Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Tôi phải cảm ơn một con bò đực
đang đi đại tiện vì sự kiện đã làm thay đổi cuộc đời rất non trẻ của tôi — và nếu
không có nó, độc giả thân mến, bạn đã không thể đọc cuốn sách này.
Hãy hình dung một buổi chiều
gió mùa điển hình ở New Delhi. Đức Đạt Lai Lạt Ma đang trên đường trở về nhà từ
sân bay Indira Gandhi, sau một chuyến đi giảng dạy tại Hoa Kỳ. Khi chiếc xe của
Ngài di chuyển qua vùng ngoại ô thành phố, giao thông bỗng bị chặn lại bởi một
con bò đực đã ung dung bước ra giữa đường cao tốc, rồi thản nhiên ị một bãi rất
to.
Giữa tiếng ồn ào của người đi bộ
và người đi xe đạp, những chủ quầy thức ăn ven đường và những người ăn xin, hai
đứa trẻ đường phố rách rưới đang lo lắng muốn kết thúc việc buôn bán trong ngày
của mình. Trước đó vào sáng sớm hôm ấy, chúng đã đến…
Giữa tiếng ồn ào của người đi bộ
và người đi xe đạp, những chủ quầy bán thức ăn ven đường và những người ăn xin,
hai đứa trẻ đường phố rách rưới đang nôn nóng muốn kết thúc việc buôn bán trong
ngày của mình. Sáng sớm hôm đó, chúng đã tình cờ phát hiện ra một ổ
mèo con được giấu phía sau một đống bao bố trong một con hẻm nhỏ. Sau khi xem
xét kỹ “phát hiện” của mình, chúng nhanh chóng nhận ra rằng mình đã tìm thấy thứ
gì đó có giá trị. Bởi những chú mèo con ấy không phải là loại mèo
hoang bình thường trong ngõ xóm; rõ ràng chúng thuộc về một giống mèo cao cấp
hơn. Hai cậu bé không hề biết đến giống mèo Himalaya, nhưng qua đôi mắt xanh biếc
như ngọc bích, màu lông đẹp mắt và bộ lông dày mượt của chúng tôi, chúng nhận
ra đây là một món hàng có thể đem ra trao đổi buôn bán.
Chộp lấy chúng tôi khỏi chiếc ổ
ấm áp nơi mẹ đã chăm sóc, hai cậu bé nhét tôi và các anh chị em vào giữa cảnh hỗn
loạn đáng sợ của đường phố. Chỉ trong chốc lát, hai chị lớn của tôi—vốn to hơn
và phát triển hơn những đứa còn lại—đã được đổi lấy vài đồng rupee. Sự việc diễn
ra đầy phấn khích đến mức trong lúc đó tôi bị đánh rơi, rớt đau xuống mặt đường
và chỉ suýt chút nữa là bị một chiếc xe tay ga cán chết.
Hai cậu bé gặp khó khăn hơn nhiều
khi bán hai con mèo con nhỏ bé và gầy gò như chúng tôi. Trong nhiều giờ liền,
chúng lê bước khắp các con phố, liên tục dí chúng tôi vào cửa sổ những chiếc xe
đang chạy ngang qua để chào bán. Tôi còn quá nhỏ
để bị tách khỏi mẹ, và cơ thể bé xíu của tôi không thể chịu đựng nổi. Nhanh
chóng kiệt sức vì thiếu sữa và vẫn còn đau sau cú ngã, tôi gần như lịm đi khi
hai cậu bé cuối cùng cũng khơi dậy được sự chú ý của một người đàn ông lớn tuổi
đang đi ngang qua—người vốn đang nghĩ đến việc mua một chú mèo con cho cháu gái
của mình.
Người đàn ông ra hiệu đặt hai
chú mèo con còn lại chúng tôi xuống đất, rồi ngồi xổm xuống và quan sát kỹ. Anh
trai lớn của tôi lững thững bước trên nền đất gồ ghề bên lề đường, kêu meo meo
khẩn khoản đòi sữa. Khi tôi bị chọc từ phía sau để ép phải cử động, tôi
chỉ gắng gượng bước được một bước loạng choạng rồi gục xuống một vũng bùn.
Chính cảnh tượng đó đã được Đức
Đạt Lai Lạt Ma chứng kiến.
Và cả cảnh xảy ra ngay sau đó.
Sau khi thỏa thuận xong giá bán, anh trai tôi được trao
cho ông lão không còn chiếc răng nào. Trong khi đó, tôi bị bỏ mặc lấm lem trong
bùn đất, còn hai cậu bé đứng bàn xem nên làm gì với tôi; một đứa thỉnh thoảng
còn dùng ngón chân cái hất tôi một cách thô bạo. Chúng
quyết định rằng tôi không thể bán được. Thế là chúng chộp lấy một trang báo thể
thao của tờ Ấn Độ Thời Báo (Times
of India) từ
tuần trước, bị gió thổi bay vào cái cống gần đó, rồi bọc tôi lại như một miếng
thịt thối chuẩn bị bị vứt ra bãi rác gần nhất.
Tôi bắt đầu nghẹt
thở bên trong tờ báo. Mỗi hơi thở đều trở thành một cuộc vật lộn. Vốn đã yếu ớt vì kiệt sức và đói khát, tôi cảm
thấy ngọn lửa sự sống trong mình chập chờn, sắp tắt. Trong những khoảnh khắc
tuyệt vọng cuối cùng ấy, cái chết dường như là điều không thể tránh khỏi.
Nhưng rồi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã sai người thị giả của
mình đến trước. Vừa mới xuống máy bay từ Mỹ, người thị giả của Ngài tình cờ có
hai tờ 1 đô la Mỹ giấu trong áo choàng. Ông đưa chúng cho hai cậu bé, và chúng
lập tức chạy biến đi, đầy phấn khích suy đoán xem khi đổi sang rupee thì hai tờ
đô la đó sẽ được bao nhiêu tiền.
***
Được kéo ra khỏi cái bẫy chết người của trang thể thao
(“Bangalore đánh bại Rajasthan với 9 wickets”, dòng tít viết vậy), chẳng bao
lâu tôi đã nằm nghỉ trong sự thoải mái ở ghế sau chiếc xe của Đức Đạt Lai Lạt
Ma. Chỉ ít phút sau, sữa được mua từ một người
bán hàng rong trên phố và nhỏ vào miệng tôi, khi Đức Thánh Thiện dùng ý chí của
mình để kéo sự sống trở lại với cơ thể mềm nhũn của tôi.
Tôi không nhớ bất kỳ chi tiết nào về việc mình được cứu
như thế nào, nhưng câu chuyện ấy đã được kể lại quá nhiều lần đến mức tôi thuộc
lòng. Điều tôi còn nhớ là khi tỉnh dậy trong một nơi trú ẩn ấm áp vô hạn, đến mức
lần đầu tiên kể từ khi bị giật khỏi chiếc tổ bằng bao bố vào buổi sáng hôm đó,
tôi cảm thấy mọi thứ đều ổn.Khi nhìn quanh để tìm nguồn gốc của sự nuôi dưỡng
và an toàn mới mà mình vừa nhận được, tôi nhận ra mình đang nhìn thẳng vào đôi
mắt của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Làm sao tôi có thể diễn tả được khoảnh khắc đầu tiên khi
được ở trong sự hiện diện của Ngài?
Đó vừa là một cảm giác vừa là một ý nghĩ — một sự thấu hiểu
sâu sắc, đầy ấm áp trong tim rằng mọi thứ đều ổn. Sau này tôi nhận ra rằng, cảm
giác ấy giống như lần đầu tiên bạn ý thức được rằng bản chất thật sự của mình
chính là tình yêu thương và lòng từ bi vô hạn. Điều
đó vốn đã luôn ở đó, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn thấy nó và phản chiếu lại
cho bạn. Ngài nhận ra Phật tánh
trong bạn, và sự khám phá phi thường ấy thường khiến nhiều người xúc động đến rơi
nước mắt.
Trong trường hợp của tôi, được quấn trong một mảnh vải
lông cừu màu đỏ sẫm và đặt trên một chiếc ghế trong văn phòng của Đức Thánh Thiện,
tôi cũng nhận ra một điều khác — một điều vô cùng quan trọng đối với tất cả
loài mèo: tôi đang ở trong ngôi nhà của một người yêu mèo.
Dù tôi cảm nhận rất rõ điều đó, tôi cũng nhận ra có một sự
hiện diện kém thiện cảm hơn ở phía bên kia chiếc bàn cà phê. Trở lại
Dharamsala, Đức Thánh Thiện đã tiếp tục lịch trình tiếp kiến của mình và đang
thực hiện một cam kết từ trước là trả lời phỏng vấn một giáo sư lịch sử đến
thăm từ Anh. Tôi không thể nói chính xác ông ấy là ai, chỉ biết rằng ông đến từ
một trong hai trường đại học danh tiếng nhất nước Anh.
Vị giáo sư đang viết một cuốn sách đồ sộ về lịch sử Ấn Độ
– Tây Tạng và dường như tỏ ra khó chịu khi nhận ra rằng mình không phải là đối
tượng duy nhất nhận được sự chú ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
“Một con mèo hoang à?” ông thốt lên, sau khi Đức Thánh
Thiện ngắn gọn giải thích lý do vì sao tôi lại đang chiếm chiếc ghế ở giữa hai
“Một con mèo
hoang à?” vị giáo sư thốt lên, sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích ngắn
gọn lý do vì sao tôi lại chiếm chỗ ngồi giữa hai người.
“Đúng vậy,”
Đức Đạt Lai Lạt Ma xác nhận, rồi đáp lại không hẳn là với điều vị khách vừa
nói, mà đúng hơn là với giọng điệu mà ông đã nói ra. Nhìn vị giáo sư lịch
sử với một nụ cười hiền hậu, Ngài cất tiếng bằng chất giọng nam trầm ấm áp,
phong phú mà sau này tôi đã trở nên rất quen thuộc.
“Ngài biết không,
giáo sư, con mèo hoang này và Ngài có một điều rất quan trọng chung với nhau.”
“Tôi không thể tưởng
tượng được,” vị giáo sư đáp lại một cách lạnh lùng.
“Cuộc sống của Ngài
là điều quan trọng nhất trên thế giới đối với Ngài,” Đức Đạt Lai Lạt Ma
nói. “Cũng giống như con mèo này vậy.”
Từ khoảng lặng sau đó, rõ ràng là dù có học vấn uyên bác
đến đâu, vị giáo sư chưa bao giờ đối mặt với một ý tưởng gây sốc như vậy.
“Chắc chắn Ngài
không nói rằng cuộc sống của một con người và cuộc sống của một con vật có giá
trị ngang nhau chứ?” ông ta thử hỏi.
“Là con người,
chúng ta tất nhiên có tiềm năng lớn hơn rất nhiều,” Đức Đạt Lai Lạt Ma
đáp. “Nhưng trong cách chúng ta đều rất
khao khát được sống, trong cách chúng ta bám víu vào trải nghiệm ý thức riêng của
mình — ở điểm này, con người và con vật là ngang nhau.”
“Chà, có lẽ là một
số loài động vật có vú phức tạp hơn...” Vị giáo sư đang vật lộn với suy
nghĩ khó chịu này. “Nhưng không phải tất
cả các loài động vật đâu. Ý tôi là, ví dụ, không phải những con gián.”
“Bao gồm cả gián,”
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, không hề nao núng. “Bất kỳ sinh vật nào có ý thức.”
“Nhưng gián mang
theo rác rưởi và bệnh tật. Chúng ta phải xịt thuốc diệt chúng.”
Đức Thánh Thiện đứng
dậy và bước tới bàn làm việc, nơi Ngài nhặt lên một hộp diêm lớn. “Phương tiện chở gián của chúng ta,” Ngài
nói. “Tốt hơn nhiều so với việc xịt thuốc. Tôi chắc chắn,” Ngài tiếp tục, kèm
theo tiếng cười đặc trưng của mình, “ông hẳn
không muốn bị một con gián khổng lồ đuổi theo và phun khí độc đâu.” Vị giáo sư lặng lẽ thừa nhận mẩu khôn ngoan
hiển nhiên nhưng hiếm thấy ấy.
“Đối với tất cả
chúng ta — những người có ý thức,” Đức Thánh Thiện nói khi trở lại chỗ
ngồi, “cuộc sống của chúng ta vô cùng
quý giá. Vì vậy, chúng ta cần hết sức bảo vệ mọi chúng sinh có tri giác. Đồng thời,
chúng ta phải nhận ra rằng tất cả chúng ta đều chia sẻ hai mong muốn căn bản giống
nhau: mong muốn được hạnh phúc và mong muốn tránh khỏi khổ đau.”
Đây là những chủ đề mà tôi đã nghe Đức Thánh Thiện lặp lại
nhiều lần, theo vô số cách khác nhau. Thế nhưng mỗi khi Ngài nói về chúng với sự
rõ ràng và sức truyền đạt sống động như vậy, cảm giác vẫn như thể Ngài đang bày
tỏ chúng lần đầu tiên.
“Tất cả chúng ta
đều chia sẻ những mong muốn ấy. Nhưng cách chúng ta tìm kiếm hạnh phúc và cố gắng
tránh sự khó chịu cũng giống nhau. Ai trong chúng ta lại không thích một bữa ăn
ngon? Ai lại không muốn ngủ trên một chiếc giường an toàn, êm ái? Dù là nhà
văn, tu sĩ — hay một chú mèo con hoang — tất cả chúng ta đều bình đẳng ở điểm
đó.”
Ở phía bên kia chiếc bàn trà, vị giáo sư lịch sử khẽ xê dịch người trên ghế.
“Trên hết,”
Đức Thánh Thiện nói, nghiêng người lại và dùng ngón trỏ vuốt ve tôi, “tất cả chúng ta chỉ đơn giản muốn được yêu
thương.”
Đến khi vị giáo sư rời đi vào cuối buổi chiều hôm đó, ông
đã có nhiều điều để suy ngẫm hơn là chỉ cuộn băng ghi âm những quan điểm của Đức
Thánh Thiện về lịch sử Ấn–Tạng. Thông
điệp của Đức Thánh Thiện mang tính thách thức — thậm chí có phần khiến người ta
phải đối diện trực tiếp. Nhưng đó không phải là điều có thể dễ dàng gạt sang một
bên… như sau này chúng ta sẽ nhận ra.
***
Trong những ngày sau đó, tôi nhanh chóng trở nên quen thuộc
với môi trường mới của mình: chiếc tổ ấm áp mà Đức Thánh Thiện làm cho tôi từ một
chiếc áo choàng lông cũ; ánh sáng thay đổi trong phòng của Ngài khi mặt trời mọc,
đi ngang qua phía trên chúng tôi rồi lặn xuống mỗi ngày; và sự dịu dàng mà Ngài
cùng hai trợ lý điều hành của mình dành cho tôi, khi họ cho tôi uống sữa ấm cho
đến lúc tôi đủ khỏe để bắt đầu ăn thức ăn rắn.
Tôi cũng bắt đầu khám phá xung quanh — trước hết là khu
phòng riêng của Đức Thánh Thiện, rồi ra xa hơn nữa, đến văn phòng chung của hai
trợ lý điều hành. Người
ngồi gần cửa nhất là một nhà sư trẻ, tròn trịa, khuôn mặt luôn tươi cười và đôi
tay mềm mại — đó là Chogyal. Anh giúp Đức Thánh Thiện xử lý các công việc liên
quan đến tu viện. Người
còn lại, lớn tuổi và cao hơn, ngồi đối diện anh, là Tenzin. Luôn ăn mặc chỉnh tề
trong bộ vest lịch sự, với đôi tay thoang thoảng mùi sạch sẽ của xà phòng
carbolic, ông là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và tùy viên văn hóa, hỗ trợ Đức
Thánh Thiện trong các công việc thế tục.
Ngày đầu tiên tôi lảo đảo bước vòng qua góc vào văn phòng
của họ, cuộc trò chuyện bỗng đột ngột dừng lại.
“Đây là ai vậy?” Tenzin muốn biết.
Chogyal khúc khích cười khi nhấc tôi lên đặt trên bàn làm
việc của anh, nơi ánh mắt tôi lập tức bị thu hút bởi chiếc nắp xanh sáng của một
cây bút Bic. “Đức Thánh Thiện đã cứu cô
bé khi đang lái xe rời khỏi Delhi,” Chogyal nói, lặp lại câu chuyện của người hầu,
trong lúc tôi hất chiếc nắp bút Bic lăn qua lại trên mặt bàn của anh.
“Sao nó đi lại kỳ
lạ thế?” người kia hỏi.
“Nghe nói nó bị
rơi ngửa xuống lưng.”
“Hừm.”
Tenzin tỏ ra nghi ngờ khi ông nghiêng người tới, chăm chú quan sát tôi. “Có lẽ nó bị suy dinh dưỡng vì là con mèo con
nhỏ nhất. Nó có tên chưa?”
“Chưa,”
Chogyal nói. Rồi sau khi ông và tôi hất qua hất lại chiếc nắp bút nhựa trên bàn
vài lần, anh thốt lên:
“Chúng ta phải đặt
cho cô bé một cái tên!”
Ông có vẻ rất hào hứng với thử thách này.
“Một pháp danh. Ông
nghĩ sao — tên Tây Tạng hay tiếng Anh?”
(Trong Phật giáo, khi một người trở thành tu sĩ, họ sẽ được
ban cho một pháp danh để đánh dấu
bản sắc mới của mình.)
Chogyal gợi ý vài khả năng khác nhau trước khi Tenzin
nói:
“Tốt hơn là đừng
gượng ép những chuyện như thế này. Tôi tin rằng khi chúng ta hiểu cô bé hơn, một
cái tên thích hợp tự khắc sẽ xuất hiện.”
Như thường lệ, lời khuyên của Tenzin vừa khôn ngoan vừa
có phần tiên đoán trước — tiếc thay cho tôi, khi mọi việc sau đó diễn ra. Trong lúc đuổi theo chiếc nắp bút, tôi từ bàn
của Chogyal tiến sang được nửa bàn của Tenzin, trước khi người đàn ông lớn tuổi
hơn chộp lấy thân hình nhỏ bé, lông xù của tôi và đặt tôi xuống tấm thảm.
“Tốt hơn là cô bé
nên ở dưới đó,” ông nói. “Tôi có
một lá thư của Đức Thánh Thiện gửi cho Đức Giáo hoàng, và chúng ta không muốn
có dấu chân mèo khắp trên đó đâu.”
Chogyal cười. “Ký
thay mặt Ngài bởi Con Mèo của Đức Thánh Thiện - HHC (His
Holiness’s Cat).”
“HHC,”
Tenzin đáp lại ngay. Trong thư từ chính thức, Đức Thánh Thiện thường được viết
tắt là HHDL (His Holiness the Dalai Lama).
“Đó có thể là
danh xưng tạm thời của cô bé cho đến khi chúng ta tìm được một cái tên thích hợp.”
Bên ngoài
văn phòng của hai trợ lý điều hành là một hành lang dẫn qua nhiều phòng làm
việc khác, hướng tới một cánh cửa luôn được giữ đóng cẩn thận. Từ
những câu chuyện trong văn phòng của họ, tôi biết rằng cánh cửa ấy dẫn đến rất
nhiều nơi: Tầng dưới, Bên
ngoài, Ngôi
đền, và thậm chí cả Hải
ngoại. Đó là cánh cửa mà qua đó tất cả khách đến thăm Đức Thánh
Thiện đều ra vào. Nó mở ra cả một thế giới hoàn toàn mới. Nhưng
trong những ngày đầu ấy, khi tôi vẫn chỉ là một chú mèo con rất nhỏ, tôi hoàn
toàn hài lòng khi ở lại phía bên này của cánh cửa đó. 🐾
Vì đã trải
qua những ngày đầu tiên trên Trái Đất trong một con hẻm phía sau, tôi hầu như
chẳng hiểu gì về đời sống của con người — và cũng không hề biết hoàn cảnh mới
của mình đặc biệt đến mức nào. Mỗi buổi sáng khi Đức Thánh Thiện rời giường
lúc 3 giờ sáng
để thiền định suốt năm
tiếng, tôi sẽ đi theo Ngài và cuộn tròn thành một cục nhỏ bên
cạnh, tận hưởng hơi ấm và năng lượng từ Ngài. Tôi đã nghĩ rằng hầu hết mọi
người đều bắt đầu một ngày mới bằng việc thiền định.
Khi khách đến thăm Đức Thánh Thiện, tôi thấy họ luôn dâng
lên Ngài một chiếc khăn trắng, gọi là kata,
rồi Ngài lại trao trả chiếc khăn ấy cho họ cùng với lời ban phước. Tôi cho rằng
đó là cách con người thường chào đón khách đến thăm. Tôi cũng biết rằng nhiều người đến gặp Đức
Thánh Thiện đã phải đi một quãng đường rất xa để làm như vậy; đối với tôi, điều
đó dường như cũng hoàn toàn bình thường.
Rồi một ngày nọ, Chogyal bế tôi lên trong vòng tay và cù
nhẹ vào cổ tôi.
“Cô bé đang thắc
mắc những người này là ai phải không?” ông hỏi,
khi thấy ánh mắt tôi hướng về rất nhiều bức ảnh đóng khung treo trên tường
trong văn phòng của hai trợ lý điều hành.
Chỉ vào vài tấm ảnh, ông nói:
“Đây là tám vị tổng thống gần đây của
Hoa Kỳ gặp gỡ Đức Thánh Thiện. Ngài là một người rất đặc biệt, cô
biết không.”
Tôi biết điều đó, bởi vì ngài luôn chắc chắn rằng sữa của
tôi được hâm ấm — nhưng không quá nóng — trước khi đưa cho tôi uống.
Chogyal nói tiếp:
“Ngài là một
trong những vị lãnh đạo tinh thần vĩ đại nhất của thế giới. Chúng tôi tin rằng
ngài là một vị Phật sống. Hẳn cô bé phải có một mối liên hệ nghiệp duyên rất
sâu với ngài. Sẽ thật thú vị nếu biết được mối liên hệ ấy là gì.”
Vài ngày sau, tôi lần theo hành lang đến được căn bếp nhỏ
và khu vực ngồi nghỉ, nơi một số nhân viên của Đức Thánh Thiện thường đến thư
giãn, ăn trưa hoặc pha trà.
Vài vị tăng sĩ đang ngồi trên ghế sofa, xem một bản tin
ghi lại chuyến thăm gần đây của Đức Thánh Thiện tới Hoa Kỳ. Lúc này ai cũng đã
biết tôi là ai — thực ra, tôi đã trở thành linh vật của văn phòng.
Nhảy lên lòng một vị sư, tôi để ông vuốt ve mình trong
khi cùng xem TV.
Ban đầu, tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy là một đám
đông khổng lồ với một chấm đỏ nhỏ xíu ở chính giữa, trong khi giọng nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn vang lên rất rõ
ràng. Nhưng khi đoạn tin tức tiếp tục, tôi nhận ra rằng chấm đỏ đó chính là Ngài,
đang đứng ở trung tâm của một nhà thi đấu thể thao trong nhà rộng lớn. Đó là cảnh
tượng được lặp lại ở mọi thành phố mà Đức Đạt Lai Lạt Ma ghé thăm, từ New York đến San Francisco. Người
dẫn chương trình nhận xét rằng những đám đông khổng lồ đến để gặp Ngài ở mỗi
thành phố cho thấy Ngài còn nổi tiếng hơn cả nhiều ngôi sao nhạc rock.
Dần dần, tôi bắt đầu nhận ra Đức Đạt Lai Lạt Ma phi thường đến mức nào, và Ngài được kính trọng
cao đến đâu. Và có lẽ vì lời nhận xét của Chogyal về “mối liên kết nghiệp lực rất
gần gũi” giữa chúng tôi, vào một thời điểm nào đó tôi bắt đầu tin rằng bản thân
mình cũng hẳn phải khá đặc biệt. Xét cho cùng, chính tôi là người mà Đức Thánh Thiện đã cứu khỏi những con phố khốn cùng của New
Delhi. Phải chăng Ngài đã nhận ra ở tôi một tâm hồn đồng điệu—một chúng sinh có
cùng “tần số” tâm linh như Ngài?
Khi tôi nghe Đức
Thánh Thiện nói
với khách viếng thăm về tầm quan trọng của lòng từ ái, tôi khe khẽ rừ rừ lên đầy mãn nguyện, tin chắc rằng đó cũng
chính là điều tôi nghĩ. Khi Ngài mở hộp thức ăn mèo “Snappy Tom” buổi tối cho tôi, điều đó đối với tôi cũng
hiển nhiên như đối với Ngài: mọi chúng sinh đều muốn đáp ứng những nhu cầu cơ bản
giống nhau. Và khi Ngài vuốt ve cái bụng căng tròn của tôi sau bữa tối, tôi
càng thấy rõ rằng Ngài đã đúng; mỗi chúng ta đều chỉ mong được yêu thương.
Vào thời điểm đó, đã có một số bàn luận về việc điều gì sẽ
xảy ra khi Đức Thánh Thiện rời đi trong chuyến công du ba tuần tới Úc và
New Zealand. Với chuyến đi này cùng nhiều hành trình khác đã được lên kế hoạch,
liệu tôi nên ở lại nơi ở của Đức Đạt
Lai Lạt Ma, hay sẽ tốt hơn nếu người ta tìm cho tôi một mái nhà mới?
“Một mái nhà mới ư? Chỉ riêng ý nghĩ đó thôi đã thật điên
rồ! Tôi là HHC và đã nhanh chóng trở thành một phần quan trọng của nơi này.
Không có ai mà tôi muốn sống cùng hơn Đức
Đạt Lai Lạt Ma. Và tôi cũng dần trân trọng những phần khác trong thói
quen hằng ngày của mình—dù là nằm phơi nắng trên bệ cửa sổ khi Đức Thánh Thiện trò chuyện với khách, hay thưởng thức những
món ăn ngon mà Ngài và các trợ lý mang cho tôi trên một chiếc đĩa nhỏ, hay lắng
nghe những buổi hòa nhạc giờ trưa cùng Tenzin.”
Mặc dù tùy viên văn hóa của Đức Thánh Thiện là
người Tây Tạng, anh ấy lại tốt nghiệp Đại
học Oxford ở Anh, nơi anh từng theo học khi mới ngoài hai mươi tuổi và từ
đó hình thành niềm yêu thích đối với mọi thứ mang phong cách châu Âu. Mỗi ngày vào giờ ăn trưa, trừ khi có công việc
thật sự gấp rút cần giải quyết, Tenzin sẽ rời bàn làm việc, lấy hộp cơm trưa nhỏ
bằng nhựa do vợ chuẩn bị, rồi đi dọc hành lang đến phòng y tế. Ít khi được dùng
đúng mục đích, căn phòng đó chỉ có một chiếc giường đơn, một tủ thuốc, một chiếc
ghế bành và một hệ thống âm thanh di động thuộc về Tenzin. Một ngày nọ, vì tò mò, tôi theo anh vào phòng
và nhìn anh ngả lưng vào ghế bành, rồi nhấn một nút trên chiếc điều khiển của
dàn âm thanh. Ngay lập tức, căn phòng tràn ngập âm nhạc. Nhắm mắt lại, anh tựa
đầu vào lưng ghế, một nụ cười dần hiện trên môi.
“Bản Prelude cung Đô trưởng của Bach, HHC (His
Holiness’s Cat).,”
anh nói với tôi sau khi khúc piano ngắn kết thúc. Tôi thậm chí không nhận ra rằng
anh biết tôi đang ở trong phòng cùng mình. “Chẳng phải nó tuyệt đẹp sao? Một
trong những bản tôi yêu thích nhất mọi thời đại. Thật giản dị—chỉ một dòng giai
điệu duy nhất, không có hòa âm, nhưng lại truyền tải chiều sâu cảm xúc đến vậy!”
Hóa ra đó là bài học đầu tiên trong chuỗi gần như diễn ra
hằng ngày về âm nhạc và văn hóa phương Tây mà tôi nhận được từ Tenzin. Anh dường
như thực sự chào đón sự hiện diện của tôi—như một “người bạn” mà anh có thể
chia sẻ niềm say mê của mình đối với khi thì một aria (solo) trong opera, khi thì một tứ tấu đàn
dây—hoặc đôi khi, để thay đổi, là việc tái hiện một sự kiện lịch sử nào đó qua
kịch phát thanh.
Trong khi anh ăn những gì có trong hộp cơm nhựa của mình,
tôi cuộn tròn nằm trên chiếc giường trong phòng y tế—một sự “đặc cách” mà anh
cho phép vì lúc đó chỉ có hai chúng tôi. Sự cảm nhận của tôi về âm nhạc và văn
hóa phương Tây dần dần được hình thành, từng giờ ăn trưa một.
***
Rồi một ngày, một điều bất ngờ xảy ra. Ngài đang ở chùa,
và Cánh Cửa để mở. Lúc đó, tôi đã lớn thành một chú mèo con thích phiêu lưu,
không còn thỏa mãn với việc chỉ quanh quẩn trong chiếc áo lông mềm mại nữa.
Lang thang dọc hành lang tìm kiếm sự thú vị, khi thấy Cánh Cửa hé mở, tôi biết
mình phải đi qua nó, để khám phá những nơi rộng lớn nằm phía sau.
Xuống tầng dưới. Ra ngoài. Ra nước ngoài.
Bằng cách nào đó, tôi chập chững xuống hai tầng cầu
thang, biết ơn tấm thảm dưới chân, khi cú trượt của tôi ngày càng mất kiểm soát
và tôi lao xuống dưới, rơi thành một đống lộn xộn không chút oai nghi. Lấy lại
thăng bằng, tôi tiếp tục đi qua một hành lang ngắn và ra Ngoài Trời.
Đây là lần
đầu tiên tôi ra ngoài kể từ khi bị nhặt lên khỏi cống rãnh ở New Delhi. Không khí nhộn nhịp, tràn đầy năng
lượng, với mọi người đi tứ hướng. Tôi chưa đi được bao xa thì đã nghe thấy một
loạt tiếng la hét cao vút cùng tiếng chân rầm rập trên vỉa hè. Một nhóm các nữ
sinh Nhật Bản trong chuyến tham quan nhìn thấy tôi và lập tức đuổi theo.
Tôi hoảng
loạn. Chạy hết sức bằng đôi chân sau còn run rẩy, tôi loạng choạng lùi khỏi đám
người la hét. Tôi nghe thấy họ đang tiến gần. Không có cách nào tôi có thể chạy
nhanh hơn họ. Tiếng da giày của họ va vào vỉa hè vang lên như sấm rền!
Rồi tôi nhìn
thấy một khoảng trống nhỏ giữa các cột gạch đỡ sàn hiên. Một lối mở dẫn xuống
dưới tòa nhà. Không gian rất chật hẹp, và tôi chẳng còn nhiều thời gian. Hơn
nữa, tôi chẳng biết khoảng trống đó dẫn đi đâu. Nhưng khi tôi lao vào trong,
hỗn loạn bên ngoài bỗng chốc chấm dứt. Tôi thấy mình ở trong một không gian gầm
sàn rộng
lớn giữa mặt đất và các tấm sàn gỗ. Bóng tối và bụi bặm bao trùm, bên trên là
tiếng chân người rền rỉ, đều đều. Nhưng ít ra tôi đã an toàn. Tôi tự hỏi mình
sẽ phải ở đó bao lâu cho đến khi các nữ sinh rời đi. Quét một tấm mạng nhện
khỏi mặt, tôi quyết định không mạo hiểm đối mặt với một cuộc tấn công khác.
Khi mắt và
tai tôi dần quen với môi trường xung quanh, tôi nhận ra một âm thanh cào
xước—thoảng nhưng dai dẳng, như tiếng gặm nhấm. Tôi dừng lại, lỗ mũi xòe rộng,
ngửi khắp không khí. Bởi cùng với tiếng răng cửa nghiến phát ra là một mùi hăng
nồng khiến ria mép tôi tê dại. Phản ứng của tôi, tức thì và mãnh liệt, kích
hoạt một phản xạ mà tôi còn chưa từng biết mình có.
Dù tôi chưa
từng nhìn thấy chuột bao giờ, tôi lập tức nhận ra nó là một sinh vật săn mồi.
Nó bám vào bức tường gạch, đầu nửa chui vào một thanh gỗ mà nó đang khoét rỗng
bằng chiếc răng cửa to của mình.
Tôi di
chuyển một cách lén lút, bước tiến của mình được che giấu bởi tiếng chân người
rền rỉ trên sàn phía trên. Bản năng chiếm lĩnh. Chỉ với một cái quét bằng chân
trước, tôi làm con gặm nhấm mất thăng bằng và rơi xuống đất, nằm bất động. Cú
cúi xuống, tôi cắm răng vào cổ nó. Cơ thể nó mềm nhũn.
Tôi biết
chính xác điều mình phải làm tiếp theo. Con mồi đã chắc trong miệng, tôi lặng
lẽ trở lại khoảng trống giữa các cột gạch, quan sát dòng người trên vỉa hè bên
ngoài, và khi không thấy các nữ sinh Nhật Bản, tôi vội vã băng qua vỉa hè và
quay trở lại bên trong tòa nhà. Lao qua hành lang, tôi leo lên cầu thang đến
Cánh Cửa. Nó đã đóng chặt.
Giờ thì sao
đây? Tôi ngồi đó khá lâu, tự hỏi mình sẽ phải chờ đến bao giờ, cho đến khi cuối
cùng một người trong đội ngũ của Ngài xuất hiện. Anh ta nhận ra tôi nhưng không
để ý đến “chiến lợi phẩm” trong miệng tôi, rồi cho tôi vào. Tôi lặng lẽ bước
dọc hành lang và quanh góc.
Đức Đạt Lai
Lạt Ma vẫn
đang ở chùa, tôi đến văn phòng của các trợ lý điều hành, thả con chuột xuống và
thông báo sự xuất hiện của mình bằng một tiếng meo khẩn cấp. Trước âm điệu lạ
lẫm đó, cả Chogyal lẫn Tenzin đều quay lại nhìn tôi đầy ngạc nhiên khi tôi đứng
đó, tự hào, với con chuột nằm trên thảm ngay dưới chân.
Phản ứng của
họ hoàn toàn không như tôi tưởng. Trao nhau một cái nhìn sắc lẹm, cả hai đồng
loạt nhảy khỏi ghế. Chogyal bế tôi lên, còn Tenzin quỳ xuống bên con chuột bất
động.
-“Vẫn
còn thở,” anh nói. “Chắc bị sốc.”
-“Chiếc
hộp máy in,” Chogyal nói, hướng anh tới chiếc hộp các-tông trống mà anh vừa lấy
ra một hộp mực mới.
Dùng một
chiếc phong bì cũ như chiếc chổi, Tenzin dồn con chuột vào trong hộp trống. Ông quan
sát nó thật kỹ. “Anh nghĩ nó sẽ—?”
-“Con
này có mạng nhện trên ria mép kìa,” Chogyal nhận xét, nghiêng đầu nhìn tôi.
-“Con
này? Nó?!” Làm gì có cách gọi như vậy đối với HHC chứ? (HHC = His
Holiness’s Cat = con mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma ).
Ngay lúc đó,
tài xế của Đức Đạt Lai Lạt Ma bước
vào văn phòng. Tenzin đưa anh ta chiếc hộp, kèm theo hướng dẫn rằng con chuột
cần được theo dõi và, nếu hồi phục, thả vào khu rừng gần đó.
-“HHC
chắc đã đi ra
rồi,” người tài xế nói, nhìn thẳng vào ánh mắt xanh của tôi.
Chogyal vẫn
đang bế tôi, không phải trong vòng tay âu yếm như thường lệ mà như đang kiềm
chế một con thú hoang. “HHC… Tôi không chắc về danh hiệu đó nữa,” ông nói.
-“Chỉ
là một danh hiệu tạm thời thôi mà,” Tenzin đồng tình, quay trở lại bàn làm việc.
“Nhưng ‘Mouser (kẻ săn chuột) của Ngài’ nghe không hợp lắm.” Chogyal đặt tôi trở lại trên tấm thảm.
-“Còn
chỉ gọi là ‘Mouser’ làm tên thọ giới thì
sao?” người tài xế đề nghị. Nhưng vì giọng Tây Tạng nặng, nghe như là “Mousie” (bé
chuột nhỏ).
Cả ba người giờ đang nhìn tôi chăm chú. Cuộc trò chuyện
đã đi theo một hướng nguy hiểm mà tôi hối hận cho đến tận bây giờ.
-“Ông không thể chỉ gọi là ‘Mousie’ được,” Chogyal nói.
“Phải là Một cái gì đó Mousie hoặc Mousie Một cái gì đó.”
“‘Mousie Quái Vật’ thì sao?” Tenzin góp ý.
“‘Mousie Kẻ Diệt Chuột’?” Chogyal đề xuất.
Có một khoảng lặng trước khi người tài xế lên tiếng. “Hay
là ‘Mousie-Tung’?” ông gợi
ý.
Cả ba người bật cười phá lên khi nhìn xuống thân hình nhỏ
bé, lông xù của tôi.
Tenzin quay sang làm vẻ nghiêm nghị giả tạo khi nhìn thẳng
vào tôi. “Lòng từ bi thì rất tốt. Nhưng ông có
nghĩ Ngài nên ở chung với Mousie-Tung không?”
“Hay giao Mousie-Tung trông coi trong ba tuần khi Đức Thánh Thiện sang
Úc?” Chogyal trầm ngâm, rồi cả ba lại cười nghiêng ngả.
Tôi đứng dậy, lặng lẽ bước ra khỏi phòng, tai cụp hẳn ra
sau và đuôi quất mạnh đầy bực bội.
***
Trong những giờ sau đó, khi tôi ngồi dưới ánh nắng yên
bình bên cửa sổ của Đức Đạt Lai Lạt Ma ,
tôi bắt đầu nhận ra mức độ nghiêm trọng của những gì mình đã làm. Gần như suốt
quãng đời non trẻ của mình, tôi vẫn nghe Ngài nhấn mạnh rằng mạng sống của mọi
chúng sinh đều quý giá với chúng như chính mạng sống của chúng ta đối với chúng
ta vậy. Nhưng trong lần duy nhất tôi ra ngoài thế giới kia, tôi đã thực sự chú
ý đến điều đó đến mức nào?
Còn về sự thật rằng mọi chúng sinh đều mong muốn được hạnh
phúc và tránh khỏi khổ đau — ý nghĩ đó đã không hề thoáng qua trong đầu tôi khi
tôi rình con chuột. Tôi chỉ đơn giản để bản năng chi phối. Không một khoảnh khắc
nào tôi nhìn nhận hành động của mình từ góc nhìn của con chuột.
Tôi bắt đầu nhận ra rằng chỉ vì một ý tưởng đơn giản,
không có nghĩa là nó dễ thực hiện. Rừ rừ tán đồng những nguyên tắc cao siêu thì
chẳng có ý nghĩa gì nếu tôi không thực sự sống theo chúng.
Tôi tự hỏi liệu Đức Đạt Lai Lạt Ma có được
kể về “pháp danh” mới của tôi không — lời nhắc nhở nghiệt ngã về sai lầm lớn nhất
trong quãng đời non trẻ của tôi. Liệu Ngài có kinh hãi đến mức, khi nghe những
gì tôi đã làm, sẽ đuổi tôi khỏi chốn bình yên tuyệt đẹp này mãi mãi không?
***
May mắn cho tôi, con chuột đã hồi phục. Và khi Đức Đạt
Lai Lạt Ma trở về, Ngài lập tức bị cuốn
vào một loạt các cuộc họp.
Mãi đến tận tối muộn, Ngài mới nhắc đến chuyện đó. Ngài
đang ngồi trên giường đọc sách, rồi khép cuốn sách lại, tháo kính và đặt chúng
lên chiếc bàn cạnh giường.
“Người ta đã kể cho ta nghe chuyện đã xảy ra,” Ngài khẽ
nói, vươn tay về phía tôi đang lim dim ngủ gần đó. “Đôi khi bản năng của chúng
ta, những thói quen tiêu cực đã ăn sâu, có thể trở nên rất mạnh mẽ. Rồi sau đó,
chúng ta vô cùng hối hận về những gì mình đã làm. Nhưng đó không phải là lý do
để từ bỏ chính mình — chư Phật vẫn chưa từng từ bỏ con. Thay vào đó, hãy học từ
sai lầm của mình và bước tiếp. Chỉ vậy thôi.”
Ngài tắt đèn đầu giường, và khi cả hai chúng tôi nằm đó
trong bóng tối, tôi khẽ rừ rừ đầy biết ơn.
-“Ngày
mai chúng ta bắt đầu lại,” Ngài nói.
Ngày hôm sau, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang xem qua một vài bức thư mà các trợ lý điều
hành đã chọn lọc từ hàng bao tải thư gửi đến mỗi sáng.
Cầm lên một lá thư cùng một cuốn sách do một giáo sư lịch
sử từ Anh gửi tới, Ngài quay sang Chogyal. “Cái này rất hay.”
-“Vâng,
thưa Đức Ngài,” Chogyal đáp, chăm chú nhìn bìa sách bóng loáng.
-“Ta
không nói đến cuốn sách,” Đức Ngài nói, “mà là bức thư.”
-“Ồ?”
***
“Sau khi suy ngẫm về cuộc trò chuyện của chúng ta, vị
giáo sư nói rằng ông ấy đã ngừng dùng thuốc diệt ốc sên cho vườn hồng. Thay vào
đó, giờ ông ấy mang những con ốc sên thả ra bên kia bức tường vườn.”
-“Rất
tốt!” Chogyal mỉm cười nói.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhìn
thẳng vào tôi. “Chúng ta rất thích gặp ông ấy, phải không?” Lúc đó, tôi nhớ
mình đã nghĩ rằng vị giáo sư ấy thật chưa giác ngộ. Nhưng sau những gì tôi đã
làm hôm qua, tôi đâu còn tư cách để phán xét ai.
-“Điều
đó cho thấy tất cả chúng ta đều có khả năng thay đổi, phải không, Mousie?”
***

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét