Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

GIẢI THOÁT KHỎI SỰ SỢ HÃI




Nguyên bản: Liberation from Fear
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển 


Sự sống của ta ở giữa những nguyên nhân của sự chết
Như ngọn đèn dầu đứng giữa cơn gió mạnh
-         LONG THỌ -  TRÀNG HOA QUÝ BÁU -

Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma đã viết mười bảy thi kệ mà người Tây Tạng thường tập trung quán chiếu trong đời sống hàng ngày về sự chết. Tựa đề của thi kệ là: Nguyện Ước Giải Thoát Khỏi Tình Cảnh Nguy Hiểm Của Thân Trung ấm, Anh Hùng Thoát Ra Từ Sự Sợ Hãi. Nhằm để được giải thoát khỏi những tình cảnh nguy nan, chẳng hạn như bị bao vây bởi những kẻ cướp giật, côn đồ, hay thú dữ, chúng ta cần một sự hướng dẫn quả cảm và có năng lực để giải cứu ta. Tương tự thế, để được giải thoát khỏi sự kinh khủng của những hiện tướng vọng tưởng trong khi lâm chung và trong tình trạng trung ấm giữa những kiếp sống, ta cần thực tập sự hướng dẫn được cống hiến trong thi kệ này, vốn cung cấp những kỷ thuật thâm sâu cho việc thoát khỏi những sợ hãi ấy. Bằng việc quán chiếu trên thi kệ ta học vấn đề chết xảy ra như thế nào, và kiến thức sẽ hữu dụng trong tiến trình thật sự như thế nào. Lâm chung là một thời điểm mà những trình độ sâu xa của tâm thức tự biểu hiện, việc quán chiếu hàng ngày cũng mở ra cánh cửa đến những trình độ ấy.

Thi kệ chứa đựng một loạt những nguyện ước được sử dụng bởi bất cứ ai trong chúng ta vì thế khi sự chết thình lình xảy đến, tâm thức sẽ [tự động] phản ứng trong một cung cách đạo đức. Một số cố gắng để phát sanh một động cơ đạo đức đầy năng lực vào lúc lâm chung để củng cố và kích thích những khuynh hướng thiên về đạo đức, vốn đưa họ đến một sự tái sanh có ích. Mục tiêu của họ là việc đạt được sự chuyển tiếp vào kiếp sống mới [thuận lợi] để tiếp tục sự thực tập tâm linh của họ. Những người khác, như chúng ta sẽ thấy, cố gắng lợi dụng những trình độ sâu xa hơn của tâm biểu hiện trong lúc lâm chung để thành tựu những thể trạng tâm linh tiến bộ hơn. Tất cả mọi hành giả hướng đến là việc phụng sự người khác.

Thi kệ của Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma diễn tả ba trình độ của sự thực tập tâm linh – đối với bậc cao cấp nhất, bậc trung và bậc thường – trong hình thức của nguyện ước tỉnh thức trong tiến trình của sự chết, thể trạng giữa những kiếp sống, và tái sanh. Ngài đã nói chi tiết về những gì ta nên làm ở mỗi giai đoạn. Ta cần chấp nhận và thực tập một trình độ thích ứng cho phần còn lại của kiếp sống cá nhân vì thế vào lúc thời điểm lâm chung ta sẽ hành động thành công hơn qua mỗi giai đoạn.

Khi sự chết thật sự đến, nếu ta không quen với sự thực tập này, thì sẽ rất khó khăn để thành công bất cứ sự quán chiếu lợi lạc nào. Do thế, bây giờ là lúc để thực tập và chuẩn bị, trong khi ta vẫn vui vẻ và hoàn cảnh đời sống của ta là thích hợp. Rồi thì, vào lúc thật sự cần đến và áp lực, sẽ không có gì lo lắng. Nếu, khi ta có thời gian để lắng nghe, suy nghĩ, hành thiền, và đặt câu hỏi, ta không chuẩn bị, thì vào ngày cuối cùng sẽ không có thời gian và ta sẽ không có người che chở hay nương tựa, không có gì sót lại ngoài sự hối tiếc. Tốt nhất là trước thời điểm ấy lâu xa ta tiến hành một sự thực tập liên tục về việc quán chiếu tiến trình của sự chết và thể trạng trung ấm giữa những kiếp sống – quán tưởng những biện pháp để cho chúng trở nên quen thuộc. Điều này rất quan trọng, vì thế sau đó ta có thể đạt được sự thành công phù hợp với năng lực to lớn nhất của ta.

Chỉ kiến thức về tiến trình của sự chết và những thực tập liên quan đến nó thì không đủ, ta phải đạt được sự quen thuộc với những thứ này trải qua hàng tháng hàng năm. Nếu bây giờ, khi những giác quan còn trong sáng và sự chánh niệm chưa bị thoái hóa, mà tâm thức của ta không được rèn luyện có thể tiện dụng và quen thuộc với cung cách của đạo đức, thì sẽ rất khó khăn – khi lâm chung – vì tâm thức sẽ diễn biến phù hợp với chính nó trên một con đường xa lạ. Khi lâm chung, thân thể của ta có thể yếu đuối vì bệnh tật và tinh thần bị áp lực từ những sợ hãi kinh khiếp. Do thế, thật cần thiết để trở nên quen thuộc với những sự thực tập liên hệ đến sự chết. Không có sự thay thế. Không có những viên thuốc.

Nổ lực thực hiện để hiểu rõ những sự thực tập này lệ thuộc vào động cơ nội tại phát sanh từ sự tin chắc rằng những kinh nghiệm về khổ đau và vui sướng tương xứng với những hành vi đạo đức và không đạo đức của chính ta. Do vậy, vào lúc bắt đầu, thật quan trọng để phát triển một sự thấu hiểu về nguyên nhân và hệ quả của hành động, hay nghiệp, được đặt nền tảng trên nhận thức rằng những hành vi tốt lành xuất phát từ một tâm thức thuần hóa, và các hành vi xấu ác sanh khởi từ một tâm thức không được thuần hóa. Mặc dù những hành vi đạo đức và không đạo đức được tiến hành bởi thân thể, lời nói và tâm ý, nhưng tâm ý là quan trọng nhất, cho nên gốc rể của sự thực tập Phật giáo là sự chuyển hóa tâm thức. Sự nhấn mạnh của giáo huấn nhà Phật là trên một tâm thức thuần hóa – nền tảng của nhận thức rằng ta là đấng tạo hóa của mọi sự vui sướng và khổ đau của chính ta. Như Đức Phật đã nói:

Chư Phật không rửa sạch những hành vi xấu ác bằng nước,
Cũng không loại trừ khổ đau của chúng sanh bằng đôi tay của các Ngài,
Cũng không trao truyền sự chứng ngộ của các Ngài cho kẻ khác,
Chúng sanh được giải thoát qua giáo huấn về sự thật, bản chất của mọi thứ.

Chúng ta là đấng tạo hóa của chính chúng ta, thoải mái và không thoải mái ở trong tay của chính chúng ta.

VỊ TRÍ DÒNG TRUYỀN THỪA CỦA CÁC ĐỨC BAN THIỀN LẠT MA

Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma tên thật là Losang Chokyi Gyeltsen, là một giáo thọ của Đệ ngũ Đạt Lai Lạt Ma trong thế kỷ 17. Trước thời gian ấy, mặc dù là một tu sĩ thọ giới, người dân địa phương và thầy của ngài vẫn xem ngài như hóa thân của đại du già sư Tây Tạng: Ensaba. Có thể không là một trong những học giả lớn nhất, nhưng ngài là một hành giả vĩ đại. Giống như thầy của ngài, Sengyay Yeshay, ngài có một sự tôn kính chân thành với những dòng truyền thừa Phật giáo khác. Trong Công Trình Thu Thập về thầy của ngài, chúng ta thấy có những từ ngữ của những truyền thống khác, và sự cởi mở này phải ảnh hưởng trong chính sự thực tập của Đức Ban Thiền Lạt Ma Losang Chokyi Gyeltsen. Ngài chắc chắn có một sự đóng góp to lớn cho sự tương kính hổ tương và hòa hiệp giữa những trường phái Phật giáo Tây Tạng.

Đệ thập Ban Thiền Lạt Ma, Losang Trinley Lhundrup Choekyi Gyeltsen, viên tịch năm 1989. Ngài và tôi cùng sanh ra trong một tỉnh đông bắc của Tây Tạng, gọi là Amdo. Vào lúc chọn ngài như hóa thân của vị tiền nhiệm thì có một sự tranh cãi nhỏ. Những chức sắc trong tu viện cua ngài ở Shigatse, vốn ở miền tây của Tây Tạng, trong khi tỉnh Amdo là một vùng dưới ảnh hưởng cai trị của một lãnh chúa Hồi Giáo. Các vị ấy quyết định ngài là một hóa thân thật sự của Đệ cửu Ban Thiền Lạt Ma. Trong Thỏa Thuận 17 Điểm được chính quyền Trung Hoa khuyến khích như một cách để thiết lập mối quan hệ với Tây Tạng, người Trung Hoa đã cho thấy hay có lẽ khăng khăng rằng chính quyền Tây Tạng phải nhìn nhận cậu bé này, người đã ở trong tay họ, như Ban Thiền Lạt Ma. Trong cách này, sự thừa nhận ngài có hơi bị tranh cãi, nhưng chính ngài đã chứng  minh rằng ngài là một anh hùng lớn, can đảm trong việc phụng sự cho Phật giáo Tây Tạng và dân tộc Tây Tạng. Không nghi ngờ gì.

Khi tôi gặp ngài lần đầu tiên khoảng năm 1952, ngài rất ngây thơ, rất chân thành, và rất hoạt bát. Năm 1954, cả hai chúng tôi cùng đi Trung Hoa, ngài đến từ miền tây Tây Tạng và gia nhập với tôi ở thủ đô Lhasa trong vài ngày. Ngài đi đến Trung Hoa qua tỉnh Amdo và tôi đã đi qua Konpo. Có lẽ qua sự bất mãn của một số chức sắc của ngài, nên thái độ của ngài hơi thay đổi.

Năm 1956, vào kỷ niệm Phật Đản 2500, khi cả hai chúng tôi ở Ấn Độ, vẫn còn những biểu hiện nhỏ về điều này. Tuy nhiên, vì những sự kiện rất đau buồn – những trận chiến với với quân chiếm đóng Trung cộng – xảy ra trong những năm 1957 và 1958 trong hai tỉnh miền đông. Amdo và Kham, những tin tức về những sự tàn bạo được tiến hành bởi quân đội xâm lược cuối cùng đã đến tai ngài. Ngài hoàn toàn nhận ra rằng, có lẽ một cách muộn màng, rằng tất cả mọi người Tây Tạng phải thống nhất và đối diện với sự đe dọa mới. Trong sự kiểm tra học thuật sau cùng của tôi, ngài đã gửi một chức sắc tu sĩ tin cẩn đến giải thích với tôi rằng hiện tại tư duy của Đức Ban Thiền Lạt Ma đã thay đổi rất nhiều vì những tin tức mới đây từ nơi sinh quán của ngài. Dưới sự đe dọa mới, ngài đã quyết định dứt khoát rằng tu viện của ngài ở Shigatse sẽ làm việc với chính quyền Tây Tạng.

Sau khi tôi đào thoát đến Ấn Độ năm 1959, Đức Ban Thiền Lạt Ma đã đảm nhận vai trò của tôi như lãnh tụ bên trong Tây Tạng và trong vài năm tiếp theo đã hành động một cách tuyệt vời. Cuối cùng ngài đã bị quản thúc tại gia và bị cầm tù. Sau khi được trả tự do, ngài đã sử dụng cơ hội một cách thông tuệ, mở rộng mọi nổ lực để cải thiện tình hình cho Phật giáo và văn hóa Tây Tạng. Bằng chữ “thông tuệ” tôi muốn nói rằng ngài đã không đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm chẳng hạn nền độc lập của Tây Tạng, thay vì thế chỉ đơn giản đem mọi năng lượng của ngài vào việc bảo tồn Phật giáo và văn hóa Tây Tạng. Đôi khi ngài la mắng những người Tây Tạng chỉ mặc áo quần Trung Hoa và chỉ nói tiếng Hoa. Những người Tây Tạng đó bị buộc phải mặc quần áo Tây Tạng và nói tiếng Tây Tạng. Qua những hành động như vậy ngài đã tự chứng minh.

Sự viên tịch của ngài rất đột ngột và quá sớm. Tôi vô cùng đau buồn. Trong khi ngài sinh tiền, có một người Tây Tạng như lãnh tụ lên tiếng ở bên trong quê hương nhân danh dân tộc, trong khi tôi phục vụ từ bên ngoài một cách tối đa. Sau khi mất ngài, bây giờ không còn ai bên trong Tây Tạng có thể  làm như ngài. Họ hoặc là quá già hay quá sợ. Sự viên tịch của ngài là một mất mát lớn.

Ngay khi ngài qua đời, tôi đã gửi một thông điệp đến chính quyền Trung Cộng nói rằng tôi muốn gửi một phái đoàn tâm linh để hiến cúng tại tu viện của Đức Ban Thiền Lạt Ma, nhưng họ đã từ chối. Sau vài năm, tôi đã yêu cầu chính quyền Bắc Kinh cho phép một phái đoàn tâm linh tìm kiếm hóa thân của Đức Ban Thiền Lạt Ma, nhưng họ lại từ chối một lần nữa.

Rõ ràng, vấn đề quan trọng là sự tái sanh của Đức Ban Thiền Lạt Ma phải xác thật. Vào lúc ấy, một số người Tây Tạng khuyến nghị rằng sự tái sanh phải được tìm bên ngoài vùng bị chiếm đóng, nhưng tôi đã xem động cơ của họ là chính trị. Vấn đề quan trọng thật sự là việc tìm ra một vị tái sanh chân thật, cho dù bên trong hay bên ngoài Tây Tạng. Nếu sự tái sanh ở bên trong Tây Tạng, tôi biết sẽ cần thiết để thảo luận với chính quyền Trung Cộng, cho nên tôi muốn gửi một phái đoàn tâm linh đi tìm vị tái sanh.

Yêu cầu đó bị phủ nhận, nhưng trong lúc đó qua một kênh thông tin không chính thức, tôi đã xây dựng sự tiếp xúc với một lạt ma, Chadrel Rinpochay, người đã gửi một danh sách hơn 25 ứng viên cùng với vài tấm hình. Ngay khi tôi thấy tấm hình của Gedhun Choekyi Nyima, tôi đã có một cảm nhận thông giao hay thân thuộc. Tôi đã làm vài sự chiêm tinh, vốn rất tích cực cho Gedhun Choekyi Nyima. Cuối cùng, tôi đã tiến hành một vòng chiêm tinh, một bát với những quả bóng bột chứa đựng những tên họ của các ứng viên sau cùng trong một mãnh giấy bên trong quả bóng bột. Giống như cậu bay ra khỏi bát. Qua những bước này, tôi đã quyết định rằng cậu bé này là hóa thân của Đệ thập Ban Thiền Lạt Ma.

Tuy nhiên, tôi đã không đưa ra tuyên bố. Khi thời gian trôi qua, ngày càng nhiều người Tây Tạng, đặc biệt từ bên trong quê hương Tuyết Sơn, thúc giục tôi quyết định. Tôi cố gắng giữ sự đối thoại với chính quyền Trung Cộng mà không có kết quả. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng sẽ thích hợp để tuyên bố vào ngày Đức Phật giảng dạy giáo huấn Kalachakra hay Thời Luân lần đầu tiên, mà Đức Ban Thiền Lạt Ma có một sự liên hệ đặc biệt. Tôi đã thực hiện một sự chiêm tinh quả bóng bột một lần nữa để xem tôi có nên tuyên bố hay không, và điều ấy có kết quả tích cực.

Tôi đã tuyên bố, và ngày kế tiếp tôi đã nhận một sự gắt gỏng ồn áo từ những vị thầy của chúng tôi, chính quyền Trung Cộng. Nhưng những gì thật sự kinh khiếp là trong vài ngày vị hóa thân trẻ tuổi cùng với cha mẹ, bị đưa ra khỏi nơi sinh quán đến Lhasa, và từ đấy đến Trung Hoa, và từ lúc ấy, không có tin tức gì về họ. Tôi cảm thấy rất buồn về điều này, vì tác động của việc ấy ra sao, theo quan điểm của chính quyền Bắc Kinh những hành vi bất hợp pháp của tôi đã làm đứa bé đau khổ.

Chính quyền Bắc Kinh tin rằng họ phải là thẩm quyền tối hậu. Điều đó thật sự đã xảy ra vài lần trong lịch sử Tây Tạng khi có sự bất đồng của vài nhóm trong cộng đồng Tây Tạng về việc thu hẹp lại sự lựa chọn những ứng viên. Họ hướng đến hoàng đế Trung Hoa, những người cả là Phật tử và bảo hộ Phật giáo Tây Tạng, để thực hiện quyết định sau cùng trước một hình tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni qua việc sử dụng một bình bằng vàng, trong đó mỗi tên được viết trên một thẻ. Đó là những trường hợp người Tây Tạng thực hiện với sự tranh luận của giới tu sĩ
trong một cung cách tôn giáo.

Vị tiền nhiệm của tôi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, được lựa chọn nhất trí bởi chính quyền Tây Tạng sau khi những tiến trình thông thường bên trong mà không có bất cứ sự tham khảo ý kiến bên ngoài nào. Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 được hỏi về Đệ cửu Ban Thiền Lạt Ma, ngài đã tuyên bố sự lựa chọn của ngài, nhưng ngài quá trẻ để hoàn toàn có thẩm quyền. vì người Tây Tạng hướng đến bất cứ cách nào dễ dàng hơn, cho nên họ đã quay sang tham khảo chiếc bình vàng, vốn được tiến hành bởi đại sứ Trung Hoa. Tuy thế, tên ứng viên được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 tiến cử đã xuất hiện từ chiếc bình vàng.

Vì người Tây Tạng tin tưởng hoàng đế Trung Hoa, tự nhiên họ sẽ liên hệ với nhà bảo hộ và ủng hộ họ trong những hành động tôn giáo quan trọng nào đó. Hoàn cảnh loại đó đã hoàn toàn thay đổi với nhà đương cục Bắc Kinh hiện tại, những người chính yếu quan tâm đến việc khống chế. Liên hệ đến Đức Ban Thiền Lạt Ma hiện tại, họ đã biểu diễn một sự chiêm tinh chiếc bình vàng để thực hiện sự lựa chọn của họ về một Ban Thiền Lạt Ma khác, nhưng nó đã được quyết định trước – họ đã ra lệnh cậu bé và gia đình của cậu chờ đợi trong Điện thờ cho một sự tuyên bố công cộng. Sau đó chính quyền đã bắt tu sĩ – người hành động như lãnh đạo của Phật giáo Tây Tạng, “chọn” thẻ - quản thúc tại gia. Đây hoàn toàn là chế độ chuyên chế.

Tuy thế, trong hai hay ba trường hợp, tôi đã xem video về Ban Thiền Lạt Ma chính thức của chính quyền, Gyaltsen Norbu, dường như cũng được đấy. Trong một video, ông đang tiến hành một giáo huấn trong liên hệ với một nghi lễ cầu trường thọ. Ông biết nghi thức từ tâm ý và giải thích ý nghĩa của nghi lễ trường thọ rất tốt.

KHÁI QUÁT VỀ THI KỆ

Thi kệ 17 đoạn của Đệ ngũ Ban Thiền Lạt Ma là một sự hướng dẫn về những kỷ thuật đặc thù của Phật giáo cho việc vượt thắng sợ hãi về sự chết và cho khả năng sử dụng những giai đoạn của sự chết cho sự tiến bộ tâm linh. Hy vọng của tôi là sự diễn tả này về những kinh nghiệm tâm lý nội tại và những thay đổi vật lý sẽ cung cấp sự quán chiếu hữu ích cho những ai quan tâm về sự chết và những trình độ sâu hơn của tâm thức, và nó sẽ phục vụ như một nguồn tin tức đáng tin cậy cho những nhà khoa học quan tâm trong việc nghiên cứu với những học giả và du già sư về những vấn đề chung quanh sự chết. Trái lại các nhà khoa học thường xem tâm thức như một sản phẩm của thân thể, nhưng những nhà chuyên môn nào đó đang bắt đầu nghĩ về tâm thức như một thực thể độc lập hơn vốn có thể ảnh hưởng đến thân thể. Rõ ràng rằng những cảm xúc mạnh mẽ, chẳng hạn như thù oán có thể tác động đến thân thể, nhưng bây giờ các cuộc thí nghiệm đang được tiến hành liên quan đến những thực tập cụ thể về việc rèn luyện một cách chủ tâm, chẳng hạnh như việc phát triển về niềm tin, từ ái, bi mẫn, định nhất tâm, quán chiếu về tánh không, hay các chủ đề hành thiền đặc biệt trong truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng. Những thí nghiệm này cho thấy rằng việc rèn luyện tinh thần có thể có một chức năng tự chủ động, ảnh hưởng đến thân thể, ngay cả làm nó bớt nhạy cảm. Tôi nghĩ rằng việc tham với những y tá, đặc biệt ở những nhà dưỡng lão, về những dấu hiệu sắp xảy đến của sự chết cũng rất hữu ích.

Bảy thi kệ đầu của Ban Thiền Lạt Ma giải thích vấn đề tiếp cận với sự chết như thế nào. Sau một thi kệ mở đầu về quy y Phật, giáo lý của Ngài, và cộng đồng tâm linh (được giải thích trong chương này), hai thi kệ tiếp theo (chương ba) nói về tầm quan trọng giá trị của kiếp sống hiện tại như một cơ hội cho sự thực tập tâm linh. Chúng diễn tả vấn đề tận dụng hoàn cảnh quý giá như thế nào bằng việc quán chiếu trên tính vô thường của hiện tại nhằm để làm giảm thiểu sự dính mắc quá mức với những kinh nghiệm thoáng qua. Thi kệ bốn và năm (chương bốn) nói về việc đón nhận một quan điểm vốn có thể xử lý cả khổ đau và những ảo giác áp đảo xuất hiện trong lúc lâm chung. Thi kệ sáu và bảy (chương năm) qui định vấn đề đạt được những điều kiện thuận lợi nhất như thế nào cho sự chết bằng việc nhớ lại những gì đã thực tập và bằng việc duy trì hỉ lạc.

Ba thi kệ tiếp theo (chương sáu) diễn tả chi tiết những hiện tướng xảy ra trong bốn thời kỳ đầu của sự chết và vấn đề hành thiền xuyên suốt chúng như thế nào. Tiết đoạn này đòi hỏi kiến thức của chúng ta về sự suy sụp của những yếu tố vật lý vốn hổ trợ ý thức và những kinh nghiệm tương ứng của chúng. Những thứ này dần dần mở lối cho ba tâm thức sâu hơn, vi tế hơn để chúng tự biểu hiện như được diễn tả trong thi kệ tiếp theo (chương bảy). Chương này phác thảo cấu trúc của tâm thức và thân thể tương ứng với Tantra Yoga Tối Thượng. Thi kệ mười hai và mười ba (chương tám) nói về kinh nghiệm lên đỉnh điểm của tâm thức bản nhiên nền tảng của linh quang. Trình độ sâu nhất này của tâm thức là căn bản của tất cả đời sống ý thức.

Bốn thi kệ cuối cùng (chương chín và mười) diễn tả thể trạng trung ấm (sau khi chết và trước kiếp sống mới) và chỉ ra vấn đề phản ứng thế nào với những sự kiện ghê khiếp vốn có thể xảy ra trong thể trạng trung ấm. Chúng chi tiết những trình độ đa dạng của các hành giả có thể mưu cầu để hướng dẫn sự tái sanh của họ.

Cùng với nhau mười bảy thi kệ này trình bày toàn bộ quy trình chuẩn bị cho sự chết bằng việc loại trừ những điều kiện không thuận lợi, đạt được những điều kiện thuận lợi, học hỏi vấn đề dấn thân trong những sự thực tập tâm linh như thế nào trong khi sắp chết, học hỏi vấn đề xử lý thế nào với thể trạng trung ấm giữa những kiếp sống, và việc tác động đến sự tái sanh theo sau.

Thi kệ mở đầu:
Tôn kính Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát

Trước khi thi kệ bắt đầu, Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma trước tiên thực hiện một sự biểu lộ cầu nguyện, một sự tôn kính, đến Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, sự biểu hiện vật lý của tuệ trí của tất cả chư Phật. Tác giả xem Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát không khác với chính vị lạt ma hay vị thầy của ngài. Lý do tại sao ngài tỏ lòng tôn kính đến Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát như sau đây.

Gốc rể của sự chết tốt lành và một thân trung ấm tốt lành giữa những kiếp sống, và ngay cả việc đạt đến Quả Phật trải qua một sự tương tục của các kiếp sống, sự thực tập thành công về linh quang của sự chết. Có hai loại thực tập: từ bi và tuệ trí. Sự thực tập về linh quang trong lúc lâm chung bao gồm trong sự thực tập tuệ trí, do thế nó bao hàm trong những giai đoạn của giáo huấn về quan điểm thậm thâm của tính tương hợp của hiện tướng với tánh không của sự tồn tại cố hữu – sự trao truyền pháp môn này xuất phát từ vị Thầy ân cần của chúng ta Đức Phật Thích Ca qua Đức Bồ tát Văn Thù. (Những giai đoạn của giáo huấn về các động cơ từ bi rộng lớn và những hành vi tương tự được trao truyền từ Đức Phật Thích Ca, nhưng qua Bồ tát Di Lặc và Bồ tát Quán Âm). Do vậy, từ sự thực tập công về sự chết và trung ấm thân giữa những kiếp sống chính yếu quan tâm với nhân tố của tuệ trí, Đệ Nhất Ban Thiền Lạt Ma cầu nguyện với Đức Bồ tát Văn Thù.

Tôn kính Đạo Sư Văn Thù Sư Lợi

Đã tỏ lòng tôn kính đến sự biểu hiện của tuệ trí, ngài bắt đầu thi kệ:

Thi kệ 1:

Con và tất cả chúng sanh trong khắp không gian, không loại trừ ai
Xin quy y cho đến khi Giác Ngộ tối hậu
Với chư Phật, giáo pháp, và cộng đồng tâm linh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
Nguyện cho chúng con được giải thoát khỏi sự khiếp sợ của kiếp sống này, thân trung ấm, và kiếp sống tới.

Trong một thái độ tự cứu, người Phật tử quy y với Đức Phật như một vị Thầy, với giáo pháp của Đức Phật (nói về sự thực chứng và các giáo lý về chúng) như sự quy y thật sự, và với cộng đồng tâm linh (tăng già) như những sự hướng dẫn cho sự quy y ấy. Người Phật tử phát triền niềm tin rằng việc tiếp thu giáo lý có thể cung ứng sự bảo vệ khỏi khổ đau. Người Phật tử xem Ba viên ngọc quý này (Phật, Pháp, Tăng) là sự quy y rốt ráo.

Tìm cầu sự quy y chỉ để làm nhẹ bớt nổi khổ đau của chính mình và thành tựu sự giải thoát khỏi vòng luân hồi không đáp ứng các phẩm chất cho sự quy y vị tha. Nhận thức của ta sẽ không rộng lớn. Thái độ quy y của ta phải nên vì lợi ich của tất cả chúng sanh, vì sự giải thoát cho họ khỏi khổ đau và thành tựu Quả Phật. Ta nên mong cầu Quả Phật toàn giác nhằm để hoàn thành mục tiêu chính yếu – cứu giúp những người khác.

Ta nên quan tâm đến tất cả chúng sanh trong khắp pháp giới, và mưu cầu thành tựu sự Giác Ngộ rốt ráo hay vô thượng, vốn vượt trội hơn các hành giả tập trung một cách nhỏ hẹp bởi vì nó liên hệ đến việc tiêu trừ những chướng ngại không chỉ giải thoát khỏi sanh tử luân hồi mà cũng là đến sự toàn giác. Sự Giác Ngộ rốt ráo, hay niết bàn vô thượng, là vượt khỏi những cực đoan của thiên kiến hoặc là trong phương hướng của chúng sanh bị vướng trong luân hồi của vòng lẫn quẩn sanh, già, bệnh, chết hay niềm an bình thụ động, một thể trạng của giải thoát khỏi vòng đau khổ nhưng không có khả năng toàn vẹn để cứu giúp người khác.

Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma hướng dẫn độc giả của ngài quy y với Đức Phật, giáo pháp của ngài, và cộng đồng tâm linh nhằm để đạt đến sự giác Ngộ tối thượng vì lợi ích của những chúng sanh khác. Đây là gọi là Quy Y Nhân; ta đang tiếp nhận sự quy y Ba Viên Ngọc Quý (tam bảo) vốn thiết lập trong sự tương tục tinh thần của những người khác – đặt niềm tin vững chắc một cách đặc biệt trong sự chấm dứt khổ đau và những thể trạng tâm linh, họ đã thực chứng để chiến thắng khổ đau của họ. Thỉnh cầu những ai sở hữu Ba Viên Ngọc Quý gợi lên lòng từ bi của họ - không phải bằng việc phát sinh nó trong họ mà bằng việc mở lòng chúng ta đến nó.

Bằng việc tiếp nhận quy y nhân, ta đang thực hành giáo pháp được dạy bởi Đức Phật Bổn Sư với cộng đồng tâm linh thực chứng cao độ như kiểu mẫu của chúng ta, chúng ta đang hiện thực hóa con đường tâm linh và nhiều trình độ của chấm dứt khổ đau. Trong cách này, chính ta trở thành một thành viên của cộng đồng tâm linh thực chứng cao độ, dần dần loại trừ tất cả những chướng ngại để giải thoát khỏi vòng luân hồi, và các chướng ngại đối với toàn giác – trở thành một Đức Phật. Chúng ta được thoát khỏi tất  cả những kinh sợ và thành tựu toàn giác, vì thế chúng ta biết được tâm tánh của người khác và thấu hiểu kỷ năng nào sẽ ích lợi cho họ. Vì lợi ích của việc thành tựu một sự Quy Y Quả như vậy, cho nên thi kệ này  thỉnh nguyện ba nguồn gốc nhân của quy y để thỉnh cầu lòng từ bi của Tam Bảo.

Vì quy y là việc khởi  đầu của sự thực hành Phật giáo, cho nên nguyện ước thứ nhất của thi kệ quan tâm đến nó. Không có quy y, thật khó cho những sự thực hành khác thành công được. Tuy nhiên, một thái độ vững tin hoàn toàn trong Tam Bảo tự chính nó thì không đủ. Như Đức Phật đã nói, “Ta dạy các ngươi con đường đến giải thoát. Hãy biết rằng chính sự giải thoát tùy thuộc vào các ngươi.” Đức Phật chỉ là vị thầy của con đường tu tập. Ngài không ban tặng sự thực chứng như như một món quà, ta phải phải thực hành đạo đức, thiền định, và tuệ trí.

Thí dụ, hãy xem việc trì tụng mật ngôn om mani padme hum vốn được thực hành vì mục đích thỉnh cầu lòng từ bi trong chính ta vì tất cả mọi loài chúng sanh. Sau một thời khóa trì tụng – hai mươi mốt, một trăm lẻ tám, và nhiều lần hơn nữa – giá trị của sự thực hành được dâng hiến qua việc trì tụng của một hành giả trong sự nối kết với Bồ tát Quán Thế Âm, vì Ngài là sự biểu hiện thân thể từ bi của tất cả chư Phật.

Qua đạo đức của sự thực hành này,
Nguyện cho tôi nhanh chóng đạt được một thể trạng
Đồng đẳng với Đức Quán Thế Âm
Nhằm để giúp đở tất cả chúng sanh cũng thành tựu được như vậy.

Không thể thành tựu Quả Phật chỉ đơn thuần qua việc trì tụng om mani padme hum, nhưng nếu sự thực hành của chúng ta được kết hợp với lòng vị tha thật sự, thì nó có thể phục vụ như một nguyên nhân của việc thành tựu Quả Phật. Tương tự thế, nếu ta chạm, thấy, hay lắng nghe một đạo sư phẩm chất, thì có thể có một ảnh hưởng tích cực, vốn có thể lợi lạc trong việc phát triển một kinh nghiệm tâm linh sâu sắc hơn. Khi vị giáo thọ trưởng lão của tôi, Ling Rinpochay, và tôi chạm vào trán lúc bắt đầu của một cuộc gặp gở nghi thức hay vào những lúc khác khi tôi nắm tay ngài và chạm nó trên trán tôi, một cách tình cảm thì điều này sẽ cho tôi một cảm nhận thân mật mạnh mẽ liên hệ đến niềm tin và sự tin tưởng lớn hơn. Vào thời Đức Phật, khi người nào đó thật sự tôn kính và yêu mến Ngài thì chạm vào bàn chân ngài, điều này chắc chắn sẽ mang đến một lợi lạc nào đó. Nhưng nếu ai không có niềm tin hay tôn kính Đức Phật thì ngay cả ôm đôi chân Ngài và ấn mạnh vào đầu, chắc chắn sẽ không có sự gia hộ nào. Mặc dù điều gì đó được đòi hỏi từ phía đạo sư, nhưng một cách chính yếu nó đến từ phía của người đệ tử.

Đã có một lạt ma thật sự tuyệt vời đến từ tỉnh Amdo của Tây Tạng, khi được thỉnh cầu ban phước lành bằng việc đặt bàn tay ngài lên đầu của hành giả, thì ngài nói, “Tôi không là một lạt ma có thể ban cho sự giải thoát bằng việc đặt một bàn tay – vốn có bản chất của khổ đau – lên đỉnh đầu của một người.”

TÓM TẮT HƯỚNG DẪN

1-    Động cơ thực hành của chúng ta nên là lợi ích của tất cả chúng sanh – sự tự do của họ khỏi khổ đau và thành tựu sự hoàn hảo. Hãy luôn luôn điều chỉnh động cơ của chúng ta đối với việc giúp đở người khác tối đa như có thể. Tối thiểu cố gắng không làm điều gì tổn hại.
2-    Chư Phật như những vị Thầy của con đường tâm linh, các Ngài không ban tặng sự thực chứng như một món quà. Chúng ta phải thực hành đạo đức, thiền định, và tuệ trí trên căn bản hàng ngày.

Ẩn Tâm Lộ, Friday, August 3, 2018

  
-***-
                                                                                                 



Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

TỈNH THỨC VỀ SỰ CHẾT




Nguyên tác: Awareness of Death
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển


-***-

Giống như khi dệt vải
Ta đi đến kết thúc
Với những sợi chỉ mịn màng xen vào nhau
Đời sống của con người cũng như vậy
-         ĐỨC PHẬT  -

Thật quan trọng để tỉnh thức về sự chết – để quán chiếu rằng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này. Nếu ta không tỉnh thức về sự chết, thì ta sẽ không tận dụng tất cả những thuận lợi của đời sống con người quý giá này mà ta đang có được. Nó trọn vẹn ý nghĩa vì căn cứ trên việc ấy thì những tác động quan trọng có thể được hoàn thành.

Phân tích sự chết không phải để rồi sợ hãi nhưng để trân trọng đời sống quý giá này, mà trong thời gian sinh tồn ta có thể tiến hành nhiều sự thực tập quan trọng. Thay vì khiếp đảm, ta cần quán chiếu rằng khi sự chết đến, thì ta sẽ đánh mất cơ hội tốt đẹp này để thực tập. Trong cung cách quán chiếu này về sự chết, nó sẽ mang đến nhiều năng lượng hơn cho sự thực tập của ta.

Ta cần chấp nhận rằng sự chết đến trong tiến trình bình thường của sự sống. Như Đức Phật đã nói:

Một nơi để ở không bị sự chết chạm đến
Không tồn tại.
Nó không hiện hữu trong không trung, nó không hiện diện trong đại dương.
Nó cũng không có khi ta ở giữa núi non.

Nếu ta chấp nhận rằng sự chết là một phần của sự sống, thế thì khi nó thật sự đến, ta có thể đối diện nó một cách dễ dàng hơn.

Khi người ta biết rõ trong thâm tâm rằng sự chết sẽ đến nhưng lẫn tránh suy nghĩ về nó một cách cố ý, như vậy không thích đáng với hoàn cảnh và đấy là chướng ngại ẩn tàng. Cũng đúng như vậy khi tuổi già không được chấp nhận như một phần của sự sống lại bị coi là không muốn và bị lẫn tránh trong tư tưởng. Điều này đưa đến một tinh thần không được chuẩn bị, thế rồi khi tuổi già xảy đến không thể tránh khỏi, thì rất khó khăn.

Nhiều người già thân thể nhưng tâm hồn luôn luôn trẻ trung. Đôi khi tôi gặp những người bạn lâu năm, chẳng hạn như những nghị sĩ nào đó trong những quốc gia như Hoa Kỳ, tôi chào họ với câu, “My old friend” (Người bạn cũ của tôi), có nghĩa là chúng ta đã biết nhau lâu rồi, không nhất thiết là già.  Nhưng khi tôi nói thế, một số người trong họ [lại nghĩ tôi nói là: “Người bạn già của tôi”], đã sửa sai tôi có tính cách nhấn mạnh, “Chúng ta không già! Chúng ta là những người bạn lâu năm.” Thật sự, họ đã già – với những sợi lông ở lỗ tai, một dấu hiệu của tuổi già – nhưng họ không thoãi mái với cảm nhận tuổi già.

Tôi thường nghĩ về tuổi thọ tối đa của đời sống con người như một trăm tuổi, vốn, so sánh với tuổi thọ của hành tinh, thì rất ngắn. Sự tồn tại ngắn ngủi này nên được  sử dụng trong một cung cách thế nào mà không gây khổ đau cho người khác. Nó nên là một chí nguyện không làm việc tiêu cực, nhưng là những hành động tích cực hơn – tối thiểu không làm tổn hại người khác, hay tạo rắc rối cho họ.  Trong cách này, khoảng thời gian ngắn ngủi của chúng ta như một khách du lịch trên hành tinh này sẽ đầy đủ ý nghĩa. Nếu như một khách du lịch viếng thăm một nơi nào đó trong một thời gian ngắn và tạo thêm rắc rối, thì thật là ngớ ngẩn. Nhưng nếu như một khách du lịch ta làm cho người khác hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi  ấy, như vậy là thông tuệ; khi ta di chuyển đến một nơi khác, ta cảm thấy hạnh phúc. Nếu ta tạo ra các rắc rối, mặc dù tự ta không chạm trán với bất cứ khó khăn nào trong thời gian lưu trú, thì ta sẽ tự hỏi có lợi lạc gì trong sự thăm viếng của ta.

Trong đời sống một trăm năm, phần ban đầu là tuổi ấu thơ và phần cuối cùng là trong tuổi già, thông thường giống như một động vật ăn và ngủ. Đoạn giữa, có thể là sáu mươi hay bảy mươi năm được sử dụng một cách đầy đủ ý nghĩa. Như Đức Phật đã nói:

Phân nửa cuộc đời là giấc ngủ. Mười năm là tuổi thơ. Hai mươi năm mất trong tuổi già. Hai mươi năm tiếp tục là sầu khổ, phiền hà, đau thương, và bối rối chiếm mất nhiều thời gian, và hàng trăm bệnh tật thân thể tàn phá thêm nữa.

Để làm cho cuộc sống đầy đủ ý nghĩa, điều quan trọng là hãy chấp nhận tuổi già và sự chết như những bộ phận của sự sống. Việc cảm thấy rằng sự chết là hầu như không thể xảy ra chỉ tạo thêm tham lam và rắc rối hơn – đôi khi ngay cả cố ý gây tổn hại cho người khác. Khi chúng ta nhìn sâu vào những nhân vật vĩ đại – những hoàng đế, các triều đại, và v.v… - đã xây dựng những cung điện và những thành quách cư ngụ như thế nào, thì chúng ta thấy bên trong tâm hồn họ là một ý tưởng rằng họ sẽ sống trên đời này mãi mãi. Sự tự lừa dối này đưa đến kết quả của nhiều khổ đau hơn và nhiều rắc rối hơn cho nhiều người khác.

Ngay cả đối với những người không tin vào những kiếp sống tương lai, việc quán chiếu vào thực tại là phong phú, hữu ích, khoa học. Bởi vì những con người, các tâm thức và tất cả những thứ khác làm các hiện tượng thay đổi từng thời khắc, điều này mở ra khả năng cho sự phát triển tích cực. Nếu các hoàn cảnh không thay đổi, thì chúng sẽ mãi mãi duy trì bản chất của khổ đau. Một khi chúng ta biết mọi thứ là luôn luôn thay đổi, ngay cả nếu chúng ta đang trải qua một thời điểm vô cùng khó khăn, thì chúng ta có thể tìm thấy sự thoải mái trong việc biết rằng hoàn cảnh sẽ không duy trì trong cách ấy mãi mãi. Vì vậy cho nên, không cần phải thất vọng.

Sự may mắn cũng chẳng phải thường hằng, bởi thế, không lợi ích cho việc dính mắc quá nhiều khi mọi thứ đang diễn tiến tốt đẹp. Một viễn cảnh thường hằng hủy hoại chúng ta. Ngay cả nếu chúng ta chấp nhận rằng có những kiếp sống tương lai, thì hiện tại trở thành sự bận tâm của chúng ta, và tương lai chỉ được xem là việc nhỏ thôi. Điều này làm hỏng một cơ hội tốt khi đời sống của ta được phú cho mọi tiện nghi và thong dong để dấn thân trong những sự thực tập tích cực. Một quan điểm về vô thường sẽ hữu ích.

Việc tỉnh thức tỉnh về vô thường làm ta đi tìm sự luyện tập – thuần hóa tâm thức – nhưng điều này không có nghĩa là hành hạ, hay sự kiểm soát từ bên ngoài. Sự luyện tập không có nghĩa là cấm đoán, đúng hơn, nó có nghĩa là khi có một sự mâu thuẩn giữa những quan tâm dài hạn và ngắn hạn, thì ta hy sinh lợi ích ngắn hạn vì mục tiêu lâu dài. Đây là kỷ luật tự giác, vốn xuất phát từ việc xác định nguyên nhân và hệ quả của nghiệp. Thí dụ, vì mục tiêu làm cho bao tử của tôi trở lại bình thường sau cơn bệnh gần đây, tôi đang tránh thực phẩm chua và thức uống lạnh vốn có vẻ ngon và hấp dẫn. Loại luyện tập hay kỷ luật này có nghĩa là sự bảo vệ. Trong một cung cách tương tự, phản chiếu về sự chết làm ta đi tìm kỷ luật tự giác và tự bảo vệ, chứ không phải là sự hành hạ.

Loài người có mọi tiềm năng để tạo nên những thứ tốt đẹp, nhưng việc sử dụng hoàn toàn nó đỏi hỏi tự do, khai phóng. Chế độ chuyên chế ngăn trở sự tăng trưởng này. Trong một cung cách bổ sung, chủ nghĩa cá nhân có nghĩa là ta không mong đợi điều gì đó từ bên ngoài hay ta đang chờ đợi những mệnh lệnh; đúng hơn, tự chính ta tạo ra sáng kiến. Do thế, Đức Phật thường kêu gọi “sự giải thoát cá nhân”, có nghĩa là sự tự giải thoát, không qua một tổ chức. Mỗi cá nhân phải sáng tạo một tương lai của chính họ. Tự do và chủ nghĩa cá nhân đòi hỏi kỷ luật tự giác. Nếu những thứ này bị lợi dụng vì mục tiêu của các cảm giác phiền não, thì sẽ có những hậu quả tiêu cực. Tự do và kỷ luật tự giác phải làm việc với nhau.

MỞ RỘNG NHẬN THỨC CỦA TA

Theo nhận thức của Phật giáo, mục tiêu tối thượng của tất cả là để đạt được Quả Phật nhằm để có thể cứu giúp vô số chúng sanh; tuy nhiên, một trình độ trung bình của việc thành tựu có thể giải thoát ta khỏi vòng sanh, già, bệnh, chết; một trình độ thấp hơn, nhưng vẫn là một trình độ quý giá của thành tựu là sự cải thiện các kiếp sống tương lai của chúng ta. Từ việc cải thiện dần dần các kiếp sống giải thoát của chúng ta có thể đạt đến được, và căn cứ trên điều này, cuối cùng Quả Phật có thể thành tựu được. Trước tiên, nhận thức của chúng ta mở rộng để bao gồm các kiếp sống tương lai; sau đó qua sự thấu hiểu toàn diện cảnh ngộ của chính mình, thì nhận thức của chúng ta thâm nhập sâu xa để bao gồm tất cả các chu kỳ của khổ đau từ kiếp này đến kiếp khác, được gọi là vòng luân hồi hay samsara. Cuối cùng, sự thấu hiểu này có thể được mở rộng đến những người khác, qua nguyện ước của từ bi mong tất cả chúng sanh được thoát khỏi khổ dau và các nguyên nhân của đau khổ. Lòng từ bi này đưa chúng ta đến nguyện vọng thành tựu Quả Phật.

Chúng ta phải quan tâm với những khía cạnh sâu xa hơn của đời sống vốn ảnh hưởng những kiếp sống tương lai trước khi thấu hiểu toàn bộ bản chất của khổ đau và vòng luân hổi. Sự thấu hiểu này về khổ đau, hóa ra, được đòi hỏi cho sự phát triển toàn diện của lòng từ bi.


NHỮNG BẤT LỢI CỦA VIỆC KHÔNG TỈNH THỨC VỀ SỰ CHẾT

Thật lợi ích để tỉnh thức rằng ta sẽ chết. Tại sao? Nếu ta không tinh thức về sự chết, thì ta sẽ không chánh niệm về sự thực tập, và sẽ chỉ lãng phí đời sống của ta một cách vô nghĩa, không thẩm tra những loại thái độ và hành động nào làm hiện hữu khổ đau và những thứ nào mang đến hạnh phúc.

Nếu ta không chánh niệm rằng chẳng bao lâu ta sẽ chết thì ta sẽ thất bại dưới sự quay cuồng của một cảm nhận sai lầm về vĩnh cửu hay thường hằng “Sau này tôi mới chết, lâu lắm kìa.” Rồi thì, đến lúc ấy, ngay cả ta muốn cố gắng để hoàn thành điều gì đó đáng giá, ta cũng sẽ không có năng lượng. Nhiều người Tây Tạng đi vào tu viện lúc tuổi trẻ và học hỏi những kinh luận về sự thực tập tâm linh, nhưng khi đến lúc để thực hành thật sự, năng lực để làm như vậy dường như vắng bóng. Đây là bởi vì họ không có một sự thấu hiểu chân thật về vô thường.

Nếu, đã tư duy về vấn đề thực tập như thế nào, thì ta sẽ thực hiện một quyết định rằng ta chắc chắn phải làm như thế trong một khóa tu vài tháng hay thậm chí trong nhiều năm, ta đã được động viên bởi kiến thức của ta về vô thường. Nhưng nếu sự cần kíp ấy không được duy trì bởi việc quán chiếu lặp đi lặp lại về những tàn phá cua vô thường thì sự thực tập của ta sẽ đuối dần. Đây là tại sao một số người cứ ẩn tu bao năm dài nhưng kinh nghiệm không ảnh hưởng sâu sắc trên đời sống của họ sau đấy. Việc quán chiếu về vô thường không chỉ động viên cho sự thực tập của ta, nhưng cũng cung cấp năng lượng cho nó.

Nếu ta có một cảm nhận mạnh mẽ về điều chắc chắn của sự chết và việc không biết chắc khi nào nó đến, thì ta sẽ được động viên từ bên trong. Nó sẽ giống như là một người bạn đang cảnh báo, “Hãy cẩn thận, hãy nghiêm túc, một ngày nữa đã qua.”

Thậm chí ta có thể trở thành một tu sĩ. Nếu ta làm như thế, ta sẽ được cho một cái tên mới và quần áo mới. Ta cũng có thể sẽ ít bận rộn hơn; ta sẽ phải thay đổi thái độ, hướng chú ý đến những mục tiêu sâu xa hơn. Tuy nhiên, nếu ta tiếp tục tự bận rộn với những mối quan tâm hời hợt – thức ăn ngon, áo quần đẹp, chỗ ngủ tốt, đối thoại hài lòng, nhiều bạn bè và người quen, và ngay cả tạo ra kẻ thù nếu người nào đó làm việc gì đấy mà ta không thích và rồi thì cải vả và đấu đá – ta sẽ không có gì khá hơn trước khi ta vào tu viện, và có thể ngay cả tệ hơn. Hãy nhớ rằng xa rời khỏi những hành động hời hợt nông cạn này vì ngượng ngùng hay sợ những người đồng tu nghĩ về mình là không đủ, mà sự thay đổi phải đến từ bên trong.
Đây là sự thật cho cả tu sĩ và cư sĩ thực hiện sự tu tập.

Có lẽ ta bị bao vây bởi một cảm nhận về thường hằng vĩnh cửu, bằng việc nghĩ rằng ta sẽ không chết một cách sớm sủa và rằng trong khi vẫn còn sống, thì ta cần thức ăn, áo quần, và những cuộc đối thoại tốt đẹp. Vì những tham muốn cho những ảnh hưởng lạ lùng của hiện tại, ngay cả nếu chúng chỉ có ý nghĩa nhỏ nhoi về sau, thì ta lại sẳn sàng áp dụng mọi loại trơ trẻn, phóng đại và phương chước để có được những gì chúng ta muốn – mượn nợ với lãi xuất cao, nhìn xuống những người bạn, bắt đầu thủ tục tòa án – tất cả vì lợi ích của không gì hơn là những sự dự phòng.

Vì ta đã đam mê đời sống của ta qua những hành vi như thế, nên tiền bạc trở nên hấp dẫn hơn là sự học hành, và ngay cả nếu ta cố gắng để thực tập, thì ta không chú ý nhiều đến nó. Nếu một trang sách bị mất, ta ngập ngừng tìm lại, nhưng nếu tiền bạc rơi xuống đất thì không cần phải hỏi. Nếu ta chạm trán với người thật sự dâng hiến đời sống của họ để thâm nhập sâu sắc hơn với những mục tiêu tâm linh, ta có thể nghĩ tốt về sự tận tụy ấy, nhưng tất cả là thế; trái lại nếu ta thấy ai đó ăn vận áo quần lộng lẫy, phô trương sự giàu sang của họ, thì ta có thể mong ước cho điều ấy, thèm khát, hy vọng được những thứ ấy – với sự dính mắc ngày càng nhiều hơn. Cuối cùng, ta làm mọi việc để được những thứ ấy.

Một khi ta hăm hở trong sự lộng lẫy của kiếp sống này, những cảm xúc phiền não sẽ gia tăng, vốn hóa ra tất yếu sẽ mang đến nhiều hơn những hạt giống xấu. Những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng này chỉ hướng đến rắc rối, làm cho chính ta và những người chung quanh không thoải mái. Thậm chí nếu ta học hỏi tóm tắt vấn đề thực tập như thế nào về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ, thì ta lại đòi hỏi ngày càng nhiều hơn những thứ vật chất và liên hệ ngày càng nhiều với những người khác đến mức độ nơi ta ở, để nói như vậy, việc thực tập những tính hời hợt của kiếp sống này, thường trầm tư trau dồi tham khát bạn bè và thù ghét kẻ thù và cố gắng tìm ra những phương cách để đáp ứng những cảm xúc phiền não này. Ở điểm ấy, ngay cả nếu ta nghe về những thực tập thật sự, lợi lạc, ta có khả năng  cảm thấy, “Vâng, đó là như vậy, nhưng…” Một chữ “nhưng” tiếp theo sau những chữ “nhưng” khác. Thật sự, ta đã trở thành quen thuộc với những cảm xúc phiền não suốt vòng sanh tử luân hồi, nhưng bây giờ ta đã thêm vào chính sự thực tập nông cạn hời hợt này. Điều này làm cho tình cảnh thậm chí tệ hại hơn, đẩy ta ra xa khỏi những gì thật sự hữu ích.

Bị lèo lái bởi những tham muốn ấy, ta sẽ không tìm thấy thoải mái. Ta không làm cho người khác hạnh phúc – và chắc chắn ta cũng vậy. Khi ta trở thành vị kỷ hơn – “cái này của tôi, cái kia của tôi,” thân thể tôi, tài sản của tôi” – bất cứ người nào gây trở ngại, tức thời trở thành một đối tượng của sân hận. Mặc dù, ta có nhiều “bạn bè tôi”  và “thân nhân tôi”, nhưng họ không thể giúp đở gì lúc ta sanh ra hay lúc ta chết; ta đến đây đơn độc, và ta sẽ ra đi đơn côi. Nếu ngày ta chết, một người thân có thể đồng hành cùng ta, thì sự dính mắc sẽ có giá trị, nhưng không thể như vậy. Khi chúng ta tái sanh trong một hoàn cảnh hoàn toàn xa lạ, nếu người thân của ta từ kiếp trước có thể giúp đở được điều gì đó, thì đấy cũng là điều gì đó nên quan tâm đến, nhưng nó cũng không phải vậy. Tuy nhiên, giữa sanh và tử (khoảng thời gian tại thế), trong vài thập niên đó là “bạn bè tôi”, “chị em tôi”, “anh em tôi.” Sự nhấn mạnh không đúng chỗ này hoàn toàn không lợi ích gì cả, ngoại trừ sẽ tạo thêm hoang mang, tham luyến, và thù hận.

Khi những người bạn được làm nổi bật quá mức, thì những kẻ thù cũng bị làm nổi bật quá mức. Khi ta chào đời, ta không biết bất cứ người nào và cũng không ai biết ta. Mặc dù tất cả chúng ta tất cả chúng ta đều bình đẳng trong việc muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, nhưng chúng ta thích đối diện với một số người và nghĩ, “Đây là những người bạn của tôi,” và không thích đối diện với những người khác và nghĩ, “Đây là những kẻ thù của tôi.” Chúng ta gắn vào những bản chất và tên hiệu cho họ và cuối cùng thực tập việc phát sinh những tham muốn cho những người bạn và phát sinh thù hận cho những kẻ thù. Có ý nghĩa gì ở đấy trong điều này? Không. Vấn đề là có quá nhiều năng lượng đang được khuếch trương trong việc quan tâm cho một trình độ không gì sâu xa hơn là những mối quan hệ thiển cận của kiếp sống này. Sự thậm thâm bị thua thiệt với sự tầm thường.

Nếu ta không thực tập và vào ngày ta chết, ta được vây quanh bởi những người bạn và những thân nhân khác liên hệ sinh thời đang thổn thức, thay vì có một người nào đó nhắc nhở ta về sự thực tập đạo đức, thì sự bi thương của họ sẽ chỉ mang đến rắc rối, và ta sẽ mang lấy nó cho chính ta. Sai lầm ở chỗ nào? Do không chánh niệm về vô thường.

NHỮNG THUẬN LỢI CỦA VIỆC CHÁNH NIỆM VỀ VÔ THƯỜNG

Tuy nhiên, nếu ta không đợi đến phút cuối của cuộc đời cho nhận thức rằng ta sẽ chết, và ta sẽ lượng định hoàn cảnh của ta bây giờ một cách thực tế, ta sẽ không bị áp đảo bởi những mục tiêu nông cạn, tạm thời. Ta sẽ không quên lãng những vấn đề quan trọng về lâu dài. Thật tốt đẹp hơn để quyết định ngay từ lúc đầu rằng ta sẽ chết và khám phá điều gì đáng giá. Nếu ta giữ trong tâm ta vấn đề kiếp sống này sẽ biến mất nhanh chóng như thế nào, thì ta sẽ lượng định thời gian và làm những gì có giá trị. Với một cảm nhận mạnh mẽ về sự chết nhất định sẽ đến, thì ta sẽ cảm thấy nhu cầu của việc dấn thân trong sự thực tập tâm linh, việc cải thiện tâm thức chúng ta, và sẽ không lãng phí thời gian của ta trong đủ thứ những việc xao lãng xếp loại từ ăn uống đến việc tán gẫu vô ích không ngừng nghĩ.

Tất cả mọi chúng sanh muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Chúng ta sử dụng nhiều trình độ của kỷ thuật cho việc loại trừ khổ đau không mong muốn trong những hình thức nông cạn và sâu xa của nó, nhưng chính con người đã dấn thân trong kỷ thuật trong buổi đầu của đời sống họ để tránh khổ đau về sau này. Cả những người có và không thực tập tôn giáo đã tìm cầu suốt đời sống của họ để giảm thiểu một số khổ đau và loại trừ những thứ khác, đôi khi ngay cả chịu đựng đau đớn như một phương tiện để chiến thắng nổi khổ lớn hơn và đạt được một mức độ nào đó của hạnh phúc.

Mọi người cố gắng để loại trừ khổ đau nông cạn, nhưng có một loại kỷ thuật khác quan tâm đến việc loại trừ khổ đau ở một trình độ sâu hơn – mục tiêu giảm thiểu tối đa đến chấm dứt khổ đau trong những kiếp sống tương lai và, xa hơn thế, ngay cả loại trừ tất cả mọi hình thức khổ đau của tự thân cũng như cho tất cả chúng sanh. Sự thực tập tâm linh là loại kỷ thuật sâu sắc này.

Những kỷ thuật này liên hệ đến việc điều chỉnh thái độ; vì vậy, sự thực tập tâm linh một cách căn bản có nghĩa là điều chỉnh tư tưởng của ta một cách hợp lý. Trong Sanskrit nó được gọi là dharma, giáo pháp, có nghĩa là, quy luật, phương pháp, “ngăn lại”. Điều này có nghĩa là bằng việc điều chỉnh những thái độ chướng ngại ẩn tàng, thì chúng ta được giải thoát khỏi một trình độ của khổ đau, và vì vậy được ngăn lại khỏi một sự khổ đau nào đó. Sự thực tập tâm linh bảo vệ, hay ngăn lại, chính ta và những người khác khỏi khổ đau.

Từ việc trước tiên thấu hiểu hoàn cảnh của chính ta trong vòng luân hồi và tìm cầu để ngăn lại chính ta khỏi khổ đau, chúng ta mở rộng việc nhận thức rõ của mình đến những chúng sanh khác và phát triển lòng từ bi, vốn có nghĩa là tự cống hiến để ngăn lại khổ đau của người khác. Nó có ý nghĩa thực tiển cho ta, chỉ là một chúng sanh, chọn lựa cho việc bảo trọng những người khác, nhưng cũng là, bằng việc tập trung vào lợi ích của những người khác, tự chính ta sẽ hạnh phúc hơn. Lòng từ bi làm giảm sự sợ hãi về nổi đau của chính ta và gia tăng sức mạnh nội tại. Nó cho ta một cảm giác truyền lực, của việc có thể hoàn thành nhiệm vụ của ta. Nó giúp sức cho sự hăng hái.

Để tôi cho quý vị một thí dụ. Mới đây, khi tôi ở Bồ Đề Đạo Tràng, tôi bị nhiễm trùng đường ruột mãn tính. Trên đường đến nhà thương, cơn đau ở bụng tôi trở nên nghiêm trọng, và tôi đổ mồ hôi rất nhiều. Chiếc xe đang đi ngang vùng núi Linh Thứu (nơi Đức Phật giảng kinh), nơi những dân làng cực kỳ nghèo khó. Trong tổng quát, bang Bihar thì nghèo, nhưng đặc biệt vùng ấy thậm chí nghèo hơn . Vì vậy tôi ngay cả không thấy trẻ con đến trường hay đi học. Chỉ sự nghèo cùng. Và bệnh tật, tôi có một ký ức rõ ràng về một bé trai bại liệt có những thanh kim  loại bạc màu trên đôi chân và đôi nạng kim loại tận nách. Rõ ràng không ai săn sóc cậu bé. Tôi rất xúc động. Một lát sau, có một ông già ở chỗ bán trà, chỉ có một mãnh vải dơ bẩn trên thân, té xuống đất, nằm ở đấy mà không ai quan tâm.

Sau này, ở bệnh viện, tư tưởng của tôi cứ vơ vẫn về những gì tôi đã thấy, quán chiếu vấn đề buồn thảm thế nào khi ở đây có những người săn sóc cho tôi nhưng những người nghèo khổ ấy không ai để ý. Đó là chỗ mà tư tưởng của tôi đã diễn biến, thay vì với sự đau khổ của chính tôi. Mặc dù mồ hôi đang đổ ra khắp thân thể tôi, nhưng sự quan tâm của tôi ở nơi khác.

Trong cách này, mặc dù thân thể của tôi đang chịu đựng nhiều đau đớn (một cái lỗ đã thủng trong thành ruột của tôi) làm giấc ngủ khó khăn, nhưng tâm thức của tôi đã không bị bất cứ sự sợ hãi hay không thoải mái nào. Hoàn cảnh chỉ có thể tệ hại hơn nếu tôi đã tập trung vào các rắc rối của chính tôi. Đây là một thí dụ từ một kinh nghiệm nhỏ của tôi về vấn đề một thái độ từ bi đã hổ trợ ngay cả tự thân, nén lại một mức độ nào đó của nổi đau thân thể và tránh xa nổi đau tinh thần, mặc dù thực tế người khác có thể không hổ trợ trực tiếp.

Lòng từ bi làm cho mạnh thêm quan điểm của ta, và với sự can đảm ấy chúng ta thư thái hơn. Khi nhận thức của ta bao gồm nổi đau khổ của các chúng sanh, thì nổi khổ đau của riêng ta tương đối nhỏ.

Ẩn Tâm  Lộ
Wednesday, August 1, 2018

 -***-



Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (13)




Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

HỎI VÀ ĐÁP

HỎI: Ngài nghĩ mục tiêu thật sự của đời sống là gì, và đó là khi một người đi theo con đường tâm linh và hoạt động xã hội thành tựu hạnh phúc lớn nhất?
ĐÁP: Mục tiêu của đời sống? Tôi nghĩ đó là một câu hỏi huyền bí thì thích hợp hơn. Tôi nghĩ có những câu trả lời khác nhau phù hợp với những khái niệm triết lý khác nhau. Nếu quý vị tin tưởng tôn giáo có khái niệm về Thượng Đế hay đấng tạo hóa, thế thì tôi nghĩ quý vị nên hỏi Thượng Đế về mục tiêu của đời sống chúng ta là gì.

Và theo những tôn giáo vô thần như Phật giáo, Kỳ Na giáo, cũng như một bộ phận của phái Số Luận, vốn không có khái niệm về đấng tạo hóa nhưng là sự tự sáng tạo, có luật nhân quả, rất giống với thuyết Darwin. Ba tôn giáo vô thần này phát triển chỉ ở xứ sở này – không ở nơi khác. Do vậy, tôi tin tưởng mục tiêu của đời sống là hạnh phúc. Lý do đơn giản – không có gì bảo đảm cho một tương lai tốt đẹp, nhưng chúng ta sống trong hy vọng, chúng ta hy vọng cho những gì tốt lành. Nếu một người nào đó hoàn toàn mất hy vọng, thế thì chính thái độ ấy làm ngắn lại tuổi thọ của chúng ta, và trong trường hợp tệ hại nhất, quý vị có thể đi đến tự sát. Do vậy, chúng ta sống còn trên căn bản của hy vọng – điều gì đó tốt lành. Cho nên tôi có thể nói mục tiêu của đời sống chúng ta là để sống một đời sống hạnh phúc.

Tính chất tinh thần – đời sống tâm linh – như tôi đề cập trước đây, có thể sống trong hai trình độ. Một là trình độ thế tục, không có đức tin tôn giáo. Trong phạm vi thế nhất của đạo đức luân lý, không đụng chạm gì đến tôn giáo, đời sống tinh thần có nghĩa là săn sóc niềm hòa bình tinh thần của chúng ta. Đó là một trình độ tâm linh. Thế nên một cách tự nhiên, tài sản, tiền bạc hay nhẫn kim cương sẽ không mang đến niềm hòa bình nội tại của chúng ta, chỉ là ảo tưởng mà chúng ta cảm nhận, “Tôi giàu sang, tôi hạnh phúc.” Nhưng nếu chúng ta hôn chiếc nhẫn của ta, chiếc nhẫn ấy không có khả năng trả lời tình cảm của chúng ta. Những con chó, con mèo, nếu chúng ta biểu lộ sự ân cần, tình cảm – chúng thậm chí có khả năng để đáp lại tình cảm của chúng ta. Cho nên đời sống căn cứ trên giá trị vật chất, vốn không có năng lực để cho chúng ta tình cảm, chỉ là ảo tưởng.

Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn. Vì vậy, nói về những giá trị nội tại này là tính chất tinh thần - tâm linh. Không nói về kiếp sống tới, không nói về niết bàn, giải thoát, thiên đàng, Thượng đế, đấng tạo hóa, không. Một cách đơn giản, sống một đời sống hạnh phúc với niềm hòa bình nội như thế nào – đó là lối sống tinh thần – tâm linh. Tôi thích thế đó.

HỎI: Theo ngài, những giá trị quan trọng nhất là gì có thể gây ấn tượng sâu đậm đến bất cứ người nào, và làm thế nào chúng ta đạt được? Chúng ta đã nói về giáo dục. Những giá trị quan trọng khác nào chúng ta có thể tác động trong chính chúng ta?

ĐÁP: Một cách căn bản chúng ta là những tạo vật xã hội. Mỗi thành viên, tương lai và sự tồn tại của họ phụ thuộc vào cộng đồng. Chúng ta như những con ong, hay kiến, vốn không có tôn giáo, không hiến pháp, không tổ chức chính quyền, không lực lượng cảnh sát, nhưng chúng làm việc với nhau, đơn giản do bởi sự thúc đẩy sinh học để sống còn. Vậy thì chúng ta cũng là những tạo vật xã hội. Bất chấp nếu một con người đơn độc là rất năng lực, nhưng đời sống của người ấy, sự tồn tại căn bản, lệ thuộc vào toàn thể cộng đồng. Đây là một sự thật.

Và chúng ta phải có một nối kết gần gũi với cộng đồng như căn bản của tương lai chính ta. Vì một đời sống hạnh phúc, chúng ta cần có một sự quan tâm cho sự cát tường của người khác. Cảm nhận quan tâm ấy vốn thật sự mang lại kết hợp mà tôi thường gọi là thái độ tình cảm. Vậy nên, quý vị thấy, chúng ta cần một cảm nhận cộng đồng hay thuộc về nhau. Đó là nguồn gốc căn bản của tình cảm chúng ta. Và đó là một nhân tố then chốt cho việc là một tạo vật xã hội, cho nên tôi thường nói về nó.

Dĩ nhiên niềm tin tôn giáo là chuyện cá nhân. Nhưng toàn thể loài người cần loại cảm nhận cát tường ấy của cộng đồng. Tôi nghĩ, thời xưa, mỗi xứ sở hay cộng đồng không ít thì nhiều là độc lập. Ngày nay, tương xứng với những vấn đề kinh tế và môi trường và nhiều nhân tố khác, toàn thể gần 7 tỉ người trở thành chỉ một gia đình nhân loại, một cộng đồng. Ngày nay, không chỉ những quốc gia nhưng thậm chí các lục địa là liên hệ hổ tương một cách sâu đậm.

Theo thực tế ấy, chúng ta phải có khái niệm của “toàn thể thế giới là một bộ phận của tôi.” Khái niệm của thế kỷ-cũ là “chúng ta và họ.” Nhưng khái niệm ấy đã phân biệt “chúng ta” với “họ”, và trên căn bản ấy, có bóc lột, tổn hại, ngay cả chiến tranh. Trong thực tế ngày nay, mỗi người là một bộ phận của bạn, một bộ phận của tôi, một bộ phận của một ‘chúng ta’ vĩ đại. Cho nên khái niệm chiến tranh là lỗi thời. Miễn là chúng ta có một cảm nhận chân thành về ý tưởng cho sự cát tường của người khác, thì không có khái niệm của giết hại, không có khái niệm về trộm cắp, không có cơ sở cho ngược đãi, ngược đãi tình dục hay hãm hiếp, hay nói láo hay lường gạt. Cho đến khi chúng ta vẫn có một cảm nhận quan tâm cho sự cát tường của người khác, thì tất cả những hành vi tiêu cực của thân thể và lời nói sẽ không ảnh hưởng chúng ta – không có chỗ cho những hành vi tiêu cực này. Cho nên tôi cảm thấy, cho dù một người có tin tưởng những giá trị sâu sắc nào đó hay không, nhưng ở trình độ thực tập nếu người ấy tuân theo những sự thực tập vì tỉnh thức, thì người ấy sẽ trở thành một người thật sự nhạy cảm và qua cách đó người ấy có thể xây dựng một thế giới hạnh phúc hơn. Đây là nền tảng tin tưởng của tôi.

HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, ngài nói về hòa bình và phúc lợi xã hội. Câu hỏi của tôi là, chủ nghĩa tư bản liên hệ với phúc lợi xã hội như thế nào, và chủ nghĩa tư bản đóng vai trò gì đặc biệt sau sự suy thoái toàn cầu?

ĐÁP: Đó là một câu hỏi khó. Bạn nên nghiên cứu. Một cách cá nhân, trong năm 1954 – 55, tôi đã ở Bắc Kinh vài tháng, học hỏi chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội. Tôi đã rất thích thú với nền kinh tế Mác xít. Nó nhấn mạnh về sự phân phối
bình đẳng, vậy đó là một luân lý đạo đức đúng đắn; trái lại chủ nghĩa tư bản chỉ đơn giản nói về tăng trưởng lợi lộc. Do thế vào lúc đó, tôi đã nói với giới cầm quyền Cộng sản Trung Hoa rằng tôi muốn tham gia Đảng Cộng sản Trung Hoa. Ngay cả bây giờ, như những lý thuyết kinh tế - xã hội được quan tâm, thì tôi là một người Mác-xít. Không công khai, không bí mật – tôi luôn luôn rõ ràng về điều này.

Nhưng rồi thì, bây giờ ở Trung Hoa, dĩ nhiên, chủ nghĩa xã hội Mác xít chân thật không còn nữa. Ngày nay, giống như Đảng Cộng sản Trung Hoa không có lý tưởng cộng sản. Nó là chủ nghĩa cộng sản-tư bản – điều gì đó rất mới. Tôi đang tự hỏi, các đảng cộng sản Ấn Độ. Tôi nghe nói rằng một số lãnh tụ của những người cộng sản hay Mác-xít có một lối sống rất trưởng giả trong đời sống cá nhân của họ.

Do vậy, như lý tưởng xã hội chủ nghĩa chú ý đến những quan tâm của đại đa số quần chúng, kể cả giai cấp thợ thuyền, những người nghèo khó; điều này là rất đúng. Tuy nhiên, trước khi mọi thứ tha đổi, cả Trung Hoa và Liên Xô trước đây, trong lãnh vực kinh tế, đã là những quốc gia ở trong tình trạng trì trệ. Cho nên những sức mạnh năng động như chủ nghĩa tư bản cũng cần thiết. Tôi nghĩ giải pháp tốt nhất là một loại điều chỉnh nào đó – tôi không biết. Khi những quốc gia Đông Âu mới mẻ được độc lập, ngay sau sự sụp đổ của Liên Xô, tôi đã viếng thăm
Czechoslovakia theo lời mời của Tổng thống Havel lúc ấy – gần như là người khách ngoại quốc đầu tiên đến quốc gia ấy. Tôi đã nói vào lúc ấy, như tôi phát biểu bây giờ, rằng những quốc gia Đông Âu này nên nghiên cứu thêm và đưa ra một hệ thống chính trị tổng hợp mới, lấy điều gì đó từ chủ nghĩa xã hội và điều gì đó từ chủ nghĩa tư bản. Nhưng không ai tiếp nhận lời đề nghị một cách nghiêm túc; và những quốc gia này cũng đi theo hệ thống tư bản chủ nghĩa phương Tây bây giờ. Vì thế tôi không biết. Đó là quan điểm của tôi, nhưng tôi không có một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi của bạn. Hãy nghiên cứu hơn nữa là cần thiết trong sự quan tâm ấy.

HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, thật là danh dự lớn khi ngài hiện diện ở đây. Câu hỏi tôi là, trong một thế giới nhìn vào bên trong những thứ gá ghép kỷ thuật và mạng lưới xã hội, ngài nghĩ vai trò nào của nghệ thuật, văn hóa, và âm nhạc?

ĐÁP: Thật sự, tất cả những gì tôi nói là một bộ phận của văn hóa hòa bình và bất bạo động. Cũng thế, tôi nghĩ rằng, cung cách nghệ thuật – họa vẽ hay âm nhạc hay những bản nhạc nào đó – có thể mang một thông điệp nào đó và là trung gian rất năng lực.

Tôi không nghĩ con người đang đánh mất hấp dẫn trong văn hóa. Chỉ sau buổi thuyết giảng sáng, một người phóng viên Ấn Độ đã hỏi tôi về môn bóng chày  (cricket): “Ai sẽ thắng cúp thế giới?” Vậy thì người ta đang xem những thứ thể thao này. Và rồi những loại âm nhạc khác nhau – tôi nghĩ hàng triệu người thật sự đang biểu lộ sự hấp dẫn trong đó. Chính tôi không có thích thú gì; tôi không thích thú trong âm nhạc; tôi không thích thú trong bất cứ môn thể thao nào. Dĩ nhiên, khi còn trẻ, tôi chơi bóng bàn hay vũ cầu, nhưng bây giờ không còn nữa. (Cười) Dĩ nhiên, những thứ này, tôi cảm thấy, là một bộ phận quan trọng trong đời sống của chúng ta. Và trong lúc đó, tôi cũng có cảm giác rằng nếu chúng ta nếu chúng ta quá lệ thuộc vào việc hài lòng với âm nhạc hay biểu diễn, thì chúng ta đang lãng phí những năng lực nội tại của chúng ta. Chúng ta rốt cuộc bị lệ thuộc sâu nặng vào những nhân tố bên ngoài cho niềm hòa bình bên trong. Nếu quý vị làm như vậy, rồi thì quý vị chỉ vui vẻ cho đến khi nào âm nhạc hay hình ảnh hiện diện, và khi những thứ này không còn hiện hữu chung quanh thì chúng ta cảm thấy trống vắng và chán nản.

Trái lại, niềm hòa bình nội tại đạt được không lệ thuộc vào những kinh nghiệm cảm giác mà hoàn toàn sử dụng năng lực tinh thần, vì thế cho dù có một tiện nghi bên ngoài hay không, chúng ta sẽ luôn luôn hòa bình và hạnh phúc. Đó là những gì tôi cảm nhận. Đây là tại sao những người sống đơn độc tại những nơi vắng vẻ xa xôi lại vẫn có thể cảm thấy rất hạnh phúc – không có âm nhạc, không tv, không gì cả nhưng qua sự thiền tập nội tại hay những sự thực tập khác để có niềm hòa bình nội tại mênh mang. Ngày, đêm, và tháng trôi qua như thế ấy. Dĩ nhiên, tiện nghi bên ngoài là rất tốt, nhưng quá lệ thuộc vào những thứ này là không tốt. Đây là điều mà tôi cảm thấy.
                                                             
HỎI: Chào buổi trưa thưa Đức Thánh Thiện. Trong thế giới ngày nay của toàn cầu hóa và tiến bộ kỷ thuật, có phải lớp trẻ Ấn Độ nên đi theo và hoàn toàn nương dựa vào những truyền thống Ấn Độ như được ngài đề cập, như việc học hỏi những trường ca Mahabharata và Ramayana, và chúng tôi nên phối hợp những triết lý tốt nhất của phương Tây và các triết lý Ấn Độ nhằm để lớn mạnh và phát triển chứ?
                                                                              
ĐÁP: Tôi có viễn tượng rằng kỷ thuật – bây giờ phổ quát – vốn đến từ phương  Tây. Kỷ thuật cung cấp cho chúng ta sự thoải mái vật chất. Ấn Độ cũng cần những thứ ấy, đặc biệt ở những vùng xa xôi. Tôi luôn luôn có cảm nhận mạnh mẽ rằng sự chuyển hóa thật sự của Ấn Độ phải xảy ra ở nông thôn Ấn Độ; không phải ở những công  trình xây dựng nào đó, các hảng xưởng nào đó, và những tiện nghi hiện đại nào đó ở Bombay, Hyderbad, Allahabad, hay Bangalore. Dĩ nhiên những nơi này là quan tâm quốc gia, là quan trọng; nhưng sự thay  đổi thật sự phải xảy ra ở những vùng nông thôn xa xôi. Điều đó là rất, rất quan trọng.

Mới đây tôi đã ở Jaipur, gần Jaipur – tại trường Barefoot College. Ở tại trường college ấy, những dân làng già mù chữ - chủ yếu là những bà mẹ - tập luyện về việc làm năng lượng mặt trời và những thứ như vậy. Những thứ này thật là tuyệt vời. Rồi thì cũng thế gần Nagpur, nhiều năm trước, tôi đã thăm viếng Tiến sĩ Ramdev. Cũng vậy, trong một vài trường hợp, tôi đã thăm viếng những vùng thôn dã xa xôi ở Kerala và Gujarat. Tôi nghĩ  một số ít người thật sự làm việc ở nông thôn – trong giáo dục và trong một số việc thủ công – đang làm một thứ gì đó thật rất cần thiết. Do bởi chúng, Ấn Độ cũng tiếp nhận lợi ích từ việc phát triển lớn hơn trong lãnh vực kỷ thuật. Hệ thống trang trại phải cơ giới hóa, bằng khác đi thì thật khó để nuôi dưỡng mọi người. Dân số đang gia tăng, nhưng đất đai không thể mở rộng.

Trong lúc đó, như tôi đã đề cập trước, nền văn hóa Ấn Độ là ngang hàng với nền văn minh Ai Cập và Trung Hoa – so sánh một cách lý thuyết về nguồn gốc ba nền văn minh này, tôi nghĩ nền văn minh Ấn Độ có những quan điểm triết lý phức tạp hơn về tâm thức. Cho nên đây là kho tàng không chỉ của Ấn Độ mà của cả thế giới, và phải được bảo tồn. Sự phát triển vật chất, vốn cho chúng ta những thoải mái vật chất, và sự phát triển tâm linh, vốn cung cấp cho chúng ta sự thoải mái tinh thần – hai thứ này phải được phối hợp. Do thế, các bạn phải phối hợp kỷ thuật phương Tây và giáo dục hiện đại cũng như bảo tồn những giá trị truyền thống hàng nghìn năm của quý vị. Quý vị có một vai trò đặc biệt và một trách nhiệm đặc biệt. Bất cứ cách nào tôi có thể phụng sự quý vị - tuy nhiên tôi có thể hổ trợ quý vị như một học trò của đạo sư quý vị - đó là bổn phận của tôi. Bất cứ cách nào.

HỎI: Thế giới mới đây đã thấy một sự sở hữu toàn cầu thâu tóm trong tay của một ít nhà thương gia tham lam. Tuệ trí cổ truyền làm thế nào hổ trợ để vượt thắng khuyết điểm này trong những lãnh đạo thương mãi hiện tại và tương lai?

ĐÁP: Những thương gia cũng đến từ xã hội. Nếu chúng ta xây dựng một xã hội vốn chỉ nói đến những giá trị vật chất, thì những người đến từ xã hội đặc thù ấy tự nhiên sẽ chỉ nói về những thứ vật chất. Do vậy, chúng ta cần một sự thay đổi nào đó trong cấp độ nền tảng. Bây giờ ở phương Tây, một số nhà giáo dục đang thật sự đặt vấn đề về sự tồn tại của hệ thống giáo dục. Một vài thập niên trước, số người tôi chú ý trong những thương gia cho thấy một sự quan tâm về tâm linh hay sự hòa bình nội tại và rất thấp. Bây giờ ngày càng có nhiều người trong giới thương gia làm như vậy. Và đôi khi họ tổ chức những buổi nói chuyện của tôi về các giá trị nội tại.

Tôi nghĩ một số công ty lớn của Ấn Độ bây giờ cũng đi theo xu hướng này. Điều đó cũng rất tốt. Mỗi người không thể là  một thương gia, nhưng cùng lúc, chúng ta không nên quên về căn bản cát tường của xã hội. Và đặc biệt, tôi hy vọng, chúng ta hãy chú ý hơn về hệ thống giáo dục và những điều kiện kinh tế ở vùng nông thôn. Tôi nghĩ truyền thông cũng có trách nhiệm cung cấp tin tức cho mọi người không chỉ về các giá trị tiền bạc mà về những giá trị khác nữa, vì thế những thương gia này thỉnh thoảng được nhắc nhở rằng họ cũng phải bệnh, phải già, và rồi cuối cùng họ phải ra đi. Bất chấp nhà tỉ phú lớn như thế nào đi nữa, thì tiền bạc của họ sẽ vẫn ở ngân hàng. Họ không thể mang nó đi theo họ - chỉ tâm thức họ mà thôi.

Do vậy, hãy giáo dục, hãy nhắc nhở mọi người, hãy rèn luyện những nhà truyền thông. Những hệ thống giáo dục của chúng ta nên bắt đầu hướng dẫn chúng ta về đạo đức thế tục từ nhà trẻ cho đến trình độ đại học. Rồi thì, tôi nghĩ, cuối thế kỷ 21, cung cách suy nghĩ của con người có thể thay đổi.

Trích từ bài Ancient Wisdom and Modern Thougth
của quyền The Big Book of Happiness
Ẩn Tâm Lộ, Tuesday, March 20, 2018

HỎI VÀ ĐÁP

HỎI: Có phải là tha thứ là quan trọng hơn trừng phạt hay không? Ngài đã đề cập trong bài giảng là nếu lớp trẻ không thể hiện bổn phận của họ một cách đúng đắn, thế thì ngài sẽ trừng phạt họ ngay cả sau khi ngài lên thiên đàng. Trong ánh sáng trí tuệ của lời tuyên bố này, có phải tha thứ là quan trọng hơn trừng phạt hay không?

ĐÁP: Tha thứ có nghĩa là mặc dù một việc làm sai lầm nào đó, quý vị sẽ không chấp giữ một cảm nhận xấu hay oán hận. Thay vì thế, quý vị nên có một cảm nhận chân thành quan tâm cho những ai đã làm sai. Điều đó, tôi nghĩ, là tha thứ. Trong lúc đó, cũng từ một cảm nhận chân thành quan tâm cho tương lai của họ, một sự trừng phạt nào đó có thể có kết quả tốt. Thí dụ, khi người Tây Tạng bị tra tấn, chúng tôi phát triển một sự quan tâm cho tương lai của những  người tra tấn họ. Theo khái niệm của nghiệp báo tâm linh, những ai đã tích tập nghiệp xấu sẽ đối diện những hậu quả cay đắng trong đời sống của họ. Mặc dù chúng tôi đối kháng lại sự kiểm soát của họ, nhưng về tinh thần chúng tôi vẫn thương cảm bi mẫn cho họ. Đó là sự thực hành của tha thứ.

HỎI: Tôi là một bác sĩ. Tôi làm mọi thứ để làm cho tôi là một con người tốt lành thể hiện như có lòng bi mẫn thương cảm và không quên lãng nhiệm vụ của tôi. Tôi an bình với chính tôi. Nếu tôi nhờ đến tâm linh trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tôi thì việc đó có giúp tôi phát huy không? Nó có làm tinh thần tôi nâng cao hơn xa hơn không?

ĐÁP: Vâng, trong lãnh vực chuyên môn y tế thì ông nên làm bổn phận của ông với kiến thức và quan tâm chân thành cho sự cát tường của bệnh nhân của ông. Hành động lệ thuộc vào động cơ trên những cấp độ tinh thần, thân thể, và lời nói – nếu động cơ là tích cực, thì tất cả mọi cấp độ sẽ trở thành tích cực. Tôi nghĩ chí nguyện thứ nhất của tôi là để thúc đẩy giá trị nhân bản và đạo đức thế tục. Chủ nghĩa thế tục có nghĩa là chú ý tôn trọng đến tất cả mọi truyền thống và cũng đến tất cả những người không có tín ngưỡng. Một lần nọ, L. K. Advani đã nói với tôi rằng truyền thống nghìn năm được diễn tả bởi Charvaka phủ nhận Thượng đế và giáo pháp, nhưng tin trong sự tồn tại của thực tại. Tất cả những nhà tư tưởng tâm linh khác phê phán quan điểm ấy, nhưng vẫn xem ông như một hiền nhân (rishi). Đó là một dấu hiệu rõ ràng của sự tôn trọng. Tôi tin tưởng rằng bảy tỉ người không thể tất cả đều bình đẳng nghiêm túc về tâm linh. Đối với sự quan tâm cá nhân, đạo đức luân lý cá nhân hay giá trị nội tại, chúng ta phải gây ấn tượng sâu sắc với họ - đó là vì lợi ích của chính họ. Từ ái, bi mẫn, và tha thứ có nghĩa là được thực tập bởi cả những người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Một người cần duy trì sự trung thực, duy trì sự trung thực là một bộ phận tâm  linh.

HỎI: Thân thể là độc lập, tâm thức cũng vậy. Khi thân thể tàn hoại, tâm thức cũng bị tàn hoại cùng với thân thể chứ? Nếu không, thì nó đi đâu?

ĐÁP: Quá khứ hàng nghìn năm qua, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên chủ đề ấy, và nhiều câu trả  lời đã được đưa ra. Bây giờ, đối với những ai tin tưởng Thượng đế là đấng tạo hóa, thì họ tin rằng tâm linh duy trì sau khi chết cho sự phán xét cuối cùng (cho dù người ấy xuống địa ngục hay lên thiên đàng). Tôn giáo Ấn Độ - kể cả phái Số Luận – là một hệ thống tư tưởng tin rằng Brahma là đấng tạo hóa. Họ cũng tin tái sanh và nghiệp. Tín đồ Phật giáo và  Kỳ na giáo không tin trong đấng tạo  hóa, bắt đầu hay kết thúc.

Hầu hết mọi tôn giáo ngoại trừ Phật giáo tin vào “bản ngã” (atma), vốn giống như linh thức (ghost) tồn tại ngay cả sau khi chức năng thân thể và tâm thức chấm dứt tồn tại. Phật giáo tin rằng trong một phức hợp của thân thể và tâm thức, và nhiều cấp độ khác nhau của mỗi thứ. Sau khi chết, ngay khi trái tim ngừng đập, trong một thời điểm ngắn não bộ ngừng hoạt động, nhưng một cấp độ của thân thể và cấp độ khác của tâm thức không ngừng hoạt động. Trình độ sâu xa nhất của tâm thức tồn tại ngay cả sau  chết. Tôi biết một vài trường hợp, thân thể vẫn tươi nhuận nhiều tuần sau khi chết. Các nhà khoa học hiện đại không có câu trả lời nào cho điều này. Sau ba mươi  năm thảo luận với những nhà khoa học, một số trong họ cho thấy sự thích thú trong chủ đề này và đang thí nghiệm. Sự giải thích của Phật giáo về trình độ sâu xa nhất của tâm thức và sự giải thích của Ấn giáo của bản ngã là rất giống nhau.

HỎI: Ngài đã đề cập một cách trung thực. Mọi người cho rằng trung thực, nhưng có sự định nghĩa riêng của họ. Theo ngài thì ngày nay định nghĩa về trung thực là gì?

ĐÁP:  Tâm thức con người rất phức tạp. Vì thế nó đưa ra nhưng sự diễn giải khác nhau về luân lý đạo đức. Người ta có xu hướng trung thực hơn khi đối diện với mèo và chó, vì nếu họ biểu lộ chân thành thật thà, rồi thì cảm nhận tình cảm được trao đổi lẫn nhau. Giàu sang hay nghèo khó, học vấn hay không, mọi người đều cần trung thực.

Triết lý Ấn Độ về tâm thức, theo Pali hay truyền thống Na Lan Đà là rất phong phú. Nếu một người là chân thật và trong sáng trong ý định của họ và tôn trọng người khác, thế thì sẽ không có chỗ trong tâm cho những tư tưởng như gian lận và lừa dối. Cội nguồn của chân thật là từ ái và bi mẫn. Một cấp độ của từ ái là sinh học, như tình yêu của bà mẹ, vốn là định kiến. Nhưng từ ái và bi mẫn nên được chia sẻ trong tất cả mọi người, ngay cả với kẻ thù của ta. Bất cứ hành động nào mang đến sự tin tưởng là trung thực.

HỎI: Có phải thái độ của con người là chúng ta không mãn nguyện với những gì chúng ta đã thành đạt trong đời sống. Điều này đưa đến việc xâm phạm đến những quyền của người khác và tạo nên sự bất hòa trong xã hội. Theo ngài thì chúng ta nên làm gì để duy trì sự toại nguyện và mang đến hòa bình và hòa hiệp trong xã hội?

ĐÁP: Câu trả lời của tôi cho câu hỏi này là đạo đức thế tục. Giá trị vật chất có giới hạn, như một con người chỉ tham khát cho tự thân về nó, nhưng chỉ chạm trán với sự không thỏa mãn. Có một câu chuyện về một vị vua muốn thêm nữa. Nhưng mọi thứ liên hệ đến tâm thức, như kiến thức, không có giới hạn. Sau khi kinh tế toàn cầu sụp đổ, một người bạn kinh tế gia đã nói với tôi rằng không ai muốn bất cứ khủng hoảng nào, nhưng khủng hoảng cuối cùng là sự tự tạo của chúng. Lý do, ông nói là sự tham lam – loại tham lam đã làm người ta mù quáng. Tất cả là sự đầu cơ đã tạo ra những hoàn cảnh như vậy, không có ý nghĩa của thực tế. Cho nên toại nguyện đến từ một sự tiếp cận thực tiển. Nếu người ta nghĩ rằng đã có đủ mọi thứ, thế thì thái độ tinh thần của người ấy sẽ cho người ấy một tâm thức tĩnh lặng.

Tôi đã đùa với các người bạn thương gia của tôi rằng họ là những nô lệ của tiền bạc. Ở Moscow, Nga, một thương gia đã nói với tôi rằng ông muốn đến Los Angeles, USA, và trở lại Moscow trong chính ngày ấy – và tôi đã nghĩ, du hành quá nhiều, chỉ vì lợi nhuận? Lợi nhuận không lợi lạc về tinh thần hay vật chất cho con người. Nhưng ở trình độ quốc gia, những ưu tiên thay đổi. Có nhiều người nghèo ở Ấn Độ. Ngay cả những bệnh tật như chứng bại liệt được diệt trừ tận gốc rể (như tôi thấy trên đài BBC) nhưng những tiện nghi y tế vẫn nghèo nàn. Ấn Độ vẫn cần phát triển. Tôi đã dự một buổi hội họp nơi tôi đã nhận ra rằng có rất ít người nghĩ về tương lai. Họ nên ngưỡng mộ những lãnh tụ vĩ đại của Ấn Độ như Nehru và Gandhi những người đã bắt đầu với xu hướng bất bạo động cho sự tốt đẹp của mọi người.

HỎI: Ở Bhutan, người ta có một thống kê – tổng hạnh phúc quốc gia – đó là thống kê của sức khỏe và kinh tế của dân số. Ngài có muốn đề nghị nó đến những nhà chính trị đang ngồi kế bên ngài để thực hiện việc này như một thống kê cho Ấn Độ không?

ĐÁP: Thật rất dễ dàng đề nghị việc này, nhưng cho một sự phát triển thật sự thì nhiều việc cần đến, một cách chính yếu trong lãnh vực của giáo dục. Năm nay, Đại học New Delhi đang nghiên cứu vì vậy họ có thể làm đạo đức thế tục thành một bộ phận của hệ thống giáo dục. Nền giáo dục hiện đại thiếu điều gì đó định hình não bộ chúng ta, vì thế nó cần trải qua những thay đổi nào đó. Cùng với giáo dục, thì kinh tế cũng là một vấn đề quan trọng. Khoảng cách giữa giàu và nghèo là rất lớn đó là sai lầm một cách đạo đức.

Ở Dharamsala, gần một công trình xây dựng, tôi đã nói với một công nhân đến từ Chandigarh – một phụ nữ với con cái. Bà nói với tôi rằng không ai muốn rời xóm làng của họ nhưng họ cần việc làm. Sự chuyển hóa thật sự nên xảy ra trong những vùng làng quê xa xôi để giảm thiểu khoảng cách giữa giàu và nghèo.

Ẩn Tâm Lộ, Friday, April 6, 2018
Trích từ bài Healthy Body, Healthy Mind
của quyển The Big Book of Happiness

Bài liên hệ

THÂN KHỎE MẠNH, TÂM KHỎE MẠNH




Nguyên tác: Healthy Body, Healthy Mind
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Kangra, 2012
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Tôi luôn luôn nói trong cung cách bình thường như bổ sung cho tiếng Anh không lưu loát của tôi. Tôi không thích nghi thức. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng là những con người từ thân thể, tinh thần đến cảm xúc. Tầm quan trọng của một người là tính sáng tạo của tâm thức. Khi chúng ta đối xử với nhau như những người anh chị em, thì nó sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc.

Thật là một vinh dự lớn để tham dự hội nghị quan trọng này. Trong năm mươi hai năm qua, tôi đã sống ở Dharamsala, trước đó tôi sống ở Mussorie; vì vậy khu vực này tôi cảm thấy như quê nhà của tôi. Trở lại năm 1961, khi tôi đến Mcleodganj, chỉ có hai cửa hàng ở đó. Nhưng trải qua năm tháng, nơi này đã phát triển rất nhiều. Bây giờ, có nhiều cửa hàng, khách sạn, trung tâm giáo dục, và trung tâm y tế. Mọi người quan tâm đến sức khỏe, vốn làm những trung tâm y tế thật sự quan trọng. Bổn phận của mỗi người là chăm sóc sức khỏe của riêng họ. Tôi tin rằng việc làm của quý vị - tất cả những ai trong lãnh vực y tế - là công việc rất quan trọng. Nhưng chuyên môn là không đủ; mọi người phải làm việc với lòng nhiệt tình. Đó là sự thực hành tốt đẹp nhất trên thế giới, khi quý vị chửa trị cho mọi người và ban cho họ một cuộc sống mới.

Ở Tây Tạng, các bác sĩ có kiến thức tốt nhưng không bi mẫn, vì vậy họ không là những vị bác sĩ giỏi. Trong chuyên môn y tế, thật rất quan trọng để có một cảm nhận chân thành về việc quan tâm cho các bệnh nhân của họ. Khi tôi đến một nhà thương, bác sĩ rất nồng nhiệt với tôi và tôi cảm thấy hạnh phúc để nhận ra rằng họ sẽ chăm sóc tôi. Nếu bác sĩ hay y tá không mĩm cười, thì bệnh nhân cảm thấy sợ hãi. Thật quan trọng cho bác sĩ chiếm được lòng tin của bệnh nhân, vì như vậy sẽ làm cho thời gian hồi phục nhanh hơn.

Ấn Độ là một quốc gia dân chủ đông dân nhất thế giới, với một lịch sử văn hóa và triết lý lâu dài gần năm nghìn năm. Nó có những truyền thống nghìn năm như bất bạo động và hòa hiệp tôn giáo. Trong những phần khác của thế giới, chúng ta thấy nhiều bất ổn, bạo động, và bất công. Nhiều vùng đang đối diện với chiến tranh nhân danh tôn giáo. Những khái niệm bất bạo động và hòa hiệp tôn giáo của Ấn Độ là liên hệ với thế giới ngày nay và là giải pháp cho sự bất ổn trên thế giới. Nó giúp để phát triển sự tôn trọng cho sự sống của những người khác.

Trong hàng nghìn năm, Ấn Độ đã là nơi phát sinh nhiều tôn giáo, triết lý, và sự thực hành như Phật giáo, Kỳ na giáo, và đạo Sikhism. Những tôn giáo khác đã du nhập vào Ấn Độ như Ki tô giáo, Hồi giáo, Do thái giáo. Bái Hỏa giáo đã đến và định cư ở đây, và cộng đồng Bái Hỏa giáo ở Bombay hiện hữu trong một số ít người nhưng rất hạnh phúc. Qua sự tồn tại và thực hành của rất nhiều tôn giáo trong một xứ sở, thì sự hòa hiệp tôn giáo đã trở thành một vấn đề rất liên hệ. Người Ấn Độ nên tự hào với di sản văn hóa phong phú của họ. Từ năm 1947, Ấn
Độ đã thông qua hệ thống dân chủ, vốn rất ổn định. Trong tình trạng khẩn cấp có sự lo lắng nhưng sau những cuộc bầu cử thì chính phủ đã thay đổi một cách êm thấm và hòa bình được phục hồi bởi Morarji Desai.

Chủ nghĩa đế quốc Anh đã đem đến một hệ thống giáo dục rất tốt. Nhiều người trong các bạn trông trẻ trung, và bổn phận của các bạn là làm việc một cách cần mẫn và sử dụng truyền thống giàu có như một vũ khí mạnh mẽ. Có nhiều xứ sở đang cạnh tranh với Ấn Độ, vì vậy mỗi người cần làm việc cần cù và với lòng can đảm và tự tin để bảo đảm rằng đất nước này hoàn toàn hướng về phía trước. Ngày nay tôi tự xem tôi như một sứ giả của các tư tưởng Ấn Độ như bất bạo động. Tôi đã sống năm mươi năm qua trên xứ sở này. Một nhóm phóng viên người Hoa một lần đã hỏi tôi rằng tại sao tôi tự xem tôi như một người con của Ấn Độ - họ  nghĩ rằng điều đó có một lý do chính trị phía sau nó. Tôi đã nói với họ rằng, khi là một đứa trẻ, tôi đã đọc những giáo huấn của Đạo Phật bằng Sanskrit cũng như tiếng địa phương của tôi. Tôi cũng tu học theo giáo huấn của Đại học Na Lan Đà. Rồi thì thân thể tôi sống còn nhờ dal[1], chapatti[2], gạo Ấn Độ rất lâu. Vì vậy, tôi tự xem tôi như một người con của Ấn Độ. Những nhà báo Trung Hoa đã hiểu.

Tôi cảm thấy một sự quan tâm nghiêm trọng về tham nhũng. Khi tôi viếng thăm Rajasthan năm ngoái, một học sinh đã hỏi tôi rằng có phải đúng rằng trong đời sống thực tế người ta phải là một thành phần của sự tham nhũng, hay bằng khác đi họ sẽ không giờ thành công. Suy  nghĩ như vậy về tham nhũng trong một tâm thức trẻ trung đang quấy rầy tôi. Khi tôi ở Bombay, một người bạn thương gia của tôi đã đề cập rằng không có tham nhũng, người ta không thể thành công trong thương mại. Trong những quốc gia khác, vốn không có các nguyên lý đạo đức, thì tham nhũng là có thể hiểu được. Nhưng trong xứ sở này với quá nhiều con người tâm linh tôn giáo, thì đó là một vấn đề phải quan tâm.

Tôi đã đùa những người bạn Ấn Độ của tôi rằng họ đặt bông hoa trước những thần linh của họ và tụng đọc những thần chú (shlokha) mà không biết ý nghĩa của nó. Nếu bạn là một bông hoa thật sự, tuân theo giáo huấn của thần linh đó, thì không có tôn giáo nào dạy người ta nên hướng dẫn một đời sống với sự tham nhũng, lừa dối, giết hại, trộm cắp, và v.v… Tất cả những tôn giáo quan trọng nói rằng chúng ta phải thực hành từ ái, bi mẫn, trung thực, và tha thứ. Tôi nói với mọi người hãy rõ ràng về niềm tin của họ. Nếu họ tin tưởng trong tôn giáo, thì họ nên hướng dẫn đời sống của họ một cách trung thực. Nếu họ tôn thờ tiền bạc, thế thì họ sẽ phải hướng đến một đời sống tham nhũng và hối hận vì có một tên tuổi xấu giữa những đồng nghiệp của họ.

Vài ngày trước đây, tôi đã gặp một người tị nạn tôn giáo Cu Ba, người luôn luôn cầu nguyện Thượng đế hãy đưa tất cả những nhà độc tài lên thiên đàng, cho thấy rằng ông vẫn có một sự tôn trọng nào đối với họ, vì ông muốn họ lên thiên đàng chứ không phải là địa ngục. Tôi luôn luôn khuyến khích mọi người đi theo con đường bất bạo động, làm việc cần mẫn, và sống một cách trung thực, là những thứ sẽ mang đến cho họ sự tôn trọng trong cộng đồng và cũng từ những người bạn chân thành của họ. Nếu bạn đạo đức giả, thế thì sự tin tưởng giữa những người bạn sẽ không còn nữa, và bạn sẽ không hạnh phúc.

Tôi nghĩ, để cho thân thể khỏe mạnh, chúng ta cần có một tâm thức tĩnh lặng và một trái tim nồng ấm. Với sự giúp đở của một tâm tĩnh lặng và tự tin, chúng ta có thể đối diện với bất cứ nghịch cảnh nào trong đời sống. Một thân thể khỏe mạnh và một tâm thức khỏe mạnh song hành với nhau. Thuốc men không mà thôi không thể giúp đở gì nhiều. Những sức mạnh căn bản mà mọi người cần phải có để thành công là lý tưởng, hoạt động cần mẫn và một sự tiếp cận hiện đại trong mọi lãnh vực. Người Ấn Độ có thể thực hiện một đóng góp nổi bật qua làm việc cần mẫn, kiến thức và tự tin, vốn có thể hổ trợ phát triển xứ sở trên bình diện quốc nội và quốc tế.

Tôi đang ở những năm cuối của tuổi bảy mươi và có thể không thể sống để thấy những sự thay đổi. Tất cả những người trẻ hơn tôi, với viễn kiến mạnh mẽ và hoạt động cần mẫn, có thể hưởng thụ những kết quả tốt đẹp. Ngay cả sau khi tôi chết, hoặc là ở thiên đàng hay địa ngục, tôi sẽ kiểm soát để xem quý vị có thi hành những lời khuyên này một cách thích đáng hay không. Những cộng sự trẻ của tôi ở đây và tôi sẽ cùng xem xét với nhau, và nếu quý vị không hành động, rồi thì tôi sẽ trừng phạt quý vị. Cảm ơn!

HỎI VÀ ĐÁP

HỎI: Có phải là tha thứ là quan trọng hơn trừng phạt hay không? Ngài đã đề cập trong bài giảng là nếu lớp trẻ không thể hiện bổn phận của họ một cách đúng đắn, thế thì ngài sẽ trừng phạt họ ngay cả sau khi ngài lên thiên đàng. Trong ánh sáng trí tuệ của lời tuyên bố này, có phải tha thứ là quan trọng hơn trừng phạt hay không?

ĐÁP: Tha thứ có nghĩa là mặc dù một việc làm sai lầm nào đó, quý vị sẽ không chấp giữ một cảm nhận xấu hay oán hận. Thay vì thế, quý vị nên có một cảm nhận chân thành quan tâm cho những ai đã làm sai. Điều đó, tôi nghĩ, là tha thứ. Trong lúc đó, cũng từ một cảm nhận chân thành quan tâm cho tương lai của họ, một sự trừng phạt nào đó có thể có kết quả tốt. Thí dụ, khi người Tây Tạng bị tra tấn, chúng tôi phát triển một sự quan tâm cho tương lai của những  người tra tấn họ. Theo khái niệm của nghiệp báo tâm linh, những ai đã tích tập nghiệp xấu sẽ đối diện những hậu quả cay đắng trong đời sống của họ. Mặc dù chúng tôi đối kháng lại sự kiểm soát của họ, nhưng về tinh thần chúng tôi vẫn thương cảm bi mẫn cho họ. Đó là sự thực hành của tha thứ.

HỎI: Tôi là một bác sĩ. Tôi làm mọi thứ để làm cho tôi là một con người tốt lành thể hiện như có lòng bi mẫn thương cảm và không quên lãng nhiệm vụ của tôi. Tôi an bình với chính tôi. Nếu tôi nhờ đến tâm linh trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tôi thì việc đó có giúp tôi phát huy không? Nó có làm tinh thần tôi nâng cao hơn xa hơn không?

ĐÁP: Vâng, trong lãnh vực chuyên môn y tế thì ông nên làm bổn phận của ông với kiến thức và quan tâm chân thành cho sự cát tường của bệnh nhân của ông. Hành động lệ thuộc vào động cơ trên những cấp độ tinh thần, thân thể, và lời nói – nếu động cơ là tích cực, thì tất cả mọi cấp độ sẽ trở thành tích cực. Tôi nghĩ chí nguyện thứ nhất của tôi là để thúc đẩy giá trị nhân bản và đạo đức thế tục. Chủ nghĩa thế tục có nghĩa là chú ý tôn trọng đến tất cả mọi truyền thống và cũng đến tất cả những người không có tín ngưỡng. Một lần nọ, L. K. Advani đã nói với tôi rằng truyền thống nghìn năm được diễn tả bởi Charvaka phủ nhận Thượng đế và giáo pháp, nhưng tin trong sự tồn tại của thực tại. Tất cả những nhà tư tưởng tâm linh khác phê phán quan điểm ấy, nhưng vẫn xem ông như một hiền nhân (rishi). Đó là một dấu hiệu rõ ràng của sự tôn trọng. Tôi tin tưởng rằng bảy tỉ người không thể tất cả đều bình đẳng nghiêm túc về tâm linh. Đối với sự quan tâm cá nhân, đạo đức luân lý cá nhân hay giá trị nội tại, chúng ta phải gây ấn tượng sâu sắc với họ - đó là vì lợi ích của chính họ. Từ ái, bi mẫn, và tha thứ có nghĩa là được thực tập bởi cả những người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Một người cần duy trì sự trung thực, duy trì sự trung thực là một bộ phận tâm  linh.

HỎI: Thân thể là độc lập, tâm thức cũng vậy. Khi thân thể tàn hoại, tâm thức cũng bị tàn hoại cùng với thân thể chứ? Nếu không, thì nó đi đâu?

ĐÁP: Quá khứ hàng nghìn năm qua, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên chủ đề ấy, và nhiều câu trả  lời đã được đưa ra. Bây giờ, đối với những ai tin tưởng Thượng đế là đấng tạo hóa, thì họ tin rằng tâm linh duy trì sau khi chết cho sự phán xét cuối cùng (cho dù người ấy xuống địa ngục hay lên thiên đàng). Tôn giáo Ấn Độ - kể cả phái Số Luận – là một hệ thống tư tưởng tin rằng Brahma là đấng tạo hóa. Họ cũng tin tái sanh và nghiệp. Tín đồ Phật giáo và  Kỳ na giáo không tin trong đấng tạo  hóa, bắt đầu hay kết thúc.

Hầu hết mọi tôn giáo ngoại trừ Phật giáo tin vào “bản ngã” (atma), vốn giống như linh thức (ghost) tồn tại ngay cả sau khi chức năng thân thể và tâm thức chấm dứt tồn tại. Phật giáo tin rằng trong một phức hợp của thân thể và tâm thức, và nhiều cấp độ khác nhau của mỗi thứ. Sau khi chết, ngay khi trái tim ngừng đập, trong một thời điểm ngắn não bộ ngừng hoạt động, nhưng một cấp độ của thân thể và cấp độ khác của tâm thức không ngừng hoạt động. Trình độ sâu xa nhất của tâm thức tồn tại ngay cả sau  chết. Tôi biết một vài trường hợp, thân thể vẫn tươi nhuận nhiều tuần sau khi chết. Các nhà khoa học hiện đại không có câu trả lời nào cho điều này. Sau ba mươi  năm thảo luận với những nhà khoa học, một số trong họ cho thấy sự thích thú trong chủ đề này và đang thí nghiệm. Sự giải thích của Phật giáo về trình độ sâu xa nhất của tâm thức và sự giải thích của Ấn giáo của bản ngã là rất giống nhau.

HỎI: Ngài đã đề cập một cách trung thực. Mọi người cho rằng trung thực, nhưng có sự định nghĩa riêng của họ. Theo ngài thì ngày nay định nghĩa về trung thực là gì?

ĐÁP:  Tâm thức con người rất phức tạp. Vì thế nó đưa ra nhưng sự diễn giải khác nhau về luân lý đạo đức. Người ta có xu hướng trung thực hơn khi đối diện với mèo và chó, vì nếu họ biểu lộ chân thành thật thà, rồi thì cảm nhận tình cảm được trao đổi lẫn nhau. Giàu sang hay nghèo khó, học vấn hay không, mọi người đều cần trung thực.

Triết lý Ấn Độ về tâm thức, theo Pali hay truyền thống Na Lan Đà là rất phong phú. Nếu một người là chân thật và trong sáng trong ý định của họ và tôn trọng người khác, thế thì sẽ không có chỗ trong tâm cho những tư tưởng như gian lận và lừa dối. Cội nguồn của chân thật là từ ái và bi mẫn. Một cấp độ của từ ái là sinh học, như tình yêu của bà mẹ, vốn là định kiến. Nhưng từ ái và bi mẫn nên được chia sẻ trong tất cả mọi người, ngay cả với kẻ thù của ta. Bất cứ hành động nào mang đến sự tin tưởng là trung thực.

HỎI: Có phải thái độ của con người là chúng ta không mãn nguyện với những gì chúng ta đã thành đạt trong đời sống. Điều này đưa đến việc xâm phạm đến những quyền của người khác và tạo nên sự bất hòa trong xã hội. Theo ngài thì chúng ta nên làm gì để duy trì sự toại nguyện và mang đến hòa bình và hòa hiệp trong xã hội?

ĐÁP: Câu trả lời của tôi cho câu hỏi này là đạo đức thế tục. Giá trị vật chất có giới hạn, như một con người chỉ tham khát cho tự thân về nó, nhưng chỉ chạm trán với sự không thỏa mãn. Có một câu chuyện về một vị vua muốn thêm nữa. Nhưng mọi thứ liên hệ đến tâm thức, như kiến thức, không có giới hạn. Sau khi kinh tế toàn cầu sụp đổ, một người bạn kinh tế gia đã nói với tôi rằng không ai muốn bất cứ khủng hoảng nào, nhưng khủng hoảng cuối cùng là sự tự tạo của chúng. Lý do, ông nói là sự tham lam – loại tham lam đã làm người ta mù quáng. Tất cả là sự đầu cơ đã tạo ra những hoàn cảnh như vậy, không có ý nghĩa của thực tế. Cho nên toại nguyện đến từ một sự tiếp cận thực tiển. Nếu người ta nghĩ rằng đã có đủ mọi thứ, thế thì thái độ tinh thần của người ấy sẽ cho người ấy một tâm thức tĩnh lặng.

Tôi đã đùa với các người bạn thương gia của tôi rằng họ là những nô lệ của tiền bạc. Ở Moscow, Nga, một thương gia đã nói với tôi rằng ông muốn đến Los Angeles, USA, và trở lại Moscow trong chính ngày ấy – và tôi đã nghĩ, du hành quá nhiều, chỉ vì lợi nhuận? Lợi nhuận không lợi lạc về tinh thần hay vật chất cho con người. Nhưng ở trình độ quốc gia, những ưu tiên thay đổi. Có nhiều người nghèo ở Ấn Độ. Ngay cả những bệnh tật như chứng bại liệt được diệt trừ tận gốc rể (như tôi thấy trên đài BBC) nhưng những tiện nghi y tế vẫn nghèo nàn. Ấn Độ vẫn cần phát triển. Tôi đã dự một buổi hội họp nơi tôi đã nhận ra rằng có rất ít người nghĩ về tương lai. Họ nên ngưỡng mộ những lãnh tụ vĩ đại của Ấn Độ như Nehru và Gandhi những người đã bắt đầu với xu hướng bất bạo động cho sự tốt đẹp của mọi người.

HỎI: Ở Bhutan, người ta có một thống kê – tổng hạnh phúc quốc gia – đó là thống kê của sức khỏe và kinh tế của dân số. Ngài có muốn đề nghị nó đến những nhà chính trị đang ngồi kế bên ngài để thực hiện việc này như một thống kê cho Ấn Độ không?

ĐÁP: Thật rất dễ dàng đề nghị việc này, nhưng cho một sự phát triển thật sự thì nhiều việc cần đến, một cách chính yếu trong lãnh vực của giáo dục. Năm nay, Đại học New Delhi đang nghiên cứu vì vậy họ có thể làm đạo đức thế tục thành một bộ phận của hệ thống giáo dục. Nền giáo dục hiện đại thiếu điều gì đó định hình não bộ chúng ta, vì thế nó cần trải qua những thay đổi nào đó. Cùng với giáo dục, thì kinh tế cũng là một vấn đề quan trọng. Khoảng cách giữa giàu và nghèo là rất lớn đó là sai lầm một cách đạo đức.

Ở Dharamsala, gần một công trình xây dựng, tôi đã nói với một công nhân đến từ Chandigarh – một phụ nữ với con cái. Bà nói với tôi rằng không ai muốn rời xóm làng của họ nhưng họ cần việc làm. Sự chuyển hóa thật sự nên xảy ra trong những vùng làng quê xa xôi để giảm thiểu khoảng cách giữa giàu và nghèo.

Ẩn Tâm Lộ, Friday, April 6, 2018
Trích từ quyển The Big Book of Happiness



[1] Dal: tương tự như súp đặc
[2] Chapatti: tương tự như bánh tráng nhưng mềm, dày hơn, và nhỏ hơn