Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2025

CHƯƠNG 2: TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI




Nguyên bản: The Quest for Human Happiness
Biên tập: Rajiv Mehrotra
Việt dịch: Tuệ Uyển / Friday, October 8, 2021

***


TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI

Tôi là một người tương đối mới đến với thế giới hiện đại. Mặc dù tôi đào thóat khỏi quê hương tôi lâu rồi từ năm 1959, và mặc dù đời sống của tôi từ lúc đó như một người tị nạn tại Ấn Độ đã đưa tôi tiếp xúc gần hơn với xã hội đương thời, nhiều năm của tôi phần lớn bị cắt rời khỏi những thực tế của thế kỷ hai mươi. Điều này là bởi vì tôi được chỉ định như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi đã trở thành tu sĩ vào lúc rất sớm. Nó cũng phản chiếu sự kiện rằng những người Tây Tạng đã chọn lựa – một cách sai lầm theo tôi thấy – duy trì sự cô lập phía sau những rặng núi cao vốn bị tách rời xứ sở chúng tôi với thế giới còn lại. Tuy nhiên, ngày nay, tôi đã du hành rất nhiều, và đó cũng là may mắn của tôi khi được gặp những người mới mẻ một cách liên tục.

Hơn thế nữa, những con người của tất cả mọi tầng lớp của cuộc sống đến gặp tôi. Rất nhiều – đặc biệt những người cố gắng thực hiện một nổ lực để du lịch đến vùng đồi núi Ấn Độ ở Dharamsala nơi tôi sống lưu vong đến để tìm kiếm điều gì đó. Giữa những người này là những người bị bệnh ung thư và AIDS. Rồi thì, dĩ nhiên, là những đồng bào Tây Tạng với những câu chuyện khốn khó và khổ đau. Bất hạnh thay, nhiều người có những mong ước không thực tế, cho rằng tôi có năng lực để chữa bệnh hay tôi có thể ban cho một loại phước lành nào đó.  Nhưng tôi chỉ là một con người bình thường. Điều tốt nhất mà tôi có thể làm là cố gắng để giúp đở họ bằng việc chia sẻ trong sự khổ đau của họ.

Về phần tôi, việc gặp gở với vô số người khắp thế giới và từ mọi tấng lớp của cuộc sống nhắc nhở tôi về căn bản giống nhau của chúng ta như những con người. Thực tế, càng thấy thế giới nhiều hơn, thì càng trở nên rõ ràng hơn rằng bất chấp hoàn cảnh chúng ta là gì, cho dù chúng ta giàu hay nghèo, có học vấn hay không, chủng tộc, giới tính, tôn giáo này hay kia, thì tất cả chúng ta đều khao khát được hạnh phúc và không muốn khổ đau. Mọi mục tiêu của hành động chúng ta, trong ý nghĩa của cả cuộc đời chúng ta, chúng ta lựa chọn để sống như thế nào trong phạm trù của những giới hạn bắt buộc bởi những hoàn cảnh của chúng ta, có thể được thấy như câu trả lời của chúng ta đến câu hỏi lớn đối diện tất cả chúng ta: “Làm sao tôi được hạnh phúc?”

Chúng ta kiên trì trong nhu cầu lớn cho hạnh phúc, dường như đối với tôi, là bằng hy vọng. Chúng ta biết, ngay cả nếu chúng ta không thừa nhận nó, thì không thể có gì bảo đảm cho một đời sống hạnh phúc hơn, tốt đẹp hơn là cuộc sống mà chúng ta có hiện tại. Như một thành ngữ cổ của Tây Tạng nói, “Cuộc sống kế hay ngày mai – chúng ta không bao giờ chắc chắn điều nào đến trước.” Nhưng chúng ta hy vọng để tiếp tục sống. Chúng ta hy vọng rằng qua hành động này hay nọ chúng ta có thể mang đến hạnh phúc. Mọi thứ chúng ta làm không chỉ như những cá nhân mà cũng trên cấp độ của xã hội, có thể được thấy trong dạng thức nguyện vọng căn bản này. Thực tế, nó là một điều được tất cả mọi chúng sanh chia sẻ. Khát vọng hay xu hướng hạnh phúc và không bị khổ đau được biết là không giới hạn. Đó là bản chất của chúng ta. Như thế ấy, không cần biện minh và được xác thực bởi sự kiện đơn giản là chúng ta muốn điều này một cách tự nhiên và đúng đắn.

Và điều này là chính xác với những gì chúng ta thấy trong xứ sở của chúng ta cả giàu và nghèo. Mọi nơi, bằng mọi phương tiện không thể tưởng tượng được, mọi người đang cố gắng để cải thiện đời sống của họ. Tuy nhiên một cách lạ lùng, ấn tượng của tôi là những người đang sống trong những xứ vật chất phát triển, đối với tất cả kỷ nghệ của họ, thì trong những cách nào đó kém hài lòng, ít hạnh phúc và một số khổ sở hơn những người sống ở những nước kém phát triển hơn. Thực tế, nếu chúng ta so sánh người giàu với người nghèo, thì thường thấy rằng những người không có gì, trong thực tế ít băn khoăn lo lắng hơn, mặc dù họ bệnh tật với những đau đớn khổ sở của thân thể. Đối với những người giàu, trong khi số ít biết sử dụng sự giàu có của họ một cách thông minh, phải nói là, không sống trong sự xa hoa mà biết chia sẻ nó với những người cần thiết – nhiều người không làm như vậy. Họ bị nhiễm quá nhiều với ý tưởng đòi hỏi hơn nữa rằng họ không có chỗ cho điều gì khác trong cuộc sống của họ. Trong sự miệt mài của họ, thì họ thật sự đánh mất giấc mơ của hạnh phúc, vốn với sự giàu có cung cấp. Như một kết quả, họ liên tục bị dày vò, bị giằng co giữa nghi ngờ về những gì có thể xảy ra và hy vọng có thêm nữa, và nổi khổ đau bệnh tật tinh thần và cảm xúc – mặc dù bên ngoài họ trông có vẻ hoàn toàn thành công và cuộc sống thoải mái. Điều này cho thấy rằng cả bởi cấp độ cao và bởi những quấy rầy phổ biến giữa những người ở những xứ phát triển vật chất về băn khoăn, bất toại, chán nản, không chắc chắn và căng thẳng. Hơn thế nữa, sự đau khổ nội tại này rõ ràng bị nối kết với sự lớn mạnh mơ hồ của những gì cấu thành một cách đạo đức và nền tảng của chúng là gì.

Tôi thường được nhắc lại nghịch lý này khi tôi ra ngoại quốc. Nó thường xảy ra khi tôi đến một xứ sở mới, ban đầu mọi thứ dường rất hài lòng, rất xinh đẹp. Mọi người tôi gặp gở rất thân mật. Không có gì để phàn nàn. Nhưng sau đó, ngày qua ngày khi tôi lắng nghe, tôi đã nghe những rắc rối của con người, sự quan tâm và lo lắng của họ. Ở dưới bề mặt, rất nhiều người cảm thấy không dễ dàng và không hài lòng với cuộc sống của họ. Họ trải nghiệm cảm giác cô lập; rồi theo đó là căng thẳng. Kết quả là không khí rắc rối như vậy vốn là một đặc trưng của thế giới phát triển.

Nghịch lý này nhờ đó nội tại – hay chúng ta có thể nói một cách tâm lý và cảm xúc – đau khổ thì rất thường thấy giữa sự dồi dào vật chất rõ ràng hiện hữu khắp nhiều nước phương Tây. Thực tế, nó cũng rất rộng rãi mà chúng ta có thể tự hỏi có điều gì đó trong nền văn hóa phương Tây vốn đưa đến những người sống ở đó đến những loại khổ đau như vậy. Điều này tôi nghi ngờ. Rất nhiều yếu tố đã liên hệ. Một cách rõ ràng, tự sự phát triển vật chất đóng một vai trò hoạt động. Nhưng chúng ta cũng có thể nêu ra sự đô thị hóa gia tăng của xã hội hiện đại, nơi mà những sự tập trung cao độ của những con người sống gần gũi với nhau. Trong phạm vi này, cho rằng ở nơi sự lệ thuộc của chúng ta với nhau để hổ trợ nhau, thì ngày nay, bất cứ nơi nào có thể, thì chúng ta có xu hướng nương tựa máy móc và những sự phục vụ. Trái lại trước đây, những người nông dân sẽ kêu gọi tất cả những thành viên trong gia đình để giúp đở với việc thu hoạch, ngày nay chỉ đơn giản là gọi những công ty làm việc ấy. Chúng ta thấy cuộc sống hiện đại được tổ chức như vậy vì thế nó chỉ đòi hỏi sự lệ thuộc rõ ràng tối thiểu có thể với những người khác. Khát vọng phổ quát nhiều hơn hay ít hơn dường như đối với mọi người là sở hữu ngôi nhà của chính họ, chiếc xe của chính họ, máy tính của chính họ và v.v…nhằm để như là độc lập như có thể. Điều này là tự nhiên và có thể hiểu được. Chúng ta cũng có thể chỉ ra sự gia tăng việc tự quản - tự do ý - chí mà mọi người thích thú như một kết quả tiến bộ trong khoa học và kỷ thuật. Trong thực tế, có thể là ngày nay chúng ta độc lập hơn bao giờ hết. Nhưng với những sự phát triển này, cũng phát sinh một cảm giác rằng tương lai của tôi sẽ không lệ thuộc vào hàng xóm của tôi mà đúng hơn là nghề nghiệp của tôi, nhất là, chủ nhân của tôi. Điều này hóa ra là khuyến khích chúng ta cho rằng những người khác không quan trọng cho hạnh phúc của tôi, hạnh phúc của họ là không quan trọng đối với tôi.

Trong cái nhìn của tôi, thì chúng ta đã tạo nên một xã hội mà trong đó chúng ta thấy ngày càng khó hơn để biểu lộ tình cảm căn bản cho nhau. Thay cho cảm nhận cộng đồng và quan hệ, thứ mà chúng ta thấy một sự trấn an như vậy của những xã hội giàu có (và nói chung là nông thôn), chúng ta thấy một cấp độ cao của cô độc và xa lánh. Mặc dù thật sự là hàng triệu người sống gần gũi với nhau, nhưng dường như rằng nhiều người, đặc biệt trong những người già, không có ai để nói chuyện ngoài những con thú của họ. Xã hội kỷ nghệ hiện đại thường làm tôi chú ý giống như là một bộ máy khổng lồ tự đẩy tới. Thay vì con người phụ trách, thì mỗi cá nhân là một thành phần nhỏ bé, không đáng kể không có lựa chọn nào khác hơn là chuyển động khi bộ máy chuyển động.

Rõ ràng, lý do quan trọng cho sự hết lòng của xã hội hiện đại với tiến trình vật chất là sự rất thành công của khoa học và kỷ thuật. Bây giờ, điều kỳ diệu về những hình thức này của nổ lực con người là chúng mang đến sự hài lòng ngay tức thời. Không như sự cầu nguyện, các kết quả phần lớn là không thấy – nếu thật sự việc cầu nguyện hoàn toàn có tác dụng. Và chúng ta ấn tượng bởi những kết quả. Điều gì bình thường hơn? Bất hạnh thay, sự tận tâm này khuyến khích chúng ta cho rằng những chìa khóa cho sự hạnh phúc là sự cát tường vật chất về một mặt và năng lực được trao bởi kiến thức về mặt khác. Và trong khi rõ ràng rằng với bất cứ người nào với tư tưởng thành thục này rằng chìa khóa cho sự hạnh phúc là sự cát tường về vật chất thì không thể tự mang đến hạnh phúc cho chúng ta, điều tiếp theo thì càng tệ hơn. Nhưng sự thật là, kiến thức không thôi không thể cung ứng hạnh phúc vốn xuất hiện từ sự phát triển nội tại chứ không liên hệ đến những nhân tố ngoại tại. Thực tế, mặc dù kiến thức rất chi tiết và đặc thù của những hiện tượng ngoại tại là một thành tựu vô biên, nhưng sự thúc đẩy để giảm thiểu, thu hẹp để theo đuổi nó, còn lâu mới mang lại hạnh phúc cho chúng ta có thể thật sự là nguy hiểm. Nó có thể làm cho chúng ta xa rời thực tế rộng lớn hơn của kinh nghiệm con người, và trong đặc thù, sự lệ thuộc của chúng ta với những người khác.

Chúng ta cũng cần nhận ra những gì xảy ra khi chúng ta lệ thuộc quá nhiều vào những thành tựu ngoại tại của khoa học. Thí dụ, như ảnh hưởng của những sự suy đồi tôn giáo, có sự gia tăng bối rối liên quan đến vấn đề chúng ta điều khiển mình trong cuộc sống như thế nào. Trong quá khứ, tôn giáo và đạo đức hòa quyện vào nhau. Bây giờ, nhiều người, tin tưởng rằng khoa học đã “bác bỏ” tôn giáo, cho nên họ càng kiêu ngạo hơn rằng bởi vì không có những bằng chứng cuối cùng nào cho bất cứ thẩm quyền của tâm linh nào, thì đạo đức tự nó phải là một vấn đề ưu tiên của cá nhân. Và trái lại trong quá khứ, những nhà khoa học và triết học cảm thấy một nhu cầu thúc ép để tìm ra những nền tảng cụ thể mà trên đó thiết lập những luật lệ bất biến và những lẽ thật tuyệt đối, thì bây giờ loại tìm kiếm như vậy là vô ích. Như một kết quả, chúng ta thấy một sự đảo ngược hoàn toàn, hướng đến cực đoan đối kháng, nơi mà không có gì tuyệt đối tồn tại nữa, nơi mà thực tại tự nó bị đặt câu hỏi. Điều này chỉ dẫn đến hổn loạn.

Nói như vậy, tôi không có ý phê phán nổ lực của khoa học. Tôi đã biết rất nhiều từ việc chạm trán với những nhà khoa học, và tôi thấy không có trở ngại gì để dấn thân trong việc đối thoại với  họ ngay cả khi quan điểm của họ là một thứ chủ nghĩa vật chất. Thực tế, cho đến khi mà tôi có thể nhớ, thì tôi đã rất hào hứng bởi cái nhìn sâu sắc của khoa học. Như một đứa trẻ, có một thời khi mà tôi đúng là quan tâm hơn trong việc tìm hiểu về cơ cấu của một máy chiếu phim cũ mà tôi thấy trong kho của cung điện mùa hè của Đạt Lai Lạt Ma hơn là những bài học tôn giáo và học thuật. Sự quan tâm của tôi đúng hơn là chúng ta có thể bỏ qua những giới hạn của khoa học. Trong việc thay thế tôn giáo như là nguồn cuối cùng của kiến thức trong sự đánh giá thông thường, thì khoa học bắt đầu nhìn tự nó hơi giống như một loại tôn giáo khác.Với điều này đi đến một hiểm họa tương tự trên phần của một điều gì đó của những môn đồ của nó của một niềm tin mù quáng trong những nguyên lý của nó, và, một cách tương ứng, không bao dung những quan điểm loại trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, sự hất cẳng tôn giáo đã xảy ra là không có gì ngạc nhiên cho những thành tựu ngoại lệ của khoa học. Ai mà không ấn tượng về năng lực của chúng ta đã đưa con người đặt chân lên mặt trăng? Nhưng vấn đề tồn tại rằng, thí dụ nếu chúng ta đi đến một nhà khoa học nguyên tử và nói, “tôi đang đối diện một vấn đề khó xử, tôi nên làm gì?” người ấy có thể chỉ lắc đầu và đề nghị chúng ta tìm nơi nào khác cho câu trả lời. Nói một cách tổng quát, một nhà khoa học có một vị trí không hơn gì một luật sư trong trường hợp này. Vì trong khi cả khoa học và luật học có thể giúp chúng ta dự báo trước hậu quả có thể có trong các hành động của chúng ta, nhưng không thể nói vấn đề chúng ta phải làm thế nào trong một ý nghĩa đạo đức. Hơn thế nữa, chúng ta cần nhận ra những giới hạn của khoa học trong chính câu hỏi. Thí dụ, mặc dù chúng ta đã nhận thấy ý thức con người hàng thiên niên kỷ, và mặc dù nó đã là chủ đề của sự thẩm tra suốt chiểu dài của lịch sử, mặc cho những nổ lực tối đa của các nhà khoa học thì họ vẫn không thấu hiểu nó thật sự là gì, hay tại sao nó tồn tại, nó thể hiện chức năng như thế nào, hay bản chất cơ bản của nó là gì. Khoa học không thể nói với chúng ta nguyên nhân căn bản của ý thức là gì, cũng không thể nói những ảnh hưởng của nó là gì. Dĩ nhiên, ý thức thuộc về loại hiện tượng không có hình tướng, vật chất hay màu sắc. Nó không dễ bị khảo sát bởi những phương tiện ngoại tại. Nhưng điều này không có nghĩa là những thứ như vậy không tồn tại, chỉ đơn thuần khoa học thì không thể tìm thấy chúng.

Do vậy, chúng ta có nên từ bỏ những thẩm tra của khoa học trên cơ sở đã làm chúng ta thất vọng không? Chắc chắc là không. Cũng không có nghĩa là tôi cho rằng mục tiêu cho sự thịnh vượng vì tất cả chúng ta là vô giá trị. Do bởi bản chất của tất cả chúng ta, những kinh nghiệm thân thể và vật lý đóng một vai trò ưu thắng trong đời sống của chúng ta. Những thành tựu của khoa học và kỷ thuật rõ ràng phản chiếu mong muốn của chúng ta đạt được một sự tồn tại tốt đẹp hơn và thoải mái hơn. Điều này là rất tốt. Ai mà không vổ tay ca ngợi cho nhiều tiến bộ của y dược hiện đại?

Cùng lúc, tôi nghĩ thật chân thành rằng những thành viên của những cộng đồng thôn dã truyền thống nào đó thật sự hưởng thụ sự hòa hợp lớn hơn và tĩnh lặng hơn với cư ngụ trong những thành phố hiện đại của chúng ta. Thí dụ, trong vùng Spiti ở bắc Ấn Độ, vẫn duy trì phong tục cho những cư dân địa phương là không khóa cửa nhà của họ khi đi ra ngoài. Họ nghĩ rằng một khách viếng thăm thấy nhà trống vắng sẽ đi vào và tự làm thức ăn trong khi chờ đợi gia đình trở về. Điều như vậy cũng từng tồn tại trong thời xưa ở Tây Tạng. Điều này không nói rằng không tội phạm trong những vùng như vậy. Như trong trường hợp của Tây Tạng bị chiếm đóng, những thứ như vậy dĩ nhiên xảy ra thỉnh thoảng.  Nhưng khi họ làm như vậy, người ta sẽ cau mày trong ngạc nhiên. Nó là một sự kiện hiếm hoi và bất thường. Với sự đô thị hóa đã đi đến sự bất hòa hợp.

Tuy nhiên, chúng ta phải thật cẩn thận không lý tưởng hóa những cung cách sống xưa cũ. Trình độ hợp tác cao mà chúng ta thấy trong những cộng đồng thôn dã kém phát triển có thể là những nơi dựa trên nhu cầu nhiều hơn là thiện chí. Người ta nhận ra nó như một giải pháp thay thế cho khó khăn lớn hơn. Và sự toại nguyện mà chúng ta nhận thức có thể có nhiều để làm với sự không biết. Những người này có thể không nhận hay tưởng tượng rằng có bất cứ cung cách sống nào khác của cuộc sống là có thể. Nếu họ biết, rất có thể họ nắm lấy nó một cách hăng hái. Sự thử thách mà chúng ta đối diện do đó là việc tìm ra một phương pháp nào đó để hưởng thụ cùng cấp độ hòa hợp và tĩnh lặng như những cộng đồng truyền thống hơn đó trong khi hoàn toàn lợi lạc với những sự phát triển vật chất của thế giới như chúng ta thấy nó vào lúc bình minh của thiên niên kỷ mới. Bằng khác hơn nó hàm ý rằng những cộng đồng này không nên cố gắng ngay cả cải thiện tiêu chuẩn đời sống của họ. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng, thí dụ, đại đa số người du mục Tây Tạng sẽ rất vui mừng để có quần áo giữ nhiệt mới nhất cho mùa đông, nhiên liệu không khói để nấu ăn, những lợi ích của thuốc men hiện đại và những máy truyền hình di động trong những căn lều của họ. Và tôi là một người sẽ không mong phủ nhận những thứ này của họ. Xã hội hiện đại, với tất cả những lợi ích và nhược điểm của nó, đã nổi bật lên trong bối cảnh của vô số nguyên nhân và điều kiện. Cho rằng chỉ đơn thuần bằng việc từ bỏ tiến trình vật chất thì chúng ta có thể vượt qua tất cả những rắc rối của thời đại sẽ là thiển cận. Như vậy sẽ bỏ qua những nguyên nhân tiềm tàng của chúng. Bên cạnh đó, vẫn có nhiều điều tích cực trong thế giới hiện đại.

Có vô số người trong những nước phát triển nhất rất năng động trong sự quan tâm của họ cho người khác. Gần nhà hơn, tôi nghĩ về lòng ân cần tử tế lớn lao mà những người Tây Tạng tị nạn được cho thấy bởi những người mà tài nguyên cá nhân cũng rất giới hạn. Thí dụ, những trẻ em Tây Tạng đã lợi lạc không kể xiết từ những đóng góp vô ngã của những giáo viên Ấn Độ, nhiều người buộc phải sống dưới những điều kiện khó khăn xa nhà của họ. Trên mức độ rộng hơn, chúng ta cũng có thể quan tâm đến nhận thức ngày càng lớn mạnh về những quyền con người cơ bản khắp mọi nơi trên thế giới. Điều này cho thấy một sự phát triển rất tích cực trong cái nhìn của tôi. Cung cách mà trong ấy mà cộng đồng quốc tế đáp ứng chung đến những thảm họa thiên nhiên với sự giúp đở tức thời cũng là một đặc trưng tuyệt vời của thế giới hiện đại. Sự thừa nhận gia tăng rằng chúng ta không bao giờ có thể tiếp tục ngược đãi môi trường tự thiên nhiên của chúng ta mà không đối diện với những hậu quả nghiêm trọng như một nguyên nhân cho hy vọng. Hơn thế nữa, tôi tin rằng, việc cảm ơn rộng rãi cho sự đối thoại hiện đại, con người chắc chắn chấp nhận hơn cho sự đa dạng hiện tại. Và những tiêu chuẩn của trình độ học vấn và giáo dục khắp thế giới nói chung là cao hơn trước đây. Những phát triển tích cực như vậy tôi xem như là một biểu hiện của những gì con người có thể làm được.

Mới đây, tôi đã có cơ hội để gặp Mẹ của Nữ Hoàng Anh Quốc. Bà đã là một nhân vật quen thuộc suốt cuộc đời tôi, cho nên điều này đã cho tôi một niềm vui lớn.  Nhưng điều hào hứng là được nghe ý kiến của bà, như một phụ nữ già của chính thế kỷ hai mươi, là người ta đã trở nên tỉnh thức hơn về những người khác hơn là khi bà ta còn trẻ. Trong những ngày đó, bà nói, người ta quan tâm chính yếu trong xứ sở của họ, trái lại ngày nay có nhiều quan tâm cho những cư dân của các quốc gia khác. Khi tôi hỏi bà rằng bà có lạc quan về tương lai không, thì bà đã trả lời một cách khẳng định không chút do dự.

Tuy nhiên, không giống như những khổ đau của bệnh tật, tuổi già và sự chết, không rắc rối nào trên đây là bởi tự nhiên không tránh khỏi. Chúng cũng không phải do thiếu kiến thức. Khi chúng ta suy nghĩ một cách cẩn thận, thì chúng ta thấy rằng tất  cả chúng là vấn nạn đạo đức. Mỗi thứ trong chúng phản chiếu sự thấu hiểu của chúng ta về những gì đúng và sai, về những gì tích cực và những gì tiêu cực, về những gì thích đáng và không thích đáng. Nhưng vượt qua điều này thì chúng ta có thể chỉ đến điều gì đó căn bản hơn: sự quên lãng về những gì chúng ta gọi là không gian bên trong chúng ta.

Tôi muốn nói gì qua điều này? Theo sự thấu hiểu của tôi, sự nhấn mạnh quá mức về những thành tựu vật chất của chúng ta phản chiếu một sự kiêu hảnh tiềm tàng rằng, những gì nó có thể mua có thể bằng tự chính nó, cung cấp chúng ta với tất cả sự hài lòng mà chúng ta yêu cầu. Tuy thế tự nhiên, thì sự hài lòng của thành tựu vật chất có thể cung ứng cho chúng ta sẽ bị giới hạn với trình độ của cảm giác. Nếu đúng là con người chúng ta không khác với thú vật, thì điều này sẽ tốt thôi. Tuy nhiên, chủng loại của chúng ta là phức tạp – trong đặc thù, sự kiện rằng những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta cũng như sự tưởng tượng và năng lực phê bình – rõ ràng rằng những nhu cầu của chúng ta vượt lên trên cảm giác đơn thuần. Sự phổ biến của băn khoăn, căng thẳng, bối rối, không chắc chắn và chán nản trong những người mà nhu cầu căn bản của họ đã gặp là một biểu thị rõ ràng cho điều này. Những rắc rối của chúng ta, cả những trải nghiệm ngoại tại – chẳng hạn như chiến tranh, tội ác và bạo động và những thứ chúng ta kinh nghiệm bên trong – những khổ đau cảm xúc và tâm lý – là không thể giải quyết cho đến khi chúng ta nói về sự quên lãng tiềm tàng này. Đó là tại sao những vận động lớn của một trăm năm qua và hơn nữa – dân chủ, giải phóng, chủ nghĩa xã hội – tất cả đều thất bại để đem lại lợi ích chung mà đáng lẻ chúng phải cung ứng, mặc dù có rất nhiều ý tưởng tuyệt vời. Một cuộc cách mạng được kêu gọi, một cách chắc chắn. Nhưng không phải là một cuộc cách mạng chính trị, kinh tế hay cả một cuộc cách mạng kỷ thuật. Chúng ta đã có đủ kinh nghiệm về những thứ này trong suốt thế kỷ trước để biết rằng một sự tiếp cận ngoại tại sẽ không đủ. Điều tôi đề xuất là một cuộc cách mạng tâm linh.

***

Ẩn tâm lộ, Friday, October 15, 2021

Trích từ quyển The Essential Dalai Lama



 

MỤC LỤC - TINH HOA CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 



 

MỤC LỤC


Lời nói đầu

01- Những từ ngữ chân thật: Nguyện cầu

VIỄN TƯỢNG

02- Tìm kiếm hạnh phúc của con người
03- Gia đình toàn cầu của chúng ta
04- Lòng từ bi
05- Trách nhiệm phổ quát

NHỮNG VIỄN CẢNH CỦA PHẬT GIÁO

06- Giới thiệu
07- Đặt nền tảng cho công việc
08- Đức Phật
09- Bốn Chân Lý Cao Quý
10- Nghiệp
11- Lý tưởng Bồ tát
12-: Phụ thuộc hổ  tương
13- Duyên khởi
14: Tỉnh thức về sự chết

THỰC HÀNH

15- Tạo viễn cảnh cho sự thực hành
16- Quy y tam bảo
17- Hành thiền: Một sự bắt đầu
18- Chuyển hóa tâm thức qua hành thiền
19- Môi trường / Những biểu tượng / Tư thế / Hơi thở
20- Bản chất của tâm thức
21- Thực hành thiền định
22- Phát tâm Giác Ngộ
23- Tám đề mục tu dưỡng tâm
24- Hành thiền về tánh không
25- Yoga bổn tôn mật tông
26- Nương tựa vị thầy tâm linh

THẾ GIỚI TRONG HÒA HỢP

27- Đạo đức và xã hội
28- Khoa học và tâm linh
29- Nhận thức của Phật giáo về tự nhiên
30- Một nguyện ước cho sự hòa hợp (giữa những tôn giáo)
31- Những nhận thức của Phật giáo về các giáo huấn của
32- Cây che chở cho sự phụ thuộc lẫn nhau

Nền tảng cho trách nhiệm toàn cầu



 

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

CÔNG CỤ AI BUDDHA NÀY SẼ CHO BẠN BIẾT VỀ CON ĐƯỜNG DỄ DÀNG ĐỂ GIÁC NGỘ

 




Nguyên tác: This AI Buddha Tool will Tell You About an Easy Path to Enlightenment
Việt dịch: Quảng Cơ
Sưu tập: Tuệ Uyển
***

Công cụ AI Buddha này sẽ được những người không thể thực hành 'tách biệt kỹ thuật số' chấp nhận

Với sự can thiệp ngày càng tăng của công nghệ, nhân loại đã quên mất cảm giác bình yên là như thế nào. Nhờ công nghệ hiện diện khắp nơi, chúng ta luôn bị trầm cảm và hệ thống hỗ trợ truyền thống của chúng ta bị rối tung đến mức chúng ta cảm thấy như thể mình đang tự giải quyết mọi thứ. Nếu công nghệ tương tự có thể cung cấp thuốc giải thì sao? Đây là một  AI  có thể làm dịu nỗi đau tâm lý bằng cách tìm kiếm sự hướng dẫn tâm linh từ các kinh sách cổ. Một nhóm học giả về tôn giáo và máy tính của Nhật Bản hợp tác với Đại học Kyoto đã tạo ra AI Buddha này để ghi nhớ khoảng 1.000 lời dạy từ các văn bản Phật giáo như Kinh Tập (Sutta Nipata) và Kinh Lời Vàng (Dhammapada). Hệ thống này là sự kết hợp giữa hệ thống đối thoại AI "Buddhabot" (conversational AI
- AI đàm thoại) do nhóm phát triển vào năm 2021 và công nghệ thực tế tăng cường ( augmented reality  - AR). Người dùng có thể đặt câu hỏi cho AI Buddha trong ứng dụng để tìm kiếm sự hướng dẫn tâm linh trong thời điểm thất vọng. Công cụ hỗ trợ thực tế tăng cường này hiển thị một bức tượng Phật nhỏ ngồi xếp bằng với phông nền tương tự như phông nền của người dùng, tạo cảm giác như tượng Phật đang hiện diện trong thế giới thật.

"Các nhóm Phật tử đang phải đối mặt với thực tế khắc nghiệt khi thu nhập của các ngôi chùa đang suy giảm, trong khi nỗi lo lắng và đau khổ của mọi người đang gia tăng giữa đại dịch do vi-rút corona và các cuộc khủng hoảng khác. Chúng tôi muốn ứng phó với cả hai thách thức này bằng cách kết hợp trí tuệ truyền thống với AI và
siêu vũ trụ- metaverse", Seiji Kumagai, phó giáo sư nghiên cứu Phật giáo tại Đại học Kyoto và là trưởng nhóm nghiên cứu cho biết. Trong thời đại mà các ứng dụng điện thoại thông minh trở nên phổ biến và là giải pháp cho các vấn đề rất phổ biến và nghiêm trọng nhưng lại trở nên bất lực, công cụ Phật giáo AI này sẽ được những người không thể thực hành 'tách biệt kỹ thuật số' chấp nhận, hoặc ít nhất thì đó là một phước lành giá trị cho họ. "Kinh Phật đại diện cho trí tuệ của thời cổ đại. Mục tiêu của chúng tôi là để mọi người áp dụng trí tuệ cổ xưa đó vào cuộc sống của họ trong xã hội hiện đại này và tìm cách để trở nên hạnh phúc hơn", phó giáo sư nghiên cứu Phật giáo và Tây Tạng nói với AFP.

Nếu bạn có những câu hỏi đòi hỏi quan điểm triết học, chỉ cần cầu nguyện Đức Phật này trên điện thoại di động của bạn là đủ. Ví dụ, một câu hỏi như 'Hạnh phúc có nghĩa là gì?' được AFP hỏi, câu trả lời của họ quanh co qua việc quan sát sắc nét và khám phá nhiều lý do đằng sau số phận. Vâng, câu trả lời nghe có vẻ hơi lạc đề nhưng dựa theo những từ ngữ mà nó sử dụng, chúng ta có thể nói rằng đây là một ứng dụng có tiềm năng.

Các chuyên gia tin rằng ứng dụng này cần nhiều cải tiến hơn nữa về mặt ngữ pháp và xác định ngữ cảnh của câu hỏi vì nó có thể gây hại hoàn toàn cho một người đang đau khổ về mặt cảm xúc và đang trên bờ vực tự tử. Ứng dụng này hiện chưa có sẵn cho công chúng vì vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Là một phần của quá trình thử nghiệm, một hội thảo đã được tổ chức tại Đại học Kyoto, nơi sinh viên và giảng viên được yêu cầu dùng thử công cụ khai sáng giác ngộ AI. Khi một sinh viên 19 tuổi tên là Yuya Ohara, một người hâm mộ bóng đá hỏi ứng dụng rằng cần phải có những gì để trở thành một cầu thủ bóng đá lý tưởng, câu trả lời của ứng dụng là "Hãy từ bỏ tính chiếm hữu của bạn". Thật sự rất vui nhộn và chữa lành, nếu người dùng có thể triệu hồi khiếu hài hước không tồn tại của mình trong những tình huống gây tổn thương về mặt cảm xúc.

https://www.analyticsinsight.net/artificial-intelligence/this-ai-buddha-tool-will-tell-you-about-an-easy-path-to-enlightenment

 

 

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2025

KHỦNG HỎANG SIÊU HÌNH: PHẬT GIÁO VÀ A.I.

 




Nguyên tác: Metaphysical Crisis: Buddhism and A.I.
Tác giả: Jampa Dorje, Chuyên gia bình luận khách mời
Việt dịch: Quảng Cơ
Sưu tập: Tuệ Uyển
***

Một cuộc cách mạng đang diễn ra và đang thay đổi cách chúng ta hiểu thế giới. Các nhà khoa học dữ liệu Tristan Harris và Asa Raskin, những người đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân đạo và là động lực thúc đẩy The Social Dilemma của Netflix, tuyên bố rằng "50% trong số tất cả các nhà nghiên cứu A.I. tin rằng có 10% hoặc nhiều hơn khả năng con người sẽ tuyệt chủng do không thể kiểm soát AI". Nguyên nhân thực sự dẫn đến sự diệt vong của chúng ta không phải là mối đe dọa từ bên ngoài mà là từ bên trong.

Khi một sự kiện có ý nghĩa nghiêm trọng, các nhà báo đôi khi sử dụng thuật ngữ “khủng hoảng hiện sinh” như một sự cường điệu để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiện đối với sự tồn tại của chúng ta. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của Trí tuệ nhân tạo có quy mô lớn và hậu quả sâu rộng đến mức cần một từ cường điệu như “siêu hình”. Và siêu hình là một thuật ngữ chính xác để sử dụng vì nó chỉ ra điều gì ẩn sau sự thay đổi mô hình đang diễn ra trong ý thức của chúng ta. Chúng ta đang ở trên bờ vực của một ý thức mới, dũng cảm.

Triết gia Phật giáo Peter Hershock nhấn mạnh rằng chúng ta đang chuyển từ kỷ nguyên thu thập dữ liệu của máy tính sang kỷ nguyên "nền kinh tế chú ý". Công nghệ Dữ liệu lớn hiện có thể xác định chúng ta là những cá nhân và thông qua quảng cáo khai thác chúng ta về mặt kinh tế, điều mà Hershock gọi là "sự xâm chiếm các khả năng tinh thần của chúng ta", tạo ra một cuộc cách mạng siêu hình sẽ ngày càng đe dọa đến quyền tự do suy nghĩ và hành động của chúng ta. Chúng ta đang bị lôi kéo vào một thế giới đáng sợ bởi một công nghệ sử dụng trí tuệ tổng hợp để định hình hành vi của chúng ta. Chúng ta bị ngập trong tin tức giả mạo; chúng ta bị quyến rũ bởi sự tình dục hóa của hàng hóa; khả năng tập trung của chúng ta trở nên ngắn hơn khi chúng ta lướt web; tâm trạng của chúng ta trở nên bệnh hoạn hơn khi chúng ta cuộn trang về ngày tận thế. AI có những hậu quả siêu hình vì nó đang trong quá trình định hình trí thông minh của con người. Liệu những lời dạy của Đức Phật có thể hướng dẫn chúng ta trên hành trình thú vị nhưng đầy nguy hiểm này không?

Đức Phật Gautama có lẽ đã sống vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên và được sinh ra trong đạo Hindu. Kinh Vệ Đà là một khối lượng lớn các văn bản tôn giáo được viết bằng tiếng Phạn cổ trong khoảng từ năm 1400 đến 1200 trước Công nguyên. Đây là Dữ liệu lớn của thời Đức Phật, và thông qua những lời dạy này, xã hội của ngài được duy trì trong một trật tự xã hội quyết định được gọi là hệ thống đẳng cấp. Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã tạo ra một con đường, được gọi là Tứ diệu đế, giải thoát chúng ta khỏi những đau khổ không cần thiết do sự gắn bó với thế giới vô thường hiện tượng gây ra.

Không dính mắc và có ý định đúng đắn. Nếu tôi tự hỏi mình có ý định gì khi sử dụng các thiết bị công nghệ, tôi có thể rèn luyện bản thân tốt hơn khi sử dụng chúng. Nếu tôi chỉ sử dụng chúng để giải trí, tôi dễ bị kiểm soát hơn. Đức Phật khuyên tôi nên sử dụng công nghệ một cách xây dựng vì lợi ích của bản thân và người khác. Điều này có nghĩa là nhận ra rằng luồng quảng cáo liên tục và những yêu cầu về sự chú ý của tôi không phải là thứ tôi cần phản ứng lại. Khi tôi nhận ra rằng đau khổ phát sinh từ sự dính mắc vào những thứ vô thường, tôi có thể tập trung vào những gì quan trọng đối với tôi để hoàn thành và tránh những kích thích không cần thiết.

Thực hành chánh niệm là cốt lõi của Phật giáo và bao gồm việc hiện diện hoàn toàn và nhận thức được những suy nghĩ, cảm xúc và môi trường xung quanh của một người. Bằng cách phát triển kỹ năng thiền định này, tôi có thể ý thức được cách công nghệ ảnh hưởng đến tâm trí của mình. Tôi có thể học cách nhận ra khi nào mình bị kéo vào nền kinh tế chú ý và đưa ra quyết định có ý thức để thoát khỏi nó.

Trí tuệ nhân tạo đã được tuyên bố là mang tính cách mạng và thay đổi thế giới, nhưng nó không phải là không có rủi ro. Chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân cũng như máy móc sẽ có tiếng nói trong cách áp dụng nó và cách tính toán rủi ro. Giáo lý Phật giáo có thể ảnh hưởng đến những cân nhắc này.

CÁCH MẠNG VỀ BẢN THÂN CẦN THIẾT ĐỂ CỨU NHÂN LOẠI

Kết luận trước đây của tôi về giáo lý Phật giáo có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc giải quyết những nhược điểm của cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra cũng giống như việc dán một miếng băng cứu thương lên một vết thương nghiêm trọng. Vào mùa hè năm 2008, khi tôi đang chuẩn bị đi tĩnh tâm dài ngày tại Tara Mandala, một trong những công việc của tôi là đưa những người tĩnh tâm khác vào các cabin và chăm sóc họ trong thời gian họ ở đó. Nền kinh tế vừa sụp đổ, và nhiều người tĩnh tâm đang trong tình trạng hỗn loạn. Một người đàn ông, chúng ta hãy gọi anh ta là Lester, một nhà giao dịch trong ngày trên Phố Wall, đã bay một nghìn dặm để ở một mình trong rừng trong một cabin với hy vọng giải quyết những xung đột trong cuộc sống của mình. Anh ta đến để yêu cầu một lạt ma Tây Tạng giải quyết nhanh chóng.

Vị lạt ma bảo ngài phải hoàn thành một loạt các thực hành chuẩn bị trước khi có thể tiếp nhận Giáo lý Dzogchen (Đại Viên Mãn). Chu trình thực hành được gọi là ngnödro (nghĩa đen là phần chuẩn bị hay “thứ gì đó đi trước”) và bản thân nó là một con đường chuyển hóa hoàn chỉnh. Ngnödro bao gồm các loại thực hành sau: (1) 100.000 lạy phủ phục toàn thân để thanh lọc lòng kiêu hãnh, trong khi lặp lại mật ngôn quy y và phát khởi Bồ đề tâm để thanh lọc lòng đố kỵ; (2) 100.000 lần trì tụng mật ngôn trăm âm của Kim Cang Tát Đỏa để thanh lọc sự tức giận và ác cảm; (3) 100.000 lễ cúng dường mandala để thanh lọc sự bám chấp; (4) và kết thúc bằng các thực hành guru yoga bao gồm một triệu mật ngôn trái tim của vị bổn tôn và 800.000 mật ngôn hành động để thanh lọc sự si mê. Với nỗ lực nghiêm ngặt, một hành giả có thể mất sáu tháng để hoàn thành. Vị lạt ma sẽ hướng dẫn trong suốt quá trình.

Lester rất hào hứng khi bắt đầu, và với kỳ vọng cao về thành tích của anh ấy trong chuyến phiêu lưu này, tôi đã bố trí cho Lester một cabin nhỏ với đồ dùng của anh ấy. Tôi nói với anh ấy rằng tôi sẽ quay lại sau một tuần để lấy danh sách đồ tạp hóa và thẻ tín dụng mà anh ấy phải để trong một thùng chứa ở một địa điểm được chỉ định và tôi sẽ vào thị trấn để mua sắm và quay lại với những món đồ anh ấy đã yêu cầu. Hai ngày sau, tôi đang uống một tách trà trên hiên của hội trường cộng đồng sau bữa sáng, và Lester bước đến chỗ tôi và nói, "Tôi không thể ở lại. Tôi phải quay lại New York. Đây là thời điểm tuyệt vời để mua General Motors." Điều Lester thật sự muốn là một sự truyền đạt trực tiếp từ lạt ma để anh ấy có thể duy trì sự ổn định trong sự biến động của sự sụp đổ của thị trường chứng khoán. Tóm lại, Lester muốn một giải pháp nhanh chóng mà không cần phải làm những công việc cần thiết để chuẩn bị tâm trí cho sự truyền đạt.

Điều trớ trêu là Lester có thể không thật sự muốn đạt được "quan điểm" Đại Viên Mãn mà ông tìm kiếm. Đại Viên Mãn là một giáo lý Phật giáo cấp tiến. Đó là một vị trí không thiền định và không hành động. Một khi tâm Phật được chứng ngộ, khuôn khổ ham muốn-chấp trước nhị nguyên của bản ngã sẽ được vượt qua, và người ta nhận ra ý thức thuần túy. Sau khi tĩnh tâm, Lester có thể đã phát hiện ra rằng ông không còn hứng thú với nhịp sống hối hả trước đây của mình nữa. Điều này khiến tôi nhớ đến một câu chuyện về Jigme Lingpa, một yogi Tây Tạng thế kỷ 18 và là tác giả của Longchen Nyingthig, người đã phải tránh một bụi cây có gai khi rời khỏi hang động của mình. Ông đã cân nhắc đến việc cắt tỉa nó, nhưng sau đó lại đổi ý vì ông không chắc mình sẽ quay lại hang động sau khi rời khỏi đó. Câu chuyện này minh họa cho một vị trí cực đoan của sự không làm. Sự hỗn loạn của sàn giao dịch tại thị trường chứng khoán Phố Wall nằm ở thái cực khác.

Một lần nữa, giáo lý Phật giáo có thể ảnh hưởng đến những cân nhắc này không? Trong phần đầu của bài phân tích, câu trả lời của tôi là có. Ở giai đoạn này, tôi không chắc lắm. Lester muốn có sự truyền tâm từ một lạt ma cho phép ông duy trì trạng thái bình tĩnh và giao dịch cổ phiếu trong thời kỳ biến động. Về cơ bản, ông muốn duy trì lối sống của mình mà không có chuyến tàu lượn siêu tốc về mặt cảm xúc. Thiền không phải là thuốc làm dịu thần kinh. Đó là phương tiện để đạt được sự sáng suốt về bản chất của tâm trí và mối quan hệ của tâm trí với thế giới. Bằng cách cải thiện khả năng mua cổ phiếu với ít lo lắng hơn, Lester sẽ đổ thêm dầu vào ngọn lửa ham muốn thúc đẩy bánh xe nhân quả độc lập, từ đó dẫn đến nhiều lo lắng hơn. Để thoát khỏi bánh xe đau khổ, Lester có thể sẽ phải từ bỏ lối sống của mình để có được điều gì đó đơn giản hơn. Nhưng cuộc sống đó sẽ như thế nào trong xã hội vật chất, hướng đến mục tiêu và do người tiêu dùng thúc đẩy mà chúng ta đang sống?

Lester hỏi, "Nếu không có sự xao nhãng, tôi sẽ làm gì với bản thân mình?" Các lạt-ma thích nói rằng: “Không có bản ngã, không có vấn đề.” Câu này có nghĩa là: hãy thoát khỏi sự ràng buộc và hỗn loạn, bạn sẽ khám phá ra một cõi thanh tịnh hiển nhiên./.


https://cwuobserver.com/25232/opinion/metaphysical-crisis-buddhism-and-a-i/

 

 

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO NHƯ MỘT CÔNG CỤ CHO HÒA BÌNH

 




Nguyên tác: Artificial Intelligence as a tool for peace
Tác giả: Jerome Gavin
Việt dịch: Quảng Cơ
Sưu tập: Tuệ Uyển

***

Việc sử dụng Trí tuệ nhân tạo tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh chóng, có khả năng mang đến một cơ hội độc đáo cho những người xây dựng hòa bình.

Công nghệ Trí tuệ nhân tạo (AI) đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Từ những gợi ý tùy chỉnh mà chúng ta nhận được từ Netflix và Spotify, đến các dây chuyền sản xuất hàng nghìn sản phẩm mà chúng ta sử dụng hàng ngày, những công nghệ này xuất hiện ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, chúng ta cũng ngày càng thấy chúng được sử dụng cho các mục đích nguy hiểm và chết người.

Khi cuộc chiến ở Ukraine tiếp diễn, vai trò của công nghệ AI ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Thông tin sai lệch và chiến tranh mạng đóng vai trò quan trọng trong những ngày đầu của cuộc chiến, trong khi gần đây máy bay không người lái đã chứng minh được tầm quan trọng về mặt chiến thuật trên chiến trường. Các lực lượng Nga đã nhắm mục tiêu vào các thành phố của Ukraine bằng máy bay không người lái kamikaze do Iran sản xuất. Trong khi đó, thành công trên chiến trường của Ukraine đã được hỗ trợ bởi việc họ sử dụng máy bay không người lái Bayraktar TB2 của Thổ Nhĩ Kỳ, với công nghệ này đóng vai trò then chốt trong việc phá hủy pháo binh và thiết giáp hạng nặng của Nga.

Sự gia tăng của các hệ thống vũ khí như vậy đã gây ra một cuộc chạy đua vũ trang. Một số quốc gia đã đầu tư vào các công nghệ này, cố gắng giảm sự tham gia của con người và tích hợp tốt hơn các hệ thống AI, để làm cho chúng hiệu quả hơn và nguy hiểm hơn. Đây là một con đường nguy hiểm, và có những lo ngại thật sự rằng cuộc xung đột ở Ukraine có thể đánh dấu lần đầu tiên vũ khí tự động gây chết người được sử dụng trên chiến trường.

Tuy nhiên, bất chấp những nguy hiểm và sự bất ổn do sự phát triển của công nghệ AI gây ra, những người xây dựng hòa bình và những người thực hành phát triển ngày càng nhìn thấy những lợi ích tiềm tàng và tiềm năng to lớn mà chúng mang lại như một công cụ cho hòa bình.

Ứng dụng của Trí tuệ nhân tạo (AI) trong xây dựng hòa bình

Một ví dụ về AI được sử dụng để xây dựng hòa bình là việc Liên hợp quốc đưa AI vào các cuộc đàm phán hòa bình tại các khu vực xung đột, thông qua quan hệ đối tác với các công ty AI như Remesh. Tiềm năng của các hệ thống AI trong việc sàng lọc hàng nghìn điểm dữ liệu bằng hàng chục ngôn ngữ, cho phép Liên hợp quốc thu hút người dân tại các khu vực xung đột vào cái mà họ gọi là các “cuộc đối thoại kỹ thuật số quy mô lớn.” Người hưởng ứng được đặt câu hỏi và "các câu trả lời sẽ trải qua một thuật toán nhóm các câu trả lời có ý nghĩa tương tự". Công nghệ AI xác định các lĩnh vực ưu tiên cho người hưởng ứng, cũng như các lĩnh vực mà mọi người dân có khả năng tìm thấy tiếng nói chung.

Công nghệ này gần đây đã được Phái bộ hỗ trợ của Liên hợp quốc tại Libya (UNSMIL) sử dụng để kiểm tra sự ủng hộ cho các chính sách tiềm năng, chẳng hạn như phát triển một loại tiền tệ thống nhất. Kết quả của cuộc đối thoại đã được phát sóng tới 1,7 triệu khán giả và được sử dụng để hỗ trợ nỗ lực của chính phủ nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình của Libya, mang lại cho tiến trình này tính hợp pháp đáng kể và sự tham gia của cộng đồng. Hơn một thập kỷ sau sự can thiệp của NATO, Libya vẫn còn lâu mới yên bình; tuy nhiên, nhờ những nỗ lực xây dựng hòa bình và tiến trình hòa bình đang diễn ra, Libya đã ghi nhận mức tăng hòa bình lớn nhất trong Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2022.

Tiềm năng của AI trong việc hỗ trợ hòa bình và phát triển không chỉ giới hạn ở việc sử dụng trong đối thoại. Một nhóm học giả từ các trường đại học Thụy Điển gần đây đã công bố nghiên cứu về vai trò mà AI có thể đóng góp trong việc giúp đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên hợp quốc. Nghiên cứu phát hiện ra rằng trong số 169 mục tiêu trong 17 SDG, việc đạt được 134 mục tiêu trong số đó có khả năng được tăng cường thông qua việc sử dụng công nghệ AI.

Hơn nữa, nghiên cứu đang được tiến hành để khám phá cách các giải pháp trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng như một công cụ để dự đoán bất ổn chính trị, tội ác chiến tranh và hành động tàn bạo hàng loạt. Nghiên cứu cho thấy rằng bằng cách phân tích các mô hình thông tin sai lệch, ngôn từ kích động thù địch và tuyên truyền trực tuyến, các dấu hiệu cảnh báo sớm về bạo lực hàng loạt có thể được xác định và các biện pháp can thiệp có mục tiêu có thể được theo đuổi. Các ứng dụng tương tự khác của AI có thể bao gồm phát hiện việc sử dụng vũ khí và đạn dược bị cấm trong các video chiến đấu được đăng trực tuyến. Đây có khả năng là một công cụ cực kỳ hữu ích trong việc giúp các xã hội chuyển đổi từ hòa bình tiêu cực sang hòa bình tích cực.

Một kỷ nguyên mới cho việc xây dựng hòa bình?

Với các mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh mạng cũng như những hạn chế về công nghệ, điều quan trọng là phải nhận ra rằng ngay cả việc vận hành tích cực công nghệ AI cũng không phải là không có vấn đề. Lĩnh vực công nghệ này vẫn còn trong giai đoạn sơ khai và chắc chắn cần có quy định và giám sát chặt chẽ hơn.

Mặc dù vậy, tiềm năng mà AI có thể giúp những người xây dựng hòa bình giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo là rất đáng chú ý. Sự ra đời của công nghệ AI nên được chào đón bằng sự lạc quan thận trọng và nếu được xử lý phù hợp, nó cũng có khả năng mở ra một chiều hướng mới cho việc xây dựng hòa bình.

AUTHOR

FULL BIO
VISION OF HUMANITY
Vision of Humanity is brought to you by the Institute for Economics and Peace (IEP), by staff in our global offices in Sydney, New York, The Hague, Harare and Mexico. Alongside maps and global indices, we present fresh perspectives on current affairs reflecting our editorial philosophy.

https://www.visionofhumanity.org/artificial-intelligence-as-a-tool-for-peace/

 

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2025

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN “AI” VÀ KIỂM SOÁT KHÍ HẬU

 





Nguyên tác: Buddhism’s Influence on AI and Climate Control
Tác giả: Rohana R. Wasala
Việt dịch: Quảng Cơ 
Sưu tập: Tuệ Uyển 

***

Phát biểu tại một cuộc họp với tư cách là khách mời chính tại lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Phật giáo Sri Lanka Moratuwa được tổ chức tại Hội trường Hội Phật giáo Moratuwa vào ngày 11 tháng 5 năm 2024, Tổng Thống Ranil Wickremasinghe đã cam kết 1 tỷ SLR cho nghiên cứu nhằm 'khám phá mối liên hệ giữa giáo lý của Đức Phật và AI' bắt đầu từ năm sau như The Island (Online) đưa tin ngày 13 tháng 5 năm 2024. Ông tiết lộ rằng mặc dù dự án đã được lên lịch khởi công trong năm nay, nhưng đã phải hoãn lại do thiếu các quy định pháp lý để quản lý Trí tuệ nhân tạo (AI). Ông đảm bảo rằng chương trình sẽ tiếp tục sau khi quốc hội thông qua luật mới. Tổng thống cũng cho biết chính phủ sẽ cung cấp các khoản tiền cần thiết để trùng tu Hội trường Hội Phật giáo Moratuwa trước lễ kỷ niệm 100 năm đầu tiên của chính hội trường này vào năm 2029 (Công trình này đã hoàn thành vào năm 1929).

Quyết tâm khai thác AI để thúc đẩy Phật giáo Nguyên thủy trên toàn cầu của tổng thống lần đầu tiên được nêu ra trong một tuyên bố mà ông đưa ra với tư cách là khách mời danh dự tại buổi lễ khai mạc được tổ chức tại Sân vận động Edward ở Matale, một ngày trước Đại hội Upasampada Maha Vinaya Karma lần thứ 73 của Ramanna Nikaya, sẽ được tổ chức tại một địa điểm ở Bandarapola, Matale từ ngày 20 đến 27 tháng 7 năm 2023. Trước khi bình luận về chủ đề nực cười này về một chương trình nghiên cứu tốn kém về mối quan hệ giả định giữa Phật giáo và AI, một trường hợp rõ ràng là so sánh táo với cam, hãy để tôi chuyển sang những gì khác mà tổng thống đã nói tại Moratuwa.

Tổng thống Wickremasinghe cũng nhấn mạnh tương tự về các vấn đề toàn cầu về biến đổi khí hậu liên quan đến sự nóng lên của khí quyển và tình trạng thiếu nước ngày càng trầm trọng, cả hai đều đang diễn ra ở Sri Lanka. Ông cho rằng những thách thức này phải được giải quyết theo lời dạy của Đức Phật. Khẳng định thất thường của ông trong mối liên hệ này là, xét về giáo lý của Đức Phật, "vấn đề này" (về biến đổi khí hậu) "bắt nguồn từ lòng tham tiến bộ nhanh chóng của nền văn minh". Tổng thống sẽ thuyết phục hơn khi đưa ra tuyên bố này (nếu ông thật sự làm như đã đưa tin) nếu ông đề cập đến bài phát biểu hoặc bối cảnh cụ thể mà Đức Phật được cho là đã nói về biến đổi khí hậu. Vì tổng thống đã không làm như vậy, nên khán giả của ông có thể đã hiểu ông theo đúng nghĩa đen. Riêng tôi, tôi không nghĩ rằng Phật giáo đưa ra bất kỳ câu trả lời nào cho các vấn đề về biến đổi khí hậu. Đức Phật không bao giờ tuyên bố mình toàn trí về thế giới vật chất, hệ thống thế giới hoặc vũ trụ (cakkavala/chakravata trong tiếng Pali và tiếng Phạn, và sakvala trong tiếng Sinhala), mà ông nói là achintya, có nghĩa là vượt qua suy nghĩ của con người, không thể tưởng tượng được, một ý tưởng mà các nhà vật lý hiện đại chấp nhận.

Chủ đề của 'loka' hay thế giới nằm ngoài suy nghĩ (Sin. loka vishaya achintyayi). Đức Phật Gautama là người đầu tiên trên thế giới trình bày phương pháp mà ngày nay được gọi là phương pháp khoa học, phương pháp này rất quan trọng trong bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến việc xác định và giải quyết các vấn đề, bao gồm cả kiểm soát khí hậu. Ngài đã sử dụng phương pháp này để khám phá ra Tứ diệu đế về sự tồn tại của con người: thực tế về sự bất toại nguyện của hành trình luân hồi (khổ đế), nguyên nhân của nó (tập để), khả năng chấm dứt sự lang thang vô định đó (diệt đề) và (đạo đế) cách đạt được sự chấm dứt của chu kỳ luân hồi lặp đi lặp lại vô tận đầy 'dukkha' hoặc đau khổ/bất toại nguyện. Mục tiêu này phải đạt được thông qua trí tuệ trong khi thực hành tình yêu thương và lòng trắc ẩn phổ quát (lòng từ bi) đối với tất cả chúng sinh.

Phật giáo tích hợp sự hiểu biết tâm linh của chúng ta với kinh nghiệm của chúng ta về thế giới tự nhiên' một học giả phương Tây nói về quan điểm của Albert Einstein về Phật giáo cho biết (Nguồn: kênh YouTube 'Dream Sparks'). Albert Einstein được ca ngợi là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20. Einstein tuyên bố rằng Đức Phật đã tìm thấy những gì ông đang tìm kiếm. Sau đây là một câu trích dẫn phổ biến của Einstein: 'Nếu có bất kỳ tôn giáo nào có khả năng phù hợp với nhu cầu khám phá của khoa học hiện đại thì đó thật sự là Phật giáo'. Vì vậy, không cần phải đưa ra những tuyên bố sai sự thật liên quan đến AI hoặc kiểm soát khí hậu thay mặt cho Phật giáo để ca ngợi nó nhằm nâng cao hình ảnh của nó trên thế giới.

Nhân tiện, báo cáo của The Island (Online) (ngày 13 tháng 5) mà tôi lấy nguồn ở đây không nói, rằng trong bài phát biểu của mình, tổng thống có nhắc đến Arthur V. Dias (1886-1960) là người lãnh đạo Hội Phật giáo Moratuwa hay không. Hội trường Hội Phật giáo Moratuwa cũng được xây dựng dưới sự bảo trợ của ông. Rất có thể, là một người đam mê lịch sử, tổng thống đã nói về Arthur V. Dias, mặc dù báo cáo không đề cập đến điều đó. Nếu ông không nói (điều này rất khó xảy ra), thì đó sẽ là một sự thiếu sót đáng tiếc của ông. Người Sri Lanka yêu nước này (Arthur V. Dias) từng là một trong những anh hùng dân tộc được vinh danh hàng năm trong những ngày đi học của chúng ta từ đầu những năm 1950 đến giữa những năm 1960. Ông vẫn được ít nhất một số người Sri Lanka biết ơn nhớ đến với cái tên 'kos mama', một người trồng trọt thành công, nhà từ thiện, thành viên phong trào kiêng rượu và nhà hoạt động vì tự do. (Ông được đặt biệt danh là 'kos mama' hoặc 'Cậu Mít' vì ông là người tiên phong trong phong trào trồng cây mít trên toàn đảo (Artocarpus Heterophyllus) chủ yếu để làm nguồn thực phẩm. Nếu ông còn sống đến ngày nay, chắc chắn ông sẽ nói và làm điều gì đó để giải quyết những vấn đề này.

Để tiếp tục chủ đề về sự liên quan giả định của giáo lý Phật giáo với việc kiểm soát khí hậu, vấn đề về tác động có hại do các hoạt động của con người không được kiểm soát đối với khí hậu rất khó có thể xảy ra ở Ấn Độ vào thời Đức Phật cách đây hai nghìn năm trăm năm, hoặc bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Tuy nhiên, ngày nay, đây là một vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự sống trên Trái đất nói chung và làm suy yếu nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của con người cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của nhân loại. Nó thậm chí có thể còn tồi tệ hơn thế nếu không được khắc phục. Phát thanh viên, người dẫn chương trình truyền hình, nhà làm phim, nhà sinh vật học, nhà sử học tự nhiên và tác giả nổi tiếng người Anh David Attenborough (sinh năm 1926) đề cập đến biến đổi khí hậu là một trong những yếu tố khiến ông kết luận rằng "cuối cùng chúng ta cũng đang nhanh chóng tiến gần đến sức chứa của Trái đất dành cho nhân loại" (A Life on Our Planet/2020), tức là khả năng hỗ trợ sự sống của con người về mặt môi trường trong lành, khí hậu tốt, nước sạch, thực phẩm lành mạnh, nhiên liệu cho động cơ nhà máy và phương tiện giao thông, điện năng để thắp sáng nhà cửa và thành phố cũng như vận hành các ngành công nghiệp, v.v.

Tổng thống được cho là đã đổ lỗi cho biến đổi khí hậu về cái mà ông gọi là "lòng tham tiến bộ" của nhân loại. Mặc dù có điều gì đó không phù hợp trong cụm từ "lòng tham tiến bộ" của nhân loại, có lẽ ông đã nghĩ đến cùng loại vấn đề mà David Attenborough gợi ý cách giải quyết trong cuốn sách đã đề cập. Nhưng tiến bộ vật chất là một điều tốt và đáng mong muốn. Chỉ có lòng tham vô độ của một số ít cá nhân đối với của cải vật chất ở một quốc gia nghèo như Sri Lanka, nơi phần lớn người dân sống trong cảnh nghèo đói là xấu. Lòng tham quyền lực vì lợi ích của chính nó trong số các chính trị gia còn tệ hơn nhiều.

Sự tồn tại của các thể chế truyền thống như tôn giáo phụ thuộc vào sự liên quan được nhận thức của chúng đối với cuộc sống hàng ngày của một cộng đồng. Tổng thống nhận thức được thực tế này. Đó hẳn là lý do tại sao ông ấy có vẻ đặc biệt quan tâm đến việc phục vụ cho mục đích của Phật giáo bằng cách nghiên cứu mối quan hệ có thể có giữa AI và Phật giáo, và cũng bằng cách cố gắng thiết lập một nguồn hỗ trợ trí tuệ trong Phật giáo về vấn đề kiểm soát khí hậu. Tuy nhiên, kinh nghiệm đã chỉ ra rằng các chính trị gia sử dụng tôn giáo như một công cụ nhận dạng có sẵn, thuận tiện để họ cố gắng thu hút tâm lý đám đông của một cộng đồng xã hội cụ thể, trong trường hợp này là cử tri Phật giáo để làm nguôi và xoa dịu họ và giành được lòng trung thành của họ. Vẫn quan trọng là sức mạnh của tôn giáo như thuốc an thần của quần chúng ngay cả trong trường hợp của Phật giáo (có lẽ là hệ thống tín ngưỡng thế tục nhất).

Dù thế nào đi nữa, thay vì tìm đến Phật giáo để giải quyết vấn đề trần tục này, chúng ta có thể lắng nghe Bill Gates, cựu giám đốc điều hành của gã khổng lồ phần mềm Microsoft và là người đồng sáng lập chính, nhà công nghệ, doanh nhân, nhà đầu tư và nhà từ thiện, người đã dành một thập kỷ để điều tra nguyên nhân và tác động của biến đổi khí hậu với sự giúp đỡ của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm vật lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật, khoa học chính trị, v.v. Ông đã tìm ra ba lĩnh vực rộng lớn cần được quan tâm đặc biệt nếu muốn tránh một thảm họa khí hậu nào đó. Ông liệt kê những lĩnh vực này trên trang 8 của cuốn sách 'Cách tránh thảm họa khí hậu' (2021): Nói một cách khác, những lĩnh vực này bao gồm 1) đưa 51 tỷ tấn khí nhà kính mà thế giới công nghiệp thường thải ra khí quyển mỗi năm xuống mức bằng không, 2) triển khai các công cụ mà chúng ta đã có như năng lượng mặt trời và gió nhanh hơn và thông minh hơn, và 3) tạo ra và triển khai các công nghệ đột phá. Toàn bộ cuốn sách là sự trình bày cẩn thận và tích hợp các chủ đề cơ bản này trong mười hai chương, thảo luận về các vấn đề liên quan đến, ví dụ, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, sản xuất và tiêu thụ điện, nông học (quản lý đất và sản xuất cây trồng), sử dụng phân bón an toàn, quản lý hợp lý tài nguyên nước, v.v., và vấn đề quan trọng về tầm quan trọng của các chính sách thuận lợi của chính phủ. Tôi đề cập đến những điều này để chỉ ra rằng chúng ta cần tham khảo ý kiến ​​của các đối tác địa phương của các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau mà chuyên môn của họ được Bill Gates khai thác. Sri Lanka đã có rất nhiều nhà khoa học trẻ đủ tiêu chuẩn để đóng vai trò đó mà không cần phải phụ thuộc vào Phật giáo trong sự tự mãn lười biếng, ngoại trừ có lẽ là nguồn cảm hứng đạo đức.

Nhân tiện, Bill Gates đã tuyên bố trên trang web ‘GatesNotes’ của mình vào năm 2018 rằng ông và vợ Melinda đã thực hành thiền như một cách để ‘rèn luyện’ tâm trí của họ, theo sự hướng dẫn của cựu tu sĩ Phật giáo Andy, người dường như kết hợp cả truyền thống Miến Điện (Theravada) và Tây Tạng (Vajrayana, Kim Cang thừa của Đại thừa). Nhưng điều này không có nghĩa là Gates đã tiếp nhận Phật giáo như một tôn giáo.

Ban đầu, ông miễn cưỡng thực hành thiền định vì ông nghĩ rằng nó có liên quan đến khái niệm tái sinh, điều mà rõ ràng là ông không chấp nhận. Tuy nhiên, sau cùng, có thể nói rằng giáo lý Phật giáo có liên quan gián tiếp đến hoạt động kiểm soát khí hậu của vợ chồng Gates. Khi Gates nói rằng ông thực hành thiền định để "rèn luyện" tâm trí, rất có thể ông có ý giống như những gì chúng ta thường nói khi chúng ta nói rằng chúng ta thiền định ít nhất là một mục tiêu tối thiểu, để kiểm soát quá trình suy nghĩ của mình nhằm "làm dịu" tâm trí, dần dần đạt được trạng thái tĩnh lặng, bình yên và cân bằng về mặt tinh thần, cho phép chúng ta sử dụng năng lượng tinh thần và thể chất của mình để đạt hiệu quả tốt nhất trong các nỗ lực về trí tuệ và thể chất. Tôi đã thêm thông tin này để gợi ý rằng giáo lý đạo đức của Phật giáo giúp những người theo đạo Phật và những người khác chọn theo họ tập trung năng lượng tinh thần cũng như thể chất của họ vào việc thực hiện các nhiệm vụ cần thiết để đạt được bất kỳ mục tiêu mong muốn nào.

Tiến sĩ Yuval Noah Harari, giảng viên Lịch sử Thế giới tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, cho rằng để hiểu được vai trò của các tôn giáo truyền thống như Ki Tô giáo, Hồi giáo và Ấn Độ giáo trong thế giới thế kỷ 21, chúng ta cần phân biệt ba loại vấn đề: 1) Kỹ thuật: ví dụ, nông dân ở các quốc gia khô cằn nên ứng phó như thế nào với hạn hán nghiêm trọng do hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra?, 2) Chính sách: ví dụ, chính phủ nên áp dụng những biện pháp nào để ngăn chặn hiện tượng nóng lên toàn cầu ngay từ đầu?, và 3) Bản sắc: ví dụ, chúng ta có nên quan tâm đến các vấn đề của nông dân ở phía bên kia thế giới không?, hay chúng ta nên tập trung hẹp vào các vấn đề mà người dân trong bộ tộc và đất nước của chúng ta đang phải đối mặt?

Sự cống hiến của tổng thống cho nghiên cứu về mối liên hệ giữa AI và Phật giáo với mục đích truyền bá nó trên thế giới có thể là có ý tốt. Nhưng đó là lòng mộ đạo không đúng chỗ. AI là một công cụ vô cùng hữu ích có thể được các chuyên gia áp dụng trong các lĩnh vực có liên quan để đạt được kết quả tuyệt vời, nhưng nó không thể được sử dụng như một phần mở rộng hoặc mở rộng hữu cơ của trí thông minh, ý thức hoặc tâm trí của con người (có vẻ ngoài tương tự, nhưng rõ ràng là ba khả năng khác nhau); sẽ là một nhiệm vụ không thực tế và bất khả thi để cố gắng làm như vậy. Theo Harari, các tôn giáo truyền thống thể hiện những vở kịch vũ trụ bị triết lý chính trị và xã hội chủ nghĩa tự do đang thịnh hành phủ nhận. Tuy nhiên, chủ nghĩa tự do đã tái tạo lại vở kịch bên trong con người. Theo ý kiến ​​của ông. 'Vũ trụ không có cốt truyện, vì vậy con người chúng ta phải tạo ra một cốt truyện, và đây là thiên chức và ý nghĩa cuộc sống của chúng ta', Harari, một nhà sử học chuyên nghiệp, viết. Nghĩa là, theo Harari, công việc của một nhà sử học và ý nghĩa cuộc sống của họ là tạo ra một cốt truyện cho vở kịch bên trong con người.

Phật giáo cổ đại, hàng ngàn năm trước thời đại của chủ nghĩa tự do, Harari lập luận, 'đã đi xa hơn bằng cách phủ nhận không chỉ tất cả các vở kịch vũ trụ, mà cả vở kịch nội tâm của sự sáng tạo của con người. Vũ trụ không có ý nghĩa, và cảm xúc của con người cũng không phải là một phần của một câu chuyện vũ trụ vĩ đại. Chúng là những rung động phù du, xuất hiện và biến mất không vì mục đích cụ thể nào. Đó là sự thật. Hãy vượt qua nó'. (trang 351)

Đó là cách mà tiến sĩ Noah Yuval Harari, một nhà sử học được đào tạo tại Oxford, tóm tắt một giáo lý cốt lõi của Phật giáo mà không đề cập rõ ràng đến những điều sau đây được tìm thấy trong Phật giáo: Ba đặc điểm hoặc Tilakkhana. Những điều này định nghĩa tất cả các thành phần, hoặc sankhara: chúng là anicca (vô thường), dukkha (khổ, không thỏa đáng), và anatta (vô ngã, không có thực chất). Đây không phải là một quan điểm tiêu cực về thế giới, mà là một quan điểm thực tế. Harari đề cập đến một số điểm khác của Phật giáo. Thật không may, có bao nhiêu trong số ít nhà sư Phật giáo nói tiếng Sinhala đơn ngữ nhiệt thành tranh cãi về ý nghĩa thật sự của những gì Đức Phật đã dạy sẽ có thể hiểu được một điều khá đơn giản như sự hiểu biết sơ đẳng của Harari về Phật giáo, tôi tự hỏi? Đó là sự ngớ ngẩn của một số nhà sư không nắm bắt đúng lời dạy của Đức Phật, những người gây nguy hiểm cho sự tồn tại của Buddha Sasana (đạo đức Phật giáo?) bằng cách làm chính trị và phụ thuộc vào các chính trị gia để bảo vệ nó. Nói như vậy, tôi phải lập tức thêm vào một điều kiện sau: có rất nhiều tu sĩ trẻ có trình độ học vấn cao, đức hạnh và có phẩm hạnh tốt, uyên bác sâu sắc về Phật giáo đang phục vụ cho Phật tử tại gia và phục vụ đất nước nói chung trong im lặng. Một số ít tu sĩ hư hỏng được đề cập ở trên đã trở thành như vậy vì họ thiếu sự hướng dẫn mà họ cần và xứng đáng. Nhưng đó là vấn đề mà Tăng đoàn phải chịu trách nhiệm.

Trí tuệ nhân tạo cung cấp vô số công dụng tốt hơn là một phương tiện để khám phá nội dung chân lý hoặc hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu tâm linh được tìm thấy trong một tôn giáo. Điều này cũng áp dụng cho Phật giáo, mặc dù về cơ bản nó không phải là một tôn giáo. 

Chân lý tối thượng mà Phật giáo hướng dẫn người tìm kiếm tự tìm thấy không thể đạt được bằng sự trợ giúp của một công cụ nhân tạo. Sự tự giác ngộ không thể đạt được thông qua một cỗ máy. Đối với việc truyền bá Phật giáo ra nước ngoài, không cần AI hoặc bất kỳ công nghệ hiện đại nào khác được sử dụng đặc biệt cho mục đích đó, điều này cũng không thể được sử dụng để truyền bá các tôn giáo khác.

Trên thực tế, nếu AI được sử dụng để thiết lập tính xác thực của mỗi tôn giáo bởi những người theo tôn giáo đó như là người giám hộ duy nhất của những gì mà nó tuyên bố là Chân lý Tuyệt đối trái ngược với tuyên bố của các tôn giáo đối thủ, thì sự ra đời của AI chắc chắn sẽ báo hiệu sự diệt vong cho tất cả các tôn giáo bao gồm cả Phật giáo. Nhưng bản chất triết học đạo đức của Phật giáo không thể tiếp tục lưu hành trừ khi nó tồn tại dưới hình thức một tôn giáo. Phật giáo là tôn giáo độc đáo, công nhận hai loại chân lý: sammuti sacca hay chân lý thông thường (thế để) và paramattha sacca hay chân lý tuyệt đối (chân để). Liệu một cỗ máy có thể phân biệt được điều này không? Bất kỳ người theo tôn giáo nào am hiểu công nghệ đều có thể sử dụng AI để thiết lập tuyên bố của tôn giáo họ về việc sở hữu Chân lý Tuyệt đối, nhưng vấn đề là một tín đồ khác có kỹ năng tương tự của cùng một tôn giáo, bằng cách cung cấp một mẫu dữ liệu được chọn khác nhau theo cách họ hiểu từ cái gọi là nguồn thiêng liêng của họ, có thể đạt đến một dạng Chân lý Tuyệt đối khác mà họ truyền bá. Đó là tình trạng đã tiếp diễn qua nhiều thời đại, gây ra xung đột giáo phái trong một tôn giáo và giữa các tôn giáo, đôi khi dẫn đến cái chết và sự hủy diệt với các vị thần giáo chủ mà họ tôn thờ và cầu nguyện để được bảo vệ nhưng không thấy đâu cả, như những gì đang xảy ra ở chiến trường Israel-Gaza hiện nay.

Theo ý kiến của tôi, xét về giá trị của nó, thì hầu như không có bất cứ điều gì mà người bảo vệ Phật giáo ngoan đạo nhất có thể làm để cứu Phật giáo ở Sri Lanka hoặc truyền bá Phật giáo trên thế giới thông qua AI. Có ít nhất 500 triệu Phật tử trên thế giới, hầu hết trong số họ thuộc truyền thống Đại thừa. 15 triệu Phật tử Theravada của Sri Lanka chỉ là một thiểu số nhỏ trên toàn cầu. Nhưng Sri Lanka có sự khác biệt lịch sử vì là nơi mà Tam tạng của truyền thống Theravada hay truyền thống của các Trưởng lão lần đầu tiên được ghi chép vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên và vì đã duy trì được cơ sở tôn giáo Phật giáo vẫn đang thịnh hành của mình mà không bị phá vỡ kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Vì vậy, Phật tử Sri Lanka có vai trò rất quan trọng trong các phong trào truyền giáo Phật giáo toàn cầu. Tuy nhiên, AI không có khả năng đóng bất kỳ vai trò trung tâm nào trong một lĩnh vực như vậy.

Những ứng dụng tốt mà AI có thể mang lại trong nhiều lĩnh vực khác nhau như y học, thám hiểm không gian, khảo cổ học, nông nghiệp, kinh tế, quốc phòng/quân sự, gián điệp, v.v. là vô hạn. Có rất nhiều khả năng lạm dụng AI trong tay những thành phần phản xã hội có chuyên môn cần thiết trong ứng dụng của nó. Ví dụ, các công cụ AI có thể bị sử dụng sai mục đích để tạo video deepfake nhằm xuyên tạc thông điệp của một nhân vật nổi tiếng, chẳng hạn như một nhà sư nổi tiếng nhằm phá hoại công việc của ngài hoặc chỉ để bôi nhọ ngài. Đây là mối quan ngại chính đáng mà tổng thống ám chỉ trong đề xuất ban đầu của mình, trong đó ông nói rằng phải đưa ra luật lệ phù hợp trước khi chương trình AI được hình dung được triển khai.

Cuối cùng, có thể trình bày rằng số tiền dành cho chương trình nghiên cứu AI dành cho Phật giáo (có thể bị coi là phân biệt đối xử với những người theo các tín ngưỡng khác ngoài việc bị chính những người theo đạo Phật chỉ trích là phản tác dụng) nên được chi tiêu tốt hơn vào việc cung cấp quyền truy cập dễ dàng vào giáo dục trực tuyến (tốt nhất là miễn phí) cho tất cả học sinh trong nước bất kể sự phân biệt đối xử giữa thành thị và nông thôn, sự khác biệt về địa vị xã hội và kinh tế, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ. Hãy bảo vệ Buddha Sasana khỏi chính trị.

 

***

Bài viết này ban đầu được đăng trên The Island, một tờ báo hàng ngày có trụ sở tại Colombo

**

Rohana R. Wasala

Rohana R. Wasala is a freelance journalist and regular columnist for Sri Lanka Guardian, with a background in academia.

 

https://slguardian.org/buddhisms-influence-on-ai-and-climate-control/

 

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO CHO AI ÍT NHÂN TẠO VÀ THÔNG MINH HƠN

 




Nguyên tác: Buddhist Wisdom For Less Artificial And Intelligent AI
Tác giả:
Subodh Saxena
Việt dịch: Quảng Cơ
Sưu tập: Tuệ Uyển

***

Trí tuệ Phật giáo (prajna) bao gồm ba công cụ là nghe (sutras), quán chiếu (Cinta) và thiền định (Bhavana). Để hiểu biết về mặt trí tuệ, chúng ta phải nghe, học và nghiên cứu (sutras). Chúng ta có thể tiếp thu kiến ​​thức này thông qua trí tuệ quán chiếu và phản chiếu (Cinta).

Đó là một buổi sáng mùa hè tươi sáng. Những tia nắng đỏ thắm của mặt trời mỉm cười đang hôn lên ngọn cây và tòa tháp cao. Một làn gió tươi mát và một dàn hợp xướng chim chóc vui nhộn đang tràn ngập bầu không khí tại trung tâm thiền định ở Dharamshala ở dãy Himalaya. Sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa AI Học sâu và trí tuệ Phật giáo đã xuất hiện trong tôi khi tham dự chương trình thiền định Phật giáo tại trung tâm. Trong hơn 2.500 năm, Phật giáo đã nghiên cứu về tâm, vốn không phải là vật chất và khác với não bộ mặc dù cả hai đều có sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau. Trí tuệ Phật giáo là chìa khóa của tâm. Mặc dù các nhà khoa học thần kinh đã nghiên cứu sâu rộng về giải phẫu và chức năng của não bộ, nhưng có rất ít hiểu biết về tâm, tư duy, ý thức, trực giác và trí thông minh. Mạng Thần kinh nhân tạo bỏ lỡ quá trình thông dịch trên bộ não sang tâm. Hiệu suất của AI Học sâu, mô phỏng bộ não sinh học, có thể được tăng cường bằng cách đồng hóa việc học Phật giáo.

Học sâu, tên gọi của Mạng thần kinh nhân tạo, được hình thành vào những năm 1940. Tuy nhiên, chỉ vài năm trước, hệ thống tri giác trực quan (học thông qua kinh nghiệm) sử dụng toán học liên tục đã bổ sung cho Trí tuệ nhân tạo cổ điển dựa trên hệ thống tri giác hợp lý (được lập trình). Sự cho phép này là nguồn gốc cho những thành tựu ngoạn mục của AI trong nửa thập niên qua. Nhưng hiện tại có một số thất vọng. Đã có những kỳ tích gần như con người hoặc siêu phàm của AI trong các lĩnh vực khác nhau như trò chơi cờ bàn & chiến lược, nhận dạng hình ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và xe hơi tự hành. Học sâu sử dụng toán học nặng, giống thuật giả kim hơn là hóa học. Chỉ một phần trong các giải pháp hiệu suất cao của nó có thể được giải thích một cách hợp lý, phần còn lại là bản năng, một con đường khác biệt với sự thông minh của con người. Nhưng do khả năng xử lý dữ liệu khổng lồ, hoạt động hộp đen khó hiểu, không có khả năng áp dụng các khái niệm trừu tượng vào các tình huống khác nhau và khó thiết kế các mô hình, nên người ta lo sợ Học sâu sẽ gặp trở ngại.

Quá Trình AI Học Sâu Vấp Phải Công Cụ Trí Tuệ Phật Giáo



Học sâu, một quá trình thống kê, mô phỏng bộ não động vật có vú. Các tế bào thần kinh nhân tạo (perceptron) là phiên bản kỹ thuật số đồng nhất được đơn giản hóa của các tế bào thần kinh sinh học (Hình 1). Bộ não con người có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh và 1000 nghìn tỷ khớp thần kinh (kết nối thần kinh). Các mạng lưới thần kinh nhân tạo khác biệt rất nhiều so với cấu trúc não ở số lượng tế bào thần kinh & khớp thần kinh, hình dạng, kích thước & kiểu kích hoạt tế bào thần kinh, cấu trúc bẩm sinh, tạo ra và chèn các tế bào thần kinh mới vào các mạch hiện có và sử dụng có chọn lọc các khu vực cụ thể.

Trong Mạng thần kinh nhân tạo, các tế bào thần kinh (perceptron) được sắp xếp theo các lớp đầu vào, ẩn và đầu ra. Dữ liệu đầu vào được gán trọng số và độ lệch khi nó đến một tế bào thần kinh khác trong lớp liền kề. Đầu vào này đi qua một hàm kích hoạt và đầu ra đi đến các tế bào thần kinh lớp tiếp theo. Quá trình này tiếp tục cho đến khi các kích hoạt tế bào thần kinh nhân tạo đạt đến lớp đầu ra. Tại đây, chúng phải chịu các thuật toán tối ưu hóa (mất mát) và lan truyền ngược. Đầu ra thực tế và mong muốn được so sánh và sự khác biệt được lan truyền trở lại lớp đầu vào để tối ưu hóa trọng số và độ lệch. Quá trình lặp lại tiếp tục cho đến khi đạt được đầu ra gần như mong muốn. Cấu trúc của mạng thần kinh 'Nông' và 'Sâu' được minh họa trong Hình 2. Sau khi tối ưu hóa trọng số và độ lệch, mô hình Mạng Thần Kinh nhân tạo cung cấp các tham số đầu ra chính xác hơn để đào tạo, xác thực và kiểm tra mô hình. Các tác vụ dưới tuần tự có thể học từ việc học chuyển giao. Các thuật toán Học sâu yêu cầu hàng triệu ví dụ đào tạo. Thu thập hàng tấn dữ liệu chất lượng, AI Học sâu vẫn còn kém xa khả năng lý luận, hiểu biết và ý thức chung của con người.



Trí tuệ Phật giáo (prajna) bao gồm ba công cụ là nghe (sutras), quán chiếu (Cinta), và thiền định (Bhavana). Để hiểu biết về mặt trí tuệ, chúng ta phải nghe, học và nghiên cứu (sutras). Chúng ta có thể tiếp thu kiến thức này thông qua trí tuệ quán chiếu và phản chiếu (Cinta). Dựa trên hai viên ngọc trí tuệ này, chúng ta bắt đầu thực hành thiền định (Bhavana) để đánh thức thêm sự hiểu biết bên trong của chúng ta. Trong quá trình thiền định (Samatha) và thiền quán (vipassana), não là đối tượng của một quá trình nhận thức hướng vào bên trong thay vì hướng ra bên ngoài. Các giá trị được gán cho một số trạng thái nhất định để tăng mức độ phổ biến của chúng. Kết nối tiếp hợp (synap) thay đổi theo đó. Nó có phần giống với những gì xảy ra trong quá trình học tập thông qua các tương tác với thế giới bên ngoài. Ba công cụ trí tuệ Phật giáo được biểu diễn tượng trưng trong Hình 3.



Học sâu dường như đã học theo trí tuệ Phật giáo. Thực hành Học sâu bao gồm đầu vào, chỉ định trọng số & độ lệch, tối ưu hóa và đầu ra tương tự như các công cụ trí tuệ Phật giáo về nghe, chiêm nghiệm, thiền định (Samatha) và thiền quán vipassana). Trong khi thiền định bao gồm chức năng mất mát và nhiễu loạn lan truyền ngược cho đến khi tối ưu hóa, thiền quán giống như nhận đầu ra cung cấp đầu vào cho một mô hình đã được đào tạo. Sự tương ứng này, các bước trong quá trình, được minh họa trong Hình 4 bên dưới.



Học Phật Để Củng Cố Học Sâu

Học sâu Sự phụ thuộc của AI vào dữ liệu khổng lồ và các phép tính phức tạp là nguồn gốc của những tai ương như bản chất 'hộp đen' (không biết đầu vào hoặc liên kết nào là quan trọng), không có khả năng sử dụng các khái niệm trừu tượng cho các ứng dụng khác nhau (do mê cung dữ liệu) và khó thiết kế các mô hình (số lượng lớp và nơ-ron cồng kềnh trong mỗi lớp và khó khăn trong việc lựa chọn các thuật toán hàm kích hoạt và mất mát, đặc biệt là trong trường hợp các vấn đề phức tạp). Tích hợp học Phật, AI sẽ sử dụng ít dữ liệu hơn, giảm thiểu các phép toán lớn và kết hợp các thuật toán với kinh nghiệm và trực giác của con người để giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu và các bệnh nan y mà nhân loại đang phải đối mặt. Phát hiện sau đây được đặt theo tên của nhà nghiên cứu AI Hans Moravec có liên quan trong bối cảnh này.

Nghịch lý Moravec - Trái ngược với các giả định truyền thống, lý luận cấp cao đòi hỏi rất ít tính toán, nhưng các kỹ năng cảm biến vận động cấp thấp đòi hỏi các nguồn tài nguyên tính toán khổng lồ.

Việc đồng hóa các kiến thức Phật giáo trong AI là một chủ đề phức tạp. Nó sẽ đòi hỏi nỗ lực phối hợp của các học giả Phật giáo, các nhà khoa học thần kinh và các chuyên gia AI để xác định cách thức các kiến thức Phật giáo sẽ có lợi cho cách tiếp cận hiện tại mà chúng ta đang áp dụng trong AI và đưa ra các phương pháp luận để tích hợp chúng. Một số ví dụ tiêu biểu được liệt kê dưới đây.

• Kết hợp Cấu trúc Não bẩm sinh: Một đứa trẻ, không quen với các thực hành Phật giáo, có khả năng lý luận và hiểu kinh sách bằng cách sử dụng dữ liệu nhỏ. Cấu trúc não bẩm sinh này có sẵn khi mới sinh trong não của đứa trẻ. AI phải có được sự tương đồng với nó để gần gũi hơn với thiên nhiên thay vì phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng. Mạch não chỉ ra nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau để định hình quá trình truyền thần kinh và xử lý thông tin. Có nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau như tế bào thần kinh vận động, tế bào thần kinh cảm giác và tế bào thần kinh trung gian, và những loại có kết nối thần kinh (synap) với các tế bào thần kinh lân cận, cục bộ và xa. Ngoài các giai đoạn xử lý ban đầu trong nhận thức, thị giác, thính giác, v.v., để nắm bắt các bước nhận thức ở giai đoạn sau, một số tính không đồng nhất trong các loại tế bào thần kinh và khả năng kết nối phải được đưa vào các tế bào thần kinh đồng nhất quá đơn giản trong mạng lưới thần kinh nhân tạo.


• Ưu tiên của các lớp ngoài sử dụng Topology thưa thớt: Các nhà khoa học thần kinh đã nghiên cứu cấu trúc não của những người thực hành lâu năm các công cụ trí tuệ Phật giáo. Vỏ não, lớp ngoài cùng của mạng lưới sinh học của não, có các tế bào thần kinh có kết nối cục bộ và tầm xa. Người ta đã quan sát thấy các nhà sư phát triển lớp vỏ dày liên quan đến mật độ tế bào thần kinh tăng lên và số lượng khớp thần kinh trong các vùng não liên quan đến sự chú ý và xử lý cảm giác. Trong topology mạng AI, nó sẽ chuyển thành ưu tiên cho các lớp ngoài hơn các lớp ẩn. Kiến trúc tiêu chuẩn của Mạng thần kinh nhân tạo với các lớp được kết nối đầy đủ nên được sửa đổi. Các khớp thần kinh giữa các lớp truyền tiếp sẽ bị loại bỏ (bỏ cấu trúc thưa thớt) và các khớp thần kinh nhảy qua nhiều lớp có thể được tạo ra. Một topology mạng hoàn toàn chung cho phép bất kỳ nút nào được kết nối với bất kỳ nút nào khác có khớp thần kinh, sẽ tạo điều kiện cho các lớp ngoài được ưu tiên hơn các lớp ẩn.


• Sử dụng một phần của Kiến trúc thần kinh sâu: Những người thiền Phật giáo phát triển sự kích hoạt não trái đáng kể. Điều này có nghĩa là chỉ một khu vực cụ thể thay vì một vùng não rộng hơn hoặc toàn bộ não được sử dụng để giải quyết hầu hết các vấn đề. Khác với cấu trúc truyền động trực tiếp truyền thống, Mạng thần kinh nhân tạo có thể sử dụng các mạng kết nối chung cho phép sử dụng một khu vực cụ thể của mạng. Các đơn vị xử lý cho Cấu trúc thần kinh sâu thưa thớt như vậy đang được phát triển.

Việc tích hợp các lợi ích từ các công cụ trí tuệ Phật giáo vào AI Học sâu là khả thi với các bộ xử lý có sẵn và trong một số trường hợp đang được phát triển. Ví dụ, như bằng chứng cho khái niệm 'Ưu tiên của các lớp ngoài sử dụng Topology thưa thớt thần kinh sâu' có thể được triển khai để giải quyết một vấn đề thực tế đơn giản bằng công nghệ hiện tại. Do đó, chúng ta có thể so sánh các giải pháp thu được thông qua AI tích hợp các công cụ trí tuệ Phật giáo với kết quả từ AI Học sâu truyền thống và các phép đo thực tế. Một cỗ máy lý luận trực quan được chuyển đổi như vậy, sử dụng học tập Phật giáo, sẽ có khả năng mở rộng để giải quyết các vấn đề lớn hơn như biến đổi khí hậu bằng cách sử dụng dữ liệu tối thiểu, chứng thực cho quan sát của Moravec rằng khả năng tính toán lớn hơn không dẫn đến các hệ thống thông minh hơn.

Kết Luận

AI học sâu ở dạng hiện tại thu thập và phân tích một lượng lớn dữ liệu trong các lớp ẩn của nó để đào tạo một mô hình. Khi độ phức tạp của các mô hình tăng lên, việc diễn giải cách chúng hoạt động trở nên khó khăn. Không thực tế khi giải quyết các vấn đề phức tạp bằng các mô hình mờ đục. AI học sâu giống với việc học của Phật giáo và có thể tự trao quyền cho chính nó bằng cách đồng hóa các công cụ trí tuệ Phật giáo. Kiến trúc, thuật toán chính, tối ưu hóa và phân tích của mô hình lấy cảm hứng từ trí tuệ Phật giáo sẽ yêu cầu ít dữ liệu hơn và xây dựng các giải pháp kỹ thuật toàn diện và có thể giải thích được cho các vấn đề lớn như bệnh tật và biến đổi khí hậu. AI ít nhân tạo và thông minh hơn này sẽ xoa dịu nỗi sợ về một mùa đông AI khác và AI gây ra mối đe dọa hiện hữu đối với con người.


Author
Subodh Saxena
Expertise in deploying smart technologies. Knowledgeable on 5G, IoT, AI, smart mobility, technology for fuel efficiency, reduced emissions and safety of vehicles. Associated with projects involving optimizing vehicle performance, telecom services, connected & shared mobility. Woked on smarter AI using Buddhist wisdom tools to solve complex problems.

https://www.researchgate.net/publication/334899640_Buddhist_Wisdom_for_less_Artificial_more_Intelligent_AI