Nguyên tác: Dalai Lama’s Cat
Tác giả: David Michie
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Ngày hôm đó u ám và ảm đạm khi tôi rời khỏi văn phòng của
Dalai Lama để đến văn phòng của các trợ lý điều hành của ngài. Tình cờ, cả
Chogyal và Tenzin đều không có mặt tại bàn làm việc, nhưng văn phòng vẫn không
hoàn toàn vắng người.
Ở đó, cuộn tròn trong một cái giỏ mây bên cạnh lò sưởi,
là một chú chó Lhasa Apso. Với những ai chưa quen giống chó này, Lhasa Apso là
những chú chó nhỏ, lông dài, từng được nuôi để canh giữ các tu viện ở Tây Tạng.
Chúng có một vị trí đặc biệt trong tình cảm của người Tây Tạng — đôi khi từ cửa
sổ của tôi, tôi vẫn nhìn thấy du khách bên dưới đi vòng quanh đền cùng với những
chú Lhasa Apso của họ, một nghi lễ mang điềm lành được tin là giúp đạt được tái
sinh cao hơn. Nhưng khi phát hiện một chú ngay gần không gian riêng tư nhất của
tôi, đó thực sự là một bất ngờ không mấy dễ chịu.
Ngủ gật trong giỏ khi tôi bước vào phòng, chú chó ngẩng
mũi lên ngửi không khí trước khi quyết định an toàn và lại chui đầu lông của
mình trở về giỏ. Còn tôi, tôi đi qua mà không thèm nhận biết sự hiện diện của
nó, nhảy lên bàn làm việc của Chogyal và từ đó lên vị trí yêu thích của mình
trên đỉnh tủ hồ sơ bằng gỗ để ngắm nhìn.
Chỉ vài phút sau, Chogyal quay lại. Ông cúi xuống, vỗ nhẹ chú chó nhỏ và nói chuyện với
nó bằng giọng điệu thân thuộc và trìu mến mà tôi luôn tưởng rằng ông chỉ dành cho tôi. Khi cảm giác ghen tị dâng
lên, nỗi phản bội càng trở nên sâu sắc. Không nhận ra sự hiện diện của tôi,
Chogyal dành khá nhiều thời gian vuốt ve và âu yếm con vật—một sinh vật trông gầy
gò—để trấn an nó về vẻ ngoài dễ thương, tính cách dễ mến và sự chăm sóc đặc biệt
mà anh sẽ dành cho nó. Những cảm xúc tương tự mà ông thường thì thầm bên tai tôi—mà tôi luôn tưởng
là chân thành và xuất phát từ trái tim—khi nghe ông lặp lại với sinh vật mắt đờ đẫn, lông dài
này, tôi mới nhận ra rằng không hề độc quyền, chúng chỉ là những câu quen thuộc
mà ông lặp lại với bất kỳ sinh vật bốn chân nào có
khuôn mặt lông lá.
Vậy là mối quan hệ đặc biệt của chúng tôi… chấm hết!
Chogyal quay lại chỗ ngồi tại bàn, gõ phím máy tính mà
không nhận ra rằng tôi đang ngồi cách đó chỉ vài mét và đã chứng kiến tất cả.
Khi Tenzin xuất hiện khoảng 20 phút sau, ông cũng
gọi tên chú chó—Kyi Kyi, phát âm
kéo dài “i,” giống như trong từ “kite”—trước khi ngồi vào bàn làm việc của
riêng mình.
Tôi thấy thật khó tin rằng cả hai có thể ngồi đó, đọc và
trả lời e-mail như chẳng có gì bất thường xảy ra. Mọi chuyện càng trở nên căng
thẳng hơn khi phiên dịch của Đức Đạt-lai Lạt-ma xuất hiện, kẹp dưới cánh
tay một bản thảo vừa hoàn thành. Lobsang cao, mảnh khảnh, trẻ trung, và dường
như sự bình yên tỏa ra từ từng hơi thở, từng cử chỉ của anh. Tôi đã tưởng mình
là người được anh quý mến nhất, nhưng anh cũng cúi xuống vuốt ve vị khách mới đến
trước khi đi qua chào tôi.
-“Và
cô Sư Tử Tuyết nhỏ của chúng ta hôm nay thế nào rồi?” Anh bắt đầu cù dưới cằm
tôi trước khi tôi kẹp chặt các ngón tay anh bằng hàm răng như kìm thép.
-“Tôi
không biết cô ấy đã gặp vị khách đặc biệt của chúng ta,” Chogyal nói, ngước
nhìn tôi với nụ cười quen thuộc, như thể tôi cũng phải vui mừng y như ông vậy.
-“Không
hẳn là vị khách đặc biệt của cô ấy,” Tenzin nhận xét. Ông quay hẳn sang nhìn tôi và nói thêm,
-“Nhưng
hy vọng cô có thể tìm được một chỗ trong trái tim cho Kyi Kyi.”
Mắt tối sầm vì khó chịu, tôi buông tay Lobsang, đi xuống
bàn, rồi xuống sàn, và lầm lũi bước ra khỏi phòng, tai áp sát về phía sau. Ba
trợ lý của Đức Đạt-lai
Lạt-ma
dường như chẳng hề để ý.
Vào giờ ăn trưa, tôi quan sát thấy Chogyal dắt chó đi dạo.
Nó đi cạnh ông một cách ngoan ngoãn khi họ
đi vòng quanh ngôi chùa, và có nhiều lần dừng lại để vuốt ve, âu yếm từ những
người Tây Tạng ngưỡng mộ khi họ ra vào khuôn viên chùa.
Trong bếp, Chogyal cho cả hai chúng tôi ăn đúng giờ như
thường lệ. Nhưng thật khó mà không so sánh đống thức ăn khổng lồ trên đĩa của
Kyi Kyi với phần ăn khiêm tốn thường ngày của tôi. Hay việc Chogyal ở lại để
trông chừng con chó khi nó ăn ngấu nghiến, làm rầm rĩ lên, vuốt ve và thưởng
cho nó một cái vỗ sau bữa, trong khi để tôi tự lo liệu phần mình.
Khi chúng tôi tình cờ gặp Đức Đạt-lai Lạt-ma ở hành lang sau đó, Ngài cũng cúi xuống chào chú chó.
-“Vậy
đây là Kyi Kyi phải không?”
Ngài xác nhận, vừa
vỗ về chú chó với sự trìu mến nhiều hơn mức tôi mong muốn.
-“Bộ
lông đẹp quá! Chú nhỏ này thật đáng yêu và bảnh trai!”
Họ làm ầm ĩ đến mức
bạn sẽ tưởng như họ chưa bao giờ thấy một chú Lhasa Apso trước đây!
Và mặc dù tiếng
nói huyên náo không ngớt, không
ai trả lời câu hỏi nào của tôi — chẳng hạn như chú chó này đang làm gì ở đây? và nó sẽ ở lại bao lâu?
Tôi rất hy vọng rằng
Đức Đạt-lai Lạt-ma không có ý định nhận nuôi chú chó. Trong mối quan hệ này không còn chỗ cho cả ba
chúng tôi. Nhưng
ngày hôm sau, khi tôi ra ngoài, Kyi Kyi lại ở đó trong chiếc giỏ của nó.
Và ngày hôm sau nữa cũng vậy.
Chính vì lý do này, một vị khách khác, có phần quyền lực hơn trong tuần đó, đã trở
thành một sự xao lãng đáng hoan nghênh.
Cả McLeod Ganj
đều biết ai đó đặc biệt sắp đến
khi một chiếc Range Rover màu đen khổng
lồ chầm chậm lăn bánh lên đồi hướng về Jokhang.Người dân địa phương và khách du lịch đều trố mắt nhìn chiếc xe sáng loáng,
đắt tiền và đồ sộ, hoàn toàn khác với
không khí bình thường của thị trấn, cứ như thể nó từ một hành tinh khác xuất hiện. Ai đang ngồi sau những
tấm kính tối ấy? Phải làm gì để được đưa đi một cách bí mật xa hoa
như vậy?
Một câu hỏi không
cần phải đặt ra là vị khách đến để gặp ai. Quả
nhiên, chiếc Range Rover
cuối cùng cũng chầm chậm tiến qua cổng, hướng về ngôi nhà của Rinpoche, Bồ-đề Miêu, Sư
Tử Tuyết của Jokhang, Sinh vật Đẹp Nhất Từng Sống trên đời — và người bạn đồng
hành con người của nó.
Tôi nhận ra vị
khách ngay từ khoảnh khắc ông bước vào phòng của Đức Đạt-lai Lạt-ma. Rốt cuộc, ông là một trong những ông đạo (guru) phát triển bản thân nổi tiếng và lâu đời nhất trên thế giới. Khuôn mặt ông xuất
hiện trên bìa hàng triệu cuốn sách và DVD. Ông đã đi tour qua các thủ đô thế giới, diễn thuyết
trước đám đông khổng lồ tại các địa điểm lớn nhất của các thành phố.Ông
có một nhóm người hâm mộ riêng trong giới
thượng lưu Hollywood, đã gặp gỡ
các tổng thống Mỹ, và xuất hiện
đều đặn trên mọi chương trình trò chuyện lớn (talk show).
Tuy nhiên, sự thận
trọng sâu sắc của tôi ngăn tôi tiết lộ ông ấy là ai — thật sự đấy, nhất là khi cân nhắc đến những tiết lộ “nóng
bỏng” mà ông sắp đưa ra, vốn chắc chắn không dành cho công chúng rộng rãi. Ngay
khi ông bước qua cánh cửa, sự hiện diện của ông đã đầy uy quyền và cuốn
hút.
Như thể chính sự
hiện diện của ông buộc bạn phải nhìn về phía ông. Tất nhiên, Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng có một uy lực mạnh mẽ, nhưng một bản chất hoàn toàn khác. Trong trường
hợp Ngài, đó không phải là sự hiện diện
cá nhân, mà là cuộc gặp gỡ với sự
Lương Thiện. Ngay
từ khoảnh khắc đầu tiên bên Ngài,
bạn bị cuốn vào một trạng thái,
nơi mà mọi suy nghĩ và lo lắng bình thường
dần trở nên vô nghĩa, và bạn nhận
thức được, một cách lạ lùng nhưng rõ rệt, rằng bản chất cốt yếu của chính bạn là tình yêu vô bờ, và khi nhận ra điều này, mọi việc đều ổn cả.
Vị khách của chúng tôi — gọi tạm là Jack — sải bước
vào phòng, dâng Ngài một chiếc
khăn theo phong tục truyền thống, và sớm ngồi xuống chiếc ghế bành đặt dành riêng cho khách.
Đây vốn là những
hành động mà hầu hết khách đều thực hiện, nhưng cách Jack làm khiến chúng trở nên đặc biệt quyền lực, như thể mọi lời nói, mọi cử chỉ của ông đều thấm nhuần ý nghĩa.
Cuộc trò chuyện bắt đầu với những lời chào hỏi thông thường, rồi Jack tặng Đức Đạt-lai Lạt-ma một bản sách mới nhất của mình. Khi ông kể với Ngài về chuyến lưu diễn thế giới một năm trước,
lời nói của ông mê hoặc đến mức khó rời
mắt. Khi ông mô tả một bộ phim mà ông vừa xuất hiện gần đây,
thật dễ dàng tưởng tượng sức hút trên
màn ảnh của Jack.
Nhưng sau mười
phút, cuộc trò chuyện nhường chỗ cho sự im lặng. Đức Đạt-lai Lạt-ma ngồi trong ghế,
thư giãn, tập trung, với nụ cười nhẹ
nhàng trên khuôn mặt. Dường
như dù Jack đầy tự tin và uy lực,
ông vẫn khó mà đi thẳng vào lý do mình
đến đây. Cuối
cùng, ông bắt đầu nói lại —
nhưng khi đó, một điều phi thường bắt đầu
hé mở.
-“Thưa Ngài, như Ngài có lẽ biết, tôi đã làm huấn luyện viên cuộc sống hơn hai mươi
năm nay.
Tôi đã giúp hàng triệu người
trên khắp thế giới tìm thấy đam mê, thực hiện ước mơ và sống một cuộc đời thành
công và viên mãn.” Những
lời nói trôi ra một cách tự nhiên và
quen thuộc với ông, nhưng khi ông phát biểu, có điều gì đó về ông bắt đầu thay đổi — một điều mà tôi khó nhận diện rõ ràng.
-“Tôi đã giúp mọi người tìm thấy sự viên mãn
trong mọi khía cạnh của cuộc sống, không chỉ về vật chất.” Jack tiếp tục. “Tôi
đã thúc đẩy họ phát triển những tài năng và khả năng riêng biệt. Để tạo dựng những
mối quan hệ thành công.”
Với mỗi câu nói,
dường như ông mất đi một phần vẻ bóng bẩy
của mình. Ông co lại, gần như vật
lý, trong chiếc ghế của mình.
-“Tôi đã tạo dựng công ty tự phát triển lớn nhất nước Mỹ, có lẽ là lớn nhất thế giới.” Ông nói điều đó gần như như một sự thú nhận thất bại. “Trong
quá trình đó, tôi đã trở thành một người rất thành công và giàu có.”
Câu cuối cùng này gây
ấn tượng mạnh nhất. Khi
ông nói ra thành tựu của tất cả những
gì mình đã nỗ lực đạt được, ông dường
như cũng đang thú nhận rằng tất cả điều đó đã chẳng mang lại lợi ích gì cho bản
thân mình. Ông cúi người về phía trước, vai hơi tròn, khuỷu
tay đặt trên đầu gối. Ông trông
như đã vỡ vụn. Khi ngẩng lên nhìn Đức Đạt-lai Lạt-ma, ánh mắt ông cầu khẩn và van nài.
-“Nhưng điều đó chẳng có tác dụng với tôi.”
Đức Đạt-lai Lạt-ma nhìn ông với
ánh mắt đầy cảm thông.
Trong chuyến lưu diễn thế giới lần trước, tôi kiếm được một phần tư triệu đô la mỗi đêm. Chúng
tôi đã lấp đầy những địa điểm trong nhà
lớn nhất khắp nước Mỹ. Nhưng
tôi chưa bao giờ cảm thấy trống rỗng đến
thế. Thúc
đẩy mọi người trở nên giàu có, thành công và có những mối quan hệ tuyệt vời bỗng
trở nên vô nghĩa. Có thể trước đây đó là ước mơ của tôi,
nhưng không còn nữa.”
-“Tôi về nhà và nói với mọi người rằng mình cần
nghỉ ngơi. Tôi ngừng đến chỗ làm.
Tôi để râu quai nón.
Tôi dành nhiều thời gian ở nhà chỉ để đọc
sách và chăm sóc vườn. Vợ tôi, Bree, không thích điều đó.”
Cô ấy vẫn muốn dành cuối tuần
bên các ngôi sao, đi tiệc tùng và xuất hiện trên các trang xã hội. Lúc đầu, cô ấy nghĩ
tôi đang trải qua khủng hoảng tuổi trung niên. Rồi mọi chuyện trở
nên căng thẳng. Mối quan hệ của chúng tôi ngày càng tệ đi, cho đến khi cô ấy nói muốn ly hôn. Đã ba tháng trôi qua. Bây giờ, tôi bối rối đến mức không biết phải
làm gì.
-“Và Ngài biết phần tệ
nhất không? Tôi thật sự cảm thấy tệ vì chính cảm giác tệ đó. Mọi người ngoài kia
đều nghĩ rằng tôi đang sống giấc mơ. Họ tưởng rằng cuộc sống của tôi trọn vẹn và hạnh phúc đến mức
không gì sánh bằng. Tôi còn khuyến khích họ nghĩ như vậy, vì tôi thật sự
tin rằng điều đó đúng. Nhưng tôi đã sai. Nó không đúng.
Chưa bao giờ đúng.”
Quyền uy lấn át trước kia đã
tan biến, sức hút cá nhân đã hòa tan, chỉ còn lại người đàn ông buồn bã và tàn
tạ này. Thật khó để không cảm
thấy thương Jack. Sự khác biệt giữa hình ảnh ông ta thể hiện và con
người thật đang lộ ra không thể lớn hơn. Nhìn từ bên ngoài,
sự giàu có, nổi tiếng và địa vị “ông đạo” (guru) của ông có vẻ như trang bị cho ông khả năng giải
quyết các vấn đề cuộc sống tốt hơn hầu hết mọi người.
Nhưng dường như điều ngược lại
mới là đúng.
**Đức Đạt-lai Lạt-ma cúi người về phía trước trong ghế. “Tôi xin lỗi vì những gì ông đang trải qua lại đau đớn đến thế.”
-“Nhưng còn có một cách nhìn khác. Những
gì ông đang trải qua rất có ích. Có lẽ sau này ông sẽ thấy đây là điều tốt nhất từng xảy ra với mình. Sự bất mãn với thế
giới vật chất là—nói sao nhỉ?— cần
thiết cho sự phát triển tâm linh.”
Ý tưởng rằng nỗi bất hạnh hiện
tại của mình lại có ích khiến Jack rất ngạc nhiên. Nhưng câu
trả lời của Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng khiến ông băn khoăn.
-“Ngài không nói rằng sự giàu có có vấn đề gì
chứ?”
-“Ồ không,” Ngài trả lời. “Giàu có là một dạng quyền lực, một năng lượng.
Nó có thể rất có lợi khi được sử dụng
cho những mục đích tốt. Nhưng, như ông thấy,
nó không phải là nguyên nhân thật sự của
hạnh phúc. Một số người hạnh phúc nhất mà ta biết lại có rất ít tiền.”
-“Còn việc phát huy khả năng riêng của mình thì
sao?” Jack quay sang niềm tin cũ khác. “Ngài có đang nói rằng điều đó cũng không phải là nguyên nhân của hạnh
phúc sao?”
Đức Đạt Lai Lạt Ma mỉm cười:
- “Ai trong chúng ta cũng có những khuynh hướng
riêng, những điểm mạnh nhất định. Việc nuôi dưỡng những khả năng này có thể rất
hữu ích. Nhưng—cũng giống như tiền bạc—điều quan trọng không phải là bản thân
các khả năng ấy, mà là cách ta sử dụng chúng.”
-“Còn
chuyện lãng mạn và tình yêu thì sao?” Lúc này, Jack dường như đã vét đến tận
cùng những niềm tin cũ của mình, và sự hoài nghi của anh cũng lộ rõ.
“Ông có một
mối quan hệ hạnh phúc lâu dài với vợ mình không?”
-“Mười
tám năm rồi.”
-“Và
rồi”—Đức Đạt Lai Lạt Ma xoay hai lòng bàn tay hướng lên—“sự thay đổi. Vô thường.
Đó là bản chất của mọi sự vật, đặc biệt là các mối quan hệ. Chúng chắc chắn
không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc.”
-“Khi
ngài nói ‘nguyên nhân chân thật’, ý ngài là gì?”
-“Một
nguyên nhân có thể nương tựa được—một nguyên nhân luôn luôn cho kết quả như vậy.
Nhiệt tác dụng lên nước là nguyên nhân chân thật tạo ra hơi nước. Bất kể ai áp
dụng nhiệt, áp dụng bao nhiêu lần trước đó, hay ở đâu trên thế giới, kết quả vẫn
luôn là hơi nước.
-Còn
trong trường hợp tiền bạc, địa vị hay các mối quan hệ”—Đức Đạt Lai Lạt Ma khẽ
cười—“ta có thể dễ dàng thấy rằng chúng không phải là những nguyên nhân chân thật
của hạnh phúc.”
Mặc dù chân lý hiển nhiên trong những điều Đức Đạt Lai Lạt
Ma vừa nói đã xác nhận chính kinh nghiệm của Jack, sự đơn giản và rõ ràng trong
cách ngài diễn đạt dường như vẫn khiến vị khách của chúng tôi sửng sốt.
-“Thật
không ngờ rằng suốt bao năm qua tôi đã rao giảng ‘Phúc Âm của sự phát triển bản
thân’, vậy mà tôi đã hiểu sai quá nhiều.”
-“Bạn
không nên quá khắt khe với chính mình,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Nếu bạn giúp mọi
người sống tích cực hơn, mang lại lợi ích cho người khác cũng như cho chính họ,
thì đó là điều tốt—một điều rất tốt. Nguy cơ nằm ở chỗ việc phát triển bản thân
có thể dẫn chúng ta đến sự ích kỷ hơn, sự thu mình vào bản thân, và sự say mê
chính mình.
-“Và
những điều đó không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc, mà ngược lại.”
Jack dừng lại một lúc để suy ngẫm, rồi hỏi:
-“Vậy còn những nguyên nhân chân thật của hạnh
phúc thì sao? Chúng ta có cần tự mình khám phá ra chúng, hay có những nguyên tắc
chung? Liệu chúng ta có phải quay lưng lại với thế giới vật chất không?”
Jack chưa kịp nói hết thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bật cười.
-“Ồ, không!” ngài nói. “Trở thành một tu sĩ
cũng không phải là nguyên nhân chân thật của hạnh phúc!”
Sau đó, với vẻ nghiêm túc hơn, ngài tiếp tục:
-“Mỗi người chúng ta cần tự tìm ra những
phương pháp riêng để nuôi dưỡng hạnh phúc, nhưng vẫn có những nguyên tắc chung.
Có hai nguyên nhân chân thật chính của hạnh phúc: thứ nhất là ước muốn mang lại
hạnh phúc cho người khác—điều mà Phật giáo gọi là tình thương; và thứ hai là ước
muốn giúp người khác thoát khỏi sự bất mãn hay khổ đau—điều mà chúng tôi gọi là
lòng từ bi.”
-“Bạn
thấy đấy, sự chuyển đổi chính là từ việc đặt bản thân ở trung tâm của suy nghĩ
sang đặt người khác vào đó. Đó là—bạn gọi là gì nhỉ?—một nghịch lý: càng hướng
tâm đến hạnh phúc của người khác, chúng ta lại càng trở nên hạnh phúc hơn. Người
đầu tiên được lợi chính là bản thân mình. Tôi gọi đó là sự ‘ích kỷ một cách
khôn ngoan’.”
-“Một
triết lý thú vị,” Jack trầm ngâm. “Ích kỷ một cách khôn ngoan.”
-“Chúng
ta nên kiểm nghiệm những nguyên tắc này bằng chính trải nghiệm của mình để xem
chúng có đúng hay không,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói. “Ví dụ, hãy nghĩ về những lúc
trong đời bạn cảm thấy mãn nguyện sâu sắc. Có thể bạn sẽ thấy rằng khi đó tâm
trí bạn đang hướng đến người khác. Rồi hãy so sánh: nghĩ về những lúc bạn bất hạnh
hay xáo động nhất—khi ấy bạn đang nghĩ đến ai?”
Khi vị khách còn đang suy ngẫm, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục:
-“Nghiên cứu khoa học rất hữu ích. Người ta đã
thực hiện các chụp cộng hưởng từ (MRI) trên những người hành thiền khi họ tập
trung vào các đối tượng khác nhau. Ta thường nghĩ rằng người hành thiền sẽ đạt
hạnh phúc lớn nhất khi tâm họ hoàn toàn tĩnh lặng và thư giãn. Nhưng vùng vỏ
não trước trán—phần não liên quan đến cảm xúc tích cực—lại hoạt động mạnh khi
người ta thiền về hạnh phúc của người khác. Vì vậy, càng hướng tâm đến người
khác, chúng ta càng có thể trở nên hạnh phúc hơn.”
Jack gật đầu.
-“Sự phát triển bản thân chỉ đưa ta đi được đến
một mức nào đó. Rồi cần phải có sự phát triển vì người khác.”
Đức Đạt Lai Lạt Ma chắp hai tay lại, mỉm cười:
-“Đúng vậy.”
Jack ngập ngừng một lúc rồi nói:
-“Giờ tôi hiểu vì sao ngài nói rằng có thể có
điều gì đó hữu ích rút ra từ trải nghiệm này.”
-“Có
một câu chuyện, một ẩn dụ, có lẽ bạn sẽ thấy hữu ích,” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói.
“Một người đàn ông trở về nhà và thấy một đống phân cừu khổng lồ bị đổ trước
sân nhà mình. Ông ta
không đặt mua nó. Ông ta
không muốn nó. Nhưng bằng cách nào đó, nó vẫn ở đó, và lựa chọn duy nhất của ông ta lúc này là quyết định phải làm gì với nó. Ông ta
có thể bỏ nó vào túi và đi khắp nơi cả ngày than phiền với mọi người về chuyện
đã xảy ra. Nhưng nếu làm vậy, sau một thời gian người khác sẽ bắt đầu tránh né
anh ta. Điều hữu ích hơn là anh ta đem nó bón cho khu vườn của mình.”
“Chúng ta đều phải đối diện với cùng một lựa chọn này khi
xử lý các vấn đề. Ta không tự mình tìm đến chúng. Ta không muốn chúng. Nhưng
cách ta đối diện với chúng mới là điều quan trọng nhất. Nếu ta khôn ngoan, những
vấn đề lớn nhất có thể dẫn đến những hiểu biết sâu sắc nhất.”
Chiều hôm đó, tôi lại ngồi ở chỗ quen thuộc trong văn
phòng các trợ lý điều hành. Nhớ lại sự xuất hiện của Jack vào buổi sáng, tôi vẫn
không khỏi kinh ngạc trước việc ông đã
làm căn phòng như bừng lên mạnh mẽ thế nào ngay khi bước qua cửa—và anh lại
khác biệt đến dường nào khi kể với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những cảm xúc thật của
mình. Sự khác biệt giữa vẻ bề ngoài và thực tại dường
như không thể rõ ràng hơn.
Tôi cũng suy ngẫm về lời khuyên của Đức Đạt Lai Lạt Ma về
cách đối diện với những vấn đề trong cuộc sống. Chúng không bao giờ được ta chủ
động tìm đến, nhưng cách ta xử lý chúng sẽ định hình hạnh phúc hay bất hạnh
trong tương lai của ta.
Cuối buổi chiều hôm đó, tài xế của Đức Đạt Lai Lạt Ma xuất
hiện trong văn phòng. Đã hơn một tuần kể từ lần cuối ông ghé qua, và ông lập tức
chú ý đến con chó Lhasa apso, đang cuộn tròn trong chiếc giỏ của mình.
-“Con
này là ai vậy?” ông hỏi Chogyal, người đang dọn dẹp bàn làm việc để chuẩn bị ra
về.
-“Chỉ
là một chú chó chúng tôi đang chăm sóc tạm thời cho đến khi tìm được nhà mới
cho nó.”
-“Một
người tị nạn Tây Tạng nữa à?” người tài xế đùa, vừa cúi xuống xoa đầu con chó.
-“Cũng
tương tự,” Chogyal nói. “Nó từng thuộc về hàng xóm của anh họ tôi ở Dharamsala.
Họ chỉ nuôi nó được vài tuần, và anh họ tôi cứ nghe thấy tiếng nó kêu rên từ
trong sân nhà họ.
-“Rồi
khoảng một tuần trước, anh họ tôi nghe thấy tiếng chó sủa vào ban đêm phát ra từ
trong nhà. Anh ấy đến gõ cửa. Không ai trả lời, nhưng tiếng sủa thì dừng lại.
Đêm hôm sau cũng vậy. Anh bắt đầu tự hỏi chuyện gì đang xảy ra. Có vẻ như những
người hàng xóm không chăm sóc con chó này tốt.”
Người tài xế lắc đầu.
-“Hai
ngày sau, anh họ tôi tình cờ nhắc đến con chó với người hàng xóm bên kia đường,
và người này nói rằng chủ của nó đã chuyển đi từ cuối tuần trước. Dọn sạch sẽ,
mang đi hết mọi thứ.”
-“Và
bỏ rơi con chó con à?” người tài xế hỏi.
Chogyal gật đầu. “Anh họ tôi lập tức chạy sang và phá cửa
vào trong nhà. Anh ấy thấy Kyi Kyi nằm ở cuối một sợi xích nặng trong bếp, gần
như kiệt sức. Một cảnh tượng thật đáng thương. Không có thức ăn hay nước uống.”
Anh ấy lập tức đưa con chó về nhà và cố gắng cho nó uống
nước, rồi cho ăn. Nhưng anh họ tôi không thể giữ nó, vì anh ấy sống một mình và
hầu như không có mặt ở nhà. Vì vậy”—Chogyal nhún vai—“không còn chỗ nào khác để
đi, nó đã được đưa đến chỗ chúng tôi.”
Đó là lần đầu tiên tôi được nghe về lai lịch của Kyi Kyi,
và tôi không thể giả vờ, thưa bạn đọc, rằng câu chuyện ấy không ảnh hưởng đến
tôi. Tôi nhớ mình đã từng ghen tị với Kyi Kyi khi nó mới đến, khó chịu trước
tình cảm mà Chogyal dành cho nó và cả thức ăn mà anh ấy cho nó. Nhưng tôi cũng
nhớ lại con chó đã trầm lặng như thế nào, và bộ lông của nó trong tình trạng tồi
tệ ra sao. Nếu tôi biết toàn bộ câu chuyện, có lẽ tôi cũng đã cảm thấy thương hại
nó.
-“Có
vẻ như các anh đã bắt đầu mở một trại cứu hộ động vật rồi,” tài xế của Đức Đạt
Lai Lạt Ma nhận xét. “Mousie-Tung đã thích nghi thế nào với ‘đứa trẻ mồ côi’ mới?”
Râu tôi khẽ giật vì khó chịu. Tài xế của Đức Đạt Lai Lạt
Ma từ trước đến nay vẫn luôn là một người thô lỗ trong mắt tôi. Tại sao ông ta
cứ nhất quyết gọi tôi bằng cái tên kinh khủng đó?
-“Ồ,
tôi nghĩ cô ấy vẫn đang cân nhắc về nó,” Chogyal liếc nhìn tôi khi đưa ra đánh
giá đầy thiện chí như thường lệ.
-“Đang
cân nhắc à?” Người tài xế bước đến tủ và đưa tay vuốt ve tôi. “Nếu vậy thì cô ấy
là một con mèo rất khôn ngoan. Phần lớn chúng ta chỉ đánh giá người khác qua vẻ
bề ngoài.”
-“Và
như chúng ta đều biết”—Chogyal cài chặt chiếc cặp tài liệu lại—“vẻ bề ngoài có
thể đánh lừa rất nhiều.”
Sáng hôm sau khi tôi đến văn phòng các trợ lý và nhìn thấy
Kyi Kyi trong chiếc giỏ của nó, thay vì hoàn toàn phớt lờ nó như trước, tôi đã
bước lại gần và ngập ngừng ngửi nó. Kyi Kyi cũng đáp lại theo cách tương tự, rồi
nghiêng đầu và nhìn tôi thật lâu. Qua khoảnh khắc giao tiếp đó, chúng tôi đã đạt
được một kiểu thấu hiểu nào đó.
Tuy nhiên, tôi không leo vào giỏ của nó và để nó liếm mặt
tôi. Tôi không phải kiểu mèo như vậy. Và đây cũng không phải loại sách như vậy.
Nhưng tôi cũng không còn ghen tị với Kyi Kyi nữa.
Chogyal có thể dắt nó đi dạo, cho nó ăn và thì thầm những
lời ngọt ngào với nó bao nhiêu tùy thích, và điều đó cũng không làm tôi bận tâm
chút nào. Tôi biết rằng đằng sau vẻ bề ngoài này là một thực tại khác. Như tôi
đang dần khám phá, ngay cả những ấn tượng ban đầu mạnh mẽ nhất cũng có thể che
giấu một sự thật rất khác.
Tôi cũng nhận ra rằng mình cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều
khi không còn ghen tị. Sự đố kỵ và oán giận là những cảm xúc đòi hỏi, chúng đã
làm xáo trộn sự an yên trong tâm trí tôi. Vì chính bản thân mình, cũng chẳng có
lý do gì để bị cuốn vào những cảm xúc bất hạnh và phi lý như vậy.
Chưa đầy sáu tháng sau, một bức thư được gửi đến Đức Đạt
Lai Lạt Ma trên giấy tiêu đề dập nổi rất trang trọng của Viện Phát triển Vì Người
Khác (Institute for Other Development) mới do Jack thành lập. Sau chuyến thăm
Jokhang, ông đã chuyển giao việc quản lý công ty “Phát triển Bản thân” cho một
đồng nghiệp và lập ra một viện đối tác tập trung vào “Phát triển Vì Người
Khác”.
Ý tưởng của viện là khuyến khích càng nhiều người càng tốt
dành thời gian, tiền bạc và kỹ năng kết nối xã hội của họ cho các hoạt động thiện
nguyện có ý nghĩa. Ban đầu, Jack muốn tự mình chỉ định những tổ chức “xứng
đáng” được hỗ trợ. Nhưng theo tinh thần “Phát triển Vì Người Khác”, ông đã quyết
định để mọi người tự lựa chọn những tổ chức mà họ muốn đóng góp.
Chỉ trong vài tháng, hơn 10.000 người đã đăng ký trở
thành người ủng hộ, và hơn 3 triệu đô la đã được quyên góp cho rất nhiều tổ chức
từ thiện khác nhau hoạt động trên khắp thế giới. Làn sóng ủng hộ mạnh mẽ này,
Jack nói, vừa khiến ông phấn khích, vừa khiêm nhường, lại vừa tiếp thêm ý nghĩa
cho cuộc sống. Ông chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc hay viên mãn hơn thế trong đời
mình.
Liệu Đức Đạt Lai Lạt Ma có cân nhắc tham dự hội nghị khai
mạc của viện vào cuối năm, và có thể phát biểu về những nguyên nhân chân thật của
hạnh phúc không?
Khi Tenzin đọc bức thư của Jack cho Chogyal, giọng ông có một cảm xúc khác thường. “Dù tôi đã làm việc
ở đây hơn hai mươi năm,” ông nói,
“tôi vẫn luôn ngạc nhiên. Khi con người để lợi ích của người khác trở thành động
cơ của mình, kết quả thật sự là…”
-“Không
thể đo lường được?” Chogyal gợi ý.
-“Đúng.
Chính xác là như vậy.”/.
***

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét