Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

CHƯƠNG 4: CON MÈO CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Ngày hôm đó u ám và ảm đạm khi tôi rời khỏi văn phòng của Dalai Lama để đến văn phòng của các trợ lý điều hành của ngài. Tình cờ, cả Chogyal và Tenzin đều không có mặt tại bàn làm việc, nhưng văn phòng vẫn không hoàn toàn vắng người.

Ở đó, cuộn tròn trong một cái giỏ mây bên cạnh lò sưởi, là một chú chó Lhasa Apso. Với những ai chưa quen giống chó này, Lhasa Apso là những chú chó nhỏ, lông dài, từng được nuôi để canh giữ các tu viện ở Tây Tạng. Chúng có một vị trí đặc biệt trong tình cảm của người Tây Tạng — đôi khi từ cửa sổ của tôi, tôi vẫn nhìn thấy du khách bên dưới đi vòng quanh đền cùng với những chú Lhasa Apso của họ, một nghi lễ mang điềm lành được tin là giúp đạt được tái sinh cao hơn. Nhưng khi phát hiện một chú ngay gần không gian riêng tư nhất của tôi, đó thực sự là một bất ngờ không mấy dễ chịu.

Ngủ gật trong giỏ khi tôi bước vào phòng, chú chó ngẩng mũi lên ngửi không khí trước khi quyết định an toàn và lại chui đầu lông của mình trở về giỏ. Còn tôi, tôi đi qua mà không thèm nhận biết sự hiện diện của nó, nhảy lên bàn làm việc của Chogyal và từ đó lên vị trí yêu thích của mình trên đỉnh tủ hồ sơ bằng gỗ để ngắm nhìn.

Chỉ vài phút sau, Chogyal quay lại. Ông cúi xuống, vỗ nhẹ chú chó nhỏ và nói chuyện với nó bằng giọng điệu thân thuộc và trìu mến mà tôi luôn tưởng rằng ông chỉ dành cho tôi. Khi cảm giác ghen tị dâng lên, nỗi phản bội càng trở nên sâu sắc. Không nhận ra sự hiện diện của tôi, Chogyal dành khá nhiều thời gian vuốt ve và âu yếm con vật—một sinh vật trông gầy gò—để trấn an nó về vẻ ngoài dễ thương, tính cách dễ mến và sự chăm sóc đặc biệt mà anh sẽ dành cho nó. Những cảm xúc tương tự mà ông thường thì thầm bên tai tôi—mà tôi luôn tưởng là chân thành và xuất phát từ trái tim—khi nghe ông lặp lại với sinh vật mắt đờ đẫn, lông dài này, tôi mới nhận ra rằng không hề độc quyền, chúng chỉ là những câu quen thuộc mà ông lặp lại với bất kỳ sinh vật bốn chân nào có khuôn mặt lông lá.

Vậy là mối quan hệ đặc biệt của chúng tôi… chấm hết!

Chogyal quay lại chỗ ngồi tại bàn, gõ phím máy tính mà không nhận ra rằng tôi đang ngồi cách đó chỉ vài mét và đã chứng kiến tất cả. Khi Tenzin xuất hiện khoảng 20 phút sau, ông cũng gọi tên chú chó—Kyi Kyi, phát âm kéo dài “i,” giống như trong từ “kite”—trước khi ngồi vào bàn làm việc của riêng mình.

Tôi thấy thật khó tin rằng cả hai có thể ngồi đó, đọc và trả lời e-mail như chẳng có gì bất thường xảy ra. Mọi chuyện càng trở nên căng thẳng hơn khi phiên dịch của Đức Đạt-lai Lạt-ma xuất hiện, kẹp dưới cánh tay một bản thảo vừa hoàn thành. Lobsang cao, mảnh khảnh, trẻ trung, và dường như sự bình yên tỏa ra từ từng hơi thở, từng cử chỉ của anh. Tôi đã tưởng mình là người được anh quý mến nhất, nhưng anh cũng cúi xuống vuốt ve vị khách mới đến trước khi đi qua chào tôi.

-“Và cô Sư Tử Tuyết nhỏ của chúng ta hôm nay thế nào rồi?” Anh bắt đầu cù dưới cằm tôi trước khi tôi kẹp chặt các ngón tay anh bằng hàm răng như kìm thép.

-“Tôi không biết cô ấy đã gặp vị khách đặc biệt của chúng ta,” Chogyal nói, ngước nhìn tôi với nụ cười quen thuộc, như thể tôi cũng phải vui mừng y như ông vậy.

-“Không hẳn là vị khách đặc biệt của cô ấy,” Tenzin nhận xét. Ông quay hẳn sang nhìn tôi và nói thêm,

-“Nhưng hy vọng cô có thể tìm được một chỗ trong trái tim cho Kyi Kyi.”

Mắt tối sầm vì khó chịu, tôi buông tay Lobsang, đi xuống bàn, rồi xuống sàn, và lầm lũi bước ra khỏi phòng, tai áp sát về phía sau. Ba trợ lý của Đức Đạt-lai Lạt-ma dường như chẳng hề để ý.

Vào giờ ăn trưa, tôi quan sát thấy Chogyal dắt chó đi dạo. Nó đi cạnh ông một cách ngoan ngoãn khi họ đi vòng quanh ngôi chùa, và có nhiều lần dừng lại để vuốt ve, âu yếm từ những người Tây Tạng ngưỡng mộ khi họ ra vào khuôn viên chùa.

Trong bếp, Chogyal cho cả hai chúng tôi ăn đúng giờ như thường lệ. Nhưng thật khó mà không so sánh đống thức ăn khổng lồ trên đĩa của Kyi Kyi với phần ăn khiêm tốn thường ngày của tôi. Hay việc Chogyal ở lại để trông chừng con chó khi nó ăn ngấu nghiến, làm rầm rĩ lên, vuốt ve và thưởng cho nó một cái vỗ sau bữa, trong khi để tôi tự lo liệu phần mình.

Khi chúng tôi tình cờ gặp Đức Đạt-lai Lạt-ma ở hành lang sau đó, Ngài cũng cúi xuống chào chú chó.

-“Vậy đây là Kyi Kyi phải không?”

Ngài xác nhận, vừa vỗ về chú chó với sự trìu mến nhiều hơn mức tôi mong muốn.

-“Bộ lông đẹp quá! Chú nhỏ này thật đáng yêu và bảnh trai!”

Họ làm ầm ĩ đến mức bạn sẽ tưởng như họ chưa bao giờ thấy một chú Lhasa Apso trước đây!

Và mặc dù tiếng nói huyên náo không ngớt, không ai trả lời câu hỏi nào của tôi — chẳng hạn như chú chó này đang làm gì ở đây?nó sẽ ở lại bao lâu?

Tôi rất hy vọng rằng Đức Đạt-lai Lạt-ma không có ý định nhận nuôi chú chó. Trong mối quan hệ này không còn chỗ cho cả ba chúng tôi. Nhưng ngày hôm sau, khi tôi ra ngoài, Kyi Kyi lại ở đó trong chiếc giỏ của nó. Và ngày hôm sau nữa cũng vậy.

Chính vì lý do này, một vị khách khác, có phần quyền lực hơn trong tuần đó, đã trở thành một sự xao lãng đáng hoan nghênh.

Cả McLeod Ganj đều biết ai đó đặc biệt sắp đến khi một chiếc Range Rover màu đen khổng lồ chầm chậm lăn bánh lên đồi hướng về Jokhang.Người dân địa phương và khách du lịch đều trố mắt nhìn chiếc xe sáng loáng, đắt tiền và đồ sộ, hoàn toàn khác với không khí bình thường của thị trấn, cứ như thể nó từ một hành tinh khác xuất hiện. Ai đang ngồi sau những tấm kính tối ấy? Phải làm gì để được đưa đi một cách bí mật xa hoa như vậy?

Một câu hỏi không cần phải đặt ra là vị khách đến để gặp ai. Quả nhiên, chiếc Range Rover cuối cùng cũng chầm chậm tiến qua cổng, hướng về ngôi nhà của Rinpoche, Bồ-đề Miêu, Sư Tử Tuyết của Jokhang, Sinh vật Đẹp Nhất Từng Sống trên đời — và người bạn đồng hành con người của nó.

Tôi nhận ra vị khách ngay từ khoảnh khắc ông bước vào phòng của Đức Đạt-lai Lạt-ma. Rốt cuộc, ông là một trong những ông đạo (guru) phát triển bản thân nổi tiếng và lâu đời nhất trên thế giới. Khuôn mặt ông xuất hiện trên bìa hàng triệu cuốn sách và DVD. Ông đã đi tour qua các thủ đô thế giới, diễn thuyết trước đám đông khổng lồ tại các địa điểm lớn nhất của các thành phố.Ông có một nhóm người hâm mộ riêng trong giới thượng lưu Hollywood, đã gặp gỡ các tổng thống Mỹ, và xuất hiện đều đặn trên mọi chương trình trò chuyện lớn (talk show).

Tuy nhiên, sự thận trọng sâu sắc của tôi ngăn tôi tiết lộ ông ấy là ai — thật sự đấy, nhất là khi cân nhắc đến những tiết lộ “nóng bỏng” mà ông sắp đưa ra, vốn chắc chắn không dành cho công chúng rộng rãi. Ngay khi ông bước qua cánh cửa, sự hiện diện của ông đã đầy uy quyền và cuốn hút.

Như thể chính sự hiện diện của ông buộc bạn phải nhìn về phía ông. Tất nhiên, Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng có một uy lực mạnh mẽ, nhưng một bản chất hoàn toàn khác. Trong trường hợp Ngài, đó không phải là sự hiện diện cá nhân, mà là cuộc gặp gỡ với sự Lương Thiện. Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên bên Ngài, bạn bị cuốn vào một trạng thái, nơi mà mọi suy nghĩ và lo lắng bình thường dần trở nên vô nghĩa, và bạn nhận thức được, một cách lạ lùng nhưng rõ rệt, rằng bản chất cốt yếu của chính bạn là tình yêu vô bờ, và khi nhận ra điều này, mọi việc đều ổn cả.

Vị khách của chúng tôi — gọi tạm là Jacksải bước vào phòng, dâng Ngài một chiếc khăn theo phong tục truyền thống, và sớm ngồi xuống chiếc ghế bành đặt dành riêng cho khách.

Đây vốn là những hành động mà hầu hết khách đều thực hiện, nhưng cách Jack làm khiến chúng trở nên đặc biệt quyền lực, như thể mọi lời nói, mọi cử chỉ của ông đều thấm nhuần ý nghĩa.

Cuộc trò chuyện bắt đầu với những lời chào hỏi thông thường, rồi Jack tặng Đức Đạt-lai Lạt-ma một bản sách mới nhất của mình. Khi ông kể với Ngài về chuyến lưu diễn thế giới một năm trước, lời nói của ông mê hoặc đến mức khó rời mắt. Khi ông mô tả một bộ phim mà ông vừa xuất hiện gần đây, thật dễ dàng tưởng tượng sức hút trên màn ảnh của Jack.

Nhưng sau mười phút, cuộc trò chuyện nhường chỗ cho sự im lặng. Đức Đạt-lai Lạt-ma ngồi trong ghế, thư giãn, tập trung, với nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt. Dường như dù Jack đầy tự tin và uy lực, ông vẫn khó mà đi thẳng vào lý do mình đến đây. Cuối cùng, ông bắt đầu nói lại — nhưng khi đó, một điều phi thường bắt đầu hé mở.

-Thưa Ngài, như Ngài có lẽ biết, tôi đã làm huấn luyện viên cuộc sống hơn hai mươi năm nay.

Tôi đã giúp hàng triệu người trên khắp thế giới tìm thấy đam mê, thực hiện ước mơ và sống một cuộc đời thành công và viên mãn. Những lời nói trôi ra một cách tự nhiên và quen thuộc với ông, nhưng khi ông phát biểu, có điều gì đó về ông bắt đầu thay đổi — một điều mà tôi khó nhận diện rõ ràng.

-Tôi đã giúp mọi người tìm thấy sự viên mãn trong mọi khía cạnh của cuộc sống, không chỉ về vật chất.” Jack tiếp tục. Tôi đã thúc đẩy họ phát triển những tài năng và khả năng riêng biệt. Để tạo dựng những mối quan hệ thành công.

Với mỗi câu nói, dường như ông mất đi một phần vẻ bóng bẩy của mình. Ông co lại, gần như vật lý, trong chiếc ghế của mình.

-Tôi đã tạo dựng công ty tự phát triển lớn nhất nước Mỹ, có lẽ là lớn nhất thế giới. Ông nói điều đó gần như như một sự thú nhận thất bại. Trong quá trình đó, tôi đã trở thành một người rất thành công và giàu có.

Câu cuối cùng này gây ấn tượng mạnh nhất. Khi ông nói ra thành tựu của tất cả những gì mình đã nỗ lực đạt được, ông dường như cũng đang thú nhận rằng tất cả điều đó đã chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân mình. Ông cúi người về phía trước, vai hơi tròn, khuỷu tay đặt trên đầu gối. Ông trông như đã vỡ vụn. Khi ngẩng lên nhìn Đức Đạt-lai Lạt-ma, ánh mắt ông cầu khẩn và van nài.

-Nhưng điều đó chẳng có tác dụng với tôi.

Đức Đạt-lai Lạt-ma nhìn ông với ánh mắt đầy cảm thông.

Trong chuyến lưu diễn thế giới lần trước, tôi kiếm được một phần tư triệu đô la mỗi đêm. Chúng tôi đã lấp đầy những địa điểm trong nhà lớn nhất khắp nước Mỹ. Nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy trống rỗng đến thế. Thúc đẩy mọi người trở nên giàu có, thành công và có những mối quan hệ tuyệt vời bỗng trở nên vô nghĩa. Có thể trước đây đó là ước mơ của tôi, nhưng không còn nữa.”

-Tôi về nhà và nói với mọi người rằng mình cần nghỉ ngơi. Tôi ngừng đến chỗ làm. Tôi để râu quai nón. Tôi dành nhiều thời gian ở nhà chỉ để đọc sách và chăm sóc vườn. Vợ tôi, Bree, không thích điều đó.”

Cô ấy vẫn muốn dành cuối tuần bên các ngôi sao, đi tiệc tùng và xuất hiện trên các trang xã hội. Lúc đầu, cô ấy nghĩ tôi đang trải qua khủng hoảng tuổi trung niên. Rồi mọi chuyện trở nên căng thẳng. Mối quan hệ của chúng tôi ngày càng tệ đi, cho đến khi cô ấy nói muốn ly hôn. Đã ba tháng trôi qua. Bây giờ, tôi bối rối đến mức không biết phải làm gì.

-Và Ngài biết phần tệ nhất không? Tôi thật sự cảm thấy tệ vì chính cảm giác tệ đó. Mọi người ngoài kia đều nghĩ rằng tôi đang sống giấc mơ. Họ tưởng rằng cuộc sống của tôi trọn vẹn và hạnh phúc đến mức không gì sánh bằng. Tôi còn khuyến khích họ nghĩ như vậy, vì tôi thật sự tin rằng điều đó đúng. Nhưng tôi đã sai. Nó không đúng. Chưa bao giờ đúng.”

Quyền uy lấn át trước kia đã tan biến, sức hút cá nhân đã hòa tan, chỉ còn lại người đàn ông buồn bã và tàn tạ này. Thật khó để không cảm thấy thương Jack. Sự khác biệt giữa hình ảnh ông ta thể hiện và con người thật đang lộ ra không thể lớn hơn. Nhìn từ bên ngoài, sự giàu có, nổi tiếng và địa vị “ông đạo (guru) của ông có vẻ như trang bị cho ông khả năng giải quyết các vấn đề cuộc sống tốt hơn hầu hết mọi người.

Nhưng dường như điều ngược lại mới là đúng.

**Đức Đạt-lai Lạt-ma cúi người về phía trước trong ghế. Tôi xin lỗi vì những gì ông đang trải qua lại đau đớn đến thế.”

-Nhưng còn có một cách nhìn khác. Những gì ông đang trải qua rất có ích. Có lẽ sau này ông sẽ thấy đây là điều tốt nhất từng xảy ra với mình. Sự bất mãn với thế giới vật chất là—nói sao nhỉ?— cần thiết cho sự phát triển tâm linh.”

Ý tưởng rằng nỗi bất hạnh hiện tại của mình lại có ích khiến Jack rất ngạc nhiên. Nhưng câu trả lời của Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng khiến ông băn khoăn.

-Ngài không nói rằng sự giàu có có vấn đề gì chứ?

-Ồ không,” Ngài trả lời. “Giàu có là một dạng quyền lực, một năng lượng. Nó có thể rất có lợi khi được sử dụng cho những mục đích tốt. Nhưng, như ông thấy, nó không phải là nguyên nhân thật sự của hạnh phúc. Một số người hạnh phúc nhất mà ta biết lại có rất ít tiền.”

-Còn việc phát huy khả năng riêng của mình thì sao?” Jack quay sang niềm tin cũ khác. “Ngài có đang nói rằng điều đó cũng không phải là nguyên nhân của hạnh phúc sao?

Đức Đạt Lai Lạt Ma mỉm cười:
- “Ai trong chúng ta cũng có những khuynh hướng riêng, những điểm mạnh nhất định. Việc nuôi dưỡng những khả năng này có thể rất hữu ích. Nhưng—cũng giống như tiền bạc—điều quan trọng không phải là bản thân các khả năng ấy, mà là cách ta sử dụng chúng.”

-“Còn chuyện lãng mạn và tình yêu thì sao?” Lúc này, Jack dường như đã vét đến tận cùng những niềm tin cũ của mình, và sự hoài nghi của anh cũng lộ rõ.

“Ông có một mối quan hệ hạnh phúc lâu dài với vợ mình không?”

-“Mười tám năm rồi.”

-“Và rồi”—Đức Đạt Lai Lạt Ma xoay hai lòng bàn tay hướng lên—“sự thay đổi. Vô thường. Đó là bản chất của mọi sự vật, đặc biệt là các mối quan hệ. Chúng chắc chắn không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc.”

-“Khi ngài nói ‘nguyên nhân chân thật’, ý ngài là gì?”

-“Một nguyên nhân có thể nương tựa được—một nguyên nhân luôn luôn cho kết quả như vậy. Nhiệt tác dụng lên nước là nguyên nhân chân thật tạo ra hơi nước. Bất kể ai áp dụng nhiệt, áp dụng bao nhiêu lần trước đó, hay ở đâu trên thế giới, kết quả vẫn luôn là hơi nước.

-Còn trong trường hợp tiền bạc, địa vị hay các mối quan hệ”—Đức Đạt Lai Lạt Ma khẽ cười—“ta có thể dễ dàng thấy rằng chúng không phải là những nguyên nhân chân thật của hạnh phúc.”

Mặc dù chân lý hiển nhiên trong những điều Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa nói đã xác nhận chính kinh nghiệm của Jack, sự đơn giản và rõ ràng trong cách ngài diễn đạt dường như vẫn khiến vị khách của chúng tôi sửng sốt.

-“Thật không ngờ rằng suốt bao năm qua tôi đã rao giảng ‘Phúc Âm của sự phát triển bản thân’, vậy mà tôi đã hiểu sai quá nhiều.”

-“Bạn không nên quá khắt khe với chính mình,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Nếu bạn giúp mọi người sống tích cực hơn, mang lại lợi ích cho người khác cũng như cho chính họ, thì đó là điều tốt—một điều rất tốt. Nguy cơ nằm ở chỗ việc phát triển bản thân có thể dẫn chúng ta đến sự ích kỷ hơn, sự thu mình vào bản thân, và sự say mê chính mình.

-“Và những điều đó không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc, mà ngược lại.”

Jack dừng lại một lúc để suy ngẫm, rồi hỏi:
-“Vậy còn những nguyên nhân chân thật của hạnh phúc thì sao? Chúng ta có cần tự mình khám phá ra chúng, hay có những nguyên tắc chung? Liệu chúng ta có phải quay lưng lại với thế giới vật chất không?”

Jack chưa kịp nói hết thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bật cười.
-“Ồ, không!” ngài nói. “Trở thành một tu sĩ cũng không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc!”

Sau đó, với vẻ nghiêm túc hơn, ngài tiếp tục:
-“Mỗi người chúng ta cần tự tìm ra những phương pháp riêng để nuôi dưỡng hạnh phúc, nhưng vẫn có những nguyên tắc chung. Có hai nguyên nhân chân thật chính của hạnh phúc: thứ nhất là ước muốn mang lại hạnh phúc cho người khác—điều mà Phật giáo gọi là tình thương; và thứ hai là ước muốn giúp người khác thoát khỏi sự bất mãn hay khổ đau—điều mà chúng tôi gọi là lòng từ bi.”

-“Bạn thấy đấy, sự chuyển đổi chính là từ việc đặt bản thân ở trung tâm của suy nghĩ sang đặt người khác vào đó. Đó là—bạn gọi là gì nhỉ?—một nghịch lý: càng hướng tâm đến hạnh phúc của người khác, chúng ta lại càng trở nên hạnh phúc hơn. Người đầu tiên được lợi chính là bản thân mình. Tôi gọi đó là sự ‘ích kỷ một cách khôn ngoan’.”

-“Một triết lý thú vị,” Jack trầm ngâm. “Ích kỷ một cách khôn ngoan.”

-“Chúng ta nên kiểm nghiệm những nguyên tắc này bằng chính trải nghiệm của mình để xem chúng có đúng hay không,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Ví dụ, hãy nghĩ về những lúc trong đời bạn cảm thấy mãn nguyện sâu sắc. Có thể bạn sẽ thấy rằng khi đó tâm trí bạn đang hướng đến người khác. Rồi hãy so sánh: nghĩ về những lúc bạn bất hạnh hay xáo động nhất—khi ấy bạn đang nghĩ đến ai?”

Khi vị khách còn đang suy ngẫm, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục:
-“Nghiên cứu khoa học rất hữu ích. Người ta đã thực hiện các chụp cộng hưởng từ (MRI) trên những người hành thiền khi họ tập trung vào các đối tượng khác nhau. Ta thường nghĩ rằng người hành thiền sẽ đạt hạnh phúc lớn nhất khi tâm họ hoàn toàn tĩnh lặng và thư giãn. Nhưng vùng vỏ não trước trán—phần não liên quan đến cảm xúc tích cực—lại hoạt động mạnh khi người ta thiền về hạnh phúc của người khác. Vì vậy, càng hướng tâm đến người khác, chúng ta càng có thể trở nên hạnh phúc hơn.”

Jack gật đầu.
-“Sự phát triển bản thân chỉ đưa ta đi được đến một mức nào đó. Rồi cần phải có sự phát triển vì người khác.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma chắp hai tay lại, mỉm cười:
-“Đúng vậy.”

Jack ngập ngừng một lúc rồi nói:
-“Giờ tôi hiểu vì sao ngài nói rằng có thể có điều gì đó hữu ích rút ra từ trải nghiệm này.”

-“Có một câu chuyện, một ẩn dụ, có lẽ bạn sẽ thấy hữu ích,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Một người đàn ông trở về nhà và thấy một đống phân cừu khổng lồ bị đổ trước sân nhà mình. Ông ta không đặt mua nó. Ông ta không muốn nó. Nhưng bằng cách nào đó, nó vẫn ở đó, và lựa chọn duy nhất của ông ta lúc này là quyết định phải làm gì với nó. Ông ta có thể bỏ nó vào túi và đi khắp nơi cả ngày than phiền với mọi người về chuyện đã xảy ra. Nhưng nếu làm vậy, sau một thời gian người khác sẽ bắt đầu tránh né anh ta. Điều hữu ích hơn là anh ta đem nó bón cho khu vườn của mình.”

“Chúng ta đều phải đối diện với cùng một lựa chọn này khi xử lý các vấn đề. Ta không tự mình tìm đến chúng. Ta không muốn chúng. Nhưng cách ta đối diện với chúng mới là điều quan trọng nhất. Nếu ta khôn ngoan, những vấn đề lớn nhất có thể dẫn đến những hiểu biết sâu sắc nhất.”

Chiều hôm đó, tôi lại ngồi ở chỗ quen thuộc trong văn phòng các trợ lý điều hành. Nhớ lại sự xuất hiện của Jack vào buổi sáng, tôi vẫn không khỏi kinh ngạc trước việc ông đã làm căn phòng như bừng lên mạnh mẽ thế nào ngay khi bước qua cửa—và anh lại khác biệt đến dường nào khi kể với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những cảm xúc thật của mình. Sự khác biệt giữa vẻ bề ngoài và thực tại dường như không thể rõ ràng hơn.

Tôi cũng suy ngẫm về lời khuyên của Đức Đạt Lai Lạt Ma về cách đối diện với những vấn đề trong cuộc sống. Chúng không bao giờ được ta chủ động tìm đến, nhưng cách ta xử lý chúng sẽ định hình hạnh phúc hay bất hạnh trong tương lai của ta.

Cuối buổi chiều hôm đó, tài xế của Đức Đạt Lai Lạt Ma xuất hiện trong văn phòng. Đã hơn một tuần kể từ lần cuối ông ghé qua, và ông lập tức chú ý đến con chó Lhasa apso, đang cuộn tròn trong chiếc giỏ của mình.

-“Con này là ai vậy?” ông hỏi Chogyal, người đang dọn dẹp bàn làm việc để chuẩn bị ra về.

-“Chỉ là một chú chó chúng tôi đang chăm sóc tạm thời cho đến khi tìm được nhà mới cho nó.”

-“Một người tị nạn Tây Tạng nữa à?” người tài xế đùa, vừa cúi xuống xoa đầu con chó.

-“Cũng tương tự,” Chogyal nói. “Nó từng thuộc về hàng xóm của anh họ tôi ở Dharamsala. Họ chỉ nuôi nó được vài tuần, và anh họ tôi cứ nghe thấy tiếng nó kêu rên từ trong sân nhà họ.

-“Rồi khoảng một tuần trước, anh họ tôi nghe thấy tiếng chó sủa vào ban đêm phát ra từ trong nhà. Anh ấy đến gõ cửa. Không ai trả lời, nhưng tiếng sủa thì dừng lại. Đêm hôm sau cũng vậy. Anh bắt đầu tự hỏi chuyện gì đang xảy ra. Có vẻ như những người hàng xóm không chăm sóc con chó này tốt.”

Người tài xế lắc đầu.

-“Hai ngày sau, anh họ tôi tình cờ nhắc đến con chó với người hàng xóm bên kia đường, và người này nói rằng chủ của nó đã chuyển đi từ cuối tuần trước. Dọn sạch sẽ, mang đi hết mọi thứ.”

-“Và bỏ rơi con chó con à?” người tài xế hỏi.

Chogyal gật đầu. “Anh họ tôi lập tức chạy sang và phá cửa vào trong nhà. Anh ấy thấy Kyi Kyi nằm ở cuối một sợi xích nặng trong bếp, gần như kiệt sức. Một cảnh tượng thật đáng thương. Không có thức ăn hay nước uống.”

Anh ấy lập tức đưa con chó về nhà và cố gắng cho nó uống nước, rồi cho ăn. Nhưng anh họ tôi không thể giữ nó, vì anh ấy sống một mình và hầu như không có mặt ở nhà. Vì vậy”—Chogyal nhún vai—“không còn chỗ nào khác để đi, nó đã được đưa đến chỗ chúng tôi.”

Đó là lần đầu tiên tôi được nghe về lai lịch của Kyi Kyi, và tôi không thể giả vờ, thưa bạn đọc, rằng câu chuyện ấy không ảnh hưởng đến tôi. Tôi nhớ mình đã từng ghen tị với Kyi Kyi khi nó mới đến, khó chịu trước tình cảm mà Chogyal dành cho nó và cả thức ăn mà anh ấy cho nó. Nhưng tôi cũng nhớ lại con chó đã trầm lặng như thế nào, và bộ lông của nó trong tình trạng tồi tệ ra sao. Nếu tôi biết toàn bộ câu chuyện, có lẽ tôi cũng đã cảm thấy thương hại nó.

-“Có vẻ như các anh đã bắt đầu mở một trại cứu hộ động vật rồi,” tài xế của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét. “Mousie-Tung đã thích nghi thế nào với ‘đứa trẻ mồ côi’ mới?”

Râu tôi khẽ giật vì khó chịu. Tài xế của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ trước đến nay vẫn luôn là một người thô lỗ trong mắt tôi. Tại sao ông ta cứ nhất quyết gọi tôi bằng cái tên kinh khủng đó?

-“Ồ, tôi nghĩ cô ấy vẫn đang cân nhắc về nó,” Chogyal liếc nhìn tôi khi đưa ra đánh giá đầy thiện chí như thường lệ.

-“Đang cân nhắc à?” Người tài xế bước đến tủ và đưa tay vuốt ve tôi. “Nếu vậy thì cô ấy là một con mèo rất khôn ngoan. Phần lớn chúng ta chỉ đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài.”

-“Và như chúng ta đều biết”—Chogyal cài chặt chiếc cặp tài liệu lại—“vẻ bề ngoài có thể đánh lừa rất nhiều.”

Sáng hôm sau khi tôi đến văn phòng các trợ lý và nhìn thấy Kyi Kyi trong chiếc giỏ của nó, thay vì hoàn toàn phớt lờ nó như trước, tôi đã bước lại gần và ngập ngừng ngửi nó. Kyi Kyi cũng đáp lại theo cách tương tự, rồi nghiêng đầu và nhìn tôi thật lâu. Qua khoảnh khắc giao tiếp đó, chúng tôi đã đạt được một kiểu thấu hiểu nào đó.

Tuy nhiên, tôi không leo vào giỏ của nó và để nó liếm mặt tôi. Tôi không phải kiểu mèo như vậy. Và đây cũng không phải loại sách như vậy. Nhưng tôi cũng không còn ghen tị với Kyi Kyi nữa.

Chogyal có thể dắt nó đi dạo, cho nó ăn và thì thầm những lời ngọt ngào với nó bao nhiêu tùy thích, và điều đó cũng không làm tôi bận tâm chút nào. Tôi biết rằng đằng sau vẻ bề ngoài này là một thực tại khác. Như tôi đang dần khám phá, ngay cả những ấn tượng ban đầu mạnh mẽ nhất cũng có thể che giấu một sự thật rất khác.

Tôi cũng nhận ra rằng mình cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều khi không còn ghen tị. Sự đố kỵ và oán giận là những cảm xúc đòi hỏi, chúng đã làm xáo trộn sự an yên trong tâm trí tôi. Vì chính bản thân mình, cũng chẳng có lý do gì để bị cuốn vào những cảm xúc bất hạnh và phi lý như vậy.

Chưa đầy sáu tháng sau, một bức thư được gửi đến Đức Đạt Lai Lạt Ma trên giấy tiêu đề dập nổi rất trang trọng của Viện Phát triển Vì Người Khác (Institute for Other Development) mới do Jack thành lập. Sau chuyến thăm Jokhang, ông đã chuyển giao việc quản lý công ty “Phát triển Bản thân” cho một đồng nghiệp và lập ra một viện đối tác tập trung vào “Phát triển Vì Người Khác”.

Ý tưởng của viện là khuyến khích càng nhiều người càng tốt dành thời gian, tiền bạc và kỹ năng kết nối xã hội của họ cho các hoạt động thiện nguyện có ý nghĩa. Ban đầu, Jack muốn tự mình chỉ định những tổ chức “xứng đáng” được hỗ trợ. Nhưng theo tinh thần “Phát triển Vì Người Khác”, ông đã quyết định để mọi người tự lựa chọn những tổ chức mà họ muốn đóng góp.

Chỉ trong vài tháng, hơn 10.000 người đã đăng ký trở thành người ủng hộ, và hơn 3 triệu đô la đã được quyên góp cho rất nhiều tổ chức từ thiện khác nhau hoạt động trên khắp thế giới. Làn sóng ủng hộ mạnh mẽ này, Jack nói, vừa khiến ông phấn khích, vừa khiêm nhường, lại vừa tiếp thêm ý nghĩa cho cuộc sống. Ông chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc hay viên mãn hơn thế trong đời mình.

Liệu Đức Đạt Lai Lạt Ma có cân nhắc tham dự hội nghị khai mạc của viện vào cuối năm, và có thể phát biểu về những nguyên nhân chân thật của hạnh phúc không?

Khi Tenzin đọc bức thư của Jack cho Chogyal, giọng ông có một cảm xúc khác thường. “Dù tôi đã làm việc ở đây hơn hai mươi năm,” ông nói, “tôi vẫn luôn ngạc nhiên. Khi con người để lợi ích của người khác trở thành động cơ của mình, kết quả thật sự là…”

-“Không thể đo lường được?” Chogyal gợi ý.

-“Đúng. Chính xác là như vậy.”/.

***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét