Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2023

ĐẠO SƯ YOGA LÀ GÌ?

 




Nguyên tác:
What Is Guru-Yoga? — Study Buddhism
Tác giả: Alexander Berzin
Việt dịch: Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển,
2023
***

Định nghĩa thuật ngữ: Đạo Sư Yoga -“Guru-Yoga”

Đạo sư - “Guru” và “yoga” là những từ tiếng Phạn. Chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của những điều này để biết chúng ta sắp nói về điều gì.

Đầu tiên, đạo sư là một bậc thầy tâm linh đầy đủ phẩm chất. Từ này có nghĩa đen là một người năng lực lớn, và trong trường hợp guru-yoga, chúng tôi muốn nói một người năng lực lớn với những phẩm chất tốt.
Guru được dịch sang tiếng Tây Tạng theo nhiều cách khác nhau. Một cách là với từ lạt ma (bla-ma), cũng có thể có nghĩa là một bậc thầy chứng ngộ rất cao. Tuy nhiên, Lạt ma được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong các nền văn hóa Tây Tạng khác nhau. Trong một số nền văn hóa Tây Tạng, nó đề cập đến bất kỳ nhà sư nào, nhưng đó sẽ là một định nghĩa quá hạn chế đối với guru-yoga. Trong các nền văn hóa Tây Tạng khác, đó có thể là một người nào đó đã nhập thất ba năm, điều này đủ điều kiện để họ trở thành một tu sĩ làng quê và thực hiện các nghi lễ. Chúng tôi chắc chắn không có ý đó khi nói về guru-yoga. Sau đó, có một số người phương Tây tự tuyên bố mình là “lạt ma” một cách tự phụ vì nhiều lý do khác nhau, và có thể không phải là lý do thuần túy nhất. Đó cũng không phải là điều chúng tôi muốn nói ở đây.

Ngoài ra, thuật ngữ “lạt ma” được sử dụng cho một vị lạt ma tái sinh, và một người như vậy được gọi là tulku (sprul-sku) trong tiếng Tây Tạng. Họ được nhắc đến với danh hiệu “Rinpoche.” Chúng tôi cũng không nhất thiết phải có ý đó.
Chỉ vì ai đó là một lạt ma tái sinh không có nghĩa là họ là một giáo thọ có trình độ. Loại lạt ma tái sinh đó vẫn có thể là một đứa trẻ. Ngay cả khi đã trưởng thành, có thể các điều kiện và hoàn cảnh lý tưởng để một tulku được nuôi dưỡng, cũng như sự giáo dục và môi trường cần thiết, đã không được đáp ứng. Phần lớn các tulku không giác ngộ. Trên thực tế, hầu hết thậm chí còn không có nhận thức vô niệm về tánh Không. Họ tiếp tục trải nghiệm sự chín muồi của những ác nghiệp đã tích tập trước đây, vì vậy họ có thể không hành động như một vị thầy đúng đắn chút nào.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng chỉ vì ai đó có danh hiệu tulku, hay lạt ma tái sinh, không có nghĩa là họ là một bậc thầy lớn. Nó chỉ có nghĩa là người ấy thuộc dòng truyền thừa của họ vốn là một bậc thầy lớn.
Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn khuyến cáo rất mạnh mẽ rằng những tulku này, những Lạt ma tái sinh, không nên chỉ dựa vào tên của họ. Ngài nhấn mạnh rằng những người theo họ cũng không nên dựa vào danh tiếng vĩ đại và danh hiệu cao của vị thầy, và rằng mỗi vị lạt ma tái sinh phải chứng tỏ bản thân và trình độ của họ trong cuộc đời này.

Một tên gọi khác của guru xuất phát từ một thuật ngữ tiếng Phạn hơi khác, kalyana-mitra, đôi khi được dịch là “người bạn tâm linh”. “Tâm linh” không thật sự là từ chính xác ở đây. Thay vào đó, vị ấy là một người bạn giúp chúng tôi trở nên có tính xây dựng. Từ được dịch là “tâm linh” (kalyāṇa) thật ra có nghĩa là xây dựng.
Người bạn xây dựng hay người bạn tâm linh là người mà chúng ta rất thân thiết, đối xử với chúng ta như một người bạn thân hay một thành viên trong gia đình. Nó không có nghĩa là ai đó mà chúng ta đi uống rượu và đi xem phim, mà là ai đó mà chúng ta có mối liên hệ từ trái tim đến trái tim, rất gần gũi. Toàn bộ mục đích của mối quan hệ là giúp chúng ta ngày càng mang tính xây dựng hơn, ngày càng tích cực hơn và ngày càng đạt được nhiều phẩm chất tốt đẹp.

Từ tiếng Tây Tạng cho một người bạn tâm linh như vậy là geshe (dge-bshes, dge-ba'i bshes-gnyen). Mãi sau này, geshe mới trở thành danh hiệu dành cho người đã hoàn thành hệ thống giáo dục theo truyền thống Gelug. Ý nghĩa ban đầu của nó là một người bạn tinh thần. Thuật ngữ tương đương trong các truyền thống Tây Tạng khác là khenpo (mkhan-po), trong các ngữ cảnh khác có nghĩa là một vị trụ trì của một tu viện. Theo nghĩa đen, khenpo có nghĩa là một người uyên bác.

Chỉ vì ai đó là một geshe hay một khenpo không có nghĩa là họ đã phát triển tâm linh hay họ nhất thiết phải là một vị thầy tốt. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là họ được giáo dục rất tốt và đã vượt qua rất nhiều kỳ thi, như chúng ta có thể thấy với các giáo sư đại học. Học giỏi chắc chắn là một phẩm chất để trở thành một vị thầy lớn, nhưng chỉ học giỏi thôi thì chưa đủ để được coi là một guru-đạo sư. Các guru cũng phải có những cá tính phù hợp với danh hiệu, trong đó họ thật sự đã phát triển trong chính họ tất cả những phẩm chất tốt đẹp mà họ đã học được.

Thứ hai, từ “yoga” của guru-yoga, xuất phát từ cùng một gốc với từ “yoke” trong tiếng Anh, có nghĩa là tham gia vào một cái gì đó hoặc một ai đó. Ví dụ, chúng ta nói rằng chúng ta bắt hai con bò và buộc chúng lại với nhau để cày. Từ tiếng Tây Tạng có hai âm tiết (rnal-'byor), và chúng có nghĩa là tham gia hoặc mang ách cho những gì xác thực hoặc vật có thật.
Điều mà chúng ta đang cố gắng kết hợp với nhau trong guru-yoga là những phẩm chất của thân, khẩu và ý của chúng ta với những phẩm chất của đạo sư-guru. Nói cách khác, chúng ta kết hợp cách chúng ta hành động, cách chúng ta giao tiếp, cách chúng ta suy nghĩ và cảm nhận với những phẩm chất của thân, khẩu và ý của một vị thầy tâm linh đích thực, đủ tiêu chuẩn. Bây giờ để làm được điều này, chúng ta cần phải tiếp thu và cởi mở với những phẩm chất cơ bản của thân, khẩu và ý của chúng ta được kết hợp với những phẩm chất của đạo sư của chúng ta. Nói cách khác, chúng ta cũng cần phải có đủ tư cách thích hợp.

Toàn bộ mục đích của guru-yoga là lấy cảm hứng từ tấm gương và sự hướng dẫn của vị thầy tâm linh. Từ byin-rlabs thường được dịch là “phước lành”, nhưng tôi thấy đó là cách dịch hoàn toàn không phù hợp từ các nguồn Cơ đốc giáo. Cách mà tôi thích dịch thuật ngữ này là “cảm hứng”.
Từ này cũng có nghĩa là nâng cao, hoặc làm sáng sủa. Nói cách khác, thông qua thực hành guru-yoga, chúng ta đang mở ra những cách thức hành động, giao tiếp, suy nghĩ và cảm nhận để được rèn luyện, được nâng cao, được tỏa sáng đến một mức độ lợi ích hơn thông qua “nguồn cảm hứng” này.

Khi chúng tôi nói về sự tham gia này, chắc chắn chúng tôi không nói về việc sao chép hành vi của giáo thọ. Ví dụ, nếu giáo viên nói tiếng Anh dở, chúng ta sẽ không bắt chước tiếng Anh dở của giáo thọ và nói tiếng Anh dở nữa. Nếu thói quen của họ là uống nhiều trà bơ, chúng ta sẽ không bắt chước họ và uống trà bơ.
Chúng ta không nói về những phẩm chất bề ngoài này. Điều mà chúng ta đang đề cập đến là được truyền cảm hứng và kết hợp những phẩm chất của chúng ta với những phẩm chất tốt đẹp tích cực, những phẩm chất của Đức Phật, của vị thầy. Đó là ý nghĩa của việc xem vị thầy tâm linh như một vị Phật. Ta không bao giờ có ý định được hiểu theo nghĩa đen. Không nơi nào trong văn học Phật giáo liệt kê những tiêu chuẩn của một đạo sư tâm linh rằng người đó phải là một bậc giác ngộ. Nếu vị thầy thật sự là một vị Phật, thì họ phải biết số điện thoại của mọi người trên hành tinh này, và rõ ràng là họ không biết. Họ có thể đi xuyên qua các bức tường và làm mọi thứ như thế. Họ rõ ràng là không thể.

Sâu xa hơn, điều mà việc coi guru của chúng ta như một vị Phật đang đề cập đến là việc nhìn thấy những phẩm chất Phật tánh trong vị thầy tâm linh của chúng ta và tập trung vào những phẩm chất giác ngộ chưa xảy ra được gán cho chúng.
Một hiện tượng quy cho là một hiện tượng gắn liền với một căn bản và không thể tồn tại hoặc được biết đến một cách độc lập với cơ sở đó. Trong trường hợp này, những phẩm chất tốt chưa xảy ra không thể tồn tại hoặc được biết đến một cách độc lập với những phẩm chất tốt đang xảy ra trong hiện tại. Chúng tôi tập trung vào những điều đó, như được thể hiện trong guru-yoga bởi những phẩm chất của một trong những vị Phật này, hay yidam, trong tiếng Tây Tạng. Khi chúng ta thấy vị thầy không thể tách rời khỏi những vị Phật này, điều mà chúng ta đang làm là tập trung vào những sự gán ghép dựa trên phẩm chất Phật tánh của đạo sư của chúng ta, như được biểu thị bằng hình tướng và phẩm chất của vị Phật. Tập trung như vậy vào những phẩm chất tốt đẹp của đạo sư của chúng ta như được đại diện bởi một hình tượng Phật sẽ truyền cảm hứng cho chúng ta có thể tập trung, với thực hành Mật tông, vào những phẩm chất Phật chưa xảy ra của chính chúng ta dựa trên những phẩm chất Phật tánh của chính chúng ta và để thấy chính mình như một vị Phật. Đây là một phương pháp hiệu quả bởi vì chúng ta dễ dàng thấy được những phẩm chất Phật tánh nơi vị thầy tâm linh hơn là thấy chúng trong chính chúng ta.

Tuy nhiên, trong trường hợp của cả vị thầy tâm linh và chúng ta, toàn bộ thực hành dựa trên sự hiểu biết về tánh không của các yếu tố Phật tánh. Chúng không thật sự có thể tìm thấy bên trong vị thầy của chúng ta hoặc bên trong chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta đang kết nối Phật tánh của chính mình với Phật tánh của vị thầy tâm linh. Đó là lý do tại sao Gampopa nói, “Khi tôi nhận ra sự hợp nhất của vị thầy tâm linh của tôi và yidam bằng tâm trí của chính mình, tôi đã nhận ra đại thủ ấn.” Chúng ta đang liên kết Phật tánh của chính mình với Phật tanh của vị thầy tâm linh để có được cảm hứng để nhận ra Phật tánh của chính mình và hiện thực hóa đầy đủ mọi tiềm năng của nó.

Đó là toàn bộ quan điểm của guru-yoga. Sự nối kết được thể hiện bằng những luồng ánh sáng nối liền ba nơi (trán, cổ họng và trái tim) tượng trưng cho thân, khẩu và ý của vị thầy tâm linh, và những phẩm chất tốt đẹp của mỗi vị, với ba nơi của chúng ta và những phẩm chất tốt đẹp của chính chúng ta. Giống như chúng là một ống dẫn tiếp thêm năng lượng cho những khía cạnh Phật tánh trong ta.

Nguyên tác:
Chapter 19: What is Guru Yoga? (excerpt) | Lama Yeshe Wisdom Archive
Tác giả:
Kyabje Lama Zopa Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển
***

Ý Nghĩa Thật Sự Của Guru

Trong guru yoga, điểm thiết yếu cần hiểu là tất cả chư Phật đều chỉ là một vị trong pháp thân. Pháp thân là đạo sư tuyệt đối, và đây là tất cả chư Phật. Đây chính là trọng tâm của thực hành guru yoga. Không hiểu điều này thì không có cách nào để thực hành guru yoga một cách thoải mái. Ngay cả khi chúng ta quán tưởng thì điều đó cũng không hoàn toàn thỏa đáng bởi vì chúng ta sẽ không rõ làm thế nào mà Phật là hiện thân của guru và guru là hiện thân của Phật. Tuy nhiên, sẽ cực kỳ rõ ràng nếu chúng ta hiểu được cốt lõi của guru yoga, rằng guru là Phật và Phật là guru.

Chúng ta có thể tích hợp sự hiểu biết này vào thực hành guru yoga của mình bằng cách suy nghĩ theo cách sau. Khi chúng ta trở nên giác ngộ, nếu có một chúng sanh nào có thể được hướng dẫn bởi một hiện thân của Tara, thì chúng ta sẽ hiển lộ ở hình tướng của Tara để hướng dẫn chúng sanh đó. Bây giờ, Tara đó là biểu hiện của tất cả các Tara và tất cả các vị Phật khác. Không phải là có một vị Tara riêng biệt với tâm thức riêng biệt hướng dẫn chúng sanh cụ thể đó và có hàng tỷ vị Tara khác hướng dẫn chúng sanh khác nhưng không phải là vị Tara cụ thể đó.

Khi một chúng sanh sẵn sàng được hướng dẫn bởi hính tướng của một vị Phật và được dạy Pháp, vị Phật phơi bày Pháp cho họ phải là tất cả các vị Phật khác. Nếu không thì chúng sanh đó sẽ không được hướng dẫn bởi tất cả chư Phật mà bởi một số chư Phật chứ không phải những vị khác. Cách suy nghĩ này tạo ra vấn đề trong tâm thức. Khi Văn Thù Sư Lợi hay bất kỳ vị Phật nào khác hướng dẫn chúng ta, sự hướng dẫn đó là sự hướng dẫn của tất cả chư Phật và sự hiển lộ đó là sự hiển lộ của tất cả chư Phật.

Trong thực tế, mặc dù có vô số phương diện khác nhau của chư Phật, nhưng tâm linh thiêng liêng của tất cả chư Phật là một nhưng xuất hiện trong các hình tướng khác nhau để hướng dẫn chúng sanh hữu tình chúng ta, giống như tất cả các dòng sông đổ vào đại dương đều trở thành một.

Pháp thân giống như đại dương trong đó nhiều dòng nước trộn lẫn và các đạo sư khác nhau của chúng ta giống như những giọt nước từ đại dương. Tất cả các đạo sư của chúng ta là những biểu hiện của pháp thân, đạo sư tuyệt đối, tâm thánh thiện của tất cả chư Phật; guru tuyệt đối biểu hiện trong một hình thức bình thường phù hợp với mức độ nghiệp cảm của chúng ta. Hình thức thông thường này là guru quy ước, bản chất của nó là guru tuyệt đối.

Khi chúng ta thật sự nhìn thấy hay quán tưởng một bổn tôn hay nhìn thấy những bức tượng hay tranh vẽ của các vị bổn tôn, chúng ta nên nhận ra rằng tất cả đều là guru. Không có vị bổn tôn nào khác ngoài đạo sư.

Đạo sư trong guru yoga có nghĩa là các đạo sư hiện tại của chúng ta, những người hướng dẫn chúng ta đến giác ngộ bằng cách dạy chúng ta bảng chữ cái, cho chúng ta những lời bình luận, khẩu truyền, quán đảnh mật thừa, giới nguyện và lời khuyên cá nhân; họ là những hiện thân của pháp thân, đạo sư tuyệt đối, trí tuệ siêu việt của hạnh phúc bất nhị và tánh Không. Khi chúng ta thực hành Guru Puja, Guru Yoga sáu thời hoặc bất kỳ thực hành guru yoga nào khác, chúng ta không nên nghĩ rằng nhân vật trung tâm không liên quan gì đến guru của chúng ta. Khi chúng ta thực hành Guru Yoga của Lama Tsongkhapa hay Guru Puja, chúng ta phải nhớ rằng không có Tsongkhapa nào không phải là guru của chúng ta.

Khi chúng ta quán tưởng Lama Tsongkhapa, hình tướng mà chúng ta quán tưởng là Tsongkhapa nhưng trọng tâm chính của chúng ta nên là Lama, bậc thầy. Khi chúng ta nói “Lama Tsongkhapa” chúng ta biết rằng chúng ta đang nói về Pháp thân của tất cả chư Phật và Tsongkhapa là hiện thân đặc biệt của Pháp thân này, là một vị với tâm thánh thiện của tất cả chư Phật. Điều này sẽ mang lại một số thay đổi trong tâm thức của chúng ta bởi vì chúng ta sẽ nhanh chóng nhận được phước lành gia hộ. Cái tâm trước đây khô khan và tẻ nhạt sẽ phát triển sự kính trọng, sùng mộ và cảm hứng thực hành lớn lao. Nhờ nỗ lực trong thực hành của chúng ta, sự chứng ngộ về con đường lam-rim rồi sẽ đến. Đây là cách chúng ta có thể đạt được giác ngộ.

Mặt khác, nếu chúng ta chỉ tập trung vào khía cạnh Tsongkhapa mà không tập trung vào ý nghĩa của Lama khi chúng ta thực hành Guru Yoga của Lama Tsongkhapa hoặc Guru Puja, thì chúng ta bỏ qua thực hành guru yoga. Tất nhiên chúng ta vẫn có thể tích lũy công đức bằng cách cúng dường, v.v... chỉ với ý nghĩ rằng Tsongkhapa là một vị Phật; xét cho cùng, chúng ta tích lũy công đức bằng cách cúng dường chư bồ tát, tăng thân và thậm chí cả cha mẹ của chúng ta, mặc dù họ không phải là Phật. Nhưng đối với chúng ta để tạo ra tất cả các chứng ngộ từ tái sanh làm người hoàn hảo cho đến giác ngộ, sự ban phước gia hộ của đạo sư phải đi vào trái tim của chúng ta.

Điều đó cũng tương tự khi chúng ta thiền định về Đạo sư Vajradhara trong thực hành Guru Yoga sáu thời. Vajradhara là khía cạnh đặc biệt mà chúng ta quán tưởng, nhưng sẽ hiệu quả hơn nếu tập trung vào guru tuyệt đối. Thật ý nghĩa khi liên hệ với guru tuyệt đối mỗi khi chúng ta nghe hoặc nói “guru” hoặc “lama”. Sẽ là lạ nếu chỉ nghĩ về guru tương đối, guru xuất hiện với chúng ta trong khía cạnh thông thường và ban cho chúng ta những giáo lý mà không nghĩ về guru tuyệt đối; sẽ là lạ nếu nghĩ về khía cạnh chứ không phải bản chất. Nếu khi chúng ta thiền định về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta thấy Ngài về bản chất là một người bình thường, một chúng sanh hữu tình, thì chúng ta sẽ không thấy bất kỳ mục đích nào trong việc thực hành thiền định. Nếu chúng ta hành thiền theo cách này, chúng ta chưa hiểu thực hành guru yoga. Chúng ta phải thiền định về guru tuyệt đối.

Mặt khác, nếu chúng ta không có cảm giác sùng mộ trong tim và xem guru như một chúng sanh bình thường, chúng ta sẽ không thấy bất kỳ mục đích nào trong việc cầu xin ngài; chúng ta sẽ cảm thấy rằng mình đang cố lấy sữa từ sừng bò. Chúng ta sẽ nghĩ, “Có ích lợi gì khi cầu xin một người bình thường, một người đã được sanh ra từ bụng mẹ và có cùng một cơ thể bằng xương bằng thịt như tôi? Tôi đang làm gì khi cầu nguyện với ai đó là một con người giống như tôi?” Ngay cả khi chúng ta nói những lời cầu nguyện, chúng ta sẽ không có cảm giác gì với chúng. Trái tim của chúng ta sẽ cảm thấy trống rỗng, như thể có một cái lỗ trong đó.

Bất cứ khi nào chúng ta thực hành thiền guru yoga hoặc nghĩ về hoặc nhìn thấy guru của mình, chúng ta nên nghĩ ngay, “Đây là vị Phật.” Chẳng hạn, ngay khi chúng ta nhìn thấy hình dáng cụ thể của mẹ mình, ngay cả trong một đám đông người, chúng ta lập tức nhận ra rằng đó là mẹ của mình. Có sự nhận ra ngay lập tức, “Đây là mẹ tôi.” Điều này cũng tương tự với thực hành guru yoga. Chúng ta nên ý thức ngay rằng guru của chúng ta về bản chất là guru tuyệt đối. Hiện tại chúng ta phải nỗ lực để suy nghĩ điều này nhưng về sau, một sự hiểu biết chắc chắn rằng đạo sư là Phật sẽ tự phát sinh trong tâm chúng ta, không cần lý luận logic hay trích dẫn, giống như khi chúng ta nhìn thấy hình dáng của mẹ mình, chúng ta không cần phải cố gắng hết sức để nghĩ rằng đó là mẹ của chúng ta. Đây là cách để phát triển sự chứng ngộ ổn định lòng sùng mộ đạo sư.

Khi chúng ta phụng sự guru của mình với nhận thức về guru tuyệt đối, tâm thánh thiện của tất cả chư Phật, ngay cả khi chúng ta chỉ dâng một tách trà, chúng ta ý thức một cách tự nhiên rằng chúng ta đang dâng trà cho tất cả chư Phật. Nếu chúng ta ngồi cạnh guru của mình, chúng ta biết rằng chúng ta đang ngồi cạnh tất cả chư Phật trong mười phương. Khi guru của chúng ta ban cho chúng ta lời khuyên, giáo lý hay lễ quán đảnh, chúng ta ý thức được rằng tất cả chư Phật đang ban cho chúng ta lời khuyên, giáo lý hay lễ quán đảnh. Ngay cả khi chúng ta không nhận ra điều này, thì việc cố gắng lắng nghe giáo lý với nhận thức này cũng rất hiệu quả. Sau đó, chúng tôi sẽ cảm thấy kết nối nhiều hơn nữa; chúng ta sẽ cảm thấy gần gũi hơn với tất cả chư Phật.

Geshe Senge đã đề cập đến một Lạt ma cao cấp ở Tây Tạng, người đã sử dụng từ “Guru” trước danh hiệu của mỗi vị Phật; anh ấy sẽ nói “Guru Arya Tara,” “Guru Yamantaka”, v.v. Nhiều Lạt ma liên quan đến các Bổn tôn theo cách tương tự bởi vì guru là cội nguồn của tất cả chư Phật và Tam Bảo. Tất cả chư phật từ đâu đến? Từ guru. Phật, Pháp, Tăng từ đâu đến? Từ guru. Và guru đó là gì? Đó là guru tuyệt đối, pháp thân, trí tuệ siêu việt của hỷ lạc và tánh không bất nhị.

Ý nghĩa thật sự mà chúng ta nên liên tục ghi nhớ khi chúng ta sử dụng từ guru và cả khi chúng ta thấy guru là vị cứu tinh hợp nhất nguyên sơ, tâm nguyên sơ cực kỳ vi tế của pháp thân, guru tuyệt đối. Khi nghĩ về đạo sư như vị cứu tinh hợp nhất bổn nguyên, pháp thân, chúng ta thấy rằng bởi vì pháp thân này bị ràng buộc bởi lòng từ bi vô hạn đối với chúng sanh chúng ta, nên nó phải biểu hiện trong nhiều hình thức khác nhau để hướng dẫn chúng ta. Vì chúng ta không có nghiệp cảm để thấy trực tiếp các khía cạnh của Đức Phật, thì nó đã biểu hiện trong các khía cạnh bình thường của các bậc guru mà chúng ta quán tưởng. Nếu chúng ta bỏ lỡ ý nghĩa thật sự của guru, chúng ta sẽ nghĩ rằng đạo sư chỉ đơn giản là người mà chúng ta đã nhận được giáo lý và sẽ không thể hiểu làm thế nào mà tất cả các vị bổn tôn đều là biểu hiện của ngài./.

Ẩn Tâm Lộ, 2023

 

 

Thứ Năm, 29 tháng 6, 2023

TÓM TẮT ĐẠI THỦ ẤN THỰC HÀNH

 



 Mahāmudrā 


Concise Mahāmudrā Preliminary Practice

from the New and Old Secret Mantra’s Ripening and Liberating Practices of Generation and Completion

Concise Mahāmudrā Ngöndro Practice | Lotsawa House

Tác giả: Jedrung Jampé Jungné
Anh dịch:
 Samye Translations, 2020 (trans. Laura Dainty, edited by Oriane Sherap Lhamo). 
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính, 2023

 ***


ན་མོ་མ་ཧཱ་མུ་དྲ་ཡེ།
Namo Mahāmudrāyai![1]

Ngài là hiện thân của tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai;
Ngài là suối nguồn của Giáo Pháp thiêng liêng giảng dạy hai chân lý;
Vị lãnh đạo vĩ đại của hội chúng cao quý, đại dương Tăng già
Đạo sư nhân từ, con cầu xin ngài!
Mặc dù con đã đạt được tự do và giàu có, nhưng những điều này sẽ qua đi mau chóng và kết thúc bằng cái chết.

Khi chết, không thể thoát khỏi những việc thiện hay ác mình đã làm;

Bất cứ nơi nào con sinh ra trong ba cõi, đâu có gì khác ngoài khổ đau!
Để con có thể nhanh chóng thoát khỏi ngục tù luân hồi này,
Con sẽ áp dụng ba cửa thân, khẩu, ý của con vào hành động đức hạnh!

QUY Y

Trên bầu trời trước mặt con, giữa một đại dương mây dâng cúng dường
Là một cung điện vô lượng, trong đó có năm bảo tòa sư tử.
Trên bảo tòa trung tâm Đức Kim Cang Trì nhân từ an toạ,
Trên bảo tòa phía đông là các Bổn Tôn tâm thể, trên bảo tòa phía nam là Phật Thích Ca Mâu Ni,
Trên bảo tòa phía Tây, Pháp thiêng liêng, và trên bảo tòa phía Bắc là Quán Thế Âm.
Tóm lại, một đại dương những đối tượng quy y quý giá
Đang hiện diện sống động trước mắt con, như những đám mây cuồn cuộn trên bầu trời.
Trước sự hiện diện của các ngài, con và tất cả chúng sinh khác không có ngoại lệ, với số lượng vô hạn như không gian,
Thành tâm quy y với thân, khẩu, ý.
Đến đạo sư nhân từ, vô song và siêu phàm;
Đến các Bổn tôn tâm thể; đến Đức Phật, vị thầy tối cao;

Đến với Pháp thiêng liêng, người bảo vệ của chúng con; và đến Tăng già, người hướng dẫn của chúng con
Chúng con xin quy y Tam Bảo, những viên ngọc quý hiếm này.
(Lặp lại những dòng này nhiều lần)


Con hết lòng đảnh lễ bằng thân, khẩu, ý.
Con dâng ngài những đám mây cúng dường bao la—bên ngoài, bên trong và bí mật.
Tất cả những hành vi sai trái và sai lầm con thú nhận; trong tất cả đức hạnh con xin tuỳ hỉ.
Xin chuyển bánh xe Pháp, con nguyện ở lại đây mãi mãi!

Tất cả công đức con hồi hướng cho chúng sanh, vô lượng như hư không.
Cầu mong tất cả chúng con đạt được Phật quả vô trụ!
Mọi chúng sanh, với số lượng vô hạn như không gian, đã từng là cha mẹ của
con trong quá khứ.
Để tất cả họ có thể đạt được thể trạng giác ngộ,
Con sẽ tu tập trong sáu ba la mật, bốn phương tiện tập hợp[2] và hơn thế nữa

Hành vi của những chiến binh tâm linh, những người thừa kế của chư Phật.
Cầu mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc, mong họ thoát khỏi đau khổ,
Cầu mong niềm vui cao cả của họ không bao giờ suy giảm,
Và cầu mong họ an trú trong sự bình đẳng, bản chất bình đẳng của vạn vật.
Các đối tượng quy y tan biến thành ánh sáng và hoà tan vào bản thân con và tất cả những người khác.
Vì vậy, những che chướng ngại của chúng ta được tẩy sạch và chúng con đạt được Phật quả.

 QUÁN TƯNG VÀ TRÌ TNG KIM CANG TÁT ĐA

Trên đầu con Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa ngự tọa,
Màu trắng rạng rỡ, cầm chày kim cang và chuông, trong quần áo báo thân.
Ở trung tâm trái tim của ông, trên một đĩa mặt trăng, âm tiết hūṃ được bao quanh bởi hàng trăm âm tiết.
Từ đó một dòng cam lồ chảy xuống và đi vào con qua đỉnh đầu,

Tràn ngập cơ thể con hoàn toàn. Tất cả những hành vi sai trái, chướng ngại và sa ngã đều thoát ra
Từ lỗ chân lông của con và tuôn ra khỏi các lỗ thấp hơn của con.
Cơ thể con trở nên trống rỗng và trong sáng, giống như một viên pha lê nguyên sơ.

om bendza sato samaya, manu palaya, bendza sato tenopa, tishta dridho mé bhava, sutoyo mé bhava, supoyo mé bhava, anurakto mé bhava, sarva siddhi mé prayatsa, sarva karma sutsamé, tsittam shri yam kuru hung, ha ha ha ha ho, bhagavan sarva tathagata bendza ma mé muntsa, bendzi bhava maha samaya sato a

oṃ vajrasattva samayam | anupālaya | vajrasattvatvenopatiṣṭha | dṛdho me bhava | sutoṣyo me bhava | supoṣyo me bhava | anurakto me bhava | sarva-siddhiṃ me prayaccha | sarva-karmasu ca me | cittaṃ śreyaṃ kuru hūṃ | ha ha ha ha hoḥ | bhagavān sarva-tathāgata-vajra ma me muñca | vajrī bhava mahāsamaya sattva āḥ ||

Đấng bảo vệ
, do sự sivà thiếu hiểu biết của con,
Con đã phạm giới cũng như các samaya của mình.
Đạo sư
và đấng bảo vệ, xin hãy cho con nương tựa!
Bậc thủ trì kim cang
tối cao,
Đấng đại từ bi vô lượng,
Vua của chúng sanh, nơi ngài con quy y.
Đức Kim Cang Tát Đoả mỉm cười và xá tội cho con
Tất cả những lỗi lầm và chướng ngại của con, rồi tan biến vào trong con — tính hồn nhiên

CÚNG DƯỜNG MANDALA

Trước nhất, cúng dường 37 điểm cúng dường mandala[3]

ཨོཾ་བཛྲ་བྷུ་མི་ཨཱཿཧཱུྃ།
om benza bhumi ah hung
oṃ vajrabhūmi āḥ hūṃ |

Trái đất là mặt đất vàng, hoàn toàn tinh khiết, đầy vẻ đẹp và sức mạnh.

ཨོཾ་བཛྲ་རེ་ཁེ་ཨཱཿཧཱུྃ།
om benza rekhé ah hung
oṃ vajra-rekhe āḥ hūṃ |

Bức tường núi sắt hình tròn hoàn toàn bao quanh nó; ở giữa là chữ hūṃ—
Tu Di, vua của núi;
Phía đông là
Đông Thắng Thân Châu[4], phía nam là Nam Diêm Phù Đề,
Phía Tây là Tây Ngưu Hóa Châu, phía Bắc là Bắc Câu Lô Châu.[5]
Ngoài ra còn có Deha và Videha, Cāmara và Aparacāmara,
Śāthā và Uttaramantriṇa,Kurava và Kaurava[6].
Núi ngọc châu, những cây cối như ý nguyện,
Những con bò như ý, mùa màng không cần gieo hạt,
Bánh xe quý báu, viên ngọc quý báu,
Nữ hoàng quý giá, bộ trưởng quý giá,
Con voi trân quý, con ngựa trân quý,
Tướng quân quý báu, bình báu lớn,
Nữ thần sắc đẹp, nữ thần vòng hoa,
Nữ thần ca hát, nữ thần khiêu vũ,
Nữ thần hoa, nữ thần hương,
Nữ thần ánh sáng, nữ thần nước hoa,
Mặt trời, mặt trăng, chiếc ô quý giá,
Biểu ngữ hoàng gia chiến thắng trong tất cả các hướng:
Có tất cả sự giàu có dồi dào của chư thiên và loài người, trọn vẹn và không tì vết—
Tất cả điều này:
Con cúng dường-
Xin hãy chấp nhận nó, với lòng bi mẫn, vì lợi ích của chúng sanh.
Đã chấp nhận nó, xin ban phước lành gia hộ của ngài!
Trái đất được làm cho thơm bằng nước thơm và rải đầy hoa;
Nó được trang hoàng bằng Núi Tu Di, bốn lục địa, mặt trời và mặt trăng.
Tưởng tượng tất cả như cảnh giới của chư Phật,
Con xin cúng dường, một cõi thanh tịnh cho muôn loài cùng hưởng!

ཨི་དམ་རཏྣ་མཎྜལ་ཀཾ་ནིརྱཱ་ཏ་ཡཱ་མི།
idam ratna mandela kam nirya taya mi
idam ratna-maṇḍala-kam nirya tayāmi

Cùng với đó, cúng dường mạn đà la bảy điểm.[7]

ĐẠO SƯ YOGA

Con quan sát cơ thể của con không rắn chắc, thực tế hay cụ thể:
Nó hiện diện sống động như một mạng lưới hợp nhất của hiện tướng trống rỗng.
Trên đầu con, trên tòa sư tử, hoa sen và đĩa mặt trăng,
Vị đạo sư nhân từ an toạ, lòng ân cần không thể đền đáp.
Trong hình tướng và trang sức của Kim Cang Trì,
Ngài chủ trì giữa đại dương các bậc đại tinh thông Kagyu.
Con tưởng tượng ngài như vậy, như vinh quang và huy hoàng của cả sự tồn tại và hòa bình.
Với lòng sùng mộ,
con lễ lạy, cúng dường và sám hối những lỗi lầm.
Con tuỳ hỷ công đức, thỉnh cầu ngài để chuyển pháp luân
Và để tồn tại mãi mãi. Những gốc rễ công đức này, con xin hồi hướng cho chúng sanh.
Cầu mong tất cả chúng ta thành tựu đạo sư vinh quang!

Đọc thuộc lòng điều đó, rồi nói:

Tất cả chúng sinh mẹ, bằng số lượng của không gian vô tận, cầu nguyện đạo sư,  Đức Phật quý giá.
Tất cả chúng sinh mẹ, bằng số lượng của không gian vô tận, cầu nguyện đạo sư, Pháp thân bao trùm khắp mọi nơi.
Tất cả chúng sinh mẹ, số lượng bằng với sự vô tận của không gian, cầu nguyện đạo sư, báo thân của đại lạc.
Tất cả chúng sinh mẹ, số lượng bằng với sự vô tận của không gian, cầu nguyện đạo sư, hóa thân từ bi.
(
Tích lũy càng nhiều lần càng tốt)[8]

Tới Lodro Rinchen Kim Cang Trì;
Long Thọ Tôn Giả, Người Bảo Vệ Đại Lạc;
Bậc thông tuệ Saraha; chủ tể tối cao Maitripa;
Dịch giả Marpa; Kim Cương Cười;(Milarepa)
Dược sĩ Dakpo,(Gampopa) vị bảo hộ quý báu của chúng sanh;

Tới vòng hoa vàng của các đạo sư của 7 dòng truyền thừa tối hậu trên và dưới[9],
Và với ngài, đạo sư gốc tuyệt vời của con, người hoàn toàn là hiện thân của tất cả
Về trí tuệ hiểu biết, từ bi và quyền năng của các Ngài,
Và xuất hiện với những người trong chúng con với niềm tin—tới ngài, nơi nương tựa duy nhất của chúng con, con cầu nguyện!

Con người con đã được tịnh hóa qua giai đoạn sơ bộ, và con đã rèn luyện trong hai loại bồ đề tâm.
Sự ban phước gia hộ của các bậc thầy đã tràn ngập điểm bindu của ba cổng của con.
Nhờ định của tuệ giác rõ ràng được đặt trên nền tảng của sự tĩnh tr,
Bộ mặt thật của trạng thái tự nhiên bẩm sinh, đơn giản không giả tạo được nhìn thấy trực tiếp.

Từ bốn kim cang của bốn địa điểm của đạo sư từ bi được triệu thỉnh như vậy
Các tia sáng trắng, đỏ, xanh dương và vàng
Chảy ra và hòa tan vào bốn nơi của con,
Vì vậy, bốn chướng ngại được tịnh hóa, bốn quán đảnh đạt được, và bốn thân được thiết lập bên trong.

Đạo sư tan biến thành ánh sáng và hòa nhập hoàn toàn với con.
Trong dòng tương tục của hương vị bình đẳng không thể tách rời ba bí mật,[10]
Con để ở trong trạng thái không ngừng sáng chói, Đại Ấn.

(Cùng với đó, nghỉ ngơi trong trạng thái cân bằng)

 Nhờ đạo đức này, đã mau chóng thành tựu
Trạng thái của Đạo sư vinh quang,
Nguyện con kiến lập tất cả chúng sanh lang thang,
Không có một ngoại lệ nào, ở cấp độ đó.

 Điều này được Trinlé Jampé Jungné viết theo yêu cầu của Tubten Pelbar trung thành tại ẩn thất của Sengling Dorjé Dzong. Nguyện nó mang lại tốt lành!

 

Samye Translations, 2020 (trans. Laura Dainty, edited by Oriane Sherap Lhamo). Edited for and first published on Lotsawa House, 2023.

 

Source: byams pa 'byung gnas. “phyag chen sngon ʼgroʼi khrid bsdus.” In dpal ldan stag lung paʼi gsung rnams nor bzhi bang mdzod, 60 vols. Nor bzhi bstan rgyas tshogs pa, 2007. (BDRC: MW1PD166109_8EB877.) Vol. 56: 7–15.

 

Version: 1.0-20230104

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jedrung-jampa-jungne/mahamudra-ngondro

 



[1] Sanskrit dịch là “Homage to the Great Seal!”- kính lễ Đại Thủ Ấn

 

[2] Hào phóng; Nói lời tử tế & khôn ngoan, giảng Pháp; Khuyến khích; Làm theo lời dạy, nêu gương sáng

[3] Bản dịch của Cúng dường Maṇḍala Ba mươi bảy Điểm cũng có thể được tìm thấy riêng tại đây:  https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/chogyal-pakpa-lodro-gyaltsen/thirty-seven-point-mandala-offering

[4] Bốn đại châu: đông Pūrvavideha (Phất Vu Đại Phất Bà Đề), nam Jambudvīpa (Diêm phù Đề), tây Aparagodānīya (Cô Da Ni), bắc Uttarakuru (Uất Đan Việt),

[5]  A translation of The Fourfold ‘Manam’ Prayer can also be found separately here: https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/gotsangpa-gonpo-dorje/four-manam-refuge

[7]  A translation of the Short Maṇḍala Offering can also be found separately here: https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jetsun-drakpa-gyaltsen/short-mandala-offering

[8]  A translation of The Fourfold ‘Manam’ Prayer can also be found separately here: https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/gotsangpa-gonpo-dorje/four-manam-refuge

[9] This refers to the lineages of the upper (Yartang) and lower (Martang) seats of Taklung Kagyü.

[10] Thân, miệng, ý.