Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019

MỞ RỘNG GIÚP ĐỞ




Nguyên bản: Extending Help
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Monday, February 25, 2019

-*-

Với sự thực hành về việc không làm tổn hại như nền tảng của chúng ta, bây giờ chúng ta trau dồi việc quan tâm cho những người khác. Trước nhất, qua đạo đức của giải thoát cá nhân, chúng ta học cách kiểm soát sân hận và những thứ như vậy, và bây giờ chúng ta có thể học hỏi vấn đề an ủi và phục vụ người khác. Những sự thực hành trong chương Hai qua Bốn điều – từ bỏ mười điều bất thiện, xác định phạm vi và tiến trình của khổ đau và phương cách vượt khỏi nó qua Bốn Chân Lý Cao Quý, và việc tiếp nhận sự lìa xa những thú vui thoáng qua của đời sống cư sĩ – tất cả tạo nên một nền tảng cần thiết cho giai tầng thứ hai, những gì chúng ta gọ là đạo đức của Đại thừa. Bây giờ, không chỉ ta không làm tổn hại người khác, mà chúng ta mang thêm trách nhiệm để giúp đở họ. Không làm tổn hại người khác là một sự thực hành phòng thủ - thụ động, trái lại hoạt động để giúp đở người khác là chủ động.

Đức Phật dạy ba giai tầng của đạo đức: đạo đức của giải thoát cá nhân, đạo đức quan tâm cho người khác, và đạo đức Mật tông – Tantra. Việc giúp đở người khác là giáo huấn Đại thừa, trọng tâm của giai tầng thứ hai, hay đạo đức của Bồ tát. Nó cũng được tập trung trong chương này.

GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN

Chúng ta có thể trau dồi thái độ quan tâm khác này thế nào? Sự tiếp cận chính cho việc định hướng chính mình đối với việc đảm đương là lưu tâm mối liên hệ quan trọng của ta đối với người khác. Một sự thực hành vốn trải dài từ Ấn Độ đến Tây Tạng liên hệ trước nhất là việc thấy nền tảng chung với những người khác (bình đẳng) và rồi thì thay thế tự tâm mình với người khác. Học giả du già Ấn Độ Shantideva giải thích sự thực hành này của việc bình đẳng và hoán đổi tự thân với người khác tường tận trong Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Bồ Tát Hạnh), và nhiều vị Tây Tạng đã luận giải về tác phẩm này.

Lòng từ bi mở rộng đến mỗi một chúng sanh, không chỉ bè bạn, hay người thân hay những ai trong những hoàn cảnh kinh khủng. Để phát triển một sự thực hành từ bi đến sự mở rộng tròn vẹn nhất, thì chúng ta phải thực hành nhẫn nhục. Shantideva nói với chúng ta rằng nếu sự thực hành nhẫn nhục thật sự kích thích tâm ta và đem đến một sự thay đổi, thì ta bắt đầu thấy các kẻ thù ta như một người bạn thân, ngay cả là những người hướng dẫn tâm linh.

Những người thù địch cung cấp cho ta một cơ hội tuyệt vời nào đó để thực hành nhẫn nhục, bao dung và từ bi. Shantideva cho chúng ta nhiều thí dụ tuyệt vời về điều này trong hình thức của những sự đối thoại giữa khía cạnh tích cực và tiêu cực của chính tâm thức ngài. Sự quán chiếu của ngài về lòng từ bi và nhẫn nhục rất hữu dụng trong sự thực hành của chính tôi. Hãy đọc chúng và trọn tâm hồn của bạn có thể được chuyển hóa. Đây là một thí dụ:

Đối với một hành giả của từ ái và bi mẫn, kẻ thù là một trong những vị thầy quan trọng nhất. Không có kẻ thù thì ta không thể thực hành bao dung, và không có sự bao dung thì ta không thể xây dựng một căn bản mạnh mẽ của lòng bi mẫn. Do thế, nhằm để thực hành bi mẫn, chúng ta phải có một kẻ thù.
Khi chúng ta đối diện kẻ thù của ta, người sẽ tổn thương ta, đó thật sự là thời gian để thực tập bao dung. Vì vậy, một kẻ thù là nhân để thực tập bao dung; bao dung là hệ quả hay kết quả của một kẻ thù. Thế nên, đây là nguyên nhân và hệ quả. Như được nói, “Một khi điều gì đó đã có mối quan hệ nhân duyên từ việc ấy, ta không thể xem việc phát sinh ấy như một tác hại; đúng hơn nó hổ trợ cho việc phát sinh hệ quả.”

Quán chiếu trên loại lý  luận này có thể giúp để phát triển lòng nhẫn nhục sâu rộng, là thứ, vốn hóa ra phát triển một lòng bi mẫn đầy năng lực. Lòng bi mẫn thật sự được căn cứ trên lý trí. Lòng bi mẫn thông thường hay yêu thương bị giới hạn bằng khao khát hay dính mắc.

Nếu đời sống của ta là dễ dàng và mọi thứ đang diễn tiến êm thấm, thì ta có thể duy trì lòng tự phụ. Tuy nhiên, khi ta đối diện với những hoàn cảnh thật sự tuyệt vọng, thì không có thời gian để giả vờ; ta phải đối diện với thực tại. Những thời gian khó khăn xây dựng lòng quyết tâm và sức mạnh nội tại. Qua chúng, chúng ta cũng có thể biết rõ sự vô ích của sân hận. Thay vì nổi giận, hãy nuôi dưỡng một sự ân cần và tôn trọng sâu sắc đối với những người gây rắc rối vì bằng việc tạo nên những hoàn cảnh khó khăn như vậy, thì họ cung cấp cho ta những cơ hội vô giá để thực tập lòng bao dung và nhẫn nhục.

Đời sống của tôi không phải là thời gian hạnh phúc; tôi đã phải trải qua nhiều kinh nghiệm khó khăn, kể cả đánh mất quê hương vì sự xâm lược của Trung Cộng và cố gắng để tái lập nền văn hóa của chúng tôi trong những xứ sở lân bang. Tuy vậy, tôi xem những thời điểm khó khăn này trong số những thời gian quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi. Qua chúng, tôi đã đạt được nhiều kinh nghiệm mới và học hỏi được nhiều ý tưởng mới – chúng làm cho tôi thực tế hơn. Khi tôi còn trẻ và sống phía trên cao của  thủ đô Lhasa trong cung điện Potala, tôi thường nhìn vào cuộc sống của thành phố qua một kính viễn vọng. Tôi cũng đã học được nhiều qua tán gẫu với những phu quét dọn trong cung. Họ giống như tờ báo của tôi, liên hệ đến những gì ngài Nhiếp chính đang làm và những việc tham nhũng cùng tai tiếng đang diễn ra. Tôi luôn luôn vui vẻ để lắng nghe, và họ tự hào để nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những gì đang xảy ra trên đường phố. Những sự kiện khắc nghiệt đã bày ra sau sự xâm lăng năm 1959 buộc tôi trở thành liên hệ trực tiếp trong những vấn đề mà trái lại sẽ được giữ khoảng cách với tôi. Như một kết quả, tôi đi đến phải chọn một đời sống của chí nguyện hành động xã hội trong thế giới khổ đau này.

Thời gian khó khăn nhất cho tôi là sau khi Trung Cộng xâm lược. Tôi đã cố gắng để  làm hài lòng những kẻ xâm lăng để không làm tình hình tệ hại tồi tệ hơn. Khi một phái đoàn viên chức nhỏ Tây Tạng ký vào bản thỏa thuận mười bảy điểm mà không có sự đồng ý của tôi và chính phủ, chúng tôi đã để như vậy mà không có sửa đổi nhưng cố gắng để làm việc với bản thỏa thuận. Nhiều người Tây Tạng phẩn uất nó, nhưng khi họ biểu lộ sự đối kháng thì Trung Cộng phản ứng thậm chí khắc nghiệt  hơn. Tôi bị kẹt ở giữa, cố gắng để làm nguôi tình hình. Hai vị quyền thủ tướng phàn nàn về các điều kiện với chính phủ Trung Cộng, vốn họ muốn tôi cách chức họ. Đây là loại vấn đề mà tôi phải đối diện hàng ngày khi nào chúng tôi vẫn còn ở Tây Tạng. Chúng tôi không thể tập trung trong vấn đề cải thiện hoàn cảnh của chúng tôi, nhưng tôi đã thiết lập một hội đồng cải cách giảm phí nợ quá mức và v.v…

Trái với sự mong đợi của Trung Cộng, tôi lần đầu tiên viếng thăm Ấn Độ năm 1956 để kỷ niệm Phật Đản sanh lần thứ 2500. Trong khi ở Ấn Độ tôi phải có quyết định khó khăn là có nên trở lại Tây Tạng không. Tôi đã nhận nhiều thông tin về cuộc nổi dậy ở miền Đông Tây Tạng, và nhiều viên chức ở Tây Tạng khuyên tôi không nên trở về. Cũng thế, từ kinh nghiệm quá khứ, tôi biết rằng khi Trung Cộng phát triển thêm sức mạnh quân đội, thì thái độ của họ sẽ trở nên khắc nghiệt hơn. Chúng tôi có thể thấy rằng không có hy vọng gì nhiều, nhưng vào lúc ấy chúng tôi không biết rõ rằng chúng tôi có được sự bảo đảm hoàn toàn về sự hổ trợ hiệu quả từ chính phủ Ấn Độ hay từ những chính phủ khác hay không.

Cuối cùng chúng tôi đã chọn trở lại Tây Tạng. Nhưng năm 1959, khi có một sự đào thoát hàng loạt đến Ấn Độ, thì hoàn cảnh dễ dàng hơn vì tình trạng khó xử đã biến mất. Chúng tôi có thể đặt tất cả mọi năng lượng và thời gian trong việc xây dựng một cộng đồng vững mạnh với nền giáo dục hiện đại cho giới trẻ và cùng lúc cố gắng để bảo tồn những cung cách truyền thống của chúng tôi về giáo dục và thực hành Đạo Phật. Chúng tôi bây giờ đang làm việc trong một không khí của tự do mà không có sợ hãi.

Sự thực hành của chính tôi đã được lợi lạc từ một cuộc sống với vô vàn nhiễu loạn và vấn nạn. Quý vị cũng có thể đi đến thấy những thử thách gay go mà  quý vị phải chịu đựng trong khi làm sâu sắc sự thực tập của quý vị.

BÌNH ĐẲNG VÀ HOÁN ĐỔI TỰ THÂN VỚI NGƯỜI KHÁC

Như Shantideva giải thích sự thực hành này, trước tiên chúng ta nhận ra rằng mỗi một chúng sanh khác muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, giống như ta, trong cung cách nền tảng này ta và họ bình đẳng. Sau đó, khi ta xét rằng ta chỉ là một con người đơn lẻ so lường với vô số các chúng sanh khác, ta nhận ra rằng sẽ là hoàn toàn vô lý hoặc là quên lãng quyền lợi của những người khác hay lợi dụng họ vì lợi ích của riêng ta. Sẽ là hợp lý vô cùng để cống hiến hết mình cho việc làm của họ.

Khi ta xem xét hoàn cảnh trong cách này, nó trở thành rất rõ ràng. Bất chấp ta quan trọng như thế nào, thì ta chỉ là một con người đơn lẻ. Ta có cùng quyền để hạnh phúc như mọi người khác, nhưng sự khác biệt là ta chỉ là một, và họ là rất nhiều. Để đánh mất hạnh phúc của một cá nhân là rất quan trọng, nhưng không quan trọng như việc làm mất hạnh phúc của nhiều người khác. Từ quan điểm này, ta có thể trau dồi lòng bi mẫn, từ ái, và tôn trọng những người khác.

Trong một ý nghĩa, toàn bộ loài người cùng thuộc về một gia đình duy nhất. Chúng ta cần ôm ấp sự đồng nhất của nhân loại và biểu lộ sự quan tâm cho mọi người – không chỉ gia đình tôi hay xứ sở tôi hay lục địa tôi. Chúng ta phải biểu lộ sự quan tâm cho tất cả mọi người, không chỉ một ít người giống với chúng ta. Những khác biệt về tôn giáo lý tưởng, chủng tộc, hệ thống kinh tế, hệ thống xã hội, và chính quyền tất cả là thứ yếu.

Sự Vị Kỷ Thông Tuệ

Đặt người khác lên hàng ưu tiên, tự ta tiếp theo. Việc làm này thậm chí là từ một quan điểm vị kỷ. Hãy để tôi giải thích vấn đề việc này khả dĩ như thế nào. Ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và nếu ta biểu lộ với người khác sự ân cần, từ ái, và tôn trọng, thì họ sẽ đáp lại trong tử tế; cách này thì sự hạnh phúc của ta sẽ gia tăng. Nếu ta biểu lộ với người khác sự sân hận và thù oán, họ sẽ biểu lộ lại giống như vậy, và ta sẽ đánh mất sự hạnh phúc của chính ta. Cho nên tôi nói, nếu ta vị kỷ, ta nên vị kỷ một cách thông tuệ. Sự vị kỷ thông thường chỉ tập trung vào nhu cầu của chính ta, nhưng nếu vị kỷ một cách thông tuệ, ta sẽ đối xử với người khác cũng tốt đẹp giống như những người thân của ta. Cuối cùng, sách lược này sẽ phát sinh sự hài lòng hơn, hạnh phúc hơn. Do vậy, thậm chí từ một quan điểm vị kỷ, ta nhận được những kết quả tốt đẹp hơn bằng việc tôn trọng những người khác, phục vụ người khác, và làm giảm thiểu tự ngã.

Khi chúng ta quan tâm về những  người khác, lợi lạc của chính ta cũng tự động đầy đủ. Hãy quan tâm những điều không đạo đức của hành động và lời nói, vốn là những thứ làm con người phải sanh ra trong một hoàn cảnh xấu. Một người nào đó với một quan điểm nho nhỏ tránh giết hại, thí dụ, vì một động cơ không tích tập một nghiệp xấu in dấu trong tâm thức của người ấy. Một người nào đó với một tầm nhìn hơi rộng rãi hơn tránh giết hại là việc thực tập nhằm để xa rời hoàn toàn cõi sanh tử luân hồi có thể bị tiếp tục, bằng việc suy nghĩ rằng sát sanh sẽ ngăn ngừa việc tái sanh trong một kiếp sống tốt đẹp . Tuy nhiên, những  người vị tha xem mạng sống của những người khác cũng quan trọng như của họ và tránh giết người vì muốn bảo vệ sự sống của người khác. Sự yêu mến người khác này làm nên một sự khác biệt lớn lao trong sức mạnh của động cơ để tránh việc giết hại. Những người mà động cơ của họ là vị kỷ có thể nghĩ rằng ngay cả nếu họ phạm một hành vi không lành, thì họ có thể xưng tội và tìm kiếm sự cải thiện nghiệp nhân, trái lại người nào đó vốn coi trọng sự sống của người khác quan tâm về khổ đau của người khác và biết rằng không có lợi ích gì với việc thú tội giết người. Cũng đúng với việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời độc ác, và tôi nghĩ, ngay cả, nói lời vô ích.

Một cung cách khác mà mối quan tâm khác cũng rất quý giá là đặt hoàn cảnh của chính ta vào trong nhận thức. Về một mặt tôi đặc biệt đau buồn về tình trạng của Tây Tạng, nhưng rồi thì tôi nhớ rằng tôi đã tiếp nhận giới nguyện Bồ tát và mỗi ngày thường quán chiếu lời cầu nguyện của Shantideva:

Khi thế gian vẫn còn tồn tại
Khi chúng sanh vẫn còn hiện hữu
Nguyện tôi vẫn hiện diện để hổ trợ
Xoa dịu tất cả khổ đau của họ

Ngay khi tôi nhớ điều này, tất cả cảm giác gánh nặng lập tức tiêu tan, giống như áo quần nặng nề được trút khỏi tôi.

Chí nguyện vị tha xoa dịu những nguyên nhân đặc biệt của thất vọng bằng việc đặt chúng trong một quan điểm rộng rãi hơn; những nguyên nhân này không được làm ta chán nản. Hầu hết những rắc rối, lo lắng, và buồn phiền của riêng ta trong kiếp sống này đều đến từ sự tự yêu mến. Như tôi đã đề cập ở trên, vị kỷ một cách thông tuệ không là tiêu cực, nhưng tính vị kỷ thiển cận, chỉ quan tâm với sự hài lòng với sự hài lòng tức thời, là phản tác dụng, là chướng ngại ẩn tàng. Một quan điểm hẹp hòi làm cho một rắc rối thậm chí là nhỏ đến không thể chịu đựng được. Việc quan tâm đến tất cả chúng sanh làm rộng lớn quan điểm của ta, làm ta thực tế hơn. Trong cách này, thì một thái độ vị tha giúp làm giảm thiểu khổ đau của ta ngay lập tức.

Lời đề nghị nghiêm túc của tôi là bạn hãy thực hành từ ái và ân cần cho dù bạn có tin trong một tôn giáo hay không. Qua sự thực tập này, thì ta đi đến nhận ra giá trị của bi mẫn và ân cần vì sự hòa bình tâm hồn của chính ta. Cuối cùng, mặc dù ta có thể không quan tâm đến người khác, nhưng ta rất quan tâm đến chính ta – không cần hỏi về điều đó – cho nên ta phải muốn thành tựu một tâm thức an bình và một đời sống hàng ngày hạnh phúc hơn. Nếu ta thực hành ân cần hơn và bao dung hơn, thì ta sẽ thấy nhiều hòa bình hơn. Không cần phải thay đổi bàn ghế trong nhà, hay chuyển đến một ngôi nhà mới. Hàng xóm của ta có thể rất ồn ào và rất khó chịu, nhưng khi nào tâm tư chính ta là tĩnh lặng và bình an, thì hàng xóm sẽ không quấy rầy ta nhiều. Tuy nhiên, nếu ta nói chung là cáu kỉnh, ngay cả khi bạn thân nhất của ta thăm viếng, thì ta cũng không thể trở nên vui mừng thật sự. Nếu ta tĩnh lặng, thậm chí kẻ thù của ta cũng không thể quấy rầy ta.

Đó là tại sao tôi nói rằng nếu ta thật sự vị kỷ, thì tốt hơn là hãy vị kỷ một cách thông tuệ. Cách này ta có thể làm tròn động cơ vị kỷ của ta để hạnh phúc. Như thế tốt hơn là ích kỷ, hay vị kỷ một cách ngu ngơ, vốn sẽ không thành công.

Quán tưởng

Những kỷ năng quán tưởng sau đây là rất hữu ích trong sự thực hành hàng ngày:

1-    Ta duy trì sự tĩnh lặng và có lý trí.
2-    Trước mặt ta bên phải, hãy tưởng tượng một phiên bản khác của chính ta, một người vô cùng tự cao tự đại ích kỷ, một loại người sẽ làm mọi thứ để làm hài lòng một sự thôi thúc.
3-    Trước mặt ta bên trái, hãy tưởng tượng một nhóm người nghèo không thân thuộc với ta, kể cả một số người túng thiếu, cơ cực, khổ đau.
4-    Hãy tĩnh lặng và không thành kiến khi ta quán sát hai phía này. Bây giờ hãy nghĩ, “Cả hai bên đều muốn hạnh phúc. Cả hai bên đều muốn trút bỏ đau khổ. Cả hai bên đều có quyền để hoàn thành những mục tiêu này.”
5-    Hãy quan tâm điều này: Chúng ta thường làm việc lâu dài và cần mẫn vì lương bổng tốt hơn, hay chúng ta dành một số tiền lớn trong hy vọng gặt hái nhiều hơn nữa chúng ta sẳn sàng để thực hiện những hy sinh tạm thời vì lợi ích dài lâu. Cùng luận lý ấy, đó là một ý nghĩ đúng đắn cho một cá nhân thực hiện những hy sinh nhằm để hổ trợ một điều tốt đẹp hơn. Tự nhiên tâm hồn ta sẽ chiếu cố phía nhiều người khổ đau.
Như một người quán sát không thành kiến, hãy quan tâm sự tự cao tự đại của tự ngã chính ta ở đấy phía bên phải ta, việc quên lãng lợi ích của rất nhiều người, bất chấp họ khổ đau khủng khiếp thế nào. Đơn giản là không tốt như thế ấy. Mặc dù cả hai phía mà ta đang quán tưởng có một quyền bình đẳng để hạnh phúc, thì không có cách nào để tránh nhu cầu áp đảo của số người đông đảo kia. Vấn đề là tự chính ta phải phục vụ và giúp đở những người khác.

Thể trạng này của tâm thức là khó khăn không thể phủ nhận, nhưng nếu ta thực hành nó với một quyết tâm rộng lớn, thế thì năm này qua năm khác tâm hồn ta sẽ thay đổi, sẽ cải thiện. Giữa những năm sáu mươi tôi đã giảng dạy một giáo huấn của Tông Khách Ba về Những Giai Đoạn Của Con Đường Giác Ngộ, trong lúc tôi đề cập rằng nếu tôi thành tựu trình độ thứ nhất của sự diệt độ chân thật các cảm xúc phiền não, tôi sẽ nghĩ ngơi lâu dài, tôi thật sự suy nghĩ như thế. Mặc dù tôi  ngưỡng mộ lòng vị tha, nhưng tôi nghĩ thật quá khó khăn để phát triển. Thế rồi khoảng năm 1967, tôi đã tiếp nhận giáo huấn Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Nhập Bồ Tát Hạnh) của Shantideva từ một Lạt Ma Kagyu Kunu Tenzin Gyeltsen và đã bắt đầu quán chiếu nhiều hơn về ý nghĩa của nó, cùng với Tràng Hoa Quý Báo (Bảo Hành Vương Chính Luận) của Long Thọ. Cuối cùng tôi đã đạt được một sự tự tin nào đó rằng có đủ thời gian tôi có thể phát triển trình độ cao siêu của lòng bi mẫn này. Bây giờ, bắt đầu khoảng 1970, mỗi buổi sáng khi quán chiếu về lòng vị tha, tôi đã khóc. Đây là vấn đề sự chuyển hóa đã xảy ra như thế nào. Tôi không cho rằng tôi đã phát triển một trình độ cao siêu của lòng vị tha, nhưng tôi tự tin rằng tôi có thể làm việc ấy.

Ngay cả nếu kinh nghiệm của ta về động cơ vị tha là khiêm tốn, thì chắc chắn nó sẽ cho bạn một mức độ an bình [nào đó] của tâm hồn. Sự phát triển việc quan tâm cho người khác có một năng lực rộng lớn để chuyển  hóa tâm thức ta. Nếu ta thực hành lòng bi mẫn vì lợi ích của tất cả chúng sanh – kể cả thú vật – rồi thì sự phước đức vô hạn ấy sẽ tích lũy cho ta.

NHẬN RA TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA

Nếu ta không thể, trong thời gian này, vươn lên trình độ yêu mến người khác hơn chính mình, thì tối thiểu ta có thể bắt đầu để thấy rằng quên lãng người khác là không đúng. Chúng ta có thân thể con người và năng lực phán đoán của loài người, nhưng nếu chúng ta chỉ sử dụng chúng vì kết quả vị kỷ của riêng mình chứ không phải vì lợi ích của người khác, thì chúng ta không hơn thú vật. Trong thực tế những con kiến, trích dẫn chỉ một thí dụ, làm việc không vị kỷ vì cộng đồng; thì con người chúng ta đôi khi nhìn không đẹp nếu so sánh. Chúng ta được cho là những tạo vật cao cấp hơn, cho nên chúng ta phải hành động phù hợp với bản chất cao cấp của chúng ta.

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử thế giới, hầu hết những thảm họa liên hệ đến sự chết chóc kinh khiếp của vô số mạng sống đều do con người làm ra. Con người đã làm ra tình trạng hổn độn. Ngày nay hàng triệu con người sống liên tục trong sợ hãi về xung đột chủng tộc, dân tộc và kinh tế. Ai chịu trách nhiệm cho sự sợ hãi này? Không phải thú vật. Những hậu quả của chiến tranh kể cả những chết chóc của nhiều thú vật, nhưng điều này không làm chúng ta phiền muộn, chúng ta chỉ đơn giản quan tâm với chính chúng ta mà thôi. Người ta nói nhiều về việc chấm dứt chiến tranh, nhưng chúng ta phải vượt khỏi những suy nghĩ ước mong. Giá trị của loài người chúng ta là gì khi chúng ta sống mà không biểu lộ lòng thương cảm, không biểu lộ sự quan tâm, chỉ giết hại và ăn thú vật, và đánh nhau và giết hại hàng nghìn người? Trách nhiệm của chúng ta là dọn dẹp những hổn độn ấy.

Ngày nay, một trong những cung cách tốt đẹp nhất để đối thoại là qua truyền hình. Những người làm việc ở đài truyền hình và mong ước thực hành lý tưởng cao quý quan tâm đến người khác có thể làm nên một sự đóng góp đáng kể. Mặc dù những câu chuyện về tham muốn và giết người cung ứng sự giải trí thú vị, nhưng chúng có những tác động tiêu cực sâu trong tâm thức. Chúng ta không cần sự giải trí loại này trong mọi lúc – mặc dù đây chắc chắn không phải là trách nhiệm của tôi!

Chúng ta phải giáo dục giới trẻ của chúng ta trong sự thực hành về bi mẫn thương cảm. Giáo viên và cha mẹ làm thấm nhuần trong trẻ con về những giá trị thật sự, ấm áp tình người đến những lợi ích vô hạn. Tôi đã chú ý trong một tờ báo rằng một hảng đồ chơi thường chế tạo súng trường đồ chơi và v.v… đã chấm dứt một cách cố ý việc sản xuất những đồ chơi bạo động vào dịp Giáng sinh. Một ý tưởng tuyệt vời biết bao! Hành động trọng tâm khác nữa là gì!

QUYẾT ĐỊNH THÀNH TỰU GIÁC NGỘ

Một khi chúng ta đã thâm nhập vào trọng điểm mong muốn sâu sắc để làm bất cứ điều gì có thể để xoa dịu khổ đau và nhổ gốc rể của nó, và để hổ trợ tất cả chúng sanh đạt đến hạnh phúc và nguyên nhân của nó, hãy quán chiếu vấn đề việc này có thể thành đạt như thế nào. Nó chỉ có thể xảy ra nếu mọi người cũng đi đến thấu hiểu việc này hoạt động như thế nào, và rồi thì triển khai thực hiện những sự thực hành đó. Do vậy, chí nguyện của chúng ta vì lợi ích cao đẹp nhất của người khác có thể được hổ trợ tốt đẹp nhất bằng việc giải thích cho họ vấn đề thực hành như thế nào và thái độ nào phải từ bỏ, vì thế chính họ có thể có năng lực để đạt đến hạnh phúc và xa lìa khổ đau. Không có cách nào khác. Để cho việc này xảy ra, tự chính ta phải biết những thiên hướng và quan tâm của họ cũng như những gì cần giảng giải cho họ.

Do thế, vì lợi ích của việc giúp đở người khác, chúng ta phải được chuẩn bị đầy đủ. Sự chuẩn bị đó là gì? Chúng ta phải tiêu trừ tất cả những chướng ngại trong tâm thức của chính chúng ta để biết mọi thứ có thể biết được. Những hành giả từ bi – được gọi là Bồ tát – thật sự muốn  là không chỉ chiến thắng những chướng ngại vốn chỉ ngăn trở sự giải thoát của chính họ, mà họ muốn dọn đường đến toàn tri toàn giác vì thế họ mới có thể đạt được sự thâm nhập vào những thiên hướng và nhận thức của người khác vốn là những kỷ năng sẽ hổ trợ họ. Nếu đó chỉ là một vấn đề của sự lựa chọn, các vị Bồ tát sẽ chọn việc tiêu trừ những chướng ngại để đạt toàn tri toàn giác trước. Tuy nhiên, những cảm xúc phiền não (giam giữ chúng ta trong vòng sanh tử luân hồi) xây đắp những chướng ngại đến toàn tri toàn giác, vốn là những khuynh hướng trong tâm thức làm các hiện tượng xuất hiện giống như chúng tồn tại một cách cố hữu. Không vượt thắng trước cảm xúc phiền não chính yếu – thì ta không thể chiến thắng những khuynh hướng lắng đọng trong tâm thức bởi sự si mê ấy. Qua việc tịnh hóa những chướng ngại phiền não cững như những khuynh hướng bị thiết lập bởi chúng, thì chúng ta có thể chuyển hóa tâm thức chính chúng ta thành tâm thức toàn tri toàn giác của một Đức Phật, sự Giác Ngộ tròn vẹn.

Tóm lại, để đem đến một sự hạnh phúc hoàn toàn cho người khác thì nhất thiết chính mình phải Giác Ngộ. Khi chúng ta thông hiểu điều này và quyết tâm tầm cầu sự Giác Ngộ vì lợi ích của chúng sanh, thì điều này khuynh hướng vị tha đến Giác Ngộ, hay tâm bồ đề. Bằng việc theo sự thực hành của Shantideva của việc xem tự thân và người khác là bình đẳng trong việc phấn đấu vì hạnh phúc và rồi thì chuyển sự nhấn mạnh trong những  mục tiêu của chính ta qua những người khác số nhiều vô lượng, thì ta có thể phát sinh năng lực của tâm bồ đề trong ta.

Có ba loại thái độ vị tha khác nhau trong ba loại người:
-         Loại thứ nhất giống như quân vương, khao khát thành tựu Quả Phật trước, như cách hiệu quả nhất để hổ trợ người khác.
-         Loại thứ hai như người chèo thuyền, mong muốn đến bờ giác với sự Giác Ngộ cùng với tất cả những người khác.
-         Loại thứ ba giống như người chăn cừu, khao khát rằng tất cả mọi người khác nên thành tựu Quả Phật trước, trước khi người ấy Giác Ngộ.

Hai thứ sau chỉ biểu lộ thái độ từ bi của những loại hành giả nào đó; trong thực tế không có trường hợp như người chèo thuyền, của việc mọi người thành tựu Giác Ngộ đồng thời, cũng không có trường hợp như người chăn cừu, mọi người thành tựu trước tự thân. Đúng hơn, sự Giác Ngộ luôn luôn đến trong cách thứ nhất, như một vị quân vương, vì các vị Bồ tát cuối cùng quyết định thành tựu Giác ngộ nhanh nhất như có thể vì thế họ có thể hổ trợ người khác một cách hiệu quả hơn trên một quy mô rộng lớn. Như một hiền nhân Tây Tạng Sakya Pandita nói trong Sự Khác Biệt Của Ba Thệ Nguyện, các vị Bồ tát có hai loại nguyện cầu, những thứ có thể hoàn thành và những thứ không thể. Trong Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Nhập Bồ tát hạnh) của Shantideva có nhiều thí dụ về những nguyện ước vốn không thể đạt được nhưng chúng hiện hữu vì lợi ích của việc phát triển một ý chí và quyết tâm mạnh mẽ. Thí dụ, việc cho đi hạnh phúc của chính ta và đón nhận khổ đau của người khác trên chính ta thực tế là không thể, có lẻ ngoại trừ những hình thức nho nhỏ của khổ đau. Giống như sự thực tập này, mặc dù không thực tế, nhưng có ý làm gia tăng tín quả cảm của lòng bi mẫn, những suy tư về người chèo thuyền và người chăn cừu phục vụ như để biểu lộ nguyện ước đầy năng lực của chư vị Bồ tát để giúp đở người khác.  

Để tôi cho một thí dụ về sự dâng hiến này vốn đã được đưa đến trình độ của kinh nghiệm thâm sâu. Có một hành giả bác học từ tu viện Drashikyil ở tỉnh Amdo vùng Đông Bắc Tây Tạng. Năm 1950 khi Trung Cộng xâm lăng và bắt một nghìn người trong số ba nghìn tu sĩ của tu viện, một trăm người trong số đó được ghi nhận là bị giết chết. Vị ấy là một trong số đó. Bị đưa đến nơi xử tử, và ngay trước khi bị bắn, vị ấy đã cầu nguyện:

Nguyện cho tất cả những hành vi xấu ác, các chướng ngại, và khổ đau của chúng sanh
Được chuyển đến tôi, không ngoại trừ ai, vào lúc này,
Và niềm hạnh phúc cùng phước đức của tôi được gửi đến những người khác.
Nguyện cho tất cả mọi tạo vật được thấm nhuần với hạnh phúc!



Chỉ trước một vài thời khắc trước khi bị giết, vị ấy có sự hiện diện tâm linh để nhớ lại sự thực hành tâm linh tiếp nhận khổ đau của người khác và ban cho niềm hạnh phúc của chính vị ấy! Thật rất dễ dàng để nói về sự thực tập như vậy khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp, nhưng vị ấy có thể thực hiện nó vào thời điểm khắc nghiệt nhất. Đây là một biểu hiện rõ ràng của thành tựu tâm linh đạt được từ sự thực hành lâu dài.

-*-

Như Hướng Dẫn Lối Sống Bồ tát của Shantideva nói, nếu một người mù tìm được châu báu trong một đống rác, người ấy sẽ trân trọng nó. Nếu giữa đống rác của tham muốn, thù oán, và si mê – các cảm xúc làm khổ sở tâm thức chúng ta và thế  giới của chúng ta – chúng ta phát sinh một thái độ bi mẫn, thì chúng ta nên trân trọng nó như châu báu. Sự khám phá quý giá này có thể cho chúng ta hạnh phúc và sự tĩnh lặng thật sự. Những phương cách chẳng hạn như đi nghĩ mát hay dùng thuốc phiện chỉ mang đến sự khuây khỏa tạm thời. Một thái độ tu tập quan tâm chân thành đến người khác, mà trong đó ta trân trọng người khác hơn chính mình, là hữu ích cho cả ta và người khác. Nó không làm tổn hại ai cả, tạm thời hay lâu dài về sau. Bi mẫn là một châu báu vô giá.

Hãy quan tâm đến người khác trong mọi lúc. Nếu không thể giúp đở người khác, thì đừng làm tổn hại. Đây là ý nghĩa trọng tâm của việc thực hành đạo đức.

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

1-    Hãy duy trì sự tĩnh lặng và phù hợp lý trí.
2-    Trước mặt ta phía bên phải, hãy tưởng tượng một phiên bản khác của chính ta, tự cao tự đại và ích kỷ.
3-    Trước mặt ta phía bên trái, hãy tưởng tượng một nhóm người nghèo nàn, những chúng sanh đau khổ không thân thuộc với ta, không phải bè bạn hay kẻ thù.
4-    Hãy quán sát hai  phía từ quan điểm tĩnh lặng thuận lợi của ta. Bây giờ hãy nghĩ, “Cả hai đều muốn hạnh phúc. Cả hai đều muốn xa lìa khổ đau. Cả hai đều có quyền để hoàn thành những mục tiêu này của họ.”
5-    Hãy quan tâm điều này: Giống như thông thường chúng ta sẵn sàng để thực hiện những hy sinh tạm thời cho sự tốt đẹp lớn hơn về sau, cũng vậy lợi ích của số lượng lớn hơn chúng sanh khổ đau về phía trái của ta là quan trọng hơn cá nhân con người vị kỷ phía bên phải ta. Hãy chú ý tâm ta tự nhiên chuyển sang phía của số lượng người nhiều hơn.

-*-

Ẩn Tâm Lộ, Monday, March 4, 2019


NGƯỠNG MỘ GIÁC NGỘ




Nguyên bản: Aspiring to Enlightenment
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

-*-

TẠI SAO CẦU GIÁC NGỘ

Bi mẫn là chìa khóa để thành tựu một trình độ sâu xa hơn của đạo đức, tuy thế chúng ta có giúp đở người thế nào khi chính chúng ta bị bao vây bởi những thái độ sai lầm? Nếu chính chúng ta không ở trong một vị trí tốt đẹp hơn, thì thật khó khăn để giúp đở người khác ở một phạm vi rộng lớn như chúng ta đang thảo luận. Thí dụ, nếu chúng ta sắp giúp đở những người mù chữ, thì chúng ta phải có học vấn. Tương tự thế, để giúp đở vô số chúng sanh thì chúng ta phải đạt được Quả Phật, vì một Đức Phật có tất cả những phẩm chất cần thiết để hổ trợ họ - thông hiểu tất cả những kỷ năng cho việc phát triển tâm linh và thần thông biết rõ ràng các cảm xúc, những mối quan tâm, các khuynh hướng của họ, v.v… Khi chúng ta bị kích thích qua sự thực hành bi mẫn để cảm thấy quan tâm cho người khác, thì đó là lúc những giá trị mới đang bén rễ. Chúng ta chuẩn bị nền tảng tâm thức chúng ta cho những giá trị mới này bằng việc dấn thân trong những nghi thức ngưỡng mộ Giác Ngộ.

Chúng ta đã được trang bị với những phẩm chất căn bản để đạt đến Giác Ngộ - bản chất rực sáng và tri nhận của tâm thức chúng ta. Do vậy, hãy tập trung trong tư tưởng, “Tôi sẽ thành tựu đạo quả Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của chúng sanh trong vô lượng thế giới.” Hãy nuôi dưỡng xu hướng này cho đến khi nó mạnh mẽ. Nghi thức cho việc ngưỡng mộ đến sự Giác ngộ vị tha là rất hữu ích trong tiến trình này.

BẢY SỰ THỰC HÀNH CÔNG ĐỨC

Nghi thức này, nên trở thành một bộ phận trong sự thiền tập hàng ngày của chúng ta, bắt đầu với bảy bước theo sau một sự cúng dường đặc biệt. Những sự thực tập này làm gia tăng năng lực của công đức, lần lượt hướng ta một sự chuyển hóa chắc chắn hơn. Qua những hình thức dâng hiến này ta sẽ tăng cường chí nguyện đối với từ bi; như chúng ta thấy tiếp theo đây, tất cả những thứ này liên hệ đến việc tận tâm đối với những bậc hiền thánh đặc biệt đã giảng dạy lòng từ bi:

1-    Tôn kính: Hãy tưởng tượng Đức Phật Thích Ca được vây quanh bởi vô số Bồ tát, đầy trên bầu trời trước mặt ta, và tỏ lòng tôn kính với thân thể, lời nói, và tâm ý của chúng ta. Hãy chấp tay lại, và cảm nhận một cách mãnh liệt rằng chúng ta đang trân trọng quy y trong chư Phật và chư Bồ tát. Hãy nói lớn rằng, “Thành kính đảnh lễ Đức Phật Thích Ca và chư Bồ tát.”
2-    Cúng dường: Hãy dâng lên những sự cúng dường, chẳng hạn như trái cây hay nhang đèn. Hãy tưởng tượng mọi thứ có thể thích hợp cho việc cúng dường – cho dù ta có nó hay không – kể cả thân thể ta, tài sản ta, và đạo đức của chính ta. Rồi thì hãy tưởng tượng việc cúng dường toàn bộ những thứ này đến chư Phật và chư Bồ tát.
3-    Sám hối: Tất cả chúng ta chịu trách nhiệm cho vô số hành vi xấu ác của thân thể, lời nói, và tâm ý vì động cơ của tham muốn để làm tổn hại. Trong tâm linh của sám hối, hãy phát triển một cảm nhận hối lỗi vì đã làm những việc không lành, giống như qua những hành động ấy ta đã ăn thuốc độc. Cũng hãy phát sinh một ý định kiêng ngăn những hành vi ấy trong tương lai giống như khác đi thì có thể làm ta mất mạng. Hãy nghĩ, “Từ đáy lòng của tôi, tôi xin sám hối với chư Phật và chư Bồ tát những hành vi xấu ác mà tôi đã làm.” Cung cách chính yếu để tịnh hóa những hành vi không lành là qua việc hối lỗi. Sự hối lỗi của ta càng lớn, thì chủ tâm của ta càng mạnh hơn để không lập lại chúng trong tương lai.
4-    Ngưỡng mộ: (tùy hỉ công đức) Từ trong chiều sâu của tâm thức hãy ngưỡng mộ những hành vi đạo đức của chính ta và của những người khác. Hãy hoan hỉ với những thứ tốt đẹp mà ta đã làm trong kiếp sống này. Hãy tập trung vào những việc làm tốt đẹp đặc biệt chẳng hạn như bố thí, làm từ thiện. Sự kiện rằng ta có một thân người trong kiếp sống này và cơ hội để thực hành lòng vị tha là chứng cớ của những hành động đạo đức trong những kiếp sống quá khứ. Do vậy, hãy hoan hỉ với những đạo đức này, và cũng hãy nghĩ về chính mình, “Tôi thật sự đã làm đươc những điều gì đó tốt đẹp.” Cũng hãy tùy hỉ trong những đức hạnh của những người khác, cho dù ta thấy chúng tận mắt hay không. Hãy hoan hỉ trong vô biên công đức của chư Phật và chư Bồ tát trong vô lượng kiếp. Bằng việc hoan hỉ trong những đạo đức của chính mình và của những người khác, ta sẽ giữ cho ta khỏi việc hối hận những việc làm tốt lành của ta (mong không cho từ thiện vì nó làm tài khoản ngân hàng của ta suy giảm, thí dụ thế) và ta cũng tránh trở thành ganh tỵ với những việc làm thiện lương của những người khác, hay ganh đua với họ.
5-    Khuyến thỉnh: (thình chuyển Pháp luân) Hãy thỉnh cầu chư Phật những bậc đã Giác Ngộ tròn vẹn nhưng chưa dấn thân trong việc giảng dạy giáo lý tâm linh, làm như thế nhân danh của tất cả chúng sanh đau khổ.

6-    Cầu xin: (thỉnh Phật trụ thế) Hãy nguyện cầu chư Phật không nhập niết bàn. Đây là một thỉnh nguyện đặc biệt đến chư Phật vốn đã giảng dạy và gần đến lúc nhập niết bàn.

7-    Hồi hướng: Thay vì hướng sự thực hành những bước sơ bộ đến hạnh phúc và thoải mái tạm thời trong kiếp sống này hay kiếp sống tới, hay chỉ đơn thuần được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, hãy hồi hướng nó đến việc Giác Ngộ vô thượng. Hãy nghĩ, “Nguyện cho những hành động này giúp tôi thành tựu Giác Ngộ tròn vẹn và hoàn hảo vì lợi ích của tất cả chúng sanh.”

Sau đó hãy tưởng tượng toàn bộ hệ thống thế giới đã được tịnh hóa và cúng dường nó với tất cả những kỳ công có thể nghĩ được đến chư Phật và chư Bồ tát. Sự cúng  dường đặc biệt này nuôi dưỡng lòng từ bi bằng việc dâng cúng tất cả mọi thứ có thể mong muốn được đến những bậc đã giảng dạy nó.

CHÍ NGUYỆN GIÚP ĐỞ

Bây giờ chúng ta đã sẳn sàng cho nghi thức thật sự của việc ngưỡng mộ Giác Ngộ vì sự quan tâm cho kẻ khác. Nó có hai phần, thứ nhất là việc trì tụng sự quy y ngắn gọn: “Cho đến khi đạt đến Giảc Ngộ tôi nguyện quy y trong Phật bảo, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.” Trong hình thức từ bi nhất, quy y là sự phối hợp ba thái độ:

1-    Hãy quan tâm cho tình trạng khổ đau của tất cả chúng sanh, không phải chỉ cho tự thân. Cũng hãy quan tâm rằng tất cả không chỉ cầu sự cứu độ đơn thuần khỏi khổ đau mà cũng ngưỡng mộ đến sự Giác Ngộ vị tha của Quả Phật.
2-    Tin tưởng vào Đức Phật, những thể trạng chứng ngộ, và cộng đồng tâm linh, duy trì niềm tin rằng qua ba ngôi tôn quý tất cả chúng sanh sẽ tìm sự tự do khỏi tất cả khổ đau.
3-    Lòng từ bi, có nghĩa là không thể chịu đựng trước sự nô lệ của người khác với khổ đau mà không làm điều gì đó.

Hãy biết rằng Đức Phật là vị Thầy của quy y, rằng những con đường chân thật (đạo đế) và những sự chấm dứt chân thật (diệt đế) là sự quy y thật sự, và rằng những vị Bồ tát là những bậc đã thực chứng trực tiếp bản chất chân thật của mọi hiện tượng là cộng đồng tâm linh của chúng ta hướng dẫn tất cả mọi chúng sanh đến sự quy y.

Với tri thức ấy, hãy ngưỡng mộ sự Giác Ngộ vô thượng bằng việc trì tụng: “Qua sự tích tập công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi đạt được Quả Phật để giúp đở tất cả chúng sanh.” Khi làm việc đó, hãy tự nghĩ, “Qua năng lực của những việc này nguyện tôi đạt được Quả Phật không để giúp đở chính tôi mà để phụng sự tất cả chúng sanh nhằm để giúp họ thành tựu Quả Phật.” Điều này được gọi là việc phát sinh một xu hướng từ bi để trở thành Giác Ngộ trong hình thức của một nguyện ước.

Điều này đưa chúng ta đến phần trung tâm của nghi thức. Với một nguyện ước mạnh mẽ để đạt đến Quả Phật, nhằm để phụng sự các chúng sanh khác, hãy tưởng tượng trước mặt ta một Đức Phật hay vị thầy tâm linh của chính ta tượng trưng cho ngài.

1-    Trì tụng những lời sau đây giống như ta đang lập lại nó sau Đức Phật:

Cho đến khi đạt đến Giác Ngộ, tôi sẽ quy y trong Đức Phật, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.
Qua sự tích tập công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi đạt được Quả Phật để giúp đở tất cả chúng sanh.

Bằng việc nói điều này, chúng ta đang hướng những hành vi đức hạnh của ta không đến một mục tiêu nhỏ bé nào đó trong kiếp sống này, hay kiếp sống tới, nhưng đến mục tiêu to lớn nhất của tất cả - sự thành tựu giải thoát hoàn toàn cho tất cả chúng sanh. Hãy phát sinh thái độ này với sự quyết tâm to lớn.

2-    Hãy thực hiện sự trì tụng thứ hai với sự quả quyết thậm chí mãnh liệt hơn để làm cho mục tiêu vị tha này liên tục trong đời sống hàng ngày của ta:

Cho đến khi đạt đến Giác Ngộ tôi nguyện quy y trong Phật bảo, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.
Qua sự tích tập của công đức của sự bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi thành tựu Quả Phật nhằm để giúp đở tất cả chúng sanh.

Điều này bao gồm trong nghi thức. Qua nó ta gieo trồng và nuôi dưỡng những hạt giống từ bi mạnh mẽ và không dao động.

DUY TRÌ CHÍ NGUYỆN TRONG KIẾP SỐNG NÀY

Có bốn sự thực hành nhằm mục tiêu giữ gìn lòng vị tha này khỏi suy giảm trong kiếp sống này:

1-    Trước tiên, hãy tăng cường lòng quả cảm cho việc trở thành Giác Ngộ vì lợi ích của những người khác bằng việc nhắc nhở thường xuyên những lợi ích của việc làm như vậy.
2-    Sau đó, hãy gia tăng sự quan tâm của ta vì người khác bằng việc phân chia ngày và đêm thành ba thời điểm, và trong những thời điểm đó trong ngày, hãy dành một ít thời gian, hay tỉnh giấc, để thực hành 5 bước quán tưởng được nói đến trong Chương Mở Rộng Giúp Đở, ngay cả chỉ 5 phút. Sự thực hành này rất hiệu quả; nó trở thành một thói quen thường ngày, giống như ăn uống vào một thời điểm nào đó. Nếu không thể làm thường xuyên, thì hãy quán tưởng những bước ấy 3 lần trong buổi thực hành buổi sáng kéo dài khoảng 15 phút, và làm giống như vậy vào ban đêm. Hãy suy nghĩ về mục tiêu của ta: “Nguyện cho tôi đạt đến Giác Ngộ vô thượng vì những người khác!”
3-    Sự thực hành tiếp theo đòi hỏi sự thận trọng: Trong việc cầu đạt đến Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh, hãy chắc chắn không lãng quên tinh thần về lợi ích ngay cả chỉ một người.
4-    Hãy cố gắng tích tập hai năng lực của phước đức và tuệ trí tối đa như có thể. Để gia tăng phước đức, hãy dấn thân một cách nhiệt tình vào những hành vi đức hạnh như bố thí và trì giới. Để tích lũy tuệ trí, ta phải đi đến thấu hiểu cung cách tồn tại chân thật của mọi hiện tượng. Vì đây là một chủ đề phức tạp, chúng ta sẽ khám phá sâu dài trong những chương Thẩm Tra Chúng Sanh Và Sự Vật Tồn Tại Như Thế Nào và chương Trung Đạo. Nói cho đầy đủ ở đây là thật là hữu ích để phản chiếu về vấn đề các hiện tượng sinh khởi và tồn tại tùy thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện như thế nào.

DUY TRÌ CHÍ NGUYỆN TRONG NHỮNG KIẾP SỐNG TƯƠNG  LAI

Trong những kiếp sống tương lai mục tiêu từ bi để trở thành Giác Ngộ có thể bị yếu đi. Chúng ta có thể ngăn ngừa điều này khỏi xảy ra bằng việc từ bỏ bốn việc làm bất thiện kể dưới đây, và bằng việc rèn luyện thực hành trong bốn điều thiện tiếp theo sau:

Bốn Điều Bất Thiện

1-    Lừa dối một cao nhân chẳng hạn như một vị trụ trì, thầy truyền giới, bổn sư, hay một bạn tu về những việc tiêu cực mà ta đã làm.
2-    Làm cho những người khác dấn thân trong đạo đức hối hận với những gì họ đang làm.
3-    Chỉ trích và xem thường những người biểu lộ lòng từ bi cho những người khác.
4-    Lừa dối và trình bày sai lạc để được những người khác cung phụng.

Bốn Điều Thiện

1-    Hoàn toàn không lừa dối bất cứ ai. Có những ngoại lệ, khi việc lừa dối có thể đem lại những lợi ích lớn lao cho những người khác, nhưng rất là hiếm hoi.
2-    Hãy giúp đở những người khác hướng đến sự Giác Ngộ vị tha của Quả Phật, một cách trực tiếp hay gián tiếp.
3-    Quan tâm và đối xử với các vị Bồ tát giống như sự tôn kính Phật. Vì chúng ta không biết ai là Bồ tát hay không là Bồ tát, cho nên chúng ta phải đối xử với tất cả mọi người với sự tôn trọng. Như một quy tắc chung, hãy đặt người khác trên ta.
4-    Không bao giờ lường gạt bất cứ ai và luôn luôn trung thực.

Nếu ta có quyết định rèn luyện trong những sự thực hành này để phát sinh một sự quyết tâm đạt Quả Phật vì những người khác, thế thì thực hiện sự hứa nguyện này: “Tôi sẽ duy trì sự quyết tâm của tôi và không bao giờ từ bỏ.” Những người nào không thể duy trì trình độ rèn luyện này có thể từ bỏ lời hứa nguyện thay vì thế hãy nghĩ, “Nguyện cho tôi đạt quả Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh!” Những người không phải Phật tử - Ki tô hữu, Do Thái, Hồi giáo, và v.v… - có thể phát sinh một thái độ quan tâm khác giá trị tương đương bằng việc nghĩ, “Tôi sẽ đem sự giúp đở và hạnh phúc cho tất cả chúng sanh.

MỤC TIÊU THỰC TIỂN ĐỂ TRỞ THÀNH GIÁC NGỘ

Khi sự ngưỡng mộ để được Giác Ngộ vững chắc, chúng ta nên thực hiện nó trong những hành động. Những điều  này được gọi là những hành vi chánh yếu của Bồ tát cùng với chúng là sáu hoàn thiện (ba la mật):

1-    Bố thí: kể cả (1) ban cho những thứ vật chất như tiền bạc, áo quần, và thực phẩm; (2) ban cho tình thương; (3) ban cho giáo lý và những sự thực hành tâm linh; và (4) ban cho sự giải thoát khỏi những hoàn cảnh sợ hãi với tất cả chúng sanh – kể cả thú vật; giúp đở kể cả một con kiến ra khỏi vũng nước.
2-    Đạo đức (trì giới): vốn liên hệ chính yếu đến thái độ vị tha và hành vi của những vị Bồ tát.
3-    Nhẫn nhục: vốn biểu lộ trong những hoàn cảnh căng thẳng, hay được sử dụng để duy trì những cố gắng khó khăn, chẳng hạn như học hỏi giáo lý và thực hành trong một thời gian dài.
4-    Nỗ lực (tinh tấn): duy trì lòng nhiệt tình cho đức hạnh, và hổ trợ tất cả những hoàn thiện khác.
5-    Thiền định: vốn là sự hành thiền về ổn định và mãnh liệt được giải thích trong chương tiếp theo.
6-    Tuệ trí: cần thiết cho sự thông hiểu bản chất của vòng sanh tử luân hồi và vô thường, cũng như duyên sanh và tánh không.

Sáu hoàn thiện, lần lượt, có thể cô đọng lại trong ba sự tu tập của Bồ tát – tu tập trong đạo đức hoàn thiện (kể cả những hoàn thiện của bố thí và nhẫn nhục), tu tập trong thiền định hoàn thiện, và tu tập trong tuệ trí hoàn thiện. Nổ lực hoàn thiện được đòi hỏi cho tất cả ba sự tu tập. Đây là vấn đề sáu hoàn thiện được bao hàm trong sự thực hành tam vô lậu học về đạo đức, thiền định, và tuệ trí như thế nào vốn được tập trung trong quyển sách này.

Khi chúng ta đi đến cảm nhận trong chiều sâu trái tim của chúng ta rằng chúng ta phải dấn thân trong những hành vi của Bồ tát – sáu hoàn thiện hay được thấy trong một cách khác là tam vô lậu học – thì đây chính là lúc để tiếp nhận giới nguyện Bồ tát của mục tiêu thực tiển để trở thành Giác Ngộ.

-*-

Trong căn bản, tất cả chúng sanh là giống nhau trong khát vọng mưu cầu hạnh phúc và xa tránh khổ đau. Chúng ta cũng giống nhau trong vấn đề có thể loại trừ khổ đau và đạt đến hạnh phúc là việc mà tất cả chúng ta có quyền bình đẳng. Rồi thì, những gì là sự khác biệt giữa ta và tất cả những người khác? Ta chỉ là thiểu số của một. Thật có thể dễ dàng để thấy rằng vô số chúng sanh hy vọng cho hạnh phúc và mong cầu cho một sự chấm dứt khổ đau là quan trọng hơn bất cứ một cá nhân nào. Do vậy, đó là một sự hợp lý tuyệt vời cho ta cam kết tự mình với phúc lợi của vô số những người khác, để sử dụng thân thể, lời nói, và tâm ý cho sự tốt lành của họ, và để từ bỏ một thái độ chỉ chăm sóc cho tự thân ta.

-*-

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

Trước tiên thực hiện bảy bước sơ bộ:

1-    Tôn kính Đức Phật Thích Ca được vây quanh với vô số Bồ tát, mà chúng ta đã quán tưởng đầy khắp bầu trời trước mặt ta.
2-    Cúng dường tất cả mọi thứ diệu kỳ - cho dù ta có hay không – kể cả thân thể, tài sản, và đức hạnh của chính ta, đến chư Phật và chư Bồ tát.
3-    Sám hối vô số hành vi tiêu cực của thân thể, lời nói và tâm ý mà ta đã phạm phải với ý định làm tổn hại người khác. Hãy hối hận vì đã làm những việc ấy, và quyết tâm không tái phạm trong tương lai.
4-    Ngưỡng mộ (tùy hỉ công đức) từ trong chiều sâu của trái tim đức hạnh của chính ta và của những người khác. Hãy hoan hỉ với những việc làm tốt đẹp mà ta đã làm trong kiếp này và những kiếp trước, hãy nghĩ, “Tôi đã làm điều gì đó tốt đẹp.” Hãy hoan hỉ trong đạo đức của những người khác, kể cả những điều của chư Phật và chư Bồ tát.
5-    Khuyến thỉnh chư Phật, những vị đã chứng toàn giác nhưng chưa hóa độ, hãy giảng dạy vì lợi ích của những chúng sanh đau khổ.
6-    Cầu xin chư Phật đừng nhập niết bàn
7-    Hồi hướng sáu sự thực tập này để đạt đến Giác Ngộ vô thượng.

Sau đó tiến hành phần trung tâm của nghi lễ cho việc ngưỡng mộ Giác Ngộ:

1-    Với một quyết tâm mạnh mẽ đạt đến Quả Phật nhằm để phụng sự những chúng sanh khác, hãy tưởng tượng một đức Phật trước mặt ta, hay một vị thầy tâm linh như một đại diện của đức Phật.
2-    Trì tụng ba lần giống như ta đang lập lại sau vị thầy:

Cho đến khi thành tựu Giác Ngộ, tôi quy y trong đức Phật, giáo lý, và cộng đồng tâm linh cao thượng.
Qua những tích lũy công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, thiền định, và tuệ trí, nguyện tôi thành tựu Quả Phật để giúp đở tất cả mọi chúng sanh.

Để duy trì và làm mạnh lòng vị tha thậm thâm này trong kiếp sống này tiến hành tiếp theo:

1-    Hãy luôn luôn nhắc lại những lợi ích của việc phát triển một mục tiêu trở thành Giác Ngộ vì lợi ích của những người khác.
2-    Hãy phân chia ngày thành ba thời và đêm thành ba thời, và trong mỗi thời đó hãy dành một ít thời gian hay tỉnh dậy từ giấc ngủ và thực hành năm bước quán tưởng có trong chương trước. Cũng đầy đủ để quán tưởng năm bước ba lần vào buổi sang và kéo dài khoảng 15 phút, và ba lần vào ban đêm trong 15 phút.
3-    Tránh việc quên lãng lợi ích thậm chí của một chúng sanh.
4-    Hãy dẫn thân tối đa trong những hành vi đạo đức với một thái độ tốt lành, và phát triển một sự hiểu biết sơ bộ về bản chất của thực tại, hay duy trì một nguyện ước làm như vậy và hoạt động về việc này.

Để duy trì và làm mạnh mẽ lòng vị tha thậm thâm này trong những kiếp sống tương lai:

1-    Hoàn toàn không nói dối bất cứ ai, ngoại trừ ta có thể giúp đở những người khác một cách sâu rộng qua việc nói láo.
2-    Một cách trực tiếp hay gián tiếp giúp đở mọi người tiến triển trên con đường Giác Ngộ.
3-    Hãy đối xử với tất cả mọi chúng sanh với sự tôn trọng.
4-    Không bao giờ lừa bịp bất cứ người nào, và luôn luôn duy trì sự trung thực.

Tóm lại, hãy luôn luôn suy nghĩ, “Nguyện cho tôi trở thành có thể giúp đở tất cả mọi chúng sanh.”

-*-
Ẩn Tâm Lộ, Thursday, March 21, 2019



Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

TRÁNH LÀM TỔN HẠI




Nguyên bản: Refraining from Harm
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Wednesday, February 20, 2019

-*-


Các Phật tử tiếp nhận thệ nguyện đạo đức (giới) trong phạm vi thứ nhất của quy y – trong Phật bảo, trong những thể trạng của thực chứng, và trong cộng đồng tâm linh. Quy y là nền tảng cho việc thực hành đạo đức. Đức Phật dạy chúng ta tìm nơi nương tựa thế nào từ khổ đau và giới hạn, nhưng nơi ẩn náo tốt nhất, cội nguồn của sự bảo vệ, được thấy trong những thể trạng của sự thực chứng được thành tựu qua việc  thực hành đạo đức, thiền tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ).

Kinh điển Phật giáo giới thiệu rằng chúng ta che dấu những phẩm chất và những thành tựu tốt đẹp của chúng ta như một ngọn đèn bên trong một lục bình. Chúng ta không nên quảng bá nó ngoại trừ có một mục tiêu lớn lao trong việc làm như vậy. Nó được xem là một vi phạm nhỏ với thệ nguyện xuất gia nếu vị tu sĩ đạt được thể trạng giải thoát và nói với người nào đó rằng, “tôi đã thành tựu sự giải thoát.” Đây là trường hợp, thật khó khăn để quyết định thể trạng nào của kinh nghiệm nội tại mà một người khác đã đạt được. Tôi đã có cơ hội gặp vài người đã đạt được những sự phát triển tâm linh ngoại hạng. Đã có một tu sĩ vốn không học hỏi nhiều lắm từ tu viện Namgyel của tôi, đến Ấn Độ khoảng 1980. Vì chúng tôi biết nhau, cho nên chúng tôi ngẫu nhiên trò chuyện với nhau vào một ngày nọ. Ông nói với tôi rằng khi ông ở trong trại lao động khổ sai của Trung Cộng gần 18 năm, ông đã đối diện với nguy hiểm trong vài trường hợp. Tôi nghĩ rằng ông liên hệ đến việc đe dọa tính mạng của ông. Nhưng khi tôi hỏi, “Hiểm họa gì?” ông trả lời, “Đánh mất lòng từ bi đối với người Trung Hoa”. Ông xem đó là hiểm họa! Hầu hết mọi người chúng ta sẽ cảm thấy tự hào khi nói với người khác về vấn đề chúng ta đã phải căm giận thế nào, giống như chúng ta là một loại anh hùng nào đó.

Một lạt ma từ truyền thống Drukpa Kagyu và tôi rất gần gũi. Chúng tôi thường gặp nhau và nói chuyện vui, đùa cợt với nhau thế này thế nọ. Trong một trường hợp, tôi đã hỏi ông về kinh nghiệm tâm linh. Ông đã nói với tôi rằng khi còn trẻ, ông đang ở với thầy của ông, người bảo ông tiến hành việc thực tập dự bị, lễ một trăm nghìn lạy (100.000) với Đức Phật, giáo lý và cộng đồng tâm linh. Vào buổi sáng sớm và chiều tối, ông phải lạy nằm sấp xuống cả thân mình trên sàn gỗ thấp. Thầy của ông đang thiền tọa trong bóng tối của một phòng kế bên; để dối vị thầy nghĩ rằng ông đang lễ lạy phủ phục cho nên ông đã gõ nhẹ những ngón tay vào sàn gỗ. Những năm sau đó, sau khi thầy ông đã qua đời, ông tu tập trong một hang động, khi quán tưởng về sự ân cần to lớn của thầy mình sau hàng năm rèn luyện ông, và ông đã lau nước mắt không ngớt. Ông hầu như kiệt sức, nhưng rồi thì ông đã trải nghiệm linh quang, là thứ ông vẫn tiếp tục thực hành. Tiếp theo đó, sau khi thành công các sự thực hành thiền quán, thỉnh thoảng ông đã nhớ lại những phản chiếu sinh động quá khứ như trước mắt ông.

Đây là những chuyện  trực tiếp đầy cảm hứng đối với tôi. Rõ ràng có những hành giả ngày nay đang hướng đến Quả Phật. Việc gặp gở những người này làm gia tăng sự ngưỡng mộ và quyết tâm của chúng ta và qua họ giáo lý trở thành sống động. Trong cách này cộng đồng tâm linh cung ứng những kiểu mẫu cho các hành giả tham chiếu, vốn có thể hướng chúng ta đến sự nương tựa.

Ba thứ này – Phật bảo, những thể trạng thực chứng và giáo lý giảng dạy về chúng (Pháp bảo), và cộng đồng tâm linh (Tăng bảo) – là những nhân tố bên ngoài chúng ta vốn có năng lực to lớn hơn để chấm dứt khổ đau hơn là chúng ta đang làm hiện tại. Tuy nhiên, một Phật tử không thỉnh cầu tam bảo ban cho hạnh phúc. Đúng hơn, hạnh phúc đến từ việc đưa giáo lý vào thực tập. Đức Phật dạy chúng ta sự nương tựa thật sự - thực tập giáo lý như thế nào – nhưng trách nhiệm chính là ở sự thực hiện của chính chúng ta. Để tạo dựng nền tảng cho một thể trạng tâm linh cuối cùng không có khổ đau và sự giới hạn thì chúng ta cần dấn thân trong việc thực tập sau đây:

1-    Xác định mười điều bất thiện (xem chương hai)
2-    Xác định mười điều thiện (vốn đối lập với những điều bất thiện ấy)
3-    Từ bỏ những mười điều bất thiện và tiếp nhận mười điều thiện.

NHỮNG TRÌNH ĐỘ ĐẠO ĐỨC CỦA GIẢI THOÁT CÁ NHÂN

Vì con người có năng lực đa dạng trong việc giữ gìn những thệ nguyện, cho nên Đức Phật diễn tả các trình độ khác nhau của việc thực hành đạo đức. Trong đạo đức của giải thoát cá nhân, có:

-         Những người sống đời sống tại gia đình.
-         Những người đã từ bỏ đời sống gia đình để trở thành một tu sĩ nam hay nữ.

Nếu chúng ta có khả năng duy trì sự giản dị trong đời sống, thì ta có thể lìa bỏ cuộc sống gia đình và tiếp nhận những thệ nguyện của tu sĩ. Nếu ta không thể duy trì cuộc sống giản dị thanh bạch  nhưng có thể giữ gìn những thệ nguyện, thì ta có thể tiếp nhận những thệ nguyện nào đó của cư sĩ cho cả đời, hay những thứ khác chỉ trong một ngày.

LỢI ÍCH CỦA ĐẠO ĐỨC

Chúng ta thấy nhiều sự tương đồng trong đời sống tu sĩ trong tất cả mọi tôn giáo – giản dị, dâng hiến qua cầu nguyện hay thiền tập, và  phục vụ người khác. Những tu sĩ Ki tô giáo đặc biệt với chí nguyện phục vụ trong các lãnh vực giáo dục, sức khỏe, cùng phúc lợi, và tu sĩ Phật giáo phải học hỏi nhiều từ những truyền thống này của Ki tô giáo.

Việc thực hành đạo đức của giải thoát cá nhân dù tu sĩ hay cư sĩ, đưa đến toại nguyện. Thí dụ, các tu sĩ tuân thủ với một sự kiêng khem giới hạn – một bữa điểm tâm nhỏ, và rồi bữa trưa, không có gì sau đấy. Họ không có quyền đòi hỏi, “Tôi muốn thức ăn này hay nọ.” Bất cứ thứ gì họ được cúng dường trong những buổi khất thực hàng ngày, họ phải chấp nhận. Vì tu sĩ Phật giáo không nhất thiết  phải ăn chay; cho nên bất cứ thứ gì họ nhận được, họ sẽ ăn. Đó là việc rèn luyện toại nguyện về thực phẩm. Nó giảm bớt băn khoăn về việc nhận được thực phẩm này hay nọ. Người cư sĩ có thể bắt chước sự thực hành này bằng việc không nhấn mạnh vào những thực phẩm đặc biệt. Ngay cả khi giàu có, ta thật sự không thể tiêu thụ nhiều hơn người nghèo, ngoại trừ sự hao tổn của chính bạn. Cả người giàu và nghèo có cùng một bao tử.

Liên quan đến áo quần, tu sĩ nam nữ chỉ có một bộ y áo. Để có hơn một bộ, người tu sĩ ấy phải có sự gia hộ của một tu sĩ khác, giữ trong lòng rằng bộ y áo có thêm ấy cũng thuộc về một người khác. Chúng tôi không thể ăn mặc những áo quần đắc tiền. Trước khi quân Trung Cộng xâm lược, tăng ni đôi khi mặc những áo quần quý giá, vốn đưa đến sự mua chuộc và tự lừa dối. (Trong một phương diện, người Trung Cộng đã tử tế với chúng tôi bằng việc trừ khử những sự hư hỏng này!) Việc giới hạn trong ăn mặc là sự thực hành về toại nguyện về áo quần. Người cư sĩ có thể tiếp nhận một sự thực tập tương tự qua việc tiết độ trong trang phục. Nó cũng đúng với việc trang sức. Việc đeo hơn một chiếc nhẫn trong mỗi ngón tay thì đúng là quá nhiều! Thật sai lầm khi nghĩ rằng thật đáng giá khi tiêu dùng nhiều hơn với thực phẩm, áo quần, và trang sức chỉ vì ta có nhiều tiền. Đúng hơn, hãy dành nhiều hơn cho sức khỏe và giáo dục cho người nghèo. Đây không phải là sự thúc ép của chủ nghĩa xã hội nhưng là sự tự nguyện của từ bi.

Cũng thế thật thiết yếu cho tu sĩ hài lòng với nơi cư ngụ tương xứng. Một căn nhà trau chuốt là không được phép. Đây là được gọi là sự toại nguyện về nơi ở. Người cư sĩ có thể tiếp nhận sự thực tập này bằng việc giảm thiểu việc đòi hỏi không ngừng nghỉ cho một căn nhà tốt đẹp hơn và cho bàn ghế cùng các sự trang trí trong nó.

Hãy thẩm tra thái độ của ta đối với thực phẩm, áo quần, và nơi cư trú. Bằng việc giảm thiểu sự mong đợi thì ta sẽ khuyến khích sự toại nguyện. Năng lượng phụ trội nếu có nên dùng để hiến dâng cho việc thiền tập và để đạt đến sự chấm dứt các vấn nạn, tương ứng với sự thật cao quý thứ tư và thứ ba. Trong cách này, sự toại nguyện là căn bản, và hành động đưa đến được gọi là thích thiền tập và từ bỏ.

Chúng ta nên toại nguyện trong những lãnh vực vật chất, cho những ai bị ràng buộc với sự giới hạn, nhưng không liên quan với tâm linh, vốn có thể được mở rộng đến vô giới hạn. Cho dù đúng rằng một con người không thỏa mãn thì dù làm chủ cả thế giới này có thể muốn có một trung tâm du lịch ở trên mặt trăng, thì đời sống của người ấy vẫn bị giới hạn, ngay cả tất cả những gì có thể làm chủ được cũng là giới hạn.Tốt hơn là toại nguyện ngay từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên, với việc quan tâm đến lòng từ bi và vị tha thì không giới hạn, và vì thế chúng ta không nên thỏa  mãn với mức độ mà chúng ta có. Chúng ta đúng là mâu thuẩn; trong lãnh vực tâm linh thì chúng ta thỏa mãn với khối lượng thực tập và tiến trình nhẹ nhàng vậy là đủ, nhưng về vật chất chúng ta luôn luôn muốn nữa và nữa. Phải nên là cách ngược lại. Mọi người cần thực hành điều này, cho dù là cư sĩ hay tu sĩ.

Việc thực hành đạo đức của sự giải thoát cá nhân cũng hữu ích trong việc gia tăng chánh niệm và tự quán chiếu. Nếu một tu sĩ sắp có chí nguyện hành động nào đó ngay cả trong giấc mộng, người ấy nhận rõ “Tôi là một tăng/ni; Tôi không nên hành động như vậy.” Chánh niệm đến từ một sự tỉnh thức phát triển cao độ  của các hành vi thân thể và lời nói, được mang vào trong giấc mộng. Nếu chúng ta chú ý thật sâu sắc tới hạnh kiểm của chúng ta khi ăn uống, đến và đi, đứng và ngồi, và v.v… rồi thì một điều kiện mạnh mẽ của chánh niệm sẽ hiển hiện.

Sự thực hành đạo đức giải thoát cá nhân cũng nuôi lớn bao dung và nhẫn nhục. Đức Phật nói rằng nhẫn nhục là hình thức cao nhất của sa môn, và qua nó ta có thể đạt đến niết bàn. Đối với tăng ni, có bốn phẩm chất nhẫn nhục và bao dung được duy trì:

- Nếu người nào đó đẩy ta vòng quanh, ta nên bao dung và nhẫn nhục
- Nếu người nào đó biểu lộ sự sân hận đối với ta, ta không nên đáp lại với sân hận
- Nếu người nào đó đánh ta, ta không nên đánh trả lại
- Nếu người nào đó lúng túng và xúc phạm ta, ta không nên đáp lại

Những sự thực hành này làm gia tăng nhẫn nhục. Một người đã rời bỏ đời sống thế tục nhưng làm tổn hại người khác là không dấn thân trong một hành vi thích đáng. Có những câu chuyện về những tu sĩ ở Tây Tạng ngay cả đi vào chiến tranh! Họ đã tự đưa mình vào trong chiến trận mặc dù giáo lý nhà Phật đã lặp đi lặp lại rằng làm tổn hại bất cứ người nào khác chắc chắn là không đạo đức cho một vị tu sĩ nam hay nữ.

Sự thực hành tâm linh không chỉ về những thứ bên ngoài – thực phẩm, áo quần, hay những thứ như vậy. Sự thực hành tâm linh xảy trong tâm chúng ta, trong trái tim chúng ta. “Sự thay đổi chân thật là ở bên trong; lìa bên ngoài như nó là”. Nếu thái độ của chúng ta phản chiếu một cách chân thật sự trau dồi tâm thức và con tim, thế là tốt. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ làm một màn biểu diễn về sự thành tựu tâm linh nhằm để có tiền, thí dụ thế, đó là đạo đức giả.

Thực hành Đạo Phật có nghĩa là chuyển hóa thái độ của ta. Những sự thực hành của tu sĩ có thể được phối hợp vào trong đời sống của cư sĩ qua một nguyện ước mạnh mẽ, có ý thức để tránh khỏi việc làm tổn hại những người khác, thân thể hay lời nói. Điều này đòi hỏi nhẫn nhục vốn sẽ chịu đựng sự tấn công bằng thân thể hay lời nói.

Một sự tiếp cận dần dần là tốt hơn nhiều so với việc cố gắng nhảy quá cao quá nhanh; bằng trái lại, sẽ có một hiểm họa và nguy cơ lớn. Trong thời gian này, hãy cống  hiến cho xã hội và thực hành lời Phật dạy. Một khi ta đạt đến một giai tầng nào đó của kinh nghiệm thì chúng ta có thể  thực hành với một năng lực lớn hơn nếu ta trở thành một tu sĩ. Những sự thực hành này thích hợp với nhau từng bước một.

Thông thường sự khuyên bảo của tôi cho những người mới bắt đầu là nhẫn nhục; có ít sự mong đợi về chính mình hơn. Quan trọng nhất hãy là một công dân trung thực, một thành viên tốt của cộng đồng nhân loại. Cho dù ta thấu hiểu những ý tưởng sâu sắc hay không thì điều quan trọng hãy là một con người thiện lương bất cứ ta ở nơi nào ngay bây giờ. Chúng ta đừng quên lãng một mục tiêu lớn hơn vì lợi ích của một thứ nhỏ hơn. Hãy xem cả hiện tại và về lâu dài, trong cùng phương cách rằng sự thành tựu kinh tế tạm thời nên được lưu tâm trong mối quan hệ với những nhu cầu môi trường lâu dài.

-*-

Tôi muốn nói rằng tinh hoa của lời Phật dạy có thể được thấy hai điều:

Nếu có thể, ta nên giúp đở người khác.
Nếu không thể làm thế, thì tối thiểu ta không nên làm tổn hại.

Tránh việc làm tổn hại người khác là tinh hoa của giai tầng khởi đầu trong việc sống với giáo huấn về đạo đức.

-*-

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

1-    Hãy chú ý việc ta dính mắc với thức ăn, áo quần, và nơi ở, và tiếp nhận sự thực hành tu sĩ với sự toại nguyện cho đời sống cư sĩ. Hãy hài lòng với những thực phẩm, áo quần, và nơi ở tương xứng. Hãy sử dụng thời gian rỗi rảnh cho thiền tập vì thế ta có thể vượt thắng nhiều vấn nạn hơn.
2-    Hãy phát triển một sự khao khát mạnh mẽ để tránh làm tổn hại người khác cho dù bằng thân thể hay lời nói, bất chấp ta bị bối rối, xúc phạm, xỉ vả, xô đẩy, hay đánh đập.

-*-
Ẩn Tâm Lộ, Sunday, February 24, 2019



Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

KHÁM PHÁ RẮC RỐI PHÁT SINH VÀ DỪNG LẠI NHƯ THẾ NÀO




Nguyên bản: Discovering how trouble starts and stops
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Saturday, February 16, 2019

-*-

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ HAI: NGUỒN GỐC CỦA KHỔ ĐAU (TẬP ĐẾ)

Sau khi đã xác định phạm vi của khổ đau, chúng ta cần khám phá nguồn gốc của nó, vốn có hai phần: phiền não, hay chướng ngại ẩn tàng, các cảm xúc, và nghiệp chướng nhiễm ô.

Các Cảm Xúc Phiền Não Chướng Ngại Ẩn Tàng

Vì các cảm xúc phiền não, nghiệp chướng nhiễm ô, hay các hành vi, tôi sẽ thảo luận chúng trước tiên. Có hai loại cảm xúc phiền não – một thứ là rõ ràng và thứ kia không rõ ràng. Một thí dụ về thứ rõ ràng là nổi sợ hãi kinh khủng từ quá khứ đã trở thành cố định trong tâm thức. Trong trường hợp này, một cách chắc chắn thì thật lợi lạc để cho cảm giác của ta biểu lộ và thảo luận về vấn đề ấy.

Khi tôi khoảng mười bốn tuổi vào mùa hè ở Cung điện Norbulingka, vị Nhiếp Chính (người lúc ấy là giáo thọ trưởng của tôi) la mắng tôi sau một bài giảng mà ông dạy hàng năm. Với một thái độ nghiêm khắc, ông nói, “Ngay cả ngài tương đương với một vị trời, thái độ của ngài vẫn phải làm cho phù hợp với một con người.” Tôi bị tổn thương bởi vì tôi đã nghĩ rằng tôi đang hành động như một học trò bình thường đang lắng nghe ông giảng dạy mặc dù tôi là Đạt Lai Lạt Ma thứ bậc ở trên ông. Tôi bị bức rức và không thoải mái cả vài tháng sau. Rồi thì quân Trung Cộng xâm lăng miền Đông Tây Tạng vào năm 1950, và tôi phải đào thoát khỏi thủ đô Lhasa đến Tomo ở miền Tây Nam Tây Tạng gần biên giới với Ấn Độ. Đúng lúc các quan chức ở Lhasa khuyến nghị tôi rằng tình trạng có thể xoay sở được và tôi nên trở lại. Trong khi tôi trên đường trở lại Lhasa, chúng tôi dành vài ngày ở lại tu viện của vị Nhiếp Chính, Talungdra. Một ngày nọ, ông đã hỏi tôi trong buổi nói tán chuyện ngẫu nhiên rằng có phải vì thái độ của ông mà tôi đã từng phiền lòng không. Tôi đã đề cập những vì đã từng xảy ra, thế nào đấy một cách mơ hồ, không chi tiết lắm. Thật là khuây khỏa! Thế là chúng tôi có một dịp trú ngụ dễ chịu ở tu viện.

Thật tốt đẹp để nói về những thứ như vậy vốn xảy ra chỉ một lần, trái lại những thứ cảm xúc phản tác dụng – vốn bao gồm những thứ cảm giác như tham dục, oán hận, thù hằn, ganh tỵ, và giao tranh – không nên được biểu hiện; bằng không chúng trở thành thường xuyên hơn. Biểu lộ chúng có xu hướng làm chúng mạnh hơn và lan tràn. Thật tốt đẹp để quán chiếu về những bất lợi của việc tiến hành trong những cảm xúc như vậy và thay thế chúng với những cảm giác của hài lòng và yêu thương. Chúng ta nên vượt thắng một cách mạnh mẽ những cảm xúc tiêu cực khi chúng xuất hiện, nhưng thậm chí sẽ là tốt đẹp hơn để tìm cách ngăn chặn chúng ngay từ đầu.

Tham dục và thù hận làm sinh khởi những cảm xúc phản tác dụng khác và do thế tạo nên hàng loạt vấn nạn trong thế giới này. Chúng ta không thể toại nguyện để sống với những hậu quả của tham dục và thù hận. Trong hai thứ này, thù hận là tệ hại hơn cả trên căn bản tức thời bởi vì  nó đem đến tổn hại một cách nhanh chóng cho người khác, nhưng tham dục tương ứng cho việc đưa đẩy trong tiến trình của sinh tử luân hồi – những vòng bất tận của sinh, già, bệnh, chết – từ kiếp này đến kiếp khác.

Gốc rễ của tham dục và thù hận là si mê về bản chất chân thật của tất cả chúng sinh hữu tình (động vật) cũng như mê mờ về bản chất của chúng sinh vô tình (sự vật). Sự si mê này không chỉ là thiếu hiểu biết mà cũng là một ý thức tưởng tượng đối ngược với lẽ thật; hiểu sai những gì thật sự như vậy. Có nhiều trình độ của nhận thức sai lầm, như thất bại để thấu hiểu những gì nên tiếp nhận trong thực tập và những gì cần loại bỏ trong thái độ hàng ngày, nhưng ở đây chúng ta đang nói về sự si mê ở gốc rễ của tất cả mọi khổ đau. Đây là khái niệm rằng tất cả chúng sinh hữu tình và những hiện tượng khác tồn tại một cách cố hữu, trong và của chính chúng. Tôi sẽ thảo luận về chủ đề khó này trong Chương Tám, Chín và Mười.

Nghiệp Chướng Nhiễm Ô

Tất cả mọi sự vui sướng và đau khổ tùy thuộc vào nghiệp và những hành vi quá khứ, chúng đã tạo ra những khuynh hướng trong tâm thức. Nghiệp có thể được phân chia thành đạo đức và không đạo đức tùy vào chúng hoặc là phát sinh vui sướng hay đau khổ về lâu dài. Thí dụ, nếu hệ quả của một hành vi là để xuất sinh một đời sống mới của con người, thế thì hành vi đó là đạo đức vì hệ quả lâu dài của nó là sự luân hồi tốt đẹp. Trái lại, nếu hệ quả của một hành vi là làm sự tái sinh của ta như một quỷ đói, thế thì hành vi ấy là không đạo đức vì hệ quả lâu dài của nó là là một sự luân hồi xấu.

Nghiệp cũng có thể được phân chia thành (1) những thứ vốn xây dựng bản phác họa tổng quát của một kiếp sống mới bằng việc quyết định loại tái sinh nào cũng như tuổi thọ của đời sống ấy, và (2) những thứ vốn ghi vào các chi tiết của một kiếp sống, chẳng hạn như sự thịnh vượng, sức khỏe tốt, và v.v… Loại (1) được gọi là “con đường của hành động” vì hành động ấy (đạo đức hay không) phục vụ như một con đường, hay một phương tiện, đến một kiếp sống hoàn toàn trong một sự luân hồi hạnh phúc hay một sự luân hồi khốn khó. Để là một “con đường của hành động”, một nghiệp nhân phải có bốn đặc trưng: ý định thúc đẩy; xác định chính xác về cá nhân hay đối tượng; chuẩn bị đúng mức; và hoàn toàn thành tựu. Đôi khi tất cả những nhân tố này xảy ra, như trong trường hợp chúng ta có ý muốn cho một người ăn xin và thật sự làm như thế; đôi khi chỉ có động cơ hiện diện, và ta có ý muốn cho một người ăn xin nhưng không thật sự làm như thế; hay ta có thể có một kết quả vô ý thức, nếu một vài đồng tiền rơi qua một cái lỗ của túi áo ta nằm trên lề đường và người ăn xin lượm nó lên. Các hành động không có tất cả bốn đặc trưng có thể rơi vào loại (2), vốn ghi vào trong chi tiết của một kiếp sống.

Cuối cùng, những thứ nghiệp có thể được phân chia thành những loại thực hiện bởi những nhóm, chẳng hạn như tổ chức từ thiện, và những loại thực hiện cá nhân. Những hệ quả của các thứ nghiệp có được trải nghiệm trong cùng một kiếp sống, trong kiếp sống tới, hay trong một kiếp sau đó. Những nghiệp đạo đức hay không đạo đức mạnh mẽ với động cơ đầy năng lực để hổ trợ hay làm tổn hại có thể mang lại các hệ quả của chúng trong cùng một kiếp sống.

Tiến Trình Của Sự Chết

Nhằm để thấu hiểu các loại nghiệp và những đặc điểm đặc biệt của chúng của những trình độ tu tập cao nhất, thì chúng ta cần thấu hiểu động lực của ba giai đoạn: tiến trình của sự chết; trạng thái trung ấm thân giữa kiếp sống này và kiếp sống tới; và tiến trình tái sinh từ trạng thái trung ấm thân. Sự trao truyền các nghiệp nhân từ kiếp sống này sang kiếp sống khác xảy ra lúc lâm chung qua một tâm thức rất vi tế của linh quang. Mặc dù trình độ sâu sắc nhất này của tâm thức tồn tại qua đời sống, nhưng nó chỉ biểu hiện vào lúc lâm chung, và do vậy thường được giảng dạy trong phạm vi này.

Ta có thể học hỏi thêm về điều này trong nhiều bản văn của Tantra Yoga Tối Thượng (Vô Thượng Du Già), được Đức Phật giảng dạy, chẳng hạn như Mật Điển Bí Mật Tập Hội. Những văn bản này diễn tả nhiều đặc trưng khác nhau của tâm hay thức, đi từ thô đến vi tế. Những thể trạng vi tế của tâm là năng lực và hiệu quả hơn khi được áp dụng trong sự thực hành tâm linh. Trình độ thô của thức lãnh hội qua mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thức. Vi tế hơn là ý thức, tự nó vốn đi từ những trình độ thô, chẳng hạn như ý nghĩ thông thường, đển giấc ngủ sâu và bất tĩnh nhân sự khi hơi thở đã dừng, đến tâm vi tế sâu nhất của linh quang. Ngoại trừ trong những thể trạng thiền định ngoại hạng,  bằng không thì thức vi tế nhất hay sâu xa nhất tự nó chỉ biểu hiện khi chúng ta lâm chung, sắp chết. (Rút lui kém và do thế phiên bản tóm tắt cua những trình độ vi tế của thức cũng xảy ra khi ngủ, chấm dứt một giấc mơ, nhảy mũi, ngáp, và trong lúc xuất tinh. Tôi sẽ thảo luận thứ cuối cùng trong Chương 11)

Tiến trình của sự chết liên hệ đến một loại chấm dứt, hay hòa tan, của bốn yếu tố nội tại: đất (vật thể rắn của thân thể); nước (chất lỏng), lửa (sức nóng), gió (năng lượng, chuyển động). Trong đời sống bình thường, những yếu tố này phục vụ như căn bản cho thức, nhưng trong tiến trình lâm chung, năng lực của chúng hổ trợ cho thức giảm lần, bắt đầu với yếu tố đất. Mỗi bước trong tiến trình hòa tan thật sự gia tăng năng lực của yếu tố tiếp theo để hổ trợ cho thức. Từng bước một giống như thế này:

1-    Khi yếu tố đất, hay chất cứng của thân thể ta hòa tan vào yếu tố nước, sự biểu lộ bên ngoài là thân thể trở nên gầy ốm hơn; nội tại, ta thấy những gì xuất  hiện là một ảo giác được thấy trong một sa mạc.
2-    Khi yếu tố nước của thân thể hòa tan vào yếu lửa, những dấu hiệu bên ngoài là chất lỏng trong thân thể cạn kiệt – miệng khô, mũi co dúm lại, và v.v…; nội tại ta thấy những gì được diễn tả như luồng khói từ một ống khói hay khói tràn ngập khắp phòng.
3-    Khi yếu tố lửa của thân thể hòa tàn vào trong yếu gió, hay không khí, sự biểu lộ bên ngoài là sức nóng của thân bị giảm dần; nội tại, ta thấy những gì giống như những con đom đóm vào ban đêm hay giống như những tia lửa bắn ra. Sức nóng rút lui khỏi thân thể trong những cách khác nhau – (1) từ bàn chân lên đến tim hay (2) từ đỉnh đầu đi xuống. Cách (1) tốt đẹp hơn bởi vì nó biểu thị rằng tâm thức sẽ xuất khỏi thân thể hoặc là đi lên hoặc là thẳng tới, không đi xuống, và vì vậy sẽ rất có thể hướng đến một kiếp sống tới thuận lợi. Điều này  được hình thành bởi nghiệp đạo đức.
4-    Tiếp theo, gió hay chuyển động năng lượng trong thân thể, hòa tan vào thức, và hơi thở bên ngoài chấm dứt; vào lúc này ta thấy một hiện tướng giống như ánh sáng ở trên một cây đèn sáp nhấp nháy khi cháy gần hết. (Một số bác sĩ xem người ở trạng thái này là đã chết, nhưng theo quan điểm Phật giáo việc chấm dứt hơi thở bên ngoài không có nghĩa là thần thức đã rời thân thể.) Ánh sáng nhấp nháy được tiếp theo bởi hiện tướng của một ngọn lửa ổn định.

Bốn giai đoạn cuối cùng của sự chết liên hệ sự hòa tan những trình độ thô của thức vào các trình độ vi tế hơn. Điều này xảy ra khi gió, hay năng lượng bên trong, vốn phục vụ như sự gắn kết của thức tan rả. Hãy nghĩ về thức như cưỡi trên năng lượng như một kỵ mã trên lưng ngựa. Trong việc chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, những năng lượng vốn phục vụ như sự gắn kết của nhiều loại ý thức hòa tan, di chuyển căn bản của thức từ các trình độ thô đến vi tế hơn của năng lượng. Những việc này xảy ra dần dần trong bốn giai đoạn.
5-    Tâm của ta tự nó biến thành một tính chất màu trắng cùng khắp, rộng lớn sinh động. Nó được diễn tả như bầu trời trong sáng tràn đầy ánh sáng của mặt trăng – không phải mặt trăng chiếu sáng trong không gian trống rỗng mà không gian tràn đầy ánh sáng trắng. Tư tưởng khái niệm đã tan biến, và không có gì hiện hữu ngoại trừ sự trắng trong sinh động này, vốn là thức của chúng ta. Tuy nhiên, một cảm nhận vi tế về chủ thể và đối tượng vẫn duy trì, cho nên thể trạng này là nhị nguyên một cách nhẹ nhàng.
6-    Tâm ta biến thành tính chất đỏ hay cam rộng lớn, sinh động hơn trước đây; không có gì khác xuất hiện. Nó giống như một bầu trời trong sáng tràn đầy ánh sáng mặt trời – không phải ánh sáng mặt trời chiếu sáng trong bầu trời mà là tự không gian như vậy, tràn đầy ánh sáng đỏ hay cam. Trong thể trạng này tâm thức ít nhị nguyên hơn nữa.
7-    Tâm ta tự nó biến thành thể trạng màu đen tĩnh lặng, vi tế và sinh động hơn nữa; không có gì khác xuất hiện. Điều này được gọi là “gần thành tựu”, bởi vì ta đang gần đến sự biểu hiện của tâm linh quang. Tâm màu đen sinh động rộng khắp giống như một bầu trời không có mặt trăng, rất tối đúng ngay sau khi hoàng hôn khi không có một vì sao nào được thấy. Vào lúc bắt đầu giai đoạn này, ta tỉnh thức, nhưng rồi thì ta mất sự tỉnh thức khi ta trôi vào trong bóng đen dày đặc hơn.
8-    Khi hiện tướng của tâm màu đen chấm dứt, tâm ta tự nó biến thành tâm tỉnh thức hoàn toàn của linh quang. Được gọi là tâm bẩm sinh nền tảng của linh quang, đây là trình độ vi tế, thậm thâm, và năng lực nhất của thức. Nó giống như thể trạng bản chất của bầu trời vào lúc bình minh (mặt trời chưa ló dạng) – không có ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, hay bóng tối.

Giai đoạn trải qua tâm linh quang có thể nhanh hay chậm. Một số người duy trì trong giai đoạn cuối cùng, tâm linh quang của sự chết, chỉ vài phút; những người khác trú lại cả tuần hay hai tuần. Vì tâm linh quang năng lực rất mạnh mẽ, cho nên nó đáng để thực tập, nhiều hành giả Tây Tạng diễn tập những giai đoạn lâm chung này hàng ngày. Chính tôi thực hành chúng sáu lần trong ngày bằng việc quán tưởng tám trình độ của tâm thức từng thứ một (dĩ nhiên, không có những thay vật lý trong bốn giai đoạn đầu). Tám trình độ của tâm là:

1-    ảo giác
2-    luồng khói
3-    đom đóm
4-    ngọn lửa của ngọn đèn sáp
5-    tâm bầu trời trắng sinh động
6-    tâm bầu trời đỏ hay cam sinh động
7-    tâm bầu trời đen sinh động
8-    linh quang

Trong tiến trình lâm chung, chúng ta biết rằng người ở trong linh quang cho đến khi thân thể không bắt đầu bốc mùi hay phân hủy. Có những người Tây Tạng bị tra tấn và, trong việc bị đưa lại phòng giam giữ của họ, ngồi xếp bằng trong tiến trình của sự chết, duy trì tâm linh quang. Tin tức cho biết rằng, những cai ngục Trung Cộng đã kinh ngạc về điều này. Theo quan điểm giáo điều của họ, họ xem Phật giáo là mù quáng, cho nên khi họ đối diện với những bằng chứng như vậy, họ cố gắng giữ im lặng về nó. Ở Ấn Độ cũng vậy, có một số những hành giả đã duy trì trong thể trạng này, đôi khi vài ngày và trong một trường hợp khoảng mười bảy ngày. Khi một người đang an trú trong thể trạng linh quang, nếu năng lượng hổ trợ cho trình độ sâu thẩm này của tâm bắt đầu thay đổi, vào lúc ấy thức cuối cùng lìa thân thể, và thân thể hay đầu chuyển động một cách nhẹ nhàng.

Có nhiều cơ  hội cho những việc thẩm tra xa hơn trong những thể trạng đa dạng của sự chết. Khoa học hiện đại đã làm những việc nghiên cứu hữu dụng về sóng năng lượng, não bộ con người, và những chức năng của nó. Các nhà khoa học và Phật học chia sẻ một sự quan tâm chung về lãnh vực này, và tôi tin tưởng là chúng ta nên làm việc với nhau để điều tra mối quan hệ giữa tâm và năng lượng bên trong của nó, và giữa não bộ cùng thức. Những diễn giải của nhà Phật có thể đóng góp cho việc nghiên cứu khoa học, và ngược lại. Sự phối hợp này đã từng diễn ra rồi, và thêm nữa sẽ rất hữu ích.

Thể Trạng Trung ấm Thân

Tất cả chúng sinh được tái sinh như những con người đi qua thể trạng trung ấm thân giữa kiếp sống này và kiếp sống tới. Trong thể trạng trung ấm này, thân thể chúng ta tiếp nhận một hình dáng giống với thân thể của chúng ta trong kiếp sống tới vào khoảng năm hay sáu tuổi (mặc dù một số người nói rằng điều này không nhất thiết như vậy). Khi đời sống trung ấm chấm dứt, cây cầu đến kiếp sống tới đã được vượt qua. Tiến trình này được tiến hành bởi trình độ vi tế nhất của tâm.

Tiến Trình Tái Sinh

Liên quan đến tái sinh, thức đi vào tử cung khi những yếu tố thụ tinh trộn lẫn với nhau – được cung ứng không có gì sai trong tử cung hay với tinh trùng, và cung ứng với tất cả những nhân tố thuận lợi chẳng hạn như nghiệp nối kết hiện diện. Tuy nhiên, thức không nhất thiết phải nhập vào lúc ấy, khi nam nữ phối hợp, vì trong các luận điển của chúng tôi có những trường hợp diễn ra một cách riêng lẻ. Dường như rằng hoặc là những yếu tố này đi với nhau bên trong hay, như thỉnh thoảng có những trường hợp ngày nay, bên ngoài tử cung trong ống nghiệm, thức phải đi vào trong khi chúng trộn lẫn với nhau. Tuy thế, thật  khó đế có một sự giải thích cả quyết theo luận điển Phật giáo vì một số sách nói rằng sự thụ tinh xảy ra khi có sự khát dục mạnh mẽ.

Chủ đề phức tạp này trở thành phức tạp hơn ở thời hiện đại. Hãy xem một thí dụ khi phôi thai được đông lạnh. Một khi sự nối kết đã được thực hiện từ kiếp sống quá khứ đến kiếp sống mới qua việc thụ tinh, thì chúng sinh mà phôi thai bị đông lạnh có phải chịu đau khổ vì lạnh không? Chính sự bắt đầu của thân thể đã được hình thành, và vì thế, theo sự giải thích của chúng ta, cơ quan cảm giác của thân thể  đã được hình thành sơ khởi (mặc dù cơ quan thị giác và những thứ khác thì chưa). Có phải có sự cảm giác thân thể ngay từ thời điểm sau khi thụ tinh hay không? Tôi chưa có một quyết định cho những điềm này; đây là chủ đề phải thảo luận nhiều hơn nữa.

Nếu chúng ta giả định rằng chúng sinh trong phôi thai đau khổ vì lạnh, thì điều này làm phát sinh vấn đề người đặt phôi thai vào tủ lạnh có bị nghiệp xấu cho hành vi ấy hay không. Điều tùy thuộc vào động cơ của người ấy. Chúng ta không thể nói rằng chỉ vì một chúng sinh khác chịu đựng khổ đau qua điều gì đó mà người khác liên hệ đến ta, thì ta sẽ gánh nghiệp xấu. Thí dụ, ngay cả những trường hợp thông thường một thai nhi ở trong tử cung bà mẹ chịu đựng đau khổ qua việc ở trong tử cung, nhưng bà mẹ không tích tập bất cứ nghiệp xấu nào. Tương tự thế, khi trẻ con được sinh ra, nếu đau khổ lần nữa, nhưng bà mẹ không tích tập bất cứ nghiệp xấu nào. (Nếu bà mẹ thật sự tích tập nghiệp xấu thì bà mẹ sinh nhiều con phải tích tập hàng khối nghiệp xấu, thì thật là vô lý!). Do vậy, động cơ của một người là chìa khóa quyết định loại nghiệp nào phải tích tập.


SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ BA: SỰ CHẤM DỨT CHÂN THẬT (DIỆT ĐẾ)
Vì những nhiễm ô của tâm thức chẳng hạn như tham dục, thù hận, ganh tỵ, và hung hăn căn cứ trên căn bản nhận thức sai lầm về bản chất của con người và đối tượng, cho nên tiến trình vượt thắng chúng đòi hỏi một giải pháp cho sự si mê ấy. Vấn đề trở thành việc nhổ gốc rể của si mê làm ra nguyên nhân của khổ đau như thế nào. Nó không thể là việc nhổ một cây gai qua phẩu thuật. Nhằm để vượt thắng nhận thức sai lầm này về bản chất của con người và sự vật, thì chúng ta phải thấu hiểu bản chất thật sự của chúng. Rồi thì, qua thiền quán tiếp tục, chúng ta trở thành quen thuộc với sự thật và gia tăng năng lực của tuệ trí để làm xói mòn những cảm xúc tiêu cực có gốc rể trong si mê.

Ở điểm này, thì một giải thích về tánh không sẽ lợi ích vì đây là những gì mà tuệ trí nhận ra bản chất của con người và sự vật (xem Chương Tám – Mười). Nhưng, tóm lại, sự kiện rằng những nhiễm ô chẳng hạn các cảm xúc phiền não có thể được tiêu trừ hoàn toàn là qua việc bản chất tâm thức vốn trong sáng, không bị nhiễm ô. Bản chất của nó là tinh khiết. Những phiền não được tịnh hóa qua thiền tập trên bản chất chân thật của cả tâm thức và tất cả những thứ khác. Việc tiêu trừ những phiền não này là sự thật cao quý thứ ba – sự chấm dứt chân thật, diệt đế - một thể trạng vượt khỏi khổ đau và các nguyên nhân của nó.

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ TƯ: CON ĐƯỜNG LẼ THẬT (ĐẠO ĐẾ)

Những con đường chân thật liên hệ đến ba phương diện rèn luyện vốn là chủ đề chính của quyển sách này – đạo đức, tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ ). Sự thực tập tâm linh theo những con đường này đưa đến sự chấm dứt chân thật, đạt đến niết bàn và cuối cùng là Quả Phật.

-*-

Từ thời vô thỉ, chúng ta đã có một nhận thức vững chắc, hay ý thức, về “cái tôi”. “Cái tôi” này, hay tự ngã , bản chất và bẩm sinh muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và khát vọng này là vững chắc – nó là đúng đắn và hợp lý. Kết quả là, tất cả chúng ta có quyền để đạt đến hạnh phúc và xua đuổi khổ đau. Sự thật rằng khổ đau và hạnh phúc tự nó thay đổi từ thời khắc này đến thời khắc khác biểu thị rằng những trải  nghiệm này tùy thuộc trên các nguyên nhân và điều kiện của nó. Nhằm để thoát khỏi khổ đau thì chúng ta cần loại trừ các nguyên nhân và điều kiện tức là các nhân duyên đem đến khổ đau và nhằm để đạt đến hạnh phúc thì chúng ta cần đỏi hỏi những nguyên nhân và điều kiện hay các nhân duyên của hạnh phúc.

Sự thật cao quý thứ nhất áp dụng đến các hiện tượng nhiễm ô mà chúng ta cần thoát khỏi – sự thật về khổ đau, là các tác động và nguyên nhân thật sự, vốn là những nguyên nhân. Hai sự thật cao quý cuối cùng là những thể trạng tinh khiết mà chúng ta muốn đạt được – sự chấm dứt chân thật, vốn là các hệ quả, và những con đường chân thật, vốn là các nguyên nhân. Cung cách Đức Phật giảng dạy về Bốn Chân Lý Cao Quý, chúng bao hàm hai trình tự - một là khổ đau, thứ chúng ta muốn từ bỏ, và một là hạnh phúc, thứ chúng ta tìm cầu để tiếp nhận.

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

Đã nhận ra phạm vi của khổ đau, nghiên cứu về các nguyên nhân, hay nguồn gốc, và xác định rằng nguồn gốc của khổ đau là si mê về bản chất thật sự của con người và sự vật, vốn là đưa đến kết quả tham dục, thù hận, và v.v… Hãy nhận ra rằng khổ đau có thể được tiêu trừ, nó có thể bị loại bỏ trong không gian của thực tại. Hãy quán chiếu rằng sự chấm dứt chân thật này (diệt đế) đạt được qua sự thực hành về đạo đức, tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ ) – là những con đường chân thật.

-*-

Ẩn Tâm lộ, Thursday, February 21, 2019