Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

NHẪN NHỤC

 



Nguyên bản: Patience
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: The Padmakara Translation Group
Việt dịch: Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển, 2023
***

Chương này đối diện với sự nhẫn nhục, cùng với thiền định, chủ đề của chương tám, cấu thành những khía cạnh then chốt của việc rèn luyện trong tâm bồ đề.

Những hướng dẫn chứa đựng trong hai chương này là những hổ trợ rất mạnh mẽ cho sự thực hành.

1.
Tất cả những việc làm được thu hoạch trong một nghìn kiếp
Chẳng hạn như những hành vi bố thí,
Và những cúng dường đến những Đức Phật-
Một thoáng đơn thuần của sân hận làm tiêu tan chúng.
2
Không có sự xấu ác nào ở đó tương tự như sân hận,
Không có sự khổ hạnh nào so sánh với nhẫn nhục.
Do thế hãy ngâm mình trong nhẫn nhục,
Trong những cách đa dạng, khăng khăng như thế.


Như một năng lực tàn phá không có gì mạnh mẽ như sân hận. Một thoáng của sân hận có thể phá huỷ tất cả những hành vi tích cực được tích luỹ hàng trăm nghìn kiếp qua sự thực hành bố thí, cúng dường đến chư Phật, trì giới, và v.v... Thực tế, không có lỗi lầm nào nghiêm trọng như sân hận.

Trái lại, nhẫn nhục như một nguyên tắc vô hiệu hoá và ngăn ngừa chúng ta khỏi thất bại với sân hận, là vô địch. Qua nó, thì khổ đau mà chúng ta phải chịu đựng từ sức nóng của các cảm xúc tiêu cực được giảm bớt. Do thế, điều quan trọng nhất là chúng ta quyết chí thực hành nhẫn nhục, đạt được qua việc quán chiếu về những thuận lợi của nó và trên những ảnh hưởng kinh khiếp của sân hận.

Ở đây, thuật ngữ những hành vi tích cực liên hệ đến bố thí, cúng dường chư Phật và chư Bồ tát, và trì giới, như được giải thích trong Nhập Trung Luận. Nó không liên hệ đến công đức đạt được qua thực chứng tánh không. Sân hận không thể bị phá huỷ bởi loại công đức này. Sân hận của một trạng thái tâm thức thấp cũng không thể tàn phá những hành vi tích cực được tích luỹ với một trạng thái thượng thừa của tâm thức.[1] Tóm lại, có hai loại công đức mà sân hận không thể hủy hoại: công đức của việc thực chứng tánh không và công đức của những phẩm chất tâmlinh có từ việc hành thiền. Ngoài những điều này, những ảnh hưởng tốt đẹp của tất cả các hành vi tích cực thông thường có thể bị tàn phá bởi sân hận. Tuy nhiên, việc này tùy thuộc vào cường độ của sân hận, trên tầm sâu rộng của những hành vi tích cực, và trên con người mà sự sân hận của chúng ta hướng đến. Trong cách này, một hành vi tích cực có thể bị làm cho yếu kém hay bị tiêu tan hoàn toàn.

Các hành vi tích cực thì khó khăn để thực hiện, và do thế không thường xảy ra. Thật khó để có những tư tưởng tích cực khi tâm thức chúng ta bị tác động bởi những cảm xúc và rối rắm bởi những điều kiện đối nghịch. Những tư tưởng tiêu cực tự sanh khởi, và thật khó khăn để thực hiện các hành vi của chúng ta một cách thật sự tích cực khi mục tiêu của chúng ta và cung cách của chúng ta thực hiện thì không trong sáng một cách hoàn thiện. Tư lương ít ỏi khó có được được đưa ra bất lực trong một sự sân hận tức thời. Sự tổn thất là vô vàn nghiêm trọng hơn nếu chúng ta đánh mất điều gì đó dễ dàng hơn có được.

3.
Những ai bị dày vò bởi nổi đau của sân hận,
Không bao giờ biết sự tĩnh lặng của tâm thức-
Họ sẽ là những người xa lạ đối với mọi niềm hỉ lạc;
Họ cũng sẽ không an giấc hay cảm thấy an toàn.


Khi người ta nổi sân thì họ đánh mất tất cả mọi cảm giác hạnh phúc. Ngay cả nếu họ tướng đẹp và thông thường điềm tĩnh, thì gương mặt của họ biến sang tái mét và xấu xí. Sân hận làm rối loạn sự cát tường của thân thể họ và quấy rầy mọi thứ còn lại; nó tàn phá khẩu vị của họ và làm cho họ già đi sớm. Hạnh phúc, bình an, và ngủ nghỉ lẫn tránh họ,
họ không còn biết ơn những người đã giúp đỡ họ và xứng đáng với sự tin tưởng và lòng biết ơn của họ. Dưới ảnh hưởng của cơn giận, những người bình thường có tính cách tốt thay đổi hoàn toàn và không còn có thể tin tưởng được nữa. Họ bị cơn giận của mình hủy hoại và họ cũng hủy hoại người khác. Nhưng bất cứ người nào dồn hết tâm lực vào việc hủy diệt sân hận sẽ được hạnh phúc trong đời này và những đời sau.

7.

Có được điều tôi không muốn,
Và tất cả những gì cản trở ham muốn của tôi -
Trong sự bất mãn, cơn giận của tôi bùng phát.
Từ đó nó lớn mạnh và hạ gục tôi.

Khi chúng ta nghĩ về một người nào đó đã làm điều sai trái với chúng ta hoặc ai đó đang làm (hoặc có thể làm) điều gì đó mà chúng ta hoặc bạn bè của chúng ta không thích - tước đoạt những gì chúng ta muốn - tâm th
ức của chúng ta, vừa yên bình chmột giây trước, đột nhiên trở nên hơi bị khuấy động. Trạng thái tâm thức này thúc đẩy những suy nghĩ tiêu cực. Thật là một người dễ sợ! chúng ta nghĩ, và sự không thích của chúng ta biến thành sự thù ghét. Chính giai đoạn đầu tiên này, cảm giác bất ổn này đã khơi dậy lòng oán thù của chúng ta, mà chúng ta nên cố gắng loại bỏ. Đó là lý do tại sao Tịch Thiên nói:

8.
Vì vậy, tôi
sẽ hoàn toàn tiêu diệt
Nguồn sống của kẻ thù của tôi,

Kẻ thù của tôi không có mục đích nào khác
Ngoài việc làm tổn thương và gây hại cho tôi.

Chúng ta nên cố gắng dùng mọi cách để thoát khỏi cảm giác khó chịu ban đầu này.

9.
Cho nên dù chuyện gì xảy ra, tôi
sẽ không làm đảo lộn
Niềm
hạnh phúc vui vẻ trong tâm thức của tôi.
Sự th
ất vọng không bao giờ mang lại điều tôi muốn;
Đức hạnh của tôi sẽ bị biến dạng và hoen ố bởi nó.
10.
Nếu có một phương thuốc n
ào khi khó khăn ập đến,
Có lý do gì để chán nản?
Và nếu không có sự giúp đỡ nào cho nó,

Buồn lothì có ích gì?

Chúng ta phải nỗ lực để duy trì trạng thái tinh thần thoải mái. Bởi vì nếu chúng ta không thoát khỏi cảm giác bất an này, nó sẽ nuôi dưỡng s
thù ghét của chúng ta, làm cho nó lớn lên và cuối cùng hủy hoại chúng ta.

Sự tức giận tồi tệ hơn bất kỳ kẻ thù thông thường nào. Tất nhiên, những kẻ thù thông thường làm hại chúng ta: đó là lý do tại sao chúng ta gọi chúng là kẻ thù. Nhưng điều sai trái họ làm với chúng ta là nhằm mục đích giúp đỡ chính họ hoặc bạn bè của họ chứ không phải chỉ để làm cho chúng ta không vui. Mặt khác, kẻ thù bên trong, tức giận, không có chức năng nào khác hơn là phá hủy những hành động tích cực của chúng ta và khiến chúng ta đau khổ. Đó là lý do tại sao Tịch Thiên nói, "Kẻ thù của tôi không có mục đích nào khác ngoài việc làm phương h
ại và làm tổn thương tôi." Ngay từ khi nó xuất hiện, nó tồn tại với mục đích duy nhất là làm hại chúng ta. Vì vậy, chúng ta nên đối đầu nó với tất cả các phương tiện chúng ta có. Chúng ta hãy duy trì trạng thái tinh thần an tịnh và tránh bực bội.

Những gì
làm chúng ta khó chịu trước hết là mong muốn của chúng ta không được đáp ứng trọn vẹn. Nhưng sự buồn bã còn lại không giúp gì được để thực hiện những mong muốn đó. Vì vậy, chúng ta không thực hiện được mong muốn của mình cũng như không lấy lại được sự vui vẻ của mình! Trạng thái bối rối này, từ đó sự tức giận có thể phát triển, là nguy hiểm nhất. Chúng ta nên cố gắng không bao giờ để cho niềm hạnh phúc của tâm thức mình bị quấy rầy.  Cho dù chúng ta đang khổ đau trong hiện tại hay từ quá khứ, thì không có lý do gì để không hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể khắc phục nó, tại sao lại không vui? Và nếu chúng ta không thể, thì có ích gì khi chán nản về điều đó? Điều đó chỉ làm tăng thêm bất hạnh và không tốt chút nào.

Trạng thái bối rối ban đầu này, làm nảy sinh sự tức giận, là do những điều chúng ta không muốn gây ra. Ví dụ, chúng ta không muốn bạn bè hoặc bản thân mình đau khổ hoặc bị xúc phạm, chỉ trích hoặc bị đối xử khinh bỉ. Khi chúng ta không thể tránh những điều này, chúng ta trở nên buồn bã. Mặt khác, chúng ta cảm thấy hài lòng khi chính kẻ thù của mình phải chịu đựng những điều như vậy, và chúng ta không hài lòng khi mọi việc suôn sẻ với họ.

12.
Nguyên nhân của hạnh phúc là hiếm hoi,
Và c
ó nhiều hạt giống đau khổ!
Nhưng nếu tôi không đau đớn, tôi sẽ không bao giờ khao khát tự do;
Vì vậy, hỡi tâm thức của tôi, đừng dao động

Nói chung, chúng ta phải nỗ lực rất nhiều để có được hạnh phúc, trong khi đau khổ đến một cách tự nhiên. Thực tế là có một thân
thể chắc chắn liên quan đến đau khổ. Đau khổ thì nhiều và nguyên nhân cũng phong phú. Một người thông tuệ  có thể đạt được hạnh phúc bằng cách chuyển hóa những nguyên nhân của bất hạnh thành những điều kiện thuận lợi. Chúng ta có thể sử dụng đau khổ như một phương tiện để tiến bộ. Như Tịch Thiên nói, "Nếu tôi không có đau đớn, tôi sẽ không bao giờ khao khát tự do."

Chúng ta không thích đau khổ là điều tự nhiên. Nhưng nếu chúng ta có thể phát triển ý chí chịu đựng khó khăn, thì chúng ta sẽ ngày càng khoan dung hơn. Như đã nói trong luận điển:

14.

Không có gì mà không có khả năng
Thông qua t
ập quán và sự quen thuộc.
H
ãy quan tâm một tí
Tôi sẽ rèn luyện chính mình để chịu đựng những nghịch cảnh lớn!
16.
Nóng và lạnh, gió và mưa,
Ốm đau, tù tội, đánh đập -

Tôi sẽ không bực bội về những điều đó.
Làm như vậy chỉ làm trầm trọng thêm rắc rối của tôi.


Nếu chúng ta th
t kiên nhẫn, thì điều gì đó mà chúng ta thường cho là rất đau đớn rốt cuộc sẽ không tệ đến thế. Nhưng nếu không có sự kiên nhẫn chịu đựng thì việc nhỏ nhất cũng trở nên không thể chịu nổi. Rất nhiều phụ thuộc vào thái độ của chúng ta.

17.
Có một số người dũng cảm tăng lên,

Khi nhìn thấy máu của chính mình,
Trong khi một số mất hết sức lực và ngất đi

Khi họ nhìn thấy máu của người khác!

Tương tự như vậy, nếu chúng ta có thể phát triển tính kiên nhẫn chịu đựng, ch
úng ta sẽ có thể chịu đựng ngay cả những khó khăn lớn khi chúng ta gặp phải.

Nhẫn nhục có nghĩa là ngay cả khi đối mặt với đau khổ hay tổn hại to lớn, chúng ta cũng không để nó quấy rầy tâm mình. Tất nhiên, thật khó để coi đau khổ là điều đáng mong muốn và biến chúng thành những điều kiện thuận lợi. Chúng ta phải kiên nhẫn khi quyết tâm chiến đấu chống lại những cảm xúc tiêu cực như hận thù, những kẻ thù tồi tệ nhất. Đương nhiên là bạn sẽ bị thương khi chiến đấu với một kẻ thù bình thường, vì vậy chiến đấu với kẻ thù thiết yếu, lòng h
ận thù, sẽ không phải là không gặp khó khăn. Nhưng nếu chúng ta bỏ qua tất cả những thử thách như vậy và chiến thắng những cảm xúc tiêu cực, thì chúng ta thật sự có thể được gọi là anh hùng. Mặt khác, không kiềm chế được sự tức giận và giết một kẻ thù bình thường thì không có gì can đảm hơn là đâm một người đã chết. Không có gì phi thường về điều đó.

21.

Đau khổ cũng có giá trị của nó.
Qua buồn
đau, niềm tự hào bị xua đuổi
Và cảm thấy thương xót cho những người lang thang trong luân hồi;
Điều ác được tránh; lòng tốt có vẻ thú vị.

Đau khổ của chúng ta cũng có mặt tích cực. Trước hết, chúng ta đánh mất ý thức về tầm quan trọng của bản thân. Chúng ta học
để hiểu rõ giá trị về sự đau khổ của người khác, và lòng từ bi của chúng ta phát triển. Và chúng ta trở nên cẩn thận hơn để không tích lũy những nguyên nhân của đau khổ.

Mọi người đều có ít nhất một số khuynh hướng vị tha
nào đó, tuy nhiên có giới hạn. Để phát triển những điều này cho đến khi mong ước giúp đỡ người khác trở thành vô hạn được gọi là tâm bồ đề. Những chướng ngại chính cho sự phát triển này là mong muốn làm hại người khác, phẩn uất và tức giận. Do đó, để chống lại những điều này, điều cần thiết là hành thiền về nhẫn nhục. Chúng ta càng thực hành sâu sắc thì càng ít có cơ hội để sân hận phát sinh. Nhẫn nhục là cách tốt nhất để tránh nóng giận, sân hận.

Bây giờ chúng ta hãy nói về l
òng yêu thương hay từ ái. Theo tôi, tất cả chúng sanh đều muốn được yêu thương. Điều này là tự nhiên và tự phát. Ngay cả động vật cũng thích những người tử tế với chúng. Khi ai đó nhìn bạn với vẻ yêu thương, điều đó làm bạn hạnh phúc, phải không? Tình yêu thương hay từ ái là một phẩm chất được đánh giá cao trong toàn nhân loại, trong tất cả các tôn giáo. Tất cả các tôn giáo, kể cả Phật giáo, trước hết mô tả những bậc khai sáng của họ về khả năng từ ái yêu thương của họ. Những người nói về một đấng tạo hoá đề cập đến lòng thương xót của đấng sáng tạo. Và phẩm chất chính của những người cho nơi nương tựa tâm linh là tình yêu thương-từ ái.

Khi chúng ta nói về một Cõi Tịnh độ tràn ngập sự hiện diện của tình yêu thương, người ta cảm thấy muốn đến đó.[2] Nhưng nếu chúng ta mô tả một Cõi Tịnh độ như một vùng đất của chiến tranh và xung đột, người ta sẽ không còn cảm thấy muốn được tái sinh ở một nơi như vậy. Mọi người tự nhiên coi trọng tình yêu thương, và họ không thích những cảm xúc và hành động có hại như ph
ẩn uất, sân hận, tranh đấu, trộm cắp, tham lam tài sản của người khác và muốn làm hại người khác. Vì vậy, nếu tình yêu là thứ mà tất cả mọi  người đánh giá cao, thì đó chắc chắn là thứ mà chúng ta có thể phát triển nếu chúng ta nỗ lực.

Nhiều người nghĩ rằng kiên nhẫn chịu đựng mất mát là một dấu hiệu của sự yếu đuối. Tôi nghĩ đó là một sai
lầm. Chính sân hận mới là dấu hiệu của sự yếu đuối, trong khi nhẫn nhục là dấu hiệu của sức mạnh. Ví dụ, một người tranh luận về một điểm dựa trên lập luận hợp lý duy trì sự tự tin và thậm chí có thể mỉm cười trong khi chứng minh trường hợp của mình. Mặt khác, nếu lý luận của người ấy không hợp lý và sắp bị mất mặt, người ấy sẽ tức giận, mất kiểm soát và bắt đầu nói những lời vô nghĩa. Mọi người hiếm khi tức giận nếu họ tự tin vào những gì họ đang làm. Sự tức giận đến dễ dàng hơn trong những khoảnh khắc bối rối.

22.
Tôi không tức giận với sự cáu gắt và các tính khí khác của con-
Nguồn gốc màu mỡ của khổ não và đớn đau!
Vậy tại sao chúng sanh phải phạm tội,
Họ cũng vậy do hoàn cảnh thúc đẩy?

Đau khổ có thể là kết quả của cả những nguyên nhân hữu tình và vô tình. Chúng ta có thể nguyền rủa những thứ vô tri vô giác như thời tiết, nhưng chúng ta thường tức giận nhất với những sinh vật có tri giác. Nếu chúng ta phân tích những nguyên nhân hữu tình sinh động này
làm chúng ta không vui, chúng ta thấy rằng chính chúng cũng bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khác. Họ không làm cho chúng tôi tức giận đơn giản chỉ vì họ muốn như thế. Về phương diện này, bởi vì họ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện khác, nên thực tế họ thật sự bất lực. Vì vậy, không cần phải tức giận với họ.

24.
Không bao giờ nghĩ, "Bây giờ tôi sẽ sân
hận,"
Mọi người bị cuốn vào cơn giận dữ một cách bốc đồng.
T
ình trạng bị chọc tức, tương tự, đến
Mặc dù không bao giờ d
ự kiến để trải nghiệm!
25.
Mọi ô nhiễm thuộc bất cứ loại nào,

Toàn bộ các hành động xấu xa khác nhau
Do hoàn cảnh đưa đến:
Không ai là độc lập, không ai tự trị.
26.
Các điều kiện, một khi đã được tập hợp lại, không hề nghĩ rằng

Bây giờ chúng sẽ đưa đến kết quả nào đó.
Cái được tạo ra cũng không nghĩ

Rằng nó đã được tạo ra.

Ở điểm này trong bản văn, T
ịch Thiên bác bỏ những lập luận của phái Số Luận (Samkhyas), một trong những truyền thống phi Phật giáo của Ấn Độ cổ đại.

27.
Thực thể nguyên thủy, như họ nói,

Và cái được gọi là bản ngã,
Không sinh khởi một cách cố ý,
Và không nghĩ, "Tôi sẽ trở thành."
28.

Vì cái không sanh ra không tồn tại,
Vì vậy,
điều gì có thể muốn trở thành?
(Nếu nó có) và
bị lôi kéo vĩnh viễn về phía đối tượng của nó,
Thì nó không bao giờ có thể ngừng hiện hữu.

Theo Phật giáo, không có gì phát sinh mà không có nguyên nhân. Mọi thứ đều b
ị điều kiện hoá bởi một cái gì đó khác. Điều tương tự cũng áp dụng cho các hành động tiêu cực.

Theo phái Số Luận, có 25 đối tượng của tri thức, trong đó đối tượng chính, thực thể nguyên thủy (Skt., prakṛiti), được coi là chân lý tuyệt đối: tuyệt đối, vĩnh cửu, toàn khắp và độc lập. Tất cả các hiện tượng được gây ra bởi chất nguyên thủy này. Các nhà Số Luận cũng công nhận sự tồn tại của một Bản ngã, hay nguyên tắc ý thức (purusha), cũng vĩnh cửu và độc lập và trải nghiệm những biểu hiện của chất nguyên thủy.

Phật giáo bác bỏ khả năng của một cái gì đó độc lập mà không phụ thuộc vào một nguyên nhân. Mọi thứ đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có hiện tượng nào phát sinh một cách tự nhiên, có thể nói là đột ngột quyết định rằng nó sẽ biểu hiện. Nếu chất nguyên thủy là nguyên nhân của mọi thứ mà nó sinh ra, thì nó sẽ phải tự sinh ra nó. Nhưng vì nó không tự tạo ra nó, làm sao nó có thể tạo ra cái gì?


Đạo Phật dạy rằng vạn vật đều do nhân duyên sinh ra, do đó không có cái gì gọi là một thứ không nguyên nhân cả. Nếu có một thứ như vậy, thì có thể nói mọi thứ đều phát sinh từ hư không (hay từ không có gì)! Ngoài ra, thực thể nguyên thủy sẽ phải liên tục làm phát sinh (gây ra) một cái gì đó. Nhưng như chúng ta có thể thấy, các hiện tượng đôi khi biểu hiện và đôi khi thì không. Điều này là do các nguyên nhân và điều kiện mà chúng phụ thuộc vào đôi khi đến với nhau và vào những lúc khác thì không.

Nếu nguyên nhân độc lập và có thể sáng tạo không ngừng thì tất nhiên kết quả của nó cũng phải không đổi. Vì các kết quả không phải là hằng số nên chúng ta có thể lập luận rằng nguyên nhân của chúng cũng không phải là hằng số: nó là vô thường. Nếu có một thứ như một đấng sáng tạo độc lập, do đó là duy nhất và bao trùm tất cả, thì tất cả các biểu hiện hoặc kết quả của nó phải là vĩnh viễn. Niềm tin vào một người sáng tạo như vậy đơn giản là không hợp lý.

Đối với Bản Ngã thường hằng và bất biến, nếu nó th
ật sự là bất biến, thì mọi nhận thức của nó cũng sẽ phải thường hằng, và sẽ không có lúc nào nó không trải nghiệm chúng. Luận lý thông thường cho chúng ta biết rằng điều này là không đúng. Đôi khi chúng ta nhận thức được mọi thứ, đôi khi chúng ta không. Nhưng nhận thức sẽ phải trường tồn nếu Bản Ngã là một thực thể không thay đổi.

Theo Kinh Nhân Duyên, mọi thứ đều ph
át sinh từ một nguyên nhân. Nhưng một nguyên nhân như vậy không thể là một đấng sáng tạo vào lúc này hay lúc khác đưa vũ trụ hiện hữu. Theo định nghĩa, nguyên nhân này là vô thường, và vì vậy bản thân nó phải có một nguyên nhân. Cuối cùng, một kết quả phải có cùng bản chất với nguyên nhân tạo ra nó. Tuy nhiên, nếu như chúng ta đã tin vào một nguyên nhân thường hằng, thì sẽ hoàn toàn mâu thuẫn nếu đồng thời tin vào sự giải thoát.[3]

Những người theo trường phái S
ố Luận tin rằng thực thể nguyên thủy biểu hiện luân hồi và rằng Bản Ngã, được cho là một thực thể trường tồn, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong luân hồi. Thông qua việc hành thiền theo chỉ dẫn của một vị thầy tâm linh, Bản Ngã nhận ra rằng mọi hiện tượng đều là biểu hiện của thực thể nguyên thủy. Với nhận thức này, tất cả các biểu hiện của thực thể nguyên thủy tan biến, chỉ còn lại Bản Ngã. Trạng thái này là điều mà những người theo trường phái Số Luận coi là giải thoát. Tất cả điều này là khá mâu thuẫn. Nếu chúng ta tin rằng nguyên nhân của luân hồi, thực thể nguyên thủy, là thường hằng, thì làm sao chúng ta có thể giải thích được sự giải thoát?

31.

Vậy thì vạn vật tùy thuộc vào những thứ khác,
Và những thứ này cũng phụ thuộc; chúng không độc lập.
Biết điều này, chúng ta sẽ không khó chịu
những thứ giống như do huyển thuật hiển hiện.

Đây là lý do tại sao chúng ta
nói rằng tất cả chúng sanh đều bị ảnh hưởng bởi những thứ khác, nghĩa là cảm xúc của chính họ, và do đó không độc lập. Quá trình nguyên nhân dẫn đến kết quả là do các điều kiện đến với nhau. Không có gì là độc lập. Nếu chúng ta hiểu được điều này, thì hạnh phúc và đau khổ mà chúng ta thường cho là có thật và vững chắc sẽ được xem như một điều gì đó không thực chất, giống như những ảo ảnh phép thuật. Trong ánh sáng này, chúng ta nên cố gắng không tức giận với bất kỳ ai.

Một số người có thể hỏi, Nếu mọi thứ đều là vọng
tưởng, thì việc loại bỏ đau khổ vọng tưởng bằng một phương thuốc giải độc tự nó chính là vọng tưởng có ích lợi gì? Câu trả lời là khổ huyễn là kết quả của những nguyên nhân và điều kiện cũng là huyễn. Mặc dù đau đớn là vọng tưởng, chúng ta vẫn đau khổ vì nó, và chắc chắn chúng ta không muốn nó. Điều này cũng đúng với hạnh phúc. Đó là một vọng tưởng, nhưng nó vẫn là thứ chúng ta muốn. Như vậy, những thuốc giải độc huyễn hóa được sử dụng để đoạn trừ những đau khổ huyễn hóa, giống như một nhà ảo thuật sử dụng một ảo ảnh phép thuật này để chống lại một ảo ảnh phép  thuật khác. Trên thực tế, đây là một điểm quan trọng, được giải thích chi tiết hơn trong chương thứ chín của Bồ tát Đạo hay Nhập Bồ tát Hạnh (Bodhicharyāvatāra).

33.
Vì vậy, khi kẻ thù hoặc bạn bè
Được xem là hành động không đúng đắn,

Hãy giữ thanh thản và nhắc nhở tâm
Rằng mọi thứ phát sinh từ các điều kiện.


Chúng ta hãy coi rằng mọi thứ, dù thân thiện hay thù địch, đều là một màn v
ọng tưởng, và cố gắng không phản ứng bằng tham luyến hay sân hận.

34.
Nếu mọi thứ có thể theo ý muốn của họ,

Sẽ không có đau khổ nào đến
Với bất kỳ ai trong tất cả chúng sinh hiện thân,

Vì không ai trong số họ muốn đau đớn dưới bất kỳ hình thức nào.

38.

Mặc dù hầu như chúng ta không bao giờ động lòng từ bi
Đối với những người, do ô nhiễm,
Mang lại sự tr
ầm luân của chính họ,
Th
ì sự tức giận của chúng ta phục vụ cho mục tiêu gì?

Nếu tất cả chúng ta đều được lựa chọn giữa hạnh phúc và đau khổ, thì không ai chọn đau khổ, và sẽ không có đau khổ trên đời này. Nhưng bởi vì mọi thứ đều phụ thuộc lẫn nhau và tùy thuộc vào những nguyên nhân khác, nên cả hạnh phúc và đau khổ đều tồn tại. Người ta khổ mà không muốn. Và khi tâm không được kiểm soát, khi chúng ta bị ảnh hưởng bởi hận thù, chúng ta thậm chí còn tự làm hại chính mình. Nếu chúng ta có thể làm hại chính mình với lòng thù hận như vậy, thì chắc chắn chúng ta có thể làm hại người khác.

39.
Nếu những kẻ giống như những đứa trẻ tinh
nghịch
Bản chất dễ làm tổn thương người khác,
Không có lý do gì cho cơn thịnh nộ của chúng ta;
Nó giống như lửa phẫn nộ vì nóng.
40.

Và nếu lỗi lầm của họ thoáng qua và ngẫu nhiên,
Khi chúng sanh có bản chất nhu mì,
Căm giận họ cũng là vô nghĩa-
Cũng như nổi giận với bầu trời khiđầy mây khói!

Chúng ta phải từ bi và không bao giờ tức giận với những người làm hại h
. Và khi những người khác làm hại chúng ta, chúng ta nên kiểm tra xem bản chất của họ là làm hại hay chỉ là điều gì đó tạm thời. Nếu đó là bản chất của họ, thì tức giận với họ cũng chẳng ích gì. Nếu đó chỉ là một điều nhất thời, thì bản chất của chúng không phải là xấu, và hchỉ đang làm hại chúng ta vì những ảnh hưởng nhất thời. Vì vậy, một lần nữa, thật vô ích khi sân hận với họ.

Nếu ai đó sử dụng vũ khí để làm tổn thương chúng ta, thì thứ thực sự làm tổn thương chúng ta chính là vũ khí đó. Điều làm tổn thương chúng ta một cách gián tiếp là sự tức giận của người đó. Vì vậy, nếu chúng ta phải tức giận, chúng ta nên tức giận với vũ khí hoặc với sự tức giận là lý do khiến vũ khí được sử dụng. Lấy đi vũ khí của người
ấy và sự tức giận, và không có còn gì lại để mà tức giận.

Một điều kiện khác của quá trình gây tổn hại là thân
thể của chính mình, là cơ sở vật chất cho sự đau khổ.

43.
Vũ khí của họ và thân
thể của tôi -
Cả hai đều là nguyên nhân khiến tôi dằn vặt!
Họ vũ khí của họ, tôi th
ân thể của tôi; đều khua vang

Rồi thì ai là xứng đáng hơn với cơn thịnh nộ của tôi?

Vì mọi thứ đều do nhiều nguyên nhân, nên chỉ tức giận với một trong những nguyên nhân đó thì không có nghĩa lý gì.


47.
Những kẻ hãm hại tôi nổi dậy chống lại tôi -

Chính nghiệp chướng của tôi đã triệu tập họ.
Và nếu vì điều này mà những chúng sanh này phải xuống địa ngục,
Chẳng phải tôi là người mang đến sự hủy hoại cho họ sao?

Những điều sai trái mà người khác gây ra cho chúng ta là kết quả trực tiếp của những hành động trong quá khứ của chúng ta. Những hành động này trên thực tế đã sanh
ra những kẻ thù của chúng ta để làm hại chúng ta. Từ quan điểm này, chính chúng ta đang làm hại đối thủ của mình, vì trong tương lai họ sẽ đau khổ vì hành động gây hại mà chính chúng ta đã xúi giục.

Khi người khác làm hại chúng ta, đó là cơ hội để chúng ta thực hành nhẫn nhục và do đó tịnh hóa vô số ác nghiệp và tích tập nhiều công đức. Vì chính kẻ thù của chúng ta đã cho chúng ta cơ hội tuyệt vời này, nên trên thực tế, họ đang giúp đỡ chúng ta. Nhưng bởi vì họ đang thực hiện những hành động tiêu cực và chúng ta là nguyên nhân của những điều này, nên chúng ta th
ật sự đang làm hại họ. Vì vậy, nếu có bất cứ ai để sân hận, thì đó nên là chính chúng ta. Chúng ta không bao giờ nên tức giận với kẻ thù của mình, bất kể thái độ của họ như thế nào, vì họ thật sự hữu ích cho chúng ta.

Do đó, người ta có thể tự hỏi liệu bằng cách khiến kẻ thù của chúng ta tích lũy những hành động tiêu cực như vậy, chính chúng ta cũng tích lũy những hành vi tiêu cực và liệu kẻ thù của chúng ta, trong việc giúp chúng ta thực hành nhẫn nhục, có tích lũy những hành động tích cực hay không. Đây không phải là trường hợp. Mặc dù chúng ta đã là nguyên nhân cho hành động tiêu cực của họ
, nhưng bằng cách thực hành nhẫn nhục, thì chúng ta thật sự tích lũy công đức và sẽ không tái sanh vào các cõi thấp. Chính chúng ta đã kiên nhẫn, và điều đó không giúp ích gì cho kẻ thù của chúng ta. Mặt khác, nếu chúng ta không thể kiên nhẫn khi chúng ta bị tổn hại, thì sự tổn hại do kẻ thù của chúng ta gây ra sẽ không giúp ích gì cho bất kỳ ai. Hơn nữa, do mất kiên nhẫn và nổi giận, chúng ta đã phạm giới nguyện tuân theo giới luật của một vị Bồ Tát.

52.
Vì tâm
vô hình tướng
Nó không thể bị phá hủy bởi bất cứ ai.

Vì tâm dính mắc vào thân,
Thân này bị khổ đau dày vò.

Vì tâm không phải là vật chất nên không ai có thể làm hại nó. Khi những người khác nói những điều khó chịu với chúng ta, họ không làm tổn thương chúng ta về thể chất. Nếu chúng ta th
ật sự nghĩ về điều này, thì không có gì là khó chịu đựng. Chúng ta có thể nghĩ rằng nếu chúng ta tỏ ra khoan dung khi người ta nói những điều khó chịu với mình, thì người ta sẽ cho rằng những gì họ nói là đúng và hậu quả là danh tiếng của chúng ta bị tổn hại sẽ cản trở thành công của chúng ta trong cuộc sống. Nhưng không có gì sai với điều đó. Dù chúng ta có được bao nhiêu danh tiếng và lời khen ngợi, chúng ta chỉ có thể tận hưởng nó trong đời này. Mặt khác, nếu chúng ta tức giận với người khác, nghĩ rằng họ đang làm tổn hại danh tiếng và thành công của chúng ta trong đời này, thì những hành động tiêu cực do chúng ta tích lũy sẽ theo chúng ta trong những kiếp tương lai.

62.
Và nếu, khi người ta nói xấu chúng ta,

Chúng ta cho rằng sự tức giận của chúng ta là vì họ làm tổn thương người khác,
Làm sao chúng ta không bực bội

Khi sự phỉ bang của họ nhằm vào người khác?

Khi người ta nói những điều khó chịu về chúng ta, nếu chính những điều khó chịu đó khiến chúng ta tức giận, thì chúng ta cũng nên tức giận khi người ta nói những điều khó chịu về người khác. Đối với trường hợp là giống nhau khi có liên quan đến những điều khó chịu này. Nhưng khi những điều không hài lòng được nói về người khác, điều thường xảy ra là chúng ta cho rằng những lời chỉ trích đó là do những nguyên nhân không liên quan đến chúng ta và chúng ta giữ thái độ thờ ơ. Tại sao chúng ta không áp dụng cùng một lập luận khi chính chúng ta là đối tượng của sự chỉ trích? Khi ai đó bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc tiêu cực nói những điều không hay về chúng ta, tại sao chúng ta lại cho phép mình nổi giận? Rốt cuộc, chính những cảm xúc tiêu cực chứ không phải con người chịu trách nhiệm cho cuộc tấn công. Và lại nữa, nếu chúng ta không tức giận khi người khác bị chỉ trích, thì theo đó chúng ta cũng nên dung thứ cho những người xúc phạm Đức Phật, đập phá tượng, đốt phá tu viện, phỉ báng các bậc thầy l
ớn, v.v.

64.
Ngay cả những người phỉ báng và phá hoại

Giáo lý thiêng liêng, hình ảnh và bảo tháp
Không phải là đối tượng thích hợp cho sự tức giận của chúng ta.
Bởi vì, chư Phật không bị tác động gì.
74.

Để đạt được tất cả những gì tôi
mong muốn,
Hàng nghìn lần tôi đã trải qua
Những sự tra tấn của cõi địa ngục
-
Không đạt được gì cho bản thân và những người khác.
75.

Nỗi đau hiện tại không gì sánh bằng những thứ ấy (nổi khổ quá khứ)
Và những lợi ích tuyệt vời sẽ đến từ ch
úng.
Những rắc rối này xua tan nỗi đau của những kẻ lang thang (luân hồi)-
Chỉ đúng là tôi
nên tuỳ hỉ trong chúng.

Ví dụ, nếu một người bị kết án tử hình được tha mạng để đổi lấy việc chặt hai tay, anh ta sẽ cảm thấy rất nhẹ nhõm. Tương tự như vậy, khi chúng ta có cơ hội tịnh hóa một nỗi khổ lớn bằng cách ch
ịu đựng một vết thương nhẹ, chúng ta nên chấp nhận nó. Nếu không chịu nổi lời xúc phạm mà nổi giận, thì chỉ tạo thêm khổ đau tệ hại hơn cho tương lai. Dù khó khăn đến đâu, thay vào đó, chúng ta nên cố gắng mở rộng quan điểm của mình và không trả đũa.

Chúng ta đã và vẫn đang trải qua vô vàn đau khổ mà không thu được lợi ích gì từ đó. Bây giờ chúng ta đã hứa sẽ có tấm lòng nhân hậu, chúng ta nên cố gắng đừng nổi giận khi người khác xúc phạm chúng ta. Kiên nhẫn có thể không dễ dàng. N
ó đòi hỏi sự tập trung đáng kể. Nhưng kết quả chúng ta đạt được bằng cách chịu đựng những khó khăn này sẽ rất tuyệt vời. Đó là điều đáng mừng!

79.
Khi những phẩm chất của bạn được khen ngợi,

Do đó bạn mong muốn rằng những người khác sẽ hài lòng.
Nhưng khi người khác được khen ngợi,
Bạn lại cảm thấy không muốn vui mừng như thế.

Khi những người chúng ta không thích được khen ngợi, chúng ta sẽ ghen tị. Đây là một sai lầm. Khi những điều tốt đẹp được nói về người khác, chúng ta nên cố gắng tham gia. R
ồi thì, chúng ta cũng có thể nhận được một chút hạnh phúc. Vậy tại sao không tuỳ hỉ? Nếu chúng ta có thể vui mừng và cảm thấy hài lòng khi những người chúng ta không thích được khen ngợi, thì hạnh phúc mà chúng ta có là thật sự tích cực và được chư Phật chấp thuận. Khi chúng ta thực hành như vậy, ngay cả kẻ thù của chúng ta cũng đánh giá cao chúng ta. Đây là một trong những cách tốt nhất để đạt được sự tôn trọng của người khác.

80.

Bạn là người muốn hạnh phúc cho chúng sanh
Đã nguyện ước được giác ngộ vì lợi ích của họ.
Vậy tại sao những người khác lại làm bạn khó chịu khi
Họ tìm thấy niềm vui nào đó cho chính họ?

Nếu chúng ta không thể đánh giá cao và vui mừng trong niềm hạnh phúc mà người khác có thể có được khi khen ngợi người khác, cuối cùng chúng ta sẽ không thể chịu đựng được niềm vui dù là nhỏ nhất ở bất kỳ ai khác. Nếu đúng như vậy, chúng ta cũng có thể từ bỏ bất cứ thứ gì giúp ích cho người khác và thậm chí không bao giờ tặng quà, từ chối nhận bất cứ thứ gì có thể làm họ hài lòng. Nếu chúng ta thích được khen ngợi, thì thật sai lầm khi chúng ta khó chịu khi người khác khen ngợi người khác và cảm thấy thích thú khi làm như vậy.

83.

Nếu ngay cả điều này mà bạn không muốn cho chúng sanh,
Làm sao bạn có thể muốn Phật quả cho họ?
Và làm sao một người có thể có bồ đề tâm
Lại tức giận khi người khác thành công?

Vì chúng ta đã phát nguyện đạt được toàn giác vì lợi ích của tất cả chúng sanh, nên khi chính những chúng sanh này có một chút hạnh phúc cho
lợi ích của chính họ, thì điều đó là hợp lý để vui mừng hơn là khó chịu. Chúng ta tự đặt cho mình trách nhiệm diệt trừ mọi đau khổ và thành tựu mọi hạnh phúc, nên khi người khác hạnh phúc, trách nhiệm của chúng ta thật sự trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng nếu chúng ta không thể chịu được sự vui mừng của người khác, thì làm sao chúng ta có thể giả vờ tìm cầu Phật quđược?

Khi mọi việc không suôn sẻ với người mà chúng ta không ưa, thì vui mừng để làm gì? Nó không làm cho nỗi đau khổ hiện tại của ng
ười ấy trở nên tồi tệ hơn chút nào, và thậm chí nếu có, thật đáng buồn biết bao nếu chúng ta mong ước một điều như vậy.

90.
Sự tôn kính, ca ngợi và danh tiếng

không góp phần làm tăng thêm công đức hay tuổi thọ của tôi,
Cúng không ban cho sức khỏe hay sức mạnh
Và không làm gì cho thân thể thanh thoát

Chỉ đơn thuần được khen ngợi thì hoàn
toàn không giúp được gì nhiều: nó không làm tăng vận may của con người, cũng không làm cho họ sống lâu hơn. Nếu niềm vui tạm thời là tất cả những gì bạn muốn, bạn cũng có thể dùng ma túy. Tuy nhiên, nhiều người đầu tư rất nhiều tiền và thậm chí lừa dối bạn bè của họ để giành lấy địa vị. Điều này là thật ngu ngốc. Địa vị và danh vọng của họ thật sự không giúp được gì nhiều trong kiếp này và không giúp được gì cho những kiếp sau. Chẳng có ích gì hạnh phúc nếu chúng ta nổi tiếng hoặc không hạnh phúc vì người ta nói xấu chúng ta.

93.
Trẻ không thể ngừng khóc khi
Lâu đài cát của chúng
sụp đổ.

Tâm thức của tôi rất giống chúng
Khi lời khen ngợi và danh tiếng bắt đầu sụp
đổ.
94.
Âm thanh ngắn ngủi, không có trí tuệ,
Không bao giờ có thể tự nó có ý định ca ngợi tôi.

Tôi nói rằng đó là niềm vui mà người khác nhận từ tôi,
Chính điều này là nguyên nhân của niềm vui của tôi.
95.
Nhưng tôi có gì nếu người khác vui sướng
Ở người khác, hay ở chính mình?

Niềm vui của họ là của họ và của riêng họ.
Không có phần nào của nó được cảm nhận bởi tôi.

Những lời khen ngợi tốt đẹp là không có tâm: họ không muốn nói những điều tốt đẹp về chúng ta. Ý tốt của người khác khi ca ngợi chúng ta là ý tốt của họ, không phải của chúng ta! Nếu chúng ta vui vì người khác có những điều thú vị để nói v
chúng ta, thế thì chúng ta cũng nên vui khi họ nói như vậy về kẻ thù của chúng ta. Chúng ta nên đối xử bình đẳng với mọi người.

98.

Lời tán dương và ca ngợi làm tôi phân tâm,
Đánh tan sự khiếp sợ của tôi với luân hồi.
Tôi bắt đầu ghen tị với người khác về những phẩm chất tốt đẹp của họ
Và do đó, mọi sự xuất sắc đều bị hủy hoại.

Khen ngợi, nếu bạn nghĩ về nó, thật sự là một sự phân tâm. Ví dụ, lúc đầu một người có thể là một tu sĩ giản dị, khiêm tốn, hài lòng ít
ham muốn. Sau đó, mọi người có thể nói những điều tâng bốc như, "Ông ấy là một Lạt ma, [bậc thầy]" và người ấy bắt đầu cảm thấy tự hào hơn một chút và trở nên tự ý thức về ngoại hình và cách cư xử của mình. Sau đó, tám mối bận tâm thế gian (bát phong) trở nên mạnh mẽ hơn, phải không? Khen ngợi là một sự sao lãng và phá hủy sự viễn ly (từ bỏ).

N
ói cho cùng, lúc đầu khi chúng ta có ít, chúng ta không có nhiều lý do để có cảm giác cạnh tranh với những người khác. Nhưng sau này, khi "tu sĩ khiêm tốn bắt đầu mọc tóc,” người ấy trở nên tự phụ, và khi người ấy trở nên có ảnh hưởng hơn, người ấy tranh giành những vị trí quan trọng với những người khác. Chúng ta cảm thấy ghen tị với bất kỳ ai có phẩm chất tốt, và điều này cuối cùng sẽ hủy hoại bất cứ phẩm chất tốt đẹp nào mà chúng ta có. Được khen ngợi không thật sự là một điều tốt, chúng ta và nó có thể là nguồn gốc của những hành động tiêu cực.

99.
Những người ở gần tôi, r
ồi thì,
Làm m
ất danh dự của tôi và làm vị trí của tôi xuống cấp
Điều ấy chắc chắn ở đó bảo vệ tôi
Khỏi rơi vào cõi sầu đau.

Vì mục tiêu th
ật sự của chúng ta là giác ngộ, chúng ta không nên tức giận với kẻ thù của mình, những kẻ thật sự đã xua tan mọi chướng ngại cho việc đạt giác ngộ của chúng ta.

101.

Họ, giống như sự ban phước rất lớn của Đức Phật,
Chặn đường tôi, quyết tâm như tôi (để)
Đắm mình trong đau khổ:
Làm sao tôi có thể tức giận với họ được?

102.
Tôi
không nên bực tức nói:
“Họ là chướng ngại việc tốt lành của tôi”.
Vì chẳng phải nhẫn nhục là khổ hạnh tối thượng,
Và tôi không nên tuân theo điều này sao?

Chẳng ích gì khi bào chữa cho mình, nói rằng kẻ thù của chúng ta đang ngăn cản chúng ta tu tập và đó là tại sao chúng ta tức giận. Nếu chúng ta thật sự muốn tiến bộ, thì không có sự thực hành nào bằng nhẫn nhục. Chúng ta không thể giả vờ rằng chúng ta là những thực hành nếu chúng ta không nhẫn nhục.

Nếu chúng ta không thể chịu đựng những tổn hại mà kẻ thù gây cho ta và thay vì sân hận, thì chính chúng ta là chướng ngại để đạt được một hành vi tích cực vô biên. Không có gì hiện hữu mà không có một nhân, và không thể có thực hành nhẫn nhục mà không có ai làm gì xấu với chúng ta. Thế thì, làm sao chúng ta có thể gọi những người như vậy là chướng ngại cho sự thực hành nhẫn nhục của chúng ta, mà vốn nó là nền tảng của con đường Đại thừa? Chúng ta khó có thể gọi một người hành khất là một chướng ngại với một sự bố thí.

Có nhiều lý do để làm từ thiện; thế giới đầy những người có nhu cầu. Mặt khác, những người khiến chúng ta tức giận và thử thách lòng kiên nhẫn của chúng ta tương đối ít, đặc biệt nếu chúng ta tránh làm hại người khác. Vì vậy, khi gặp những kẻ thù hiếm hoi này, chúng ta nên đánh giá cao họ.

107.
Vì vậy, giống như một kho báu được tìm thấy ở nhà,
M
à tôi đã có được không mệt mỏi,
Kẻ thù của tôi là những người giúp đỡ trong công việc Bồ tát của tôi
Và do đó họ phải là niềm vui cho tôi.

Khi chúng ta đã kiên nhẫn đối với kẻ thù, chúng ta nên hồi hướng kết quả của sự thực hành này cho họ, bởi vì họ là nguyên nhân của nó. Họ đã rất tử tế với chúng ta. Chúng ta có thể hỏi, Tại sao họ phải xứng đáng với sự cống hiến này khi họ không có ý định l
àm cho chúng ta thực hành kiên nhẫn? Nhưng các đối tượng có cần phải có ý định trước khi chúng đáng được chúng ta tôn trọng không? Bản thân giáo Pháp, chỉ ra sự chấm dứt đau khổ và là nguyên nhân của hạnh phúc, không có ý định giúp đỡ chúng ta, nhưng nó chắc chắn đáng được tôn trọng.

R
ồi thì, chúng ta có thể nghĩ rằng kẻ thù của mình không xứng đáng vì họ chủ động muốn làm hại chúng ta. Nhưng nếu tất cả mọi người đều tử tế và có thiện chí như một bác sĩ, làm sao chúng ta có thể thực hành kiên nhẫn? Và khi một bác sĩ, với ý định chữa bệnh cho chúng ta, làm tổn thương chúng ta bằng cách cắt cụt tay chân, mổ bụng chúng ta hoặc chích chúng ta bằng kim, chúng ta không coi ông ta là kẻ thù và nổi giận với ông ta. Như vậy, chúng ta không thể thực hành nhẫn nhục đối với ông. Nhưng kẻ thù là những người có ý định làm hại chúng ta, và chính vì lý do này mà chúng ta có thể thực hành kiên nhẫn đối với họ.

111.
C
ảm ơn những người có tâm đầy ác ý
Mà tôi tự mình có được sự nhẫn nhục. 
Do đó, h
là nguyên nhân cho sự nhẫn nhục của tôi,
Thích hợp để tôn kính, giống như giáo Pháp.
112.

Và như vậy bậc Đại Thánh đã nói về ruộng phước của chúng sanh
Cũng như ru
ộng phước của những đấng Chinh phục.
Nhiều người đã mang lại hạnh phúc cho chúng sanh,
Đã vượt
đến bến bờ, đạt đến sự hoàn hảo.

Có hai ruộng phước mà qua đó chúng ta có thể tích lũy công đức: chúng sanh và chư Phật. Chính nhờ sự giúp đỡ của chúng sanh, dù họ khốn khổ như thế nào, mà chúng ta có thể tích tập những hành động tích cực, phát triển bồ đề tâm, thực hành sáu ba la mật, và đạt được những phẩm chất của niết bàn. Không có chúng sanh, chúng ta không thể có lòng từ bi, và không có lòng từ bi, chúng ta không thể đạt được sự giác ngộ vô thượng mà thay vì thế rơi vào cực đoan của niết bàn. Vì vậy, việc đạt được giác ngộ tối thượng và sự hiểu biết mà chúng ta đạt được trên con đường đều phụ thuộc vào chúng sanh cũng nhiều như vào chư Phật. Thật sai lầm khi tách riêng ra, nói rằng chư Phật cao hơn và chúng sanh thấp hơn. Vì cả hai đều cần thiết như nhau cho sự thành tựu giác ngộ của chúng ta, tại sao chúng ta không kính trọng chúng sanh cũng như kính trọng chư Phật?

114.
Không phải trong phẩm chất của tâm th
ức của họ
Nhưng trong các loại qu
ả vị họ cống hiến là giống nhau.
Trong chúng sanh cũng vậy, sự tối thắng như vậy trú ngụ,
Và do đó chúng sanh và chư Phật đều như nhau.

Tất nhiên, cả hai không bình đẳng về phẩm chất. Nhưng theo nghĩa là chúng sanh có khả năng hỗ trợ chúng ta tích lũy công đức và đạt được giác ngộ, chúng ta có thể nói rằng họ bình đẳng.

119.
Chư Phật là những người bạn thật sự c
ó thể tin cậy của tôi.
Vô biên những lợi ích mà họ mang lại cho tôi.
Làm thế nào khác tôi có thể trả ơn lòng tốt của họ
Nhưng bằng cách làm cho chúng sanh hạnh phúc?
122.
Chư Phật được hạnh phúc bởi niềm vui của chúng sanh.

Các ngài buồn rầu, than thở khi chúng sanh đau khổ.
Bằng cách mang lại niềm vui cho chúng sanh, rồi thì, tôi cũng làm hài lòng
chư Phật;

Khi làm tổn thương họ, tôi cũng làm tổn thương chư Phật.

Nếu chúng ta thật sự quy y Phật, thì chúng ta nên tôn trọng hạnh nguyện của các ngài. Rốt cuộc, trong cuộc sống bình thường, việc thích nghi theo một cách nào đó với bạn bè và tôn trọng mong muốn của họ là điều bình thường. Khả năng làm như vậy được coi là một phẩm chất tốt. Thật đáng buồn nếu một mặt chúng ta nói rằng chúng ta quy y với tấm lòng thành kính nơi Phật, Pháp và Tăng, nhưng mặt khác, trong hành động của chúng ta, chúng ta xem
thường quên lãng những gì làm phật lòng tam bảo. Chúng ta sẵn sàng tuân theo tiêu chuẩn của người bình thường chứ không phải theo tiêu chuẩn của chư Phật và Bồ Tát. Thật khốn khổ! Chẳng hạn, nếu một tín đồ Đấng Kithật sự yêu mến Đức Chúa Trời, thì người ấy nên thực hành tình yêu thương đối với tất cả những người đồng loại của mình. Nếu không, ta không tuân theo tôn giáo của mình: lời nói và việc làm của ta trái ngược nhau.

127.
Chính điều này làm hài lòng chư Phật

Và hoàn toàn bảo đảm an lạc cho chính tôi.
Điều này sẽ xua tan nỗi buồn khcủa thế giới,
Và do đó nó sẽ là công việc thường xuyên của tôi.

Ví dụ, các đại sứ của một vị vua hay tổng thống phải được tôn trọng, cho dù trông họ có vẻ không ấn tượng đến đâu, bởi vì họ đại diện cho cả một quốc gia. Tương tự như vậy, tất cả chúng sanh, dù khốn khổ đến đâu, đều ở dưới sự bảo vệ của chư Phật và Bồ tát. Như vậy trực tiếp hại chúng sanh, là gián tiếp làm
đau chư Phật, Bồ tát. Đây là điều chúng ta nên hết sức cẩn thận.

Nếu chúng ta có thể làm hài lòng chúng sanh, thì không cần phải nói rằng điều này sẽ góp phần giúp chúng ta đạt được sự toàn tri. Ngay trong đời này, chúng ta sẽ hạnh phúc và thoải mái, được nghĩ đến tốt và có nhiều bạn bè. Trong những kiếp tương lai, chúng ta sẽ xinh đẹp, mạnh mẽ và khỏe mạnh, và chúng ta sẽ tái sanh trong những cõi cao hơn, với tám phẩm chất là kết quả của những hành động tích cực. Dưới những điều kiện thuận lợi như vậy, cuối cùng chúng ta sẽ đạt được giác ngộ. Vì vậy, giúp đỡ người khác là nền tảng trên con đường dẫn đến Phật quả.

Chương rất quan trọng này về sự kiên nhẫn là nền tảng
cho chương thứ tám, trong đó cho thấy làm thế nào chúng ta có thể mang lại lợi ích cho người khác thông qua việc hiểu được những phẩm chất của lòng vị tha và những bất lợi của chủ nghĩa vị kỷ.

Nói chung, chính ý niệm về kẻ thù là chướng ngại chính cho tâm bồ đề. Nếu chúng ta có thể biến đổi một kẻ thù thành người mà mình tôn trọng và biết ơn, thì sự tu tập của chúng ta sẽ tự nhiên tiến triển như nước chảy theo kênh rạch đào trong lòng đất.

Nhẫn nhục có nghĩa là không tức giận với những người làm hại chúng ta mà thay vào đó là có lòng t
ừ bi đối với họ. Điều đó không có nghĩa là chúng ta nên để họ làm những gì họ thích. Ví dụ, những người Tây Tạng chúng tôi đã trải qua những khó khăn lớn dưới bàn tay của những người khác. Nhưng nếu chúng tôi tức giận với họ, chúng tôi chỉ có thể là người thua cuộc. Đây là lý do tại sao chúng tôi đang thực hành kiên nhẫn. Nhưng chúng ta sẽ không bỏ qua sự bất công và áp bức.

Ẩn Tâm Lộ,  2023




[1] Thí dụ,  công đức đạt được qua hành thiền về chư thiên cõi vô sắc giới không thể không thể bị phá huỷ bởi sân hận phát sanh từ cõi người.

[2] Cõi Tịnh độ là một thế giới được biểu hiện bởi một  Đức Phật hay Bồ tát phù hợp với công đức của chúng sanh. Được tái sanh về Cõi Tịnh độ có thể phát triển nhanh chóng con đường đến Phật Quả.

[3] Thoát khỏi một cõi luân hồi giả sử là thường hằng thì mâu thuẩn, xét thế.

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2023

TỰ TẠI QUA SỰ THỰC HÀNH TRONG THẾ GIỚI A DI ĐÀ·, VÔ LƯỢNG QUANG

 


Amitabha_Phowa

Training in Realm of Amitābha | Lotsawa House

Liberation Through Training In The Realm Of Amitābha, Boundless Light[1]

Phát hiện: Chokgyur Lingpa and arranged by Jamgön Kongtrul Lodrö Thayé
Anh dịch:
Samye Translations, 2022
Việt dịch:Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển, 2023
***



Đối với điều này, vì ngày 15 âm lịch là ngày lễ của Đức Phật A Di Đà, nên hãy bắt đầu vào ngày đó hoặc ngày khác. Sắp xếp những vật hỗ trợ như một bức thangka của cõi Tịnh độ Cực lạc của Sukhāvatī, hoặc một bức tượng hoặc hình minh họa, nếu bạn có. Trước những hỗ trợ này, hãy sắp xếp bất kỳ lễ vật nào bạn có. Nếu bạn không có, chỉ cần sử dụng định là đủ. Sau đó, với sự tập trung và nguyện vọng nhất tâm, hãy quy y bằng cách trì tụng ba lần sau đây.

Namo. Đến đạo sư và bổn tôn tâm thể, A Di Đà,
Và với Tam Bảo và đại dương của những đấng chiến thắng,
Con cùng mọi chúng sanh, thành tâm, nhất tâm,
Nương tựa cho đến khi thức tỉnh hoàn toàn.

Hãy phát bồ đề tâm bằng cách trì tụng ba lần sau đây:

Hoḥ. Vì tất cả chúng sanh, mẹ của tôi,
Có thể đạt được trạng thái giác ngộ,
Con sẽ không làm hại ai, thực hành đức hạnh và làm lợi ích cho người khác,
Như vậy con sẽ luôn phát khởi Bồ đề tâm.

Nguyện cho tất cả chúng sanh được hưởng hạnh phúc!

Nguyện cho họ được giải thoát khỏi mọi loại đau khổ!
Nguyện cho họ không bao giờ xa rời hạnh phúc!
Nguyện cho họ nhận ra sự bình đẳng của mọi hiện tượng!

Cùng với đó, tu tập bốn vô lượng tâm.

ༀ་སྭ་བྷཱ་ཝ་ཤུདྡྷ་སརྦ་དྷརྨཱཿསྭ་བྷཱ་ཝ་ཤུདྡྷོ྅་ཧཾ༔
om sobhava shuddha sarva dharma sobhava shuddhoh hang
oṃ svabhāva-śuddhāḥ sarva-dharmāḥ svabhāva-śuddho ’ham

Từ trạng thái trống rỗng, toàn bộ quốc độ
Trở thành cõi Tịnh độ Cực lạc, Đại Hạnh Phúc,
Một cảnh tượng kỳ diệu, không thể nghĩ bàn.
Ở trung tâm của nó, trên một đĩa hoa sen và mặt trăng,
Ta là Quán Thế Âm Cao Quý,
Màu trắng đỏ, rạng rỡ, hai lòng bàn tay chắp vào nhau.
Ông Ngài có hình tướng của một vị Bồ Tát trẻ trung,
Và ngồi trong tư thế bồ tát.
Phía trước, trên một ngai ngọc tuyệt đẹp
Được chim công nâng đỡ là hoa sen và đĩa mặt trăng,
Là trụ xứ của đấng bảo hộ Vô Lượng Quang A Di Đà Phật, có màu đỏ;
Hai tay Ngài để ngang cầm bát cam lồ khất thực.
Rực rỡ với những tướng và dấu hiệu hùng vĩ, Ngài mặc Pháp y.
Mát mẻ trong bóng râm dễ chịu
Của một cây bồ đề khổng lồ, lan rộng,
Ngài ngồi giữa những tia sáng vô tận,
Trong tư thế kim cang.
Bên phải Ngài là Quán Thế Âm cao quý,
Bên trái ngài là Kim Cang Thủ hùng mạnh,
Phía trước là một loạt những bậc cao quý,
Và trên và dưới, theo mọi hướng,
Là chư Phật, Bồ Tát,
Và những đấng bảo vệ thế giới trong lực lượng không thể nghĩ bàn.
Tất cả đều cộng hưởng với Pháp
Và thưởng thức cam lồ của cỗ xe tối thượng,
Tất cả sống động như đang hiện diện trong con người.

Hãy tưởng tượng điều này, và sau đó trì tụng bảy nhánh, chẳng hạn như nghi lễ bảy nhánh từ Những Lời Cầu Nguyện Của Đức Vua,[2] và thực hiện những cúng dường mandala phong phú. Hơn nữa, khi thực hiện một thời khóa đặc biệt cho thực hành này, hãy trì tụng bảy nhánh, cúng dường mạn đà la, và các nghi lễ khác từ kinh điển và các bản văn khác, càng nhiều càng tốt. Làm như vậy, bạn sẽ tích lũy được những tích lũy để tái sinh trong cõi tịnh độ, vì vậy nó là một phần rất quan trọng của sự thực hành. Nếu bạn đang làm điều này như một phần trong thực hành hàng ngày của mình, thì chỉ cần niệm: “Gửi tới tất cả chư Phật, sư tử của loài người,…”3, v.v., rồi cúng dường một mạn-đà-la với những thứ sau:

Oṃ āḥ hūṃ. Nhân danh con và tất cả chúng sanh,
Tất cả thân thể, tài sản và nguồn công đức của chúng con,
Bốn lục địa, Núi Tu Di, mặt trời và mặt trăng,
Những niềm vui không thể tưởng tượng nổi của chư thiên và loài người:
Liên tục thể hiện tất cả những điều này
Như mây Phổ Hiền cúng dường,
Gửi tới đạo sư hộ mệnh Vô Lượng Quang,
Đối với các bổn tôn của Tam Bảo và Tam Gốc,
Và đến đại dương của những vị hộ pháp và những vị bổn tôn giàu có—

Con luôn luôn cúng dường với lòng thành kính!
Nguyện sự tích lũy công đức vĩ đại của chúng con được viên toàn
Và ánh sáng trí tuệ soi sáng thế giới!

ཨོཾ་གུ་རུ་ཨ་མི་ཏ་བྷ་སརྦ་ཏ་ཐཱ་ག་ཏ་ས་པ་རི་བཱ་ར་རཏྣ་མཎྜ་ལ་པཱུ་ཛ་མེ་གྷ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om guru amitabha sarva tathagata sapariwara ratna mandala pudza megha ah hung
oṃ guru amitābha-sarva-tathāgata-saparivāra-ratna-maṇḍala-pūjā megha āḥ hūṃ

Như vậy cúng dường.

Những tia sáng phát ra từ trung tâm trái tim tôi,
Thỉnh cầu trái tim trí tuệ của chư Phật và hải hội thánh chúng.
Những tia sáng từ bi của các ngài
Tịnh hóa những chướng ngại của chính con và của những người khác.
Như vậy chúng con trở thành bình chứa phù hợp cho cả nhân và quả.
Được sanh về cõi Cực lạc thanh tịnh.

Nói và quán tưởng như vậy rồi tụng:

ཨོཾ་པདྨ་དྷཱ་རི་ཧཱུྃ༔
om pema dhari hung
oṃ padma-dhari hūṃ

Hãy trì tụng mật ngôn tinh tuý này càng nhiều càng tốt, chẳng hạn như một trăm hay một nghìn lần. Sau đó, hãy trì tụng, nhiều lần như bạn có thể, đà-ra-ni sau đây để hồi tưởng Vô Lượng Quang - Ánh sáng Vô biên—và nhờ đó thanh lọc dòng tâm thức của bạn:

namo ratna trayaya, namo bhagavaté, amitabhaya, tathagataya, arhaté, samyaksambuddhaya, teyata, om amité, amitodbhawa, amitasambhawa, amitabitranté, amitagamini, gagana kirti karé, sarva klesha chayam ka ri soha

namo ratna trayāya | namo bhagavate | amitabhāya | tathāgatāya | arhate | samyaksaṃbuddhāya | teyathā | oṃ amite | amitodbhava | amita saṃbhava | amita vikrānte | amita gamini | gagaṇa-kīrti kare | sarvakleśa kṣayaṃ kari svāhā ||[3]

Đối với phần chính của thực hành, hãy toàn tâm toàn ý tập trung vào cảnh quan của cõi tịnh độ như được mô tả trong kinh điển, và lặp đi lặp lại để khơi dậy lòng sùng mộ mãnh liệt. Hồi hướng tất cả thiện căn mà bạn và người khác tích tập suốt ba thời làm nhân tái sinh trong cõi tịnh độ. Sau đó chăm chú trì tụng Kinh Đại Nguyện Vương và nguyện cầu vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc. Chọn những thứ được sáng tác bởi các đấng tối cao. Vào cuối buổi thực hành, hãy nói:

Trước mặt tôi là Đức Phật A Di Đà.
Ở trung tâm trái tim của ngài ấy là một chữ hrīḥ. Từ đó, một hrīḥ thứ hai xuất hiện.
Nó đi qua lỗ mũi bên phải của ngài,
Đi qua lỗ mũi bên trái của con, và đi xuống trung tâm trái tim của con.

Nó tỏa ra những tia sáng vô biên
Tịnh hóa những hành vi sai trái, chướng ngại và thói quen của con.
Sau đó, cùng với hơi thở ra của con,
Nó xuất hiện từ lỗ mũi bên phải của con,
Đi vào Đức Thế Tôn qua lỗ mũi bên trái, và tan biến trở lại thành hrīḥ.
Tuệ trí của Đấng Chiến Thắng và tuệ trí của chính con là không thể chia cắt.
Con để yên, trong trạng thái vô niệm này.

Nói điều đó và áp dụng quán tưởng trong khoảng bảy chu kỳ hơi thở. Sau đó, hãy tưởng tượng như sau:

Đạo Sư A Di Đà
Hòa tan vào con với niềm vui lớn.
Và chính con mang hình tướng của Đức Phật.

Hãy trì tụng tất cả những hồi hướng bắt đầu bằng, “Giống như Bồ tát Văn Thù đạt được toàn tri,…”[4] ở đây hồi hướng công đức. Buổi tối trước khi đi ngủ, thực hiện một lần thực hành này để tịnh hóa cảnh giới, cuối cùng tập trung thực hiện lặp đi lặp lại quán tưởng kết hợp với hơi thở. Sau đó hòa tan Vô Lượng Quang vào trong bạn và quán tưởng bạn là Đức Phật. Nhắc đi nhắc lại cảnh giới tịnh độ rồi đi vào giấc ngủ trong trạng thái vô niệm. Bằng cách thực hành như vậy, thể chất và nhận thức của bạn sẽ trở nên rõ ràng hơn và bạn sẽ trải nghiệm những điềm báo tốt lành, đạo đức như giấc mơ du hành đến cõi tịnh độ. Để bắt đầu, thật tuyệt vời nếu bạn có thể dành một tuần, ba tuần hoặc khoảng thời gian đó để tập trung vào điều này trong các phiên, tiếp tục cho đến khi có dấu hiệu tiến triển. Hơn nữa, về lợi ích của việc thực hành điều này hàng ngày khi đi ngủ:

Nếu bạn rèn luyện điều này, thực hiện nó mỗi ngày một lần không ngừng nghỉ, thì vào lúc chết, chắc chắn rằng, nhờ năng lực của chư Phật, các che chướng sẽ được tịnh hóa và bạn sẽ được tái sinh trong cõi Cực Lạc thanh tịnh.

Thực hành này cũng tồn tại trong các Trường phái Mới, trong Thiền định Ánh sáng Vô biên về Giấc ngủ và Chuyển di—một hướng dẫn dựa trên Những Lời Cầu nguyện của Đức Vua được trao truyền qua Nāgārjuna. Tuy nhiên, so với những hướng dẫn khác, phiên bản thực hành đặc biệt này có đầy đủ phần chuẩn bị, phần chính và phần kết luận, và được trình bày rất rõ ràng, và do đó nó cực kỳ sâu sắc.

chuyenngui

 

 

Samye Translations, 2022 (trans. Laura Dainty; ed. Stefan Mang and Libby Hogg).

 

Source: 'jam mgon kong sprul. "thugs sgrub bar chad kun sel las/ longs sku 'gro 'dul gyi las rim grol ba bcu gcig gi lag len gsal byed ngo mtshar rgya mtsho las/ drug pa snang ba mtha' yas kyi zhing sbyong sgom grol ni." In rin chen gter mdzod chen mo. New Delhi: Shechen Publications, 2007–2008. Volume 42: 517–521.

 

Version: 1.1-20221104

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamgon-kongtrul/training-amitabha-realm



[1] Sự giải thoát này thông qua việc tịnh hóa cõi Ánh sáng Vô biên được trích từ Đại dương Kỳ diệu: An Illucidation of Application of the Eleven Models of Liberation of Sambhogakaya, Tamer of Beings (longs sku 'gro' dul gyi las rim grol ba bcu gcig gi lag len gsal byed ngo mtshar rgya mtsho) từ Thực hành trái tim của Đạo sư, Người xua tan mọi chướng ngại (thugs  sgrub bar chad kun sel). Đó là phương thức giải thoát thứ sáu trong số mười một phương thức giải thoát được dạy ở đó.

[2]  A translation of this text if found separately here: https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/seven-branch-zangcho-monlam/ Những Lời Cầu Nguyện Của Đức Vua:  The King of Aspiration Prayers | Lotsawa House

[3] Các phiên bản khác của câu thần chú này được tìm thấy ở nơi khác được đọc là “sarvakarma klésa”.

[4] Đoạn này và sáu đoạn kệ sau đây được tìm thấy ở phần cuối của Những Lời Cầu Nguyện Của Đức Vua.- The King of Aspiration Prayers.

 

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023

NGƯỠNG VỌNG TÁI SINH VỀ CÕI CỰC LẠC

 



Nguyên bản:Aspiration to Be Reborn in the Realm of Sukhāvatī
Tác giả:
 
Jigme Lingpa
Anh dịch:
Han Kop and edited by Adam Pearcey and Barry Cohen 
Việt dịch: Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển, 2023
***

Kính lễ Đức Thế Tôn bất nhiễm và thanh tịnh vô biên!
Trong cõi của sự rạng rỡ và phúc lạc vô tận này,
Được hình thành từ công đức tích lũy của Đức Phật,
Nơi trú ngụ của đấng bảo vệ A Di Đà Phật của cuộc sống vô biên,
Con phủ phục kính lễ dưới chân ngài:
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!


Khi ngài được biết là Tỳ kheo
Pháp Tạng[1],
Trước sự hiện diện của Đức Phật
Thế Tự Tại Vương [2],
Ngài đã phát nguyện và khao khát tạo ra một cõi thanh tịnh tuyệt vời,
Và nói rằng, “
Con tôn kính ngài. Xin hãy hứa khả điều này ngay lập tức, con cầu nguyện!”
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Mặt đất bằng phẳng và phù hợp để so sánh
Đến lòng bàn tay mềm mại và dịu dàng của trẻ sơ sinh,
Nhưng rộng lớn về quy mô, không có chiều dài hoặc chu vi cố định,
Tất cả được phủ bằng nhiều loại trang sức.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Cõi thú vị này không có núi Tu Di, không có đại dương bao la,
Không có những vòng núi đen hay nhà ở bình thường.
Cây như ý gồm bảy loại châu báu
Trụ rộng một nghìn do tuần, cao sáu trăm.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!


Khi tất cả cành cây trĩu xuống với trái và hoa
Và được trang trí bằng dây chuyền vàng, khuấy động theo làn gió mang hương thơm,
Chúng tạo ra tiếng xào xạc ngọt ngào và ngân nga,
Âm thanh dễ chịu mà người ta không bao giờ mệt mỏi khi nghe.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Loài hoa tỏa hương thơm ngào ngạt nhất
Rơi xuống ngay tấm thảm tặng phẩm, sâu bảy thân thể[3],
Không ngừng làm say mê và lan toả khắp xung quanh,
Thu lượm dưới chân, sau đó được phục hồi ngay lập tức.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!
 
Chỉ có chư thiên và con người được biết đến; ngay cả những cái tên
Của các cõi thấp hơn hoặc của asura là xa lạ.
Đó là những niềm vui về mùa màng phong nhiêu và bội thu,
Nó được gọi là 'Sự huy hoàng của người không bao giờ mệt mỏi'.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Như dòng sông nước thơm có thể lội qua
Dòng chảy êm đềm không cuộn trào không thể kiểm soát,
Âm thanh quyến rũ của chúng, người ta không bao giờ mệt mỏi,
Thông đạt vô thường, an lạc và vô ngã.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Trên bãi cát vàng hoàn toàn không có bùn lầy,
Thiên nga, hạc, ngỗng trời, vịt, chim karaṇḍa,
Vẹt, chim sārika,[4] chim công, chim kulana
Và kalaviṅkas[5] thần thoại hát như chơi đàn sitar.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Những âm thanh này và tất cả những ấn tượng giác quan
Truyền đạt ý nghĩa Tam Bảo, Tứ vô lượng tâm,
Các giai đoạn, ba la mật siêu việt, mười sức mạnh, bốn vô úy
Và mười tám thuộc tính không chia sẻ (của  Đức Phật)
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Từ những bông hoa và cây cối trong những khu rừng đầy thích thú,
Cảm giác hoan hỉ xuất hiện ngay lập tức bởi thành tựu,
Và cung điện vô lượng xuất hiện giữa không trung—
Những điều kỳ diệu vô song ngay cả trong Tha Hoá Tự Tại Thiên.[6]
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Không có hành tinh và không có ngôi sao, không có ngày và đêm,
Không hộ gia đình và không sự chiếm hữu chúng—
Thay vào đó, có những nữ thần trên trời tạo ra
Những đám mây cúng dường truyền cảm hứng cho niềm hoan hỉ tối thượng.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Chư Phật nhiều như cát sông Hằng
Liên tục tán dương phẩm chất của đấng chiến thắng
Những bậc sống và chủ trì ở đây và cũng như sự tôn kính
Quán Thế Âm và Đại Thế Chí,
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Những người đạt đến cảnh giới này với đức hạnh bị chướng ngại
Xuất hiện thai tạng trong hoa sen.
Sau đó, trong khi ngồi kiết già, ngay lập tức phát sanh
Lần thứ hai và đạt được các tướng của một bậc vĩ nhân.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, trong hình dạng con người và chư thiên,
Có khả năng nhạy bén và đã đạt được gia hành vị.[7]
Họ bay qua bầu trời; họ sẽ không bao giờ thoái lui;
Và họ nghe Pháp thiêng liêng mà không mất tầm nhìn của chư Phật.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!


Với kỹ năng tập trung và siêu nhận thức,
Với tuệ giác chấp nhận mọi phân biệt,
Không buông thả nhưng với các giác quan được kiểm soát,
Và với những phẩm chất vô biên, không giới hạn của toàn tri—
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Thông qua con đường chân chính loại bỏ nguyên nhân và kết quả của nguồn gốc,
Các vị A-la-hán cũng hiện thực sự tịch diệt.
Họ tìm thấy sự nhẹ nhõm trong không gian giải thoát ba phần
Và nhận sự quán đảnh của những tia sáng vĩ đại.
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Giáo Pháp được giảng dạy trong từng khoảnh khắc
Thật không thể kể xiết, thần thông kỳ diệu thật bao la
Chúng cho phép du hành đến các thế giới khác và,
Nhờ thọ nhận giáo Pháp, thâm nhập hàng tỉ tam muội
Nguyện cầu con được tái sanh trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!

Nói tóm lại, bất cứ ai nghe thấy tên hoặc lời dạy của ngài,
Bất cứ ai nhìn thấy ngài, hoặc thiền định về ngài,
Sẽ tái sanh ở
cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc!
Vì lời nguyện của Bồ đề tâm cao quý này là không thể sai lầm,
Hành động của ngài vì lợi ích của người khác là tương tự
Đối với thủy triều không ngừng của đại dương.

Như hậu duệ của Ikṣvāku[8] đã nói với Ānanda:
“Hãy đứng dậy quay mặt về hướng Tây,
Dâng cúng một bông hoa và chắp tay của bạn.
Hãy đảnh lễ Đức Phật Vô Lượng Quang toàn hảo,[9]
Vô nhiễm và tinh khiết vô hạn.
Danh tự không bị ô uế của ngài
Nổi danh khắp mười phương,
Được ca ngợi bởi tất cả những Đấng Chiến Thắng.”

Và thế là chúng con hiến dâng thân thể và tài sản của mình mà không giữ lại,
Thừa nhận những hành vi tiêu cực mà chúng con đã phạm phải và những che chướng mà chúng con đã tích lũy,
Và vui mừng trong đại dương của những hành động giác ngộ đã được thực hiện.
Chúng con thỉnh cầu ngài chuyển bánh xe Pháp mãi mãi và ở lại đây,
Và chúng con hồi hướng tất cả nguồn công đức hiện hữu
Để tất cả chúng sanh có thể được sanh ra trong cõi Cực Lạc, Đại Hạnh Phúc.
Cầu mong tất cả những điều tốt lành để những nguyện vọng của chúng con thành hiện thực giống như những gì chúng con đã thực hiện chúng!

 ***
Tôi, Gyalwé Nyugu Khyentsé Lha, đã viết ra nguyện vọng này phù hợp với Kinh A Di Đà Phật[10] sau khi tôi được Jigme Trinle Özer, học trò hoàn hảo của tôi từ Dokham, thúc giục tôi thực hiện từ xa, và đích thân bởi hai vị tên là Jigme Losalchen,[11] người đưa ra yêu cầu nhiệt tình.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/sukhavati-aspiration

 



[1]  Dharmākara - Pháp Tạng Tỳ Kheo, một trong những tiền thân của Đức Phật A Di Đà:

[2] Lokesvararaja— Thế Tự Tại Vương -Thế Nhiêu Vương—Vị Phật mà Phật A Di Đà trong tiền kiếp đã xuất gia tòng tu và thệ nguyện 48 lời nguyền

[3] Con người có bảy thân thể hoặc lớp. Để biết thêm: https://bit.ly/348ojEz. Trên thực tế, con người không có một cơ thể duy nhất như nhìn từ bên ngoài. Người ta có bảy loại cơ thể bên trong mình. Một trong bảy than thể đó là cái mà chúng ta thấy từ bên ngoài. Nó được gọi là Cơ thể vật lý hoặc Bhautik Sharir. Cơ thể thứ hai được gọi là Cơ thể Etheric nằm phía sau cơ thể vật lý và cũng được gọi là Akash Sharir hoặc Bhav Sharir. Cơ thể thứ ba nằm sau Cơ thể Năng lượng được gọi là Cơ thể Astral hoặc Sukshma Sharir. Cơ thể thứ tư đằng sau Cơ thể Astral được mô tả là Cơ thể Trí tuệ hoặc Manas Sharir. Cơ thể thứ năm nằm sau Cơ thể Tâm thần được gọi là Cơ thể Tâm linh hoặc Aatmic Sharir. Cơ thể thứ sáu được gọi là Cơ thể Vũ trụ hoặc Brahm Sharir nằm sau Cơ thể Tâm linh. Nirvana Sharir hay Vô Thân Thể là cơ thể thứ bảy ở một người đàn ông và cơ thể này nằm phía sau Brahm Sharir hay Cơ Thể Vũ Trụ. Bây giờ đó là sự cấu tạo cơ thể của một người bao gồm bảy cơ thể nằm chồng lên nhau.

[4] Có thể là Turdus salica, một loài chim Ấn Độ nổi tiếng với những nốt nhạc du dương.

[5] Ca Lăng Tần Già-Một loài chim nhỏ giống chim sẻ nổi tiếng với giọng hót cực hay, kalapingka hay kalavingka được nhắc đến trong nhiều nguồn văn học Phật giáo, chẳng hạn như Buddhacarita của Aśvaghoṣa.

[6] Tầng trời cao nhất trong sáu tầng trời của dục giới: Tha Hoá Tự Tại Thiên/ việc Kiểm soát Hóa Hiện của Người khác

[7] Cấp độ thứ ba của con đường gia nhập-gia hành vị. Một khi đã đạt được gia hành vị thì không thể rơi vào các cõi thấp hơn nữa.( 5 bậc của con đường/1. Tư lương vị, 2. Gia hành vị, 3. Thông đạt vị, Tu tập vị, Cứu cánh vị)

[8] Buddha Śākyamuni

[9] Amitābha

[10]  The Array of Amitābha (Skt. amitābhavyūhasūtra or āryāmitābhavyūhanāmamahāyānasūtra, Toh 49).

[11] The exact identity of these two students is unsure, yet they possibly belonged to Dzogchen Monastery. It is likely that one was Jigme Losal Özer, who wrote the catalogue for the Core Texts of the Heart-Essence, called An Illuminating Ornament of Brilliant Sunlight.

 

Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2023

NGƯỠNG VỌNG CÕI CỰC LẠC

 




Nguyên tác: Brief Sukhāvatī Aspiration
Tác giả: the terma of Mingyur Dorje
Anh dịch:
Rigpa Translations, 2023.
Việt dịch: Quảng Cơ
Nhuận sắc: Tuệ Uyển
***

Emaho! Đức Phật A Di Đà diệu kỳ, Vô Lượng Quang,
Đức Quán Thế Âm Đại Bi ở bên phải ngài,
Bồ tát Đại Thế Chí bên trái ngài,[1]
Và chư Phật và Bồ tát, vô số, khắp xung quanh—

Kỳ diệu, hạnh phúc và niềm vui là vô tận
Trong cõi thanh tịnh của ngài, Đại Hạnh Phúc - 'Cực Lạc'.
Khoảnh khắc tôi rời khỏi cuộc sống này,
Không sanh bất kỳ nơi nào khác ở trung gian,

Nguyện con được sinh ra ở đó, trước Đức Phật A Di Đà, và nhìn thấy khuôn mặt của ngài!
Nay xin chư Phật và Bồ tát ở khắp mười phương
Hãy ban phước lành gia hộ cho nguyện vọng này, lời cầu nguyện này của tôi,
Được hoàn thành, không có gì trở ngại.

ཏདྱ་ཐཱ༔ པཉྩ་ནྡྲི་ཡ་ཨཱ་ཝ་བོ་དྷ་ནཱ་ཡེ་སྭཱ་ཧཱ༔
teyatha | pentsadriya awabodhanayé soha
tadyathā pañcendriyāvabodhanīye svāhā

 ***

Khi Tulku Mingyur Dorje mười ba tuổi, vào ngày mồng 7 tháng Saga Dawa, năm Hỏa Điểu (1657), ông có linh kiến về các vị bổn tôn của mạn đà la, và Đức Phật A Di Đà đã trực tiếp nói những lời này. 

| Rigpa Translations, 2023.

 

Version: 3.0-20230405

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/terton-mingyur-dorje/brief-sukhavati-aspiration

 



[1] Đại Thế Chí: Mahāsthāmaprāpta (TT. mthu chen thob), tên có nghĩa là 'Người đạt được sức mạnh vĩ đại', là một trong hai vị bồ tát chính xuất hiện ở Cực Lạc-Sukhāvatī cùng với A Di Đà. Trong Phật giáo Tây Tạng, ông được đồng nhất với Kim Cang Thủ -Vajrapāṇī, mặc dù họ là những vị bồ tát riêng biệt trong kinh điển và trong các hình thức Phật giáo khác.

KINH TÔN QUÝ GIÁO HUẤN VỀ MƯỜI MỘT NIỆM

 



The Eleven Perceptions | Lotsawa House

Tác giả: the Words of the Buddha
Anh dịch:
Samye Translations (trans. Lowell Cook, ed. Stefan Mang), 2020.
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính,2023

In the language of India: Āryasaṃjñānaikādaśanirdeśasūtra
In the language of Tibet: Pakpa düshé chuchik tenpé do ('phags pa 'du shes bcu gcig bstan pa'i mdo)
[In the English language: The Noble Sūtra Teaching the Eleven Perceptions]
***

Kính lễ Tam Bảo!

Như vậy, tôi đã nghe vào một thời. Đức Thế Tôn đang ngự tại trú xá trong rừng Sa La Song Thọ ở gần thị trấn Kuśinagara của Malla. Khi đến thời nhập Niết-bàn của mình, Ngài nói với các tỳ-kheo:

“Này các tỳ kheo, vào lúc lâm chung, một tỳ kheo nên phát khởi mười một niệm. Mười một niệm này là gì? Chúng là:

01. Niệm không dính mắc vào cuộc sống này
02. Niệm về tình yêu thương đối với tất cả chúng sanh
03. Niệm về từ bỏ mọi oán hận
04. Niệm về sám hối tất cả vi phạm kỷ luật tr
ác táng
05. Niệm về thật sự thọ nhận tất cả thệ nguyện
06. Niệm về sự bao dung đối với cả những việc làm sai trái lớn
07. Niệm về tính quan trọng đối với những gốc rễ nhỏ của đức hạnh
08. Niệm về sự không sợ hãi đối với thế giới tiếp theo
09. Niệm về vô thường đối với mọi sự vật duyên sanh
10. Niệm vô ngã đối với mọi hiện tượng
11. Niệm hiểu niết bàn là an lạc

Đức Thế Tôn vừa nói xong, tất cả các Tỷ-kheo hoan hỷ tán thán lời Thế Tôn dạy.

Điều này hoàn thành việc Giáo Huấn Mười Một Niệm, di chúc cuối cùng của Đức Thế Tôn.

***

Samye Translations (trans. Lowell Cook, ed. Stefan Mang), 2020.

 

Version 1.2-20211116

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/sutra-eleven-perceptions