Nguyên bản: Carefulness
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: The Pamakara Translation Group
Việt dịch: Tuệ Uyển, 2023
***
Tư tưởng của tâm bồ đề bây giờ đã được phát sinh trong tâm chúng ta. Tiếp theo
chúng ta đi đến ba chương hy hiến để bảo vệ nó không suy thoái.
Tâm thức này của chúng ta có năng lực cho việc hoàn thành tất cả những phẩm chất
của Phật Quả. Nhưng những phẩm chất này tạm thời bị che chướng bởi những niềm
tin sai lầm của chúng ta trong sự tồn tại của một cái “tôi” và bởi sự vị kỷ và
các cảm xúc tiêu cực. Đây là những kẻ thù đầy quyền lực của thái độ tích cực mà
chúng ta đã phát sinh. Chúng sống trong tâm thức chúng ta; chúng không phải ở
bên ngoài.
Chúng là có thật, những kẻ thù bên ngoài, chúng ta có thể, thậm chí nếu chúng
được vũ trang với các hoả tiển, chúng ta có một tí thời gian để mà chạy khỏi
chúng. Nhưng không có đường để mà chạy trốn và không có nơi nào để trốn tránh
khỏi những kẻ thù bên trong này. Khi các tình huống sinh khởi, thì tất cả những
loại cảm xúc tiêu cực, chẳng hạn như tham muốn hay sân hận, có thể đột nhiên bật
khởi. Có vô số sự đối trị cho những thứ này. Điều quan trọng nhất, mặc dù, được
áp dụng cẩn thận, ân cần, và chánh niệm. Chúng ta cần luôn luôn đề phòng, vì thế
nếu một cảm xúc hay tư tưởng tiêu cực sinh khởi, hay nó sắp sinh khởi, thì
chúng ta có thể sử dụng những phương thức này để dùng đối trị ngay lập tức,
ngay thời khắc mà tâm thức bị quấy rầy. Khi chúng ta thực hành trong cách này,
với sự thận trọng, thì các cảm xúc tiêu cực trở nên ngày càng kém mạnh mẽ hơn.
Thận trọng là chủ đề cho chương thứ tư này.
1.
Con cái của Đấng Chinh Phục vì vậy
Đã gắn bó chặc chẽ với tâm bồ đề này,
Không bao giờ lìa bỏ nó,
Cố gắng không bao giờ vi phạm những nguyên tắc của nó.
4.
Vì nếu chính tôi kết nối với các hứa nguyện
Nhưng không thực hiện lời nói của tôi trong hành động
Thế thì mọi chúng sanh sẽ bị phản bội.
Số phận nào dành cho tôi trong tương lai?
Tâm bồ đề này mà chúng ta phát khởi đã không thúc đẩy chúng ta – chúng ta đã tiếp
nhận thệ nguyện tâm bồ đề một cách tự nguyện. Chúng ta đã tiếp nhận nó với tất
cả chư Phật và chư Bồ tát như chứng minh và vì lợi ích của tất cả chúng sanh.
Cho nên một lần nữa thệ nguyện này cho thấy sự tôn trọng chư Phật và chư Bồ tát
không nhiều lắm. Chúng ta đã lừa dối các ngài và cũng phản bội tất cả chúng
sanh. Đây là một thất bại rất nghiêm trọng.
Do vậy, chúng ta phải dành mọi nỗ lực để không làm đổ nát tâm bồ đề của chúng
ta. Chúng ta phải hy hiến tất cả mọi năng lượng của chúng ta cho mục tiêu này.
Hơn thế nữa, không ai biết sự chết sẽ đến với chúng ta khi nào. Vào thời khắc ấy,
chúng ta có thể rất khoẻ mạnh, nhưng sự sống có thể chấm dứt một cách đột
nhiên. Chúng ta hãy sử dụng thật tốt những ngày tháng của chúng ta, hãy thận trọng
trong mọi lúc. Thật là sai lầm lớn để thong thả hôm nay, nói rằng chúng ta sẽ
nghiêm khắc hơn ngày mai. Chúng ta phải cố gắng để rèn luyện tâm tâm thức chúng
ta một cách liên tục vì thế chúng ta có thể trở thành những con người tốt lành
mà chúng ta hứa khi chúng ta thọ nhận thệ nguyện. Điều này liên hệ đến việc
quán sát tâm thức một cách bền bĩ liên tục.
Tất cả chúng ta mong muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau – chúng ta không cần
phải được nói cho nghe điều này. Nhưng về một mặt, chúng ta không biết những gì
chúng ta nên làm và hay tránh để có những gì làm cho chúng ta hạnh phúc. Trái lại,
do bởi những cảm xúc tiêu cực của chúng ta rất mạnh mẽ, cho nên chúng ta dấn
thân trong những cảm xúc tiêu cực mặc dù chúng ta có thể thấy điều gì sai với
chúng. Đó là các cảm xúc những kẻ thù thật sự với mỗi chúng ta là một con người
tốt.
28.
Sân hận, tham muốn, những kẻ thù này của tôi,
Không có tay chân và không có khả năng.
Chúng không có lòng can đảm, không có sự lanh lợi;
Làm thế nào chúng biến tôi thành nô lệ như vậy?
29.
Chúng ở trong tâm thức tôi
Và theo niềm vui của chúng làm tổn thương tôi.
Tất cả điều này tôi chịu đựng một cách ngoan ngoãn, không phật ý
Vì vậy, sự kiên nhẫn khốn khổ của tôi, tất cả đã bị thay thế!
32.
Ôi kẻ thù của tôi, niềm đam mê tai hoạ,
Đồng hành không bao giờ dứt và không có bắt đầu!
Thực tế không kẻ thù nào khác
Có thể tồn tại kéo dài như vậy!
Những kẻ thông thường mà chúng ta xem là kẻ thù chỉ có thể sống một đời mà
thôi, là tối đa. Nhưng những cảm xúc tiêu cực đã làm tổn hại chúng ta từ thời
vô thỉ, không có bắt đầu. Chúng thật sự là những kẻ thù tệ hại nhất.
33.
Tất cả những kẻ thù khác mà tôi nhân nhượng và chờ đợi
Sẽ cho tôi thấy những sự thiện ý, cho tôi mọi thứ giúp đở,
Nhưng nếu tôi phục vụ các cảm xúc ô nhiễm đen tối,
Thì chúng sẽ chỉ tổn hại tôi, lôi tôi xuống buồn đau.
Luôn luôn có những cung cách mà trong đó người ta kết bạn dần dần với kẻ thù.
Nhưng nếu chúng ta càng cố để làm bạn với những cảm xúc tiêu cực thì chúng càng
có thể làm tổn hại chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ về nó, thì khi mà chúng vẫn còn ở
trong tâm thức chúng ta, ở với chúng ta như những người thân cận, thì chúng ta
sẽ không bao giờ hạnh phúc. Khi mà lòng sân hận, kiêu ngạo, và ganh tỵ vẫn ở
trong tâm thức chúng ta, thì chúng ta sẽ luôn luôn có những kẻ thù ở bên ngoài.
Nếu chúng ta loại trừ một kẻ thù hôm nay, ngày mai một kẻ thù khác sẽ xuất hiện.
Không bao giờ chấm dứt. Trong khi chúng ta có thể tạm thời tự mình thoát khỏi
các kẻ thù, thì với những cảm xúc tiêu cực bám chặc trong tâm thức chúng ta,
thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc bền lâu.
43.
Điều này sẽ là niềm đam mê tiêu tốn của tôi tất cả.
Với đầy thù hận tôi sẽ tiến hành cuộc chiến của mình!
Nhiễm ô loại này sẽ làm dừng lại nhiễm ô
Và vì lý do này nó sẽ bị vứt bỏ.
Bất cứ ai thực hành giáo pháp có một bổn phận để lâm trận với kẻ thù – các cảm
xúc tiêu cực. Nếu chúng ta mong ước đạt được hạnh phúc rốt ráo, thì chúng ta phải
sử dụng sự đối trị để chống lại kẻ thù này. Để làm như vậy, thì chúng ta có thể
phải luôn chạm trán với các khó khăn. Nhưng trong một cuộc chiến thông thường,
thì những thử thách và khó khăn mà người ta trải qua được chấp nhận và thậm chí
khuyến khích họ chiến đấu can trường hơn để chống lại kẻ thù. Hơn thế nữa,
trong một thế giới thông thường, những vết thương của một chiến sĩ được xem những
dấu hiệu của lòng dũng cảm, như những huy chương. Cho nên như những hành giả Phật
tử chiến đấu với kẻ thù thật sự này, những thứ bản chất là tổn hại, thì chúng
ta phải tiên liệu những khó khăn, và đối xử với chúng như những dấu hiệu của
chiến thắng.
Một kẻ thù thông thường có thể trốn thoát đến một nơi an toàn chỉ khi tái trật
tự hàng ngũ của kẻ ấy lại và tấn công chúng ta một lần nữa. Nhưng một khi chúng
ta đã trục xuất những cảm xúc tiêu cực khỏi tâm thức chúng ta bằng việc sử dụng
sự đối trị chính xác, thì chúng không có nơi nào để trốn tránh và không thể trở
lại để gây hại cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta không cần bất cứ điều gì đầy
năng lực vũ khí nguyên tử mà người ta có thể sử dụng để tiêu diệt một kẻ thù
thông thường. Đối với những cảm xúc tiêu cực là thật sự bất lực, căn cứ trên sự
si mê, vốn tự nó không có sức mạnh. Kẻ thù nội tại này bị đánh bại một cách dễ
dàng với vũ khí của tuệ trí phân biệt, vốn được biết là bản chất chân thật của
các cảm xúc.
47.
Các nhiễm ô không ở trong đối tượng,
Cũng không trong các căn, cũng không nơi nào đó ở giữa.
Và nếu không ở nơi nào khác, thì chúng ở chốn nào,
Từ đâu chúng gây ra sự tàn phá trên thế gian?
Chúng đơn giản chỉ là ảo ảnh, và nên tâm niệm điều này!
Hãy xua đuổi tất cả những sự sợ hãi và cố gắng để biết bản chất của chúng.
Tại sao đau khổ như địa ngục một cách không cần thiết?
Khi thẩm tra một cách cẩn thận, thì chúng ta không thể tìm thấy điều gì, một kẻ
thù đầy năng lực nào đó, gọi là cảm xúc tiêu cực. Trong thực tế, không có gì ở
đấy. Thí dụ, khi chúng trải nghiệm sự oán ghét hay dính mắc, những cảm xúc này
không ở trong đối tượng xấu xí hay xinh đẹp làm nên chúng, cũng không ở trong
chính tâm thức chúng ta, chúng không thể được tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.
Khi chúng ta nhìn chúng một cách gần gũi, thì chúng ta nhận ra nó thông qua sự kết
hợp của các nguyên nhân và điều kiện với nhau mà những cảm xúc này có một sức mạnh
như vậy – chúng không có bất cứ một năng lực nào của chính chúng. Chúng đơn giản
là một mối quan hệ của các nhân tố mà chúng ta xác định và đặt tên. Trong thực
tế, các cảm xúc tiêu cực hoàn toàn tuỳ thuộc vào những thứ khác. Tổn hại mà
chúng gây ra cho chúng ta là qua sự vọng tưởng. Nếu chúng ta thật sự thông hiểu
điều này, thì những cảm xúc tiêu cực không thể làm tổn hại chúng ta.
Những gì chúng ta trải nghiệm bên trong là qua những điều kiện bên ngoài đến với
nhau. Nếu chúng ta thông hiểu tất cả những hiện tượng này, bên trong và bên
ngoài, giống như một giấc mơ hay ảo ảnh, thế thì chúng ta sẽ phơi bày điểm yếu
của các cảm xúc tiêu cực. Cho nên để chinh phục chúng, chúng ta không cần cả một
kho phương pháp. Chúng ta chỉ cần nhận diện bản chất của chúng và nhận ra rằng
chúng không có bản chất thật sự.
Ẩn Tâm Lộ, 2023
Thứ Năm, 22 tháng 6, 2023
THẬN TRỌNG
Thứ Tư, 21 tháng 6, 2023
ĐI THEO TÂM BỒ ĐỀ
Nguyên bản:
Ebracing Bodhichitta
Anh dịch: Pamakara Translationg Group
Việt dịch: Tuệ Uyển, 2023
***
Trong chương thứ ba, liên hệ đến việc phát tâm bồ đề, Tịch Thiên bắt đầu bằng
việc tùy hỉ:
1.
Với niềm hoan hỉ tôi tán dương đạo đức cứu
độ tất cả chung sanh
Từ những nỗi buồn đau của các trạng thái mất mát,
Việc hân hoan trong các trạng thái hạnh phúc thụ hưởng
Của những người còn đang đau khổ.
2.
Tôi thích thú với những sự phong phú của đạo đức,
Làm cho đạt được thể trạng Giác Ngộ,
Và ca ngợi sự tự do giành được
Qua việc chúng sanh thoát khỏi vòng khổ đau.
3.
Và trong Phật quả của những Đấng Bảo vệ tôi hoan hỉ
Và trong những nền tảng thực chứng của các vị thừa kế của Đức Phật.
4.
Thái độ Giác Ngộ của các ngài, đại dương của những điều tốt lành,
Vốn tìm cách để đưa tất cả chúng sanh đến thể trạng hạnh phúc,
Và mỗi hành vi làm lợi ích cho chúng sanh:
Như vậy là sự hoan hỉ và vui sướng của tôi.
Khi chúng ta tuỳ hỉ trong những phẩm chất tốt đẹp và những hành vi tích cực của
người khác, thì chúng ta tự tích luỹ phước đức cho chính mình. Bằng việc tuỳ hỉ
trong những hành vi tích cực của chính chúng ta, thì chúng ta làm gia tăng và
làm mạnh thêm ảnh hưởng của chúng. Trái lại, nếu chúng ta khoe khoang một ít
hành tốt lành mà chúng ta có và ganh tỵ với những thứ như vậy của kẻ khác, thì
chúng ta thậm chí không được gọi là những hành giả Phật Giáo. Cho nên chúng ta
nên tuỳ hỉ là cùng vui trong tất cả những hành vi tích cực, cho của chư Phật, Bồ
tát, hay những chúng sanh bình thường.
Tiếp theo là thỉnh cầu chư Phật chuyển Pháp Luân và đừng nhập niết bàn. Điều
này theo sau sự hồi hướng công đức:
5.
Và vì vậy tôi chấp tay và cầu nguyện
Chư Phật thường trú ở mọi phương
Hãy khơi dậy ánh sáng của giáo Pháp
Cho những ai đang mò mẫm, hoang mang, trong bóng tối của khổ đau!
6.
Tôi chấp tay khẩn cầu những đấng Giác Ngộ
Những bậc muốn nhập niết bàn:
Đừng xa rời chúng tôi lang thang và mù mịt,
Hãy ở lại với chúng tôi trong vô lượng kiếp!
7.
Qua những hành vi này bây giờ được biểu hiện
Và tất cả những đạo đức mà tôi đã đạt được,
Nguyện cho tất cả khổ đau của mỗi chúng sanh
Hoàn toàn tan biến và tiêu trừ!
Bây giờ bắt đầu với việc thật sự phát tâm bồ đề, cả ngưỡng mộ và áp dụng:
23.
Giống như tất cả chư Phật trong quá khứ
Đã phát sanh tâm bồ đề ,
Và trong những giới điều của chư Bồ tát
Từng bước tuân theo và thực tập,
24.
Giống như thế, để làm lợi ích cho chúng sanh,
Tôi cũng sẽ phát tâm bồ đề,
Và trong những giới điều ấy, từng bước một,
Tôi sẽ tự mình tuân theo và tu tập.
Tâm bồ đề ngưỡng mộ hay tâm bồ đề nguyện vọng là nguyện phát sinh cùng mục đích
như chư Phật và chư Bồ tát của quá khứ. Áp dụng hay thực hành là nguyện hoàn
thành, như các ngài đã làm, tất cả những hành vi của con đường đến Giác Ngộ, vì
lợi ích của tất cả chúng sanh.
Hôm nay chúng ta sẽ chỉ lời nguyện ngưỡng mộ. Để làm điều này, chúng ta sẽ đọc
qua chương hai và chương ba của Bồ Tát Đạo hay Nhập Bồ tát Hạnh cho đến dòng thứ
hai của kệ 23. Hãy cố gắng để tập trung vào ý nghĩa và sau đó tuỳ hỉ với những
gì chúng ta đã làm.
Nhằm để tiếp thọ thệ nguyện này, tâm bồ đề ngưỡng mộ, chúng ta nên tưởng tượng
rằng phía trước chúng ta là Đức Phật và
tám người đệ tử thân cận của Ngài, sáu điều lành, hai vị thầy tối cao, kể cả Tịch
Thiên; và tất cả những vị thầy chứng ngộ của truyền thống Phật Giáo, đặc biệt
là những vị thượng thủ của các trường phái Tây Tạng: Sakya, Gelug, Kagyu, và
Nyingma trong thực tế là tất cả chư Phật và chư Bồ tát. Cũng hãy nghĩ rằng
chúng ta được bao quanh bởi tất cả chúng sanh trong vũ trụ. Với sự quán tưởng
như vậy, bây giờ chúng ta đọc Bảy Chi Cầu Nguyện:
18.
Nguyện cho tôi là người bảo vệ cho những ai không người bảo vệ,
Một người hướng dẫn cho những ai du hành trên đường.
Cho những ai mong ước vượt qua dòng nước,
Nguyện cho tôi là một chiếc thuyền, một chiếc bè, một cây cầu.
19.
Nguyện cho tôi là một hòn đảo cho những ai khao khát đất liền,
Một ngọn đèn cho những ai mong mõi ánh sáng;
Cho tất cả những ai cần một nơi ngơi nghĩ, một chiếc giường;
Cho tất cả những ai cần một người phục vụ, tôi nguyện là kẻ tôi tớ của họ.
20.
Nguyện cho tôi là một viên ngọc ước, chiếc bình của sự giàu có,
Một lời nói quyền lực và một sự cứu chữa tối thượng,
Nguyện cho tôi là một cây cối của phép mầu,
Cho mỗi chúng sanh là con bò dư dã.
21.
Giống như tự chính trái đất và bầu không gian
Và tất cả những yếu tố hùng mạnh khác,
Cho chúng sanh đa dạng vô số
Nguyện cho tôi luôn luôn là nền tảng của sự sống, nguồn gốc của phương tiện sống
đa dạng.
22.
Vì vậy cho mọi thứ sinh sống,
Xa như những giới hạn của bầu trời,
Nguyện cho tôi liên tục là cội nguồn của kế sinh nhai
Cho đến khi tất cả vượt qua khổ đau.
Hai câu cuối cùng này là rất mạnh mẽ, có phải không? Sự sống của vô số chúng
sanh tùy thuộc vào sự hiện diện của năm yếu tố hay năm đại, vì vậy chúng ta hãy
nghĩ: Giống như trái đất, nguyện cho tôi hổ trợ chúng sanh số lượng rộng rãi
như bầu trời. Và cho đến khi họ chưa đạt đến Giác Ngộ, tôi nguyện dâng hiến
mình hoàn toàn cho hạnh phúc của họ. Chúng ta hãy thành tâm nguyện ước thành tựu
Phật Giáo vì lợi ích của họ và nguyện không bao giờ từ bỏ tư tưởng này. Nếu một
số người trong các bạn không phải là Phật tử và cảm thấy rằng không thể giữ một
thệ nguyện như vậy, thế thì hãy đơn giản nghĩ, Nguyện cho tất cả chúng sanh được
hạnh phúc. Những ai trong quý vị nguyện ước tiếp nhận thệ nguyện này, xin hãy
ngồi thẳng lên, hay quỳ gối bên phải lên,và chấp tay lại. Lập lại sau tôi, ba lần,
những dòng tôi sẽ đọc bằng tiếng Tây Tạng. Đây là hai dòng đầu của kệ 23 và 24,
đến trước bằng “Đạo sư, chư Phật, chư Bồ tát, hãy lắng nghe!”
Tôi đã quán tưởng Đức Phật ngay phía trước tôi, và các bạn nên xem tôi như một
sứ giả hay một người trung gian. Hãy xem như rằng chúng ta được vây quanh bởi tất
cả những chúng sanh trong vũ trụ và phát lòng từ bi cho họ. Hãy nghĩ về Đức Phật và cảm thấy thành tâm vô cùng đối với
Ngài. Bây giờ, với lòng từ bi và thành tâm, “Nguyện cho tôi đạt đến Phật Quả!”
và trì tụng:
Đạo sư, chư Phật, chư Bồ tát, hãy lắng
nghe!
Giống như tất cả chư Phật trong quá khứ
Đã phát tâm bồ đề,
Giống như thế, vì lợi ích của chúng sanh
Con sẽ mang đến sự sanh ra tâm Giác Ngộ.
Khi trì tụng những dòng này đến lần thứ ba, như những chữ, “Con sẽ mang đến sự sinh ra tâm Giác Ngộ,”
hãy nghĩ rằng bạn đã phát khởi tâm bồ đề này trong chiều sâu của tâm thức bạn,
trong chính tuỷ của xương bạn, và rằng bạn sẽ không bao giờ đi ngược lại sự hứa
nguyện này.
Một cách truyền thống, bây giờ chúng ta trì tụng chín kệ cuối cùng của chương
này như một sự kết luận để tiếp nhận thệ nguyện.
Bây giờ chúng ta đã tiếp nhận thệ nguyện, thì chúng ta phải cố gắng để là những
con người tốt lành trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta không nên,
thí dụ, giả vờ rất tử tế trong khi chúng ta trong căn lều này và bắt đầu đấu đá
với nhau ngay khi chúng ta đi ra ngoài! Từ giờ trở đi chúng ta phải cố gắng để có
một tâm thức tích cực và ân cần: chúng ta đang hạnh phúc trong đời sống. Tôi thật
sự nghĩ rằng tương lai tùy thuộc vào phẩm chất của tâm thức mỗi người, trong một
tâm tư tốt lành. Cho nên chúng ta phải cố gắng để là những người tốt lành và là
những mẫu mực lương thiện cho những người chung quanh chúng ta. Năng lực hành động
như thế này phải đến từ mỗi người chúng ta.
Cảm ơn tất cả đã lắng nghe một cách chăm chú. Chính tôi cố gắng để thực hành
tâm bồ đề trong mọi tình huống, và tôi cố gắng tối đa như có thể để khuyến
khích người khác cũng hành động như vậy. Tôi thấy rằng đó là một sự thực hành
hoàn toàn không có gì nguy hiểm và mang đến lợi ích vô vàn.
Ẩn Tâm Lộ, 2023
Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2023
CÚNG DƯỜNG VÀ TỊNH HÓA
Nguyên bản: Offering and Purification
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Padmakara Translation Group
Việt dịch: Tuệ Uyển, 2023
***
Theo truyền thống Phật Pháp, thì rèn luyện tâm thức là một tiến trình dần dần.
Chúng ta tịnh hoá chính chúng ta bằng việc loại bỏ những nhược điểm lớn nhất của
chúng ta trước tiên. Và chúng ta phát triển những phẩm chất tốt đẹp bằng việc mở
rộng trên một ít điều chúng ta đã có. Thánh Thiên[1],
người đệ tử chính của Long Thọ, đã nói:
Trước tiên loại bỏ xấu ác,
Sau đó loại bỏ tự ngã,
Cuối cùng loại bỏ các tư tưởng.
Thông tuệ là người biết điều này.
Đây là con đường mà người thông tuệ phải tiếp nhận. “Trước tiên loại bỏ xấu ác.” Để đạt được toàn giác rốt ráo và có thể
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, thì thật cần thiết có một sự sống của con
người, vốn là sự hổ trợ tốt nhất cho quá trình tiến đến Giác Ngộ. Để có được sự
sống của con người, là một sự tái sanh may mắn, thì cần thiết tránh những hành
vi phi đạo đức vốn sẽ đưa đến việc sanh vào những cõi thấp hơn của kiếp luân hồi.
“Sau đó loại bỏ tự ngã.” Đã từ bỏ những
hành vi tiêu cực, thì chúng ta cũng phải loại bỏ những nguyên nhân của chúng, vốn
là những cảm xúc tiêu cực. Đối trị duy nhất của những điều này là tuệ trí biết
mọi thứ là không thật. Theo Long Thọ và những con cháu tâm linh của ngài, thì gốc
rễ của những cảm xúc tiêu cực là sự mê lầm tin tưởng rằng mọi hiện tượng là thật.
Điều này có nhiều khía cạnh, thô thiển và vi tế. Tuy nhiên, nhằm để làm tan biến
khái niệm của tính chất chắc thật, thì trước hết chúng ta phải từ bỏ niềm tin
trong sự tồn tại của cá thể như thực thể, hay tự ngã. Nhưng có một sự hiểu thấu
mơ hồ vào vấn đề này đơn giản là không đủ. Thật cần thiết để làm tinh tế hơn sự
thông hiểu và tuệ giác của chúng ta, và đạt đến một tuệ trí vi tế nhờ đó khái
niệm về tự ngã mới được trừ tiệt.
“Cuối cùng loại bỏ các tư tưởng.” Để
đạt đến Giác Ngộ, chúng ta phải loại trừ không chỉ những cảm xúc tiêu cực và
các nguyên nhân của chúng mà cũng làn những thói quen làm chướng ngại tri thức
của chúng ta. Một khi chúng ta đã tiêu diệt những chướng ngại này thì chúng ta
thành tựu toàn giác toàn tri. Con đường dẫn đến điều này là tuệ trí thông hiểu
rằng mọi thứ không có thực chất.
Qua việc hành thiền, thì chúng ta có thể thiết lập một cách vững vàng quan kiến
về tánh không. Quan kiến phi thường này, được thấm nhuần với từ bi và phối hợp
việc tích luỹ công đức, hoàn toàn phá huỷ những bức màn làm chướng ngại tri thức.
Mục tiêu của việc hành thiền là để hoạt động như sự đối trị đến những cảm xúc
tiêu cực của chúng ta và những dấu vết của chúng, một cách gián tiếp, đến những
chướng ngại của tất cả những chúng sanh khác. Một khi mục đích này đã đạt được,
thì tất cả mọi khái niệm, kể cả về tánh không, phải được từ bỏ.
“Thông tuệ là người biết điều này.”
Điều này chỉ cho những người biết các giai đoạn khác nhau của con đường những
điểm tinh yếu của nó và những người thực hành chúng trong một trình tự đúng đắn
vì thế họ đạt được sự thực chứng hoàn toàn. Do vậy, thật rất quan trọng để biết
thực hành một cách chính xác như thế nào và không thoả mãn với một tri thức mơ
hồ hay cục bộ của con đường. Tác phẩm Bồ Tát Đạo cống hiến một sự giải thích đầy
đủ của toàn bộ con đường. Xin hãy học hỏi nó với xu hướng đưa vô lượng chúng
sanh, những người từng là cha mẹ chúng ta, đến Giác Ngộ.
Nếu chúng ta có nguyện ước hổ trợ chúng
sanh, thì chúng ta phải có thể giải thoát họ khỏi khổ đau và xua tan sự si mê của
họ. Điều này có nghĩa là tự chính chúng ta phải có sự thực chứng chân thật, và
điều này có thể không chỉ là việc thành tựu qua nổ lực và việc phát triển tuệ
giác trong sáng và sự tĩnh lặng của tâm. Đây là vấn đề phát triển tâm bồ đề
tương đối và bắt đầu hổ trợ chúng sanh như thế nào.
Trước khi tiếp nhận thệ nguyện tâm bồ đề, chúng ta nên giữ trong tâm những gì
chúng ta đang hướng tới và chúng ta tiến hành như thế nào. Sau đó khi chúng ta
trì tụng Bảy Chi Cầu Nguyện, với tư tưởng của chúng ta trực tiếp đến lý tưởng của
tâm bồ đề. Điều thứ nhất của Bảy Chi là tôn kính:
1.
Đến chư Phật, những Đức Như Lai,
Và đến thánh Pháp, không tì vết và cực kỳ quý hiếm,
Và đến con cháu của Đức Phật, những đại
dương của các phẩm chất tốt đẹp.
Mà con có thể đạt được thái độ quý báu này, tôi xin cúng dường trọn vẹn.
Điều này tiếp theo chi cúng dường:
2.
Tôi cúng dường mọi quả trái và bông hoa,
Tất cả các loại dự thảo chữa bệnh
Và tất cả ngọc châu quý giá của thế gian,
Với tất cả những loại nước tinh khiết giải khát;
3.
Mọi núi non đã nung đúc nên những đồ trang sức quý giá,
Tất cả ngọt ngào và riêng biệt lớn lên từ rừng thẳm,
Những cây cối của thiên đàng được trang hoàng với sự rộ nở,
Cây cối với những cành lá nặng trĩu với quả trái hoàn hảo.
4.
Mùi nước hoa thơm ngát của thiên thần và những thế giới khác,
Tất cả khói hương trầm, những cây như ý, và những cây châu báu,
Tất cả những mùa màng sinh trưởng mà không cần sự chăm sóc của nông dân,
Và mọi sự lộng lẫy xa hoa thế gian được cúng dường;
5.
Những hồ và ao được trang hoàng với các bông sen,
Hoan hỉ với những giọng kêu ngọt ngào của các con vịt nước.
Và mọi thứ tự do và không đòi hỏi
Mở rộng đến chân trời vô tận.
6.
Tôi ôm ấp tất cả chúng trước tâm tôi, và đến bậc Hiền Nhân, vĩ đại nhất trong
chủng loại của chúng ta,
Và đến những vị thừa kế của ngài, tôi thực hiện một sự cúng dường tuyệt vời.
Những bậc tiếp nhận siêu phàm, những bậc uy đức từ bi,
Ôi xin hãy nghĩ về tôi với lòng thương yêu; chấp nhận mọi cúng phẩm này của tôi!
Ở đây chúng ta thực hiện sự cúng dường mọi thứ chúng ta có cùng với mọi thứ
khác trong vũ trụ, những thứ thuộc sở hữu của những người nào đó và những thứ
không thuộc về ai. Sau đó chúng ta cúng dường chính thân thể của chúng ta. Cho
dù chúng ta có hay không có một thân thể hoàn hảo, thì chúng ta cũng cúng dường
nó một cách chân thành. Đây là một phương pháp để ngoảnh mặt với những hành vi
tiêu cực trên cấp độ vật chất. Tiếp theo chúng ta thực hiện sự cúng dường bồn tắm
nước thơm, áo quần chư thiên, nước hoa tuyệt hảo, hương, những bài hát ca ngợi,
và v.v...
Với tất cả những thứ cúng dường này không phải số lượng mà phẩm chất được tính
đến. Phẩm chất liên hệ cả những thứ vật chất và mục tiêu mà với nó chúng được
cúng dường. Những thứ vật chất cúng dường không nên là những thứ thu được một
cách không trung thực. Mục tiêu của chúng ta không nên bị ô nhiễm bởi tám thứ bận
tâm thế gian: được hay mất, vui hay khổ, ca ngợi hay phê phán, và danh dự hay bỉ
ổi.
Khi chúng ta nói về những thứ cúng dường vốn không thuộc về ai, chẳng hạn như
những phong cảnh xinh đẹp trên thế giới và tất cả vũ trụ khác nhau vốn không
thuộc về ai, nhìn thoáng qua thì chúng dường như không gì liên hệ với chúng ta.
Điều gì đó cúng dường một cách tinh thần mà chúng ta không sở hữu có ích gì?
Nhưng trong Abhidharma[2] có
nói, “Tất cả những hệ thống thế giới là kết quả của nghiệp.” Và theo Lối Vào
Trung Đạo[3]:
Sự đa dạng vô số của chúng sanh và vũ trụ
Đã được tạo ra bởi tâm.
Tất cả những vũ trụ và chúng sanh là kết quả của nghiệp.
Vũ trụ mà chúng ta sinh sống và sự chia sẻ nhận thức của chúng ta về nó là kết
quả của một nghiệp duyên chung. Giống như thế, những nơi chốn mà chúng ta sẽ trải
nghiệm trong tương lai tái sanh sẽ là biểu hiện của nghiệp duyên mà chúng ta
chia sẻ với những chúng sanh khác sống ở đấy. Những hành vi của mỗi chúng ta, của
những con người hay không phải người, được đóng góp đến thế giới mà chúng ta sống.
Tất cả chúng ta có một trách nhiệm chung cho thế giới của chúng ta và được nối
kết với mọi thứ trong ấy. Đây là tại sao mà chúng ta có thể thực hiện một sự
cúng dường về nó.
Tiếp theo là chi phần về sự tôn kính.
24.
Đến tất cả chư Phật của quá khứ, hiện tại
và mọi thời trong tương lai,
Và đến chư Pháp cùng Hải Hội Tăng Già CaoThượng,
Với những thân thể nhiều như những hạt bụi
Trên mặt đất, tôi sẽ phủ phục và lễ lạy.
Những sự phủ phục là một sự đối trị đối với kiêu ngạo và tự phụ. Trước khi những
vị thầy bắt đầu giảng dạy, thì họ lễ phủ phục đến bảo toạ mà họ sẽ ngồi trên ấy.
Họ làm điều này như một sự phòng hộ chống lại lòng tự phụ. Ở đây chúng ta phải
phân biệt giữa sự tự phụ và lòng tự tin. Tự phụ thì không đáng ưa thích, trái lại
chúng ta cần có một lòng tự tin và sức mạnh nội tại đến từ ấy.
Chi phần sám hối đến trước bởi sự quy y.
26.
Cho đến khi tinh hoa Giác Ngộ đạt được,
Tôi xin quy y đến chư Phật.
Tôi cũng quy y đến chư tôn Pháp
Và trong tất cả hải hội Bồ tát.
Để thực hiện một sự sám hối đúng đắn, thì cần thiết phải làm như vậy với bốn
năng lực. Điều thứ nhất, là năng lực gia hộ, đó là quy y Tam bảo và phát tâm bồ
đề. Điều thứ hai đòi hỏi một sự ăn năn sâu xa và hối hận chân thành cho tất cả
những hành vi tiêu cực mà chúng ta đã làm cho đến bây giờ và những cảm xúc tiêu
cực mà chúng ta đã mê lầm. Điều này đòi hỏi sự phản chiếu về những ảnh hưởng tổn
hại của những hành vi tiêu cực. Điều thứ ba là sự quyết tâm không bao giờ phạm
phải những hành vi tiêu cực này, ngay cả nếu là cái giá của tính mạng chúng ta.
Điều thứ tư là năng lực của những đối trị, chẳng hạn như lễ phủ phục, trì tụng
mật ngôn, và những thực hành tịnh hoá đặc thù nào đó.
Cũng như suy nghĩ về những hậu quả của những hành vi tiêu cực, thì chúng ta phải
thực hiện sự sám hối của chúng ta một cách sâu sắc và mạnh mẽ hơn bằng việc phản
chiếu về sự chết không thể tránh khỏi và không biết khi nào nó xảy ra. Khi
chúng ta chết, tương lai của chúng ta sẽ được quyết định duy chỉ bởi những hành
vi tích cực và tiêu cực mà chúng ta đã làm.
33.
Chúng ta không thể tin tưởng sự đùa giỡn của Thần Chết.
Nhiệm vụ hoàn thành hay vẫn đang làm, ông ấy sẽ không chờ.
Do vậy, trong khoẻ mạnh hay bệnh hoạn không ai trong chúng ta có thể tin cậy.
Sự sống của chúng ta lướt nhanh theo thời khắc.
34.
Và chúng ta sẽ qua đời, bỏ lại tất cả.
Nhưng tôi, không thông hiểu,
Vì lợi ích của những người bạn cũng như kẻ thù,
Kích động và mang đến rất nhiều sai lầm.
35.
Nhưng tất cả những kẻ thù của tôi sẽ không còn,
Và tất cả những người bạn của tôi sẽ không còn,
Và tôi cũng sẽ không còn,
Và giống như thế mọi thứ sẽ không còn.
38.
Tư tưởng đó đã không bao giờ đến tâm tôi
Rằng tôi cũng vậy là một thứ ngắn ngủi và thoáng qua.
Và cũng thế, qua thù hận, tham muốn, và si mê,
Tôi đã phạm phải nhiều tội lỗi.
Nếu chúng ta nghĩ về sự chết trong cách này, thì tự nhiên chúng ta sẽ hối hận về
những hành vi tiêu cực trong quá khứ và mong ước sám hối chúng ngay lập tức, cảm
nhận xấu ác sẽ giải được giải toả cho đến khi chúng ta hoàn toàn tịnh hoá
chúng. Đó là với một sự cảm xúc thúc đẩy như vậy trong tâm mà Tịch Thiên đã
nói:
47.
Vì vậy, từ ngày hôm nay trở đi tôi quy y
Trong chư Phật, những đấng bảo hộ của chúng sanh,
Những bậc đã gắng công để bảo vệ tất cả những kẻ lang thang,
Những đấng quyền năng làm tan biến mọi nỗi sợ hãi.
Đức Phật bậc cho chúng ta quy y đã chinh
phục bốn loài ác ma[4]:
các uẩn (skandhas), các cảm xúc tiêu cực, sự chết, và sự kiêu căng.[5]
Tuy nhiên, chúng ta không thể dựa vào sự bảo hộ của chư Phật nếu không có lòng
từ bi lớn của Ngài. Ngay từ thời khắc Ngài phát tâm bồ đề cho đến khi Ngài
thành tựu Giác Ngộ, Đức Phật không bao
giờ ngừng hành động vì lợi ích của chúng sanh, phù hợp với năng lực và nguyện vọng
của mỗi cá nhân. Vì lý do này Ngài được biết như Đấng Bảo Hộ của Chúng Sanh.
Cho nên chính là trong năng lực này, mà
Đức Phật từ bi, có thể xua tan mọi sợ hãi, từ lúc chúng ta phát tâm quy
y. Chúng ta cũng quy trong những lời dạy của Ngài và trong hội chúng Bồ tát vốn
đã thông hiểu những giáo huấn này.
Liên quan đến việc quy y Phật, Trần Na[6], mở
đầu Tập
lượng luận (Compendium of Logic), như vầy:
Ngài đã trở thành xác thật và biết giúp đở
chúng sanh như thế nào:
Con lễ phủ phục đến Đức Phật, Đấng Thiện
Thệ, Đấng Bảo Hộ.
Chúng ta muốn nói với bậc xác thật (authentic)
là đấng thoát khỏi khổ đau và sợ hãi và là đấng biết giải thoát chúng sanh như
thế nào. Ngài giúp đở chúng sanh một cách vô tư và với lòng từ bi lớn, bảo hộ tất
cả những ai cần. Tuy nhiên, Ngài không xuất hiện một cách tự nhiên và không có
nhân duyên gì, như một đấng tạo hoá. Ngài không phải lúc nào cũng xác thật.
Ngài đã trở thành một đấng quy y xác thật như một kết quả của những nguyên nhân
và điều kiện rõ ràng, trước nhất là khát vọng cứu giúp chúng sanh. Khi
chính Đức Phật là một chúng sanh bình
thường muốn hạnh phúc và tránh khổ đau, Ngài nhận ra rằng những cảm giác này là
tất cả mọi người chia sẻ với nhau, và Ngài rung động bởi lòng từ bi lớn để giải
thoát tất cả khỏi buồn khổ và đem hạnh phúc đến cho họ.
Nhưng để giúp cho những kẻ khác, chỉ nguyện ước thì không đủ. Thực tế thì những
tư tưởng vị tha có thể trở thành một nỗi ám ảnh và làm chúng ta thêm lo lắng.
Khi những tư tưởng tốt lành và tích cực được phối hợp với tuệ trí, thì chúng ta
biết giúp đở chúng sanh một cách hiệu quả và có thể làm như thế một cách thật sự. Đức Phật, tràn ngập với lòng từ bi, thấy
chúng sanh khổ đau như thế nào, và biết nguyên nhân làm cho họ đau khổ là sự
náo động không thể kiểm soát của tâm thức họ, Ngài biết giúp đở họ như thế nào.
Ngài biết rằng tâm thức của họ không thể kiểm soát được cuối cùng bởi vì sự si
mê, niềm tin sai lầm trong thực tại của mọi thứ. Ngài cũng biết đối phó điều
này với tuệ trí của tánh không. Vì Đức
Phật là một bậc biết hổ trợ chúng sanh bằng việc chỉ cho họ những gì họ nên làm
và những gì họ nên tránh và trên tất cả, Ngài chỉ bày cho họ tuệ trí thực chứng
tánh không.
Vì mục tiêu này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đã dạy con đường chọn lọc Tứ Diệu Đế với mười sáu phần. Trước nhất Ngài tập họp chung quanh Ngài những người
chưa bắt đầu trên con đường và trưởng dưỡng tâm thức họ bằng việc chỉ bày cho họ
sự vô thường và khổ đau, hướng tư tưởng họ khỏi vòng luân hồi. Sau đó Ngài giải
thoát những ai đã trưởng thành bằng việc dạy họ về sự không thật của mọi thứ,
làm cho sự thông hiểu về tánh không sinh
khởi trong tâm thức họ và hướng họ đến sự giải thoát tối hậu.
Chúng ta gọi Đức Phật là là vị Thầychúng
ta vì Ngài chỉ cho chúng ta những gì để tránh và những gì nên tiếp nhận. Chính
Ngài đã phát triển tuệ trí vô thượng thông hiểu tánh không đến mức độ mà tất cả
những nhận thức nhị nguyên biến mất, và sự thực chứng của Ngài hoàn toàn. Trên
căn bản kinh nghiệm của chính Ngài, thì Ngài có thể làm tan biến khổ đau của
người khác và cho họ sự nương tựa. Tuy nhiên, giống như trong đời sống hàng
ngày, chúng ta sẽ không tin ai cả cho đến khi chúng ta đã kiểm chứng rằng những
gì người ấy đã nói đáng tin cậy và chân thật, giống như vậy, chúng ta phải thẩm
tra giáo huấn của Đức Phật một cách cẩn
thận trước khi chấp nhận. Nói một cách tổng quát, những giáo huấn này có hai loại:
những thứ chỉ cho chúng ta đạt được hạnh phúc trần gian trong những sự tái sanh
cao hơn và những thứ dạy cho chúng ta con đường đến sự tự do tuyệt đối của Phật
Quả.
Nhập Lăng Già Kinh (Sutra Of The Visit To
Lankara) nói về ngũ thừa hay năm cổ xe[7]:
nhân thừa, thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, và Bồ tát thừa. Hai thừa
đầu là thông thường cho cả truyền thống Phật Giáo và không Phật Giáo. Ba thừa
sau là đặc biệt cho con đường Phật Giáo nói về giáo lý đến sự tự do rốt ráo và
tánh không, vốn là những gì chúng ta thường liên hệ đến khi chúng ta nói về
giáo lý nhà Phật.
Khi chúng ta thẩm tra một giáo lý, chúng ta thường phân tích những điểm chính yếu.
Nếu nó đứng vững với sự phân tích và chứng tỏ là đúng đắn, rồi thì bất cứ sự
mâu thuẩn nào rõ ràng trong những chi tiết nhỏ nhặt là không quan trọng. Như nó
được nói trong Luận Lý Pháp (Treatise On
Logic):
Nếu điểm chính yếu là đáng tin cậy,
Thì tất cả những gì còn lại là thứ yếu.
Và chính Đức Phật đã nói:
Này chúng tăng, giống như kiểm tra vàng
nhằm để biết phẩm chất của nó,
Các ông phải đem những lời của ta mà kiểm nghiệm.
Một người thông tuệ không chấp nhận chúng chỉ vì sự tôn kính.
Đừng lấy những lời Đức Phật từng chữ một đơn giản chỉ vì sự tôn trọng. Hãy thẩm
tra chúng và tôn trọng chúng chỉ khi bạn một lý do tốt đẹp cho việc làm như thế.
Dĩ nhiên, đức tin là rất quan trọng cho sự thực hành tâm linh, nhưng sự thành
tâm mù quáng với Đức Phật là không đủ.
Chúng ta phải có những lý do vững chắc cho việc tôn trọng giáo lý của Ngài.
Trong Phật Pháp, và đặc biệt trong giáo lý Đại thừa thì sự phân tích logic là
vô cùng quan trọng.
Những luận điển và logic Phật Giáo nói về quả
và hai khía cạnh của nó: khía cạnh biểu hiện và khía cạnh bị che dấu. Đối với
những chúng sanh thông thường, Quả Phật vẫn bị che mờ. Nếu chúng ta mong ước thực
chứng nó mà không đi lạc đường, thì chúng ta phái tiếp nhận con đường phối hợp
phương tiện và tuệ trí, vì nó được căn cứ trên những nguyên tắc vững chắc và phản
chiếu bản chất chân thật của mọi thứ.
Để thực hành một cách đúng đắn, bất cứ đi theo con đường nào, thì chúng ta phải
không bao giờ mâu thuẩn với ý nghĩa chung. Trong Phật Giáo có nhiều giáo lý
khác nhau cho chúng sanh ở các vị trí khác nhau và trình độ cùng sự thông minh
của người tiếp nhận. Đó là tại sao có sự hiện hữu của những cổ xe khác nhau như
Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, và Bồ tát thừa. Cùng lý do ấy, bốn trường phái
triết học – Tỳ Ba Sa, Kinh Lượng Bộ, Duy Tâm luận, và Trung Đạo – và vô số chi
phái sinh khởi để đáp ứng cho những năng lực thông minh khác nhau.
Ẩn Tâm Lộ, 2023
[1] Thánh
Thiên (thế kỷ thứ hai) là một
luận sư Phật giáo nổi tiếng của Ấn Độ, đệ tử trực tiếp của luận sư Long Thọ, tác giả của bộ luận Bách luận.
Thánh Thiên am hiểu sâu sắc Phật Pháp, tiếp tục công việc của Long Thọ, giải thích sâu xa hơn giáo lý Trung Đạo.
[2] A tỳ đạt ma - Vi Diệu Pháp, là những
giáo lý cao siêu, vi diệu, vì nó vượt trên các Pháp, giải thích Trí tuệ. Chữ đầu
Abhi dùng để diễn đạt sự tinh tế, sâu xa, Danh từ Dharma dịch là Pháp, một Phạn ngữ có nhiều nghĩa, ở đây nó
có nghĩa là lời dạy của Ðức Phật. Abhidharmagiải thích giáo lý siêu hình của
Phật Giáo và có nhiều trình độ khác nhau trên con đường đến Phật Quả.
[4] Demon dịch ác ma, hay ma trong Phật Giáo
chỉ cho những chướng ngại đến tiến trình tâm linh chứ không phải ma quỷ bên
ngoài.
[5] Bốn
loại ma đó là: Phiền não ma, ngũ ấm ma, thiên ma và tử ma.
[7] Humans and celestial, brama, Shravakas,
Pratyeka Buddhas, and Bodhisattvas.
Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023
PHƯƠNG PHÁP THÀNH TỰU CỦA ĀRYA AVALOKITEŚVARA
THỰC HÀNH ĐẠI TỪ &··ĐẠI
THỦ ẤN HỢP NHẤT
The Method of Accomplishment of Ārya Avalokiteśvara
The Practice of Great Compassion &
Mahāmudrā in Union
Great Compassion
& Mahāmudrā in Union | Lotsawa House
Tác giả:Chögyal Pakpa
Anh dịch: Jeff
Watt, Vancouver, B.C. January 14, 1995.
Việt dịch: Quảng Cơ / Tuệ Uyển hiệu đính, 2023
***
ཨོཾ་སྭ་སྟི་སིདྡྷཾ།
Oṃ svasti siddham!
Đến Đạo Sư, và Tam Bảo, con kính lạy.
Ngồi trong tư thế kim cang trên một bồ
đoàn thoải mái.
Con quy y Đạo sư.
Con quy y chư Phật.
Con quy y chư tôn Pháp.
Con quy y chư Tăng già.
(3 lần)
Vì lợi ích của tất cả chúng sanh, con phải đạt đến Phật Quả.
Vì mục đích ấy, con sẽ tu tập trong nghi thức hành thiền ổn định thậm thâm này.
Hành thiền trong tư tưởng Giác Ngộ. Sau
đó nói:
ཨོཾ་སྭ་བྷཱ་ཝ་ཤུདྡྷཿསརྦ་དྷརྨཱ་སྭ་བྷཱ་ཝ་ཤུདྡྷོ྅་ཧཾ།
om sobhaw shuddhah sarwa dhama sobhawa shuddho hang
oṃ svabhāva śuddha sarva dharma svabhāva śuddho ‘ham
Hãy thiền định về cơ thể của chính mình được thanh lọc bởi tính không không
khách quan.
Từ thể trạng
tánh không, ngay lập tức phía trên bảo toạ, hoa sen và mặt trăng,
Con [xuất hiện] như Đấng Đại Bi, với thân màu trắng,
Một mặt, bốn tay.
Hai tay trước chắp lại tại trái tim
Thỉnh cầu tất cả chư Phật làm lợi ích cho chúng sanh.
Tay phía dưới bên phải giữ một xâu chuỗi màu trắng;
Tay phía dưới bên trái cầm hoa sen báu.
[Ngồi bằng hai chân trong tư thế kim cang], được trang hoàng bằng vương miện
bằng châu báu, bông tai, dây chuyền, tất cả những đồ trang sức bằng châu báu và
những thứ tương tự,
Và mặc quần áo của các loại quần áo thiên đàng khác nhau;
Từ thân vô lượng hào quang tỏa ra thành tựu lợi lạc chúng sanh.
Trên đỉnh đầu, tập hợp thành một, là tánh giác nguyên sơ của tất cả chư Phật, A
Di Đà như một vương miện. Hãy thiền định về sự thiếu bản chất vốn có của hình
tướng, giống như hình ảnh phản chiếu trong gương, hãy thiền định giữ trong tâm
trong một lúc.
Sau đó, quan sát A Di Đà trên đỉnh đầu.
Đức Thế Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Lượng Thọ A Di Đà, con
cầu nguyện, tịnh hóa mọi tội lỗi và chướng ngại và nhanh chóng tăng trưởng tích
lũy công đức và trí tuệ.
Hãy phát khởi một dòng thiền định tương tục xuất sắc hoàn hảo, nhanh chóng được
hoàn thiện và hoàn toàn thanh tịnh.
Hãy cầu nguyện ba lần từ trái tim. Sau đó, phù hợp với suy nghĩ[sau đây]:
Hạnh phúc và đau khổ, sinh tử và niết bàn, gốc rễ của tất cả là tâm của chính
mình.
Tâm đó, khi được khảo sát, được thấy là không có màu sắc hay hình dạng;
[điều ấy] không phải số ít hay số nhiều
là trống rỗng về bản chất cố hữu.
Bởi năng lực không có bản chất tự nhiên từ đầu, không có nguyên nhân đầu tiên,
là vô sanh.
Vì không sanh, không có trước, đoạn giữa là trống không sự còn lại.
Vì không trụ, không tan nên ở giữa là không diệt. Không có bất cứ căn bản hay
gốc rể nào nên mọi công phu [tinh thần] đều tự do như bầu trời.
Hãy thiền định về các công phu chặc chẽ, không có bất kỳ đặc tính và khái
niệm nào, và thực hành với tâm thư thái, không dính mắc tinh thần, trong trạng
thái công phu tự tại.
Sau khi làm quen,
Không có sự tạo tác tinh thần
Ở trong một thời gian dài.
Sau đó hãy thiền định: trong trái tim con từ chữ HRĪḤ, vòng hoa mật ngôn theo
kiểu ánh sáng chiếu ra.
Lòng từ bi của tất cả chư Phật được thỉnh cầu; các ngài ban phước gia hộ cho con
và thành tựu lợi ích của chúng sanh.
ཨོཾ་མ་ཎི་པདྨེ་ཧཱུྃ།
om mani padmé hung
oṃ maṇi padme hūṃ
***
Niệm càng nhiều càng tốt,
Sau khi trì tụng, hãy hồi hướng: “Nhờ những thiện căn này, nguyện chúng con đạt
được quả vị Phật.”
Vào thời điểm sinh hoạt hàng ngày, nơi ở của một người là Sukhāvatī.
Bản thân là thị giả của Thế Tôn Vô Lượng Thọ (Amitāyus) với niềm tự hào là Đức
Mahākāruṇika, không bao giờ rời khỏi suy nghĩ về nơi an trú.
Từ đó trở đi luôn thực hiện yoga; trong đời này và những đời sau, cắt đứt
chướng ngại, an tịnh tất cả, và trong một kiếp vị lai sinh vào cõi Cực Lạc,
nhanh chóng thành tựu viên mãn với chứng ngộ rõ ràng.
Cách thức thực hành “Đại Bi và Đại Thủ Ấn hợp nhất,” chỉ dẫn thâm sâu này của
Đức Sakyapa là do học trò của tôi Motön Tsage Zuphur
yêu cầu. Những lời ngắn gọn này được Pagpa viết vào năm Hỏa Chuột Đực [1276],
tháng thứ tư, ngày thứ tám.
| Translated by Jeff
Watt, Vancouver, B.C. January 14, 1995. Revised May 18, 1999.
Revised October 2008. First published on Lotsawa House, 2021.
Source: Sa skya pa'i bKa' 'Bum, vol.7, page
70-1-4. sGrub Thabs Kun
bTus, vol.3, fol.2–5.
Version: 1.0-20210903
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/chogyal-pakpa-lodro-gyaltsen/avalokiteshvara-mahamudra
Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023
LỢI ÍCH CỦA BỒ ĐỀ TÂM
Nguyên tác: The Benefits Of Bodhichitta
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: The Padmakara Translation Group
Việt dịch: Tuệ Uyển, 2023
***
Nhập Bồ Tát Đạo mở đầu với sự tôn kính chư Phật và chư Bồ tát, những bậc tiếp
nhận vô thượng của cúng dường.
1-
Đến những bậc thâm nhập hạnh phúc tối thượng,
Pháp thân mà họ sở hữu, và tất cả những vị thừa kế của họ,
Đến tất cả những bậc đáng để tôn sùng, tôi thành kính đảnh lễ.
Theo kinh điển, bây giờ tôi sẽ diễn tả tóm tắt
Sự thực hành của nguyên tắc Bồ tát.
Cụm từ ‘những bậc thâm nhập hạnh phúc tối thượng’ là đồng nghĩa với Đức Phật và là sự chuyển dịch của chữ Sugata, (tiếng Việt: Thiện Thệ). Từ ngữ này được hình thành với
hai yếu tố: sukha có nghĩa là “hạnh
phúc [nhất]” hay lạc, và gata nghĩa
là “đến.” Một Thiện Thệ do thế là “người
đã đạt đến hạnh phúc” - [bậc thâm nhập
tối lạc] hay theo Luận điển về Logic[1],
“một bậc đã đạt được, hay thâm nhập một cách hoàn hảo.” Việc thành tựu thể trạng
hạnh phúc có hai khía cạnh: thực chứng và loại trừ.
Khi tâm phát triển những phẩm chất tâm linh và loại trừ tất cả những trở ngại
chúng, nó đạt được một cách tăng tiến năng lực để thấy rõ ràng bản chất của mọi
hiện tượng, cho đến khi nó nhận thấy bản chất tối hậu mà không có bất cứ trở ngại
nào. Sự nhận thấy này về các hiện tượng như ‘chúng thật sự là’ là tuệ trí vốn biết mọi thứ mà không có sự sai lầm
tối thiểu nào.
Khía cạnh thực chứng liên hệ đến việc hành thiền về sự vắng mặt của thực tế
trong các hiện tượng. Điều này đưa đến (1) sự hiểu biết hoàn hảo về vô số hiện
tượng và (2) sự hiểu biết hoàn hảo về bản chất của chúng. Sau đó, qua năng lực
của những đối trị, chúng ta loại trừ tất cả những màn che giả dối chướng ngại sự
thông hiểu của chúng ta, vốn có thể làm cho chúng ta nhận thức mọi hiện tượng
trong hình thức chân thật của chúng và đạt đến (3) sự hiểu biết hoàn hảo về tất
cả mọi hiện tượng mà không có ngoại lệ. Ba loại hiểu biết hoàn hảo này cấu
thành ba đặc trưng của việc thành tựu hạnh phúc tối thượng qua thực chứng.
Quan kiến hay sự thông hiểu không sai lầm này phát triển dần dần qua sự thực
hành. Khi nó trở nên mạnh mẽ hơn và rõ rệt hơn, nó hoạt động như một sự đối trị
đến niềm tin sai lầm trong tự ngã và trong thực tại của các hiện tượng, vốn như
một kết quả trở thành yếu hơn và yếu hơn. Cuối cùng, khi sự đối trị này đã đạt
đến một năng lực trọn vẹn, thì tuệ trí vô niệm vốn thấy sự vắng bóng của tự ngã
sinh khởi[2] -
(thực chứng vô ngã). Tuệ trí này vì
thế làm mất tác dụng của những chướng ngại, và nó loại trừ những cảm xúc tiêu cực
đơn giản qua việc thấy mọi hiện tượng như chúng thật sự là. Đây là những gì
chúng ta gọi là sự loại trừ hoàn hảo.
Đây không phải là vấn đề của việc làm giảm thiểu sức mạnh cuả những cảm xúc
tiêu cực một cách tạm thời qua việc hành thiền tập trung của những cấp độ vi tế
khác nhau. Một khi những cảm xúc phiền não đã được loại trừ bởi những phương tiện
của tuệ trí vô niệm, thì chúng bị loại trừ vĩnh viễn. Chúng không thể tái diễn
trở lại ngay cả trong những trường hợp chúng bị kích thích trước đây. Điều này
được biết như sự loại trừ không thể bị đảo ngược. Khi tuệ trí vô niệm phi thường
được hoàn thành qua thực hành và tất cả những chướng ngại với nó đã bị xoá bỏ
qua đối trị, rồi thì chúng ta nói rằng sự loại trừ đã được hoàn tất.
Ba khía cạnh này – tuyệt hảo, không thể đảo ngược,và hoàn tất – là ba đặc tính
của việc thực chứng qua loại trừ. Một Thiện Thệ, thế thì, là một bậc “đã đến”
qua ba thực chứng này và ba loại trừ này.
Một Thiện Thệ [bậc thâm nhập tối lạc],
bậc có Pháp thân bắt đầu bởi việc từ bỏ những cảm xúc tiêu cực, tại điểm ấy,
thì vị ấy đạt đến cấp độ đầu tiên [thấy đạo] trong mười cấp độ của Bồ tát đạo[3]. Vị
ấy sau đó tiến tới theo con đường Phật Quả cho đến khi đạt đến cấp độ không cần học nữa [vô học]. Ở thời điểm ấy,
vị ấy nhận ra không gian tuyệt đối thanh tịnh một cách hoàn hảo, bản chất tuyệt
đối, và thân thể tuyệt đối, hay Pháp thân. Khi những chướng ngại đến vô minh
tan biến hết, thì tất cả những phẩm chất của tuệ trí nguyên sơ xuất hiện, đặc
biệt là hai mươi mốt phẩm chất thuần khiết của Pháp thân. Điều còn lại sau khi
tất cả những chướng ngại đã bị loại trừ được gọi là tuệ trí nguyên sơ.
Khía cạnh thực chứng của Pháp thân là cực điểm sự thật của con đường [đạo đế],
trong khi khía cạnh loại trừ của nó là cực điểm của sự thật chấm dứt [diệt đế].
Cùng với nhau, hai sự thật này cấu thành Pháp Bảo, yếu tố thứ hai của Tam Bảo
mà chúng ta quy y. Pháp thân vì thế là khía cạnh tối hậu của giáo Pháp. Báo thân
và Hoá thân, vốn biểu hiện từ Pháp thân, cấu thành Tăng Bảo, những vị đã đạt đến
con đường không phải học nữa (những bậc vô học). Và Đức Phật hay Phật Bảo, là bậc thoát khỏi mọi
khiếm khuyết và thành tựu mọi phẩm chất tốt đẹp, là bậc sở hữu sự thật của con
đường (đạo đế) và sự thật chấm dứt (diệt đế). Ba thứ này – Phật, Pháp và Tăng –
là ba quy y tuyệt đối.
Hội chúng của Đại thừa Bồ tát, Thanh
Văn, và Duyên Giác, những bậc tiến tới trên con đường, có thể được gọi cộng đồng
vô thượng, hay Tăng bảo, Sangha. Đấy
là đối với các ngài, cùng với tất cả các vị phàm tăng tôn kính khác, mà Tịch
Thiên (Shantideva) đảnh lễ ở đây.
Đã đảnh lễ Tam Bảo, ngài tuyên bố mục tiêu của ngài để viết nên luận văn này, vốn
là sự biên soạn hành vi của các vị Bồ tát, hay con cái của Đức Phật.
Đức Phật được nói là có ba loại thừa kế. Con huyết thống của Ngài là La
Hầu La. Thừa kế lời nói của Phật là các vị Thanh Văn và Duyên Giác. Và thừa kế
tâm Phật là các vị Bồ tát. Những vị được đề cập sau cũng được liên hệ như những
bậc thừa kế chính yếu của Phật, vì họ khao khát, vì lợi ích của tất cả chúng
sanh, đến tất cả những phẩm chất siêu phàm của Phật Quả, việc áp dụng những
phương pháp không sai lầm của con đường từ bi và tánh không. Họ là những vị thừa
kế của Đức Phật mà Tịch Thiên đang liên
hệ đến ở đây, và chính là những hành vi của họ, bao trùm những điểm tinh yếu của
con đường tâm linh.
Việc rèn luyện một vị Bồ tát bao gồm sự thực hành mười ba la mật[4]. Điều
này có thể được tóm tắt như ba nguyên tắc (tam tụ tịnh giới): tránh làm các việc
tổn hại (nhiếp luật nghi giới), thực hành những việc đạo đức (nhiếp thiện pháp
giới), và hành động vì lợi ích của chúng sanh (nhiêu ích hữu tình giới). Tịch
Thiên diễn tả con đường này trong ba giai tầng: thâm nhập, tu tập, và hoàn
thành. Sự thâm nhập liên hệ đến việc thọ Bồ tát giới, và việc nhận thức đầu
tiên nguyện vọng cho việc Giác Ngộ, được gọi là tâm bồ đề. Phần chính của luận
điển này diễn tả việc tu tập vốn theo sau việc phát tâm bồ đề, đó là sự thực
hành sáu ba la mật. Mục tiêu của việc này, hoàn thành Phật Quả, được diễn tả một
cách tóm tắt ở cuối chương thứ chín.
Chúng ta muốn nói gì với từ ngữ Bồ tát – Bồ Đề Tát Đoả - Bodhisattva? Bodhi – Bồ đề, có nghĩa là Giác Ngộ, thể trạng vắng mặt
mọi khiếm khuyết và được phú cho tất cả mọi phẩm chất tốt đẹp. Sattva – Tát đoả, liên hệ đến vị nào đó
can đảm và tự tin và người cố gắng để thành tựu Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả
chúng sanh. Những ai có nguyện ước tự phát, chân thành để đạt được Giác Ngộ vì
lợi ích rốt ráo cho tất cả chúng sanh thì được gọi là những vị Bồ tát. Qua tuệ
trí, họ hướng tâm thức đến Giác Ngộ, và qua lòng từ bi, họ quan tâm cho chúng
sanh. Nguyện ước này cho Giác Ngộ toàn hảo vì lợi ích của kẻ khác là điều mà
chúng tôi gọi là tâm bồ đề, và nó là điểm khởi đầu trên con đường. Bằng việc nhận
biết Giác Ngộ là gì, sự thông hiểu của chúng ta không chỉ là có một mục tiêu để
hoàn thành mà cũng là thật có thể để làm như vậy. Được lèo lái bởi khát vọng hổ
trợ chúng sanh, chúng ta nghĩ, vì lợi ích của họ, tôi phải thành tựu Giác Ngộ!
Một suy nghĩ như vậy hình thành lối vào
Đại thừa. Tâm bồ đề, thế thì, là một nguyện ước gấp đôi: thành tựu Giác
Ngộ trong tự nó, và làm như vậy vì lợi ích của tất cả chúng sanh.
Dĩ nhiên, chúng ta có thể có một nguyện ước mơ hồ nào đó để thành tựu Giác Ngộ
hay cảm thấy đó là điều đấy mà chúng ta phải đạt được. Nhưng không có một niềm
tin chắc chắn rằng Giác Ngộ tồn tại và điều ấy có thể thành tựu được, thì chúng
ta sẽ không giờ hoàn thành nó. Do vậy, thật quan trọng để biết Giác Ngộ có
nghĩa là gì.
Trong phạm trù này, sự giải thích về tánh không được trình bày trong chuyển
luân lần thứ hai là cực kỳ quan trọng. Tất cả mọi hiện tượng bản chất vốn là trống
rỗng, không có sự tồn tại thật sự. Điều này được giải thích rõ ràng trong những
kinh luận Bát Nhã Ba La Mật Đa và trong những luận giải của Long Thọ[5] và
môn đồ của ngài. Nhưng chúng ta nhận thức về các hiện tượng như thế nào tại một
thời điểm? Những gì ngài Long Thọ diễn tả không là những gì chúng ta thật sự nhận
thức hiện tại. Những gì chúng ta trải nghiệm chỉ là đối lập. Thay vì nhận thức
mọi hiện tượng như trống rỗng, thì chúng ta thấy mọi thứ là tồn tại và thật. Nếu,
qua nghiên cứu và thực hành, chúng ta đạt được một sự thông hiểu nào đó và tin
chắc rằng bản chất của mọi thứ là tánh không, rồi thì chúng ta nhận thấy rằng
những nhận thức của chúng ta cho đến nay hoàn toàn không tương ứng với cung
cách mà mọi thứ thật sự là và rằng chúng ta mê lầm bám víu vào cung cách sai lầm
của việc thấy biết mọi thứ. Hơn thế nữa, sự mê lầm này là gốc rể của tham lam
và thù hận; nói cách khác, đấy chính là gốc rể của luân hồi.
Sự mê lầm, si mê, hay vô minh, sự tin tưởng rằng mọi thứ là thật, là cực kỳ mạnh
mẽ. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng đấy không gì hơn là một sai lầm; nó chỉ đơn
thuần là một sự thông hiểu sai lầm mà chúng ta bám chấp nhưng trong thực tế gì
đi nữa thì chúng cũng không có nền tảng. Đối lập với chúng, thì sự thông hiểu rằng
mọi hiện tượng không có thực tại, được căn cứ trên một sự thật chắc chắn đứng vững
trên mọi sự tranh luận. Nếu chúng ta làm quen thuộc mình với sự thông hiểu này,
thì nó có thể được phát triển một cách vô hạn, vì nó là phẩm chất cả sự thật và
tự nhiên của tâm thức. Khi nó phát triển và lớn mạnh hơn, thì nó hoạt động như
sự đối trị với niềm tin sai lầm rằng mọi thứ là thật, mà nó bắt buộc trở nên yếu
ớt hơn một cách tương ứng.
Chúng ta có thể loại trừ sự thông hiểu sai lầm này hoàn toàn không? Như được
nói:
Bản chất của tâm là trong suốt và sáng rở,
Nhưng những chướng ngại là ngoại lai.
Mặc dù những chướng ngại này có thể đã hiện diện từ lâu xưa, nhưng chúng không
có cùng bản chất với tâm. Cho nên, như sự đối trị - nhận thức đúng đắn về mọi
thứ - phát triển, thì những chướng ngại này có thể bị xua tan một cách hoàn
toàn.
Bản chất của tâm, trong suốt và tỉnh giác, thoát khỏi mọi khuyết điểm; nó không
thể bị tác động bởi những chướng ngại. Không có hiện tượng nào cho dù tinh thần
hay xuất hiện trong thế giới bên ngoài có thể tác động nó. Không gì có thể thay
đổi phẩm chất bản nhiên của nó, vốn là đặc điểm bẩm sinh của tự tâm thức. Niềm
tin trong sự có thật của mọi thứ căn cứ trên nhận thức sai lầm và là hoàn toàn
mâu thuẩn với bản chất của tâm thức. Nhưng do bởi những điều kiện hiện tại và
những cung cách của nhận thức có thói quen phát triển lâu dài, cho nên chúng ta
có xu hướng trải nghiệm mọi thứ một cách sai lầm. Do thế, về một mặt, tâm thức
vốn thấy mọi thứ không thật như thế nào là có thể phá huỷ sự đối kháng của nó,
sự tin chắc rằng mọi hiện tượng là thật. Về mặt khác, cho dù niềm tin tưởng sai
lầm này mạnh mẽ như thế nào đi nữa trong thực tiển có thể, thì nó không thể tác
động bản chất bẩm sinh của tâm. Như nó được nói trong Đại Thừa Tối Cao Mật Điển (Sublime
Continuum):
Các nhiễm ô là ngẫu nhiên,
Những phẩm chất là cố hữu.
Đây chính là tư tưởng rất khó chịu. Vì những chướng ngại
này trong thực tế là riêng biệt với tâm, chúng ta có thể loại trừ nó, miễn là
chúng ta tiếp tục và áp dụng những đối trị liên tục. Tất cả những cảm xúc tiêu
cực có thể bị nhổ tận gốc rể, và vì chúng không bao giờ có thể thâm nhập bản chất
của tâm, ngay cả những khuynh hướng thói quen chúng để lại khi tìm thấy cũng sẽ
bị loại trừ sau đó.
Khi tâm hoàn toàn thoát khỏi những cảm xúc và khuynh hướng tiêu cực này, nó
thông hiểu và nhận biết mọi hiện tượng. Khi chúng ta cố gắng và sử dụng những
phương pháp đúng đắn, thì chúng ta có thể thực chứng tiềm năng mà chúng ta có
cho sự toàn giác như vậy. Đó là bởi vì có những ngăn che chướng ngại giữa tâm
và đối tượng của nó mà chúng ta không thể biết mọi thứ. Một khi những ngăn che
này được loại bỏ, thì không có năng lực mới nào cần đến. Việc thấy và tỉnh giác
là chính tự bản chất của tâm. Khi nào tâm còn tồn tại, thì nó có khả năng để nhận
biết, nhưng đây là khả năng không tự bộc lộ cho đến khi tất cả mọi chướng ngại
đã được loại trừ. Đây là điều có nghĩa là thành tựu Giác Ngộ. Nếu chúng ta suy
nghĩ theo những dòng này, thì khát vọng cho sự Giác Ngộ sẽ lớn mạnh trong chúng
ta.
Như cho nguyện ước làm lợi ích cho mọi người, thì điều này đến từ nhận thức rằng
giống như chính chúng ta, tất cả mọi chúng sanh, không chỉ con người, đều muốn
hạnh phúc và không ai muốn khổ đau. Trong thực tế, tất cả chúng ta có lòng từ
bi: chúng ta muốn giải thoát kẻ khác khỏi đau khổ. Và đến một mức dộ nào đó, tất
cả chúng ta thương yêu và muốn kẻ khác được hạnh phúc. Những cám giác này có thể
không mạnh mẽ và rộng rãi lắm, nhưng mọi người có chúng trong mức độ nào đấy.
Thí dụ, khi chúng ta thấy người nào đó đau đớn, thì chúng ta tự nhiên nghĩ, Thật
kinh khiếp thay! và chúng ta muốn an ủi họ về sự thống khổ của họ. Giống như
chính chúng ta không muốn đau khổ mà muốn hạnh phúc, thì chúng ta có thể có
cùng nguyện ước ấy cho kẻ khác. Mặc dù chúng ta có thể chỉ có lòng từ bi và yêu
thương nho nhỏ lúc ấy, nhưng đây là những thứ mà chúng ta có thể phát triển.
Khi chúng lớn mạnh, thì nguyện ước của chúng ta cũng vậy để hành động vì kẻ
khác.
Để có khát vọng đạt đến Giác Ngộ, ngay cả nếu nó là chỉ cho lợi ích của chúng
ta, thì chúng ta phải biết điều gì đạt được bằng việc thành tựu Giác Ngộ và điều
gì mất đi nếu thành công. Vì điều này chúng ta phải phản chiếu sự không hoàn hảo
của luân hồi – và thậm chí những thứ của niết bàn khi được quan tâm như một cực
đoan khác. Như được nói trong Tinh Yếu
Trung Đạo (Essence of the Middle Way):
Vì họ thấy những khiếm khuyết của nó,
Họ tránh cõi luân hồi.
Vì trái tim họ đang yêu thương,
Niết bàn không thể giữ họ.
Bậc thông tuệ nguyện ước hạnh phúc cho chúng sanh
Cư trú thậm chí giữa luân hồi.
Họ không bị giam giữ bởi luân hồi, khi họ đã thấy sự không hoàn hảo của nó. Do
bởi lòng từ bi lớn của họ, cho nên họ không thể nấn ná ở niết bàn. Khi họ biết
rằng có những khiếm khuyết cho cả hai, thì họ ngưỡng vọng đến sự Giác Ngộ vốn siêu
việt cả hai cực đoan này.
Cho nên trước nhất chúng ta phải nhận biết điều gì sai lầm với luân hồi, vì đây
là căn bản cho nguyện ước thành tựu Giác Ngộ. Để quay đi và giải thoát cho
chính mình, chúng ta phải phản chiếu xem điều gì được xem là khổ đau của luân hồi;
điều này sẽ làm phát sinh khát vọng giải thoát cho kẻ khác.
Hơn thế nữa, nếu chúng ta chiến thắng với những hy vọng và hoài bảo với lưu tâm
cho những sự hiện hữu tương lai, thì trước nhất chúng ta phải đối mặt với sự
bám chấp của chúng ta với đời sống hiện tại. Đây là điều gì đó mà chúng ta có
thể rèn luyện từng bước một.
Tâm bồ đề là một thể trạng rất tốt của tâm, được thấm nhuần với tuệ trí, mà
trong ấy sự ân cần được phối hợp với sự thông minh cao tột. Đó là điều gì đấy
thật phi thường. Lòng tốt và sự ân cần này lập tức làm cho chúng ta bình an,
cho nên chúng ta ít hẹp hòi và hung hăn hơn. Khi chúng ta gặp gở những người
khác, chúng ta không cảm thấy bị ám ảnh và xa cách. Trái lại, chúng ta cảm thấy
gần gũi với mọi người. Với một tâm như thế này, chúng ta không bao giờ lo sợ,
mà mạnh mẽ và can đảm. Đây là một thái độ rất hữu dụng để có được.
Bồ Tát Đạo, hay Nhập Bồ Tát Hạnh không phải là một biên soạn từ những ý kiến cá
nhân của Tịch Thiên tôn giả, cũng không phải lập lại y chang những gì từ kinh
điển. Đúng hơn, đó là hình thức cô đọng những giáo huấn từ kinh điển. Và ngài
nói:
1.
Ở đây tôi không nói những gì đã từng được
nói trước đây,
Và trong nghệ thuật làm thơ tôi không có khiếu.
Do vậy, tôi không có tư tưởng gì có thể làm lợi lạc cho người khác;
Tôi đã viết nó chỉ là thói quen của tâm tư tôi.
“Ở đây tôi không nói những gì đã từng được
nói trước đây, và trong nghệ thuật làm thơ tôi không có khiếu” được nói một
cách giản dị để tránh khỏi lòng ngã mạn.
Đối với những người có mong ước chỉ để tích luỹ tri thức, thì ngài không có gì
mới để nói. Và khi ngài không nghĩ là ngài có thể giúp đở người khác, thì ngài
đang viết luận điển này để tiến xa hơn trong sự thực hành tâm linh của chính
ngài và đến với những người đang ở cùng giai tầng với ngài.
Mười chương đầu của Bồ tát đạo, Bodhisattvacaryāvatāra, đối diện với những phẩm chất của tâm bồ đề. Như một sự
chuẩn bị cho tâm bồ đề, chúng ta cần thực hành bảy phần [nhân quả][6]
như để tích luỹ công đức và tự tịnh hoá mình. Những chương tiếp theo giải thích
vấn đề việc đưa tâm bồ đề vào thực hành như thế nào qua sáu ba la mật. Thứ nhất
là bố thí ba la mật, hay rộng lượng,
được gặp suốt luận điển, và không có chương đặc biệt nào dành cho nó. Thực hành
trì giới ba la mật, hay nguyên tắc
thanh khiết, như thế nào được giải
thích trong hai chương với sự cẩn thận và chu đáo. Những điều này được tiếp
theo sau bởi các chương dành cho bốn ba la mật sau cùng: nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, và tuệ trí. Cuối cùng, Tịch Thiên kết luận luận điển với một chương
về hồi hướng công đức vì lợi ích của chúng sanh.
Minyak Kunzang Sonam, theo truyền thống của Patrul Rinpoche, giải thích cấu
trúc của Bồ Tát Đạo chung quanh câu kệ nổi tiếng của Tịch Thiên:
Nguyện cho tâm bồ đề, quý báu và siêu
phàm,
Phát sanh nơi nó chưa từng phát sanh;
Và nơi nó đã phát sanh nguyện cho nó không bao giờ mai một
Mà lớn mạnh và phát triển mãi mãi không ngừng.
Đối với những người chưa phát tâm bồ đề, ba chương đầu của Bồ Tát Đạo giải
thích làm thế nào để phát tâm. Sau đó, để ngăn ngừa tâm bồ đề bị thối thất, thì
có những hướng dẫn về sự chu đáo, lưu tâm, và nhẫn nại. Sau điều này, là những
chương về tinh tấn, thiền định và tuệ trí diễn tả tâm bồ đề có thể được phát
triển một cách liên tục như thế nào. Cuối cùng, chương thứ mười và chương kết
luận bàn luận về vấn đề chia sẻ và hồi hướng tâm bồ đề này đã được phát sinh, bảo
vệ khỏi sự suy thoái, và được phát triển một cách tăng tiến. Đây là vấn đề mà
Patrul Rinpoche đã giải thích nó như thế nào,và tôi thấy nó rất sâu sắc:
4.
Rất khó để có sự thoải mái và giàu có[7]
Bằng cách nào để mục tiêu của chúng sanh thành tựu.
Nếu bây giờ tôi chỉ hướng nó đến lợi ích của riêng tôi,
Thì làm sao tôi có cơ hội như vậy một lần nữa?
Để có thể thực hành tâm bồ đề, mà nó vốn có nhiều phẩm chất tốt đẹp, thì chúng
ta cần thông minh, những điều kiện thích hợp, và đặc biệt là điều kiện tối thượng
của đời sống như một con người. Đời sống con người là khó để có được và rất
đáng giá nếu chúng ta có nó. Chúng ta không nên phung phí đời sống của chúng ta
mà phải tận dụng nó một cách tốt đẹp.
5.
Giống như trong một đêm đen tối đầy mây,
Chợt một tía chớp sáng lên và tất cả đều được thấy một cách rõ ràng,
Giống hiếm hoi như vậy, qua năng lực của chư Phật,
Những tư tưởng đạo đức sanh khởi, ngắn ngủi và nhất thời, trên thế gian.
6.
Đạo đức, như vậy, thì yếu đuối,và luôn luôn
Sự xấu ác thì to lớn và và sức mạnh tràn ngập.
Ngoại trừ tâm bồ đề tuyệt vời,
Thì đạo đức khác nào có thể làm cho nó lắng xuống?
Do bởi những nghiệp duyên quá khứ, cho nên rất hiếm hoi và khó khăn để có một
tâm tích cực, trong khi thật dễ dàng để có những tư tưởng tiêu cực, vì đây là
những gì chúng ta quen thuộc. Cho nên, chúng ta phải nuôi dưỡng những tư tưởng
tích cực, chẳng hạn như thành tâm với chư Phật và từ bi với chúng sanh. Đó là
qua điều này mà chúng ta phát triển tâm bồ đề.
Không có gì mạnh mẽ hơn tâm bồ đề cho việc tịnh hóa những hành vi tiêu cực và
chướng ngại, cho việc đạt đến hạnh phúc tạm thời và tối hậu, và cho việc giúp đở
chúng sanh. Nếu chúng ta mong ước giải thoát chính mình và kẻ khác khỏi khổ đau
của luân hồi, thì chúng ta nên phát tâm bồ đề. Ngay khi chúng ta làm việc này,
vô số phẩm chất của nó như thế ấy, mặc dù chúng ta vẫn hiện là những con người
bình thường đối tượng của khổ đau, thì chúng ta cũng sẽ được tuyên bố như những
kẻ thừa kế của chư Phật, đáng được sự tôn kính của chư thiên và loài người.
Tâm bồ đề của chúng ta có thể chưa tự nhiên thanh thoát, nhưng nó vẫn là điều
gì đó mà chúng ta phải xây dựng. Tuy nhiên, một khi chúng ta đã đi theo và bắt
đầu phát triển thái độ phi thường này, thì bất cứ hành vi tích cực nào mà chúng
ta làm – lễ phủ phục, đi nhiễu Phật, trì tụng, hay những hành động của bố thí,
..., cho đến tuệ trí – trong khi không thấy xuất hiện gì khác, nhưng sẽ mang đến
những kết quả tăng tiến lớn lao.
Tâm bồ đề tự nó có hai khía cạnh: ngưỡng mộ và thực hành. Ngưỡng mộ chỉ đơn thuần
là nguyện ước thành tựu Giác Ngộ cho tất cả chúng sanh, khát vọng theo đuổi con
đường. Sự thực hành bắt đầu với việc thọ giới Bồ tát và hứa sẽ đem nó vào trong
hành động. Ngưỡng mộ đơn thuần chỉ giống như mong muốn đi đến nơi nào đó; thực
hành là thật sự lên đường.
Những phẩm chất tốt đẹp của thậm chí là tâm bồ đề ngưỡng mộ là bao la; thì những
phẩm chất của người đã thọ giới là hơn nhiều biết bao nhiêu! Ngay từ thời khắc
thọ giới, bất cứ điều gì một vị Bồ tát làm, cho dù bước đi hay ngủ nghỉ, sẽ tạo
nên công đức lớn lao chỉ qua năng lực tuyệt đối của mục đích. Và nếu có công đức
lớn lao trong việc muốn giảm nhẹ chúng sanh khỏi một sự khó chịu đơn thuần, thì
có cần đề cập đến lợi ích vô hạn của việc nguyện ước giúp đở vô số chúng sanh
không?
Như được nói rằng suy nghĩ tiêu cực về Bồ tát như vậy có những hậu quả cực kỳ
nghiêm trọng. Do vậy, chúng ta phải thật cẩn thận bảo vệ mình khỏi loại lỗi lầm
này và xem người khác như những vị thầy của chúng ta. Và chúng ta phải không
bao giờ, không vì một lý do đặc biệt nào, nói đến lỗi lầm của những người khác.
Như bậc toàn tri Gendun Drubpa[8] đã
nói: “Hãy biết ơn tất cả chúng sanh và kính trọng tất cả các hành giả với một
cái nhìn thanh tịnh. Hãy khuất phục kẻ thù bên trong.” Chúng ta hãy tuân theo lời
dạy của ngài.
Ẩn Tâm Lộ, 2023
[1] Treatise On Logic
[2] Trong Đại
thừa Phật Giáo, cụm từ ‘vắng bóng tự ngã’ (nairatmya) vô ngã, ego less, lack of
self, áp dụng không chỉ tự ngã của cá nhân, nhân ngã, mà cho tất cả mọi hiện tượng,
pháp ngã, tự ngã hay self trong phạm vi này là thực thể thật sự hay cụ thể. Một
vị Bồ tát phải thực chứng vô ngã trong trong chính tự thân như một cá nhân và
trong tất cả mọi hiện tượng.
[3] Chỗ này không phải nói đến thập địa Bồ tát.
[4] 1.Bố thí, 2.trì giới, 3.nhẫn nhục, 4.tinh tấn,
5.thiền định, 6.trí tuệ, cùng với 7.phương tiện, 8.nguyện lực, 9.năng lực,
10.trí lực.
[5] Long Thọ (thế kỷ thứ nhất hay thứ hai) là một đạo
sư Ấn Độ có trách nhiệm cho việc hoằng truyền giáo huấn Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Giáo huấn của ngài về tánh không hình thành căn bản cho giáo lý Madhyamika hay
Trung Đạo.
[7] Eighteen freedoms and advantages
[8] Gendun Drubpa (1391-1474) là vị thứ nhất trong những vị tái sanh, người sau đó (trong kiếp sống thứ ba) được nhận danh hiệu Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vì vậy ngài Đức Đạt Lai Lạt Ma “thứ nhất”.
Thứ Hai, 12 tháng 6, 2023
GIỚI THIỆU BỒ TÁT ĐẠO
Nguyên tác: Introduction The Way of the Bodhisattva
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: The Padmakara Translation Group
Việt dịch: Tuệ Uyển, 2023
***
Tôi
tiếp nhận sự trao truyền Nhập Bồ tát Hạnh từ Tenzin
Gyaltsen. Kunu Rinpche, người đã tiếp nhận từ một đệ tử của Dza Patrul
Rinpoche, bây giờ được xem như một trong những người thừa kế chính của giáo huấn
này. Như được kể rằng khi Patrul Rinpoche giảng giải luận điển này, thì những
điềm lành sẽ xuất hiện, chẳng hạn như sự rộ nở những bông hoa vàng, đáng chú ý
là số lượng lớn của những cánh hoa. Tôi cảm thấy rất may mắn rằng tôi lần lượt
có thể giảng giải đại luận điển Phật giáo cổ xưa này.
Tôn Giả Tịch Thiên đã sang tác tác phẩm này dưới hình thức của một cuộc đối thoại
nội tại. Ngài đã quay vũ khí của ngài vào chính ngài, tuyên chiến
với chính những cảm xúc tiêu cực của ngài. Do thế, khi chúng ta giảng dạy hay lắng
nghe luận bản này, thật quan trọng để chúng ta làm như vậy nhằm để tăng tiến
tâm linh, hơn là chỉ làm như đó chỉ đơn giản là một chủ đề chuyên môn của trường
Phật học.Với tâm niệm như vậy, chúng ta bắt đầu buổi thuyết giảng tu học bằng
việc bày tỏ lòng tôn kinh đến Đức Phật
và trì tụng những điều được trích ra từ kinh điển.
Từ bỏ việc làm xấu ác;
Rèn luyện đức hạnh lành;
Điều phục tâm ý của bạn
Đây là lời dạy của Đức Phật,
Giống như ngôi sao, ảo ảnh quang học,
hay ngọn lửa,
Ảo ảnh huyển hoá, giọt sương, hay bong bóng,
Như giấc mơ, tia chớp, hay đám mây -
Người ta nên xem xét tất cả các pháp hữu
vi như vậy.
Trong
khi trì tụng những lời này, chúng ta nên suy ngẫm về sự vô thường và sự thiếu vắng thực tại trong các hiện
tượng và kết thúc bằng một lời cầu nguyện hồi hướng:
Nhờ công đức này nguyện chúng con đạt được
toàn giác
Và chiến thắng kẻ thù của chúng con, những
hành động có hại của chúng con,
Và cầu mong chúng sinh, bị vùi dập bởi
những làn sóng sinh, lão, bệnh, và tử,
Được giải thoát khỏi đại dương của sự tồn
tại.
Tiếp
theo chúng ta nên trì tụng Tâm Kinh, Ca ngợi Văn Thù Sư Lợi, và cúng dường
mạn đà la. Những ai trong các bạn không thể trì tụng những điều này chỉ nên
nghĩ đến lòng từ bi của Đức Phật và quán chiếu về tri kiến tánh Không, đó là ý
nghĩa của Kinh Bát Nhã Ba La Mật.
Cuối
cùng, chúng ta nên tái phát nguyện, quy y và phát bồ đề tâm ba lần.
Trong Tam Bảo Phật, Pháp
và Tăng, Chúng con quy y cho đến khi đạt được giác ngộ. Bằng công đức thực hành
bố thí cho đến ... tuệ trí, Nguyện chúng
con đạt được Phật quả vì lợi ích của chúng sinh.
Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu về Nhập Bồ tát Hạnh (Bodhicharyavatāra).
Bậc thầy của những giáo lý này, Đức Phật, bắt đầu bằng cách phát
khởi ước nguyện giác ngộ. Sau đó, vị ấy đã tích tập những thiện hạnh qua nhiều
kiếp sống trong khoảng thời gian ba đại kiếp không thể tính đếm
được. Cuối cùng, vào thời đại mà tuổi thọ trung bình của con người là một trăm
năm, Ngài bước vào thế giới này và đạt được giác ngộ trên Kim Cang Tòa tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) ở Ấn Độ. Trong hai mươi lăm thế kỷ kể từ lần đầu
tiên Ngài chuyển Bánh xe Pháp với những giáo lý bao la và thâm sâu, con đường
Phật giáo đã trở thành một trong những truyền thống tâm linh quan trọng nhất của
thế giới.[1]
Tôi thường xem xét những lời dạy của Đức Phật dưới hai tiêu đề: hành động và
quan điểm. Hành động có nghĩa là kiềm chế không làm hại người khác. Đây là điều
hữu ích chung, điều mà tất cả mọi người đều đánh giá cao, cho dù họ có theo tôn giáo không. Quan điểm liên quan đến nguyên tắc
phụ thuộc lẫn nhau. Hạnh phúc và đau khổ, và những chúng sinh trải nghiệm chúng,
không phát sinh mà không có nguyên nhân, chúng cũng không phải do một đấng tạo hoá vĩnh
cửu nào đó gây ra. Trên thực tế, mọi sự vật phát sinh từ những nguyên nhân
tương ứng với chúng. Ý tưởng này được duy trì bởi tất cả những trường phái của Phật Giáo, và vì thế tôi thường nói rằng
quan điểm của là lệ thuộc tương duyên, hay duyên sanh.
Quan điểm duyên sanh làm nên một sự rộng mở của tâm thức. Nói chung, thay vì nhận
thức rằng những gì chúng ta trải nghiệm sinh khởi từ một mạng lưới phức tạp của
những nguyên nhân, thì chúng ta có xu hướng quy cho những hạnh phúc và buồn đau,
thí dụ thế, đến những nguồn gốc đơn lẻ, cá nhân. Nhưng nếu là như thế, thì
chúng ta sẽ nhanh chóng đi đến chạm trán với những gì chúng ta xem là tốt, thì
chúng ta sẽ tự động vui mừng,và trái lại, trong những trường hợp xấu, thì sẽ
luôn luôn buồn bã. Những nguyên nhân của vui mừng và buồn khổ sẽ dễ dàng để nhận
dạng và nhắm tới. Tất cả sẽ rất đơn giản, và sẽ có lý do tốt cho sự giận hờn và
dính mắc của chúng ta. Trái lại, khi chúng ta cho rằng mọi thứ chúng ta trải
nghiệm là những kết quả từ một sự tác động lẫn nhau của các nguyên nhân và điều
kiện, thì chúng ta thấy rằng không có một thứ đơn lẻ nào để tham muốn và bực tức,
và thật khó khăn hơn cho những phiền não và dính mắc hay giận hờn sinh khởi.
Trong cách này, quan điểm duyên sanh làm cho tâm tư chúng ta thư giản và cởi mở
hơn.
Bằng việc rèn luyện tâm thức chúng ta và làm quen với quan điểm này, chúng ta
thay đổi cung cách chúng ta trong việc thấy mọi thứ, và như một kết quả, thì
chúng ta dần dần thay đổi thái độ của chúng ta và ít làm tổn hại người khác
hơn. Như được nói trong kinh:
Từ bỏ những việc làm xấu ác;
Thực hành đạo đức tốt;
Thuần hoá tâm thức chúng ta;
Đấy là lời dạy của Đức Phật.
Chúng ta phải tránh ngay cả những hành vi tiêu cực nhỏ nhất, và chúng ta nên thực
hành thậm chí những hành vi tích cực ít đáng chú ý nhất mà không đánh giá thấp
giá trị của chúng. Lý do cho điều này là vì hạnh phúc là điều mà tất cả chúng
ta mong muốn và khổ đau là thứ mà tất cả cố gắng tránh phát sinh một cách chính
xác bởi những hành động của chúng ta hay nghiệp (karma). Mọi thứ chúng ta trải
nghiệm, như nó là, được lập trình bởi những hành vi của chúng ta, và những thứ
này thì ra tùy thuộc vào thái độ của chúng ta. Bất cứ điều gì chúng ta làm, nói
như thế, và suy nghĩ trong tuổi trẻ của chúng ta là nguyên nhân của hạnh phúc
và khổ đau mà chúng ta trải nghiệm trong tuổi già của chúng ta. Hơn thế nữa, những
gì chúng ta làm trong đời sống này sẽ quyết định hạnh phúc và khổ đau của đời sống
tới. Và những hành vi của kiếp (kalpa[2])
này sẽ cho kết quả trong những trải nghiệm của những kiếp tươnglai. Đây là những
gì chúng ta muốn nói bởi luật nghiệp báo, luật nhân quả.
Trên căn bản này, một hành vi được gọi là tiêu cực hay xấu ác nếu nó cho kết quả
trong khổ đau, đó là điều gì đó mà chúng mong ước tránh. Nó được gọi là tích cực
hay đạo đức nếu nó đưa đến kết quả hạnh phúc, là điều mà chúng ta muốn. Chúng
ta quan tâm đến một hành vi tích cực hoặc tiêu cực không phải trên lợi ích của
chính nó mà tùy thuộc vào việc nó đưa đến vui sướng hoặc buồn đau. Tất cả những
điều này tùy thuộc vào động cơ, và vì thế luận bản nói, “Hãy khuất phục tâm thức
của bạn.” Một tâm thức vô nguyên tắc sẽ trải nghiệm khổ đau, nhưng một tâm thức
dưới sự kiểm soát sẽ là hạnh phúc và hòa bình.
Thật quan trọng để biết tất cả những phương thức cho việc chinh phục tâm thức
qua những kiến thức trao truyền của con đường rộng lớn và thậm thâm. Sự đối trị
của thù oán là thiền tập về từ ái (love). Để vượt thắng dính mắc, chúng ta nên
thiền tập về tính xấu xí của những gì hấp dẫn chúng ta. Sự đối trị về tự hào
kiêu căng là thiền quán về skandha, hay các uẩn. Để đối mặt với si mê, thì
chúng ta nên tập trung về sự chuyển động của hơi thở và về sự tương duyên sanh
khởi. Gốc rể về sự rối loạn của tâm thức trong thực tế là si mê, nguyên nhân mà
chúng ta thất bại trong việc thấu hiểu bản chất thật sự của mọi thứ. Tâm thức
dưới sự kiểm soát tịnh hoá quan niệm sai lầm của chúng ta về thực tại. Đây là
giáo huân của Đức Phật. Đó là qua việc
rèn luyện tâm thức mà chúng ta có thể chuyển hoá cung cách mà chúng ta hành động,
nói năng, và suy nghĩ.
Thật hữu ích để ở tại điểm này mà nói vài điều gì đó tổng quát về giáo huấn của Đức Phật. Theo Đại thừa, sau khi thành tựu Giác Ngộ, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp, trình bày
giáo huấn của Ngài trong ba giai tầng. Thứ nhất, Ngài dạy về Tứ diệu đế mà toàn bộ giáo lý của Phật Giáo
căn cứ vào đấy. Đấy là khổ đế, tập đế, đạo đế, và diệt đế. Với lần chuyển pháp
luân thứ hai (trung đạo), Ngài đã ban bố giáo lý về tánh không và những khía cạnh
thậm thâm và chi tiết về con đường, vốn tạo nên những kinh điển Bát Nhã Ba La Mật
Đa. Với lần chuyển pháp luân thứ ba, Ngài đã trình bày những giáo lý về tánh
không trong một phong cách dễ tiếp cận hơn. Trong
những kinh điển chẳng hạn Kinh Bản Chất của Phật (Kinh về Phật Tánh hay kinh Như Lai Tạng),[3]Ngài
đã nói về một bản chất tuyệt đối vốn không có khái niệm nhị nguyên về chủ thể
và đối tượng. Đây cũng là chủ đề của Tối Cao Mật Điển (Sublime Continuum) / Đại
Thừa Tối Cao Mật Điển luận (Maitreya) / Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận (Hoa).
Nguồn gốc của khổ đau – chính là, những cảm xúc tiêu cực – có thể được thấu hiểu
với những cấp độ khác nhau của vi tế, và điều này đòi hỏi một sự thông hiểu về
bản chất của các hiện tượng. Trong lần chuyển luân lần thứ hai, Đức Phật đã giải thích chi tiết diệt đế, sự
thật của chấm dứt. Ngài đã chỉ cho thấy rằng một sự phân tích vi tế luỹ tiến
các hiện tượng đưa đến một sự thấu hiểu lớn hơn về những cảm xúc tiêu cực và cuối
cùng đến một tuệ giác tế nhị hơn bao giờ hết trong bản chất của tánh không. Điều
này lại đưa đến một sự thấu hiểu thâm sâu hơn về đạo đế, sự thật của con đường.
Trong lần chuyển luân thứ ba, chúng ta thấy một sự giải thích chi tiết về con
đường để thành tựu Giác Ngộ. Nó nhấn mạnh năng lực mà tất cả chúng ta có cho sự
Giác Ngộ tương lai. Năng lực này, được gọi là Phật tánh, hay Như Lai Tạng, Tathāgatagarbha, là điều gì đấy mà tất cả chúng ta luôn có, từ thời vô thỉ. Khi chúng
ta nói về đạo đế, chúng ta không đang nói về điều gì đó hoàn toàn bên ngoài bản
chất của chúng ta, thứ mà có thể đột nhiên xuất hiện như một tai nấm, giống như
không có một hạt giống hay nguyên nhân. Vì chúng ta có nền tảng hay tiềm năng
này cho sự toàn giác tối hậu mà chúng ta có thể thành tựu Giác Ngộ.
Những kinh luận thuộc lần chuyển luân thứ hai chứng minh bản chất trống rỗng của
các hiện tượng, trong Kinh về Phật Tánh hay kinh Như Lai Tạng và những giáo huấn liên hệ khác đến lần chuyển luân thứ ba nhấn mạnh tuệ
trí, khía cạnh trong suốt và rực sáng của tâm thức.
Đức Phật đã dạy Tứ Diệu Đế trước nhất,
như nền tảng của toàn bộ giáo của lý Ngài. Khi Ngài diễn giải chi tiết giáo huấn
của Ngài, Ngài đã dung hợp những từ ngữ để thích ứng với những nhu cầu và năng
lực tinh thần khác nhau. Cung cách Ngài giảng dạy đa dạng hơn rất nhiều, và những
gì Ngài nói thâm sâu nhiều hay ít, tuỳ thuộc tầng lớp nào mà Ngài trình bày. Do
thế, thật quan trọng để biết những giáo huấn nào trình bày ý nghĩa rốt ráo và
những thứ nào vốn thích ứng với những năng lực đặc thù của những người đệ tử.
Trong việc phân tích, nếu chúng ta thấy rằng những từ ngữ của Đức Phật, trên phương diện văn ngữ, thấy phi
lý hay đưa đến mâu thuẩn, thì chúng ta phải thấu hiểu rằng những giáo lý ấy là
một sự
diễn đạt tương đối về lẽ thật nhất thiết thích nghi đến sự lãnh hội của
những chúng sanh đặc biệt nào đó. Trái lại, nếu ngôn từ của Ngài có thể hiểu
theo từng chữ và không có bất cứ sự mâu thuẩn hay sai lầm nào, thì chúng ta có
thể chấp nhận những giáo huấn này như diễn đạt lẽ thật tối hậu.
Niềm tin rất quan trọng trong Phật Giáo, nhưng tuệ trì thậm chí hơn thế nữa. Niềm
tin đúng đắn phải được căn cứ trên lý trí. Đơn giản nói rằng, “Tôi quy y,” hay
“Tôi hy hiến,” một cách mù quáng và không có sự phản chiếu, thì không có giá trị.
Không có sự khảo sát rõ ràng, thì thật không thể phân biệt Đức Phật đang nói trong một ý nghĩa thích
nghi, hay tương đối hay từ ngữ của Ngài đang được thực hiện từng chữ như đang
diễn tả ý nghĩa tối hậu. Đây là tại sao kinh điển đề cập đến tứ y, bốn sự nương
tựa:
- Y pháp bất y nhân, hay không nương tựa vào những cá nhân mà nương tựa vào
giáo lý.
- Y nghĩa bất y ngữ, hay không nương tựa vào ngôn ngữ mà nương tựa vào ý nghĩa.
- Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa, hay không nương tựa vào ý nghĩa tương đối
mà nương tựa vào ý nghĩa tuyệt đối.
- Y trí bất y thức, hay không nương tựa vào hiểu biết tri thức mà nương tựa vào
trí tuệ.
Trái lại với sự thấu hiểu tri thức thông thường, thì bản chất thật sự của tâm
thức là trong sáng và thông hiểu và không bao giờ bị che ám với các chướng ngại.
Sự thực hành của Đại thừa hoàn toàn căn cứ trên sự thông hiểu này.
Ở Tây Tạng, tất cả những giáo huấn của Đức
Phật, từ Tứ Diệu Đế cho đến những tantra yoga tối thượng, đã được bảo tồn, và
được thực tập trong những trình tự truyền thống như sau. Giai tầng thứ nhất là
ThanhVăn Thừa, hay Cổ Xe Căn Bản, con đường của Tứ Diệu Đế. Bắt đầu với Luật Tạng[4]
, vốn dạy việc tu tập về nguyên tắc hay giới, hành giả tiến hành qua 37 sự thực tập đưa đến
Giác Ngộ, do vậy phát triển hai sự tu tập định
và tuệ.
Giai tầng thứ hai là Đại thừa, hay Cổ Xe
Lớn, và bao gồm sự thực hành về sáu ba la mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, và tuệ trí. Giai tầng thứ ba là Kim Cang Thừa, Cổ Xe của
Những Mật Ngôn, vốn trình bày những phương tiện phi thường cho việc thực chứng
định lực thậm thâm qua sự kết hợp sự tĩnh lặng tinh thần và tuệ giác trong sáng
(shamatha và vipashyana) và tiến
trình qua bốn lớp tantra: kriya, upa, yoga, và anuttara.
Phật Giáo đã phát triển hàng thế kỷ trong nhiều quốc gia, nhưng ở Tây Tạng thì
tất cả ba con đường, Thanh Văn Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa được bảo tồn một
cách hoàn toàn. Trong thực tế, có thể đi qua những thực hành của tất cả ba giai
tầng này của một phiên thực tập. Hơn thế nữa, những học giả Tây Tạng không bao
giờ bác bỏ khía cạnh thực tập,và những hành giả kinh nghiệm không lãng quên học
tập. Điều này đối với tôi là một cung cách rất tốt để tu tập.
Thời gian trôi qua, những dòng truyền thừa khác nhau đã xuất hiện trong truyền
thống toàn diện này, đã bị ảnh hưởng bởi những bậc thầy phi thường, ở những thời
điểm khác nhau và trong những địa điểm khác nhau, đã trình bày giáo huấn trong
những cung cách hơi khác nhau[5].
Do đó, chúng tôi có một truyền thống cổ xưa của Nyingma, và những truyền thống
mới hơn của Kadam, Sakya, và Kagyu. Truyền thống Gelug hiện tại tiến hoá từ dòng
truyền thừa Kadam. Mặc cho những khác biệt giữa các dòng truyền thừa này, thì tất
cả kết hợp với những giáo huấn của Đức
Phật một cách toàn vẹn, phối hợp những sự thực hành của Thanh Văn Thừa và Đại thừa. Truyền thống đạo Bon, vốn đã tồn tại
ở Tây Tạng trước khi Phật Giáo đến, cũng đã đi đến sở hữu toàn bộ giáo lý nhà
Phật.
Bồ Tát Đạo được các bậc thầy trong tất cả những trường phái Tây Tạng quan tâm
cao độ, và có lẽ nhiều đến hàng trăm vị đã viết những luận giải về chủ đề ấy.
Khi tôi tiếp nhận Nhập Bồ tát Hạnh (Bodhicharyavatāra) từ Kunu Rinpoche, Ngài thường đề cập đến một luận giải tuyệt vời của
Minyak Kunzang Sonam[6], một
đệ tử của Jamyang Khyentse Wangpo[7].
Nhập Bồ tát Hạnh cô đọng giáo lý của
Đức Phật từ ba lần chuyển luân. Tôi sẽ đọc lớn vì thế các bạn nhận được
sự trao truyền tâm linh, vốn là một nguồn gốc của phước lành gia hộ. Tôi sẽ
không giải thích luận bản từ chữ một, nhưng tốt hơn tôi sẽ bình luận ở những điểm
chính yếu.
Khi tiếp nhận giáo lý này, thật quan trọng để có một thái độ đúng đắn. Lắng
nghe giáo lý với xu hướng đạt được những lợi ích vật chất hay tiếng tăm thì
không phải là sự thực hành đúng đắn. Cũng không phải mục tiêu của chúng ta là để
có được sự tái sanh cao hơn vào kiếp sống tới, thí dụ, những chúng sanh ở cõi
trời hay những con người có đầy quyền lực. Cũng không phải là mong ước của chúng
ta là chỉ vì sự giải thoát của riêng mình khỏi cõi luân hồi. Đây là tất cả những
thái độ mà chúng ta phải bác bỏ. Thay vì thế, hãy để chúng ta lắng nghe giáo lý
này với nguyện ước quyết tâm đạt đến thể trạng toàn giác vì lợi ích của tất cả
chúng sanh, vồn là vô số. Để đạt được mục đích này, nhất thiết phải thực hành
con đường thậm thâm và rộng lớn được diễn tả trong luận bản này. Nếu chúng ta
có thể duy trì động cơ này, thì bất cứ hành vi tích cực nào chúng ta làm sẽ trở
thành nguyên nhân cho sự Giác Ngộ tối thượng. Thậm chí nếu một nguyện ước không
đến với chúng ta một cách thanh thoát, thì chúng ta có thể tối thiểu cố gắng
phát triển một thái độ tích cực khi chúng ta lắng nghe.
Ẩn Tâm Lộ, 2023
[1] Bánh xe Pháp là biểu tượng của giáo lý nhà
Phật. Chuyển bánh xe Pháp đồng nghĩa với việc trình bày giáo lý.
[2] kalpa - kiếp: Một kalpa là một khoảng thời gian dài (aeon) trong vũ trụ học của Ấn Độ giáo và Phật giáo,
nói chung là giữa sự sáng tạo và tái tạo của một thế
giới hoặc vũ trụ.
[3] Kinh
này có tên gọi đầy đủ là Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh, một quyển, do ngài
Phật Đà Bạt Đa La dịch vào thời Đông Tấn.
[4] Luật Tạng – Vinaya: là phần giáo lý của Phật nói về hạnh kiểm đạo
đức, đặc biệt trong những giới điều và thệ nguyện tăng ni và cư sĩ.
[5] Một dòng truyền thừa là một sự tiếp nối của
các vị thầy Phật Giáo, trao truyền cho những vị thừa kế tâm linh của họ mà
chính họ đã tiếp nhận và thừa hưởng từ những vị thầy của họ. Một dòng truyền thừa
có thể được liên hệ đến một kinh luận nào đó hay một tập hợp giáo lý nào đó. Hầu
hết những dòng truyền thừa có thể lần lại cuối cùng đến chính Đức Phật. Dòng truyền thừa Bồ tát đạo của Đức
Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu từ Tịch Thiên liên tục qua những vị thầy Phật Giáo đến
Patrul Rinpoche, đến Khenpo Shenga (1871-1927), Kunu Rinpoche và chính Đức Đạt
Lai Lạt Ma.
[6] Minyak Kunzang Sonam là một đại học giả
Gelug đã học hỏi với Patrul Rinpoche gần hai mươi năm.Luận giải của ngài về Bồ
tát đạo là chi tiết nhất.
[7] Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892) là người
phục hưng Phật Giáo ở Tây Tạng trong thế kỷ mười chín. Vị đại lạt ma này là một
trong những người sáng lập phong trào Rime, hay không phân phái.
