Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

CHƯƠNG 11: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

 


***

“Có mặt trái nào khi trở thành con mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma không?”

Chỉ riêng việc đặt ra câu hỏi này có thể đã nghe thật lố bịch, hoặc thể hiện sự vô ơn thấp kém đến mức có lẽ bạn muốn gạt phắt tôi đi ngay lập tức như một con mèo được nuông chiều quá mức — kiểu mèo mặt tẹt, lông dài với vẻ lạnh lùng kiêu kỳ, luôn tạo cảm giác rằng chẳng điều gì trên đời này có thể đủ tốt đối với chúng.

Nhưng khoan đã, độc giả thân mến. Chẳng phải mọi câu chuyện đều có hai mặt sao?

Đúng là trong lịch sử, hẳn có rất ít con mèo được hưởng những điều kiện tuyệt vời vô song như tôi. Không chỉ mọi nhu cầu vật chất của tôi đều được đáp ứng và mọi ý thích đều được chiều chuộng — đôi khi còn trước cả khi chính tôi nhận ra chúng — mà thế giới tinh thần của tôi cũng trở nên sinh động nhờ vô vàn vị khách cùng các hoạt động phong phú xoay quanh mình. Về mặt tình cảm, thật khó tưởng tượng có thể được yêu thương, tôn sùng và cưng chiều nhiều hơn bởi những con người mà ngược lại, tôi cũng dành cho họ sự gắn bó chân thành nhất từ tận đáy lòng.

Và về mặt tâm linh, như bạn đã biết, chỉ cần Đức Thánh Thiện bước vào một căn phòng thôi, mọi hình tướng và mọi ý niệm thông thường dường như đều tan biến, chỉ còn lại cảm giác bình yên sâu thẳm kéo dài mãi. Với việc tôi dành phần lớn mỗi ngày ở bên cạnh ngài, ngủ mỗi đêm dưới chân giường của ngài, và trải qua biết bao giờ phút trong lòng ngài, hẳn tôi phải là một trong những con mèo hạnh phúc và mãn nguyện nhất trên hành tinh này.

Vậy thì, xin hỏi thật, mặt trái của tất cả những điều đó nằm ở đâu?

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thường giải thích, sự phát triển nội tâm là điều mà mỗi người chúng ta phải tự chịu trách nhiệm. Người khác không thể khiến ta trở nên chánh niệm hơn để có thể cảm nhận trọn vẹn tấm thảm phong phú của những trải nghiệm đời thường. Tương tự, người khác cũng không thể ép buộc ta trở nên kiên nhẫn hay tử tế hơn, cho dù sự kiên nhẫn và lòng tử tế có thể góp phần lớn lao vào hạnh phúc của ta đến đâu đi nữa. Còn việc cải thiện khả năng tập trung khi thiền định thì hiển nhiên là điều mà chính chúng ta phải tự mình thực hiện.

Và thế là chúng ta đi đến cốt lõi của vấn đề, nguyên nhân cho nỗi bực bội vừa đáng xấu hổ vừa không thể chối cãi của tôi.

Ngày này qua ngày khác, tôi ngồi trong những buổi tiếp kiến cùng Đức Ngài, lắng nghe những trải nghiệm thiền định của các hành giả cao cấp, trong khi biết rõ rằng bản thân mình không thể thiền nổi quá hai phút mà không bị phân tâm. Chưa từng có tuần nào trôi qua mà tôi không nghe kể về những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của ý thức do các yogi thực hiện khi đang ngủ hoặc thậm chí — tạm thời thôi — đã chết về mặt lâm sàng. Thế nhưng mỗi đêm, khi chính tôi nhắm mắt lại, tôi nhanh chóng rơi vào trạng thái mê ngủ nặng nề và vô thức hoàn toàn.

Nếu tôi sống với một gia đình dành nhiều thời gian xem truyền hình như cách Đức Đạt Lai Lạt Ma dành cho việc thiền định, và tâm trí của họ cũng xao động chẳng kém gì tâm trí tôi, thì đôi khi tôi nghĩ rằng có lẽ mình sẽ không phải đau đớn nhận thức rõ những giới hạn của bản thân đến thế. Nếu tôi được bao quanh bởi những con người tin rằng chính người khác hay sự vật trong đời khiến họ hạnh phúc hoặc bất hạnh — thay vì thái độ của họ đối với những con người hay sự vật ấy — thì có lẽ tôi đã được xem là con mèo khôn ngoan nhất trần đời.

Nhưng tôi không sống như vậy.

Vì thế, tôi không thể trở thành con mèo ấy được.

Thay vào đó, có những lúc tôi cảm thấy mình kém cỏi đến mức dường như việc cố gắng trở thành một “bodhicatva” chân chính cũng thật vô nghĩa. Kỹ năng thiền định nghèo nàn của tôi. Những dòng suy nghĩ tiêu cực cứ lặp đi lặp lại theo thói quen. Sống ở Jokhang chẳng khác nào một kẻ tí hon đứng giữa những người khổng lồ! Chưa kể tôi còn đủ mọi thiếu sót cá nhân khác — như mặt tối của sự thèm ăn tham lam mà ngày nào tôi cũng phải đấu tranh chống lại — và cả những khiếm khuyết về thể chất, lộ rõ ngay khi tôi bắt đầu bước đi vì đôi chân sau run rẩy, khập khiễng của mình.

Và còn nỗi đau nhói buốt ấy nữa — như một hạt cát sắc cạnh cọ xát ngay nơi sâu thẳm lòng tự trọng của tôi — rằng dòng dõi hoàn hảo của tôi, ôi than ôi thay, lại không có giấy tờ chứng nhận, và có lẽ sẽ mãi mãi như thế cho đến tận cuối thời gian. Thật khó để tiếp tục tin rằng mình khác biệt, đặc biệt, hay thậm chí — dám nói ra không nhỉ — mang dòng máu quý tộc, khi chẳng có nổi một tờ giấy nào để chứng minh điều đó.

Đó chính là những suy nghĩ đang ngập tràn trong đầu tôi khi một buổi sáng nọ, tôi lững thững đi xuống đường đến Café Franc để tìm một bữa ăn an ủi. Len qua những chiếc bàn đông đúc, tôi dừng lại để chạm mũi chào hỏi Marcel, kẻ từ sau khi Kyi Kyi xuất hiện đã trở nên thân thiện với tôi hơn trước. Tôi rộng lượng ban cho Franc một tiếng gừ khe khẽ đầy trìu mến khi ông cúi xuống vuốt ve mình. Rồi nhanh nhẹn tránh sang một bên để không vướng chân anh bồi bàn trưởng Kusali — người đang giữ thăng bằng ba đĩa thức ăn trên mỗi cánh tay — tôi nhảy lên vị trí quen thuộc giữa những cuốn tạp chí thời trang bóng loáng và phóng tầm mắt nhìn xuống “nhà hát riêng” của mình.

Ở đó là hỗn hợp quen thuộc của những khách vãng lai — người đi bộ đường dài, những kẻ Tìm Kiếm, các “Greenie”[1] và những người nghỉ hưu mang giày thể thao.

Nhưng sự chú ý của tôi lập tức bị thu hút bởi người đàn ông ngoài 30 tuổi đang ngồi một mình ở chiếc bàn ngay bên cạnh, đang đọc cuốn “Sinh Học Của Niềm Tin (The Biology of Belief) của Bruce Lipton. Khuôn mặt tươi tắn và điển trai, với đôi mắt màu hạt dẻ, vầng trán cao và mái tóc xoăn đen, anh ta đọc với một tốc độ cho thấy một trí tuệ dữ dội ẩn sau cặp kính đọc sách hơi mang vẻ mọt sách.

Sam Goldberg là một trong những khách quen lâu năm hơn của quán cà phê. Đến McLeod Ganj một tháng trước đó, ngay khi phát hiện ra Café Franc, anh đã nhanh chóng trở thành khách ghé thăm mỗi ngày. Franc cũng không mất nhiều thời gian để tự giới thiệu mình.

Hai người họ đã trao đổi vài câu chuyện xã giao thông thường, qua đó tôi biết được rằng Sam đang nghỉ ngơi sau khi bị sa thải khỏi công việc ở Los Angeles. Anh ta đang ở McLeod Ganj trong một khoảng thời gian chưa xác định. Anh đọc trung bình bốn cuốn sách mỗi tuần. Anh là một người viết blog “thâm niên” về các chủ đề thân–tâm–trí (mind/body/spirit). Và anh có hơn 20.000 người theo dõi trực tuyến.

Tuy nhiên, chính trong một cuộc trò chuyện vào tuần trước mà một khả năng mới đầy thú vị đã xuất hiện. Trong khoảng lặng giữa đợt khách giữa buổi sáng và giờ ăn trưa, Franc đã kéo ghế ngồi đối diện Sam — một vinh dự mà ông rất hiếm khi dành cho khách hàng.

-“Hôm nay anh đang đọc gì vậy?” ông hỏi, vừa đẩy một ly latte miễn phí về phía Sam.

-“Ồ, cảm ơn ông! Thật tốt bụng quá.” Sam liếc nhanh vào ly cà phê — và chỉ rất thoáng qua nhìn Franc — trước khi quay lại nhìn vào cuốn sách. “Đây là bản chú giải của Đức Đạt Lai Lạt Ma về Bát Nhã Tâm Kinh,” anh nói. “Một trong những bản kinh điển và cũng là cuốn tôi rất thích. Tôi đã đọc nó cả chục lần rồi. Cùng với Trái Tim của Hiểu Biết của Thích Nhất Hạnh, tôi thấy đây là những tác phẩm hữu ích nhất giúp mở khóa ý nghĩa của bản kinh này.”

-“Duyên khởi là một chủ đề khó,” Franc nhận xét.

-“Khó nhất,” Sam đồng ý. “Nhưng để hiểu rộng hơn thì cũng khó đi xa hơn Hai mươi tám bài kệ Đại Thủ Ấn của Tilopa gửi Naropa hay Con đường chính yếu của các bậc chiến thắng của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ nhất Panchen Lama. Những câu kệ của Tilopa rất giàu chất trữ tình, và thơ ca đôi khi có thể truyền tải một ý nghĩa vượt xa ngôn từ. Còn giáo pháp của Panchen Lama thì mộc mạc hơn nhiều. Nhưng sức mạnh và sự rõ ràng của chúng lại chính là điều bạn cần khi thiền định về một đối tượng vi tế như vậy.”

Franc im lặng nghiền ngẫm điều đó một lúc rồi nói, “Điều đó làm tôi ngạc nhiên đấy, Sam. Có vẻ như bất cứ chủ đề nào tôi hỏi anh, anh cũng có thể liệt kê ra nửa tá cuốn sách liên quan, kèm theo cả một bài phê bình đầy đủ.”

-“Ồ, k-k-k-k-không đâu.” Những vệt hồng thoáng hiện trên chiếc cổ nhợt nhạt của Sam.

-“Tôi đoán là anh phải cập nhật liên tục mọi thứ cho blog của mình chứ?”

-“Thật ra, blog là kết quả”—Sam liếc nhanh về phía Franc nhưng không thật sự chạm ánh mắt—“chứ không phải là nguyên nhân.”

-“Anh vốn luôn là một con mọt sách à?”

-“Điều đó có ích nếu ông làm trong ngành. N-ng-ngành mà tôi từng làm, ý tôi là vậy.”

-“Và đó là ngành gì vậy?” Franc hỏi một cách tự nhiên.

-“Bán sách.”

-“Ý anh là…?”

-“Tôi từng làm việc cho một chuỗi nhà sách.”

-“Điều đó… thú vị đấy.” Tôi nhận ra ánh lóe trong mắt Franc. Đó cũng chính là ánh mắt tôi từng thấy khi ông phát hiện ra tôi là mèo của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

-“Tôi phụ trách một khu vực sách về tâm thức–thân thể–tinh thần,” (mind/body/spirit) Sam tiếp tục. “Nên phải luôn cập nhật tất cả các đầu sách mới.”

-“Hãy nói cho tôi biết,” Franc nói, nghiêng người về phía trước, chống khuỷu tay lên bàn. “Việc chuyển sang sách điện tử và máy đọc sách có nghĩa là chấm dứt các hiệu sách không?”

Sam khẽ ngồi thẳng người lại trên ghế trước khi cố gắng nhìn thẳng vào mắt Franc trong trọn vẹn một giây.

-“Không ai có quả cầu pha lê để nhìn tương lai, nhưng tôi nghĩ thật ra vẫn có một số cửa hàng sẽ phát triển tốt. Những cửa hàng chuyên bán một loại sách nhất định. Có lẽ là tổ chức thêm các sự kiện nữa.”

-“Như các quán cà phê sách à?”

-“Chính xác.”

Franc nhìn Sam thật kỹ một lúc lâu trước khi nói: “Mấy tháng vừa rồi, tôi đã nghĩ đến việc đa dạng hóa kinh doanh của mình. Có khu vực đó trong quán, tách riêng so với các bàn khác, nhưng lại ít được sử dụng,” ông vừa nói vừa chỉ về phần quán hơi cao hơn một chút, ánh sáng dịu hơn, nơi các bàn thường bỏ trống. “Hàng ngày tôi có nhiều khách du lịch ghé qua, có thể họ muốn mua một cuốn sách, mà xung quanh đây chẳng có chỗ nào bán cả. Vấn đề là tôi chẳng biết gì về việc quản lý hiệu sách—và tôi cũng không quen ai biết cả, cho đến bây giờ.”

Sam gật đầu.

-“Vậy, ông nghĩ sao về ý tưởng này?”

-“Đây chính xác là kiểu nơi mà tôi có thể hình dung một hiệu sách sẽ phát triển tốt. Như anh nói, chẳng có đối thủ cạnh tranh nào cả. Không tổn hại gì khi mà sóng điện thoại di động chập chờn ở những vùng này, làm cho việc tải sách điện tử trở nên khó khăn."

Franc chen vào: “Rất nhiều khách hàng của chúng ta vốn đã rất quan tâm đến các sách về tâm thức/thân thể/tinh thần. Họ thường xuyên đọc những cuốn đó ngay ở đây mà.”

Sam xen vào: “Nếu họ đến để trải nghiệm toàn diện, ông có thể mở rộng trải nghiệm đó bằng cách thêm việc mua sách mới, CD, có thể là cả quà tặng nữa.”

-“Các món đồ Phật giáo và đồ lưu niệm Ấn Độ.”

-“Chỉ những món chất lượng tốt thôi.”

-“Tất nhiên rồi.”

Suốt cả ba giây, Sam giữ ánh nhìn của Franc. Ánh lấp lánh trong mắt Franc đã chuyển thành sự hứng khởi trọn vẹn. Ngay cả sự rụt rè thường thấy của Sam dường như cũng tan biến.

Rồi Franc hỏi: “Anh sẽ thiết lập nó giúp tôi chứ?”

-“Ý ông là—?”

-“Và quản lý nó. Với tư cách là quản lý hiệu sách của tôi.”

Sự hứng khởi nhanh chóng biến mất trên khuôn mặt của Sam.

-“À, điều đó thật… thật… thật tốt khi yêu cầu, nhưng tôi không thể đâu.” Những vết nhăn sâu hiện lên giữa hai lông mày của anh. “Ý tôi là, tôi chỉ ở đây vài tuần thôi mà.”

-“Anh đâu có công việc nào để quay lại đâu,” Franc nhắc nhở anh, hơi thẳng thắn. “Tôi đang đề nghị anh một công việc ở đây.”

-“Nhưng visa của tôi—”

Franc vẫy tay ra hiệu bỏ qua: “Tôi có một người có thể lo tất cả thủ tục giấy tờ.”

-“Và chỗ ở—”

-“Có một căn hộ ở tầng trên,” Franc nói. “Tôi có thể đưa phần đó vào thỏa thuận.”

Nhưng thay vì giải tỏa những băn khoăn của Sam, Franc dường như chỉ làm chúng thêm rối. Sam cúi mặt xuống khi một làn đỏ hiện lên, trước tiên ở cổ, rồi dần dần, không ngừng, lan rộng ra hai gò má.

-“Tôi thật sự không thể làm được,” anh nói với Franc. “Ngay cả khi mọi thứ khác đều… ”

Franc nghiêng người về phía trước trên ghế, nhìn chằm chằm anh. “Tại sao lại không?”

Sam nhìn sàn nhà với vẻ bất lực.

-“Anh có thể nói với tôi mà,” Franc nói, giọng dịu lại.

Sam lắc đầu chậm rãi.

Sau một khoảnh dừng, Franc thử một cách tiếp cận khác. “Tin tôi đi—tôi là một Phật tử.”

Sam mỉm cười buồn.

-“Tôi sẽ không bỏ qua đâu”—Franc cố gắng kết hợp cả sự đồng cảm lẫn quyết tâm trong giọng nói của mình.

—“cho đến khi anh nói với tôi.”

Ông ngả người ra sau trên ghế, như thể chuẩn bị cho một chờ đợi lâu dài. Làn đỏ trên má Sam càng trở nên đậm hơn. Rồi, sau khoảng dừng dài nhất từ trước đến nay, mắt vẫn nhìn xuống sàn, Sam thì thầm: “Khi cửa hàng ở Century City đóng cửa, tôi bị sa thải.”

-“Anh đã nói rồi mà.”

“Vấn đề là, không phải ai cũng bị sa thải. Một vài người được giữ lại và chuyển công việc khác.” Sam cúi đầu, đầy hổ thẹn.

-“Và anh đang nghĩ—?”

-“Nếu tôi giỏi công việc của mình, tôi cũng đã được giữ lại rồi.”

- “Vậy họ chỉ giữ lại những người làm việc xuất sắc, đúng không?” giọng Franc căng lên. “Lý do gì khác nữa? Chi phí sa thải họ? Hay vì họ là nhân viên lâu năm?”

Sam nhún vai. “Chắc vậy. Hầu hết là thế. Nhưng ông cũng thấy mà… tôi tệ với mọi người đến mức nào. Tớ sẽ chẳng hợp với việc đó đâu, Franc.” Cuối cùng anh cũng cố liếc thật nhanh về phía Franc. “Hồi đi học, lúc chia đội thể thao thì tớ luôn là đứa bị chọn cuối cùng. Lên đại học, tôi chẳng bao giờ hẹn hò được với ai. Tôi không phải kiểu người giỏi giao tiếp. Tôi sẽ làm hỏng mọi thứ mất.”

Khi Franc nhìn dáng vẻ đáng thương của Sam trước mặt mình, một nụ cười tinh quái đầy ẩn ý thoáng hiện trên môi anh. Không nói lời nào, ông ra hiệu cho Kusali mang cho mình một ly espresso.

-“Ừ, tôi đồng ý,” ông đáp sau một lúc. “Hãy tưởng tượng sẽ tai hại thế nào nếu để một người thuộc lòng thể loại sách theo kiểu ngược đời đi đặt toàn bộ đơn hàng cho cửa tiệm. Hoặc nếu khách hỏi anh về một chủ đề nào đó, và anh lại đưa cho họ nửa tá lựa chọn khác nhau. Thật đúng là thảm họa!”

-“Không phải vậy—”

-“Giả sử có ai đó bước vào đây muốn chọn một đội thể thao, và người đầu tiên họ nhìn thấy lại là anh.”

-“Ông biết là tôi không có ý—”

-“Hoặc, trời cứu chúng ta, một cô gái độc thân bước vào đây đang đi tìm một buổi hẹn hò!”

-“Vấn đề là nói chuyện với người khác,” Sam đáp lại, gần như gay gắt. “Tôi không giỏi chuyện đó.”

-“Anh nói chuyện với tôi mà.”

-“Ông không phải khách hàng.”

-“Tôi chưa bao giờ ép ai phải gọi cappuccino, và tôi cũng không mong anh phải ‘bán hàng’ quá mức, nếu anh đang nghĩ vậy,” Franc nói.

Hai người nhìn thẳng vào nhau một cách bình tĩnh trước khi Franc nói:

-“Hoặc ý tưởng mở hiệu sách này sẽ thành công, hoặc là không. Tôi tin anh là người phù hợp cho công việc này, ngay cả khi chính anh không tin điều đó.”

Cuộc trò chuyện đó diễn ra vào cuối tuần trước, và dù Franc đã cố gắng hết sức, nó vẫn kết thúc mà không có sự cam kết nào từ Sam. Từ đó đến nay, Sam vẫn đến quán cà phê mỗi ngày, nhưng không ai nhắc lại chủ đề đó nữa. Tôi tự hỏi Franc sẽ còn giữ được bao lâu. Vì tôi không hề nghi ngờ rằng ông sẽ lại đem chuyện này ra bàn một lần nữa.

Kể từ cuộc trò chuyện với Sam, Franc đã gọi một vài thợ lành nghề đến đo đạc không gian mà ông đang cân nhắc để mở hiệu sách, đồng thời bàn bạc về các phương án kệ sách và trưng bày. Nhưng liệu ông có thể khiến Sam thay đổi ý định không?

Thực ra, khả năng thuyết phục của Franc trở nên không còn quan trọng. Không lâu sau khi tôi đến quán vào buổi sáng hôm đó và thấy Sam đang say mê về chủ đề sinh học tế bào và biểu sinh học (epigenetics), thì người xuất hiện trong quán cà phê lại chính là Geshe Wangpo.

Như Franc nhanh chóng phát hiện ra, việc có một người thầy vừa là lợi ích vừa là thử thách. Lợi ích thì phi thường, nhưng yêu cầu cũng khắc nghiệt không kém. Và khi người thầy của bạn là một vị lạt ma nghiêm khắc như Geshe Wangpo, thì cả hai mặt của “lưỡi kiếm” ấy đều sắc như dao cạo. Mỗi tối thứ Ba, Franc tham dự các buổi học về Con Đường Giác Ngộ tại ngôi chùa trên đồi, nhưng vào những thời điểm khác, Geshe Wangpo lại bất ngờ xuất hiện trong đời sống của anh, mang theo những biến chuyển có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống.

Trong một lần khác, những rắc rối nghiêm trọng với đội ngũ nhân viên phục vụ đã khiến Franc rơi vào trạng thái bối rối và tuyệt vọng.

Geshe Wangpo đã gọi điện cho ông— một việc chưa từng xảy ra trước đó và cũng không hề được báo trước — và trong một cuộc gọi ngắn gọn nhất, ra lệnh rằng ông phải trì tụng mantra Tara Lục (Green Tara) mỗi ngày hai giờ. Đến cuối tuần đó, các vấn đề nhân sự của Franc một cách khó hiểu đã tự nhiên được giải quyết ổn thỏa.

Trong một dịp khác, Franc vừa đặt điện thoại xuống sau cuộc nói chuyện với cha mình, người đã gọi đường dài từ giường bệnh ở San Francisco. Suốt mười phút trước đó, Franc đã cố giải thích vì sao ông không thể về thăm nhà lúc này. Khi ông quay lại phát hiện Geshe Wangpo đang đứng ngay phía sau mình. Vị lạt ma lập tức ra lệnh, không hề do dự, rằng việc thăm cha phải được đặt lên hàng đầu. Ngài hỏi Franc đang nghĩ mình là loại người con gì khi nói với một người cha già yếu, mong manh rằng mình quá bận để gặp ông? Ông nghĩ mình nợ ai sự sống này? Ông muốn có kiểu cha mẹ như thế nào trong những kiếp tương lai — những người thờ ơ và bỏ mặc ông như chính ông đang dự định đối xử, hay những người thật sự quan tâm đến hạnh phúc của ông? Và, nhân tiện, Ngài cũng nhắc Franc nên mua cho cha mình những món quà chất lượng tốt từ cửa hàng miễn thuế.

Nửa giờ sau, Franc đã đặt vé về nhà.

Hôm nay, khi Geshe Wangpo xuất hiện trong quán cà phê vào khoảng thời gian vắng khách giữa buổi sáng, Ngài liếc nhìn qua hàng loạt bàn trống trước khi đi thẳng về phía nơi Sam Goldberg đang ngồi một mình đọc sách.Có một năng lượng mạnh mẽ trong cách ngài di chuyển khắp căn phòng, như thể ngài không phải là một vị tu sĩ khoác áo màu nâu đỏ xuất hiện trong quán, mà là một thực thể hoàn toàn uy nghi hơn — có lẽ giống một con quái vật khổng lồ màu xanh đen, phun lửa, như những hình ảnh được vẽ trong các bức thangka ở chùa.

-“Tôi có thể ngồi đây không?” ngài hỏi, kéo chiếc ghế đối diện Sam Goldberg.

-“V-vâng. Được chứ.” Hầu như tất cả các bàn xung quanh đều trống, nhưng nếu Sam thấy yêu cầu này kỳ lạ thì anh không hề để lộ ra. Thay vào đó, anh lại tiếp tục đọc cuốn sách của mình.

Sau khi đã ngồi thoải mái, Geshe Wangpo không có ý định giữ im lặng.

-“Anh đang đọc gì vậy?”

Sam Goldberg ngẩng lên. “Một cuốn sách về… ờ, epigenetics (biểu sinh học).”

Vị lạt ma liếc nhìn ba cuốn sách bìa mềm xếp cạnh chiếc cốc cà phê rỗng của Sam Goldberg. -“Anh thích đọc sách à?”

Sam gật đầu.

Tôi tự hỏi liệu Franc đã nói với Geshe Wangpo về ý tưởng mở hiệu sách của mình sau buổi học tuần đó hay chưa, nhưng điều đó có vẻ khó xảy ra. Geshe Wangpo luôn khuyến khích các học trò của mình tự lực. Còn Sam Goldberg thì hoàn toàn không biết Geshe Wangpo là ai, ngoài việc xem ngài như một vị tu sĩ có phần quá thẳng thắn và chủ động.

-“Điều đó rất hữu ích,” Geshe Wangpo nói với Sam Goldberg, “là chia sẻ hiểu biết của mình với người khác. Nếu không thì, có ý nghĩa gì khi sở hữu nó?”

Sam Goldberg ngẩng lên nhìn vị lạt ma — và giữ ánh mắt ấy. Đây không phải cái nhìn lướt qua như thường lệ, mà là sự giao nhau kéo dài đến mức gần như bất thường. Điều gì trong gương mặt của Geshe Wangpo đã giữ lấy ánh nhìn của anh? Có phải đó là điều gì mang lại cảm giác yên tâm, như thể ẩn dưới vẻ nghiêm khắc của vị tu sĩ Tây Tạng là một sự từ bi sâu xa và an toàn? Hay đơn giản là Geshe Wangpo đang giữ ánh nhìn của Sam bằng sức mạnh nhân cách mà ngài vốn nổi tiếng? Hay có lẽ đang hình thành một kết nối khác — một điều gì đó khó lý giải hơn, vượt ra ngoài những cách hiểu thông thường?

Dù là gì đi nữa, khi Sam Goldberg cuối cùng trả lời, anh không còn chút rụt rè thường thấy. “Thật lạ là ngài lại nói vậy. Chủ quán ở đây đã hỏi tôi có muốn điều hành một hiệu sách cho ông ấy không.” Anh khẽ chỉ về khu vực trống mà Franc đang dự định sử dụng.

“Anh có muốn không?” vị Lạt Ma hỏi.

Sam nhăn mặt. “Tôi nghĩ mình sẽ không giỏi việc đó đâu.”

Vẻ mặt của Geshe Wangpo vẫn không thay đổi. Ngài thử lại. “Anh có muốn không?”

-“Tôi không thể làm ông ấy thất vọng. Ông ấy sẽ phải đầu tư rất nhiều tiền vào hàng tồn kho và các kệ trưng bày. Nếu mọi chuyện đổ bể vì tôi…”

-“Tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi.” Geshe Wangpo nghiêng người về phía trước. “Nhưng anh có muốn không?”

Một nụ cười nhỏ, pha chút áy náy nhưng không thể cưỡng lại được hiện lên trên khóe miệng Sam.

 

Trước khi anh kịp nói lời nào, Geshe Wangpo đã bảo ông: "Vậy thì anh phải làm thôi!"

Nụ cười của Sam càng rạng rỡ hơn. “Tôi đã suy nghĩ về điều đó. Rất nhiều. Nó có thể là một... khởi đầu mới đầy thú vị. Nhưng tôi vẫn còn một số băn khoăn.”

-“Băn khoăn là gì vậy?” Vị Lạt Ma nhíu mày đầy kịch tính.

-“Những băn khoăn?” Sam tra từ điển đồng nghĩa trong đầu. “Những nghi ngờ. Những lo ngại. Những điều không chắc chắn.”

-“Đó là chuyện bình thường,” ngài nói với anh ta. Rồi, để nhấn mạnh, ngài ta nói lại lần nữa, sâu hơn, to hơn và chậm hơn: “Bình thường.”

-“Tôi đang phân tích cơ hội –“ Sam bắt đầu giải thích.

Nhưng Geshe Wangpo cắt ngang anh ta. “Quá nhiều suy nghĩ là không cần thiết.

Sam nhìn chằm chằm vào ngài, ngạc nhiên khi nghe câu hỏi về nhận thức bị gạt bỏ một cách hời hợt như vậy. "Anh chưa từng thấy tôi tiếp xúc với người khác," ngài tiếp tục. "Những người bình thường."

Để hai tay vào hông, vị lạt ma ngồi nhỗm tới trong chỗ của ngài. “Có một vấn đề?”

Sam nhún vai. "Có lẽ có thể nói đó là vấn đề về lòng tự trọng."

-“Lòng tự trọng?”

-“Khi anh nghĩ mình không đủ khả năng.”

Geshe Wangpo không tin. “Nhưng anh đọc rất nhiều sách. Anh có kiến thức mà.”

-“Không phải vậy.”

-“Trong Phật giáo”—vị Lạt Ma ngửa đầu ra sau đầy thách thức—“chúng tôi sẽ nói rằng anh lười biếng.”

Phản ứng của Sam lần này hoàn toàn trái ngược với thường lệ. Sắc mặt anh tái nhợt.

-Tự thất vọng, nghĩ rằng anh không đủ sức, cho rằng ‘tôi không thể làm việc này.’ Đây là tâm hồn yếu kém. Anh phải làm việc để chiến thắng nó.”

-“Tôi không có ý muốn lựa chọn,” Sam phản đối yếu ớt.

-“Vậy thì anh phải chọn cách vượt qua. Điều gì sẽ xảy ra nếu anh cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu đuối? Anh sẽ nuôi dưỡng sự yếu đuối. Kết quả là một tâm trí thậm chí còn yếu đuối hơn trong tương lai. Thay vào đó, anh phải trau dồi sự tự tin!”

Geshe Wangpo ngồi thẳng lưng trên ghế, nắm chặt tay đặt trên bàn. Sức mạnh dường như tỏa ra từ ngài theo mọi hướng.

-Ngài nghĩ tôi có thể?”

-“Anh phải như thế! Vị lạt ma nói với anh một cách mạnh mẽ. “Khi anh nói với mọi người, anh phải nói với họ với đối mắt mở to và một giọng mạnh mẽ.”

Sam đang cố gắng ngồi thẳng lưng hơn trên ghế.

-Anh đã đọc Hướng dẫn lối sống của Bồ tát?”

Sam gật đầu.

“Nó nói rằng sự tự tin nên được áp dụng vào những hành động lành mạnh. Đó là điều bạn sẽ làm ở đây, phải không—những hành động lành mạnh? Bạn phải quyết định ‘Chỉ mình tôi sẽ làm điều đó.’ Đây chính là sự tự tin trong hành động.”

-Đôi mắt mở to và một giọng mạnh mẽ?” Sam hỏi lớn tiếng một cách đáng chú ý.

Vị lạt ma gật đầu. “Như thế này.”

Đáp lại sức mạnh của Geshe Wangpo, một cảm giác mới dường như đang đến với Sam. Anh ngồi thẳng hơn. Tư thế của anh tự tin hơn. Thay vì nhìn xuống, anh nhìn thẳng vào mắt Geshe Wangpo. Không có lời nào được nói ra, nhưng trong sự im lặng, một hình thức giao tiếp khác, trực quan hơn dường như đang diễn ra. Như thể Sam nhận ra rằng tất cả những vấn đề về lòng tự trọng của anh chẳng qua chỉ là những ý niệm anh tự đặt ra về bản thân, những ý niệm mỏng manh như giấy ăn. Những ý niệm tạm thời, và giống như bất kỳ ý niệm nào khác, sẽ xuất hiện, tồn tại và biến mất.

Những ý tưởng ấy, khi có mặt vị sư này, đã được thay thế bằng những ý tưởng khác, lạc quan và yêu đời hơn.

Sau một hồi lâu, anh mới lên tiếng. "Tôi không biết tên ngài," anh nói.

 -“Geshe Acharya Trijang Wangpo.”

-“Phải chăng đây không phải là tác giả của cuốn ‘Con đường đến sự hợp nhất của việc không còn học hỏi nữa’, do Stephanie Spinster dịch?”

Vị Lạt ma ngồi dựa lưng vào ghế, khoanh tay trước ngực và liếc nhìn Sam với ánh mắt thách thức đầy nghiêm khắc. "Anh biết nhiều lắm đấy," ông ta nói.

Khi tôi trở về Jokhang vào chiều hôm đó, tôi chìm đắm trong suy nghĩ về những điều mà Geshe Wangpo đã nói. Tôi cũng ngạc nhiên như Sam khi nghe rằng trong Phật giáo, thiếu tự tin được coi là một hình thức lười biếng, một tâm trí yếu đuối cần phải khắc phục. Tôi không thể không nhớ lại cảm giác bất lực của chính mình khi nói đến việc thực hành Phật pháp nói chung và thiền định nói riêng. Và làm thế nào mà, khi sống ở Jokhang và thường xuyên được nhắc nhở về những giác ngộ siêu việt có thể đạt được, việc thực hành thiền định của tôi lại quá hạn chế đến nỗi dường như chẳng đáng để tiếp tục.

Nhưng như vị Lạt ma của Franc đã nói, điều gì sẽ xảy ra nếu tôi cứ mãi khuất phục trước một tâm trí yếu đuối? Kết quả nào có thể xảy ra ngoài sự yếu đuối trong tương lai? Có một logic không thể tránh khỏi, dù có phần khó chịu, nhưng cùng với đó là một cảm giác mạnh mẽ kỳ lạ về sự tự tin.

Tối hôm đó, khi tôi ngồi thiền trên bệ cửa sổ, hai chân trước khép gọn dưới thân, mắt nhắm hờ và ria mép dựng đứng, trước khi tập trung vào hơi thở, tôi nhớ lại lời của Geshe Wangpo.

Tôi tự nhắc nhở mình rằng tôi đang sống với một hình mẫu hoàn hảo, rằng tôi được bao quanh bởi những người ủng hộ việc tu tập của mình. Không có hoàn cảnh nào tốt hơn hoàn cảnh của tôi để phát triển thành một bồ tát mèo chân chính (a true bodhicatva).

Chỉ mình tôi phải làm điều này!

Liệu tôi có đạt được trạng thái giác ngộ hoàn toàn sau buổi thiền định đó? Phải chăng sự thay đổi thái độ của tôi là nguyên nhân dẫn đến niết bàn tức thì? Thưa độc giả, tôi sẽ nói dối nếu nói như vậy. Thiền định của tôi không cho thấy dấu hiệu cải thiện tức thì, nhưng có lẽ quan trọng hơn, cảm xúc của tôi về nó đã thay đổi.

Từ lúc đó, tôi quyết định rằng mình sẽ không coi mỗi buổi thiền không tốt là lý do để bỏ cuộc. Tôi sẽ không đánh giá trải nghiệm của bản thân dựa trên những thành tựu phi thường mà các vị khách của Đức Thánh Thiện đã đạt được. Tôi là một người như Ngài, với những thiếu sót và yếu điểm của riêng mình, nhưng cũng giống như Sam, tôi có những điểm mạnh của riêng mình. Tôi sẽ thiền định, nói một cách ẩn dụ, với đôi mắt mở to và giọng nói mạnh mẽ. Có thể tôi chưa nắm vững tất cả các hướng dẫn về thiền định tập trung, nhưng tôi biết khá nhiều điều.

Thưa quý độc giả, câu chuyện này còn có phần kết. Tất nhiên rồi – đó mới là phần hay nhất, phải không? Món quà bất ngờ. Cú xoay người uyển chuyển. Khi nói đến những sự thay đổi đột ngột, tôi chính là kiểu người như vậy.

Đây chính là một cuốn sách như vậy.

Và, sau khi đã cùng tôi đi đến tận đây, dù muốn hay không, bạn tôi ơi, chắc chắn bạn là kiểu độc giả như thế!

Trước tiên, một lời thú nhận.

Tôi đã cảm thấy bất an vào ngày nghe Sam kể về những lời tự nghi ngờ ngày càng trầm trọng của anh ấy, khi anh ấy giải thích cảm giác bất tài của mình với Franc. Việc bị sa thải khỏi hiệu sách càng làm nổi bật cảm giác bị từ chối khi là người cuối cùng còn lại trong các buổi tuyển chọn đội thể thao. Việc anh ấy không tìm được tình yêu ở đại học chỉ càng củng cố thêm câu chuyện về một kẻ lạc lõng đáng thương. Thực tế là nhiều chuyên gia giỏi giang lại không có năng khiếu thể thao, hay việc một số phụ nữ xinh đẹp nhất lại hạnh phúc bên những người đàn ông mọt sách nhất, dường như không làm thay đổi những niềm tin tự hủy hoại bản thân của anh ấy. Xét về trí thông minh của anh ấy, lời giải thích đó thật kỳ lạ và thậm chí đáng cười nếu không phải vì nỗi đau mà nó rõ ràng đã gây ra cho chính anh ấy.

Thế nhưng, khi tôi lắng nghe cách anh ấy kết hợp một loạt những trải nghiệm rời rạc để tạo nên một câu chuyện bi thương phức tạp về bản thân, tôi không thể tránh khỏi một nhận thức đau đớn: Tôi cũng giống như vậy.

Chẳng phải tôi đã để một suy nghĩ tiêu cực khơi mào một suy nghĩ hoàn toàn không liên quan sao? Vừa mới suy ngẫm về kỹ năng thiền định kém cỏi của mình thì tôi lại chuyển sang tự trách mình thiếu kỷ luật trong việc ăn uống.

Khi ngắm nhìn hình hài của mình, tôi thường nghĩ về dáng đi kỳ cục do chấn thương ở chân. Điều này dẫn đến, một cách tất yếu và đáng buồn, những ký ức đầu tiên của tôi và vấn đề về dòng dõi gia đình.

Sau cú sốc mà Geshe Wangpo mang lại, tôi đã khám phá ra một động lực ngược lại: những suy nghĩ tích cực cũng nhân lên – và tạo ra những hiệu quả tuyệt vời ngoài sức tưởng tượng.

Có một câu nói được cho là của Goethe, rất được các nhà sản xuất nam châm tủ lạnh, thiệp chúc mừng và các vật phẩm trang trí truyền cảm hứng khác yêu thích. Câu nói đó là: “Bất cứ điều gì bạn có thể làm hoặc mơ ước bạn có thể làm, hãy bắt đầu. Sự táo bạo chứa đựng thiên tài, sức mạnh và phép màu.” Mặc dù Tenzin nói với tôi rằng Goethe chưa bao giờ viết điều như vậy, nhưng những lời này lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ.

Khi tôi bắt đầu tự tin hơn về việc thực hành thiền định của mình, tôi nhận thấy nó ảnh hưởng đến rất nhiều thứ khác. Tôi sẽ không ăn hết từng miếng gan gà băm nhỏ của bà Trinci chỉ vì nó có sẵn. Tôi sẽ bước vào các cuộc gặp gỡ với những vị khách quý nhất của Đức Thánh Thiện với vẻ tự tin, oai vệ.

Tại sao tôi lại không nên làm vậy?

Và điều kỳ lạ nhất: Tashi và Sashi, hai đứa trẻ đường phố trở thành sa di mà Đức Thánh Thiện đã dặn dò phải đặc biệt chăm sóc tôi, vẫn tiếp tục đến thăm tôi trong phòng thăm viếng của Jokhang thỉnh thoảng. Thường thì chúng sẽ ngồi trên sàn nhà khoảng năm phút và gãi cổ cho tôi.

Đôi khi họ sẽ đọc mật ngôn.

Một buổi chiều nọ, vài ngày sau khi thái độ của tôi thay đổi, họ tình cờ đến thăm. Theo thông lệ, tôi nằm lên một tấm thảm cầu kỳ, tay chân dang rộng, để họ có thể vuốt ve bụng tôi.

Đúng lúc đó, Chogyal bước vào phòng.

-“Rất đẹp.” Ông gật đầu với hai cậu bé sa di và mỉm cười.

-“Nó đã lớn thành một con mèo xinh đẹp,” Tashi nói.

-“Đây là giống mèo Himalaya,” Chogyal nói với họ, cúi xuống xoa bóp những đầu tai mềm mại như nhung của tôi. “Thông thường, chỉ những người giàu mới đủ khả năng mua những con mèo như thế này.”

Sashi nhìn xa xăm một lúc trước khi nói, “Mẹ của con mèo này từng thuộc sở hữu của người giàu.”

-“Thật sao?” Chogyal nhướng mày.

-“Mặc dù chúng tôi sống ở khu nghèo, nhưng chúng tôi vẫn thường thấy mẹ nó đi dọc theo bức tường từ ngôi nhà lớn—”

-“Ngôi nhà rất lớn,” Tashi chen vào. “Có cả bể bơi riêng nữa!

-“Cô mèo ấy đến đó để ăn,” Sashi nói.

-“Một ngày nọ, chúng tôi đi theo cô ấy đến chỗ những chú mèo con—” Tashi bắt đầu.

-“Đó là cách chúng tôi tìm thấy chúng,” Sashi nói tiếp.

-“Ở ngôi nhà đó có vài chiếc Mercedes bóng loáng,” Tashi nhớ lại. “Và một người hầu mà công việc duy nhất của anh ta là đánh bóng chúng!”

Chogyal đứng thẳng người. “Thật thú vị. Có vẻ như HHC cuối cùng cũng là giống thuần chủng. Nhưng anh biết đấy, lời thề của chúng ta, những người theo đạo Phật, là không nhận bất cứ thứ gì trừ khi được cho đi một cách tự nguyện. Tôi tự hỏi liệu có thể liên lạc với gia đình mà cô mèo ấy xuất thân để đề nghị trả tiền cho họ không?”/.



[1] Greenie: Người “xanh” về môi trường: tức là những người rất quan tâm đến môi trường, thích lối sống “xanh”, bảo vệ thiên nhiên, ăn chay, hạn chế nhựa, v.v.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét