Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

(1) TRÍCH DẪN TỪ LUẬN GIẢI VỀ SỰ RÈN LUYỆN NHƯ TIA SÁNG


Tác giả:  Đức Đạt Lai Lạt Ma

Giáo lý nhà Phật không chấp nhận một đấng tạo hóa mà nói rằng mọi thứ sinh khởi một cách tương duyên hay duyên sanh. Thế nên bất cứ điều gì xảy ra hình thành trong một cung cách rõ ràng và thứ tự, bằng phương tiện của nhân và quả..
The teachings of the Buddha do not accept a creator. They say that everything dependently arises. So whatever happens comes about in a rational and orderly manner, by means of cause and effect.
Không phải là có một đấng tạo hóa quyết định mọi thứ xảy ra. Mọi thứ hình thành bởi các nguyên nhân và hoàn cảnh và nếu chúng ta cố gắng nhận diện các nguyên nhân, chúng ta sẽ phải nói rằng mọi thứ đến từ nghiệp. Nghiệp, hóa ra, hình thành trong những điều kiện tâm thức đa dạng của con người và những thứ khác nhau mà họ làm, một cách đặc biệt họ làm lợi lạc hay tổn hại người khác như thế nào
It is not that there is some creator that just wills things to happen. Everything comes about by causes and circumstances and if we try to identify the causes, we would have to say that things come from karma. Karma, in turn, comes about in terms of various people’s minds and the various things that they do, particularly how they benefit or harm others.
Hạnh phúc và sự vắng bóng của rắc rối và khổ đau không phải đến chỉ từ việc cầu nguyện với Đức Phật ban hạnh phúc cho chúng ta. Chúng đến từ nổ lực của chính chúng ta trong dạng thức của vấn đề chúng ta có tịnh hóa tâm thức của chúng ta về những thái độ tiêu cực và rèn luyện chúng để có những thái độ tích cực hay không.
 Happiness and the absence of problems and suffering aren’t going to come from just praying to the Buddha to give them to us. They come from our own efforts in terms of whether we have cleansed our minds of negative attitudes and trained them to have positive ones. 
Chúng ta không giải thích rằng có một vị Thượng đế  nào đó ban hạnh phúc cho chúng ta qua sự phù hộ và gia ân của ngài, mà đúng hơn là năng lực của cá nhân con người và năng lực của Đức Phật là đồng đẳng. Mặc dù chúng ta có thể đạt được sự truyền cảm hứng từ chư Phật, nhưng điều căn bản mà chúng ta phải làm là thuần hóa tâm thức chúng ta.
We don’t explain that there is some god who gives us happiness through his blessings and grace, but rather that the power of individual people and the power of the Buddha are equal. Although we can gain inspiration from the Buddhas, the basic thing we have to do is tame our minds. 
Bất chấp hoàn cảnh là gì, bất cứ chúng ta làm điều gì, thật rất quan trọng để có một động cơ thích đáng. Với động cơ thích đáng, bất cứ điều gì chúng ta làm cũng có thể trở thành hành vi xây dựng.
No matter what the situation is, whatever we do, it is very important to have the proper motivation. With the proper motivation, whatever we do can become constructive activity.
Ngay cả việc lắng nghe giáo huấn này chỉ để đạt được giải thoát khỏi vòng luân hồi cũng là một lỗi lầm lớn. đúng hơn chúng ta cần phát triển một xu hướng của tâm giác ngộ (bodhichitta), hãy nghĩ: "Tôi đang lắng nghe giáo lý này để đem tôi đến gần Giác Ngộ hơn vì thế tôi có thể giúp đở mọi người một cách tốt đẹp nhất" - đây là loại động cơ chúng ta cần có.

Even listening to these teachings just to gain liberation from samsara is a big mistake. Rather, we need to develop a bodhichitta aim, thinking: “I’m listening to this to bring me closer to enlightenment so that I can be of best help to everybody” – this is the type of motivation we need to have.
Có những giáo huấn về vấn đề đệ tử cần lắng nghe như thế nào, tương tự như sử dụng những bình chậu. Để giữ bất cứ thứ gì, một chiếc bình không được úp xuống, có một lỗ dưới đáy, hay bị dơ bẫn bên trong. Vì vậy, chúng ta cần phải rất cởi mở và ghi nhớ những gì chúng ta nghe, và không được trộn lẫn với những định kiến.
There are teachings about how the disciple needs to listen, using the analogy of a vessel. To hold anything, a vessel must not be upside-down, have a hole in its bottom, or be dirty inside. Thus, we need to be very open and retain what we hear, and not mix it with prejudices.

Chúng ta cần lắng nghe nhằm để tiếp thu những thứ mà chúng ta chưa bao giờ học hỏi trước đây và bất cứ điều gì chúng ta học hỏi được, chúng ta cần đem vào thực hành ngay lập tức. Đây là vấn đề chúng ta rèn luyện tâm thức xảy ra như thế nào.
We need to listen to order to learn things we’ve never learned before, and whatever we learn from them, we need to put them into immediate practice. This is how the training of the mind comes about.
Hãy chính niệm với nghĩa lý của giáo huấn để tiếp nhận sự truyền khẩu giáo huấn; không chỉ là để âm thanh đi vào. Giáo nghĩa đang được giải thích ở đây và chúng ta cần cố gắng để tiêu hóa chúng, không chỉ ngồi đấy. Xa hơn, chúng ta không chỉ nghĩ, "Vâng, vâng, đúng đấy," và rồi không làm gì để thay đổi thái độ của chúng ta. Đấy là một lỗi lầm lớn.
Be mindful of what it means to receive an oral transmission: it’s not just letting sounds go in. Things are being explained here and we need to try to digest them, not just sit there. Further, we don’t just think, “Yeah, yeah, that’s right,” and then do nothing about it to change our behavior. That’s a big mistake.
Lợi ích của việc tham gia một buổi thuyết giảng, của việc lắng nghe Phật Pháp, không phải cho Đức Phật, không phải cho lạt ma. Kyabjey Ling Rinpoche thường nói, "Không phải vì lợi ích của tôi mà quý vị học hỏi Phật Pháp. Nếu quý vị nghĩ nó tốt cho quý vị, thế thì tuân theo nó." Đây là tinh túy.
The benefit of following a discourse, of listening to the Dharma, is not for the Buddha, nor for the lama. Kyabjey Ling Rinpoche often said, “It is not for my benefit that you are following the Dharma. If you think it is good for you, then follow it.” This is the essence.
Khi thực hành Phật Pháp, không cần phải kiêu hảnh về nó với người khác. Chúng ta không làm việc này vì lợi ích của Đức Phật, chúng ta thực hiện việc này vì lợi ích của chính chúng ta, để cải thiện chính chúng ta. Nếu nó vì lợi ích của những đấng cao cấp nào đó, thì đấy là một sai lầm lớn trong thái độ đối với việc thực hành Phật Pháp.
When practicing the Dharma, there’s no need to boast of it to others. We are not doing it for the benefit of the Buddha, we are doing it for our own benefit, to improve ourselves. If it is for the benefit of some higher beings, it is a great mistake in attitude toward the practice of the Dharma,

Bất chấp chúng ta ở đâu, ở Trung Hoa hay Tây Tạng, trong những người Ấn Độ hay ở phương Tây nơi có những tiến trình vật chất lớn lao. Bất cứ hạnh phúc nào có trong một hoàn cảnh, nó đến từ một tâm thức có được thuần hóa hay không. Bất chấp ngoại cảnh như thế nào, nếu tâm thức không được thuần hóa, thì chúng ta cũng không hạnh phúc. Mọi thứ đến từ thái độ của tâm thức chúng ta.
It doesn’t matter where we are, in China or in Tibet, among the Indians or in the West where there is great material progress. Whatever happiness there is in a situation, it comes from whether the mind is tamed. No matter what the external situation is, if the mind isn’t tamed, we’re not happy. Everything comes from our attitude of mind.

Mọi người có xu hướng và mong ước được hạnh phúc, của việc muốn loại bỏ các rắc rối của họ, và trên căn bản ấy và phù hợp với những ý kiến của họ về phương pháp thật sự là gì, họ tiến hành việc cố gắng để đạt đến nó. Một số người nghĩ rằng họ sẽ có được hạnh phúc này từ việc làm tổn thương và lợi dụng người khác vì thế họ mới có thể có được lợi ích. Ngay cả nếu họ hành động như vậy, chúng ta có thể thấy rằng gốc rể những hành động của họ là trên căn bản mong ước mà tất cả chúng sanh có, đó là được hạnh phúc và lìa xa khỏi những rắc rối của họ.
Everybody has the intention and wish to be happy, of wanting to get rid of their problems, and on that basis and according to their own ideas of what the actual method is, they go about trying to achieve it. Some think that they are going to get this happiness from hurting people and taking advantage of them so that they can get some profit. Even if they act like that, we can see that the root of their actions is this basic wish that all beings have, which is to be happy and to be parted from their problems.
Nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc cố gắng làm lợi ích cho chính chúng ta trong kiếp sống này, thế thì sự suy nghĩ của chúng ta quá nhỏ hẹp. Nếu chúng ta chỉ nghĩ về những kiếp sống tương lai của chúng ta, xét cho cùng nó cũng quá hạn hẹp. Nếu chúng ta chỉ nghĩ trong việc đạt đến giải thoát cho chính chúng ta, đó cũng là một phạm trù quá nhỏ bé. Nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc hoạt động làm lợi ích cho mọi người, nếu chúng ta nghĩ trong dạng thức của việc trở thành một Đức Phật, thế thì đây chính là điều gì đấy mở rộng xa hơn. Và rồi thì dĩ nhiên, trên đường, chúng ta sẽ hạnh phúc trong kiếp sống này, cũng như trong tương lai.
If we only think in terms of trying to benefit ourselves in this lifetime, then our thinking is too small. If we think only of our future lifetimes, again it is too small. If we think just in terms of gaining liberation ourselves, that is also too small a scope. If we think in terms of working to benefit everybody, if we think in terms of becoming a Buddha, then this is something far more extensive. Then of course, on the way, we’ll be happy in this life too, and in the future as well.

Thật sự muốn có thể làm lợi ích cho tất cả mọi người và hạnh phúc và cảm thấy tích cực về việc này. Tối đa như chúng ta có thể, chúng ta cần thẩm tra thái dộ, động cơ, của chúng ta và làm nó trở thành một thứ tốt đẹp.
Really want to be able to benefit everybody and be happy and feel positive about this! As much as we can, we need to examine our attitude, our motivation, and make it a good one.
Đức Phật như một vị hoa tiêu vĩ đại của con thuyền sẽ đưa mọi người vượt qua biển luân hồi. Nhấn mạnh chính ở đây là xu hướng của tâm giác ngộ, như gốc rể của từ ái và bi mẫn.
The Buddha as the great navigator of the ship that will bring everyone across the ocean of samsara. The main emphasis here is on the bodhichitta aim, having as its root love and compassion.
Để làm lợi ích cho mọi người, chúng ta cần biết hoàn cảnh thật sự của tất cả những sự hiện hữu ấy. Không có gì không thể được bao gồm trong hai chủ đề này: mọi thứ tồn tại như thế nào và quy mô của những gì tồn tại.
To benefit everybody, we need to know the actual situation of all that exists. There is nothing that cannot be included in these two topics: how things exist and the extent of what exists.
Những ai trong chúng ta đến từ Tây Tạng có thể nghĩ trong dạng thức của 3 lớp người. Một là chấp nhận tôn giáo hay tâm linh, bất cứ loại nào, một là nghĩ tâm linh làm ra mọi rắc rối, và một là dững dưng, là thứ không nói tôn giáo là tốt hay xấu, nhưng chỉ nghĩ, "Quên nó đi". Hầu hết mọi người có loại suy nghĩ này.
Those of us who are from Tibet can think in terms of three classes of people. One that accepts religion or spirituality, whichever type it might be, one that thinks religion is the cause of all problems, and one that is indifferent, which does not say that religion is good or bad, but just feels, “Forget about it.” Most people have this type of thought.
Tôn giáo là điều gì đó đáng lẻ phải đem hạnh  phúc đến cho chúng ta. Nếu nó không mang đến hạnh phúc, thì giữ nó không có lợi ích gì. Chúng ta có thể vất nó đi.
Religion is something that is supposed to bring us happiness. So, if it doesn’t bring happiness, there is no use in keeping it. We can just throw it away.
Sự hoạt động của đấu tranh giai cấp để mang đến sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống xã hội ở Tây Tạng là một tiến trình căn cứ trên sân hận, thù oán, và phẩn uất. Nó hoàn toàn không làm được gì cả. Nhưng nếu nó căn cứ trên thái độ Đại Thừa của xu hướng quan tâm cho người khác và thật sự muốn làm lợi ích cho họ, thế thì nó có thể làm lợi ích trong việc giúp đở con người cải thiện. Nhưng nếu căn cứ trên thù hận, thì nó là thảm họa.
The exercise of class struggle to bring about changes in the whole social system of Tibet is a process based on anger, hatred, and resentment. It doesn’t work at all. But if it were based on the Mahayana attitude of intense concern for other people and really wanting to benefit them, then it could be beneficial in helping people to improve. But being based on hatred, it is disastrous.
Con người không có loại đẳng cấp hay phân biệt bẩm sinh trong họ khi họ được sinh ra.
People don t have this type of class or division innate in them when they are born.
Nếu chúng ta nhìn vào những tôn giáo khác nhau vốn thừa nhận Thượng đế , tất cả họ nói rằng một cách căn bản chúng ta cần những con người tốt lành. Chúng ta cần cầu xin đến Thượng đế  và những gì xảy ra là ở trong tay của Thượng đế. Tuy thế, chúng ta vẫn cần hành động trong khuôn phép tín ngưỡng tôn giáo và chúng ta sẽ lợi lạc. Trong giáo lý nhà Phật, điều này hiện hữu thậm chí mạnh mẽ hơn làm cải thiện trong mọi thứ sẽ không phải đơn giản đến từ việc cầu xin Thượng đế , mà rằng tự chính chúng ta cần phải đặt nhấn mạnh của chúng ta và nổ lực của chính chúng ta, trong sự hoạt động của chính chúng ta.
If we look at the various religions that assert the existence of God, all of them say that basically we need to be good persons. We need to make requests to God and what happens is in God’s hands. But, nevertheless, we still need to act in a decent and religious manner and that will be beneficial. In the teachings of Buddhism, it appears even more strongly that improvement in things is not going to come simply from making requests to a god, but that we ourselves need to put our emphasis on our own efforts, on our own work.

Trong những tôn giáo hữu thần, dường như chúng ta không thật sự có bất cứ năng lực nào đối với mọi thứ. Chúng ta có thể thỉnh cầu đến Thượng đế  và, giống như cách mà Thượng đế  đã tạo ra vũ trụ, Thượng đế  tạo ra hạnh  phúc và bất hạnh của chúng ta. Căn cứ trên những lời cầu nguyện mà chúng ta đọc, có lẽ chúng ta có thể tiếp nhận những sự phù hộ nào đó và trở nên hạnh phúc, nhưng chúng ta thật sự không có năng lực cứu kính.
In the theistic religions, it seems as though we don’t really have any power over things. We can make requests to God and, just in the same way as God creates the universe, God creates our happiness and unhappiness. Based on the prayers that we say, we may perhaps receive some blessings and become happy, but we really don’t have the ultimate power.
Trong giáo lý nhà Phật, mặc dù chúng ta có thể thỉnh cầu và cầu nguyện để tiếp nhận sự "gia hộ" và truyền cảm hứng của chư Phật và v.v…, nhưng tự chúng ta phải làm những gì chư Phật đã làm. Chúng ta phải áp dụng nhiều phương pháp mà Đức Phật đã dạy chúng ta cho việc đạt đến hạnh phúc. Vì thế, tất cả những năng lực tùy thuộc vào chúng ta.
In Buddhist teachings, although we can make requests and prayers to receive the “blessings” and inspiration of the Buddhas and so forth, we ourselves have to do what the Buddhas did. We have to employ the many methods that Buddha taught for achieving happiness. Hence, all the power depends on us.
Sự bảo hộ và nương tựa trong những tôn giáo hữu thần đến từ bên ngoài: mọi thứ đến từ bên trên ban xuống cho chúng ta. Trong Phật Giáo, sự quy y nương tựa và bảo hộ đến từ bên trong, bằng việc phát triển chính chúng ta đạt đến thể trạng của một Đức Phật. Thay vì đến từ trên cao xuống chúng ta, mọi thứ hoạt động từ những nổ lực của chúng ta dưới đây đi lên.
The protection and refuge in theistic religions comes from outside: everything comes from above down to us. In the Buddhist religion, the actual refuge and protection comes from within, by developing ourselves to reach the state of a Buddha. Rather than coming from on high down to us, everything works from our efforts down here going up.
Thể trạng và mục tiêu cao nhất được diễn tả trong Ki Tô Giáo là gì? Nó là điều gì đấy tương tự, nhưng không hoàn toàn giống với cực lạc của chúng ta - nói cách khác, được sinh ra ở thiên đàng, trong một thế giới hạnh phúc của chư thiên. Điều tối cao mà quý vị có thể đạt đến bằng tất cả sự cầu xin của quý vị là được tái sanh trong thiên đàng, nơi quý vị sẽ rất hạnh phúc. Trái lại, khi chúng ta nói về giải thoát, điểm cứu kính trong sự thực tập của Phật Giáo, không chỉ đơn thuần là tái sanh trong một thiên đàng dễ thương. Đúng hơn, nó loại bỏ tất cả những vọng tưởng đủ thứ và các cảm xúc tiêu cực quấy rầy tâm thức chúng ta và xa rời những thúc đẩy nghiệp chướng sinh khởi và làm cho chúng ta hành động trong một cách không thể kềm chế, là những thứ lần lượt mang bất hạnh đến cho chúng ta. Cách thật sự để đạt đến giải thoát là không chỉ cầu nguyện để được tái sanh trong thiên đàng, mà là hành động thật sự để thuần hóa tâm thức, để loại trừ những phiền não khác nhau trong tâm thức và cải thiện thân thể; Phật Giáo căn cứ trên sự rèn luyện và cải thiện tâm thức.
What is the highest state and aim described in Christianity? It is something similar, but not quite the same as our pure lands – in other words, being born in heaven, in a celestial paradise. The best that you can achieve by all your requests is being reborn in heaven, where you will be very happy. In contrast, when we speak of liberation, the ultimate point of Buddhist practice, it is not merely rebirth in a nice heaven. Rather, it is getting rid of all the various delusions and negative emotions that disturb our minds and getting rid of the karmic impulses that come up and cause us to act in an unruly fashion, which in turn brings us unhappiness. The actual way to achieve liberation is not just to pray to be reborn in a heaven, but to actually work to tame the mind, to remove the various disturbances in the mind and the impulses that come up and cause unhappiness. And it’s not based on just training and improving the body; Buddhism is based on training and improving the mind.

Để cải thiện tâm thức, chúng ta phải tỉnh thức rất sâu sắc về thực tại là gì. Đúng là nếu chúng ta sử dụng những phương tiện thân thể khác nhau như lễ phủ phục, thực hiện ăn chay, trì tụng mật ngôn và thực tập thuyết giảng, chúng ta có thể xây dựng nên năng lực tích cực, là phước đức. Điều này rất hữu dụng. Nhưng căn bản chính cho việc đạt đến giải thoát là làm việc với tâm thức. Chính tâm thức sẽ là kết quả thật sự trong bản chất của những gì sẽ xảy ra.
To improve the mind, we have to be very deeply aware of whatreality is. It is true that if we use the various physical means such as prostrating, doing the fasting practice, saying the mantras and practice of the speech, we can build up positive force (positive potential, merit). This is very useful. But the main basis for achieving liberation is working on the mind. It is the mind that is in the nature of what the actual results will be.

Nếu chúng ta sẽ làm một vật gì bằng kim loại, thí dụ, nếu sản phẩm sau cùng được làm bằng thép, thế thì nguyên nhân cũng sẽ được làm từ thép. Chúng ta chỉ đơn thuần làm việc trên nguyên nhân vật chất, tạo dáng nó, uốn nắn nó và làm nó thành đối tượng mà chúng ta muốn. Giống như thế, cho dù chúng ta nghĩ về sản phẩm sau cùng như Giác Ngộ hay giải thoát, thì chúng ta cần tịnh hóa và định hướng tâm thức đến điểm, là chỗ mà nó được triển khai hoàn toàn phù hợp với bản chất căn bản của nó. Đấy là nguyên liệu mà chúng ta phải làm việc với, chính là tâm thức.
If we are going to make some object out of metal, for instance, if the final product is made out of iron, then the cause is also going to be made out of iron. We simply work on the causal material, shaping it, bending it and making it into the object we want. Likewise, whether we think of the final product as enlightenment or liberation, we need to purify and shape the mind to the point where it is operating fully in accord with its basic nature. That’s the material we have to work with, the mind.

Đối với việc rèn luyện tâm thức, thật quan trọng để biết làm cho nó hoạt động thế nào, tâm thức biết mọi thứ thế nào, khi chúng ta phải thật sự làm việc với những tâm thức của chúng ta. Chúng ta cần rèn luyện tâm thức chúng ta để đạt đến những sản phẩm sau cùng: thể trạng của một Đức Phật, Giác Ngộ, là thứ cũng được sản xuất từ tâm thức; nó là một sự định hình của tâm thức.
For training the mind, it is very important to know how it operates, how the mind knows things, as we have to actually work with our minds. We need to train our minds to achieve the actual final products: the state of a Buddha, enlightenment, which is also produced from the mind; it’s a shaping of the mind.
Có ba nhóm: là những người thích thú với tôn giáo, những người vô cùng chống lại tôn giáo, và những người dửng dưng. Trong đặc trưng của những người tôn giáo, có những người hữu thần: họ tin tưởng trong một Thượng đế  tạo hóa. Họ giải thích rằng hạnh phúc sẽ đến chỉ từ việc cầu xin và cầu nguyện đến một Thượng đế  toàn năng, đấng sẽ ban bố nó cho quý vị. Phật Giáo ở trong một phân phái khác của các tôn giáo, những người không thừa nhận một Thượng đế  tạo hóa, mà chỉ nói rằng hạnh phúc đến từ chính nghiệp quả của chúng ta, từ những khuynh hướng, những hạt giống và thói quen xây dựng nên sự tương tục tinh thần của chúng ta. Đây là tại sao những người Phật tử tự gọi là "những người bên trong" [nghiệp nội nhân sĩ] - hạnh phúc và năng lực tác động đến tương lai của chúng ta nằm ở bên trong [tâm thức]. Sự tập trung là ở "bên trong".
There are three groups: those who are interested in religion, those who are very much against it, and those who are indifferent. Within the category of those who are religious, there are those who are theistic: they believe in a creator god. They explain that happiness will come from just making requests and prayers to an almighty god who will grant it to you. Buddhism is within another division of religions, those that don’t assert an almighty creator god, but which just say that happiness comes from our own karma, from the tendencies, seeds and habits built up on our mental continuums. This is why Buddhists call themselves “insiders” – happiness and the power to affect our futures lie within. The focus is on “inside.”
Phật Giáo thừa nhận rằng chúng ta không có một tự ngã hay linh hồn cụ thể, không thay đổi đi từ những kiếp quá khứ đến tương lai và đấy là căn bản cho sự giải thoát.
Buddhism asserts that we do not have concrete, unchanging selves or souls that go from past 1ives to future lives and that are the basis for liberation.

Có nhiều loại tôn giáo. Chúng ta, như những người Phật tử, không thừa nhận một Thượng đế  như một đấng tạo hóa hay như một nguồn gốc của hạnh phúc. Cũng thế, chúng ta nói rằng không có một tự ngã hay linh hồn cụ thể đi đến giải thoát.
There are many various types of religions. We, as Buddhists, do not assert a god as a creator or as a source of happiness. Also, we say that there is no concrete self or soul that goes on to liberation.
Trong Phật Giáo, kiểu mẫu của hạnh kiểm là một thứ căn cứ vào bi mẫn, và quan điểm về thực tại là một thứ căn cứ trên duyên sanh, nhân và quả. Trên nền tảng ấy, giáo huấn Đại Thừa đặt sự nhấn mạnh vào bi mẫn và việc  phát triển xu hướng của một tâm giác ngộ (bodhichitta).
Within Buddhism, the mode of conduct is one that is based on compassion, and the view of reality is one that is based on dependent arising, cause and effect. On that foundation, the Mahayana teachings put the main emphasis on compassion and developing a bodhichitta aim.
Tâm giác ngộ - tâm bồ đề - như mặt trời như châu báu quý giá, và như thuốc men như thế nào. Châu báu loại trừ khốn khó của người nghèo. Tương tự, bởi vì tâm giác ngộ tiêu trừ nghèo khó là sự thiếu vắng của thực chứng, nó như kim cương. Nếu chúng ta có một viên kim cương khổng lồ, nó có thể vứt bỏ một khối lượng khổng lồ của nghèo khó. Nhưng ngay cả nếu chúng ta chỉ có một viên kim cương nhỏ, nó cũng có thể loại trừ sự nghèo khó của chính ta. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một khía cạnh nhỏ của xu hướng tâm giác ngộ, nó sẽ có lợi ích lớn lao. Cho nên nó giống như viên kim cương.
Nó như mặt trời, giống như tia sáng mặt trời làm tiêu tan bóng tối, cho nên, nếu chúng ta phát triển tâm giác ngộ, nó sẽ tiêu trừ bóng tối của những hành vi phiền não và vọng tưởng trong chúng ta và trong tất cả chúng sanh. Ngay cả nếu chỉ có một vài tia sáng của mặt trời đến từ phía sau làn mây, chúng cũng sẽ xua tan bóng tối. Tương tự thế, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một tâm giác ngộ nho nhỏ chiếu sáng qua những làn mây của những phiền não và vọng tưởng của chúng ta, như vậy cũng sẽ làm cho ánh sáng chiếu soi trong tâm thức chúng ta.
Tâm giác ngộ giống như thuốc men y dược, vì trong khi tất cả những bộ phận của cây thuốc, rể, vỏ, trái, cành, và lá đều là lợi lạc, ngay cả nếu chúng ta chỉ có một bộ phận của nó sẽ vẫn có giá trị thuốc men. Tương tự thế, nếu chúng ta đã phát triển hoàn toàn tâm giác ngộ, đấy là lợi lạc lớn; nhưng nếu thậm chí chúng ta chỉ có một phần nhỏ của nó, thì vẫn là lợi lạc. Điều này là thật  không chỉ trong dạng thức của tâm giác ngộ phổ thông, mà cũng trong dạng thức của thái độ rèn luyện tâm thức.
Những thuận lợi xa  hơn là tâm giác ngộ làm mọi người hoan hỉ; nó loại trừ ganh tỵ và v.v… Điều này thật sự quan trọng trong thế giới hiện nay, khi mà vọng tưởng cùng những cảm xúc và thái độ phiền não của mọi người đang gia tăng. Ngay cả ở Ấn Độ đây, trong hoàn cảnh như những người tị nạn của chúng ta, mặc dù chúng ta không có những tiến trình vật chất lớn lao, nhưng chúng ta thật có một số. Chúng ta đã xây dựng trường học, một số thương mại nhỏ, những thứ như vậy. Nhưng chúng cũng có thể là căn bản cho ganh tỵ và tranh đua. Cho nên chỉ có tiến trình vật chất là không đủ; tiến trình tâm linh là cần thiết đồng thời. Việc phát triển tâm giác ngộ loại trừ tất cả những thứ ghen tỵ và vọng tưởng này, và điều ấy là rất quan trọng và liên hệ bây giờ khi có hiểm họa rằng mặc dù chúng ta có một ít tiến trình ở Ấn Độ này, chúng ta có thể nghĩ rằng những hoàn cảnh ngoại tại đang giải quyết tất cả những vấn nạn của chúng ta. Đó là một vọng tưởng thật sự. Tôi đã từng thấy mọi người ở trong những hoàn cảnh cực kỳ thoải mãi về vật chất và, thường thì, họ hoàn toàn khốn khổ, với những hậu quả bất hạnh. Thế nên, thật quan trọng để hành động phát triển cả nội tại và ngoại tại.
How bodhichitta is like the sun, like a precious jewel and like medicine. Jewels eliminate the unhappiness of the poor. Similarly, because bodhichitta eliminates the poverty that is a lack of realizations, it is like a diamond. If we had a huge diamond, it could eliminate an enormous amount of poverty. But even if we had just a small diamond, it would eliminate our own poverty. Similarly, even if we have just a small aspect of a bodhichitta aim, it will be of great benefit. So it is like a diamond.
It is like the sun, for just as the rays of the sun eliminate darkness, so, if we develop bodhichitta, it will eliminate the darkness of disturbing actions and delusions within us and within all beings. Even if there are just a few rays of the sun coming from behind a cloud, they will eliminate darkness. Similarly, even if we have only a little bodhichitta shining through the clouds of our disturbances and delusions, that will also cause a light to shine within our minds.
Bodhichitta is like medicine, for while all the parts of a medicinal tree, the roots, the bark, the fruit, the branches and the leaves are of benefit, even if we have only one part it will still have medicinal value. Similarly, if we have fully developed a bodhichitta aim, it is of great benefit; but even if we have only a small part of it, it will still be beneficial. This is true not only in terms of general bodhichitta, but also in terms of attitude training.
Further advantages are that bodhichitta causes everybody to rejoice; it eliminates jealousy and so forth. This is especially important these days, when the delusions and disturbing emotions and attitudes of people are on the increase. Even here in India, in our situation as refugees, although we don’t have great material progress, we do have some. We’ve been able to build schools, some small businesses, such things as that. But they can also be the basis of jealousy and competition. So it is not enough to have material progress; spiritual progress is needed at the same time. Developing a bodhichitta aim eliminates all these jealousies and delusions, and that is very important and relevant now when there is the danger that even though we have a little bit of progress here in India, we might think that external circumstances are going to solve all our problems. That is a real delusion. I’ve seen people in situations of great material comfort and, often, they are absolutely miserable, with disastrous consequences. So it is important to work both externally and internally.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét