Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

GÓC NHÌN CỦA PHẬT GIÁO VỀ LÒNG HIẾU THẢO

A Buddhist perspective on Filial Piety

Tác giả:  Chin Kee Thou
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



                                                                ***

Nhìn chung, lòng hiếu thảo đòi hỏi con cái phải dành tình yêu thương, sự tôn kính, phụng dưỡng và kính trọng đối với cha mẹ cùng những người bề trên khác trong gia đình, chẳng hạn như ông bà hoặc anh chị lớn. Những hành động thể hiện lòng hiếu thảo bao gồm việc vâng lời cha mẹ, chăm sóc khi họ già yếu, và làm việc chăm chỉ để chu cấp cho họ những tiện nghi vật chất như thức ăn, tiền bạc hoặc sự chăm sóc ân cần.

Quan niệm này xuất phát từ thực tế là cha mẹ đã ban tặng mạng sống cho con cái, đồng thời nuôi nấng họ suốt những năm tháng trưởng thành bằng việc chu cấp thức ăn, giáo dục và các nhu cầu vật chất. Sau khi nhận được tất cả những ân huệ này, con cái vì thế sẽ mãi mang nợ cha mẹ. Để ghi nhận món nợ ngàn đời này, con cái phải tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ suốt đời mình.

Lòng hiếu thảo được coi là một đức tính cốt lõi trong nền văn hóa Trung Hoa và các quốc gia Đông Á khác, và đây cũng là chủ đề chính của nhiều câu chuyện trong tuyển tập nổi tiếng "Nhị thập tứ hiếu" (二十四孝 - 24 tấm gương hiếu thảo). Những câu chuyện này mô tả cách con cái thể hiện các phong tục hiếu thảo trong quá khứ.

01- Lòng hiếu thảo cảm động đến thần linh: Đại Đế Ngu Thuấn.
02- Đích thân nếm thử thuốc của mẹ: Vua Hán Văn Đế.
0
3- - Mẹ cắn ngón tay, lòng con đau xót: Tăng Tham (Tăng Tử).
0
4- - Mặc áo bông lau, chịu đựng mẹ kế tàn nhẫn: Mẫn Tử Khiên.
0
5- Gánh gạo đường xa phụng dưỡng cha mẹ: Tử Lộ (Trọng Do).
06- Bán mình làm nô lệ để chôn cất cha: Đổng Vĩnh.
07- Kiếm sữa nai chữa bệnh cho cha mẹ: Diễm Tử (Đàm Tử).
08- Làm thuê làm mướn nuôi mẹ: Giang Cách.
09- Giấu quýt đem về biếu mẹ: Lục Tích.
10- Nuôi mẹ chồng bằng sữa của chính mình: Đường phu nhân.
11- Cho muỗi hút máu để cha ngủ ngon giấc: Ngô Mông.
12- Nằm trên băng lạnh bắt cá chép cho mẹ kế: Vương Tường.
13- Chôn con cứu mẹ: Quách Cự.
14- Tay không đấu hổ cứu cha: Dương Hương.
15- Từ quan đi tìm mẹ: Chu Thọ Xương.
16- Lo lắng bệnh tình, nếm phân của cha: Dữu Khiêm Lâu.
17- Mặc quần áo sặc sỡ, giả làm trò cười mua vui cho cha mẹ: Lão Lai Tử.
18- Hái dâu chia hai giỏ phụng dưỡng mẹ: Thái Thuận.
19- Quạt gối mùa hè, sưởi chăn mùa đông: Hoàng Hương.
20- Suối phun nước ngọt, cá chép nhảy lên bờ: Giang Thi.
21- Khóc bên mộ mẹ mỗi khi trời nổi sấm sét: Vương Bầu (Vương Duy Viên).
22- Khắc gỗ thờ cha mẹ: Đinh Lan.
23- Khóc đến mức măng mọc từ lòng đất mùa đông: Mạnh Tông.
24- Đích thân cọ rửa bồn vệ sinh cho mẹ: Hoàng Đình Kiên.

 Bà Đường cho mẹ chồng bú sữa

Lòng Hiếu Thảo Trong Đạo Phật

Trong bài luận văn của ông Quảng Hưng có tiêu đề “Lòng hiếu thảo trong Phật giáo nguyên thủy” (đăng trên Tạp chí Đạo đức Phật giáo, Trung tâm Nghiên cứu Phật học, Đại học Hồng Kông), ông đã viết về kết quả khảo cứu các văn bản Phật giáo sơ kỳ của mình. Việc phân tích các đoạn văn liên quan đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng lòng hiếu thảo là một trong những khía cạnh quan trọng của các giáo lý đạo đức Phật giáo nguyên thủy. Lòng hiếu thảo đã được các Phật tử Ấn Độ thời kỳ đầu thực hành như một cách để báo đáp công ơn đối với cha mẹ; như một hành vi đạo đức thiện lành cốt lõi; và như là Giáo pháp, một trật tự của xã hội. Và trên cơ sở này, bài luận cũng chứng minh rằng các Phật tử Ấn Độ sơ kỳ thực hành lòng hiếu thảo không phải như một sự “thỏa hiệp với đạo đức hiếu thảo của đạo Bà-la-môn”, mà là một giáo lý quan trọng do chính Đức Bổn Sư (Đức Phật Thích Ca) truyền dạy.

Có một vài bài kinh trong Kinh tạng Pali đặt trọng tâm rất lớn vào lòng hiếu thảo và việc thể hiện sự tôn kính đối với cha mẹ:

“Này các Tỷ-kheo, có hai người không thể dễ dàng đền ơn được. Hai người đó là ai? Chính là mẹ và cha.

Dù cho một người có cõng mẹ trên một vai và cõng cha trên vai kia, và [trong khi làm như vậy] người đó có tuổi thọ đến trăm năm, sống đến trăm tuổi; và nếu người đó có phụng dưỡng cha mẹ bằng cách thoa dầu thơm, mát-xa, tắm rửa, và xoa bóp tay chân cho họ, và ngay cả khi cha mẹ tiểu tiện, đại tiện ngay trên vai mình, thì người con ấy vẫn chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ, cũng chưa trả hết ơn cho họ.

Dù cho người con có tôn phong cha mẹ lên làm những bậc chúa tể và quân vương tối cao trên cõi đại địa bao la tràn ngập bảy thứ trân bảo này, thì người đó vẫn chưa làm đủ để đền ơn cha mẹ, cũng chưa trả hết ơn cho họ. Vì cớ sao? Vì cha mẹ đã giúp ích rất nhiều cho con cái; họ nuôi nấng, cho ăn và chỉ cho con cái thấy thế giới này.

Nhưng, này các Tỷ-kheo, nếu cha mẹ không có đức tin, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ có đức tin; nếu cha mẹ sống không đạo đức, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ sống có giới hạnh; nếu cha mẹ bỏn xẻn keo kiệt, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ lòng rộng rãi phát tâm bố thí; nếu cha mẹ không có trí tuệ, mà người con biết khuyến khích, an trú và tạo dựng cho cha mẹ có trí tuệ: bằng cách như vậy, người con ấy đã làm đủ để đền ơn cha mẹ, đã trả hết ơn cho họ, và đã làm nhiều hơn cả mức đủ để báo hiếu.” [chương Hai Pháp của Tăng Chi Bộ Kinh.]

Vì vậy, “Phụng dưỡng cha và mẹ… đây là điềm lành tối thượng (phước báu lớn nhất)”. [Kinh Đại Hạnh Phúc (Kinh Điềm Lành) ll/4, (Sn. 262)].

Đó thật sự là một nghĩa cử cao đẹp của Ghatikara (Kỳ-bà-ca-la), một vị đệ tử của Đức Phật Ca Diếp (Kassapa). Ông đã thể hiện lòng hiếu thảo của mình để phụng dưỡng cha mẹ già yếu và mù lòa, chấp nhận hy sinh và trì hoãn việc xuất gia giã từ ngôi nhà để sống đời không gia đình. “Jotipala (Nặc-đề-ba-la) hỏi Ghatiḳara: ‘Này Ghatiḳara bạn thân mến, giờ đây khi bạn đã được nghe Giáo pháp này rồi, tại sao bạn không xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống cuộc đời không gia đình?’ – ‘Jotipala bạn thân mến, bạn không biết rằng tôi còn phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu và mù lòa của mình hay sao?’ ” [Kinh Ghatikara số 81 (Trung Bộ Kinh, ii, 48)].

Tuy nhiên, giống như việc làm từ thiện mà thiếu đi trí tuệ, việc báo hiếu bằng những hành vi bất thiện (không lành mạnh) sẽ không mang lại bất kỳ lợi ích nào, ngược lại còn tạo ra ác nghiệp và thậm chí khiến người đó bị tái sinh vào các cõi khổ đau (ác đạo).

“Này Dhanañjāni, ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ mà làm những điều phi pháp, làm những điều bất chính. Rồi vì những hành vi phi pháp, bất chính đó, các cai ngục địa ngục kéo anh ta quăng vào địa ngục. Liệu người đó có được lợi ích gì khi nói rằng: ‘Tôi làm điều phi pháp, làm điều bất chính là vì cha mẹ tôi. Xin các cai ngục đừng [quăng] tôi vào địa ngục!’? Hay cha mẹ anh ta có giúp ích được gì cho anh ta khi nói rằng: ‘Nó làm điều phi pháp, làm điều bất chính là vì chúng tôi. Xin các cai ngục đừng [quăng] nó vào địa ngục!’?”

Bạch tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất), không thể được. Ngay cả khi người đó đang khóc lóc thảm thiết, các cai ngục vẫn sẽ quăng anh ta vào địa ngục.” [Kinh Dhanañjāni số 97 (Trung Bộ Kinh.ii, 187)].

Lòng biết ơn và tôn kính Mẹ

"Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân làm nổi bật nỗi đau đớn và sự hy sinh của người mẹ trong suốt thời gian mang thai. Đức Phật bảo ngài A-nan: 'Hãy lắng nghe kỹ, Ta sẽ giảng chi tiết cho ông. Thai nhi nằm trong bụng mẹ mười tháng. Mẹ trải qua bao cay đắng! Tháng thứ nhất, sự sống thai nhi mỏng manh như giọt sương trên cỏ: rất dễ tan biến trước trưa'."

"Tháng hai, phôi thai đông tụ như váng sữa. Tháng ba, nó như cục máu đông. Tháng tư, hình hài giống con người. Tháng năm, năm bộ phận (tay, chân, đầu) thành hình. Tháng sáu, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) phát triển. Tháng bảy, 360 xương khớp và 84.000 lỗ chân lông hình thành. Tháng tám, trí tuệ và chín lỗ (cửu khiếu) thành hình. Tháng chín, thai nhi biết hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn của mẹ như đào, lê, rễ cây và ngũ cốc."

“Trong thân người mẹ, năm tạng (chứa đựng) rủ xuống, sáu phủ (truyền hóa) quấn quanh hướng lên trên. Ba ngọn núi này hiện ra như thể núi Tu Di, núi Nghiệp và núi Huyết. Những ngọn núi tương tự này hợp lại tạo thành một dãy núi với các đỉnh cao và thung lũng sâu. Cũng như vậy, máu của mẹ từ các tạng phủ đông đặc lại tạo thành một chất duy nhất, trở thành thức ăn nuôi dưỡng thai nhi.”


“Vào tháng thứ mười của thai kỳ, thân thể thai nhi hoàn thiện và sẵn sàng chào đời. Nếu đứa trẻ vô cùng hiếu thảo, nó sẽ ra đời với hai tay chắp lại kính cẩn và cuộc sinh nở sẽ bình an, tốt lành, người mẹ không bị thương tổn hay đau đớn. Tuy nhiên, nếu đứa trẻ bản tính quá ngỗ ngược, đến mức có thể phạm vào năm tội nghịch, nó sẽ làm tổn thương tử cung, xé nát tim gan, hoặc mắc kẹt vào xương của mẹ. Khi đó, việc sinh nở sẽ đau đớn như ngàn nhát dao cắt, hay vạn thanh kiếm sắc nhọn đâm vào tim. Đó là những nỗi đau đớn khi sinh ra một đứa trẻ ngang ngược, nghịch ngợm.”

Bài kinh này cho thấy tầm quan trọng của người mẹ trong việc mang thai và sinh nở, đồng thời lòng kính trọng cùng sự biết ơn đối với người mẹ là vô lượng, không thể đong đếm được.

Tình yêu vô điều kiện của người mẹ dành cho con được Phật giáo tôn kính ở mức cao nhất và được dùng làm hình ảnh ẩn dụ cho tâm từ (metta) trong Kinh Từ Bi: “Như một người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình bằng cả mạng sống, cũng vậy, hãy nuôi dưỡng một tâm hồn bao la không giới hạn đối với tất cả chúng sinh.” (Sn. 149).

Do đó, trong Kinh tạng Pali cũng có nhiều bài kinh nói về việc thể hiện sự tôn kính đối với đấng sinh thành theo thứ tự từ ngữ là "mẹ và cha", đặt người mẹ lên trước người cha.

“Này các Tỷ-kheo, những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với Phạm Thiên. (2) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với các bậc đạo sư đầu tiên. (3) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với các vị thiên thần đầu tiên. (4) Những gia đình nào mà ở đó con cái kính trọng cha mẹ tại nhà, thì gia đình ấy được sống cùng với những bậc xứng đáng được cúng dường.

‘Phạm Thiên’, này các Tỷ-kheo, là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Bậc đạo sư đầu tiên’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Vị thiên thần đầu tiên’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. ‘Bậc xứng đáng được cúng dường’ là danh từ để chỉ cha và mẹ. Vì sao vậy? Vì cha mẹ đã giúp ích rất nhiều cho con cái: họ sinh thành, nuôi dưỡng và chỉ cho con cái thấy thế giới này.”

Cha và mẹ được gọi là “Phạm Thiên”, và cũng được gọi là “những bậc đạo sư đầu tiên”. Họ xứng đáng nhận được những phẩm vật cúng dường từ con cái, bởi vì họ luôn thương xót con cái của mình.

Do đó, người hiền trí nên kính trọng và đối xử với cha mẹ bằng sự tôn kính. Người con nên phụng dưỡng cha mẹ với thức ăn và đồ uống, với quần áo và giường nằm, bằng cách xoa bóp, tắm rửa và rửa chân cho họ. Nhờ sự phụng dưỡng cha mẹ như vậy, người hiền trí sẽ được ca ngợi ngay trong đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được sinh về cõi trời lạc cảnh. (Tăng Chi Bộ Kinh, II, 71).

Cha và mẹ được gọi là
Những bậc "Phạm Thiên", những "bậc đạo sư đầu tiên"
Và là những bậc "xứng đáng được tôn kính",
Bởi vì họ luôn đem lòng từ bi thương xót
Đối với đàn con trong gia đình của mình.
Do đó, người hiền trí nên tôn kính cha mẹ,
Đối xử với họ bằng sự trân trọng xứng đáng,
Chu cấp cho họ thức ăn và đồ uống,
Dâng tặng họ quần áo và giường nằm,
Thoa dầu thơm và tắm rửa cho họ
Và cũng cúi xuống rửa chân cho họ.
Khi một người thực hiện sự phụng dưỡng như thế
Đối với mẹ và cha của mình,
Các bậc hiền triết sẽ ngợi khen người đó ngay tại đời này
Và ở đời sau, người ấy sẽ được vui hưởng lạc cảnh trên cõi trời.

(trích từ Kinh Phật Thuyết Như VậyKinh Tăng Chi Bộ)

“Này các Tỷ-kheo, bằng cách đối xử chân chính đối với bốn hạng người, người hiền trí, người có năng lực, người thiện lành sẽ giữ cho bản thân mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại; người ấy sẽ không bị khiển trách và vượt ra ngoài sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời người ấy tích lũy được rất nhiều công đức. Bốn hạng người đó là ai?

(1) Đối xử chân chính đối với mẹ mình…
(2) Đối xử chân chính đối với cha mình…
(3) Đối xử chân chính đối với Đức Như Lai…
(4) Đối xử chân chính đối với đệ tử của Đức Như Lai…

Bằng cách đối xử chân chính đối với bốn hạng người này, người hiền trí, người có năng lực, người thiện lành sẽ giữ cho bản thân mình không bị tổn thương, không bị hủy hoại; người ấy sẽ không bị khiển trách và vượt ra ngoài sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời người ấy tích lũy được rất nhiều công đức.”

Một người biết đối xử chân chính đối với mẹ và cha của mình, đối với Đức Như Lai bậc giác ngộ, hoặc đối với đệ tử của Ngài, sẽ tích lũy được rất nhiều công đức. Nhờ vào hành vi đạo đức chân chính đó đối với cha và mẹ, các bậc hiền triết sẽ ngợi khen người ấy ngay tại đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ được vui hưởng lạc cảnh trên cõi trời. (Tăng Chi Bộ Kinh, II, 4).

“Này các Tỷ-kheo, xem xét năm lý do này, cha và mẹ ước nguyện có một người con trai sinh ra trong gia đình. Năm lý do ấy là gì?

(1) ‘Được chúng ta nuôi dưỡng, nó sẽ phụng dưỡng lại chúng ta.
(2) Hoặc nó sẽ gánh vác công việc thay cho chúng ta.
(3) Truyền thống dòng họ của chúng ta sẽ được duy trì và kéo dài.
(4) Nó sẽ gìn giữ và quản lý tài sản thừa kế.
(5) Hoặc là, khi chúng ta đã qua đời, nó sẽ làm các lễ cúng dường (tích phước) để hồi hướng cho chúng ta.’ (Tăng Chi Bộ Kinh, III, 43).

Kinh Dhammika (2/14) có giảng rằng: “Một người nên phụng dưỡng cha mẹ một cách chân chính, và cũng nên hành trì một sinh kế chân chính (chánh mạng). Một cư sĩ có tâm tỉnh giác, tinh tấn thực hành giáo pháp này, sau khi qua đời sẽ được tái sinh vào cõi chư thiên được gọi là cõi Tự Quang (tự phát hào quang).” (Kinh Tập, 404).

Trong Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Sigālovāda Sutta) – bài kinh đưa ra lời khuyên về đạo đức cho một cư sĩ trẻ tuổi tên là Thi-ca-la (Sigāla) liên quan đến sáu phương (bốn phương chính, phương trên và phương dưới) mà anh ta vẫn thường lễ bái để tưởng nhớ lời cha dặn. “Có năm cách một người con cần phải phụng dưỡng cha mẹ mình như là phương Đông [tức là phương mặt trời mọc hay phương của sự sinh thành]: ‘Đã được cha mẹ nuôi dưỡng, nay con sẽ phụng dưỡng lại cha mẹ; con sẽ gánh vác các bổn phận thay cho cha mẹ; con sẽ giữ gìn dòng dõi và truyền thống của gia đình; con sẽ sống sao cho xứng đáng với phần tài sản được thừa kế; và con sẽ làm lễ cúng dường, bố thí hồi hướng cho cha mẹ khi các ngài qua đời.’

Có năm cách mà cha mẹ, khi được con cái phụng dưỡng như phương Đông như vậy, sẽ khởi tâm thương xót và đối xử lại với con: cha mẹ ngăn chặn con làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy cho con một nghề nghiệp, cưới gả một nơi xứng lứa vừa đôi cho con, và đến thời điểm thích hợp sẽ trao lại tài sản thừa kế cho con.” (Trường Bộ Kinh, III, 192).

Hậu quả của những đứa con bất hiếu

Bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng đều yêu thương, chăm chút con cái của mình với mong muốn chúng sẽ báo đáp lại bằng lòng hiếu thảo. Tuy nhiên, có những đứa trẻ sinh ra đã mang bản tính ngang ngược và ngỗ nghịch, “nếu đứa trẻ bản tính quá ngỗ ngược, đến mức có thể phạm vào năm tội nghịch, nó sẽ làm tổn thương tử cung, xé nát tim gan, hoặc mắc kẹt vào xương của mẹ. Khi đó, việc sinh nở sẽ đau đớn như ngàn nhát dao cắt, hay vạn thanh kiếm sắc nhọn đâm vào tim. Đó là những nỗi đau đớn khi sinh ra một đứa trẻ ngang ngược, nghịch ngợm.” (Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân). Luôn có những hậu quả thảm khốc cho những hành vi bất thiện như vậy.

Này các Tỷ-kheo, bằng cách đối xử sai trái đối với bốn hạng người, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc sẽ tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy sẽ đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp (tội lỗi). Bốn hạng người đó là ai?

(1) Bằng cách đối xử sai trái đối với mẹ mình, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(2) Bằng cách đối xử sai trái đối với cha mình, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(3) Bằng cách đối xử sai trái đối với Đức Như Lai, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

(4) Bằng cách đối xử sai trái đối với đệ tử của Đức Như Lai, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp.

Kinh tạng Pali (Tăng Chi Bộ, Kinh Tập và Trường Bộ Kinh) nói về hậu quả của việc bất hiếu:

Do đối xử sai trái đối với bốn hạng người này, kẻ ngu muội, kẻ không có năng lực, kẻ ác độc sẽ tự đưa bản thân mình vào tình trạng bị tổn thương và bị hủy hoại; kẻ ấy đáng bị khiển trách và phải chịu sự chỉ trích của các bậc hiền triết; đồng thời kẻ ấy tích lũy vô số ác nghiệp. Một người đối xử sai trái đối với mẹ và cha mình, đối với Đức Như Lai bậc giác ngộ, hoặc đối với đệ tử của Ngài, sẽ tích lũy vô số ác nghiệp. Nhờ vào hành vi đạo đức sai trái đó đối với cha và mẹ, các bậc hiền triết sẽ phê phán người ấy ngay tại đời này, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy phải đọa vào các cõi khổ đau. (Kinh Tăng Chi Bộ - AN II, 5)

“Nếu một người có đủ khả năng nhưng lại không phụng dưỡng mẹ hay cha mình khi họ đã già yếu, tuổi xuân đã qua, kẻ đó nên được biết đến là một kẻ hạ liệt (kẻ bị xã hội ruồng bỏ). Người nào đánh đập hoặc dùng lời lẽ lăng mạ cha mẹ, anh chị em, hay mẹ chồng/mẹ vợ của mình, ngươi nên biết kẻ đó là một kẻ hạ liệt.” (Kinh Kẻ Hạ Liệt - Vasala Sutta - Sn. 124 & 125)

Dù có cuộc sống giàu có, khá giả nhưng lại không phụng dưỡng cha mẹ khi họ đã già yếu và qua rồi tuổi thanh xuân — đây chính là một nguyên nhân dẫn đến sự bại vong (sụp đổ) của một người. (Kinh Bại Vong - Parabhava Sutta - Sn. 98)

“Như vậy, do không bố thí tài sản cho người nghèo khó... việc thiếu tôn kính đối với cha mẹ, đối với các bậc sa-môn, bà-la-môn và đối với các bậc trưởng thượng trong gia tộc ngày càng gia tăng. Hệ quả là, tuổi thọ và dung sắc của con người bị giảm sút; con cái của những người vốn có tuổi thọ dài hai thế kỷ rưỡi (250 năm) giờ đây chỉ có thể sống đến một trăm năm.” (Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống - Cakkavatti Sihananda Sutta - DN.iii, 71)

Đạo luật Phụng dưỡng Cha mẹ 1995 - của Singapore - Chương 167B:

Trong xã hội hiện đại với dân số già và tỷ lệ sinh thay thế thấp, nhiều người cao tuổi sẽ phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của nhà nước trong những năm tháng cuối đời, đặc biệt là những người không có con cái. Tuy nhiên, nhiều người con dù có khả năng chăm sóc lại chọn cách bỏ bê cha mẹ. Điều này đã thúc đẩy nhà nước ban hành Đạo luật Phụng dưỡng Cha mẹ (MPA), cung cấp cho cha mẹ cao tuổi hoặc túng thiếu đang sống tại Singapore một kênh pháp lý để yêu cầu sự phụng dưỡng từ con cái nếu họ không thể tự nuôi sống (tức là tự lo liệu) bản thân.

Tóm tắt ngắn gọn, theo quy định về các lệnh phụng dưỡng của Đạo luật MPA, tòa án có thể đưa ra một lệnh phụng dưỡng nếu xét thấy việc người con phải cấp dưỡng cho cha mẹ là công bằng và hợp lý; đồng thời người con đó có đủ khả năng chu cấp cho cha mẹ sau khi đã đảm bảo các nhu cầu của bản thân, của vợ/chồng và con cái họ; và người cha/mẹ đó, dù đã tự mình nỗ lực, vẫn không thể tự nuôi sống bản thân bằng công việc, tài sản hay từ bất kỳ nguồn thu nhập nào khác.

Khi ban hành lệnh phụng dưỡng vì lợi ích của cha mẹ, tòa án sẽ xem xét tất cả các tình tiết của vụ việc, bao gồm (nhưng không giới hạn ở) nhu cầu tài chính của người cha/mẹ, có tính đến các chi phí hợp lý về nhà ở và y tế; thu nhập, năng lực kiếm tiền, tài sản và các nguồn tài chính khác của người cha/mẹ, cũng như cách thức mà người cha/mẹ đó đã tiêu dùng khoản tiền tiết kiệm hoặc làm hao tán các nguồn lực tài chính của mình; cùng với những khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần của họ.

Tòa án cũng sẽ cân nhắc đến thu nhập, năng lực kiếm tiền, tài sản và các nguồn tài chính khác của người con, các chi phí phát sinh trong việc nuôi dưỡng vợ/chồng và con cái của người con, cùng với những đóng góp và sự chu cấp (dù là tài chính hay bằng hình thức khác) mà người con đó đã thực hiện để phụng dưỡng cha mẹ từ trước đến nay.

Liệu đây có phải là một đạo luật tốt để bắt buộc con cái phải thực hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ già yếu của họ, ít nhất là ở phương diện hỗ trợ tài chính hay không?

Lòng hiếu thảo là một đức tính trong Phật giáo bao gồm sự tôn kính đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tổ tiên. Đây là những người sở hữu trí tuệ quan trọng cùng những góc nhìn độc đáo về cuộc sống mà chúng ta có thể học hỏi. Lắng nghe những người lớn tuổi giúp họ cảm thấy được tôn trọng và kính trọng. Họ đã chăm sóc chúng ta, và xứng đáng nhận được điều tương tự để đáp lại.


Người đóng góp: Trần Kế Tổ (Chin Kee Thou)
Người đóng góp chịu trách nhiệm về bất kỳ sự sơ suất nào, dù là về mặt thực tế hay các khía cạnh khác.

https://buddhismanddailyliving.wordpress.com/2021/07/05/a-buddhist-perspective-on-filial-piety/

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét