân chủ, giải phóng, chủ nghĩa xã hội – tất cả đều thất bại để đem lại lợi ích chung mà đáng lẻ chúng phải cung ứng, mặc dù có rất nhiều ý tưởng tuyệt vời. Một cuộc cách mạng được kêu gọi, một cách chắc chắn. Nhưng không phải là một cuộc cách mạng chính trị, kinh tế hay cả một cuộc cách mạng kỷ thuật. Chúng ta đã có đủ kinh nghiệm về những thứ này trong suốt thế kỷ trước để biết rằng một sự tiếp cận ngoại tại sẽ không đủ. Điều tôi đề xuất là một cuộc cách mạng tâm linh.

***

Ẩn tâm lộ, Friday, October 15, 2021

Trích từ quyển The Essential Dalai Lama



 

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

THỰC HÀNH HÀNG NGÀY CỦA KIM CANG PHỔ BA

 

THỰC HÀNH HÀNG NGÀY CỦA VAJRAKĪLA


 

Āḥ! Sự tỉnh thức hiện tại này, thoát khỏi tâm nhận thức,
Thậm thâm và rực sáng như bầu trời,
Là bản chất chân thật của bổn tôn thần thể.
Không có thuộc tính, như khuôn mặt hay cánh tay, để bám víu vào.

Quả cầu lớn là thân kim cang -
Kim Cang Phổ Ba (Vajrakumāra) đồng tử, bậc không già hay ốm yếu,
Nhưng duy trì ổn định mãi mãi, hiển bày sự hiện diện đoàn tuỳ tùng hoàn hảo và hiện diện một cách tự nhiên của ngài::

Tất cả xuất hiện là hiện tướng của bổn tôn:
Tất ca âm thanh là Kīla đại lạc:
Tất cả tư tưởng là tâm của phẫn nộ kim cang.
Tất cả hiện tướng, âm thanh và tỉnh thức hình thành
Những thân và thế giới mandala của bổn tôn.

om benza kili kilaya sarva bighanen bam hung phet dzah hung ah
oṃ vajra kīli kīlaya sarva vighnān baṃ hūṃ phaṭ | jaḥ hūṃ āḥ

Nguyện cầu cho nguyện vọng và hồi hướng
Từ Kīla Tantra: sự hoàn toàn tịnh hoá sân hận


Nguyện cho chúng con mãi tái sanh, trong gia đình của những heruka,
với Kim Cang Phổ Ba vô tỉ như sự hướng dẫn của chúng con,
Tâm chúng con được phú cho lòng từ bi,
Và với lòng sùng mộ sâu sắc với đạo sư!

Nguyện cho chúng con được mãi mãi sanh ra, để cầm chày kim cang và đao phổ ba (kīla),
Để học hỏi giáo pháp thậm thâm,
Và, không có bất cứ sự phân biệt nào,
Để cùng chia sẻ cam lồ của hoàng hậu!

Sau đó:
Qua công đức này, nguyện cho chúng con và tất cả chúng sanh,
Đạt được chiến thắng đối với ma vương, và vượt thắng tất cả những chướng ngại
Và chắc chắn thành tựu đạo quả giác ngộ -
Niết bàn vô thượng của Kim Cang Phổ Ba.

***
Vì vậy, hãy hồi hướng công đức hướng tới giác ngộ tối thượng, và niêm phong việc thực hành bằng những lời nguyện cầu nguyện vọng sâu sắc
 
Anh dịch: Rigpa Translations, with many thanks to Lama Chökyi Nyima (Richard Barron).
Việt dịch: Tuệ Uyển / 28-7-2021