Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

 

Người Phật Tử Nên ứng Xử Với Những Thú Vui Thế Gian Như Thế Nào?

Tác giả: Domyo | Buddhist Practice
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

Figure 1: Chúng sinh hưởng lạc ở cõi trời (một trong sáu cõi luân hồi của vũ trụ quan Phật giáo)

 MỤC LỤC

I- Người Phật Tử Nên ứng Xử Với Những Thú Vui Thế Gian Như Thế Nào? Phần 1

1- Trước hết, “Lạc thú thế gian” là gì?
2-
 Năm Mặt Trái Của Thú Vui Thế Gian

a- Nhược điểm đầu tiên
b- Nhược điểm thứ hai
c- Nhược điểm thứ ba
d- Nhược điểm thứ tư
e-
Nhược điểm thứ năm

II- Người Phật Tử Nên ứng Xử Với Những Thú Vui Thế Gian Như Thế Nào? Phần 2

1- Tâm Nhìn Thấy Tính Vô Thường Chính Là Tâm Giác Ngộ
2- Đón nhận cuộc đời bằng tâm quán chiếu vô thường
3- Thọ Hưởng Các Lạc Thú Thế Gian Với Tâm Quán Vô Thường

***

I- Người Phật Tử Nên ứng Xử Với Những Thú Vui Thế Gian Như Thế Nào? Phần 1

1- How to Relate to Worldly Pleasure as a Buddhist – Part 1

Theo truyền thống, lý tưởng của Phật giáo là một bậc xuất gia tu hành, người từ bỏ các lạc thú thế gian vì chúng chỉ là tạm bợ và làm chúng ta xao nhãng khỏi việc thực hành đạo nghiệp. Vậy một người tu học nghiêm túc, nếu không sống theo lối sống xuất gia ly dục, thì nên ứng xử thế nào đối với các lạc thú hồng trần? Liệu có thể vừa tận hưởng trọn vẹn những niềm vui trong cuộc sống của chúng ta, lại vừa duy trì được một sự thực hành Phật pháp kiên cố, hay chúng ta chỉ đang tự lừa dối chính mình khi cố gắng dung hòa cả hai điều đó?

Trong tập này, tôi sẽ định nghĩa thế nào là “lạc thú thế gian” theo quan điểm của mình, sau đó thảo luận về năm tác hại của những lạc thú đó như được mô tả trong giáo lý Phật giáo cũng như trong chính trải nghiệm của chúng ta. Trong tập tiếp theo, tôi sẽ nói về cách chúng ta có thể dự phần vào các niềm vui ấy với một tâm thế thực hành giáo pháp, và nhờ đó né tránh được nhiều tác hại kể trên. Không chỉ dừng lại ở đó, khi đem tâm thế thực hành vào trải nghiệm lạc thú cuộc đời, chúng ta thực chất sẽ trở nên biết trân trọng hơn, tỉnh thức hơn, rộng mở và hào phóng hơn.

1- Trước Hết, “Lạc Thú Thế Gian” Là Gì?

Khi bắt đầu bàn về những tác hại của lạc thú thế gian, tôi biết rằng – ở hầu hết các nền văn hóa – tôi sẽ vấp phải những ý kiến phản kháng. Đây có lẽ là câu chuyện muôn thuở kể từ khi loài người hình thành nên tôn giáo; các tôn giáo hầu như luôn khuyên răn con người nên tiết chế, nếu không muốn nói là tiết dục, đối với nhiều thú vui. Hệ quả là, con người nhìn chung luôn có một mối quan hệ vừa yêu vừa ghét đối với việc kiềm chế các ham muốn do tôn giáo khuyến khích. Chúng ta nhận thức được rằng lòng tham vô độ và sự thèm khát cuồng nhiệt dành cho nhung lụa, ăn uống, tình dục cùng đủ loại khoái lạc giác quan thường dẫn đến những nỗi khổ đau này hay khác, nhưng chúng ta lại căm ghét những lời giáo điều đạo đức vốn có vẻ như đang gợi ý rằng chúng ta nên sống một cuộc đời khô khan về cảm xúc và không có chút niềm vui nào.

Để phục vụ cho cuộc thảo luận của chúng ta, việc ghi nhớ rằng những lời giáo giới đạo đức của Phật giáo mang tính thực tế vô cùng sâu sắc có lẽ sẽ rất hữu ích. Về cơ bản, giáo lý Phật giáo làm nổi bật một số hành vi nhất định và yêu cầu chúng ta phải chú ý kỹ đến hệ quả của chúng. Giáo lý có thể phát biểu đại loại như: “Tôi nghĩ bạn sẽ nhận ra rằng, nếu quan sát cẩn thận, việc không ngừng theo đuổi để sở hữu nhiều của cải hơn thực chất chẳng thể làm bạn hạnh phúc.” Nhưng bạn được mời gọi để tự mình chứng thực điều đó. Không một ai bảo rằng: “Đúng vậy, việc không ngừng theo đuổi của cải thật sự mang lại hạnh phúc cho bạn đấy, nhưng bạn phải từ bỏ hạnh phúc đó để sống theo một hệ thống lý tưởng được định nghĩa từ bên ngoài.” Mọi giáo lý Phật giáo về lạc thú đều là những lời mời gọi để chúng ta tự quán chiếu và khám phá cuộc sống của chính mình.

Tôi có ý gì khi nói đến “thú vui thế gian”? Nhìn chung, các kinh điển Phật giáo nguyên thủy thường sử dụng thuật ngữ “dục lạc” để chỉ những niềm vui đến từ năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Trong suốt cuộc thảo luận này, tôi dùng cụm từ “thú vui thế gian” để bao hàm cả năm giác quan này lẫn những niềm vui của tâm trí và con tim. Ở những nơi khác trong Kinh điển Pali, tâm ý vốn được xem là một giác quan (nó “cảm nhận” các suy nghĩ), vì vậy tôi không rõ tại sao nó lại bị loại ra khỏi các cuộc thảo luận về khoái lạc. Có lẽ những niềm vui của tâm trí quá vi tế hoặc phức tạp chăng? Dù sao đi nữa, như tôi sẽ thảo luận ngay sau đây, những mặt trái của dục lạc giác quan cũng hoàn toàn đúng với những niềm vui thuộc về cảm xúc và tâm lý – chẳng hạn như cảm giác thỏa mãn khi đạt được thành tựu, sự sum vầy bên những người thân yêu, sự bình yên khi cuộn mình bên một cuốn sách hay, hoặc cảm giác hưng phấn (phóng thích dopamine) từ một trò chơi điện tử.

Điều gì làm nên sự khác biệt giữa cái mà tôi gọi là thú vui “thế gian” với những niềm hỷ lạc không thuộc về thế gian? Về cơ bản, thú vui thế gian là những niềm vui có điều kiện – chúng phụ thuộc vào sự hiện diện (hoặc vắng mặt) của những con người, đồ vật, điều kiện hoặc hoàn cảnh nhất định. Khoái lạc thế gian phát sinh khi chúng ta gặp được những tình huống hoặc trải nghiệm dễ chịu. Một cách tất yếu, không sớm thì muộn, những tình huống hoặc trải nghiệm dễ chịu này cũng sẽ thay đổi sâu sắc hoặc đi đến hồi kết. (Ngược lại, hỷ lạc vô điều kiện mang bản chất đạo đức hoặc tâm linh, và do đó luôn sẵn có cho chúng ta mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh, chẳng hạn như việc nuôi dưỡng một tâm niệm thiện lành, lựa chọn hành xử bằng lòng vị tha, hoặc hiến dâng mình cho sự tu tập).

 2- Năm Mặt Trái Của Thú Vui Thế Gian

Thú vui thế gian không phải là những điều xấu xa. Việc dán nhãn chúng là “thuộc về thế gian” không mang tính tiêu cực hay phán xét, ít nhất là theo góc nhìn của tôi về sự thực hành Phật pháp. Khoái lạc thế gian bao gồm cả sức khỏe, tình yêu thương, sự an toàn, có thức ăn để ăn, và việc đảm bảo một nền giáo dục tốt đẹp cho con cái chúng ta. Điều mà đạo Phật thách thức chúng ta thực hiện không phải là sự khước từ khoái lạc thế gian một cách cực đoan hay tự phụ, mà là việc thẳng thắn đối diện và chấp nhận một sự thật rằng chúng đều mang tính điều kiện và vô thường.

Những mặt trái của thú vui thế gian biểu hiện ra một cách rõ rệt chính vì bản chất vô thường của chúng. Nếu chúng là thường hằng và mang lại sự thỏa mãn vĩnh cửu, tôi cho rằng sẽ chẳng có vấn đề gì xảy ra, và chúng ta cũng không cần phải thực hành tâm linh làm gì. Khi đó, chúng ta sẽ luôn được thỏa mãn mãi mãi, đứng yên tại một trong những khoảnh khắc đỉnh cao nơi mọi thứ đều cảm thấy tuyệt vời. Nhưng thế giới này lại không vận hành theo cách đó.

Tính vô thường của thú vui thế gian không chỉ hiển hiện qua việc cuối cùng chúng ta rồi cũng sẽ mất đi những nguồn vui như sức khỏe, địa vị hay những người thân yêu. Mà nó còn ở chỗ mọi thứ luôn liên tục biến đổi và cần phải tiếp tục biến đổi, vì vậy chẳng có điều gì có thể mang lại sự thỏa mãn vĩnh cửu! Một trong những người thầy của tôi, thầy Kyogen Carlson, đã truyền tải sự thật này qua câu chuyện về một người đàn ông cuối cùng cũng tìm và sở hữu được một chiếc ghế hoàn hảo nhất trên đời. Người đàn ông này chưa từng trải nghiệm cảm giác thoải mái nào đến thế trước đây (tôi đang hình dung về một chiếc ghế tựa lớn, bọc đệm êm ái, có chỗ để cốc cùng hệ thống sưởi và massage tích hợp bên trong). Nếu người đàn ông cứ ngồi mãi trên chiếc ghế hoàn hảo này suốt một ngày, nó có lẽ sẽ không còn thoải mái đến thế nữa. Nếu ông ấy ngồi đó cả tuần, ông ấy sẽ bắt đầu bị đau đớn. Còn nếu ông ấy cứ ở yên trên ghế suốt một hoặc hai tháng, rất có thể ông ấy sẽ tự hủy hoại cơ thể mình. Khoái lạc thế gian, về bản chất cốt lõi của nó, chính là vô thường. Một bữa ăn ngon sở dĩ ngon là vì nó làm dịu đi cơn đói của chúng ta; nếu chúng ta cứ tiếp tục ăn, ăn mãi không dừng, món ăn đó sẽ không còn ngon nữa và cuối cùng sẽ trở thành một nỗi khổ hình.

Chừng nào hạnh phúc của chúng ta còn phụ thuộc phần lớn vào những điều kiện hữu vi, chúng ta vẫn sẽ phải chịu chi phối bởi rất nhiều mặt trái của khoái lạc thế gian. Đây là những phản ứng bất an (bất ổn tâm lý) nảy sinh khi chúng ta trải nghiệm khoái lạc thế gian, nhưng đồng thời – ở một mức độ nào đó – cũng nhận thức được rằng chúng là vô thường. Lưu ý: “Năm mặt trái” mà tôi mô tả sau đây là do tôi tự đúc kết từ các giáo lý, chứ không phải là một danh mục sẵn có trong kinh điển Phật giáo:

a- Nhược điểm đầu tiên của những thú vui trần gian là chúng ta luôn muốn chúng kéo dài mãi mãi một cách tự nhiên, dù thực tế không phải như vậy. Chúng ta cố gắng bám chấp vào chúng – cố kéo dài, sở hữu, giành lấy, kiểm soát, tích lũy hoặc tích trữ chúng. Chúng ta có thể tích cóp tiền tài, của cải, bạn bè hoặc các thú vui tiêu khiển để đảm bảo bản thân luôn có một nguồn cung cấp thoải mái và khoái lạc vô tận. Chúng ta có thể cố gắng kiểm soát người khác để họ ở lại bên mình, hoặc để đảm bảo rằng những khía cạnh vui vẻ trong mối quan hệ với họ sẽ không bao giờ thay đổi. Chúng ta có thể trở nên ích kỷ, keo kiệt vì không thể hình dung nổi việc phải buông bỏ một thứ gì đó vốn đang mang lại cho mình dù chỉ là một chút niềm vui. Thậm chí, chúng ta có thể làm tổn hại chính trải nghiệm vui vẻ hiện tại của mình chỉ vì mải mê suy tính cách làm sao cho niềm vui đó kéo dài mãi – chẳng hạn như khi đang đi dạo trong một khu rừng tuyệt đẹp, thay vì chỉ đơn thuần tận hưởng nó, chúng ta lại bận tâm nghĩ xem phải sắp xếp lại cuộc sống của mình thế nào để có thể đi dạo nhiều hơn nữa.

b- Nhược điểm thứ hai của những thú vui trần gian là bản chất phù du của sự thỏa mãn mà chúng mang lại khiến chúng ta luôn phải liên tục tìm kiếm thêm nhiều lạc thú khác. Niềm vui từ lần đầu tiên giành được hay trải nghiệm một điều gì đó sẽ không bao giờ có thể lặp lại – trừ khi, tất nhiên, chúng ta bước ra ngoài và giành lấy hoặc trải nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng niềm vui khi kiếm được một triệu đô-la tiếp theo, sự thân mật với một người mới, chuyến du lịch đến một đất nước khác, việc mua một ngôi nhà mới, hay việc nuông chiều bản thân trong một bữa ăn thịnh soạn tiếp theo sẽ mang lại sự thỏa mãn mà chúng ta hằng tìm kiếm. Dĩ nhiên, trải nghiệm vui vẻ của chúng ta về bất kỳ con người, đồ vật hay hoàn cảnh cụ thể nào rồi cũng sẽ thay đổi một cách bất khả kháng. Ngay cả khi không cảm thấy cần phải chạy theo những điều mới mẻ, chúng ta vẫn sống dựa dẫm vào một nguồn cung cấp niềm vui ổn định từ những người và những thứ mình yêu thích, từ đó có thể sống trong trạng thái luôn ngóng trông cơ hội tiếp theo để được gắn kết với họ. Ở một mức độ nào đó, sự ngóng trông như vậy là tốt và tự nhiên, nhưng nó có thể đi đến mức khiến chúng ta cảm giác như phần lớn cuộc đời mình chỉ là sự chịu đựng đơn thuần để chờ đợi đến được những "khoảnh khắc tốt đẹp".

c- Nhược điểm thứ ba của những thú vui trần gian là vì chúng mang tính điều kiện, nên chúng ta có thể trở nên ám ảnh với việc bảo tồn hoặc cải thiện các điều kiện của mình. Một bài kinh trong Kinh tạng Pali có tên là Kinh Đại Khổ Uẩn (Maha-dukkhakkhandha Sutta) có nói về điều này. (Trong bản dịch tiếng Anh này, từ "Dukkha" được dịch là "stress" - căng thẳng/khổ, nên bài kinh này còn có một cái tên khác là bài kinh "Khối khổ đau lớn"!). Bài kinh mô tả nhiều nhược điểm khác nhau của lòng ham muốn đối với các dục lạc, sắc thân (thân thể vật lý) và cảm thọ. Bản dịch tiếng Anh này là của Thiền sư Thanissaro Bhikkhu, và đây là lời của Đức Phật đang giảng giải:

Nếu người thiện nam tử ấy có được tài sản nhờ sự lao động, phấn đấu và nỗ lực như vậy, anh ta lại phải trải qua đau khổ và muộn phiền trong việc bảo vệ nó: ‘Làm sao để các vị vua hay những kẻ trộm không lấy mất tài sản của mình, lửa không thiêu rụi, nước không cuốn trôi, hay những kẻ thừa kế đáng ghét không cuỗm đi mất?’ Và khi anh ta đang canh giữ, trông nom tài sản của mình như thế, các vị vua hoặc những kẻ trộm vẫn lấy mất, hoặc lửa thiêu rụi, hoặc nước cuốn trôi, hoặc những kẻ thừa kế đáng ghét cuỗm đi mất. Rồi anh ta sầu muộn, đau khổ, than khóc, đấm ngực, trở nên quẫn trí: ‘Những gì từng là của mình giờ không còn nữa!’ Giờ đây, nhược điểm này trong trường hợp của dục lạc, khối đau khổ có thể nhìn thấy ngay trong hiện tại này, lấy dục lạc làm nguyên nhân, lấy dục lạc làm nguồn gốc, lấy dục lạc làm căn nguyên, mà lý do đơn thuần chính là dục lạc.”

Bài kinh tiếp tục liệt kê những nhược điểm khác của việc nuông chiều lòng ham muốn dục lạc: Con người tranh chấp lẫn nhau – vua chúa tranh chấp với vua chúa, mẹ tranh chấp với con, chị em tranh chấp với anh em, bạn bè tranh chấp với bạn bè; người ta tấn công lẫn nhau; đàn ông ra chiến trận và chém giết nhau bằng đủ mọi cách thức kinh hoàng và đau đớn; người ta trộm cắp, phạm tội tà dâm, và dấn thân vào đủ thứ hành vi sai trái khác về cả thân, khẩu, hoặc ý.

Tất nhiên, đối với hầu hết chúng ta, mối bận tâm về việc bảo vệ các nguồn lạc thú trần gian thường biểu hiện theo những cách tinh vi hơn là trộm cắp hay bạo lực, nhưng có lẽ tất cả chúng ta đều có thể đồng cảm với mô tả của kinh điển về nỗi đau khổ và muộn phiền khi lo lắng về những điều tồi tệ có thể xảy ra với những gì mình đang có. Chúng ta có thể phải chịu đựng sự lo âu hoặc chứng hoang tưởng. Chúng ta có thể trở nên nghi ngờ, phòng thủ và tiêu tốn rất nhiều thời gian cũng như năng lượng để củng cố tài sản của mình nhằm chống lại sự tấn công, xâm phạm hoặc tai nạn. Chúng ta có thể trải qua sự ghen tuông dữ dội trong các mối quan hệ thân mật, lo sợ rằng ai đó sẽ xuất hiện và phá hủy chúng. Chúng ta có thể cố gắng đạt được sự giàu có, quyền lực và địa vị, một phần như một cách để đe dọa bất cứ ai dám lấy đi thứ gì đó từ mình. Chúng ta có thể ám ảnh quá mức về sức khỏe của bản thân trong một nỗ lực vô vọng nhằm né tránh việc phải đối mặt với tuổi già, bệnh tật hoặc cái chết.

d- Nhược điểm thứ tư của thú vui trần gian là nỗi khổ sở mà chúng ta phải trải qua khi bị chia lìa khỏi chúng. Điều này có thể bao gồm niềm khao khát đau đớn đối với những thú vui ta chưa từng có, những thú vui ta nghĩ mình xứng đáng được hưởng, hoặc những thú vui ta đã mất đi. Nó cũng có thể bao gồm sự đau đớn và căng thẳng khi dự đoán về sự mất mát! Sự mất mát đó có thể là điều chúng ta thường xuyên suy nghĩ đến một cách có ý thức, hoặc là một cảm giác căng thẳng tràn ngập mà chúng ta thường cố gắng phớt lờ. Chúng ta có thể quá nuông chiều bản thân vào các chất kích thích hoặc các trò tiêu khiển để làm dịu đi nỗi đau và sự lo lắng nếu không thể tiếp tục trốn tránh thực tại – và cuối cùng, sự trốn tránh đó sẽ trở nên cực kỳ khó khăn khi chúng ta chắc chắn phải đối mặt với mất mát.

e- Nhược điểm thứ năm của thú vui trần gian là chừng nào chúng ta còn phụ thuộc vào chúng để có được hạnh phúc, thì chừng đó chúng ta càng ít có khả năng dành nhiều thời gian, một cách tương đối, cho việc tu tập tâm linh. Cuộc sống của chúng ta có khả năng sẽ bị lấp đầy bởi các lạc thú trần gian, hoặc bởi việc theo đuổi, duy trì và bảo vệ các nguồn lạc thú đó. Theo vũ trụ quan Phật giáo truyền thống, một trong những cõi kém hiệu quả nhất để sinh sống xét về mặt tu tập tâm linh chính là cõi trời, nơi chúng sinh được tận hưởng một nguồn cung cấp vô tận cả về lạc thú vật chất lẫn tinh thần. Họ thiếu đi động lực để tu tập.

Tại sao chúng ta phải bận tâm đến việc tu tập nếu chúng ta đang được sống ở một nơi gần như là cõi trời? Một lần nữa, điều đó hoàn toàn là do lựa chọn. Nhưng lời hứa hẹn của Phật giáo là có một điều gì đó tốt đẹp hơn việc phải dựa dẫm vào những lạc thú có điều kiện để đạt được hạnh phúc đích thực của mình. Khi mô tả về sự tỉnh thức của bản thân, Đức Phật đã nói:
'…khi Ta nhìn thấy đúng như thật với chánh tri kiến rằng dục lạc mang lại nhiều căng thẳng, nhiều tuyệt vọng, và những nhược điểm lớn hơn, và Ta đã chứng đạt được một hỷ lạc tách biệt khỏi dục lạc, tách biệt khỏi các bất thiện pháp, hoặc một điều gì đó còn an tịnh hơn thế, đó là lúc Ta khẳng định rằng Ta không thể bị cám dỗ bởi dục lạc nữa.'
[ii]

Khi đọc đoạn văn này, tôi thấy sẽ dễ hiểu hơn nếu dịch từ 'dục lạc' thành 'sự phụ thuộc vào các lạc thú có điều kiện'. Nói cách khác, sau khi giác ngộ, Đức Phật không còn bị cám dỗ bởi sự phụ thuộc vào các lạc thú có điều kiện nữa, bởi vì Ngài đã trải nghiệm một hỷ lạc an tịnh không phụ thuộc vào bất kỳ điều kiện nào. Điều đó không có nghĩa là Ngài đã đạt được một tinh thần tự kỷ luật thép để từ chối những gì mang lại niềm vui cho bản thân (mặc dù theo các kinh điển, Ngài đã làm vậy), mà là Ngài thậm chí không còn thèm muốn các lạc thú trần gian nữa, bởi vì Ngài đã trải nghiệm được một điều gì đó viên mãn hơn rất nhiều. Do đó, Phật giáo thách thức chúng ta nhìn sâu hơn vào trải nghiệm của chính mình và xem liệu có cách nào tốt hơn để đạt được hạnh phúc đích thực, thay vì cứ cố gắng tìm kiếm hoặc bám chấp vào những lạc thú vốn dĩ – dẫu cho chúng có đáng yêu đến mức nào đi chăng nữa – thì về bản chất vẫn luôn có điều kiện và vô thường.

Trong phần còn lại của chủ đề này, tôi sẽ gác lại câu hỏi lớn hơn về việc làm thế nào để chính chúng ta có thể tự mình trải nghiệm sự thỏa mãn sâu sắc, không điều kiện mà Đức Phật đã chứng đạt khi Ngài tỉnh thức – một sự thỏa mãn đã khiến Ngài từ bỏ mọi sự theo đuổi lạc thú trần gian. Theo một góc nhìn, đó chính là tất cả những gì mà phần còn lại của Phật giáo hướng tới! Thay vào đó, tôi muốn tập trung vào mối quan hệ của chúng ta với các lạc thú trần gian, với giả định rằng chúng ta sẽ không bỏ chạy để sống một cuộc đời xuất gia hoàn toàn (một cuộc đời mà thẳng thắn mà nói, vẫn sẽ bao gồm nhiều lạc thú trần gian đơn giản như thức ăn, chỗ ở và sự thoải mái cơ bản về thể chất). Liệu có cách nào để đối đãi với các lạc thú trần gian mà không dẫn đến năm nhược điểm tôi vừa mô tả hay không?
Câu trả lời ngắn gọn là, 'Có!'

https://zenstudiespodcast.com/worldly-pleasure-buddhist-practice/

II- Người Phật Tử Nên ứng Xử Với Những Thú Vui Thế Gian Như Thế Nào? Phần 2
 How to Relate to Worldly Pleasure as a Buddhist – Part 2

Đây là Phần 2 trong bài thảo luận của tôi về cách đối đãi với lạc thú trần gian dưới góc nhìn của một Phật tử, với giả định rằng bạn không sống một lối sống xuất gia hoàn toàn. Trong tập đầu tiên, tôi đã định nghĩa những gì mình muốn nói qua cụm từ 'lạc thú trần gian', sau đó thảo luận về năm nhược điểm của những lạc thú này như được mô tả trong giáo lý Phật giáo lẫn trong trải nghiệm của chính chúng ta. Trong tập này, tôi sẽ nói về việc nếu chúng ta có thể tiếp xúc với các sự vật trần thế bằng một tâm thức nhìn thấy tính vô thường, chúng ta không chỉ được 'tiêm vắc-xin' để chống lại nhiều nhược điểm thông thường của lạc thú trần gian, mà còn có thể biến mỗi lần chạm trán với thế giới thành một cơ hội để tu tập sâu sắc. Không chỉ dừng lại ở đó, kết quả là chúng ta thật sự sẽ đón nhận các lạc thú trần gian với nhiều sự trân trọng và tỉnh thức hơn.

1- Tâm Nhìn Thấy Tính Vô Thường Chính Là Tâm Giác Ngộ

“Tâm nhìn thấy tính vô thường” không chỉ đơn thuần là một lý trí đã học thuộc lòng một sự thật khách quan rằng vạn vật luôn thay đổi và không có gì tồn tại mãi mãi. Sự hiểu biết kiểu đó có thể giúp ích cho chúng ta một chút, nhưng nó không đủ sức đứng vững trước ảo tưởng mãnh liệt của con người rằng: mọi thứ và mọi người khác có thể vô thường, còn chúng ta thì không. Suy cho cùng thì chúng ta đâu thể vô thường được, đúng không? Điều đó thật không tưởng. Ồ, và cả những người hay những thứ mà chúng ta quan tâm, bằng cách này hay cách khác, cũng sẽ mãi nguyên vẹn như thế."

Thông qua tu tập, chúng ta cần đối mặt và chấp nhận tính vô thường của mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả chính bản thân mình. Chúng ta cần phải trở nên thân thuộc với thực tại này một cách sâu sắc từ trong xương tủy và mang tính trải nghiệm cá nhân. Sự nhận thức này được thúc đẩy bởi nhiều phương diện trong quá trình thực hành Phật pháp, bao gồm thiền định, chánh niệm và học hỏi Giáo pháp. Về cốt lõi, chúng ta khởi tâm hướng về và đối mặt với thực tại vô thường thay vì chống lại hay trốn tránh nó. Chúng ta cố gắng hết sức để nhìn thẳng vào nó thay vì ngoảnh mặt đi; và vô thường hiện diện trong sự chuyển dòng của các mùa; nơi những đứa trẻ đang lớn nhanh như thổi; trong sự lão hóa của cơ thể chúng ta, và trong cái cách đầy nhói lòng mà mỗi một lạc thú trần gian của chúng ta, dù nhỏ nhặt đến đâu, rồi cũng đi đến hồi kết. Một cách sâu sắc nhất, vô thường biểu hiện trong dòng chảy không ngừng thay đổi của chính bản thể chúng ta, nơi mà bên trong đó không hề có một tự tính cố định hay tồn tại vĩnh cửu nào. Sau khi nhìn thấy rõ ràng điều đó, chúng ta sẽ cố gắng hết sức để chấp nhận tính vô thường, bởi vì bất kỳ điều gì khác ngoài việc này đều chỉ là ảo tưởng.

Khi chúng ta thật sự nếm trải được bản chất phù du của vạn vật, sự đắm chìm của chúng ta vào các lạc thú trần gian sẽ giống như những gì Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen) đã viết trong cuốn Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (Fukanzazengi): giống như 'niềm vui hoang phí nơi tia lửa phát ra từ đá lửa'. Tôi luôn thích hình ảnh ẩn dụ đó, bởi vì nó gợi ý rằng niềm vui tự bản thân nó không phải là một điều xấu, chỉ là một vài niềm vui của chúng ta đang dựa trên ảo tưởng. Tôi hình dung ra cảnh một đứa trẻ nhỏ nhìn thấy tia lửa bắn ra từ hòn đá lửa khi có ai đó đang cố gắng nhóm lửa.[i] Đứa trẻ nhảy cẫng lên và reo hò thích thú, nghĩ rằng tia lửa là dấu hiệu của một điều gì đó tuyệt vời sắp sửa diễn ra. Có lẽ đứa trẻ nghĩ mình có thể chộp lấy tia lửa rực rỡ đó, mang nó về nhà và cất giữ trong một chiếc lọ! Có lẽ tia lửa sẽ lớn dần lên và một điều gì đó thậm chí còn ngoạn mục hơn nữa sẽ xuất hiện! Nhưng, tất nhiên, tất cả chỉ có thế. Tia lửa chỉ rực rỡ trong một tích tắc. Chúng ta hoàn toàn có thể thưởng thức nó, nhưng thật ngớ ngẩn nếu để bản thân bị cuốn đi hoàn toàn vì nó.

Theo ngài Đạo Nguyên (và dĩ nhiên là cả nhiều vị Tổ Sư Thiền tông khác), tâm giác ngộ có mối liên hệ mật thiết với sự nhận thức sâu sắc về tính vô thường. Trong tác phẩm 'Học Đạo Dụng Tâm Tập' (Gakudo Yojinshu), ngài Đạo Nguyên đã viết về Tâm Bồ-đề (Bồ-đề có nghĩa là 'tỉnh thức-giác ngộ'; đây là bản dịch của Yuho Yokoi):

Tâm Bồ-đề được biết đến qua nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tất cả đều hướng về Nhất Tâm của Đức Phật. Như ngài Long Thọ (Nagarjuna) đã nói: 'Tâm nhìn thấu dòng chảy sinh diệt và nhận biết bản chất vô thường của thế gian này thì cũng được gọi là Tâm Bồ-đề.' [Ngài Đạo Nguyên tiếp tục] Vậy thì tại sao, hay bằng cách nào, chúng ta có thể gọi cái tâm vô thường này là Tâm Bồ-đề? Khi bản chất vô thường của thế gian này rốt cuộc đã được nhận biết, tâm vị kỷ phàm phu sẽ ngừng sinh khởi; cũng như cái tâm truy cầu danh vọng và lợi lộc cho riêng mình – đó chính là Tâm Bồ-đề. [ii]

Tâm Bồ-đề này chính là điều mà cư sĩ giác ngộ Duy Ma Cật (Vimalakirti) đã chứng đạt được, như được mô tả trong bộ kinh Đại thừa mang tên ngài (được biên soạn vào khoảng năm 100 CN). Điều cực kỳ có ý nghĩa là Duy Ma Cật là một cư sĩ, có gia đình, nhà cửa, sinh kế và các mối quan hệ xã hội thông thường, nhưng sự hiểu biết của ngài về Giáo pháp được thể hiện là chỉ đứng sau Đức Phật. Các đệ tử xuất gia của Đức Phật đều thừa nhận họ không đủ năng lực để tranh luận với Duy Ma Cật, vì ngài luôn khiến họ phải bối rối trước công chúng. Làm thế nào mà Duy Ma Cật có thể duy trì và thị hiện một sự tu tập đáng ngưỡng mộ như vậy, ngay cả khi ngài được vây quanh bởi các lạc thú trần gian? Ngài giải thích (chữ in nghiêng trong dấu ngoặc vuông là phần tôi thêm vào):

Một vị Bồ Tát nên quán sát chúng sinh như người ảo thuật nhìn những người do chính mình hóa hiện. Một vị Bồ Tát nên quán sát chúng sinh như bậc trí nhìn bóng trăng in trên mặt nước, khuôn mặt hiện trong gương, ánh nắng tạo thành ảo ảnh, tiếng vọng, mây nổi trên trời, bọt nước tụ thành từng mảng, hay những bong bóng nổi trên mặt nước...[Kinh Duy Ma Cật tiếp tục liệt kê nhiều điều vốn không hề tồn tại, như một uẩn thứ sáu, rồi lại nêu nhiều điều bất khả hữu, như:] ...sự bền vững của tia chớp... mầm cây mọc lên từ hạt giống đã cháy... người mù có thể thấy sắc tướng... dấu vết đường bay của chim trên bầu trời... hay ngọn lửa mà không có khói. Một vị Bồ Tát nên quán sát chúng sinh theo cách như vậy. [iii]

Thoạt nghe, có thể thấy thật kỳ lạ, thậm chí có vẻ mê lầm, khi nói rằng một vị Bồ Tát nên quán chúng sinh như những gì không hề tồn tại. Rõ ràng chúng sinh vẫn hiện hữu! Điều mà lời dạy này muốn nói là: chúng sinh không tồn tại theo cách mà chúng ta vẫn tưởng. Khi tiếp xúc với người khác, chúng ta thường hình dung rằng họ (và cả chính mình) có một sự tồn tại tự chủ, bên trong mỗi người có một bản ngã cố hữu, độc lập và bền vững. Chính cái điều ấy mới là cái không hề tồn tại, cũng giống như dấu vết đường bay của chim trên bầu trời. Còn hình tướng mà mỗi chúng sinh đang biểu hiện trong từng khoảnh khắc hiện tại—dáng vẻ mà họ đang mang—thì mong manh, tạm bợ và không thể nắm giữ, chẳng khác nào một tiếng vọng.

2- Đón Nhận Cuộc Đời Bằng Tâm Quán Chiếu Vô Thường

 Chúng ta nên ứng dụng tuệ giác về vô thường như thế nào? Tuệ giác ấy có thể thôi thúc ta sống giản dị hơn, bớt chạy theo các dục lạc và giá trị thế gian. Đó là một chuyển hóa tích cực. Tuy nhiên, điều không nên là vì thấy vô thường mà lánh đời hoặc khép kín tâm hồn vì sợ tổn thương. Đó không phải là ý nghĩa của lời Phật dạy. Thái độ ấy vẫn lấy bản ngã làm trung tâm và chỉ phản ánh một sự thấy biết chưa viên mãn về vô thường. Bởi khi thật sự giác ngộ vô thường, ta đồng thời thấy rằng bản ngã cũng không có tính thường hằng hay tự tính cố định; do đó, không còn gì để bám víu hay bảo vệ nữa.

Thay vì khép mình lại, chúng ta được khuyến khích dấn thân vào cuộc đời với hạnh nguyện của một vị Bồ Tát. Trong Kinh Duy Ma Cật, ngay sau khi Duy Ma Cật giảng rằng một vị Bồ Tát nên quán chúng sinh là vô thường, như huyễn và không có tự tính, ngài Văn Thù Sư Lợi liền hỏi:

"Đã quán sát chúng sinh như vậy rồi, thì một vị Bồ Tát phải thực hành lòng từ như thế nào?"

Đó quả là một câu hỏi rất hay! Khi đã nhận ra rằng mọi chúng sinh và mọi sự vật đều là không và vô thường, mong manh, thì sự ấm áp của lòng từ, lòng bi và hạnh bố thí sẽ khởi lên từ đâu?

Duy Ma Cật đáp:

"Đã quán sát chúng sinh như vậy rồi, một vị Bồ Tát liền tự nhủ: 'Ta nên vì chúng sinh mà thuyết giảng Chánh pháp này.' Đó mới chính là lòng từ chân thật.
Bồ Tát thực hành lòng từ của sự tịch tĩnh cứu cánh, vì không có pháp nào thật sự sinh khởi. Bồ Tát thực hành lòng từ không dao động, vì đã lìa mọi phiền não.
Bồ Tát thực hành lòng từ không tranh chấp, vì không có gì thật sự phát sinh. Bồ Tát thực hành lòng từ của bất nhị, vì không còn chấp có bên trong hay bên ngoài.
Bồ Tát thực hành lòng từ bất hoại, vì rốt ráo là vô tận. Bồ Tát thực hành lòng từ bền vững, vì tâm luôn kiên định, không lay chuyển.
Bồ Tát thực hành lòng từ vô biên, vì lòng từ ấy rộng lớn như hư không."

Nói cách khác, khi chúng ta tiếp xúc với con người và muôn sự muôn vật bằng tâm thấy rõ vô thường — tức tâm của một vị Bồ Tát — thì lòng từ chân thật mới có thể hiển lộ. Lòng bi và hạnh bố thí sẽ tuôn chảy một cách tự nhiên, không còn bị ngăn ngại bởi sự chấp ngã hay những định kiến và quan niệm cố hữu.

 3- Thọ Hưởng Các Lạc Thú Thế Gian Với Tâm Quán Vô Thường

Điều tưởng như nghịch lý là, khi thọ hưởng các niềm vui thế gian với tâm thấy rõ và chấp nhận vô thường, chúng ta lại có thể tận hưởng chúng một cách viên mãn hơn, đồng thời không rơi vào năm hệ quả bất lợi của các lạc thú thế gian mà tôi đã trình bày ở phần trước.

Giáo thọ Phật Giáo Jack Kornfield kể một câu chuyện về vị thầy của mình, Ajahn Chah (Jack Kornfield tells a story about his teacher, Ajahn Chah):

Một ngày nọ, thầy tôi, Ajahn Chah, cầm lên một chiếc tách trà rất đẹp và nói:

"Đối với tôi, chiếc tách này đã vỡ rồi. Chính vì biết trước số phận của nó, tôi có thể trân trọng và tận hưởng nó trọn vẹn ngay tại đây, ngay trong giây phút này. Và khi nó thật sự vỡ, thì nó đã vỡ."

Khi thấu hiểu sự thật về tính bất định của mọi sự, chúng ta trở nên tự do.

Hình ảnh chiếc tách đã vỡ giúp ta vượt qua ảo tưởng về sự kiểm soát. Khi nguyện dấn thân nuôi dạy con cái, gây dựng sự nghiệp, sáng tạo nghệ thuật hay đấu tranh để chuyển hóa bất công, chúng ta phải chấp nhận rằng kết quả sẽ luôn bao gồm cả thành tựu lẫn thất bại. Đó là một giáo pháp sâu sắc nhưng cũng rất khắc nghiệt.

 Có thể chúng ta sẽ mất đi tác phẩm gốm đẹp nhất ngay trong lò nung; ngôi trường bán công (charter school) mà chúng ta dồn bao tâm huyết để gây dựng có thể phải đóng cửa; công ty khởi nghiệp của chúng ta có thể phá sản; con cái của chúng ta có thể gặp phải những khó khăn vượt ngoài khả năng kiểm soát của mình. Nếu chỉ chăm chăm vào kết quả, chúng ta sẽ vô cùng đau khổ khi mọi việc không như ý. Nhưng nếu biết rằng "chiếc tách đã vỡ" ngay từ đầu, chúng ta sẽ có thể dốc hết tâm sức cho chính quá trình ấy, tạo dựng những gì mình có thể tạo dựng và tin tưởng vào tiến trình lớn lao của sự sống. Chúng ta có thể lập kế hoạch, chăm sóc, vun bồi và ứng xử với những gì xảy đến. Nhưng chúng ta không thể kiểm soát tất cả. Thay vào đó, ta chỉ cần dừng lại, hít một hơi thật sâu và mở lòng đón nhận những gì đang diễn ra ngay trong hoàn cảnh hiện tại. Đó là một sự chuyển hóa sâu sắc: từ nắm giữ sang buông xả.

Như Thiền sư Shunryu Suzuki từng nói:

"Khi hiểu được chân lý của vô thường và tìm được sự an nhiên ngay trong chân lý ấy, thì chính nơi đó chúng ta tìm thấy Niết-bàn."

Tính mong manh của chiếc ly vốn đã nằm ngay trong bản chất hiện hữu của nó; cũng như cái chết của mỗi chúng ta vốn đã hàm chứa ngay từ khi chúng ta được sinh ra. [v]

Khi chúng ta lệ thuộc vào những niềm vui thế gian để tìm kiếm hạnh phúc, đồng thời vẫn chưa thể nhận ra và chấp nhận rằng chúng đều vô cùng mong manh và hoàn toàn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, thì ngay cả khi tận hưởng những niềm vui giản dị và trong sáng nhất, vẫn không tránh khỏi có sự vị kỷ xen lẫn trong đó.

Khi can đảm đối diện và học cách chấp nhận vô thường, kể cả sự vô thường của chính bản thân mình, chúng ta có thể mở rộng đôi tay và đón nhận mọi sự đúng như bản chất của chúng. Con người và sự vật chỉ đến với cuộc đời ta trong một khoảng thời gian. Ta có thể trân trọng chúng như những ân phúc, mà không tự dệt nên câu chuyện rằng mình xứng đáng có được chúng, đã tạo ra chúng hay vì thế có thể tin chắc chúng sẽ mãi ở bên mình trong tương lai.

Chính trước thực tại vô thường, những niềm vui thế gian lại trở nên ngọt ngào hơn theo một cách vừa đẹp vừa man mác. Cuộc gặp gỡ này với người mình yêu thương sẽ không bao giờ lặp lại. Sức sống và sự khỏe mạnh tương đối mà ta đang có hôm nay là một ân phúc để trân quý và tận hưởng. Ngay lúc này, chúng ta đang được bình an, có đủ thức ăn và có một mái che để nương thân.

Khi chúng ta có thể nâng niu một điều gì đó với sự nhận biết và chấp nhận trọn vẹn rằng nó là vô thường, thì giá trị quý báu của nó hiện lên vô cùng rõ ràng. Sự quý giá ấy—điều rất dễ bị chìm khuất khỏi ý thức trong nhịp sống thường ngày—bỗng trở nên hiển nhiên, giản dị và rạng ngời. Ta không nhất thiết phải cảm thấy tuyệt vọng hay thậm chí buồn bã khi nhận ra điều đó. Ta có thể biết rằng rồi đây, khi mọi thứ tất yếu đổi thay, mình sẽ buồn; nhưng nỗi buồn ấy dường như là một cái giá rất nhỏ để đổi lấy vẻ đẹp của trải nghiệm đang có trong hiện tại. Chẳng hạn, tôi thấy việc thực hành của mình đã mang lại kết quả khi mỗi tối chìm vào giấc ngủ trong vòng tay ôm chồng, với ý thức rất rõ rằng sớm hay muộn, cái chết sẽ chia lìa chúng tôi. Thay vì để mình bị cuốn vào nỗi sợ hãi hay lo âu về điều đó, tôi tự nhắc rằng khoảng thời gian chúng tôi được ở bên nhau là hữu hạn. Nó sẽ trôi qua nhanh hơn chúng tôi vẫn tưởng. Thêm một ngày được ở bên nhau đã là một ân phúc vô cùng quý giá. Tốt hơn nhiều là đón nhận và trân trọng ngày ấy với đôi tay rộng mở, như một món quà của cuộc sống, hơn là mãi lo lắng về việc rồi đây tôi chắc chắn sẽ mất đi nguồn hạnh phúc thế gian này.

Vì vậy, điều quan trọng là hãy nuôi dưỡng cả năng lực lẫn thiện chí quán chiếu tính vô thường vốn hiện hữu nơi tất cả con người và sự vật trong đời sống. Nếu sự quán chiếu ấy ban đầu khiến ta sợ hãi, chán nản hay hoang mang, thì hãy tiếp tục quán chiếu sâu hơn nữa. Thành quả của sự thực hành này là khả năng thực sự trân quý và tiếp xúc trọn vẹn với mọi người, mọi vật và mọi hoàn cảnh mà ta gặp trên đường đời.

Một bài học khác rút ra từ câu chuyện này là: để sống một đời sống giác ngộ, chúng ta không cần phải quay lưng với việc trân trọng hay tận hưởng những niềm vui thế gian. Tuy nhiên, chúng ta cần siêng năng hướng ánh sáng của sự thực hành vào chính mối quan hệ của mình với mọi sự vật và mọi con người. Học cách nhìn thấy và chấp nhận tính vô thường của vạn pháp, đồng thời vẫn tận hưởng chúng một cách trọn vẹn, chính là một cơ hội thực hành tuyệt vời.

Ẩn Tâm Lộ, 28/07/2026

https://zenstudiespodcast.com/mind-that-sees-impermanence/


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét