SỰ HỢP NHẤT CỦA ĐẠI LẠC VÀ TÁNH KHÔNG
Giáo Huấn Về Sự Thực Hành Đạo Sư Yoga
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Thupten Jinpa
Việt dịch: Tuệ Uyển
Chương 4: Thực hành bảy quán nguyện
***
Như những thành viên của không gian công đức được quan tâm thế ấy, thì không có
ai cao siêu hay vượt trội đối với những đạo sư. Và đối với một tiến trình thật
sự của việc tích lũy công đức, thì không có sự thực tập nào hơn là sự thực hành
về bảy quán nguyện. Mục tiêu của việc tích lũy công đức là để đạt được Giác Ngộ
tối thượng. Ý nghĩa của việc Giác Ngộ không phải là qua đời. Thay vì là một sự
châm biếm mà ở Tây Tạng người nào đó ngu ngơ hay ngờ nghệch bị đùa bợt gọi là
“kẻ giác ngộ hoàn toàn”! Tôi nghĩ điều này thấy rất quen thuộc với giáo pháp!
Tương tự thế, Lama Konchog (Lạt Ma quý
báu) thật sự là một tên gọi giễu cợt cho một người nào đó đúng là ngu ngốc,
mặc dù không có tên nào khá hơn! Chúng ta tích lũy công đức vì mục tiêu thành tựu
Giác Ngộ, và thể trạng Giác Ngộ có nghĩa là gì thì đó là một thể trạng thoát khỏi
mọi chướng ngại với sự toàn tri toàn giác và giải thoát. Một chúng sanh của một
thể trạng như vậy có thể nhận thức sự mở rộng hoàn toàn của mọi hiện tượng chỉ
trong một khoảnh khắc đơn thuần của tâm thức, vì người ấy đã thoát khỏi tất cả
mọi chướng ngại đối với tri thức. Như Chandrakirti (Nguyệt Xứng) về Mādhyamakavatāra (Nhập Trung Luận) nói rằng:
Không cần chạm vào chính đối tượng nhưng ta nhận ra bản chất của nó một cách trực
tiếp.” Bất chấp ta có đồng ý hay không với quan điểm có những sự chướng ngại đối
với toàn giác toàn tri trong hình thức của ý thức biểu hiện, thì miễn là ta
chưa tịnh hóa sự hiểu lầm về việc coi hai chân lý như những thực thể riêng biệt,
thì không thể thành tựu Giác Ngộ hoàn toàn. Các học giả không đồng ý về đặc
tính của chướng ngại này: một số chấp nhận nó như một loại ý thức, nhưng những
người khác giải thích nó trong dạng thức của những dấu vết còn sót lại mà thôi
và không phải là một thể trạng ý thức của tâm. Thành tựu Giác Ngộ được cấu
thành bởi việc từ bỏ hoàn toàn sự hiểu lầm ấy. Và nhằm để đạt đến một thể trạng
như vậy ta phải có một sự phát triển hoàn toàn về tuệ trí thực chứng tánh
không. Để phát triển sự thực chứng tánh không, thì cần thiết phải tịnh hóa những
tiêu cực và tích lũy công đức. Đây là thật sự là hai hành động mà hành giả thực
hành giáo pháp phải làm.
Để chi tiết hơn, chúng ta có thể nói về ba hành động: tích lũy công đức, tịnh
hóa tiêu cực, và gia tăng công đức qua tùy hỉ. Khi những điều này chi tiết xa
hơn, thì có sự thực hành bảy quán nguyện, bao gồm thỉnh cầu giáo huấn và cầu khẩn
chư đạo sư không nhập niết bàn, như được thảo luận bên dưới. Nếu ta đọc những
kinh điển gốc Abhisamayalankara (Trang
Nghiêm Thực Chứng) chẳng hạn như Bát Nhã Bát Thiên Tụng, trong phần con đường
thiền tập, có những sự giải thích mở rộng về việc tùy hỉ, hồi hướng, và v.v...
Nếu chúng ta mong ước tiến hành việc cúng dường nghi thức quán tẩy, thì nên được
hoàn thành vào lúc này. Hãy quán tưởng căn lều quán tẩy trong một ngôi vườn tuyệt
đẹp, dễ thương tối đa, giống như được diễn tả trong những sự thực hành Jorcho,
rồi thì thỉnh mời những chúng sanh của không gian công đức. Nếu bạn đang dấn
thân trong một sự thực hành riêng biệt của kinh điển, thì ta tiến hành lễ quán
tẩy trong khi quán tưởng chính mình trong hình thức một tỳ kheo. Hãy cúng dường
nghi thức quán tẩy đến những người được thừa nhận trong hình thức giải thoát
(đó là những người trong hình thức của những tỳ kheo), với chính mình trong
hình thức của một tỳ kheo, và đến những bổn tôn mật tông với chính mình trong
hình thức một bổn tôn đang hiện thân những thiên nữ cúng dường nghi thức quán tẩy.
Sau khi tiến hành nghi thức quán tẩy, hãy quán tưởng rằng những chúng sanh của
không gian công đức trở lại vị trí của họ trong không gian công đức. Nước của
nghi thức quán tẩy chảy xuống sáu cõi và làm giảm những đau khổ đặc thù của những
cõi này: nước trở thành cam lồ tươi mát cho những địa ngục nóng bỏng; cam lồ ấm
áp cho những địa ngục lạnh lẽo; tuệ trí rực sáng cho súc sanh; một sự giảm nhẹ
từ đói và khát trong thế giới quỷ đói, và v.v... Hãy tưởng tượng rằng những
dòng nước này, trong bản chất của cam lồ và những tia sáng, làm thỏa mãn và hài
lòng những chúng sanh trong sáu cõi. Mặc dù ta có thể đang thực hành ở trình độ
tưởng tượng ở tại thời khắc ấy, nhưng qua sự quen thuộc liên tục thì ta có thể
thật sự đem đến một kết quả như vậy trong tương lai.
Lama Tsongkhapa đã nói rằng vì, trong giai đoạn phát sinh, một nhân vật sinh khởi
từ tánh không thành bổn tôn trong cấp độ quán tưởng, nên phải có một thể trạng
nơi mà trong thực tế một nhân vật có thể thật sự sinh khởi từ tánh không thành
bổn tôn. Đây là là sự liên hệ rõ ràng đến thân huyển ảo. Trong cùng cách, vì
chúng ta đang làm việc hướng đến việc thành tựu một thể trạng nơi mà chúng ta
có thể giúp đở chúng sanh, cho nên chúng ta phải rèn luyện chính mình trong những
hành vi như vậy ngay từ lúc đầu của con đường, ngay cả chỉ là qua sự tưởng tượng.
Sự chuyển hóa của tâm thức chỉ được mang đến qua sự thông thạo quen thuộc liên
tục. Nhưng chúng ta cũng phải làm những vì thực tiển có thể và không để mọi thứ
chỉ ở cấp độ tưởng tượng mà thôi. Khi chúng ta đọc những tác phẩm sưu tập từ
nhiều lạt ma thì chúng ta thấy nhiều kỷ năng cho sự kéo dài tuổi thọ; chúng ta
làm việc trên việc kéo dài tuổi thọ, gia tăng sức khỏe, và v.v... hầu hết trên
cấp độ tưởng tượng, những thứ, mà tôi cảm thấy, là lý do mà những kỷ năng này
không giúp đở gì nhiều. Chúng ta đã hơi lý tưởng hóa bằng việc làm mọi thứ ở cấp
độ tưởng tượng! Đôi khi tôi nghĩ rằng những đạo sư Trung Hoa thì thông minh hơn
về mặt đó! Cả trong sự thực hành tôn giáo và đời sống trần tục chúng ta phải rất
là thực tế. Tôi không chắc rằng người nào đó có một năng lực rất mạnh mẽ trong
việc tập trung có thể giúp đở người khác một cách trực tiếp trong một cung cách
vật lý; nếu có trường hợp như vậy, thì nhiều
Đức Phật, những bậc có sự tập trung rất mạnh mẽ, phải có thể giúp đở
chúng ta từ xa xưa! Tôi nghĩ chúng ta đã nhấn mạnh quá nhiều việc đặt trên những
kỷ năng quán tưởng cho sự kéo dài tuổi thọ và trong sự gia tăng thịnh vượng và
v.v... Đôi khi tôi nghĩ rằng chúng ta đã mất nước vì có thái độ như vậy. Đất nước
đã từng được biết như Tây Tạng bây giờ đi đến chỗ suy tàn. Không ai đã có bất cứ
chú ý đặc biệt rằng xứ sở đã bị lấn chiếm dần dần từ biên giới của nó. Cho nên,
như sự nhạy cảm cho tất cả mọi đất nước là phải học hỏi từ lịch sử và phải được
chuẩn bị hơn cho những sự kiện tương lai, cho nên chúng ta phải học hỏi từ những
kinh nghiệm quá khứ. Mặc dù chúng ta phải nhấn mạnh vào sự tập trung thiền quán
và v.v..., tuy thế nếu có điều gì chúng ta có thể làm về mặt thực tế, thì chúng
ta phải làm miễn là nó không tích lũy những điều bất thiện.
Mặc dù chúng ta quán tưởng rằng những dòng cam lồ tuôn chảy xuống đến các chúng
sanh của sáu cõi, làm dịu đi những nỗi đau khổ đặc thù của họ, chúng ta không
nên hài lòng với điều ấy, nhưng khi chúng ta thật sự thấy chúng sanh đang đau
khổ trong thực tế, như những người trong nước đang cố gắng để thoát khỏi chết
đuối, thì chúng ta phải giúp đở họ. Việc giúp đở những chúng sanh khác không
nên được giữ chỉ trong cấp độ quán tưởng. Khi chúng ta ngồi xuống trên bồ đoàn
thì chúng ta quán tưởng rằng tất cả chúng sanh như những bà mẹ của chúng ta,
chúng ta tập trung trên lợi ích của họ và ngay cả cảm thấy xúc động đến chảy nước
mắt, nhưng vào cuối buổi tu tập chúng ta tranh cải với những người hàng xóm của
chúng ta và v.v... Như thế là sai. Trong sự thiền tập của chúng ta, chúng ta đặt
tất cả chúng sanh trong thể trạng của những
Đức Phật, vì thế khi chúng ta ra khỏi những buổi tu tập thì chúng ta phải
giúp đở họ tối đa như có thể. Nếu chúng ta không thể làm việc này, thì tối thiểu
chúng ta không nên làm tổn hại họ. Điều này, tôi nghĩ, là rất quan trọng và là
cũng một sự tiếp cận rất thực tiển.
I. LỄ PHỦ PHỤC
Điều trước nhất của bảy thực tập quán nguyện là lễ phủ phục. Nếu bạn có thể thật
sự lễ phủ phục thì tốt, bằng khác đi thì ta chỉ phải chạm bàn tay. Như cũng được
nói rằng vì chúng ta đang thực hành trong sự nối kết với Yamantaka (Đại Oai Đức Kim Cang) và ta đang ở trong
hình thể giản dị của Yamantaka, một mặt và hai tay, ta nên tưởng tượng rằng tất
cả thân thể mà ta đã mang trong vô lượng kiếp quá khứ sinh khởi trong hình thể
của Yamantaka cũng nhiều như có thể thế ấy, và ở những lỗ chân lông của những
Yamantaka này là nhiều Yamantaka nữa; rồi thì lễ phủ phục với sự quán tưởng ấy.
18- Ngài, bậc với lòng từ bi ban cho cả
không gian hạnh phúc
Thể trạng siêu việt của ba thân, trong một khoảnh khắc,
Ô đạo sư với thân thể như châu báu, Vajradhara (Kim Cang Trì):
Ở bàn chân sen của ngài, tôi đảnh lễ phủ phục.
Thi kệ thứ nhất này của lễ phủ phục là đến đạo sư trong thân thụ hưởng (báo
thân) của ngài và hiển lộ những phẩm chất đặc thù của ngài. Qua năng lực truyền
cảm hứng của đạo sư, việc hiện thực hóa của ngay cả mục tiêu tối hậu chẳng hạn
như ba thân – không đề cập đến mục tiêu của hạnh phúc tạm thời – là có thể
trong một khoảnh khắc. “Trong một khoảnh khắc” không có nghĩa là trong khoảnh
khắc tức thời, nhưng thay vì thế liên hệ đến cuộc đời trong thân thể con người.
Tuổi thọ của chúng ta là giống như một khoảnh khắc trong so sánh với khoảng thời
gian vô thỉ của vòng luân hồi.
19- Ngài là sự tỉnh giác nguyên sơ của tất
cả vô lượng đấng chinh phục
Xuất hiện với những phương tiện thiện xảo tối thượng trong bất cứ cung cách thuần
hóa nào,
Chẳng hạn như biểu hiện trong hình tướng của một tu sĩ y vàng:
Tôi đảnh lễ phủ phục ở bàn chân ngài, hởi đấng cứu độ thánh thiện.
Ở đây ta đảnh lễ phủ phục đến đạo sư với thân biểu hiện (hóa thân). Thi kệ nói:
Mặc dù ngài mang nhiều hình tướng tương ứng thích hợp với những vị thế khác
nhau và quan tâm đến chúng sanh, ở đây hiện tại, nhằm để thuần hóa tôi, ngài đã
mang hình thức tỳ kheo y vàng, tôi đảnh lễ phủ phục đến ngài là nơi nương tựa và
cũng là bậc bảo vệ.
20- Cội nguồn duy nhất của lợi lạc và gia
hộ không ngoại lệ,
Ngài tiêu trừ tất cả những lỗi lầm và dấu vết của chúng,
Và là một kho tàng của vô số phẩm chất như châu báu:
Tôi đảnh lễ phủ phục ở bàn chân ngài, hởi đấng đạo sư tôn quý.
Lễ phủ phục này đến đạo sư với thân chân thật (pháp thân). Thi kệ thứ nhất đề cập
đến những từ bỏ. Ngài đã đạt đến một thể trạng nơi mà những lỗi lầm của những cảm
xúc phiền não cùng với những dấu vết của chúng được tiêu trừ, và đã đạt được những
thực chứng với những phẩm chất to lớn và là cội nguồn hoàn thành tất cả mọi
nguyện ước. Tiếp tục: Ngài đã thành tựu một thể trạng qua năng lực của từ bi
như vậy; do bởi thế ngài là cội nguồn của tất cả mọi hạnh phúc, hy vọng, và
giúp đở cho chúng sanh; do thế tôi đảnh lễ phủ phục đến ngài.
Một trong những ghi chú về tác phẩm lamrim của Trichen Tampa Rabgyay, tác giả
giải thích ý nghĩa của jetsun lama: je
biểu thị cho “thượng thủ trong những chúng sanh bình thường, vì ngài đã đạt được
tất cả thực chứng của phạm vi thấp; tsun (cần cù siêng năng) liên hệ đến
sự tuân thủ thuần khiết về đạo đức, được nói trong sự thực tập của phạm vi
trung vì ở đó thì đạo đức là sự thực hành chính; lama có nghĩa “không thể
hơn,” một liên hệ rõ ràng đến sự thực hành tâm bồ đề. Jetsun lama (đạo sư tôn kính) có ý nghĩa đặc biệt này, chứa đựng những
sự thực chứng của đạo sư của tất cả mọi con đường của ba phạm vi.
21- Ngài là bản chất của tất cả chư Phật,
bậc thầy của tất cả kể cả chư thiên;
Cội nguồn của tám mươi bốn nghìn thuần pháp,
Ngài là tòa tháp trên tất cả hội chúng thánh giả:
Tôi đảnh lễ phủ phục đến ngài, Hỡi những đạo sư nhân từ.
Ở đây chúng ta đảnh lễ đến đạo sư trong khi thấy ngài như hiện thân của mỗi một
Tam Bảo. Tâm của đạo sư được xem như Đức
Phật, lời nói của ngài là giáo pháp, và thân của ngài như tăng già vì ngài là bậc
thượng thủ giữa cộng đồng tâm linh.
Tập trung chính yếu ở đây là đến Lama Lozang Thubwang Dorje Chang. Trong khi bạn
đang trì tụng những thi kệ này, thì ta nên phản chiếu ý nghĩa và những phẩm chất
của Lama Lozang Thubwang Dorje Chang với niềm tin sâu sắc và tôn kính.
22- Đến những đạo sư của ba thời và mười phương,
Tam Bảo tối thượng và tất cả sự đáng tôn kính,
Với niềm tin, sự thuyết phục và đại dương lời ca ngợi,
Tôi đảnh lễ phủ phục, những thân biểu hiện nhiều như số nguyên tử của thế giới.
Thông điệp này là ta lễ phủ phục đến đạo sư qua năng lực của niềm tin và ngưỡng
mộ - sự phủ phục qua tâm. “Ca ngợi” liên hệ đến sự lễ phủ phục trước nhất qua lời
nói bằng những sự tán dương ca ngợi với âm điệu du dương, và thứ đến qua những
biểu hiện thân thể. Nó được giải thích rằng ở điểm này chúng ta có thể quán tưởng
tất cả những thân quá khứ của mình trong hình thể con người và tưởng tượng làm
sự đảnh lễ phủ phục thân thể. Chúng ta có thể làm việc này trong khi tập trung
trên tất cả nhân vật trong không gian công đức (phước điền). Trong Lamrim
Chenmo giải thích rằng ta có thể quán tưởng nhiều đầu trên thân thể mình, và
cũng như nhiều lưỡi, và tán tụng những lời ca ngợi và v.v... trong tư thế này.
Tuy nhiên, điều này không nhất thiết.
II- CÚNG DƯỜNG
23- Ô đấng cứu độ, Ô những đạo sư tôn
kính, cùng với tùy tùng của các ngài,
Tôi dâng đến các ngài với những đại dương của những đám mây cúng dường đủ loại.
Phần này liên quan việc làm những cúng dường. Nếu ban thật sự phải sắp xếp những
vật cúng dường như những phần đầu tiên của thực phẩm của ta và v.v..., thì những
thứ đó nên được lấy như căn bản của sự quán tưởng. Ta phải tịnh hóa hay chuyển
hóa chúng, do thế, dường như rằng ta không thật sự cúng dường những vật chất
này, thay vì thế chuyển hóa những khía cạnh của chúng. Do thế, tôi nghĩ rằng ở
giai đoạn bắt đầu, hành giả phải lệ thuộc vào căn bản vật chất ngay cả với lưu
tâm đến những cúng dường, nhưng sau này khi tiến triển trên con đường, người ấy
ít lệ thuộc trên những căn bản vật chất. Nhằm để cho những vật chất này thích ứng
cho việc cúng dường chúng phải được cho phép với ba thuộc tính như được giải
thích ở chương hai.
Hãy xuất phát cúng dường những thiên nữ từ trái tim bạn, người nắm giữ vật cúng
dường thích hợp. Đã thực hiện sự cúng dường, chúng tan biến ngược trở lại trái
tim bạn. Một cung cách khác là xuất phát tất cả cúng dường những thiên nữ một lần
và khiến họ thực hiện những sự cúng dường này và rồi tan biến tất cả vào trái
tim bạn, để lại năm vị thiên nữ của các đối tượng giác quan, những vị cuối cùng
tan biến vào những bổn tôn tương ứng của mandala thân. Dòng đầu tiên đề cập những
đối tượng mà đến họ chúng ta thực hiện những sự cúng dường và rồi thì thi kệ đi
đến giải thích tiến trình cúng dường và những vật cúng dường.
Nếu bạn muốn tiến hành thực tập trong một cung cách mở rộng phù hợp với truyền
thống của Yongdzin Yeshe Gyaltsen, thi kệ 23 và hai dòng đầu tiên của thi kệ 32
được trì tụng nhiều lần, mỗi lần chen vào một trong những thi kệ đề cập những vật
phẩm cúng dường đặc thù (24 đến 31).
Mọi thứ mà Yongdzin Yeshe Gyaltsen viết rất rộng rãi, Changkya Rolpai Dorje một
lần đã hỏi ngài ba câu hỏi trong mối
liên hệ với sự thực tập về tantra yoga tối thượng, và như được nói rằng những
trả lời mà ngài đã có từ Yongdzin Yeshe Gyaltsen đã không làm ngài hài lòng nhiều,
vì mỗi câu trả lời quá phức tạp! Nhưng Longdol Lama Rinpoche thì đối lập: tất cả
những gì ngài viết rất súc tích. Như được nói rằng khi những tác giả viết điều
gì đó, thì họ cho thấy cá tính của mình. Longdol Lama Rinpoche thường nói rằng quá
nhiều từ ngữ sẽ làm tổn hại đến việc quán tưởng, cho nên những gì ngài viết rất
thống nhất và súc tích. Việc chi tiết phức tạp những cúng dường có điểm đặc biệt
riêng của nó, nhưng làm việc đó trong một cung cách cô đọng lại có một thuận lợi
là hành giả có thể dành nhiều thời gian hơn trong những điểm quan trọng. Đôi
khi ta có thể có quyết định vào lúc bắt đầu để thực hiện một nghi quỹ (sadhana)
rất tốt và vì thế bắt đầu làm việc đó trong một cách chi tiết phức tạp, nhưng rồi
thì khi điểm quan trọng đến ta có thể cảm thấy mệt mõi và không thực hiện một
cách thích đáng! Thí dụ, những hành giả của lamrim hay mahamudra phải nhấn mạnh
hơn về những phần sau của văn bản này.
24- Từ những chiếc bình rộng rãi kiểu
dáng đẹp đẽ, rạng rỡ và quý giá,
Nhẹ nhàng chảy bốn dòng cam lồ thanh tịnh.
Ở đây phong cách và trật tự của những sự cúng dường được làm phù hợp với phong
tục của Ấn Độ nơi đúng là nóng; vì thế thức uống mát và v.v... được dâng cúng
trước.
25- Những bông hoa đẹp đẽ, khi rộ nở, và
Những vòng hoa được kết một cách tinh tế, phủ đầy mặt đất và bầu trời.
Khi bạn dâng cúng bông hoa, những cây hoa, rồi thì rải hoa và vòng hoa, được sắp
xếp một cách đẹp đẽ và phủ toàn bộ không gian và mặt đất.
26- Làn khói màu lưu ly thơm ngát
Hương bay cuồn cuộn từ những đám mây xanh trên bầu trời
Khói hương như màu lưu ly, tràn khắp không trung như những đám mây.
27- Từ những mặt trời và mặt trăng, châu
báu lấp lánh, và vô số ngọn đèn rực sáng,
Ánh sáng hoan hỉ xua tan bóng tối của một nghìn triệu tỷ thế giới.
Vì ánh sáng đến từ mặt trời và mặt trăng (bất chấp mặt trăng tự có ánh sáng hay
không), hành giả có thể cúng dường những thứ này như ánh sáng. Ở đây văn bản
nói về những hệ thống thế giới khác nhau, cho nên sự quán tưởng của ta về ánh
sáng phải thật sáng suốt để nó có khả năng xua tan bóng tối trong tất cả hàng
nghìn tỷ hệ thống thế giới.
28- Những biển lớn của nước thơm, thấm
nhuần với những mùi thơm
Của nghệ tây, trầm hương, và long não, cuốn xoáy tận chân trời.
Hãy quán tưởng hương thơm của trầm hương và v.v... rộng lớn như đại dương.
29- Những món ngon của chư thiên và loài
người, những thức uống và thực phẩm lành mạnh
Với thành phần của trăm hương vị, tích lũy như núi Tu Di.
30- Âm nhạc từ sự đa dạng bất tận của những
nhạc cụ khác nhau
Hòa quyện vào một bản giao hưởng tràn ngập khắp ba cõi.
Bạn phải quán tưởng những loại nhạc cụ khác nhau, những thứ như trống, chập
chõa, cũng như những nhạc cụ hiện đại được thấy ở phương Tây.
31- Chư thiên nữ của những đối tượng giác
quan, nắm giữ những biểu tượng của
Sắc, thinh, hương, vị và xúc, tỏa khắp mọi phương.
Đây là sự cúng dường của năm đối tượng giác quan. Điều này cũng liên hệ đến những
đối tượng nội tại như được giải thích trong mật điển Guhyasamaja. Khi bạn cúng
dường những đối tượng khát vọng ngoại tại, thì bạn phải bắt nguồn từ chư thiên
nữ cúng dường khác nhau, những vị nắm giữ các biểu tượng trên tay đặc thù chẳng
hạn như gương soi, chập chõa cho âm nhạc, và v.v... Đã thực hiện sự cúng dường,
hãy quán tưởng những vị thiên nữ cúng dường này như Rupavajras và Shabdavajras
tan biến thành những thiên nữ cúng dường trong mandala thân của nhân vật chính
trung tâm. Qua năng lực của việc hòa tan họ vào trong những bổn tôn mandala,
hành giả đạt được năng lực cho việc sản sinh hỷ lạc. Nhưng đối với những loại
cúng dường vật phẩm khác, thì ta phát ra sự cúng dường những thiên nữ, những vị
làm sự cúng dường, phải được hòa tan vào trong trái tim bạn. Trong một trong những
luận giải của Pelmang Konchog Gyaltsen, ngài nói rằng trong phạm vi của những mật
điển thấp thì không nhất thiết phải hòa tan những vị thiên nữ cúng dường này
vào trong trái tim, nhưng trong những sự thực tập của mật điển yoga tối thượng
thì điều đó là quan trọng.
32- Đến các ngài, hởi những đấng cứu độ,
những kho tàng của từ bi,
Những ruộng phước nổi tiếng và tối thượng, tôi hiện diện với niềm tin thuần khiết:
Núi Tu Di và bốn châu một tỉ lần hơn,
Bảy biểu hiện quý giá của hoàng gia, những biểu tượng quý giá thứ yếu và hơn nữa,
Những môi trường hoàn hảo hoan hỉ và chúng sanh,
Và một kho báu vĩ đại của của tất cả chư thiên và con người sử dụng và mong muốn.
Đây là man đà la cúng dường. Nếu có thể hành giả có thể tụng phiên bản dài của
mạn đà la; nếu không thể, thì chỉ theo phiên bản ngắn. Có những loại mạn đà la
cúng dường khác nhau; mạn đà la hai mốt đống, mạn đà la hai mươi lăm đống, được
thêm mười hai thành một mạn đà la ba mươi bảy đống. Bất cứ loại nào thì cũng có
thể được cúng dường. Nếu bạn cúng dường mạn đà la liên tục, thì bạn nên cúng dường
mạn đà la hai mươi ba đống vì nó có năng lực ngưỡng mộ đặc biệt. Mạn đà la cúng
dường cũng có những phương diện khác nhau, như bên trong, bên ngoài và bí mật.
Cúng dường bên ngoài liên hệ đến sự của mạn đà la về hệ thống vũ trụ. Mạn đà là
bên trong liên hệ đến sự cúng dường những bộ phận thân thể của hành giả được
quán tưởng trong hình thức của những bộ phận vũ trụ. Có một thi kệ cho việc
cúng dường những bộ phận thân thể của hành giả như một mạn đà la. Có một câu
chuyện của Naropa thực hiện một sự cúng dường mạn đà la bên trong đến thầy của
ngài là Tilopa. Cũng có cúng dường mạn đà la bí mật: điều này liên hệ đến việc
tưởng tượng việc cúng dường mạn đà la như sự biểu hiện của tuệ trí của đại lạc
và tánh không; và khi được nhìn xa hơn như trong bản chất của gió năng lượng rất
vi tế và tâm, thì nó trở thành sự cúng dường của mạn đà la chân như.
Hệ thống vũ trụ mà chúng ta cúng dường được giải thích trong văn bản, nhưng điều
đó không có nghĩa là vũ trụ tồn tại như vậy – ngay cả trong những kinh luận Phật
Giáo cũng có nhiều hệ thống thế giới được giải thích. Thậm chí có những giải
thích khác nhau liên hệ đến kích thước của
mặt trời và mặt trăng. Nhưng ngày nay chúng ta có những sự kiện vốn được hình
thành qua sự quán sát của khoa học, và không nhất thiết ràng buộc theo chữ
nghĩa được trình bày trong Abhidharmakosha (A Tỳ Đạt
Ma Câu Xá Luận), khi nó mâu thuẩn với nhận thức trực tiếp của
chúng ta. Nếu ta chấp giữ một vị thế mâu thuẩn với kinh nghiệm trực tiếp thì nó
không thể được xem là có cơ sở, vì nó là nguyên tắc của Phật Giáo là khi chúng
ta đi đến kết luận thì nó phải được hoàn thành qua một tiến trình logic, cuối
cùng đưa đến một kinh nghiệm trực tiếp, và không có vị thế nào được chấp giữ
mâu thuẩn với kinh nghiệm. Lama Tsongkhapa, trong mở đầu nhận xét về Lekshe
Nyingpo (Essence of Elegan Exposition - một luận thuyết về ý nghĩa dứt khoát và
diễn giải của lời Phật dạy), nói rằng một người chấp chặc vào một vị thế mâu
thuẩn với logic thì không thể được xem là một vị thầy đáng tin cậy.
33- Trên bờ biển của một biển như ý mọc
hoa sen
Vốn là những cúng dường phát sinh từ những đạo đức của luân hồi và niết bàn.
Cả thật sự và tưởng tượng, chúng làm quyến rũ tất cả những trái tim.
Những bông hoa, là cả những đạo đức của phàm tục và siêu phàm
Của ba cánh cửa của cả chính tôi và những người khác, sáng rực khắp mọi nơi.
Ngôi vườn này được lan tỏa với vô lượng hương thơm của những cúng dường Phổ Hiền;
Nó trỉu quả - ba tu tập, hai giai đoạn, và năm con đường:
Tôi cúng dường điều này trong thứ tự để làm vui lòng các ngài, Hởi những đạo sư
tôn kính.
Đoạn văn này là sự cúng dường của chính sự tu tập của hành giả. Nó được viết ra
trong hình thức một thi kệ; hành giả thực hiện sự cúng dường như được diễn tả
trong những thi kệ. Hãy quán tưởng một đại dương rộng lớn của những cúng dường,
những thứ thật sự được sắp xếp và những thứ được tạo ra bằng tâm tưởng, trong
đó là tất cả những cúng dường của chúng ta trong hình thức của hoa sen rất rộng
và bao quát. Hãy quán tưởng những điều thiện lương và đạo đức kể cả trong những
cấp độ phàm tục và siêu phàm của tất cả mọi hệ thống thế giới trong hình thức của
một hoa sen rộng lớn, và hãy tưởng tượng tất cả những đạo đức của chính mình sinh
khởi cũng trong hình thức những bông sen. Hãy quán tưởng mười lăm con đường phù
hợp của kinh thừa hiển giáo và cũng như những con đường đặc thù của mật điển
trong hình thức một vườn hoa xinh đẹp; những thứ này được cúng dường đến đạo
sư. Điều này cấu thành sự cúng dường của chính sự thực hành của hành giả.
34- Tôi cúng dường thức uống trà Tàu
trong màu vàng nghệ,
Phong phú trong hàng trăm hương vị, với một bó hoa tinh xảo;
Năm cuốn hút, năm ngọn đèn, và v.v...
Được tịnh hóa, chuyển biến, và tăng trưởng thành một biển cam lồ.
Đây là sự cúng dường trà. Có một truyền thống nói nó là sự cúng dường bên
trong, và phân loại khác thì nó là một sự cúng dường bên ngoài. Tôi nghĩ có một
sự nổi bật đặc biệt với nó là một loại cúng dường Tây Tạng bản địa. Nhưng nếu trà
là nguyên nhân mạnh đối với huyết áp, và nếu nó quá béo thì nó làm bệnh vàng
da! Atisha ca ngợi trà Tây Tạng, nhưng ngày nay nó thật sự tạo nên nhiều rắc rối.
Như tôi đã lưu ý trước, những ai thực hiện những sự cúng dường đến ba đại học
tu viện ở Nam Ấn nên tập trung hơn vào những cúng dường thực phẩm hơn là trà.
Nhiều bác sĩ đã nói với tôi rằng trà Tây Tạng tạo ra nhiều thứ bệnh. Ở Tây Tạng
nó có thể có nhiều lợi ích vì thời tiết và v.v..., nhưng ở Ấn Độ này, là một xứ
nóng, tôi nghĩ hoàn toàn sai để bội thực với nó. Cho nên thật tốt hơn để tập
trung trong việc thực hiện những sự cúng dường thực phẩm như trái cây, rau cải
và v.v... đối với những cộng đồng tâm linh.
Tôi bây giờ sẽ thực hiện một nhận xét. Đặt nhấn mạnh quá nhiều vào việc thực hiện
những sự cúng dường cảm ơn cho những geshe (tiến sĩ) thi cử thật sự sai lầm. Nếu
chỉ những sự cúng dường mà ta làm thật sự tác động thế thì người nào đó không
có tri thức có đủ tiền của sẽ có thể dễ dàng trở thành một geshe. Ta nên đặt nhấn
mạnh hơn vào việc học hành thật sự của geshe. Tôi phải viết thư đến những đại học
tu viện chỉ ra rằng, trong một số thi cử geshe, tôi chú ý rằng một trong những
người trong nhóm trả lời đến những câu hỏi tranh luận trong khi những đồng bạn
của vị ấy chỉ giữ im lặng và trông rất oai vệ, như vậy là không tốt. Điều này
không công bằng lắm, vì những ai đã học hỏi nhận danh hiệu, và những ai không học
hành thích đáng cũng nhận danh hiệu. Như chúng ta nói ở Tây Tạng, “một
karma-nga (một đồng xu Tây Tạng) cho một cái đầu con bò yak và một karma-nga
cho một cái đầu con dê!” Chỉ có danh hiệu geshe không phục vụ mục tiêu nhiều!
Cho nên, việc nhấn mạnh quá nhiều vào sự cúng dường geshe (được làm bởi những ứng viên) là không tốt lắm.
Ta nên đặt nhấn mạnh hơn vào việc học tập, và hãy chứng minh học bổng cho ta được
đáp ứng trong cuộc thi.
Tôi nghĩ thật rất quan trọng để chăm sóc tốt cho thực phẩm. Khi tôi ở Nam Ấn
tôi đặc biệt lưu ý và thấy rằng Gyume Tantric College là có thức ăn tốt nhất!
Thực phẩm hàng ngày ở Gaden Shartse, Jhangtse, và ở Drepung không tốt. Như thường
được nói rộng rãi ở Tây Tạng, “Đòi hỏi một người cầu nguyện như một tu sĩ ở trường
cao đẳng mật tông và cũng ăn như một tu sĩ ở trường cao đẳng mật tông! Tôi thấy
truyền thống này đã được duy trì! Cho nên, uống trà rất đậm là rất tai hại. Nếu
một geshe uống quá nhiều trà Tây Tạng và nó làm họ chết sớm, tôi thật sự cảm thấy
một sự mất mát lớn, vì phải cần rất nhiều nỗ lực và nhiều năm để đào tạo một
geshe. Nếu đã nỗ lực, vị geshe sau đó lại lãng phí nó qua việc chính vị đó
không quan tâm đến thực phẩm, thì thật là một điều rất đáng buồn. Vậy nên, uống
trà rất đậm và v.v..., và cũng không vệ sinh cẩn thận và không tìm đến y tế khi
bệnh tật, là rất sai. Một tu sĩ bệnh tật đến từ Mundgod mới đây và thỉnh cầu
tôi cầu nguyện – như vậy là quá trễ. Ta phải rất cẩn thận ngay từ lúc đầu.
Đối với những người cư sĩ, hút thuốc là cũng rất tai hại cho sức khỏe. Mặc dù
không phản lại với giới luật, và mọi người có sự chọn lựa của mình, nhưng điều
đó là rất tai hại được chấp nhận rộng rãi khắp thế giới. Một lần, Kyabje Ling
Rinpoche đã nói với tôi khi ngài đến phương Tây để trị bệnh, ngài đã nghe nói rằng
mập béo quá là không tốt, nhưng những người bác sĩ nói như vậy chính họ là rất
béo phì! Chính những người nói rằng hút thuốc là rất tai hại, nhưng họ lại là
những người thúc đẩy hút thuốc qua việc mở rộng quảng cáo, và chính họ hút thuốc.
Họ quá nhấn mạnh vào việc phát triển vật chất, không có thời gian để ăn, nhưng
bây giờ họ lại là những người phàn nàn về những tác hại của tiến trình vật chất,
chẳng hạn như sự ô nhiễm và sự tàn phá môi trường, v.v... Tôi có thể thấu hiểu
điều đó cho những người ở Tây Tạng, vì hoàn cảnh rất buồn, hút thuốc có thể
giúp cho họ có những lúc thoải mái tạm thời, nhưng vì trong thực tế nó tổn hại
cho nên không tốt. Tương tự thế, hít thuốc cũng rất xấu. Có một vài trường hợp
ngoại lệ khi người ta có những loại bệnh tật nào đó. Ngay cả ngài Liên Hoa Sanh
cũng nói nhiều, một trong những tiên tri của ngài, về những ảnh hưởng tiêu cực
của thuốc lá. Gungtang Rinpoche cũng bày tỏ cùng quan điểm. Thế nên, với những
loại vật chất nghiện ngập này chúng ta phải cẩn thận ngay từ đầu. Một khi ta đã
nghiện, thì những chất này có thể thật sự làm cho ta yếu đuối hơn, ngay cả sau
khi ta đã bỏ nó.
“Năm móc câu” và “năm ngọn đèn” liên hệ năm loại thịt và năm loại cam lồ, “cuốn
hút” biểu thị rằng những siddhi (thành tựu đầy năng lực) đã được cuốn hút vào và
“những ngọn đèn”, là chúng được chiếu sáng. Năm ngọn đèn là những nhân tố chín
muồi cho thân huyễn ảo, và trong cách đó xua tan bóng tối của chúng sanh. Điều
này được gọi là sự cúng dường bên trong. Trong sự thực hành của tantra yoga tối
thượng, sự cúng dường bên trong là rất quan trọng, và các hành giả được khuyên
nên giữ một chày kim cang và chuông linh và cũng như sự cúng dường bên trong
nên được giữ kín khỏi tầm nhìn của người khác, ngay cả nếu nó chỉ là một bản vẽ.
Sự cúng dường bên trong được thực hiện sau khi đã làm sự cúng dường bên ngoài.
Sự cúng dường này là bên trong bởi vì những chất mà ta đang cúng dường ở đây là
những chất được sở hữu bên trong của thân thể ta. Sự cúng dường bên trong này
được thực hiện là để dâng đến những đạo sư gốc và dòng truyền thừa, những bổn
tôn thiền quán, và v.v... cũng như những linh thức địa phương. Ta cũng tự nếm
nó.
35- Tôi cúng dường ngay cả những phối ngẫu
như huyễn ảo, của vẻ đẹp trẻ trung,
Mảnh khảnh và thiện xảo trong sáu mươi bốn nghệ thuật tình yêu
Một hội chúng sứ giả dakini –
Sinh từ đồng ruộng, sinh từ mật ngôn, và sinh đồng thời.
Đây là cúng dường bí mật. Thi kệ này nói về những loại phối ngẫu khác nhau, như
được thấy trong Kachem Lung Kurma (Đưa
Theo Gió Di Sản Truyền Miệng). “Sinh
từ đồng ruộng” có ý nghĩa gì đó là những chúng sanh mà nơi ở vật chất trong
hai mươi bốn chỗ; “sinh từ mật ngôn”
liên hệ đến những chúng sanh đã thành tựu giai tầng phát sanh; và “sinh đồng thời” liên hệ đến những chúng
sanh đã đạt được những sự thực chứng từ phương tiện linh quang từ giai đoạn
hoàn thành trở đi. Theo Đại Luận Mật Tông (Great Exposition of Tantra) có một sự
diễn giải khác: “Sinh từ đồng ruộng”
liên hệ đến những phối ngẫu đã đạt được sự thực chứng của giai tầng phát sanh;
“sinh từ mật ngôn” đến những chúng
sanh ở giai đoạn hoàn thành của ba cô lập và thân huyễn ảo; và “sinh đồng thời” là nói đến những chúng
sanh từ những giai đoạn của phương tiện linh quang trở đi. “Sứ giả” có nghĩa là
những phối ngẫu đó hỗ trợ tiến độ trên con đường. Khi chúng ta thực hiện sự
cúng dường bí mật, ta tưởng tượng nhiều phối ngẫu, những vị không nên được quán
tưởng như ôm ấp nhân vật chánh mà thay vì thế hoà tan thành phối ngẫu của Kim
Cang Trì tại trái tim của Lama Lozang Thubwang Dorje Chang. Hãy tưởng tượng Kim
Cang Trì và nhân vật trung tâm trải nghiệm đại lạc.
36- Tôi cúng dường ngài đại trí của niềm
hạnh phúc đồng hiện, không chướng ngại,
Không gian của chân thật, bản chất không tạo tác của tất cả mọi hiện tượng...
Vượt khỏi tư tưởng và biểu hiện, đồng thời và không tách rời, tâm bồ đề cứu
cánh vô thượng.
Đây là sự cúng dường chân như. Qua năng lực của sự thâm nhập vào sự kết hợp với
một phối ngẫu như vậy, bạn trải nghiệm một trí tuệ vốn thoát khỏi mọi chướng ngại
và trải nghiệm một niềm hạnh phúc đồng thời vốn không tách rời khỏi tánh không,
bản chất của mọi hiện tượng. Tính không thể tách rời ở đây không được dùng
trong ý nghĩa của tính không thể tách rời của đối tượng và phẩm chất của nó,
tánh không – điều này không giúp để tự do khỏi luân hồi. Nhưng điều giúp hành
giả loại trừ chướng ngại của mình là khi vị ấy hợp nhất không tách rời tuệ trí
chủ quan của hạnh phúc đồng thời thực chứng tánh không sự hoàn toàn biến mất của
hiện tướng nhị nguyên của chủ thể và đối tượng.
Hai dòng cuối cùng và thi kệ 52 là rất giống nhau với thuật ngữ thấy trong những
tác phẩm của trường phái đại hoàn thiện (dzogchen). Khi những luận điển của trường
phái đại hoàn thiện nói về tịnh hóa và tính thanh thoát, chúng nói trong những
thuật ngữ của tính không tách rời của hai thứ. Nếu chúng ta lấy ý nghĩa của
tính không tách rời chỉ trong thuật ngữ tính thanh thoát là trong bản chất tịnh
hóa hay tánh không như một số tác phẩm khác, thế thì ý nghĩa có thể không thậm
thâm. Nhưng nếu chúng ta hiểu nó trong thuật ngữ của tính không tách rời của chủ
thể và đối tượng, trong những thuật ngữ của chủ thể được hòa tan trong đối tượng,
những giải thích của trường phái Gelug sẽ giúp ta thấu hiểu tốt hơn quan điểm của
đại hoàn thiện về tịnh hóa và tính thanh thoát.
Tính thanh thoát có ý nghĩa gì? Gungtang Rinpoche nói ta nên thấu hiểu nó như sự
hợp nhất. Điều đó là như thế nào? Vì trên căn bản là trí tuệ bất khả phân của hỉ
lạc và tánh không, nên nó có năng lực hoàn toàn để sinh khởi thành nhiều hóa hiện
khác nhau. Điều này là có thể do bởi gió “tăng lên” của tâm trí tuệ đó. Gió vi
tế như vậy trở thành hiển hiện khi hành giả nhận ra rằng trí tuệ và thân huyễn ảo
là sự biến dị của gió năng lượng đơn thuần và tâm thức. Cho nên, sự thật tuyệt
đối (chân đế), trí tuệ của đại lạc và tánh không, được xem như một phần của một
cặp, và sự thật quy ước (tục đế), ở đây liên hệ đến thân huyễn ảo, như phần
kia; và sự hợp nhất của hai điều này thành một thể thống nhất là ý nghĩa của
tính thanh thoát.
Tính bất khả phân của hai sự thật (nhị đế) được xem như cao cấp đối với tính bất
khả phân của đại lạc và tánh không. Thuật ngữ Sanskrit của sự thật tuyệt đối,
chân đế, là paramartha vốn cũng có ý nghĩa tối hậu tuyệt đối. Gungtang Rinpoche
nói đã là sự liên hệ đến phần sau. Cho nên, trong phạm trù của tantra yoga tối
thượng, paramartha satya, hay chân đế, sự thật tuyệt đối, là linh quang. Khi
chúng ta nói về tính thanh thoát, tôi nghĩ sự thấu hiểu về đại hoàn thiện diễn
giải là hoàn toàn hữu ích. Kadag hay tịnh hóa, liên hệ bản chất tuyệt đối được
Đức Phật giải thích trong chuyển pháp luân lần thứ hai. Sự thấu hiểu về tính
thanh thoát đã được phát triển trên căn bản của của tâm bẩm sinh nền tảng của
linh quang. Thế nên, tôi nghĩ sự diễn giải về tính thanh thoát như sự hợp nhất
có một sự liên hệ gần gũi đến những luận điển của trường phái hoàn thiện – đó
là sự quán chiếu cá nhân của tôi. Tôi không biết đó có phải là sự thật hay
không. Giống như được giải thích trong Luận Điển Bốn Trăm Thi Kệ của Aryadeva,
thì hành giả khách quan nên tự phân tích cho chính mình. Vì vậy các bạn nên tự
phân tích cho chính mình.
Ở điểm này, thì cần có sự thấu hiểu về kết hợp, và đối tượng mà ta đang thực hiện
sự cúng dường này phải được thấy như đang biến thành hiện thực thể trạng hợp nhất
kết quả. Cũng thế, những vật phẩm mà ta cúng dường phải nên được thấy như sự biến
dị, hay biểu hiện, của chỉ năng lượng gió và tâm thức.
Sự cúng dường bên ngoài được phối hợp với sự quán đảnh bình, những cúng dường
bên trong với sự quán đảnh bí mật, những sự cúng dường với sự quán đảnh kiến thức
tuệ trí. Nếu bạn có một sự thấu hiểu về sự cúng dường chân như chỉ trên căn bản
của sự bất khả phân đại lạc và tánh không, thì không đủ. Ta phải thấu hiểu nó
trên căn bản của sự kết hợp của hai sự thật (nhị đế); rồi thì nó cấu thành sự
cúng dường chân như như liên hệ đến bốn quán đảnh. Bạn có thể thấy sự giải
thích của sự cúng dường chân như phối hợp với sự quán đảnh từ ngữ trong tác phẩm
của Akhu Sherab Gyatso và Gungtang Rinpoche. Nó không quá rõ ràng rành mạch
trong những tác phẩm khác. Đây là một chủ đề rất quan trọng.
37- Tôi cúng dường tất cả những loại thuốc
men mạnh
Để chửa trị bốn trăm khổ đau do ô nhiễm ...
Đây là sự cúng dường thuốc men. Như được nói rằng nếu hành giả có thể cúng dường
những thuốc men thích hợp đến chính bệnh tật của mình thì nó sẽ hỗ trợ sức khỏe
của người ấy.
... Và tôi cúng dường chính tôi như một
người phục dịch để làm vui lòng ngài:
Hãy cầu nguyện để giữ tôi trong việc phụng sự của ngài khi không gian còn tồn tại.
Hai câu này cũng được thấy trong Hướng Dẫn Bồ tát đạo (Nhập Bồ tát hạnh). Về tất
cả những sự cúng dường mà ta đã thực hiện trước đây – cả những thứ ta làm chủ
và những thứ không phải của ta – mặc dù những thứ đó được tạo ra bởi tinh thần
phục vụ như nguyên nhân cho việc có thể thực hiện những sự cúng dường trong
tương lai, thân thể vật chất này mà ta có hiện tại là điều gì đó mà ta có thể
cúng dường trong thực tế. Ta không nên làm những sự cúng dường này nhằm để có hạnh
phúc cho chính ta, mà đúng hơn để làm vui lòng Lama Lozang Thubwang Dorje Chang,
bậc dấn thân trong hành động để giúp đở chúng sanh vô lượng như không gian: Nhằm
để làm ngài, tôi tự cúng dường chính tôi để phục dịch ngài. Thỉnh cầu ngài nhận
ta như người phục dịch của ngài là rất quan trọng. Có một truyền thống khi thực
hiện những sự cúng dường mà hành giả thỉnh cầu được đặt trong vòng thiền tập bảo
vệ của đạo sư.
Điều này kết thúc chi phần cúng dường.
III. SÁM HỐI
38- Trước những bậc có lòng đại bi,
Tôi sám hối với lòng ân hận, và nguyện không bao giờ lập lại,
Bất cứ những hành vi không đạo đức và xấu ác nào mà tôi đã làm từ thời vô thỉ,
Bảo người khác làm, hay vui với những việc ấy.
Đây là chi phần sám hối, hay sự giải bày. Đối với những người mới bắt đầu như
chúng ta, ở giai đoạn bắt đầu, có một khả năng mà chúng ta có thể cố kìm khỏi
việc nuông chiều trong những hành vi tiêu cực trong tương lai, nhưng nếu không
có phương pháp mà chúng ta có thể tịnh hóa những việc làm tiêu cực đã làm trong
quá khứ, thì không có hy vọng gì nhiều. Tuy nhiên, có một phương pháp như vậy.
Nếu ta mong ước tiến hành thực tập tịnh hóa trong mối liên hệ với Vajrasattva
(Kim Cang Tát Đỏa), thì ta có thể quán tưởng một Kim Cang Tát Đỏa hóa hiện từ
trái tim của nhân vật trung tâm và ngồi trên đỉnh đầu ta trong khi ta trì tụng
mật ngôn Kim Cang Tát Đỏa. Hay, ta có thể quán tưởng một Kim Cang Tát Đỏa phát
sinh từ trái tim của chủ tể Kim Cang Tát Đỏa và phối ngẫu vốn ở trong những bổn
tôn của tantra yoga tối thượng; ông ngồi ở trên đỉnh đầu hành giả trong khi ta
tiến hành sự thực tập tịnh hóa. Hay, ở điểm này ta có thể tiến hành sự thiền tập
Kim Cang Tát Đỏa riêng biệt bằng việc phát sinh thành bổn tôn. Về tiến trình tịnh
hóa, ta có thể làm một sự quán tưởng đi xuống, đi lên và lập tức tẩy trừ những
tiêu cực ra ngoài. Chúng ta cũng có thể tiến hành sự quán tưởng tiếp nhận bốn
quán đảnh, vốn có thể được hoàn tất trong mối liên kết với sự trì tụng mật ngôn
một trăm âm tiết. Vào lúc cuối, Kim Cang Tát Đỏa trên đỉnh đầu ta nên được hòa
tan vào trong chính ta. Rồi thì trau dồi một quyết định mạnh mẽ không bao giờ
nuông chiều trong những hành vi tiêu cực ấy một lần nữa, bằng việc trì tụng thi
kệ:
Qua sự thiếu hiểu
biết của tôi về những hành động đúng đắn,
Tôi đã vi phạm và thoái hóa những hứa nguyện của tôi;
Hỡi đạo sư, hãy là đấng chủ tể của tôi và bảo vệ tôi.
Tôi nương tựa vào ngài, bậc thủ trì kim cang quan trọng nhất.
Hiện thân của đại bi,
Và là chủ tể của tất cả chúng sanh.
Nếu chúng ta đang nhấn mạnh sự thực hành tịnh hóa, ở điểm này thì rất tốt để tiến
hành những lễ phủ phục trong khi xưng danh hiệu của ba mươi lăm Đức Phật. Ba mươi lăm Đức Phật sám hối mà ta
đã quán tưởng trong không gian công đức hay ruộng phước có thể được quán tưởng
đến gần hơn và chung quanh vị đạo sư chủ trì. Trong khi tập trung vào các Đức
Phật một cách không dao động, lễ phủ phục và xưng danh các ngài. Pelmang
Konchog Gyaltsen nói rằng trong khi hành giả đang xưng danh hiệu những Đức Phật sám hối, thì thật tốt để quán tưởng tất cả những
tiêu cực tập trung trên đầu lưỡi của ta như một đống màu đen. Trong luận giải của
Gyaltsab Je về Tung Shak (Kinh Những Đức
Phật [cho lễ] Sám Hối) tác giả đề cập rằng việc xưng danh hiệu chư Phật
riêng lẻ tịnh hóa những hành vi tiêu cực vi phạm trải qua một số đại kiếp nào
đó. Điều này phải có một kinh điển nào đó như nguồn gốc, vì ngài sẽ không nói
điều này mà không có tài liệu tham khảo xác thực nào đó. Vì chỉ việc xưng danh
hiệu mà có một năng lực lớn như vậy, và vì nó là chiếc lưỡi phát sinh ra âm
thanh, cho nên tôi nghĩ thật thích đáng để quán tưởng những hành vi tiêu cực ở
đầu lưỡi và tưởng tượng chúng được tịnh hóa trong khi trì danh. Nếu hành giả lập
lại việc lễ phủ phục nhiều lần, thì rất tốt để giữ việc lập lại những danh hiệu
của chư Phật cho lễ sám hối. Trái lại, tại điểm này ta có thể trì tụng Tung
Shak toàn bộ trong đó, và ở chỗ khi người nói “tôi đảnh lễ” hãy chấp hai bàn
tay lại.
Một lễ sám hối thích đáng đòi hỏi bốn năng lực: (1) năng lực căn bản; (2) năng
lực của sự ăn năn; (3) năng lực của sự đối trị thật sự, và (4) quyết tâm không
bao giờ tái phạm trong những hành vi ấy một lần nữa. Như đại hành giả du già
Milarepa đã nói:
Khi tôi khảo sát việc sám hối có thể tịnh
hóa những tiêu cực không,
Tôi thấy rằng chính là sự ăn năn đã tẩy trừ chúng.
Năng lực của sự ăn năn là quan trọng nhất. Chúng ta phải thật sự hối hận về những
hành vi tiêu cực đã phạm phải, từ chiều sâu của trái tim ta. Chúng ta đã vi phạm
nhiều hành vi tiêu cực trong những kiếp sống quá khứ và ngay cả trong kiếp sống
này. Kyabje Trijang Rinpoche thường nói rằng năng lực đằng sau những hành vi
tiêu cực là không thể cưỡng lại được, giống như tảng đá rơi xuống, và năng lực
phía sau những hành vi đạo đức chỉ như hướng dẫn một con lừa lên đồi. Điều này
là rất đúng. Sự thực hành đạo đức của chúng ta trong kiếp sống này thì thật sự
rất yếu kém, nhưng những hành vi tiêu cực là rất mạnh và toàn diện về mọi mặt –
những động cơ, những sự chuẩn bị, và những hành vi thật sự tự hoạt động. Thậm
chí đối với những hành vi đạo đức yếu đuối mà chúng ta thật sự tích lũy, thì có
nhiều chướng ngại. Thêm nữa, vì chúng ta có niềm tin mạnh mẽ, và quan tâm trong
giáo pháp, thì chúng ta cố gắng để nắm lấy những giáo huấn cao nhất mà không
xem xét đến khả năng của chính mình; cho nên có một hiểm họa thật sự trong việc
phạm phải những tiêu cực ngay cả trong cách ấy. Thế nên, chúng ta đã phạm phải
mọi điều tiêu cực từ xu hướng thiếu hiểu biết tự nhiên của mình.
Giống như được giải thích trong Bodhisattvacaryāvatāra (Nhập Bồ tát Hạnh hay Hướng Dẫn
Bồ Tát Đạo), mặc dù chúng ta quyết tâm rằng chúng ta phải tịnh hóa
những tiêu cực và hạt giống tiêu cực của tất cả chúng sanh, nhưng chúng ta vẫn
để cho chính mình đến dưới sự ảnh hưởng của những hành vi tiêu cực và tiếp tục
nuông chiều trong chúng. Điều này là rất buồn. Phương pháp cho việc tịnh hóa tất
cả những hành vi quá khứ là sự thực tập sám hối. Do vậy, ở tại giao điểm này,
khi chúng ta biết biết tịnh hóa như thế nào và có năng lực để làm như vậy nhờ
có lòng ân cần thương mến của đạo sư, thì chúng ta phải dấn thân trong sự thực
tập sám hối, vốn sẽ làm cho chúng ta cảm thấy tự do và an tâm với kết quả. Và rồi
thì, hãy tỉnh thức với những phẩm chất to lớn của thân, miệng, và tâm ý của chư
Phật, thì chúng ta phải phát sinh ý định: tôi sẽ không bao giờ che dấu với chư
Phật tất cả những hành vi tiêu cực mà tôi đã phạm phải, mà thay vì thế, giải
bày chúng và tịnh hóa chúng. Mặc dù có những loại tiêu cực nào đó mà chúng ta dễ
bị phạm phải, tuy thế điều rất quan trọng ở điểm này là quyết tâm không nuông
chiều trong chúng một lần nữa, ngay cả bằng cái giá của mạng sống chúng ta. Như
được nói rằng mặc dù chúng dễ bị vi phạm một lần nữa, cho nên việc quyết tâm vì
vậy không cấu thành sự lừa dối. Sự quyết tâm này là rất quan trọng, khi nó giúp
để tịnh hóa những tiêu cực. Ở điểm này chúng ta cũng có thể tiến hành thiền tập
Samayavajra (Damtsig Dorje - Tâm Thể Kim
Cang).
IV. TÙY HỈ
39- Mặc dù mọi thứ giống như giấc mộng,
không có sự tồn tại cố hữu
Nhưng tôi chân thành tùy hỉ trong mọi đạo đức đã phát sinh từ trước đến giờ
Như hạnh phúc và niềm hoan hỉ của tất cả các bậc thánh nhân và phàm nhân.
Đây là chi phần tùy hỉ. Ở đây chúng ta phải ngưỡng mộ và tùy hỉ trong tích lũy
đạo đức không chỉ của chính mình, mà cũng của những chúng sanh khác, chư Phật,
chư A la hán, và v.v... Chúng ta cũng phải ngưỡng mộ và trau dồi niềm hoan hỉ từ
chiều sâu trái tim ta cho những đạo đức của chính mình. Thái độ của chúng ta đối
với đạo đức của người khác không nên bị tác động bởi sự ganh tỵ. Cho nên, ở điểm
này, hãy phản chiếu trên những phẩm chất lớn của những bậc trong không gian
công đức hay ruộng phước và rồi tùy hỉ hân hoan trong các ngài. Ở đây, văn bản
nói, “Mặc dù tất cả mọi hiện tượng không có bất cứ vị thế nào ngoài sự tồn tại
trên danh nghĩa ở cấp độ quy ước (tục đế), tuy thế vì những kết quả tích cực được
phát sinh từ những nguyên nhân tích cực, cho nên chúng ta phải tùy hỉ trong những
hành vi của những người khác.”
V. THỈNH CẦU CHUYỂN PHÁP LUÂN
40- Hãy rưới những cơn mưa của giáo pháp
rộng lớn và thâm sâu, tôi cầu nguyện,
Từ việc thu thập một triệu đám mây của tuệ trí và từ bi hoàn hảo,
Để phát triển, duy trì, và truyền bá một ngôi vườn của những bông hoa mặt trăng
Của lợi lạc và hạnh phúc cho vô lượng chúng sanh.
Thi kệ này thỉnh cầu đạo sư chuyển bánh xe pháp. Ở đây chúng ta phản chiếu về
những phẩm chất vĩ đại của tâm toàn tri toàn giác của đạo sư Kim Cang Trì. Nó
nói, “Từ không gian vô biên tâm từ bi của ngài, để phát sinh và tăng trưởng những
thực chứng trong chính tôi và những chúng sanh khác, xin hãy rưới xuống cơn mưa
của những giáo huấn rộng lớn và thậm thâm.” Ở điểm này chúng ta có thể quán tưởng
cúng dường một bánh xe (pháp luân) hay một ốc xà cừ (pháp loa) đến nhân vật
trung tâm. Hãy tưởng tượng rằng những nhân vật của không gian công đức đồng ý với
sự thỉnh cầu của chúng ta và rất vui lòng.
VI. KHẨN NÀI KHÔNG NHẬP NIẾT BÀN
41. Mặc dù thân kim cang của ngài là không
là đối tượng của sanh và tử,
Mà là chiếc thuyền lớn của đức vua vĩ đại, hùng mạnh, thống nhất,
Xin hãy tồn tại mãi mãi theo như nguyện ước của tôi,
Không nhập niết bàn qua nỗi khổ đau cho đến khi luân hồi kết thúc.
Đây là thi kệ của sự cầu xin nhân vật trung tâm của không gian công đức không nhập
niết bàn. Một cách tổng quát, thân kim cang liên hệ đến cả hai thân huyễn ảo và
vượt ngoài tình trạng của thân huyễn ảo bất tịnh; nhưng nó cũng có nghĩa là thể
trạng đầy đủ của những sự viễn ly và thực chứng. Ở đây nói, “Mặc dù ngài đã đạt
được thân chân thật (pháp thân) và do thế là vượt ngoài tình trạng của sự chết,
nhưng ngài thị hiện một hình thể thấy được và có thể tới được đối với chúng tôi
là những phàm nhân.” Cho nên, chúng ta đang thỉnh cầu hình thể này không nhập niết
bản. Ở điểm này hãy tưởng tượng cúng dường một ngai báu với hai chày kim cang giao
nhau.
VII. HỒI HƯỚNG
42. Tôi hồi hướng tích lũy của đạo đức trắng
được tạo nên
Đến chúng sanh để họ có thể không tách rời sự chăm sóc trong những kiếp sống tương
lai
Bởi chư đạo sư tôn kính trong ba cách,
Và có thể thành tựu sự hợp nhất Kim Cang Trì.
Bây giờ đến chi phần hồi hướng. Hãy tập trung vào tất cả đạo đức mà chúng ta đã
tích tập được bằng việc quán tưởng không gian công đức hay ruộng phước và dấn thân
trong những thực tập như lễ phủ phục, tịnh hóa và v.v..., và trong tất cả những
hành vi đạo đức khác. Hãy hồi hướng những công đức này đến tất cả chúng sanh, kể
cả chính mình, vì thế tất cả có thể được chăm sóc bởi đạo sư qua tất cả những kiếp
sống. Do vậy những công đức sẽ không bị cạn kiệt bởi việc sản sinh những quả trái
đơn giản tầm thường. Điều này phải được hoàn tất với một năng lực mạnh mẽ của sự
ngưỡng mộ.
Với sự thực tập này, sự tích lũy công đức bằng việc thiền tập trên không gian công
đức hay ruộng phước được hoàn tất.
Ẩn Tâm Lộ, 6/2024
***
Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2024
5- Chương 4: Thực hành bảy quán nguyện
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)