Thứ Hai, 12 tháng 12, 2022

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA VÀ ẤN ĐỘ


Nguyên tác:The Dalai Lama and India
Tác giả: Dalip Mehta
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn

***

Trong 44 năm qua, Ấn Độ đã may mắn có được sự hiện diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên lãnh thổ của mình.
Ấn Độ từ lâu đã nổi tiếng là vùng đất nơi các nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại phát triển mạnh mẽ; một vùng đất nơi những người bị bức hại đã tìm được nơi ẩn náu và cuối cùng làm nhà của họ, thêm một mảnh nữa vào bức tranh khảm phong phú đó là xã hội đa văn hóa, đa dạng của Ấn Độ. Sự xuất hiện của Đức Đạt Lai Lạt Ma vào tháng 3 năm 1959, theo sau là hàng ngàn người dân của Ngài đã cung cấp bằng chứng đáng hoan nghênh rằng những truyền thống quý giá này vẫn còn tồn tại.

Ở đất nước của mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma được tôn kính như một vị Thánh Vương, nhưng ít được biết đến bên ngoài.
Trong những năm dài sống lưu vong ở Ấn Độ, Ngài đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo được yêu mến và kính trọng nhất thế giới. Đáng chú ý không kém, Ngài đã thành công trong việc duy trì những khát vọng và hy vọng của người dân Tây Tạng và bảo tồn nền văn hóa độc đáo của Tây Tạng. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ tế nhị là tuân thủ các nguyên tắc của mình, đồng thời không gây nguy hiểm cho lợi ích của quê hương cho tị nạn. Và Ngài đã đảm bảo rằng cộng đồng người Tây Tạng hải ngoại, không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở những nơi khác trên thế giới, đã phát triển và tiến bộ trong thế giới hiện đại, ngay cả khi vẫn duy trì nguồn gốc từ truyền thống của họ. Trong cuộc tìm kiếm ‘tự do lưu vong’ ở Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma có lẽ đã đạt được nhiều hơn những gì Ngài có thể đạt được nếu số phận không buộc Ngài phải chạy trốn khỏi Tây Tạng.

Cuộc xâm lược và chiếm đóng Tây Tạng của Tàu Cộng vào năm 1950, và sự đàn áp tàn bạo của nước này đối với cuộc nổi dậy của dân tộc Tây Tạng ở Lhasa vào năm 1959 cuối cùng đã thuyết phục được Đức Đạt Lai Lạt Ma xin tị nạn chính trị ở Ấn Độ.
Trong những năm hỗn loạn sau đó, người Tàu Cộng đã phá hủy một cách có hệ thống nền văn hóa và văn minh của Tây Tạng với hy vọng rằng nó sẽ trở thành một khu vực không thể phân biệt được nữa của Cộng hòa Nhân dân, đánh mất bản sắc riêng biệt và khác biệt của nó.

Có nhiều quan điểm khác nhau về tình trạng pháp lý của Tây Tạng, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma và những người khác đã lập luận một cách thuyết phục rằng trong suốt lịch sử của mình, Tây Tạng vẫn là một quốc gia độc lập và rằng nó chưa bao giờ là một phần của bất kỳ quốc gia nào khác, mặc dù giống như nhiều quốc gia khác bị xâm lược và lần lượt chiếm đóng các lãnh thổ thuộc về các quốc gia khác.
Do đó, người Tây Tạng đã thất vọng cay đắng khi vào năm 1954, Ấn Độ ký một thỏa thuận với Tàu Cộng công nhận Tây Tạng là một phần của Trung Hoa. Khi làm như vậy, Ấn Độ, theo một nghĩa nào đó, đã thay đổi bản sắc chính trị và lịch sử của Tây Tạng. Bằng cách mô tả Tây Tạng trong một thỏa thuận chính thức là 'khu vực Tây Tạng của Trung Hoa’, chủ quyền của Trung Hoa đối với Tây Tạng đã được trao cho tính hợp pháp.

Tuy nhiên, yêu cầu xin tị nạn của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được chính phủ của Nehru chấp thuận ngay lập tức, chính phủ này đã tiếp đón Ngài một cách vinh dự khi Ngài đến vào cuối tháng 3 năm 1959, và chính tại Ấn Độ, Ngài đã tiếp tục sống kể từ đó, truyền cảm hứng cho người dân của Ngài, cả bên trong Tây Tạng và bên ngoài, và giữ cho tinh thần tự do của họ tồn tại.
Quyết định của Nehru thật sự là một quyết định dũng cảm, vì ông hoàn toàn nhận ra rằng mối quan hệ vốn đã khó khăn với Tàu Cộng  sẽ còn phức tạp hơn vào thời điểm mà ông tin rằng tình hữu nghị giữa Ấn Độ và Trung Hoa là điều cần thiết cho hòa bình ở châu Á. Mặc dù việc cấp quy chế tị nạn cho Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là lý do duy nhất khiến quan hệ giữa hai nước trở nên xấu đi, nhưng nó vẫn tiếp tục là nguồn gốc của xích mích trong nhiều năm và là điều mà Tàu Cộng không bao giờ tha thứ cho Ấn Độ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma rời quê hương với sự miễn cưỡng lớn nhất và nhiều cuộc tranh luận giữa các cố vấn của Ngài, vì không phải là một quyết định dễ dàng khi bỏ lại sau lưng sáu triệu đồng bào, những người coi Ngài như vị thần và vị vua của họ, và trong những thời điểm khó khăn, là vị cứu tinh và niềm hy vọng duy nhất của họ.
Tuy nhiên, niềm tin của Đức Đạt Lai Lạt Ma rằng Ngài có thể làm được nhiều điều hơn cho người dân và đất nước của mình từ sự tự do mà Ngài sẽ được hưởng ở Ấn Độ hơn là những ràng buộc ngột ngạt do Tàu Cộng đặt ra cho Ngài ở Lhasa, điều cuối cùng đã thuyết phục Ngài rời khỏi đất nước của mình.

Ở tuổi 24, Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy mình khác xa với thế giới trung cổ kín mít mà ngài đã bỏ lại phía sau ở Tây Tạng, và dấn thân vào những mối quan hệ phức tạp giữa các quốc gia ở cấp độ cao nhất, nơi mà những người tham gia đều cao chót vót tư cách như Nehru, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai trong số những người khác.
Trong thế giới này, Đức Đạt Lai Lạt Ma thiếu kinh nghiệm đã tìm cách đạt được hai mục tiêu là độc lập cho Tây Tạng, bảo tồn và tiếp nối các truyền thống tôn giáo và văn hóa của đất nước mình. Ngài đã sớm nhận ra trong sự nghiệp chính trị của mình rằng bạo lực và vũ lực không bao giờ có thể đánh bại được sức mạnh của Tàu Cộng. Ngài đã học được từ Mahatma Gandhi, người mà Ngài vô cùng ngưỡng mộ, rằng bất bạo động là cách duy nhất để tiến hành chính trị và không phải là một phản ứng thụ động, nó là một trong những can đảm đạo đức tuyệt vời và hiệu quả hơn nhiều so với việc sử dụng vũ lực.

Ngay sau khi đến Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thành lập Chính phủ Lưu vong của mình, và mặc dù chưa bao giờ được chính phủ Ấn Độ chính thức công nhận, nhưng nó đã được phép hoạt động mà không bị cản trở.
Như chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói, chính phủ Ấn Độ thường phản đối kịch liệt quan điểm của Ngài nhưng chưa bao giờ làm bất cứ điều gì để ngăn cản Ngài giữ quan điểm đó, cũng như việc bày tỏ quan điểm đó. Không có sự can thiệp nào từ Delhi về cách Ngài và những người Tây Tạng nên cư xử trong cuộc sống của họ như thế nào. Như Nehru đã nói với Ngài, Ấn Độ là một quốc gia tự do nên Ngài có 'hoàn toàn tự do làm theo lương tâm của mình'. Ngày nay, chính phủ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, được gọi là Chính quyền Trung ương Tây Tạng, hoạt động với mọi mục đích như một cơ quan hướng dẫn cuộc sống của hơn 100.000 người Tây Tạng hải ngoại sống rải rác ở hàng chục quốc gia.

Trong nhiều năm, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tiếp xúc với mọi thủ tướng của Ấn Độ độc lập.
Mối quan hệ với một số vị thì thân mật, trong khi với những vị khác thì nghi thức và phải lẽ. Tuy nhiên, không có ngoại lệ, tất cả họ đều đánh giá cao Ngài. Trong số các nhân vật chính trị Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đặc biệt nhớ lại mối quan hệ của Ngài với Rajagopalachari, Rajendra Prasad, Jaya Prakash Narayan và Acharya Kripalani. Ngài coi Lai Bahadur Shastri là một nhà lãnh đạo xuất sắc, người đã để lại ấn tượng mạnh mẽ cho Ngài. Mối quan hệ của Ngài với Nehru, thường phức tạp bởi những ràng buộc chính trị khác nhau, đôi khi dẫn đến chán chường và thất vọng, nhưng không làm mất đi sự ngưỡng mộ của Ngài đối với một người đàn ông có lòng nhân đạo, chủ nghĩa tự do và lòng hào hiệp. Ngài cũng có mối quan hệ cá nhân thân thiết với Indira Gandhi, người thường tâm sự với Ngài, ngay cả về các vấn đề quốc gia.

Trong tất cả các giao dịch của mình với giới lãnh đạo Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn ghi nhớ những vấn đề nhạy cảm và lợi ích quốc gia của Ấn Độ, ngay cả khi theo đuổi các mục tiêu của riêng mình, và đã không ngừng bày tỏ sự đánh giá cao của mình đối với sự nồng hậu và lòng hiếu khách mà ông đã nhận được từ người dân và chính phủ Ấn Độ.
Chính trong những tương tác ban đầu với Nehru, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có trải nghiệm đầu tiên về thế giới khắc nghiệt của chính trị thực dụng, nơi mà những cân nhắc về luân lý và đạo đức thường phải hướng tới những mệnh lệnh thực dụng hơn như an ninh quốc gia. Trong khi đánh giá rất cao chủ nghĩa nhân văn của Nehru và mối quan tâm thật sự của ông đối với phúc lợi của người dân Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận ra rằng đối với Nehru, mối quan hệ với Trung Hoa có ưu tiên cao hơn. Tuy nhiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma không bao giờ quên rằng chính Nehru là người đã đưa ra quyết định quan trọng và, theo một nghĩa nào đó, có tính chất cứu mạng là cho phép ông được tị nạn ở Ấn Độ, hoàn toàn nhạy cảm với những hậu quả của nó, và giúp tái định cư cho hơn 80.000 người tị nạn Tây Tạng đã vượt biên sang Ấn Độ.

Trong nhiều năm, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đưa ra nhiều đề nghị với giới lãnh đạo Tàu Cộng với hy vọng đảm bảo lợi ích hợp pháp của đất nước mình trong phạm vi mà Ngài cho là thực tế và có thể chấp nhận được đối với Tàu Cộng.
Ví dụ, trong bài phát biểu trước Quốc hội Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1987, Ngài đã vạch ra Kế hoạch Hòa bình Năm điểm mà Ngài tiếp tục tin rằng có thể là cơ sở cho một giải pháp lâu dài cho vấn đề Tây Tạng. Nó kêu gọi biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình và bất bạo động, từ bỏ việc di chuyển dân số đang làm thay đổi đặc điểm nhân khẩu học của Tây Tạng, tôn trọng các quyền con người và tự do dân chủ cơ bản của người dân Tây Tạng, bảo vệ môi trường của Tây Tạng, chấm dứt việc sử dụng Tây Tạng cho tất cả các hoạt động hạt nhân và cuối cùng là bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc về tình trạng tương lai của Tây Tạng và các mối quan hệ giữa các dân tộc Hoa - Tạng. Tất cả những gợi ý hợp lý, nhưng Tàu Cộng đã phản ứng bằng cách cáo buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma âm mưu chia cắt đất nước.

Sự không khoan nhượng của Tàu Cộng đã dẫn đến sự cắt đứt hoàn toàn các liên hệ trong một thập niên, cho đến chuyến thăm vào tháng 9 năm 2002 của các phái viên của Đức Đạt Lai Lạt Ma tới Bắc Kinh.
Theo quan điểm của người Tây Tạng, chuyến thăm nhằm giải thích cho giới lãnh đạo Tàu Cộng điều mà từ đó được gọi là Phương Pháp Tiếp Cận Trung Đạo của Đức Đạt Lai Lạt Ma, về bản chất kêu gọi sự tự trị của Tây Tạng trong Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã vạch ra sự khác biệt giữa tự do và độc lập, với chủ nghĩa thực dụng đặc trưng của mình, ngài nhận ra rằng độc lập hoàn toàn không còn khả thi nữa. Theo Phương pháp Trung đạo, Trung Quốc sẽ kiểm soát các chính sách đối ngoại và quốc phòng của Tây Tạng trong khi chính quyền nội bộ, văn hóa, tôn giáo và kinh tế sẽ được giao cho người Tây Tạng. Nói cách khác, Đức Đạt Lai Lạt Ma không còn kêu gọi sự độc lập và tách rời Tây Tạng khỏi Trung Hoa, nhưng Cách Tiếp Cận Trung Đạo của Ngài mang lại quyền tự trị thật sự cho toàn bộ khu vực Tây Tạng và sáu triệu người dân của nó, để họ có thể bảo tồn nền văn hóa đặc trưng, tôn giáo và lối sống của mình.

Trong tuyên bố hàng năm vào ngày 10 tháng 3, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về sự cần thiết của đối thoại như là 'cách hợp lý, thông minh và nhân văn duy nhất để giải quyết những khác biệt' và 'để bỏ lại đằng sau hàng thập kỷ cay đắng, ngờ vực và oán hận và hình thành một mối quan hệ mới dựa trên bình đẳng, hữu nghị và cùng có lợi.'
Như Ngài đã chỉ ra, ‘khi nhìn khắp thế giới, chúng ta không thể không nhận thấy những xung đột không được giám sát về nguồn gốc sắc tộc có thể bùng phát theo những cách khiến chúng trở nên cực kỳ khó giải quyết.’ Ngài hy vọng rằng ban lãnh đạo mới của Tàu Cộng sẽ có cái nhìn nhân đạo và thích ứng hơn đối với những nguyện vọng của Tây Tạng như được thể hiện trong Phương Pháp Tiếp Cận Trung Đạo. Tàu Cộng, tuy nhiên, vẫn còn khó hiểu. Có những người tin rằng Tàu Cộng chỉ đang câu giờ và sẵn sàng đợi cho đến khi Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại qua đời để sau đó họ có thể cài đặt một người kế vị do họ lựa chọn, người sẽ thực hiện mệnh lệnh của họ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thành công phi thường trong việc khơi dậy lương tâm của thế giới đối với hoàn cảnh khó khăn của người dân và đất nước của Ngài.
Vấn đề Tây Tạng nằm rất nhiều trong chương trình nghị sự của thế giới mặc dù các chính phủ vẫn không ủng hộ hoàn toàn. Các tổ chức phi chính phủ ủng hộ chính nghĩa của Tây Tạng đã mọc lên như nấm, chẳng hạn như Chiến dịch Quốc tế cho Tây Tạng, nhằm tìm cách tác động đến các chính sách của các chính phủ khác nhau để hỗ trợ 'nguyện vọng chính đáng của người dân Tây Tạng'. Nỗ lực bền bỉ, thầm lặng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, không có luận chiến hay khiêu khích, đã giành được bạn bè và những người ủng hộ người Tây Tạng trên khắp thế giới. Năng lượng không mệt mỏi đã đưa Ngài đến các quốc gia trên toàn cầu, kiên nhẫn giải thích, tìm kiếm sự hiểu biết và hỗ trợ cho mục tiêu của Ngài, không có một chút dấu vết của sự thù hận hay đổ lỗi. Cách tiếp cận hòa bình và bất bạo động của Ngài trong việc cố gắng giải quyết ngay cả vấn đề nan giải nhất này đã giúp Ngài đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1989, giải thưởng này cũng tượng trưng cho sự công nhận của quốc tế đối với tất cả các giá trị tinh thần sâu sắc mà Ngài đại diện. Trích dẫn nói rằng, ‘Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát triển triết lý hòa bình của mình từ sự tôn kính lớn lao đối với tất cả mọi sinh vật sống và dựa trên khái niệm về trách nhiệm phổ quát, bao trùm tất cả nhân loại cũng như thiên nhiên.’

Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng những ý tưởng của Ngài về trách nhiệm toàn cầu đã phát triển từ các truyền thống cổ xưa của Ấn Độ, và rằng với tư cách là một tu sĩ Phật giáo, toàn bộ quá trình tu tập của Ngài đều bắt nguồn từ văn hóa Ấn Độ.
Đối với Ngài, Ấn Độ về mọi mặt là quê hương tinh thần của Ngài. Như Ngài chỉ ra, Phật giáo đã đến Tây Tạng từ Ấn Độ cùng với nhiều ảnh hưởng văn hóa quan trọng khác. Ngài thậm chí còn đi đến mức nói rằng theo ý kiến của Ngài, Ấn Độ có yêu cầu đối với Tây Tạng tốt hơn so với Trung Quốc, 'nước có ảnh hưởng tốt nhất lại chỉ quá sơ sài’. Đức Đạt Lai Lạt Ma thích mối quan hệ giữa Ấn Độ và Tây Tạng giống như mối quan hệ giữa thầy và trò.

Nền tảng triết lý chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma là niềm tin rằng tình yêu thương, lòng từ bi và sự tha thứ có thể dẫn đến sự thay đổi hòa bình, và rằng một cuộc cách mạng bất bạo động có vẻ không thực tế đối với một số người thật sự có thể thực hiện được. Ngài biết rằng nhiều người Tây Tạng cảm thấy rằng đã đến lúc phải dùng đến những phương cách quân sự hơn để đối phó với Tàu Cộng . Tuy nhiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kiên định với niềm tin của mình vào bất bạo động (ahimsa), và đã nói rằng nếu phong trào đòi tự do trở nên bạo lực, Ngài sẽ thoái vị.

Cuộc sống lưu vong ở Ấn Độ đã mang lại cho Đức Đạt Lai Lạt Ma cơ hội để xem xét lại toàn bộ và hiện đại hóa các thực hành và thể chế cổ xưa khác nhau của Tây Tạng, theo một cách vừa thực dụng vừa có tầm nhìn xa. Sự nghiêm nhặt về nghi thức xung quanh con người của Ngài đã được giảm bớt và đơn giản hóa, khiến Ngài dễ tiếp cận hơn với người dân của mình.
Chế độ thần quyền lâu đời đã được chuyển đổi thành một nền dân chủ đang hoạt động với điều đáng chú ý nhất là Đức Đạt Lai Lạt Ma tự nguyện từ bỏ quyền lực tạm thời của mình cho các thể chế hiện đang quyết định vận mệnh của người dân Tây Tạng, trong phạm vi mà hội đồng dân cử, chiếm 2/3. đa số phiếu, có thể loại bỏ Đức Đạt Lai Lạt Ma khỏi chức vụ. Điều này thật sự mang tính cách mạng và chưa từng có vào thời điểm nó được ban hành vào đầu những năm 1960. Kể từ đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố rằng khi Tây Tạng cuối cùng giành lại được tự do, Ngài sẽ không có vai trò chính trị hay hành chính nào trong chính phủ, vì nếu không có những trách nhiệm đó thì tốt hơn Ngài nên phục vụ người dân của mình với tư cách là một chính khách cao tuổi, người khi được kêu gọi sẽ cố vấn và hỗ trợ. Ngài có niềm tin vững chắc rằng nếu Tây Tạng muốn tồn tại trong thế giới hiện đại thì nó phải phản ánh ý chí tập thể của người dân thay vì chỉ của một cá nhân.

Ngày nay, Chính phủ lưu vong Tây Tạng hoạt động từ Dharamsala và có tất cả các cơ quan cần thiết để điều hành công việc của mình. Cơ quan hành pháp đứng đầu là một hội đồng bộ trưởng, được bầu ra và chịu trách nhiệm trước hội đồng. Một cơ quan tư pháp độc lập tồn tại. Hiến pháp, được gọi là Hiến chương của người Tây Tạng lưu vong, được thông qua năm 1991, tuân thủ chặc chẽ Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu và cung cấp cho tất cả người dân Tây Tạng sự bình đẳng trước pháp luật và được hưởng các quyền và tự do mà không bị phân biệt đối xử về giới tính, tôn giáo chủng tộc, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc xã hội.

Trong suốt nhiều năm sống lưu vong, mối quan tâm thường trực của Đức Đạt Lai Lạt Ma là phúc lợi và sự phục hồi của những người tị nạn từ Tây Tạng. Ngoài khía cạnh nhân đạo rõ ràng, Đức Đạt Lai Lạt Ma từ lâu đã tin rằng cách duy nhất để bảo tồn văn hóa, tôn giáo và lối sống của Tây Tạng là xây dựng các cộng đồng mạnh mẽ và sôi nổi ở nước ngoài. Với sự hỗ trợ và giúp đỡ của chính phủ Ấn Độ, những người tị nạn đã được tái định cư tại một số trung tâm trên khắp đất nước, nơi họ có thể tổ chức lại cuộc sống của mình cũng như bảo tồn và tiếp tục truyền thống của họ. Ngày nay ở Ấn Độ, nền văn minh Tây Tạng vẫn còn sống động dù đã bị hủy diệt phần lớn trên chính mảnh đất của mình.
Các sáng kiến do Pandit Nehru đưa ra và các chính phủ kế tiếp ở Delhi theo sau đã tạo ra vô số kế hoạch phục hồi người tị nạn. Trong một biểu hiện điển hình của cách tiếp cận sang suốt và tự do của mình, Nehru đã nói rằng để bảo tồn văn hóa Tây Tạng, cần phải có các trường học riêng cho người tị nạn, và vì mục đích này, ông đã thành lập Hiệp hội Giáo dục Tây Tạng độc lập trong Bộ Giáo dục của Ấn Độ. Nehru cũng khuyên rằng mặc dù trẻ em Tây Tạng cần có kiến thức thấu đáo về lịch sử và văn hóa của chính mình, nhưng điều quan trọng là chúng phải hoàn toàn quen thuộc với cách thức của thế giới hiện đại, và để làm được điều này, điều cần thiết là phải biết tiếng Anh và sử dụng nó như phương tiện giảng dạy vì nó là ngôn ngữ quốc tế của tương lai.Lời khuyên này, được thực hiện tốt, đã giúp cộng đồng Tây Tạng sống rải rác làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận trên trường quốc tế, vượt xa so với quy mô nhỏ bé của họ.

Nông nghiệp, dệt thảm, sản xuất hàng may mặc, kinh doanh thực phẩm và nhà hàng và lĩnh vực dịch vụ là trụ cột của cộng đồng Tây Tạng ở Ấn Độ. Ngày nay, có hơn 80 trường học với gần 30.000 học sinh ở Ấn Độ và Nepal, 54 khu định cư và văn phòng phúc lợi, hàng chục cơ quan truyền giáo ở nhiều quốc gia khác nhau ngoài các viện văn hóa, thư viện, kho lưu trữ, nhà xuất bản và quỹ từ thiện.
Các cơ sở tôn giáo bao gồm hơn 200 tu viện và ni viện, với khoảng 20.000 môn nhân đại diện cho tất cả các tông phái của Phật giáo Tây Tạng. Nghệ thuật và thủ công phong phú và độc đáo của Tây Tạng, truyền thống y học và triết học của nó vẫn còn sống động và phát triển mạnh mẽ.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là Quỹ Trách nhiệm Toàn cầu, được thành lập bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma từ số tiền mà Ngài nhận được từ giải thưởng Nobel. Theo điều lệ của nó, nó tìm cách mang lại lợi ích cho mọi người ở mọi nơi, bất kể quốc tịch, chủng tộc hay tín ngưỡng; để vun đắp nền tảng chung giữa các đức tin khác nhau; để hỗ trợ các phương pháp bất bạo động; thúc đẩy sự giao tiếp giữa khoa học và tôn giáo; bảo đảm quyền con người và các quyền tự do dân chủ. Quỹ công nhận sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ của các quốc gia và cộng đồng mà còn của tất cả các sinh vật sống, và trên thực tế đại diện cho tư tưởng đạo đức và chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong hành động. Trong số các chương trình mà Quỹ hiện đang hỗ trợ có chương trình Phụ nữ trong An ninh, Quản lý Xung đột và Hòa bình (WISCOMP), đã thực hiện công việc dũng cảm giúp đỡ các nạn nhân của bạo lực dân quân ở Kashmir, đã trao học bổng để nâng cao hiệu quả nghề nghiệp của phụ nữ châu Á trong quan hệ quốc tế và các dự án tái tạo môi trường. Các chương trình khác do Quỹ điều hành cho phép sinh viên dành thời gian ở các tu viện Tây Tạng và các nhà lãnh đạo tôn giáo đến thăm những nơi thờ cúng tín ngưỡng của nhau.

Đức Đạt Lai Lạt Ma và Ấn Độ tin rằng mọi người trên khắp thế giới về cơ bản đều giống nhau; họ tìm kiếm hạnh phúc và tránh đau khổ. Đau khổ là do vô minh, ích kỷ và tham lam gây ra. Hạnh phúc thực sự đến từ cảm giác bình yên và mãn nguyện, điều này đạt được thông qua lòng từ bi, sự đồng cảm và tình yêu thương, và bằng cách loại bỏ sự sân hận, thù oán và tham lam. Những vấn đề mà thế giới phải đối mặt ngày nay đều do con người tạo ra: xung đột bạo lực, nghèo khó, nạn đói, hủy hoại môi trường và nhiều vấn đề khác. Tất cả chúng đều có thể được giải quyết bằng nỗ lực, sự hiểu biết của con người và sự phát triển của tình huynh đệ đại đồng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần lên tiếng chống lại sự bất khoan dung tôn giáo, điều chắc chắn sẽ gieo rắc sự ngờ vực và chia rẽ cộng đồng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của chính những phẩm chất mà Ngài thuyết giảng: tình yêu thương, lòng từ bi và lòng nhân đức, sự tha thứ và lòng từ thiện, và trách nhiệm toàn cầu.
Những lời dạy của Ngài rất đơn giản và sáng suốt, không có biệt ngữ và những mớ siêu hình phức tạp, đồng thời được truyền tải một cách thẳng thắn, quyến rũ và một khiếu hài hước không ngừng. Niềm vui sống và cách truyền đạt dễ dàng của Ngài ngay lập tức thiết lập mối quan hệ cá nhân thân thiết với tất cả những người đến nghe Ngài nói hoặc những người may mắn được gặp Ngài. Ngài hoàn toàn không khoa trương và là một người khiêm tốn thật sự. Tôi nhớ lại một dịp khi Đức Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi Tổng thống Venkataraman xin lời khuyên của ông vào đêm trước chuyến công du nước ngoài về cách Ngài nên phản ứng với các vấn đề khác nhau có thể được nêu ra. “Tôi là ai, chỉ là một người phàm,” Tổng thống trả lời, “để tư vấn cho một vị thần hiện thân trên trái đất!’ Phản ứng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, sau một khoảnh khắc hoàn toàn ngạc nhiên, là phá lên một tràng cười lớn, có sức lan tỏa.

Khi được hỏi rằng Ngài muốn được hậu thế nhớ đến như thế nào, Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Chỉ với tư cách là một con người; có lẽ là một con người hay mỉm cười.’ Nhận xét đó đã tóm gọn bản chất nhân cách của Đức Đạt Lai Lạt Ma: trí tuệ sâu sắc, tình thương và lòng từ bi sâu sắc, sự khiêm tốn sâu sắc./.

Ẩn Tâm Lộ - 2022
Trích từ quyển
Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 

 

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

TÂM CỦA KIM CANG TÁT ĐỎA TRUNG TÂM CỦA SỰ SÁM HỐI, VUA CỦA SỰ THỰC HÀNH TỊNH HÓA



Heart of Vajrasattva—The Heart of Confession, the King of Purification Practices

from 'The Immaculate Secret Vajrasattva'
by Traktung Lekyi Pawo (Do Khyentsé Yeshé Dorjé)

***

Om! Đức Phật nguyên sơ Phổ Hiền, nền tảng của sự sống:
Hỡi Kim Cang Tát Đoả, Kim Cang Như Lai,
Bậc Anh hùng, chủ tể và bảo hộ vĩ đại của chúng sanh:
Hãy hướng tình yêu của ngài đến chúng con, hãy nhìn chúng con bằng đôi mắt trí tuệ!

Ah! Tất cả là từ sự thuần khiết vô thỉ vô sanh nguyên sơ,
Tuy nhiên những tư tưởng nhận thức, phát sinh tức thời trong tâm thức ô nhiễm của chúng con,
Nguyên nhân si mê, nhận thức nhị nguyên, tổn hại và đổ vỡ,
Là những thứ chúng con sám hối bây giờ trong sự mở rộng của pháp giới mẫu, hoàn toàn thuần khiết !

Kim Cang! Chủ tể của những bí mật, Kim Cang Thủ, bậc tuyên bố giáo chỉ Kim Cang,
Của tất cả hàng trăm nghìn giới nguyện[2] bí mật
Của thân thể, lời nói, và tâm ý; bất cứ thệ nguyện nào mà chúng con đã làm tổn hại hay những bảo đảm mà chúng con đã phá vỡ
Với sự ăn năn và hối hận sâu xa nhất, chúng con công nhận và sám hối tất cả!

Tát Đoả! Bây giờ là thời gian đã qua cho những tổn hại trở thành lỗi lầm,
Và những nguyên nhân cho những sự trừng phạt nghiêm khắc được điều khiển bởi
Những Kim Cang không hành giả, mà sự nghiêm nghị của họ là làm việc đó
Chúng con sám hối đã bị chướng ngại cho kiếp này và kiếp sau, bằng việc tích lũy những nguyên nhân cho địa ngục lớn!

Hùm! ‘Vua của tình yêu thương‘, Kim Cang nguyên sơ vĩ đại
Tự do với bất cứ khái niệm tham chiếu nào, vượt khỏi tất cả mọi đổ vỡ và sám hối nào,
Là Phổ Hiền, luôn luôn toàn hảo, sự rộng mở bao la của tuệ giác ban sơ[3],
Mãi mãi hiện diện như không gian của pháp giới: Ah

Đây là vua của mọi sự sám hối, những từ ngữ Kim Cang này,
Sẽ làm luân hồi trống không tận những chiều sâu của nó,
Giống như viên đá của triết gia biến sắt thành vàng.
Đây là hướng dẫn truyền khẩu vốn bảo vệ
Nhưng ai đã vấp ngã làm mồi cho si mê và bị tổn hại những mật nguyện
Nó bùng lên từ tâm tuệ trí của Phổ Hiền


Heart of Vajrasattva | Lotsawa House

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2022

LỜI KHUYÊN DÀNH CHO MỘT HÀNH GIẢ LÂM CHUNG

 



Nguyên tác: Advice for a Dying Practitioner 
Tác giả: Dodrupchen Jigme Tenpe Nyima
Anh dịch:
Adam Pearcey, 2006
Việt dịch: Quảng Cơ /Tuệ Uyển hiệu đính

***

Bạn sẽ cần chuẩn bị trước khi thời gian lâm chung đến. Có nhiều khía cạnh về vấn đề này, nhưng tôi sẽ không đi vào chi tiết quá nhiều ở đây. Tóm lại, đây là điều bạn nên làm khi gần đến giờ chết.

Hãy tự nghĩ đi nghĩ lại rằng: “Dù cái chết đến sớm hay muộn, cuối cùng không có cách nào khác hơn là từ bỏ thân xác này và tất cả tài sản của tôi. Đây chỉ là cách nó diễn ra đối với toàn thế giới. Suy nghĩ theo những dòng này, hãy cắt đứt hoàn toàn những ràng buộc của ham muốn và dính mắc. Hãy thú nhận tất cả những hành động có hại mà bạn đã phạm phải trong kiếp này và tất cả những kiếp khác của mình, cũng như bất kỳ sai sót hoặc vi phạm giới nguyện nào mà bạn có thể đã mắc phải, dù cố ý hay vô tình, và lập nhiều lần cam kết sẽ không bao giờ hành động theo cách như vậy trong tương lai.

Đừng cảm thấy lo lắng hay sợ hãi về cái chết. Thay vào đó, hãy cố gắng nâng cao tinh thần của bạn và nuôi dưỡng một cảm giác vui vẻ rõ ràng, ghi nhớ tất cả những điều tích cực, đạo đức mà bạn đã làm trong quá khứ. Không hề cảm thấy tự hào hay kiêu ngạo, hãy ăn mừng thành tích của bạn hết lần này đến lần khác. Hồi hướng tất cả công đức của bạn và lặp đi lặp lại những lời cầu nguyện, để trong tất cả các kiếp tương lai, bạn có thể ghi nhớ con đường viên mãn của thừa tối thượng, với sự hướng dẫn của một người bạn tâm linh đức hạnh, và với những phẩm chất như niềm tin, siêng năng, trí tuệ và tận tâm—nói cách khác, tất cả những hoàn cảnh hoàn hảo nhất, cả bên ngoài lẫn bên trong. Cũng hãy cầu nguyện để bạn không bao giờ rơi vào ảnh hưởng của những người bạn đồng hành xấu xa hoặc những cảm xúc tiêu cực.

Các bản văn của Luật tạng giải thích rằng một trong những nguyên nhân chính để nhận được một hình thức tái sinh tối cao, ví dụ như một người sống một cuộc sống có kỷ luật trước sự hiện diện của Đức Phật, là thực hiện những lời cầu nguyện và ước nguyện vào lúc chết. Đây là lý do tại sao người ta nói rằng 'bất cứ thứ gì gần nhất và bất cứ thứ gì quen thuộc nhất' sẽ có sức mạnh to lớn.[1]

Bất kỳ nguyện vọng nào bạn thực hiện nên được tiếp thêm động lực bằng cách đưa ra những lời cam kết kiên quyết như thế này: “Trong tất cả cuộc đời của tôi, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để rèn luyện trên con đường của tánh không với lòng bi mẫn như cốt lõi của nó!” Để đánh giá đúng tầm quan trọng của điều này, hãy cân nhắc xem việc nói mạnh mẽ với bản thân rằng: “Sáng mai tôi sẽ dậy sớm!” sẽ hiệu quả hơn biết bao nhiêu! hơn là chỉ phát nguyện “Mong cho tôi thức dậy sớm.”

Để hoàn thành dễ dàng hơn bất cứ lời cầu nguyện nào bạn đã cầu nguyện hoặc ý định mà bạn đã hình thành, việc nương tựa vào một hiện thân của sức mạnh tâm linh là vô cùng lợi ích. Do đó, hãy nhớ đến người mà bạn có lòng sùng mộ lớn nhất, hoặc người mà bạn cảm thấy có mối liên hệ sâu sắc nhất thông qua thực hành của mình, cho dù đó là Đạo sư vĩ đại và vinh quang của Oḍḍiyāna, Đạo sư Liên Hoa Sanh, hay Quán Thế Âm Cao quý, Chủ tể của Thế giới, và, với niềm tin chắc chắn rằng người đó là hiện thân của tất cả nguồn quy y quý báu, hãy nhất tâm cầu nguyện cho sự thành tựu những nguyện vọng của bạn.

Vào giây phút thực sự của cái chết, sẽ rất khó để thu thập đủ sức mạnh tâm trí để thiền định về điều gì đó mới hoặc không quen thuộc, đó là lý do tại sao bạn phải chọn trước một cách thiền thích hợp và thực hành cho đến khi bạn quen thuộc với nó. Sau đó, khi bạn qua đời, bạn nên dành tâm trí của mình cho việc hành thiền càng nhiều càng tốt, cho dù đó là tưởng nhớ Đức Phật, tập trung vào cảm giác từ bi, trau dồi quan điểm về Tánh Không, hay tưởng nhớ Pháp hay Tăng. Để điều này xảy ra thành công, điều quan trọng nữa là bạn phải rèn luyện bản thân trước để suy nghĩ: “Từ giờ trở đi, khi tôi trải qua thời điểm quan trọng này của cái chết, tôi sẽ không cho phép bất kỳ suy nghĩ tiêu cực nào xâm nhập vào tâm trí mình.”

Các bậc thánh trong quá khứ có một câu nói: “Thay vì làm nhiều việc thiện mà đầu óc u mê, chỉ bằng làm một việc thiện trong một ngày với tinh thần minh mẫn.” Như điều này nói, nếu bạn thực hành tất cả những điều này trước tiên bằng mọi nỗ lực để phát triển cảm giác hứng khởi và niềm vui, thì điều đó sẽ hiệu quả hơn nhiều.

Mặc dù những người như tôi khó có thể làm lợi ích cho người khác, nhưng tôi sẽ tụng bài kệ quy y và cầu nguyện rằng trong tất cả các kiếp tương lai của bạn, bạn có thể tuân theo giáo lý Đại thừa.

Được viết bởi người tên là Không Sợ Hãi (Jigme).

| Translated by Adam Pearcey, 2006. Dedicated to the memory of Ian Maxwell.

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/dodrupchen-III/advice-dying-practitioner

 

 



[1] Nói cách khác, những suy nghĩ mà chúng ta có trong những khoảnh khắc cận kề cái chết và những suy nghĩ mà chúng ta đã quen thuộc nhất trong cuộc sống sẽ có ảnh hưởng lớn nhất trong việc xác định sự tái sinh của chúng ta.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2022

MỘT VỊ VUA HAY MỘT NHÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA



Nguyên tác: A Monarch or a Socialist?
Tác giả: Ela Gandhi
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn


***

Kể từ khi lưu vong, Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma đã cố gắng đàm phán một giải pháp hòa bình với Tàu Cộng . Ngài tiếp tục đấu tranh cho đất nước và dân tộc của mình trên con đường phản kháng bất bạo động của Gandhi, chịu đựng mọi đau khổ trong khi tiếp tục yêu thương và cầu nguyện cho những kẻ thù của mình rằng một ngày nào đó họ có thể nhìn thấy ánh sáng.
Ấn Độ, một thành viên hàng đầu của phong trào không liên kết, đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma tị nạn. Nhưng ngoài ra, nó cũng cung cấp một nơi ở cho hàng ngàn người Tây Tạng lưu vong hiện đã xây dựng một ngôi làng lưu vong Tây Tạng tại Dharmasala. Khối phương Tây về nhiều mặt đã ủng hộ cuộc đấu tranh đòi tự do của người dân Tây Tạng. Bao nhiêu sự ủng hộ dành cho chính nghĩa của Tây Tạng và bao nhiêu trong số đó chống lại cột trụ cuối cùng của thế giới cộng sản là một vấn đề tranh luận. Ngài vẫn đang có bước đột phá trong việc nhận được sự ủng hộ của Thế Giới Thứ Ba. Việc giới thiệu cuộc tranh luận về vấn đề Tây Tạng đã bị thất bại tại Liên Hiệp Quốc. Việc thiếu sự hỗ trợ từ các quốc gia mới nổi trên thế giới làm nảy sinh vấn đề tiến thoái lưỡng nan được tạo ra bởi nguồn gốc lịch sử của các hệ thống cai trị quân chủ đã bị lật đổ thông qua các cuộc cách mạng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Phải chăng Tây Tạng cũng có chế độ quân chủ do một người được cho là tái sinh của Đức Phật? Ý tưởng về sự tái sinh của Đức Phật không thể chấp nhận được đối với các nhà khoa học hiện đại, đối với nền văn hóa dân túy, đối với những người không tín ngưỡng và những người không tin vào luân hồi. Do đó, những người như vậy sẽ cảm thấy rằng đây chỉ là một giáo phái khác, một chế độ bóc lột khác và sẽ không có thiện cảm với người dân. Những người ủng hộ chính nghĩa của Tây Tạng bao gồm từ các học giả Trung Hoa đến những người lao động Trung Hoa bình thường, từ những người thuộc các phong trào cánh tả ở nhiều quốc gia khác nhau cho đến những người thuộc phe cực hữu. Trong đó, các nhóm khác nhau đặt ra nhiều động cơ khác nhau để ủng hộ cuộc đấu tranh này, cũng như không ủng hộ nó.

Trong khi có rất nhiều người lo ngại sâu sắc về những vi phạm nhân quyền trắng trợn và cảm thấy mạnh mẽ về sự đàn áp mà người dân Tây Tạng phải gánh chịu, thì cũng có những người bị thúc đẩy bởi những động cơ riêng của họ.
Những điều này có thể bao gồm từ bảo tồn chủ nghĩa tư bản đến bảo vệ một số lợi ích cá nhân hạn hẹp đến lợi ích rộng lớn hơn nhiều trong việc duy trì nắm giữ một vị trí chiến lược. Toàn cầu hóa và các phong trào chống toàn cầu hóa đã tiết lộ cho chúng ta một sự thật: những nhóm tư lợi đó có mối liên hệ rất chặt chẽ và mặc dù được điều khiển bởi một nhóm nhỏ nhưng chúng thường sử dụng quyền lực theo nhiều cách.

Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại. Một thế giới đã trở thành một khu phố. Tuy nhiên, đó là một thế giới bị chia cắt bởi nhiều loại khác nhau—sự khác biệt về tôn giáo, sự khác biệt về hệ tư tưởng, sự giàu có và nghèo khó, màu đen và trắng và hàng triệu sắc thái ở giữa, nông thôn và thành thị, hiện đại và truyền thống, danh sách này có thể tiếp tục.
Nhưng thay vì làm phong phú thế giới bằng bức tranh khảm phong phú của sự đa dạng này, con người đang giết người, các quốc gia đang giết các quốc gia, và giữa tất cả những điều này, có hàng triệu người mong muốn hòa bình. Họ đang tuyệt vọng tìm kiếm hòa bình. Đức Thánh Thiện là một trong những nhà lãnh đạo đang cố gắng hết sức để thay đổi tiến trình mà nhân loại đã đặt ra cho chính mình. Liệu Ngài có thành công?

Lần theo lịch sử Trung Hoa người ta thấy trật tự xã hội phong kiến ​​áp bức, giáo quyền ở Trung Hoa được thay thế bằng phong trào xã hội chủ nghĩa. Những ưu điểm và nhược điểm của phong trào này không phải là chủ đề của cuốn sách này, và vì vậy chỉ cần nói rằng một phong trào phổ biến đã thu hút các nhà quý tộc giàu có của Trung Hoa.

Câu chuyện kể rằng những người nông dân ở Trung Hoa đã vùng lên dưới sự lãnh đạo của các nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa liên tiếp và cuối cùng đã lật đổ đế chế Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Đế chế được thay thế bằng cộng hòa nhân dân. Một trật tự xã hội mới được thiết lập. Câu chuyện tiếp tục khẳng định rằng lần đầu tiên những người nông dân nghèo khổ và bị áp bức có thể sống với lòng tự trọng.

Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần ghi lại rằng những người từng đối mặt với sự đàn áp thuộc loại khủng khiếp nhất lại không hề hối hận khi đàn áp người khác. Điều này xảy ra là khó hiểu như thế nào. Nhưng có hàng triệu ví dụ trong suốt các thời đại của những người tiếp tục đàn áp và quên đi sự áp bức của chính họ dưới bàn tay của người khác. Vì vậy, người Trung Hoa đã không ngần ngại chinh phục Tây Tạng. Rõ ràng là họ đang mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân Tây Tạng, những người mà họ cho rằng đang sống dưới chế độ phong kiến. Họ đang mang đến một trật tự cộng sản, xã hội chủ nghĩa mới để thay thế hệ thống phong kiến ​​mà người dân Tây Tạng đang sống dưới đó. Trên thực tế, họ muốn chiếm Tây Tạng. Ngài nhận ra điều này nhưng chưa bao giờ lên án người Trung Quốc. Ở đó ẩn chứa sự cao thượng và khiêm tốn của Ngài.

Khi một người bắt đầu đọc nhiều cuốn sách viết về ông, câu chuyện về cuộc đời Ngài và câu chuyện về dân tộc của Ngài, một bức tranh hiện lên về một người có tầm nhìn xa trông rộng, một tinh thần từ ái và một tâm hồn hoàn toàn giải thoát. Chẳng hạn, trong Những Lời Dạy Thiết Yếu, Ngài nói, 'Hãy nhìn xung quanh chúng ta, thế giới này mà chúng ta gọi là “văn minh” và rằng trong hơn 2000 năm đã tìm cách đạt được hạnh phúc và tránh đau khổ bằng những phương tiện sai lầm, thủ đoạn, tham nhũng, hận thù, lạm dụng quyền lực , và bóc lột người khác.'

Đức Thánh Thiện là một nhà sư đơn giản, hay cười và không bị ảnh hưởng bởi sự xâm lược vô nhân đạo của  Tàu Cộng. Người ta thấy nỗi đau và sự tổn thương sâu sắc khi Ngài nói về sự tàn phá vùng đất thân yêu của mình, cái chết của gần một triệu người dân của Ngài, và việc tiếp tục giam cầm và tra tấn hàng trăm người Tây Tạng. Tuy nhiên, mối quan tâm của Ngài không dựa trên lợi ích cá nhân hẹp hòi hay chỉ lợi ích của dân tộc Ngài; đối với Ngài thế giới và vũ trụ là những vấn đề đáng quan tâm.Nước trong núi bị ô nhiễm, suy thoái môi trường do phá rừng bản địa, san bằng núi bằng thuốc nổ, giết chóc, tra tấn và giam giữ, tất cả những điều này không chỉ ảnh hưởng đến Ngài và người dân của Ngài, Ngài liên tục nhắc nhở chúng ta, nhưng cũng trên hệ sinh thái của thế giới. Mặc dù khuôn mặt luôn tươi cười và bản chất vui vẻ của Ngài có thể che giấu nỗi đau và sự tổn thương sâu sắc của sự hủy diệt liên tục này, nhưng có những lúc người ta có thể nhìn thấy trong những nếp nhăn sâu trên khuôn mặt Ngài tiếng kêu cứu, tiếng kêu cứu của Ngài với thế giới để chú ý đến những cảnh báo của thiên nhiên.

Đối với một số người, Ngài chỉ là một nhà sư, đối với những người khác, Ngài là người đứng đầu một xã hội phong kiến, và đối với nhiều người, Ngài là một nhân cách đặc biệt, người thật sự có thể là tái sinh của Đức Phật, mặc dù bản thân Ngài bác bỏ khả năng này. Trong bài luận này, tôi muốn xua tan huyền thoại về Ngài với tư cách là một lãnh chúa phong kiến. Ngài đã nói trong Những Lời Dạy Thiết Yếu, ‘Nếu ở Ấn Độ, Châu Phi và các quốc gia khác mà khốn khổ và nạn đói hoành hành, thì đó không phải là do thiếu tài nguyên thiên nhiên, cũng không phải do các phương tiện mang lại hạnh phúc lâu dài bị thiếu sót. Đó là vì mỗi người chỉ tìm lợi cho mình mà không sợ chèn ép người khác vì những mục tiêu ích kỷ. . .’

Đức Thánh Thiện, với loại quyền lực mà Ngài nắm giữ, muốn sử dụng quyền lực của mình để bắt đầu một quá trình cải cách chính trị của mình. Năm 1963, Ngài từ bỏ quyền lực để ủng hộ dân chủ. Một người, một phiếu bầu đã được giới thiệu. Một quốc hội dân chủ được bầu ra trong cuộc sống lưu vong. Người dân Tây Tạng dưới sự thúc đẩy của Ngài đã soạn thảo một bản hiến pháp phản ánh các nguyên tắc dân chủ. Ngài tuyên bố rằng một khi được tự do, một chính phủ lâm thời sẽ được thành lập với mục đích cụ thể là thành lập một quốc hội lập hiến để soạn thảo một hiến pháp mới. Ngài còn tuyên bố rằng sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, Ngài sẽ nghỉ hưu và sống như một nhà sư bình thường, chuyển giao toàn bộ quyền lực của mình cho chính phủ mới được bầu.

Kế hoạch Hòa bình Năm điểm của Ngài như sau:

1. Biến đổi toàn bộ Tây Tạng thành một vùng hòa bình.
2. Từ bỏ chính sách di chuyển dân số của  Tàu Cộng vốn đe dọa đến chính sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng.
3. Tôn trọng các quyền con người và tự do dân chủ cơ bản của người dân Tây Tạng.
4. Phục hồi môi trường tự nhiên của Tây Tạng và từ bỏ việc Tàu Cộng  sử dụng Tây Tạng để sản xuất vũ khí hạt nhân và đổ chất thải hạt nhân.
5. Bắt đầu đàm phán nghiêm túc về tình trạng tương lai của Tây Tạng và mối quan hệ giữa nhân dân Hoa - Tạng.

Giờ đây, Ngài đã bổ sung thêm việc ngừng khai thác dầu mỏ và khoáng sản.

Kế hoạch này phản ánh bản chất hợp lý trong lời đề nghị của Ngài nhằm chấm dứt cuộc xâm lược tàn bạo và lâu dài này của  Tàu Cộng đối với dân tộc Ngài. Trên thực tế, Ngài đang mở rộng vòng tay hữu nghị với những người Trung Hoa mà Ngài gọi là anh chị em của mình. Ngài nhận ra rằng họ có chung một tôn giáo, một lịch sử chung và là những người hàng xóm phụ thuộc vào nhau. Nhiều người Trung Hoa vô cùng ngưỡng mộ Ngài và cảm thấy vô cùng tôn kính Ngài. Bất chấp sự đàn áp mà người dân của mình phải gánh chịu, Ngài tin rằng hai quốc gia có thể chung sống hòa bình với tư cách là láng giềng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trong các bài viết của mình ủng hộ lòng từ bi, chia sẻ sự đơn giản, sống gần gũi với trái đất, bảo tồn môi trường và sống một cuộc sống lành mạnh. Trong khi vẫn giữ niềm tin truyền thống của mình, Ngài có hiểu biết sâu sắc về thế giới hiện đại. Cũng giống như Mahatma Gandhi, Ngài chủ trương tôn trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp và loại bỏ những phong tục tập quán mang tính áp bức, kìm hãm sự phát triển.

Trong cuốn sách Nghệ thuật của Hạnh phúc, Ngài nói về con người,

Nói chung, bạn có thể có hai cá nhân khác nhau. Một mặt, bạn có một người thành đạt giàu có, được bao quanh bởi những người thân, v.v. Nếu nguồn gốc của phẩm giá và ý thức về giá trị của người đó chỉ là vật chất, thì miễn là tài sản của anh ta vẫn còn, có thể người đó có thể duy trì cảm giác an toàn. Nhưng khi tài vận suy yếu, người đó sẽ đau khổ vì không có nơi nương tựa nào khác. Mặt khác, bạn có thể có một người khác cũng có địa vị kinh tế và thành công tài chính tương tự, nhưng đồng thời người đó cũng ấm áp, trìu mến và có lòng trắc ẩn. Bởi vì người đó có một nguồn giá trị khác, một nguồn khác mang lại cho người ấy cảm giác về phẩm giá, một nơi nương tựa khác, nên người đó sẽ ít có khả năng trở nên chán nản nếu tài sản của người đó biến mất. Thông qua kiểu lập luận này, bạn có thể thấy giá trị rất thực tế của sự ấm áp và tình cảm của con người trong việc phát triển ý thức giá trị bên trong.

Ngài thấy rõ ràng chủ nghĩa duy vật hiện đại là nguồn gốc của sự hủy diệt. Ngài đã nói rằng hạnh phúc thật sự đến từ bên trong, từ sự hài lòng và hòa giải với chính mình, chứ không phải bằng cách đạt được các đối tượng vật chất. Rõ ràng là Ngài giải thích các lý tưởng xã hội chủ nghĩa chứ không phải phong kiến, và phải được nhớ rằng mặc dù thuộc về một xã hội truyền thống, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về quyền của phụ nữ, điều mà hiến pháp Tây Tạng ủng hộ.

Các động thái đang được thực hiện để thu hút sự tham gia của phụ nữ ở mọi tầng lớp trong xã hội và mang lại cho họ địa vị bình đẳng. Phụ nữ Tây Tạng đóng một vai trò nổi bật trong các tổ chức phụ nữ quốc tế và tại địa phương trong xã hội Tây Tạng. Họ cũng đang đảm nhận các vị trí lãnh đạo trong phong trào giải phóng và nhiều người đã bị cầm tù vì tham gia đấu tranh. Tuy nhiên, khi cố gắng giải thích lý do tại sao người Tàu Cộng chiếm đóng Tây Tạng, tại sao một số người ủng hộ cuộc đấu tranh của người Tây Tạng và những người khác thì không, và điều gì đã thu hút mọi người đến với Đức Đạt Lai Lạt Ma ngay cả khi mọi người đã đến với Mahatma Gandhi, người ta cần phát triển một sự hiểu biết sâu sắc hơn về Phật giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một học giả xuất sắc về triết học Phật giáo và trong các tác phẩm của mình, Ngài giải thích bằng những thuật ngữ đơn giản về bản chất của nó. Đó là khi chúng ta bắt đầu hiểu triết lý này, chúng ta có cái nhìn thoáng qua về một tâm trí rất nhạy bén và đầy lòng trắc ẩn, rất quan tâm đến tương lai và hài lòng với hiện tại, rất năng động nhưng vẫn tĩnh lặng. Một chúng sinh như vậy không bao giờ có thể phù hợp với chiếc áo choàng của một vị vua. Tư tưởng của Ngài mang bản chất xã hội chủ nghĩa và cuộc đời cũng như tác phẩm của Ngài sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ mai sau./.

Ẩn Tâm Lộ - 2022
Trích từ quyển
Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

NGUYỆN VỌNG PHÁT BỒ ĐỀ TÂM, HOÀN TOÀN THANH KHIẾT VÀ TỐI CAO

 



Nguyên tác: Aspiration to Generate Bodhicitta, Utterly Pure and Supreme
Tác giả: Patrul Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ  /  Tuệ Uyển hiệu đính

***

ན་ མོ་ གུ་ རུ །
Namo guru!

Tâm trí của ngài,vô lượng kiếp trước đây, tự loại bỏ mọi lừa dối,
Lời nói của ngài trung thực và chân thật, không có bất kỳ hình thức giả tạo nào,
Các hành vi của cơ thể ngài là nguyên tắc và khiêm tốn—
Hiền nhân vĩ đại, chân thành và thông tuệ, tôi kính lễ đến ngài!

Những bậc thừa kế của Đức Phật, những bậc đã nhìn thấy ý nghĩa tối hậu,
Những bậc nói sự thật, có lời nói của sức mạnh tiên tri,
Những người đang trên đường giải thoát qua ba thừa —
Trước tất cả các ngài, trong lòng thành kính, tôi xin đảnh lễ !

Kể từ bây giờ, trong tất cả những lần tái sinh trong tương lai, trong suốt những cuộc đời của tôi,
Chư Phật và chư bồ tát, xin cho tôi không bao giờ rời xa các Ngài !
Chư Phật và chư bồ tát, xin hãy nhận tôi làm môn đồ của các Ngài!
Chư Phật và chư bồ tát, hãy để tôi đạt được thành tựu giống như các Ngài!

Hành động của cơ thể tôi — nguyện chúng có nguyên tắc và khiêm tốn,
Lời nói của tôi — nguyện cho nó là trung thực, không sai lạc hoặc lừa bịp,
Tâm trí của tôi — nguyện cho nó là chân thành, không có giả tạo hay dối trá,
Và nguyện cho tôi có thể dựa vào những người hướng dẫn tâm linh và những người bạn pháp chân chính!

Lối vào đầu tiên của con đường giải thoát,
Con đường đầu tiên thoát khỏi hiểm nguy của luân hồi ,
Sơ khởi đầu tiên cho tất cả các thực hành Pháp:
Sự viễn ly chân chính — nguyện cho nó xuất hiện trong tâm trí tôi!

Với nó, tôi có tất cả những gì cần thiết để đạt được giác ngộ,
Và không có nó, không có cách nào để tìm thấy sự tỉnh giác,
Hạt giống không thể chối cãi mà từ đó đạt được Phật quả,
Nguyện cho tôi phát bồ đề tâm, hoàn toàn thuần khiết và cao siêu!

Hơn nữa và xa hơn nữa, nguyện phát triển Bồ đề tâm tối cao,
Trong suốt các cuộc đời tôi, nguyện Bồ đề tâm không bao giờ bị lãng quên,
Hết lần này đến lần khác, nguyện tôi có thể hành thiền về Bồ đề tâm,
Và luôn luôn rèn luyện theo cung cách của bồ tát!

Bất cứ những hành động giác ngộ nào của Hiền nhân vĩ đại,
Anh hùng Văn Thù Sư Lợi hay Phổ Hiền,
Trong tất cả các cuộc đời của tôi, nguyện cho những việc làm của tôi bằng với các ngài,
Và một cách tự nhiên, nguyện cho tôi có thể đạt được phúc lạc cho chính mình và cho người khác!

Con đường tuyệt vời, mang lại Phật quả trong trong một đời duy nhất,
Với những phương pháp khéo léo để đồng thời mang lại lợi ích cho bản thân và những người khác,
Và cái nhìn về một thực tại duy nhất trong đó luân hồi và niết bàn không thể tách rời—
Tôi nguyện dấn thân vào con đường vô song này của cỗ xe kim cang !

Những bậc thủ trì kim cang, những người trau dồi cách tiếp cận của con đường này,
Tiếp nhận như những bậc đồng hành, những người mang lại hạnh phúc tánh không ,
Như một cách để giới thiệu trí tuệ đồng xuất hiện—
Nguyện cho con đường độc đáo này được tận hưởng trong thế giới của các ḍākinī!

Khuôn mặt bản chất nguyên sơ của tôi, chính tâm trí, hãy để nó không thay đổi,
Bản chất rất riêng của tôi, vượt ngoài tạo tác — nguyện cho tôi có thể thấy nó trọn vẹn!
Duy trì thiền định mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ dấu vết thay đổi nào,
Nguyện cho cho tôi đạt được quả vị tối thượng thoát khỏi mọi tạo tác!

Trong khi chờ đợi, nguyện cho mọi mong muốn của tôi có thể được hiện thực!
Miễn là tôi còn sống, nguyện cho tôi không có ý định tiêu cực,
Và khi tôi chết, xin cho tôi không phải chịu một cái chết đau đớn,
Đã chết, nguyện không sợ hãi những hiện tướng vọng tưởng!

Nguyện cho tất cả những ai nhìn thấy tôi, nghe thấy tôi, nghĩ về tôi hoặc tiếp xúc với tôi theo bất kỳ cách nào,
Phát triển sự viễn ly, tâm bồ đề và trí tuệ đồng xuất hiện
Theo bất kỳ cách nào phù hợp trong tâm thức của họ,
Vì vậy, nhanh chóng, họ có thể đạt đến Phật quả hoàn hảo!

Nguyện cho tôi được chiêm ngưỡng Đức Phật giống như mặt trời với những hảo tướng và dấu ấn của Ngài,
Nguyện cho tôi được thưởng thức cam lồ của Pháp bảo giống như mặt trời trong trái tim tôi,
Và nguyện cho Tăng già giống như mặt trời đi cùng tôi đến sự giải thoát—
Từ ánh sáng của ba Đấng Tối Cao giống như mặt trời này, xin cho tôi không bao giờ rời xa! 1


Để đáp ứng mong muốn của học viên Nyima, điều này được viết bởi Palge, phản ánh đơn thuần của một nhà sư chân chính. Cầu mong phúc đức dồi dào!

| Bản dịch của Adam Pearcey 2010. Rất cám ơn Alak Zenkar Rinpoche. Sửa đổi 2012 & 2020.
1. ↑ Ở đây Patrul Rinpoche chơi chữ nyima, nghĩa là mặt trời, là tên của người đã thỉnh cầu lời cầu nguyện.
 

To fulfil the wishes of the practitioner Nyima, this was written by Palge, the mere reflection of a genuine monk. May virtue abound!
 
| Translated by Adam Pearcey 2010. Many thanks to Alak Zenkar Rinpoche. Revised 2012& 2020.

Ẩn Tâm Lộ, 2022

 

 

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NHƯ MỘT NHÀ CHIẾN LƯỢC CHÍNH TRỊ

 


Nguyên tác: The Dalai Lama as a Political Strategist
Tác giả: Senthil Ram
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển nhuận văn

***

“Chàng trai trẻ thông minh hơn nhiều và nắm rõ thông tin về các vấn đề thế giới hơn các cố vấn của anh ta. . . [và là người] ý thức sâu sắc về nhu cầu cải cách xã hội và các cải cách khác ở Tây Tạng,” Loy Henderson, đại sứ Hoa Kỳ tại Ấn Độ năm 1951, nhận xét về Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi. Từ Lhasa đến Dharamsala, trong suốt thời kỳ khó khăn sau khi Tàu Cộng chiếm đóng Tây Tạng vào năm 1950, quan điểm chính trị của Đạt Lai Lạt Ma phản ánh quan niệm của Phật giáo về sự hiểu biết thực tại, hay nói cách khác là chủ nghĩa thực dụng.

Trong bài tiểu luận này, tôi phân tích triết lý chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người được hàng triệu người Tây Tạng tôn kính. Trong khi vẫn đang ở đỉnh cao quyền lực của mình với tư cách là nhà lãnh đạo chính trị và thế tục của Tây Tạng, việc bổ nhiệm Kalon Tripa - tương đương với thủ tướng Tây Tạng - về mặt lý thuyết, ít nhất đã đặt ông vào ghế sau của phương tiện dân chủ của Chính phủ Tây    Tạng lưu vong đó là hướng tới một Tây Tạng tự do về chính trị. Do đó, tại thời điểm này, việc nắm bắt những đóng góp chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma là rất quan trọng để hiểu được bản chất của chính thể Tây Tạng ngoài việc hình dung ra hướng đi trong tương lai của nó. Do có vấn đề trong việc tách biệt tôn giáo và chính trị, bài luận này tiến hành với mục tiêu khiêm tốn là nêu bật vai trò chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà không làm suy yếu ảnh hưởng của Phật giáo Tây Tạng.

Bối Cảnh Của Vấn Đề Tây Tạng

Thế kỷ 20 là một bước ngoặt trong cuộc xung đột Tây Tạng, được biết đến rộng rãi với cái tên 'vấn đề Tây Tạng', bắt nguồn từ chiều sâu khó dò của các chi tiết lịch sử hàng thế kỷ như được tuyên bố và xây dựng bởi cả hai bên chính: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là CHND Trung Hoa) và Chính phủ lưu vong Tây Tạng (gọi tắt là TGE). Cuộc xâm lược và chinh phục Tây Tạng của người Anh dưới thời Younghusband vào năm 1903 và 1904 đã đánh dấu sự khởi đầu của sự kết thúc sự cô lập của vương quốc Tây Tạng. Triều đại nhà Thanh ở Trung Hoa, vốn có đại diện ở Tây Tạng và coi Tây Tạng là 'phụ thuộc về mặt chính trị', coi đây là hành động xâm lược của đế quốc chống lại quyền bá chủ của mình và cố gắng tăng cường kiểm soát đối với Tây Tạng. Trước đó rất lâu, cuộc lật đổ bất ngờ của nhà Thanh vào năm 1911 dẫn đến việc Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba tuyên bố độc lập. Từ năm 1911 đến năm 1951, Tây Tạng hoạt động như một quốc gia độc lập trên thực tế và tiến hành tất cả các mối quan hệ địa phương và quốc tế của mình mà không có sự can thiệp từ Trung Hoa hoặc bất kỳ quốc gia nào khác. Ngược lại, việc Trung Hoa tuyên bố Tây Tạng là một phần lãnh thổ của mình, việc Hoa Kỳ và Vương quốc Anh công nhận quyền thống trị của Trung Hoa đối với Tây Tạng, và việc các nước này đồng thời từ chối công nhận nền độc lập của Tây Tạng đã dẫn đến việc xâm lược và chiếm đóng Tây Tạng. bởi Cộng sản Trung Hoa vào tháng 10 năm 1950.

Cho dù ý định của Tàu Cộng là giải phóng sau đó chiếm đóng, hay chiếm đóng sau đó giải phóng, thì chiến lược ‘hòa bình’ của Mao đã đánh tan quân đội Tây Tạng được trang bị kém với khoảng 10.000 quân và buộc người Tây Tạng phải thương lượng và từ bỏ chủ quyền chính trị của họ lần đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng. Đổi lại, thỏa thuận mười bảy điểm hứa sẽ bảo tồn địa vị chính trị và tôn giáo của Đạt Lai Lạt Ma và không đưa ra các cải cách chính trị và kinh tế cho đến khi người Tây Tạng yêu cầu. Nhưng các cuộc cải cách tôn giáo và kinh tế của  Tàu Cộng ở miền đông Tây Tạng và các cuộc biểu tình sau đó từ từ lan sang miền trung Tây Tạng và tạo ra sự sợ hãi và ngờ vực trong người dân Tây Tạng. Kết quả là cả người Tàu Cộng  và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn đều không thể tôn trọng thỏa thuận. Cuối cùng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đào thoát khỏi Tây Tạng vào tháng 3 năm 1959 sau một cuộc nổi dậy lớn ở Lhasa, tiếp theo là một cuộc di cư của gần 80.000 người Tây Tạng đến Ấn Độ. Sau đó, Ngài thành lập Chính Phủ Lưu Vong Tây và tuyên bố bãi bỏ thoả ước mười bảy điểm, đồng thời tuyên bố quyền tự quyết và độc lập của Tây Tạng. CHND Trung Hoa cũng từ bỏ thỏa thuận và thành lập chính quyền nhân dân ở Tây Tạng. Đây là căn nguyên của sự bất đồng về vấn đề vị trí chính trị của Tây Tạng so với Trung Hoa. Trong những năm qua, xung đột đã trở nên phức tạp bởi bao gồm nhiều vấn đề khác nhau, từ tồn tại văn hóa, bản sắc, quản trị, nhân quyền, môi trường và phát triển.

Từ khi sống lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã theo đuổi nhiều cải cách mang tính bước ngoặt khác nhau, một mặt nhằm dân chủ hóa chính thể Tây Tạng và mặt khác để xử lý xung đột với Tàu Cộng một cách bất bạo động. Mặc dù các sáng kiến ​​dân chủ hóa của Ngài bị hạn chế bởi các lý do thực tế như 'bất an kinh tế, nghi thức chuẩn mực truyền thống và thiếu giáo dục', về cơ bản, nó vẫn được chấp nhận như một phương pháp của chính thể do tính công bằng của Ngài trong việc đối phó với các tông phái và khu vực khác nhau cũng như lòng trung thành và tình cảm của dân tộc Tây Tạng. Không có đấu tranh hay thiệt hại về nhân mạng, nền dân chủ Tây Tạng bắt nguồn từ những ý tưởng của nhà lãnh đạo và đi vào lòng quần chúng được gọi một cách thích hợp là nền dân chủ của Đức Đạt Lai Lạt Ma hay 'nền dân chủ của một người'. Quan trọng hơn, tầm nhìn dân chủ đơn nhất của Ngài đã thống nhất ba khu vực Tây Tạng đa dạng là U-Tsang, Kham và Amdo, và đã kiểm soát thành công cuộc xung đột để không đạt đến mức quá mức trong 50 năm qua.

Mặc dù bất bạo động như một công cụ chính trị của chính sách Tây Tạng nghe có vẻ rất tự nhiên, nhưng với tiềm năng bất bạo động của người Tây Tạng cũng như truyền thống và văn hóa Phật giáo, nó không nên được nhấn mạnh quá mức. Đầu tiên, điều quan trọng là không được bỏ qua khả năng bạo lực của người dân Tây Tạng. Giống như bất kỳ nền văn hóa nào khác, mặc dù ít nổi bật hơn sau khi Phật giáo trở thành quốc giáo vào thế kỷ 13, người Tây Tạng cũng vậy, đã nắm giữ vũ khí, tiến hành chiến tranh và tàn hại nhau vì đất đai và của cải. Có một số ngoại lệ bạo lực trong 'chế độ không cưỡng chế' của Tây Tạng, đặc biệt là chống lại các cuộc xâm lăng của nước ngoài, bao gồm cả cuộc xâm lược của Anh vào năm 1904. Người Tây Tạng đã dũng cảm chiến đấu với Quân Giải phóng Nhân dân Tàu Cộng  tiến vào năm 1950. Thường thì các nhà sư cũng tham gia vào các trận chiến chống lại người Trung Hoa để giành lại lãnh thổ, và cũng chiến đấu với các nhà sư khác thuộc các môn phái khác nhau. Cuộc nổi dậy ở Lhasa năm 1959 chứng kiến nhiều nhà sư mang súng sát cánh cùng người Khampa. Sau đó, người Khampa sử dụng chiến thuật du kích 'đánh và chạy' với sự hỗ trợ bí mật của CIA, lặp đi lặp lại cho đến năm 1974. Thứ hai, những chuyển đổi chính trị sang dân chủ ở các quốc gia Phật giáo đã không diễn ra một cách bất bạo động. Ví dụ, ở Thái Lan, Miến Điện và Sri Lanka, Phật giáo đã (và đang) được sử dụng để biện minh cho bạo lực của các nhà hoạt động chính trị theo chủ nghĩa dân tộc. Do đó, ở cấp độ chính trị, bất bạo động Tây Tạng là một sự lựa chọn hơn là cố hữu. Điều tôi muốn nhấn mạnh là sự lựa chọn có chủ ý để bất bạo động trở thành một phương tiện chính trị bắt nguồn từ Phật giáo Tây Tạng trong những nghịch cảnh, và vai trò chính của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong việc đóng góp vào nền tảng triết học gọi là con đường trung đạo với các yếu tố chính trị thực tế. Đặc biệt từ những năm 1980, chính sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tạo thành cột trụ cho các chính sách trung đạo của chính phủ lưu vong - TGE và trở thành động lực của phong trào bất bạo động Tây Tạng nhằm ngăn chặn chính sách di cư dân số người Hoa của Tàu Cộng đang đe dọa thành phần dân tộc Tây Tạng.

Chính Sách Trung Đạo Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Con đường trung đạo không phải là mục đích hay mục tiêu của phong trào Tây Tạng. Nó cũng không phải là một đề xuất hòa bình. Theo Thubten Samphel, con đường trung đạo do Đức Đạt Lai Lạt Ma quan niệm là một phương pháp tiến hành cuộc đấu tranh cho tự do và công lý cho người Tây Tạng. Do đó, trung đạo không đại diện hoặc phản ánh hệ thống toàn thể niềm tin của người Tây Tạng. Thay vào đó, nó là một kỹ thuật bất bạo động được ủng hộ bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma, có thể được so sánh một cách thô thiển với kỷ thuật phản đối  bất bạo động công cộng của Gandhi (the Gandhian satyagraha). Bản chất của con đường trung đạo là tránh những điều cực đoan. Một bên là sự cần thiết không phục tùng các chính sách của  Tàu Cộng chống lại sự tồn tại của văn hóa và tôn giáo Tây Tạng. Mặt khác là biện pháp cực đoan để đạt được một Tây Tạng tự do với cái giá là vòng luẩn quẩn bạo lực có thể chống lại văn hóa và tôn giáo Tây Tạng. Như vậy, trung đạo là một lập trường vừa phải, có thể đảm bảo lợi ích chung tối thiểu của tất cả các bên liên quan. Đối với người Tây Tạng, đó là sự bảo vệ và gìn giữ văn hóa và tôn giáo Tây Tạng; đối với người Trung Hoa, đó là an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của mẫu quốc; và đối với các nước láng giềng và bên thứ ba, hòa bình ở biên giới của họ và quan hệ quốc tế hòa bình. Về bản chất, con đường trung đạo trở thành một công cụ chính sách thực tế để xử lý một cách hòa bình cuộc xung đột với Tàu Cộng nhằm đạt được mục tiêu của người Tây Tạng. Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, mục tiêu của cuộc đấu tranh của người Tây Tạng là đạt được tự do tinh thần, tôn giáo và văn hóa, thuận lợi cho người Tây Tạng thực hiện trách nhiệm phổ quát của họ trong việc bảo tồn, duy trì và phổ biến các truyền thống văn hóa cao cả của khoa học nội tâm độc đáo vì lợi ích của toàn thế giới trong một sự hoà giải chính trị tự trị trong Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC).

Mặc dù xung đột Tây Tạng được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa là 'xung đột dân tộc khó giải quyết', 'xung đột dân tộc chủ nghĩa', 'xung đột bất bạo động' và vấn đề 'bản sắc và quyền tự trị', đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nó không có bất kỳ động cơ chính trị nào. Theo lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma, vấn đề giữa Tây Tạng và Trung Quốc 'không phải là sự khác biệt về hệ tư tưởng, hệ thống xã hội hay các vấn đề do xung đột giữa truyền thống và hiện đại. Đây không phải là vấn đề vi phạm nhân quyền cũng không phải là cuộc đấu tranh dựa trên yêu sách sắc tộc. Gốc rễ của vấn đề Tây Tạng nằm ở lịch sử lâu dài và riêng biệt của Tây Tạng, nền văn hóa lâu đời và khác biệt cũng như bản sắc độc đáo của nó.’ Dưới sự lãnh đạo của Ngài, phong trào Tây Tạng có một động lực tinh thần để bảo vệ truyền thống tôn giáo của Tây Tạng bắt nguồn từ lòng từ bi và bất bạo động, đồng thời tạo điều kiện cho người Tây Tạng thực hiện các trách nhiệm rộng lớn hơn của họ đối với nhân loại. Mặc dù người Tây Tạng đã có lúc nhấn mạnh trên các diễn đàn chính trị rằng vấn đề này là một vấn đề chính trị, thủ tướng chính phủ lưu vong hiện tại đã nhắc lại lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma:

Người dân Tây Tạng đã kế thừa trong nhiều thế kỷ trách nhiệm bảo tồn, phát huy và phổ biến một nền văn hóa và truyền thống tâm linh độc đáo vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Để cho phép người dân Tây Tạng hoàn thành các nhiệm vụ này, chúng tôi yêu cầu một tình hình xã hội, chính trị, kinh tế và môi trường thuận lợi. Trí tuệ con người không thể thức tỉnh đến mức tối đa trong bầu không khí áp bức và khủng bố. Một di sản văn hóa đã bị bật gốc không thể được bảo tồn và phát huy đúng mức thông qua việc trồng lại ở nơi khác. Do đó, tự do chính trị là một phương tiện để người Tây Tạng hoàn thành nghĩa vụ ràng buộc của họ.

Đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, mặc dù tự do tôn giáo và chính trị không thể tách rời và cái này không thể tồn tại mà không có cái kia, nhưng trong phong trào bất bạo động Tây Tạng, tự do tôn giáo trở thành trung tâm và tự do chính trị trở thành phụ. Ngài tin chắc rằng tự do chính trị thoả đáng sẽ là giải pháp cho tình trạng khó khăn hiện tại của người Tây Tạng. Do đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đề xuất một thỏa thuận tự trị trong CHND Trung Hoa như một giải pháp. Ngài nói:

Tôi không tìm kiếm độc lập cho Tây Tạng. Tôi hy vọng rằng các cuộc đàm phán có thể bắt đầu và chúng sẽ mang lại quyền tự trị thật sự cho người dân Tây Tạng và việc bảo tồn và phát huy tính toàn vẹn về văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của họ. Tôi chân thành tin tưởng rằng “Phương pháp Trung đạo” của tôi sẽ góp phần vào sự ổn định và thống nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đảm bảo quyền cho người dân Tây Tạng được sống trong tự do, hòa bình và nhân phẩm (tuyên bố đưa ra vào ngày 10 tháng 3 năm 1999).

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ủng hộ yêu cầu chính trị về quyền tự trị thực sự một cách không chính thức từ năm 1979 khi Đặng Tiểu Bình mời người Tây Tạng thảo luận bất cứ điều gì ngoại trừ nền độc lập, và chính thức từ năm 1989, khi ông đưa ra Đề xuất Strasbourg như một đề xuất thực tế để giải quyết vấn đề thông qua đàm phán. Đề xuất 'quyền tự trị lớn hơn' của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được các bên khác nhau trong cuộc xung đột đánh giá là hợp lý. Hơn nữa, đề xuất của Ngài nằm trong quy trình quản lý xung đột do các chuyên gia giải quyết xung đột khuyến nghị. Đặc biệt khi nói đến các xung đột xã hội kéo dài tương tự như Tây Tạng liên quan đến việc bảo vệ các bản sắc văn hóa độc đáo và tìm kiếm một hình thức quản trị phù hợp, Edward Azar đã đề xuất các hình thức cấu trúc chính trị khác nhau trong các cơ cấu quốc gia hiện có. Tedd Gurr và Deepa Khosla đã tiến thêm một bước trong việc đề xuất quyền tự trị như một giải pháp thực tế cho vấn đề Tây Tạng.

Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của một phong trào bất bạo động là các mục tiêu chính xác và đã được thống nhất. Đặt ra các mục tiêu không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, như lịch sử đã chỉ ra - từ phong trào Gandhian bị kẹt giữa những người ôn hòa và những người cực đoan trong việc quyết định lộ trình của phong trào, cho đến phe đối lập dân chủ ở Serbia không thể đưa ra quyết định khi tiến hành cuộc bầu cử năm 2000 chống lại Milosevic cho đến một vài tháng trước ngày. Việc ra quyết định về các mục tiêu thường chia rẽ ngôi nhà đoàn thể trong những thời điểm khó khăn. Tương tự như vậy trong trường hợp của Tây Tạng, dòng suy nghĩ không chính thức ủng hộ một Tây Tạng dân chủ và độc lập về chính trị. Lập luận trọng tâm của họ là TGE đã thất bại thảm hại trong việc thuyết phục Tàu Cộng không sẵn lòng đàm phán ngay cả khi từ bỏ nền độc lập trong gần hai thập niên. Do đó, các nhóm như Đại hội Thanh niên Tây Tạng (TYC) chống lại việc từ bỏ chủ quyền của Tây Tạng và yêu cầu độc lập hoàn toàn cho toàn bộ dân tộc Tây Tạng, bao gồm ba tỉnh truyền thống U-Tsang, Kham và Amdo. Căn nguyên của lập trường gây chia rẽ này nằm ở quá trình ra quyết định hơn là ở các luận điểm. Tuy nhiên, lập trường của TGE, sẵn sàng đàm phán, về yêu cầu quyền tự trị, ít nhất là về mặt lý thuyết, thực tế vì nó đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cả người Tây Tạng và người Trung Hoa mà không có sự tách biệt. Đối với người Tây Tạng, nó đảm bảo các quyền cơ bản của con người và quyền bảo vệ các truyền thống văn hóa độc đáo của họ. Đối với người Trung Hoa, nó tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và đóng góp cho một mẫu quốc ổn định và mạnh mẽ. Vì vậy, bằng cách giải quyết các mối quan tâm quốc gia của người Tây Tạng và Trung Hoa, mục tiêu này dường như có thể đạt được về mặt chính trị.

Yếu Tố Cần Thiết Của Trung Đạo

Đối với phong trào phản đối bất bạo động công cộng (Gandhian satyagraha), các phương châm cơ bản là: sự thật, bất bạo động (ahimsa) và tự chịu đựng. Đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, phương châm cơ bản của trung đạo là bất bạo động và đối thoại. Ngài có nói: . . .

để sống với ít xung đột và đổ máu hơn và để đạt được điều này, điều quan trọng là phải tuân theo bất bạo động và đối thoại. . . nếu cuộc đấu tranh của chúng ta thông qua bất bạo động với một cảm giác từ bi thành công, chúng ta sẽ tạo ra một cách mới để giải quyết các vấn đề và xung đột và do đó phục vụ lợi ích của toàn nhân loại.

Như rõ ràng từ lời nói của mình, Đức Đạt Lai Lạt Ma tin rằng bất bạo động và đối thoại có thể là cơ sở duy nhất để giải quyết xung đột một cách hòa bình. Trong những năm qua, bất bạo động và đối thoại đã chiếm vị trí trung tâm trong chính sách trung đạo của Ngài. Không còn nghi ngờ gì nữa, đối thoại lưu ý vào các cuộc đàm phán với Tàu Cộng. Do đó, Ngài coi các sáng kiến hòa bình như Kế hoạch Hòa bình Năm điểm và Đề xuất Strasbourg là cơ sở linh hoạt cho các cuộc đàm phán với Tàu Cộng. Mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma đã không nói rõ ràng ý của Ngài là bất bạo động trong bối cảnh của con đường trung đạo, nhưng về cơ bản nó chỉ ra hành động bất bạo động.

Đối thoại là một thành phần trung tâm của Phật giáo Tây Tạng và hoá ra là con đường trung đạo. Trong bối cảnh chính trị, Ngài ủng hộ mạnh mẽ đối thoại như một cách tiếp cận thực tế để giải quyết vấn đề Tây Tạng. Ngài nhấn mạnh đối thoại ở hai cấp độ: một là giữa chính phủ lưu vong TGE và CHND Trung Hoa và hai là giữa người Tây Tạng và người Trung Hoa. Ngài đã nói:

Sau nửa thế kỷ 'giải phóng', sự kiện Tây Tạng vẫn còn rất sống động và vẫn chưa được giải quyết. Rõ ràng tình trạng này không có lợi cho bất kỳ ai, cho cả Tây Tạng lẫn Trung Hoa. Tiếp tục đi theo con đường này không làm giảm bớt đau khổ của người dân Tây Tạng, cũng không mang lại sự ổn định và thống nhất cho Trung Hoa hoặc giúp nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Trung Hoa. Cách hợp lý và có trách nhiệm duy nhất để giải quyết vấn đề này là đối thoại. Không có sự thay thế thực tế nào cho nó (tuyên bố ngày 10 tháng 3 năm 1998).

Ngài thường nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại trong các bài phát biểu và tuyên bố của mình. Theo Ngài, sự ngờ vực giữa người Trung Hoa và người Tây Tạng có thể được khắc phục ‘chỉ thông qua các cuộc gặp mặt trực tiếp và đối thoại chân thành’. Về phần mình, Ngài đã nói, 'Tôi vẫn cam kết với tiến trình đối thoại như một phương tiện để giải quyết vấn đề Tây Tạng. Tôi không tìm kiếm độc lập cho Tây Tạng. Tôi hy vọng rằng các cuộc đàm phán có thể bắt đầu và chúng sẽ mang lại quyền tự trị thật sự cho người dân Tây Tạng cũng như việc bảo tồn và phát huy tính toàn vẹn về văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của họ.’ Trong tuyên bố ngày 10 tháng 3 năm 1996, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng khuyến khích đối thoại giữa người Tây Tạng và người Trung Hoa để thúc đẩy 'sự hiểu biết tốt hơn về các mối quan tâm và lợi ích chung của chúng ta'. Do đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma tin tưởng chắc chắn rằng có thể tìm thấy một giải pháp lâu dài cho vấn đề Tây Tạng thông qua tiếp xúc giữa người với người giữa người Tây Tạng và người Trung Hoa.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, kiến trúc sư trưởng của nền chính trị bất bạo động Tây Tạng, là một tín đồ trung thành của Mahatma Gandhi. Sự ủng hộ của Ngài đối với Tuyên bố chung về bất bạo động trong đó tuyên bố rằng “tất cả các hình thức bạo lực, đặc biệt là chiến tranh, là hoàn toàn không thể chấp nhận được như một phương tiện để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, nhóm và người với nhau” khiến Ngài trở nên cấp tiến trong số các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị khác. Ngài tin tưởng mạnh mẽ rằng phản kháng bất bạo động dành cho những người có ý chí mạnh mẽ và nguyên tắc, những người từ chối dựa vào thứ phi logic méo mó là ngăn chặn bạo lực xấu của kẻ thù bằng bạo lực tốt của mình. Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố rằng thật thiển cận khi tin rằng có thể tìm ra giải pháp lâu dài thông qua việc sử dụng vũ lực. Ngài luôn thể hiện niềm tin chắc chắn của mình khi đi theo con đường bất bạo động. Theo Ngài, sức mạnh và sự đối đầu chỉ có thể mang lại lợi ích tạm thời. Do đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyến khích phản kháng bất bạo động bên trong Tây Tạng. Mặc dù Ngài đã thừa nhận rằng 'người dân Tây Tạng thể hiện nỗi buồn sâu sắc của họ thông qua bất bạo động là cách đúng đắn', nhưng Ngài không nói một cách đơn giản về động lực hoặc hoạt động của phản kháng bất bạo động ở Tây Tạng. Điều này đã làm cho sự hiểu biết tổng thể về phong trào bất bạo động đang diễn ra ở Tây Tạng trở nên khó nắm bắt, không giống như các phong trào Gandhian hoặc Kingian (Martin Luther). Do đó, tôi đang tập trung ở đây vào các yếu tố thực dụng ít được biết đến của phong trào bất bạo động Tây Tạng hơn là vào những ảnh hưởng nổi tiếng của Phật giáo và Gandhi.

Trước tiên, đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma, bất bạo động là phương pháp hiệu quả và thích hợp nhất để giải quyết xung đột. Ngài tin chắc vào bất bạo động như một kỹ thuật chính trị. Ngài chỉ ra rằng, ‘những sự kiện như sự kết thúc của chế độ độc tài Marcos ở Philippines và Pinochet ở Chilê, cũng như những thay đổi ở Moscow và các nước khác, cho thấy khá rõ ràng rằng những biến động trong lòng dân chúng. . . kết quả của hành động bất bạo động.’ Hơn nữa, Ngài hiểu tầm quan trọng của bất bạo động đối với một láng giềng thân thiện. Vì Trung Hoa và Tây Tạng là láng giềng của nhau—quá khứ, hiện tại và tương lai—Ngài lập luận rằng họ phải có một mối quan hệ hòa bình và hài hòa. Do đó, điều thiết yếu là những vấn đề chia rẽ họ nên được giải quyết một cách bất bạo động. Sử dụng bạo lực trong những tình huống như vậy khiến người ta có cảm giác khinh thường và thù hận trong nhiều thế hệ và do đó dẫn đến bạo lực hơn nữa. Ngài đưa ra những ví dụ về các cuộc xung đột kéo dài như Israel và Palestine, và Bosnia nơi bạo lực được sử dụng để ngăn chặn bạo lực. Ngài cũng đưa ra các ví dụ về Philippines, Chilê và Liên Xô trước đây, nơi nền dân chủ đã được thiết lập thông qua các biện pháp bất bạo động.

Thứ hai, bất bạo động được sử dụng trong chính trị do hiểu rằng các phương tiện đấu tranh không được mâu thuẫn với các mục tiêu hoặc mục đích xã hội của nó. Bạo lực không thể được sử dụng để tạo ra một hệ thống chính trị dựa trên sự tự quản và sự tham gia của thường dân và mang lại hòa bình. Chỉ thông qua các phương pháp bất bạo động, người ta mới có thể đạt được kết quả bất bạo động. Cũng cần lưu ý các mối liên hệ giữa bất bạo động và dân chủ như được thiết lập bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một yếu tố quan trọng khác của cách tiếp cận bất bạo động thực dụng là sự thừa nhận rằng cả hai bên đều có những nhu cầu cần được giải quyết. Do đó, người Tây Tạng tận tâm theo đuổi các cuộc đàm phán giải quyết vấn đề, được minh họa bằng các sáng kiến hòa bình như Kế hoạch Hòa bình Năm điểm để đạt được một giải pháp có lợi như nhau cho cả người Tây Tạng và Trung Hoa.

Thứ ba, trong tình hình Tây Tạng, bạo lực không được coi là một lựa chọn thực tế để chống lại Tàu Cộng và được coi là phản tác dụng đối với mục tiêu của người Tây Tạng. Mặc dù các tổ chức phi chính phủ như Đại hội Thanh niên Tây Tạng (TYC) ủng hộ 'phương pháp đấu tranh bạo lực', nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma tin tưởng mạnh mẽ rằng bất bạo động là phương tiện hiệu quả nhất để đối phó với  Tàu Cộng trong hoàn cảnh hiện tại. Ngài cũng cảm thấy rằng một cuộc đấu tranh bạo lực chống lại  Tàu Cộng hùng mạnh về quân sự là một nhiệm vụ bất khả thi. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói, 'Tôi yêu cầu những người nóng nảy, hãy để họ hình dung điều này. Nếu chúng ta làm theo phương pháp bạo lực, vài trăm khẩu súng sẽ không hiệu quả. Ít nhất chúng ta cần vài nghìn, ít nhất vài nghìn. . . khoảng 100.000. Bây giờ chúng ta sẽ lấy những vũ khí này từ đâu? Có quốc gia nào sẵn sàng cung cấp chúng cho chúng ta không?’ Ở một nơi khác, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhắc lại rằng không ai sẽ cung cấp vũ khí cho người Tây Tạng, và ngay cả khi một quốc gia làm như vậy, việc chuyển vũ khí cho Tây Tạng sẽ không dễ dàng. ‘Nếu nửa triệu người Tây Tạng cầm vũ khí chống lại Trung Quốc, đó sẽ là hành động tự sát.’ Ngài tin rằng một cuộc nổi dậy vũ trang sẽ là cái cớ tốt nhất để  Tàu Cộng tiêu diệt người Tây Tạng. Hơn nữa, dân số Tây Tạng đang suy giảm chắc chắn không khuyến khích lựa chọn bạo lực và thúc đẩy bất bạo động, vì bất bạo động sẽ cứu được nhiều mạng người.

Cuối cùng, lập trường bất bạo động của người Tây Tạng huy động được sự ủng hộ từ nhiều phía, kể cả người dân Trung Hoa. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói, 'vì thái độ bất bạo động của chúng tôi, người Hoa cả ở Trung Quốc và nước ngoài đều bày tỏ sự cảm thông và quan tâm đến chính nghĩa của chúng tôi và kết quả là công khai thể hiện sự ủng hộ của họ đối với cuộc đấu tranh giành độc lập của Tây Tạng.' Ông tin tưởng chắc chắn rằng thông qua bất bạo động, họ có thể đạt được một giải pháp có lợi cho cả người Hoa lẫn người Tạng. Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, sự hỗ trợ to lớn của quốc tế mà người Tây Tạng hiện đang được hưởng là do đặc tính bất bạo động của phong trào. Đức Đạt Lai Lạt Ma thường thừa nhận sự thông cảm của giới truyền thông đối với phong trào bất bạo động và tầm quan trọng của nó đối với chính nghĩa của Tây Tạng. Ngài đã nói rằng sự quan tâm của giới truyền thông về Tây Tạng đã thu hút ‘mọi người trên toàn thế giới. . . [đến] chính nghĩa Tây Tạng.’ Do đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma rất coi trọng lợi ích này. . . [và] thực tế là chính nghĩa của chúng tôi sẽ được công nhận theo cách này, tôi tin rằng, sẽ truyền cảm hứng cho chính phủ Trung Hoa thể hiện sự kiềm chế nhiều hơn trong các giao dịch với người dân Tây Tạng và quan tâm đến nhu cầu của họ.’ Do đó, cuộc đấu tranh bất bạo động của người Tây Tạng có những yếu tố thực dụng không thể thiếu, trong đó bất bạo động được sử dụng trên thực tế chỉ là một trong một số phương pháp khả thi để ứng phó với tình huống xung đột với Trung Hoa nhằm đạt được một giải pháp đôi bên cùng có lợi.

Chiến Lược Đấu Tranh Bất Bạo Động Của Người Tây Tạng

Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến thăm Ấn Độ vào năm 1956, Ngài đã gặp nhiều người theo Gandhi và thảo luận về tình hình Tây Tạng. Họ khuyên Đức Đạt Lai Lạt Ma trở về Tây Tạng và tiếp tục đấu tranh cho tự do. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã làm chính xác điều đó. Nhưng không có kết quả. Vì vậy, cuối cùng vào năm 1959, khi không còn lựa chọn nào khác, Ngài phải đi lưu vong. Từ nơi lưu vong, Ngài đã cố gắng giải quyết vấn đề thông qua đàm phán bằng cách bắt đầu liên hệ trực tiếp với Bắc Kinh. Việc thiếu tiến bộ trong các sáng kiến trực tiếp và mối đe dọa nghiêm trọng đối với văn hóa Tây Tạng dưới hình thức chính sách di chuyển dân số của  Tàu Cộng đã buộc Ngài phải đưa phong trào bất bạo động Tây Tạng lên một tầm cao mới mà không dao động khỏi con đường bất bạo động và đối thoại đã chọn: quốc tế hóa vấn đề Tây Tạng trong hy vọng rằng nó sẽ gây áp lực buộc Tàu Cộng phải ngồi vào bàn đàm phán. Trong bài phát biểu tại hội nghị lần thứ hai của Nhóm Hỗ trợ Tây Tạng tại Đức vào tháng 6 năm 1996, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giải thích rõ ràng rằng sự bế tắc trong các cuộc đàm phán Hoa - Tạng đã buộc Ngài phải quốc tế hóa vấn đề Tây Tạng. Ngài nói:

Vì không có phản hồi từ phía Trung Hoa, tôi buộc phải tuyên bố công khai Kế hoạch Hòa bình Năm điểm của mình cho Tây Tạng. Đây là kết quả của việc thiếu đáp ứng từ phía Trung Hoa và do đó không có lựa chọn nào khác ngoài việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế.

Ở đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh việc phía Tàu Cộng không có phản hồi đàm phán và thiếu các giải pháp thay thế để đối phó với Tàu Cộng là những lý do quan trọng để quốc tế hóa vấn đề Tây Tạng. Vì mục tiêu trước mắt của ngài khi đó là đối thoại với Trung Quốc để bảo tồn văn hóa Tây Tạng khỏi các chính sách của Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma tin chắc rằng áp lực đạo đức, chính trị và kinh tế quốc tế là lựa chọn khả thi duy nhất mà người Tây Tạng còn lại để tìm ra giải pháp kịp thời.

Do đó, với hành động bất bạo động và đối thoại là các thành phần trung tâm, chính sách trung đạo cố gắng vận động áp lực quốc tế để buộc Tàu Cộng đồng ý với một sự hoà giải chính trị thương lượng đối với Tây Tạng. Áp lực đã được gây ra đối với Tàu Cộng thông qua nỗ lực lập pháp, tức là đưa Tây Tạng vào diễn đàn của các chính phủ, đặc biệt là các ngành lập pháp, và tạo ra những thay đổi trong chính sách của các chính phủ trên toàn thế giới. Điều này đã trở thành chiến lược cốt lõi của việc quốc tế hóa. Chiến lược này đã phát triển từ năm 1987 bằng cách bao gồm bốn khía cạnh: phản kháng bất bạo động bên trong Tây Tạng, đối thoại với CHND Trung Hoa, Chương trình xây dựng trong lưu vong để bảo vệ văn hóa và tôn giáo Tây Tạng, và quốc tế hóa cùng vận động truyền thông về vấn đề Tây Tạng. Trong khi phản kháng bất bạo động bên trong Tây Tạng chuyển tải sự bất bình thật sự của người dân Tây Tạng tới CHND Trung Hoa và thế giới bên ngoài, cuộc đối thoại thông qua các sáng kiến hòa bình đã hình thành cơ sở cho các cuộc đàm phán với Bắc Kinh. Chương trình Xây dựng của Chính Phủ Lưu Vong Tây Tạng  nhằm mục đích bảo vệ và thúc đẩy tôn giáo và văn hóa Tây Tạng và hiện thực hóa một Tây Tạng tự do dân chủ lưu vong. Cuối cùng, việc quốc tế hóa vấn đề Tây Tạng huy động sự hỗ trợ của công chúng, chính trị và truyền thông quốc tế để gây áp lực lên Tàu Cộng về một giải pháp hòa bình.

Trong khi các học giả thuộc trường phái hiện thực hoặc thực tiển lên án chiến lược quốc tế hóa, thì nhóm học giả thứ hai theo chủ nghĩa lý tưởng chính trị và chủ nghĩa đa nguyên lại đánh giá cao việc quốc tế hóa vấn đề Tây Tạng. Mặc dù cả hai nhóm đều đồng ý rằng Tây Tạng là một mối quan tâm chiến lược đối với Tàu Cộng và sự tồn tại văn hóa của người Tây Tạng đang gặp nguy hiểm, nhưng họ đưa ra các giải pháp hoàn toàn khác nhau. Những người theo chủ nghĩa hiện thực đề xuất sự tham gia tích cực của chính phủ bên thứ ba (đặc biệt là Hoa Kỳ) vào quá trình hòa giải và sự trở lại của Đức Đạt Lai Lạt Ma để bảo vệ cuộc sống của người Tây Tạng mà không thực hiện bất kỳ thay đổi cấu trúc nào đối với quan điểm chính trị của Tây Tạng đối với Trung Hoa. Ngăn chặn sự tẩy chay xã hội và kinh tế quốc tế như một phương tiện để gây sức ép buộc Tàu Cộng phải đàm phán, những người theo chủ nghĩa lý tưởng đề xuất một sự can dự tích cực bất bạo động của người Tây Tạng với Tàu Cộng để cứu người dân và nền văn hóa Tây Tạng khỏi sự hủy diệt. Tuy nhiên, cả hai nhóm, trong nhiệm vụ rõ ràng là xử lý xung đột theo cách có thể đáp ứng nhu cầu của cả hai bên, đã bỏ lỡ yếu tố quan trọng trong việc giải quyết xung đột bất đối xứng, đó là cân bằng mối quan hệ quyền lực giữa Chính Phủ Lưu Vong Tây Tạng và CHND Trung Hoa trong dài hạn, hòa bình bền vững. Ý tưởng của họ làm nổi bật tính hiệu quả của hành động bất bạo động và sự tham gia của bên thứ ba như những yếu tố quan trọng để thay đổi cán cân quyền lực và tác động đến sự thay đổi hòa bình trong mối quan hệ chính trị xã hội Hoa - Tạng. Về mặt lý thuyết, hai hoạt động này đóng góp rất nhiều vào việc quản lý bất kỳ cuộc xung đột bất đối xứng nào: hành động bất bạo động sẽ nâng xung đột lên mức rõ ràng và sự hỗ trợ của bên thứ ba có thể giúp cân bằng mối quan hệ quyền lực của các bên. Một cách phù hợp, hai yếu tố này tạo thành cốt lõi của chính sách trung đạo của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Do đó, trung đạo không chỉ là một nguyên tắc tôn giáo hay đạo đức. Đó cũng là chính trị và thực tế. Mặc dù chiến lược bốn chiều này đã không đưa CHND Trung Hoa đến bàn đàm phán, nhưng khi xem xét thành công chính trị của việc giành được sự ủng hộ và đoàn kết quốc tế cũng như các việc được mất liên quan, có thể nói rằng chiến lược chính trị bất bạo động này đã đạt được nhiều thành tựu như một số xung đột bạo lực đương đại ở châu Á. Nó đã đặc biệt thành công trong việc ngăn chặn cuộc xung đột trở nên bạo lực ở Tây Tạng. Không còn nghi ngờ gì nữa, bạo lực ở Tây Tạng sẽ khơi mào cho một vòng xoáy bạo lực gây thiệt hại to lớn về người và vật chất cho tất cả các bên khi, người ta xem xét sự kháng cự lâu dài ở Tây Tạng và các dân tộc thiểu số khác trong CHND Trung Hoa. Bạo lực ở Tây Tạng trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng sẽ ảnh hưởng đến hiện trạng xung đột và kích động sự can thiệp ở cấp khu vực, đặc biệt là từ Ấn Độ nơi có gần 80.000 người tị nạn Tây Tạng sinh sống và ở cấp quốc tế, chủ yếu là từ Hoa Kỳ, nơi người Tây Tạng sinh sống hoạt động hành lang rất sôi nổi.

Tuy nhiên, tình trạng xung đột bất đối xứng được thắt nút trong mối quan hệ chính trị và xã hội không cân bằng giữa CHND Trung Hoa hùng mạnh và Chính Phủ Lưu Vong Tây Tạng bất lực đặt ra những thách thức to lớn đối với việc giải quyết xung đột. Vì cấu trúc giúp phe ưu thế và mạnh mẽ giành chiến thắng và thiểu số hoặc bất lực thua cuộc, nên xung đột chỉ có thể được giải quyết bằng cách thay đổi cấu trúc và nâng xung đột lên mức rõ ràng. Hành động bất bạo động là phương pháp hiệu quả duy nhất để làm điều này, và mặc dù hành động bất bạo động của Tây Tạng cho đến nay vẫn chưa thành công trong việc giải quyết bạo lực tiềm ẩn đang tồn tại ở Tây Tạng và giữ cho xung đột ở mức độ tiềm ẩn, với những ngoại lệ nhỏ như các cuộc biểu tình năm 1959, 1987 và năm 1989, đó là chìa khóa duy nhất để gia tăng xung đột đến mức rõ ràng, mang lại những thay đổi về cấu trúc, ngăn chặn bạo lực trong tương lai ở Tây Tạng và dẫn dắt cuộc xung đột ở Tây Tạng tới một giải pháp hòa bình.

Kết Luận

Như đã trình bày, mục đích của bài tiểu luận này không phải là để thách thức hay phân giải cấu trúc của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người chia sẻ quan điểm của những người theo Gandhi về bản chất không thể tách rời của tôn giáo và chính trị. Thay vào đó, đấy là một nỗ lực khiêm tốn nhằm làm nổi bật những khía cạnh thực tế trong hoạt động chính trị của Ngài vốn được thúc đẩy bởi các giá trị tinh thần Phật giáo. Phân tích quan trọng này về chính sách trung đạo của Đức Đạt Lai Lạt Ma có tầm quan trọng đối với phong trào bất bạo động đang diễn ra và nền chính trị dân chủ đang phát triển. Mặt khác, trường hợp Tây Tạng đưa ra một phương tiện giải quyết xung đột mới, hiệu quả và bất bạo động, có thể được điều chỉnh để đáp ứng các tình huống tương tự hoặc khác nhau chống lại chế độ độc tài hoặc các chính phủ độc đoán. Do đó, theo truyền thống do các triết gia hòa bình như Tolstoy, Gandhi và King thiết lập, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã thách thức các quan niệm bạo lực của Machiavellian và lên tiếng cũng như hành động để cải thiện các điều kiện hòa bình của thế giới. Mặc dù Ngài là người không tưởng trong mong muốn phá vỡ các quy ước cho nền chính trị lý tưởng hóa, nhưng Ngài cũng rất thực tế vì đã hiện thực hóa tầm nhìn của mình trong 'thế giới này' bằng cách xử lý hòa bình cuộc xung đột với Tàu Cộng và dân chủ hóa chính thể Tây Tạng. Mặc dù các chính sách của Ngài thiên về sự lạc quan, nhưng Ngài lấy cảm hứng từ hy vọng chứ không phải những tổn thương và phát triển các giải pháp thay thế chứ không phải giả định. Việc Ngài xử lý vấn đề Tây Tạng và cách mạng hóa nền chính trị Tây Tạng phản ánh rõ ràng động lực của Ngài nhằm cải thiện toàn bộ hệ thống, nơi mà người Tây Tạng, Trung Hoa và các nước láng giềng của họ cùng có lợi. Do đó, triết lý chính trị của ông, đặc biệt là chính sách trung đạo, bắt nguồn từ Phật giáo, phản kháng bất bạo động của Gandhi và hiểu biết thực tế về chính trị quốc tế trở thành tài liệu vững chắc cho nghiên cứu hòa bình./.


Ẩn Tâm Lộ - 2022
Trích từ quyển Understanding the Dalai Lama - Rajiv Mehrotra 


Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

NHỮNG BÀI KỆ ĐỂ LOẠI BỎ NHỮNG CHƯỚNG NGẠI VÀ DUY TRÌ SỰ CHỨNG NGỘ BẢN TÁNH CỦA TÂM

 



Nguyên tác: Verses to Remove Hindrances and Sustain Realization of the Nature of Mind
Tác giả: Khenpo Gangshar Gangshar
Anh dịch: Sean Price, 2016
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính

***

Tôi đảnh lễ dưới chân của Đạo Sư, Bậc Hướng Dẫn Tối Cao.
Bản thân việc thực hành là xem vị đạo sư như một vị Phật thật sự, khẩn cầu ngài như vậy với lòng sùng mộ mãnh liệt, để nhận bốn quán đảnh và kết hợp trí tuệ của ngài với tâm trí của bạn.

Lúc này nhìn thẳng vào tâm trí bình thường, sự tỉnh giác rõ ràng về thời điểm này, không bị ràng buộc bởi những ý tưởng cưỡng bách và tiêu cực. Đừng buồn khi tâm xúc động hoặc vui khi tâm tĩnh lặng. Tương tự như vậy, không áp dụng các biện pháp để nới lỏng hoặc kềm chế tâm trí của bạn; chỉ đơn giản là cho phép tất cả tan vở và thư giãn trong tự nhiên.

Nếu những suy nghĩ vẩn vơ bên ngoài, thì không cần phải nghĩ, ‘Tôi nên mang tỉnh thức về nhà.’ v.v., không cần phải sửa đổi tâm trí như vậy. Không cần thiết phải làm điều này hoặc dừng điều nọ; đơn giản là vẫn mở rộng và tự do mà không có bất kỳ tiêu điểm chú ý nào.

Không thể nhìn thấy tâm chân như , vì vậy hãy từ bỏ bất kỳ ý tưởng nào về việc 'nhìn thấy' nó. Bất cứ điều gì phát sinh chỉ đơn giản là sự liên tục kỳ diệu của pháp thân, không có bất kỳ và mọi giới hạn. Đơn giản chỉ cần ‘buông bỏ’ trong sự lan tỏa liên tục của cảm giác thư thái hoàn toàn.

Đứa trẻ nhỏ, tâm trí, không ai khác chính là sáu thức an nhàn. Đừng nắm bắt điều phát sinh, dù tốt hay xấu; xem nó như cầu vồng trên bầu trời. Những suy nghĩ và cảm xúc mang tính hủy diệt giải thoát trong và của chính chúng, giống như một con rắn tự mở ra những nút thắt của chính nó. Đừng làm theo thói quen của bạn — nếu bạn khao khát điều gì đó, hãy cắt bỏ gốc rễ của người khao khát. Nếu bạn cảm thấy nghiện, hãy loại bỏ gốc rễ của chứng nghiện. Nếu tâm trí bạn đang buồn nãn, hãy trau dồi nó và sử dụng kinh nghiệm để nâng cao thực hành của bạn.

Mang tinh tuý buổi thiền của bạn vào hậu thiền. Nếu bạn cảm thấy liên tục từ bỏ, mệt mỏi và chán nản đối với luân hồi, đây là những dấu hiệu ổn định trong thực hành của bạn, cũng như lòng sùng mộ sâu sắc [đối với đạo sư và những chỉ dẫn của ngài], lòng từ bi, sự ổn định trong giai đoạn sáng tạo và hoàn thành thực hành và khả năng chết đi không hối hận.

Đây là bài phát biểu của một Kẻ lang thang đức hạnh. Tôi đã viết nó dựa trên kinh điển, những chỉ dẫn truyền miệng của đạo sư tôi, cũng như kinh nghiệm của chính tôi. Cầu mong cho bất kỳ đức tính nào tiếp theo sẽ có ích cho bạn!

***
| Translated by Sean Price, 2016. First published on Lotsawa House, 2019.

Bibliography
Tibetan Edition Used
Gang shar dbang po. "gegs sel sems ngo skyong lugs kyi mgur" in gsung 'bum/_gang shar dbang po. TBRC W2CZ6597. 1 vols. Kathmandu: Thrangu Tashi Choling, 2008. http://tbrc.org/link?RID=W2CZ6597 Vol. 1: 39–40
Secondary Sources
Khenchen Thrangu, Vivid Awareness: The Mind Instructions of Khenpo Gangshar, with commentary by Khenchen Thrangu Rinpoche. Boston, MA: Shambhala Publications, 2011.

Ẩn Tâm Lộ, 2022