Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

CUỘC SỐNG Ở LHASA

 



 

Chẳng bao lâu sau khi được xác định như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, cậu bé Lhamo Thondup được cha mẹ đưa đến tu viện Kumbum để bắt đầu việc rèn luyện tôn giáo sơ khởi và chờ đợi trong khi những chuẩn bị cho chuyến du hành đến Lhasa được thực hiện. Mười tám tháng sau, việc cung nghinh Đức Đạt Lai Lạt Ma mới đã bắt đầu cho cuộc hành trình ba tháng đến thủ đô của quốc gia. Một khi đến đó, ngài sẽ đăng quang như lãnh tụ tinh thần của dân tộc Tây Tạng, và sau hàng năm rèn luyện lâu hơn, ngài cũng là lãnh tụ chính trị của họ. Đúng với dự đoán của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, Đức Đạt Lai Lạt Ma mới cuối cùng sẽ bị áp lực phải lãnh đạo quốc gia của ngài chống lại những đe dọa ngoại tại.

HÀNH TRÌNH ĐẾN LHASA

Tháng Bảy năm 1939, một tháng sau sinh nhật lần thứ tư của Lhamo, lễ cung nghinh chính thức của ngài bắt đầu khởi hành từ Kumbum đến Lhasa. Lễ cung nghinh bao gồm Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi, cha mẹ ngài, người anh trai trẻ Lobsang Samten, đoàn tìm kiếm, một vài viên chức chính quyền, một số khách hành hương, và những người hướng đạo vốn biết rành rẽ tuyến đường. Hầu hết mọi người của lễ cung nghinh đi bộ hoặc cưỡi la hay cưỡi ngựa. Tuy nhiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma mới được xác nhận ngồi trên một chiếc kiệu gọi là dreljam với người anh của ngài, một phòng gỗ vây quanh với một trường kỷ hay gối nệm, lơ lửng trên những cây cột giữa hai con la. Suốt chuyến hành trình dài, ngài và người anh hành động như những người anh em trẻ trên khắp thế giới. Họ tranh luận và xô xát. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã diễn tả thái độ của họ:

Chúng tôi dành rất nhiều thời gian để bàn luận và tranh cãi, như những trẻ em làm, và thường đi đến bùng nổ. Việc này làm cho sự vận chuyển của chúng tôi hiểm họa của việc mất cân bằng. Vào lúc ấy người đánh xe phải dừng các con la lại và gọi mẹ tôi. Khi nhìn vào bên trong, bà luôn luôn nhìn thấy cùng sự việc:  Lobsang chảy nước mắt và tôi ngồi đấy với một cái nhìn chiến thắng trên khuôn mặt.

Khi đoàn đến gần Lhasa, thì được gặp gở những viên chức cao cấp của chính quyền. Sau một lễ đón mừng dài cả ngày, Đức Đạt Lai Lạt Ma và anh ngài được đưa đến Điện Norbulingka, cung điện mùa hè của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ở phía tây Lhasa. Một ký ức của những ngày mới ở đó cung cấp bằng chứng xa hơn về những điểm để nhận diện ngài. Ngay khi ngài và gia đình ngài lần đầu tiên đến Lhasa, ngài đã nói với mẹ ngài rằng bộ răng của ngài ở trong một chiếc hộp trong một ngôi nhà của khu vực điện Norbulingka. Những tu sĩ sau đó đã tìm thấy một chiếc hộp gỗ nhỏ chứa một bộ răng giả. Những chiếc răng đó thuộc về Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.

SƯ TỬ TÒA VÀ ĐIỆN POTALA

Trong mùa đông năm 1940, khi Lhamo mới bốn tuổi, ngài được đưa đến Điện Potala cho lễ tôn vinh chính thức. Điện Potala bên cạnh là cung điện mùa đông của Đức Đạt Lai Lạt Ma và trung tâm của chính phủ Tây Tạng, cũng là một trong những tu viện lớn nhất của xứ sở. Vào ngày 22 tháng Hai năm1940, Lhamo Thondup lần đầu tiên ngự trên Ngai Sư Tử — là một cấu trúc bằng gỗ to lớn nạm ngọc, chạm trỗ lộng lẫy đã phụng sự những vị Thánh Vương Tây Tạng hàng thế kỷ. Lễ đăng quang đã xảy ra trong Si shi phuntsog — Điện của Tất Cả những Hành Vi Thánh Thiện trong Thế Giới Tâm Linh và Trần Gian — gian phòng chính bên cánh đông của cung điện.

Buổi lễ tôn vinh ngài như lãnh tụ tâm linh của Tây Tạng. Ngay sau đó, ngài đã đi đến chùa Jokhang (Đại Chiêu Tự) ở trung tâm của thành phố cho phần còn lại của lễ nhậm chức. Tại chùa Jokhang ngài được xuống tóc và được trao cho y áo màu nâu đỏ của một sa di. Ngài cũng được mệnh danh là Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso.


Điện Potala
Điện Potala ngự trị Lhasa, nhìn ra thành phố ở trên đỉnh một mõm đá gọi là Đồi Hồng. Cấu trúc được liệt kê như một Di sản Thế giới bởi Liên Hiệp Quốc. Được xây dựng trong thế kỷ mười bảy –triều đại của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm – cung điện chiếm 5 dặm vuông (13 km vuông) và có một nghìn phòng. Cho đến năm 1959 nó phục vụ không chỉ như cung điện mùa đông của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà cũng được đặt Văn Phòng của chính phủ Tây Tạng, lăng mộ của tám Đức Đạt Lai Lạt Ma, một tu viện của 175 tu sĩ, vô số điện thờ và thánh tượng, những kho tàng với các bảo vật quốc gia, những phòng ban cho nghi lễ của tôn giáo và chính phủ, cùng một trường học cho tu sĩ trẻ. Với Tây Tạng ngày nay dưới sự thống trị của Cộng Sản China và Đức Đạt Lai Lạt Ma sống lưu vong, điện Potala được biến thành một viện bảo tàng.

 


Ngay sau khi được đặt vào vị trí như một sa di, Tenzin Gyatso đã bắt đầu việc học vấn chính thức. Ngài được giao cho ba vị giáo thọ, một trong các vị ấy là Khetsang Rinpoché, lãnh đạo nhóm xác định ở Amdo. Bài học đầu tiên liên hệ đến việc đọc [kinh điển]. Ngài và anh ngài học chung với nhau. Trong lớp học của họ, ngài nhớ lại, có hai cây roi, một là gấm vàng dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma và một là bằng da dành cho anh ngài. Những khí cụ này làm khổ sở cả hai người dễ sợ. Chỉ cần một cái liếc nhìn từ vị giáo thọ của chúng tôi vào cây roi này hay cây roi kia cũng làm tôi rùng mình khiếp đảm. May mắn thay, chiếc roi vàng không bao giờ được sử dụng, mặc dù chiếc roi da đã rời khỏi tường một hay hai lần.

Phòng ngủ của ngài ở Potala đã một lần thuộc về Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm và chiếm cứ tầng thứ bảy, cao ở trên thành phố. Ngài nhớ nó là một phòng lạnh lẽo, ánh sáng lờ mờ, dường như không ai ở từ thế kỷ mười bảy:

Mọi thứ trong đó là cổ điển và cũ kỷ và, phía sau những tấm màn treo chắn bốn bức tường phủ đầy những lớp bụi của hàng thế kỷ. Ở cuối căn phòng là một bàn thờ. Trên đấy là một bộ đèn bơ nhỏ (những chiếc chén bơ yak nặng mùi và có tim đèn thắp sáng) và những chiếc dĩa nhỏ thức ăn và nước được đặt để cúng dường chư Phật. Mỗi ngày những thứ này được nhiều con chuột nhắc ăn vụng. Tôi rất yêu mến những con vật bé nhỏ này. Chúng rất xinh và không thấy sợ hãi gì khi tự ăn uống những thực phẩm hàng ngày của chúng. Về đêm, khi nằm trên giường, tôi nghe những đám bầu bạn chuột này chạy tới chạy lui. Đôi khi chúng chạy tới giướng của tôi. Đấy là thứ đồ đạc duy nhất trong phòng tôi, khác hơn chiếc bàn thờ, và có một chiếc rương gỗ lớn với đầy những chiếc gối và vây quanh bởi những chiếc màn dài màu đỏ. Những con chuột nhắc cũng sẽ leo trèo trên những thứ này và tiểu rơi xuống khi tôi núp trong những chiếc chăn của tôi bên dưới.

Trong những năm đó, ngài và anh ngài không được phép có những người bạn nô đùa cùng lứa tuổi, nhưng họ đã sống chung với những người khác trong cung điện. Tenzin Gyatso có ba thị giả — vị lo về nghi lễ, vị lo về áo quần, và vị lo về nhà bếp. Cũng thế, có vài người ít học hay không học vấn phục vụ như quét dọn, làm vệ sinh cung điện. Những người đàn ông này đã trở thành những người bạn của các cậu bé. Khi người anh Lobsang Samten rời điện để đi học ở một trường tư, Tenzin Gyatso chỉ còn những người thị giả và những người quét dọn làm bầu bạn. Mẹ và chị em gái ngài thỉnh thoảng đến viếng thăm, nhưng trải qua hàng năm ngài ít khi tiếp xúc với gia đình.

MỘT NGÀY HỌC TẬP ĐIỂN HÌNH

Sau vài năm, Tenzin Gyatso đã bắt đầu những bài học bao quát hơn. Một ngày của ngài bắt đầu lúc 6 giờ sáng với một giờ cầu nguyện và hành thiền, tiếp theo là điểm tâm, sau đó là một lớp tập viết. Chữ viết Tây Tạng khá phức tạp, đòi hỏi sự thực hành rất nhiều. Sau lớp học viết là lớp học thuộc lòng, ngài học những kinh điển Phật giáo và phải trả thuộc lòng ngày hôm sau. Lúc 10 giờ ngài tham dự cuộc họp của chính phủ để giúp ngài chuẩn bị cho một ngày mà ngài phải gánh vác việc lãnh đạo thế quyền Tây Tạng. Sau những cuộc hội họp này ngài trở lại những phần việc của ngài, nơi vị giáo thọ sẽ lắng nghe ngài tụng lại những đoạn văn mà ngài đã học sáng đó. Vào đúng ngọ, một tiếng tù và ốc xà cừ thổi lên, báo hiệu giờ ra chơi.

Giống như hầu hết những đứa trẻ khác, giờ ra chơi là hoạt động yêu thích của Tenzin Gyatso. Ngài may mắn có nhiều đồ chơi quý tốt, nhiều thứ được trao tặng cho ngài qua các cuộc viếng thăm của những người quyền quý. Một thứ thích thú là bộ lắp ráp Meccano, một loại các dải, tấm, dầm kim loại có thể tái sử dụng,

bánh xe, trục xe và phụ tùng, với đai ốc và bù loong, được sử dụng để chế tạo các thiết bị cơ khí. Những thứ thích thú khác là một bộ xe lửa và một số chú lính chì. Ngàicũng thích chơi đóng vai người lính với những  người quét dọn, vì nhiều người đã phục vụ trong quân đội.

Khoảng 1:00 giờ lại đến một bửa ăn trưa nhẹ, tiếp theo là những lớp học phổ thông, mà Tenzin Gyatso không thích. Những môn học bao gồm luận lý, nghệ thuật và văn hóa Tây Tạng, y học, triết lý Phật giáo, và Sanskrit, một ngôn ngữ chữ viết cổ điển từ Ấn Độ. Ngài cũng học thi ca, âm nhạc và kịch nghệ, chiêm tinh học, từ đồng nghĩa, và nói chuyện trước công chúng. Những môn học khó khăn nhất và quan trọng nhất là triết lý Phật giáo – giới luật và giáo huấn của Đức Phật và những triết gia ban sơ của Phật giáo – và tranh luận. Chính là qua tranh luận với những tu sĩ khác mà sự thông tuệ của một tu sĩ được đánh giá. Sau những lớp học phổ thông, những giáo thọ của ngài sẽ dành giờ tiếp theo để giải thích vấn đề tranh luận như thế nào cho chủ đề của ngày đó.

Sau những lớp học đó, thường là khoảng 4:00 giờ là được phục vụ trà. Trà Tây Tạng được pha trộn một cách truyền thống và với muối và bơ yak thay vì sửa. Sau khi dùng trà, hai tu sĩ, và ngài dành giờ tiếp theo để tranh luận những câu hỏi như “Tính bản nhiên của tâm là gì?” Cuối cùng, khoảng 5:30  là những bài học của ngày được hoàn tất. Ngay khi các giáo thọ đi khỏi, Tenzin Gyatso vội vã chạy lên nóc điện cho hoạt động thích thú khác — nhìn qua kính viễn vọng của ngài.

Khoảng 7:00 giờ, ngài đi xuống những tầng dưới để dùng buổi ăn tối của ngài, thông thường cùng với những tu sĩ từ tu viện Namgyal của điện Potala. Sau khi ăn uống, ngài phải đi ra ngoài sân, bảy tầng phía dưới nơi ở của ngài, để đi bộ, đọc tụng kinh điển, và cầu nguyện. Ngài thừa nhận, “Khi tôi còn trẻ và còn vô tư, tôi hầu như không bao giờ làm như vậy. Thay vì thế, tôi thường dùng thời gian hoặc để nghĩ về những câu chuyện, hay đoán trước những gì sẽ kể cho tôi nghe trước khi tôi lên giường ngủ. Rất thường, những thứ này có tính chất siêu nhiên, vì thế đó là một Đạt Lai Lạt Ma rất sợ hãi rón rén bước vào căn phòng tối tăm, đầy chuột bọ của ngài.”

NHỮNG CÁI NHÌN THOÁNG QUA VỀ THẾ GIỚI BÊN NGOÀI

Đức Đạt Lai Lạt Ma thừa nhận rằng ngài không luôn luôn xem việc học của ngài một cách nghiêm túc khi là một tu sĩ trẻ. Một lần, khi các giáo thọ của ngài đã phải lưu tâm rằng ngài đã không thực hiện đủ chương trình học tập, họ đã tổ chức những cuộc kiểm tra để cho ngài thấy những gì ít ỏi mà ngài đã học được. Họ đã bí mật kèm một trong những người quét dọn không học vấn và thử nghiệm người ấy song song với vị tu sĩ trẻ.  Tenzin Gyatso bị nhục nhã khi bị người quét dọn đánh bại, và trong một thời gian ngài học tập chăm chỉ hơn nhưng chẳng bao lâu lại trở lại những cung cách lười biếng. Trong tự truyện của ngài, ngài nói rằng ngài đã không coi trọng việc học tập chính thức cho đến khi ngài lớn hơn và bây giờ hối hận vì đã không tập trung hơn trong việc học tập của ngài trong những ngày ban sơ ấy.

Năm 1944 việc học vấn của Tenzin Gyatso được mở rộng vượt khỏi những bài học của các vị giáo thọ khi ngài đặt hai máy chiếu phim quay tay và vài cuộn phim trong nhà kho của điện Potala. Ngài cuối cùng tìm ra một vị sư già người Hoa biết sửa chửa và dạy ngài sử dụng chúng như thế nào. Ngài đã xem mỗi bộ phim nhiều lẫn. Một phim ngắn nói về lễ đăng quang năm 1911 của vua George V, nước Anh. Một phim khác dạy ngài về những hiểm nguy của việc khai thác vàng. Phim thứ ba là những cảnh với các hiệu ứng đặc biệt của điện ảnh cho thấy những nữ vũ công trồi lên từ những quả trứng khổng lồ.

Vài năm sau đó, hoàng gia Anh đã gửi cho Đức Đạt Lai Lạt Ma một máy chiếu phim chạy điện với một máy phát điện của nó. Những thứ này truyền cho vị tu sĩ trẻ tuổi một sự thích thú say mê với những hoạt động bên trong của những đối tượng cơ khí này và tự dạy mình mò mẫm không muốn rời chúng. Ngài đặc biệt thích thú thẩm tra một đồng hồ đeo tay Rolex bằng vàng, đã được gửi tới cho ngài như một tặng phẩm của tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, và một máy ảnh di động.


Chiến Tranh Thế Giới


Năm 1944, khi Tenzin Gyatso được chín tuổi thế giới bên ngoài đi vào chiến tranh. Chiến tranh thế giới đã bắt đầu vào năm 1939, khi Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan. Đến năm 1944, cuộc chiến đã lên đến cực điểm của nó, liên hệ đến hầu hết những quốc gia công nghiệp của thế giới. Trong năm đó, trận chiến của đồng minh phản công, (được gọi là the D-Day invasion) đã xảy ra ở châu Âu, sự khai triển quân đội lớn nhất của lịch sử thế giới. Ở vùng Thái Bình Dương, xu hướng đã chống lại quân Nhật, và quân đội Đồng Minh ở Phi Luật Tân đã ở sẳn sàng. Tuy thế ở Tây Tạng,cuộc sống vẫn tiếp diễn bình thường. Trong khi những cường quốc lâm chiến, Tenzin Gyatso, bị cô lập ở Lhasa, hầu như không biết gì về những việc đang xảy ra ở thế giới bên ngoài đất nước của ngài.

 

Những kho chứa của điện Potala đã trở thành những mỏ vàng cho của cậu bé tò mò. Thêm nữa đối với những kho tàng vàng bạc và những khí cụ tôn giáo vô giá đó, cậu bé đã tìm thấy những cây gươm cổ, súng trường kiểu cũ, những bộ áo giáp, và những quyển sách minh họa về chiến tranh thế giới thứ nhất. Tenzin Gyatso trẻ say mê những quyển sách này, học hỏi tất cả những gì cậu có thể về thế giới bên ngoài. Ngài cũng đã tìm thấy những hộp âm nhạc cũ, ngài đã tháo rời ra, và hai đôi giày châu Âu, mà ngài đã mang. Dù vậy không thứ gì ngài tim ra giúp ngài thấu hiểu thế giới bên ngoài hơn những bài học mà ngài đã tiếp nhận từ một vị gia sư mới bất ngờ nhất – một tù nhân chiến tranh người Áo vượt ngục tên Heinrich Harrer.

HEINRICH HARRER

Năm 1946, khi Tenzin Gyatso được mười một tuổi, một nhà mạo hiểm và leo núi người Áo, Heinrich Harrer, đã đến Lhasa. Ông đã vượt thoát trại giam tù nhân chiến tranh của Anh quốc ở Ấn Độ năm 1944 và trốn đến Tây Tạng với một người đồng hành. Cùng nhau họ đã đi xuyên Himalayas và lang thang trong hai năm trước khi đến Lhasa. Vào lúc đó, Harrer đã học nói tiếng Tây Tạng. 

Trong tự truyện của ông Bảy Năm ở Tây Tạng, Harrer đã nhớ lại việc gặp gở Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi trong một lễ hội Năm Mới ở Potala:

Khi chúng tôi đến phòng tiếp kiến, chúng tôi nghển cổ cố để nhìn thấy vị Phật Sống [Đức Đạt Lai Lạt Ma] qua rừng đầu người. Và ngài cũng thế, trong phút chốc hoàn toàn quên đi địa vị của ngài, háo hức nhìn lên để thấy hai người lạ mà ngài đã nghe nói rất nhiều. Trong tư thế của Đức Phật, hơi nghiêng về phía trước, Đức Đạt Lai Lạt Ma đang ngồi trên bảo tọa phủ gấm đắt tiền. Trong hàng giờ liền, ngài phải ngồi và nhìn những dòng người thành tín xếp thành hàng và ban phước lành khi họ đi ngang qua…. Khi chúng tôi thấy mình đứng cúi đầu trước Đấng Thị Hiện, tôi không thể cưỡng lại sự cám dỗ để nhìn lên. Một nụ cười mỉm hồn nhiên nở rạng trên khuôn mặt đáng yêu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và bàn tay ngài đưa lên ban phước lành đã đặt trên đầu tôi ngay lập tức… . Không người khách nào đến yết kiến với đôi bàn tay không… . Đáng ấn tượng hơn, những tặng phẩm [mà họ đã mua] là biểu lộ lòng tận tụy nhiệt thành trước mặt tất cả những người khác. Đối với nhiều người, đó là thời khắc tuyệt vời nhất trong cuộc đời của họ.

Tenzin Gyatso, qua một người trung gian, đã yêu cầu Harrer quay phim những hoạt động bên ngoài cung điện mà ngài không thể tham dự. Do bởi địa vị của ngài như một vị Thánh Vương, nên ngài không thể ra khỏi cung điện mà không có một đám rước cùng tùy tùng. Ngài cũng không được nói chuyện trực tiếp với những cá nhân khác hơn là các giáo thọ, người phục vụ, hay các thành viên trong gia đình của ngài. Harrer đã thu hình vài sự kiện, và khi bộ sưu tập của Đức Đạt Lai Lạt Ma gia tăng, ngài đã yêu cầu Harrer xây dựng một phòng chiếu phim tại Norbulingka.

Sau khi làm xong năm 1949, Tenzin Gyatso đã làm mọi người sốc khi bỏ nghi thức ngoại giao vốn có và mời Harrer đến viếng thăm ngài, trực tiếp, tại phòng chiếu phim. Với sự ngạc nhiên của Harrer, Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi đã đón tiếp ngài tại cửa, yêu cầu ông giúp ngài sử dụng máy chiếu phim, và xem vài bộ phim với ngài, và rồi thì, trong khi ngồi một cách ngẫu nhiên trên thảm trong phòng chiếu phim, ngài đã dồn dập hỏi ông với hàng tá câu hỏi về thế giới bên ngoài. Harrer nhớ lần gặp gở mặt đối mặt đầu tiên của họ:

Khi chúng tôi chỉ có một mình, chúng tôi dọn sạch các bộ phim và phủ các tấm vải vàng lên những bộ máy. Rồi thì chúng tôi ngồi xuống trên một tấm thảm lộng lẫy trong phòng chiếu phim với ánh sáng mặt trời xuyên qua những cửa sổ mở… . Lúc ban đầu tôi đã muốn từ chối lời mời của ngài để ngồi xuống, vì biết rằng ngay cả những bộ trưởng cũng không thể ngồi trong sự hiện diện của ngài, nhưng ngài nắm ngay tay áo tôi và kéo tôi ngồi xuống, đã chấm dứt sự hoài nghi của tôi. Ngài đã nói với tôi rằng ngài đã xếp đặt để có cuộc gặp gở này từ lâu, khi ngài không thể nghĩ ra bất cứ cách nào để trở nên quen thuộc với thế giới bên ngoài. Ngài cho rằng quan nhiếp chính vương sẽ cản trở, nhưng ngài đã quyết định cung cách riêng của ngài… . Ngài quyết tâm mở rộng kiến thức của ngài vượt khỏi những môn học thuần túy tôn giáo, và dường như đối với ngài thì tôi là người duy nhất có thể giúp ngài làm như thế.

Một khi mối quan hệ của họ được thiết lập, Harrer trở thành một trong những gia sư của Tenzin Gyatso, gặp ngài một cách không chính thức mỗi tuần một lần. Trong một năm  rưởi tiếp theo, người Áo ấy giúp ngài học tiếng Anh, nắm được tin tức về Âu châu và chiến tranh thế giới vừa qua, và giúp ngài sửa chửa một số máy móc cơ khí mà ngài sở hữu kể cả một máy phát điện và ba chiếc xe hơi của vị tiền nhiệm. Có một lúc, Tenzin Gyatso trở nên quá tò mò về những chiếc xe hơi đến nổi ngài lẻn đem ra ngoài một chiếc và lái nó chung quanh điện Norbulingka. Không có gì ngạc nhiên, ngài đã đâm chiếc xe vào một thân cây.

Harrer đã ở lại Tây Tạng cho đến khi Tàu Cộng xâm lược năm 1950. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xem ông như một người bạn thân và giữ liên lạc với Harrer cho đến khi ông qua đời ở Áo quốc năm 2006 khi ông chín mươi ba tuổi.

 

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN

Tháng Tám năm 1950, khi Tenzin Gyatso được mười lăm tuổi, Tây Tạng đau khổ vì một trận động đất lớn. Giống như hầu hết người Tây Tạng, ngài không xem đó chỉ là một hiện tượng tự nhiên. Ngài tin rằng nó là một điềm xấu. Hai ngày sau, có tin quân Tàu Cộng đã xâm nhập vùng đông bắc xa xôi của Tây Tạng. Trung Hoa mới đây đã có một cuộc cách mạng và đã bị khống chế bởi đảng Cộng Sản và lãnh tụ của nó là Mao Ze-dong, mà mục tiêu của ông ta là giải thoát người Tây Tạng khỏi sự áp chế của chính quyền phong kiến.


Vào thời điểm của cuộc tấn công đầu tiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma thanh thiếu niên chưa được tuyên bố là lãnh đạo chính trị của Tây Tạng, cho nên vị nhiếp chính vương đã lo liệu tình hình, khởi động đội quân bé nhỏ của Tây Tạng. Tuy thế, hai tháng sau, tin tức cho hay rằng đội quân Tàu Cộng, Quân Giải Phóng Nhân Dân, đã xâm lược Tây Tạng với tám mươi nghìn quân lính. Những lãnh tụ của Tây Tạng nhận ra rằng đội quân tám nghìn năm trăm quân nhân với vũ khí thô sơ sẽ không là gì đối với những kẻ xâm lược. Với mùa đông sắp đến, dân tộc Tây Tạng yêu cầu Tenzin Gyatso phải được tuyên bố là một người đủ trưởng thành để lãnh đạo chính quyền. Ngài không tin là ngài đã sẳn sàng, nhưng không ai tham khảo ý kiến của ngài. Thay vì thế, họ đã hỏi Nãi Quỳnh Hộ Pháp (Nechung Oracle).

Trong trạng thái xuất thần và loạng choạng dưới sức nặng của áo mão nghi lễ nặng nề, vị hộ pháp “đã đi đến nơi [Đức Đạt Lai Lạt Ma] ngồi và trải một kata, tấm khăn choàng bằng lụa trắng, trên đùi của ngài với những chữ ‘Thu-la bap,’ “Thời của ngài đã đến.’ Dorje Drakden [vị thánh bảo hộ của Tây Tạng, người mà Phật tử Tây Tạng tin là đối thoại tiên tri qua trạng thái xuất thần] đã nói.” Vào ngày 17 tháng Mười Một năm 1950, trong một buổi lễ ở điện Potala, Tenzin Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, được chính thức tuyên bố là lãnh tụ chính trị của Tây Tạng. Khi buổi lễ chấm dứt, vị tu sĩ trẻ tuổi trở thành lãnh tụ không thể tranh cải của sáu triệu người Tây Tạng, đối mặt với cuộc chiến tranh toàn diện. Những lựa chọn trước mắt ngài là khó khăn.

 

***

Ân Tâm Lộ, Saturday, March 27, 2021

 

 

 

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021

QUÊ HƯƠNG SINH THÀNH



VƯƠN LÊN TỪ NƠI HẺO LÁNH

Tenzin Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng, là một nhân vật quen thuộc của công chúng. Ngài nói chuyện với hàng nghìn người mỗi năm và đã viết hàng chục quyển sách bán chạy nhất về quê hương của ngài, cuộc sống của ngài, tôn giáo niềm tin của ngài, khí hậu thế giới, và các vấn đề thế giới. Ngài đã được cấp bằng danh dự từ nhiều trường đại học, và đức tướng của ngài đã được công nhận một cách rộng rãi. Tuy nhiên, “vị tu sĩ đơn giản” đã bắt đầu cuộc sống trong bóng tối như Lhamo Thondup, người con thứ tám được sanh ra trong những gia đình nông dân nghèo trong một làng quê nhỏ bé ở một vùng xa xôi hẻo lánh của Tây Tạng.

TAKTSER, TÂY TẠNG

Ở vùng đông bắc lịch sử của Tây Tạng là tỉnh Amdo, và gần góc đông bắc của tỉnh đó, chỉ cách vài dặm với biên giới Trung Hoa, là làng Taktser, có nghĩa là “Cọp Gầm” trong tiếng Tây Tạng. Vào lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sinh ra trong năm 1935 (theo lịch Tây Tạng là năm Lợn Gỗ). Amdo bị kiểm soát bởi một lãnh chúa Hồi giáo liên minh với Trung Hoa, cho nên một số tài liệu ghi nơi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma là tỉnh Thanh Hải thay vì tỉnh Amdo của Tây Tạng. Tuy nhiên, người Tây Tạng, luôn luôn xem Amdo là một bộ phận của quê hương họ và khằng định Đức Đạt Lai Lạt Ma là người Tây Tạng. Ngài, dĩ nhiên là đồng ý.

Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, “[Taktser] là một làng nhỏ và nghèo nằm trên đồi nhìn xuống một thung lũng rộng.  Những cánh đồng của nó không có người định cư hay gieo trồng mà chỉ được chăn thả bởi những người du mục. Lý do cho việc ấy là sự bất thường của khí hậu của vùng này. Trong thời thơ ấu, gia đình tôi là một trong khoảng hai mươi gia đình sống bấp bênh từ mãnh đất đó.” Cha mẹ của ngài, Choekyong và Diki Tsering, trồng lúa mạch, kiều mạch, và khoai tây trên vùng đất đầy sỏi đá. Họ cũng nuôi ngựa, cừu, dê và một vài con gà, con dzomos, là con thú lai giữa con yak và bò, và một con bò.  Lúa mạch họ trồng, khi rang và xay thành bột mịn, trở thành tsampa, một thực phẩm chính trong chế độ ăn uống của người Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn ăn tsampa trong điểm tâm mỗi ngày, trộn nó với trà, sửa, hay sửa chua.

Gia đình Đức Đạt Lai Lạt Ma sống trong một ngôi nhà điển hình, được xây dựng bởi đá và bùn, sơn trắng, có mái ngói. Trước nhà là khoảng sân. Một cột cờ treo những lá cờ nhiều màu sắc, với những lời cầu nguyện của người Phật tử Tây Tạng. Đặc trưng đặc biệt của ngôi nhà là hệ thống máng xối, những đoạn khoét của các nhánh cây bách xù – mà sau này đóng vai trò chính trong việc xác định Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Trong tự truyện Tự Do Trong Lưu Đày, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã diễn tả căn nhà của gia đình ngài:

Bên trong là sáu phòng; một nhà bếp, nơi chúng tôi dành hầu hết thời gian của mình khi ở nhà; một phòng cầu nguyện với một bàn thờ nhỏ, nơi chúng tôi tập trung để cúng dường lúc bắt đầu mỗi ngày; phòng cha mẹ tôi; một phòng để dành cho khách đến thăm; một kho để thức ăn dự trử; một chuồng bò. Không có phòng ngủ cho trẻ con chúng tôi. Như một em bé, tôi ngủ với mẹ tôi; sau này, trong nhà bếp, gần lò nấu ăn.

Cuộc sống ở cao nguyên Tây Tạng khô cằn, gió lộng là khó khăn. Không phải mọi đứa trẻ đều sống sót. Mẹ của Đức Đạt Lai Lạt Ma sinh mười sáu lần. Sống còn chỉ bảy đứa trẻ. Đức Đạt Lai Lạt Ma được sinh ra lần thứ tám, và là người thứ năm sống sót. Khí hậu cũng làm Tây Tạng là một nơi rủi ro để gây dựng một gia đình. Mặc dù khu vực chung quanh Taktser là nông nghiệp, nhưng chỉ có ít mưa. Thông thường, mưa rơi xuống là mưa đá, tạo ra nạn đói. Theo mẹ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, gia đình ngài sống còn, đôi khi hàng năm nhờ đậu lăng, đậu xanh và lúa gạo của những tu sĩ từ tu viện Kumbum gần đó cung cấp.

LHAMO THONDUP RA ĐỜI

Vào những năm 1930, Tây Tạng không có đường tráng nhựa, nên việc đi lại bằng đôi chân hay trên lưng ngựa. Tiền tệ không phổ biến ở vùng xa xôi hẻo lánh, cho nên việc mua bán chủ yếu là trao đổi – trao đổi vật thực cho những thứ khác hay làm công. Thị trấn gần nhất, Siling, cách đó ba giờ đồng hồ bằng đi ngựa, và cha của Đức Đạt Lai Lạt Ma đôi khi cởi ngựa đến đó để trao đổi những gì ông đã trồng trọt cho những vật thực khác như trà, đường, bông vài, dụng cụ hoặc có khi là một con ngựa.

Ba năm trước khi Lhamo Thondup sinh ra thì đặc biệt khó khăn đối với gia đình. Vào thời gian ấy không có mưa thông thường – chỉ có mưa đá. Mùa màng của họ thường bị tàn phá. Mặc dù người cha rất thông thạo về ngựa, nhưng tất cả các con ngựa đều nổi điên, lăn lộn trong nước uống của chúng và không ăn. Cổ chúng cứng đơ, chúng đi cà nhắc và cuối cùng mười ba con ngựa lăn ra chết cả. Người cha cảm thấy hổ thẹn vì đó là trách nhiệm của ông, nhưng người ta không bao giờ xác định được chúng bệnh gì. Hai tháng trước khi Lhamo Thondup ra đời, cha của ngài cũng trở bệnh rất nặng và nằm liệt giường. Khi đứng lên, ông cảm thấy chóng mặt và ngất xỉu. Mỗi lần đi ra ngoài, ông thấy hình tượng cha mẹ đã chết của ông. Ông không ngủ vào ban đêm, làm vợ ông thức giấc, và làm bà khó khăn làm việc vào ban ngày.

Một tháng trước khi đứa trẻ ra đời, Diki Tsering đã có một giấc mơ lập lại nhiều lần. Bà thấy một con rồng xanh dương và hai con sư tử xanh lục bay trên không. Trong hồi ký, Đạt Lai Lạt Ma, Con Trai Tôi, bà viết,

Chúng cười với tôi và chào tôi trong phong cách truyền thống của Tây Tạng: hai bàn tay, đưa lên trán. Sau này tôi được nói lại rằng con rồng là Đức Thánh Thiện [Đạt Lai Lạt Ma thứ13], và hai con sư tử là Nãi Quỳnh Hộ Pháp [Nechung Oracle – những vị phát biểu trong trạng thái xuất thần của Tây Tạng], chỉ Đức Thánh Thiện đường tái sanh. Sau giấc mơ của tôi, tôi biết rằng con trai của tôi sẽ là một vị lạt ma cao cấp nào đó, nhưng không bao giờ trong những giấc mơ cuồng nhiệt của tôi mà tôi nghĩ đứa con ấy sẽ là Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vào ngày 6 tháng Bảy năm 1935, buổi sáng khi Lhamo được sinh ra, người cha rời giường trước khi mặt trời mọc, hoàn toàn khỏe mạnh. Khi ông biết rằng vợ ông đã sinh ra một bé trai, ông nói với bà rằng họ nên cho nó làm tu sĩ. Sau khi sanh, trời mưa đổ xuống và không có thêm người chết hoặc những sự kiện kỳ quặc khác xảy ra.



Một cách lịch sử thì quốc gia Tây Tạng không còn tồn tại trên bản đồ thế giới. Từ khi nó bị Cộng Sản Trung Hoa xâm lược năm 1949, nó bị sáp nhập vào các tỉnh khác nhau của Trung Hoa. Khi Tàu Cộng  đặt ra Khu Tự Trị Tây Tạng
(TAR), chính quyền được dựng lên năm 1965, vốn chỉ còn ít hơn một nửa đất đai lịch sử của Tây Tạng. Tây Tạng lịch sử - những gì người Tây Tạng ngày nay vẫn liên hệ đến như Tây Tạng – vốn bao gồm 965,000 dặm vuông (2,5 triệu km vuông) – tương đương với Tây Âu hay các bang phía Tây Hoa Kỳ từ sông Mississippi. Và tuy thế, mặc dù địa lý quan trọng của khu vực này đối với Á châu, nhưng người ta chỉ biết một ít về nó cho đến tương đối gần đây, chủ yếu cũng bởi vì sự xa xôi hẻo lánh và khó tiếp cận của nó.


KÝ ỨC TUỔI THƠ

Như một đứa bé, trước khi được xác nhận bởi những lạt ma Tây Tạng, Lhamo không bao giờ cho thấy bất cứ sự sợ hãi đối với những người xa lạ và cố nài được ngồi ở đầu bàn. Mẹ ngài sau này diễn tả sự đặc biệt của đứa con trai bà:  

Lhamo Thondup đã khác biệt với những đứa con khác của tôi ngay từ đầu. Ngài là một đứa bé ủ rũ thường ở trong nhà một mình. Ngài luôn luôn khăn gói áo quần và một ít đồ đạc của ngài. Khi tôi hỏi là ngài đang làm gì, thì ngài trả lời là ngài đang chuẩn bị để đi Lhasa [thủ đô của Tây Tạng] và sẽ đem tất cả mọi người cùng đi với ngài. Khi chúng tôi đi thăm những người bạn hay thân nhân, ngài không bao giờ uống trà ở bất cứ ly tách nào ngoài chiếc ly của tôi. ngài không bao giờ để bất cứ người nào ngoài tôi đụng chạm đến chăn mền của ngài và không bao giờ để bất cứ nơi nào khác hơn là bên cạnh chăn mền của tôi. Nếu ngài đi ngang một người hay gây gỗ, thì ngài sẽ cầm một cây gậy và cố đánh người đó. Nếu có người khách nào của chúng tôi châm một điếu thuốc, ngài sẽ nổi lên cơn thịnh nộ. Những người bạn của chúng tôi đã nói với chúng tôi rằng vì một lý do không thể giải thích được nhưng họ sợ ngài, tế nhị trong hàng năm như vậy. Tất cả những điều này là khi ngài vừa hơn một tuổi và hầu như không thể nói chuyện. Một ngày nọ ngài nói với chúng tôi là ngài đến từ thiên đàng.

Những ký ức của Đức Đạt Lai Lạt Ma về cha mẹ của ngài vẫn rõ ràng. Cha ngài, qua đời năm 1947, là một người đàn ông nghiêm khắc, cao vừa phải, với một bộ ria rậm và dễ nóng. Mẹ ngài, qua đời năm 1981, rất được tôn kính. Ngài diễn tả bà như “không nghi ngờ gì nữa là một người ân cần nhất mà ngài từng biết. Bà thật sự tuyệt vời và được yêu mến. Tôi hoàn toàn chắc chắn, bởi tất cả những người biết bà.” Trong gần ba năm, Lhamo Thondup và gia đình sống bình thường hằng ngày. Ngài nhớ rằng ngài thích đi vào chuồng gà và lượm trứng cùng mẹ ngài. Khi xong việc, mẹ ngài đi vào nhà, nhưng ngài vẫn ở đó, ngồi bên một ổ gà, làm những tiếng gà mái kêu. Ngài nhớ lần đầu tiên thấy con lạc đà, nó to lớn và đáng sợ như thế nào đối với ngài. Ngài cũng nhớ việc thấy một đám con nít đánh nhau và chạy đến giúp đở những đứa bị thương.

Không có điều gì bất thường trong những năm ấy. Mặc cho những giấc mơ, dự đoán, và những sự kiện tốt lành quanh sự ra đời của đứa con trai của họ, cha mẹ ngài không bao giờ tưởng tượng rằng con trai của họ có thể là tái sanh của một người quyền lực nhất và được tôn kính nhất ở Tây Tạng – Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 13 VĨ ĐẠI

Những người Phật tử tin tưởng tinh hoa của mỗi cá nhân – “tâm linh” hay “thần thức” – được tái sinh vào một thân thể mới một khi thân thể trước chết đi. Họ tin tiến trình này tiếp tục hàng thế hệ cho đến khi cá nhân ấy đạt được Giác Ngộ - sự tỉnh thức hoàn toàn với ý nghĩa chân thật của sự sống. Vào lúc ấy cá nhân thành tựu niết bàn – sự hòa bình an lạc cứu kính – và không trở lại đời sống vật chất [của nghiệp lực mà là sự tái sinh của nguyện lực]. Vì các lạt ma tự nguyện hy hiến trong việc theo đuổi tâm linh, cho nên họ được mọi người xem như sở hữu những tâm thức “cũ” của những kiếp sống trước. Mỗi Đức Đạt Lai Lạt Ma được tin rằng có cùng tâm thức vốn hiện hữu trong chính Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất. Nhiều người cũng cảm thấy ngài là một hiện thân của Đức Quán Thế Âm, Bồ tát của lòng từ bi. Một vị Bồ tát cũng là một người nào đó sẽ tiếp tục tái sinh để giúp đở người khác thành tựu bản nguyện độ sanh.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, Thupten Gyatso, không giống như vị tiền nhiệm của ngài. Ngài nhìn xuyên suốt sự cô lập của Tây Tạng và nhận ra tầm quan trọng của những quan hệ quốc tế. Ngài là Đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên du hành bên ngoài Tây Tạng – đến Mongolia, Trung Hoa, và Ấn Độ. Ngài hiện đại hóa Tây Tạng, thiết lập một hệ thống giáo dục thế tục, một kho vũ khí, một lực lượng phòng vệ, một hệ thống bưu điện, một lá quốc kỳ, và một bộ ngoại giao tinh vi hơn.

Đức Vĩ Đại thứ 13, như ngài được gọi, được là cho là có những tầm nhìn cho tương lai. Trong năm 1930, ngài nhìn thấy trước những đe dọa khủng khiếp cho Tây Tạng hai mươi năm kể từ lúc ấy. Ngài tiên đoán một giai đoạn khi “tu sĩ và tu viện sẽ bị tàn phá…[và] tất cả mọi người sẽ bị nhấn chìm trong một sự gian khổ rộng lớn và tràn ngập sợ hãi.” Trong năm 1932, Đức Vĩ Đại thứ 13 đã thực hiện một sự lựa chọn quyết liệt. Ngài quyết định viên tịch để cho vị tái sinh của ngài đủ trưởng thành để có những quyết định cần thiết khi những đe dọa đó xảy ra. Một số lạt ma cho rằng có sự kiểm soát như vậy đối với hơi thở của họ để họ có thể đúng là “tự ý” viên tịch.

Vào ngày 17 tháng 12 năm 1933, sau hàng tuần ngồi thiền im lặng, ngài Thupten Gyatso viên tịch, thọ năm mươi bảy tuổi. Thi thể ngài được bảo tồn trong phong cách truyền thống cho những lạt ma cao cấp.  Nó được nung trong bơ của con yak và muối, khuôn mặt ngài được phủ vàng, và ngài ngồi thẳng, mặt hướng về phía nam, trong một phòng thờ của Điện Potala, đại bản doanh của chính phủ Tây Tạng và là cung điện mùa đông của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Theo sự tin tưởng của Phật giáo Tây Tạng, tâm thức của ngài sẽ cư trú bốn mươi chín ngày ở Hồ Lhamo Lahtso ở phía nam Tây Tạng trước khi chuyển đến sự tái sinh mới.



DÒNG TRUYỀN THỪA ĐẠT LAI LẠT MA

Phật tử Tây Tạng tin rằng tất cả chúng sanh được tái sinh nhưng ở những cá nhân nào đó, được gọi là tulky, hay hóa thân, chọn trở lại hết lần này đến lần khác để giáo huấn những người khác thành tựu đạo quả như thế nào. Cao nhất trong những vị này là Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mười ba Đức Đạt Lai Lạt Ma, mỗi vị là một tulku, đã ngự trị Tây Tạng cho đến lúc Lhamo Thondup sinh ra vào năm 1935. Gendun Drup, được danh hiệu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất năm 1391. Khi ngài viên tịch năm 1474, những lạt ma cao cấp Tây Tạng đi tìm một đứa bé có tâm thức của Gendun Drup. Hóa thân của Gendun Drup được tìm thấy trong hài nhi tên Gendun Gyatso, sinh năm 1475. Sau sự viên tịch của Gendun Gyatso năm 1541, các lạt ma tìm ra Sonam Gyatso (1543–1588). Tiếp theo là Yonten Gyatso (1589–1616), Lobsang Gyatso (1617–1682), Tsangyang Gyatso (1683–1706), Kelzang Gyatso (1708–1757), Jamphel Gyatso (1758–1804), Lungtok Gyatso (1806–1815), Tsultrim Gyatso (1816–1837), Khendrup Gyatso (1838–1856), Trinley Gyatso (1857–1875), và cuối cùng là Thupten Gyatso, sinh ra năm 1876. “Gyatso”có nghĩa là đại dương trong Tạng ngữ, có nghĩa là chiều sâu và chiều rộng của tuệ trí.

 

TÌM KIẾM VÀ THỬ NGHIỆM ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 14


“Nóc Nhà của Thế Giới”


Khi người ta nghĩ về Tây Tạng, hầu hết là hình ảnh của những ngọn núi cao, phủ tuyết. Tây Tạng bao gồm những ngọn núi cao nhất của thế giới, kể ngọn núi cao nhất – ngọn Everest (Chomo Langma trong Tạng ngữ), cao 29,028 feet (8,848m). Trải dài gần như toàn bộ biên giới phía nam của Tây Tạng. Một đặc trưng khác ít được biết hơn của vùng đất xa xôi này là cao nguyên Tây Tạng, một vùng đất cao, gió lộng, chiếm phần lớn diện tích đất đai của Tây Tạng. Vì vùng núi Hymalaya và cao nguyên Tây Tạng, có độ cao trung bình —16,000 feet (4,880m)— nên nó cao hơn tất cả trừ những đỉnh núi Rocky cao nhất ở Bắc Mỹ.

Cao nguyên Tây Tạng rộng lớn cũng cung ứng như cội nguồn của nhiều dòng sông vĩ đại nhất của Á châu. Dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử chảy về hướng đông của cao nguyên Tây Tạng và xuyên Trung Hoa đến Biển Hoàng Hải và Biển Hoa Đông, một cách tương ứng. Dòng sông Ấn, sông Hằng, và sông Brahmaputra chảy về hướng nam từ Tây Tạng – qua Ấn Độ, Pakistan, và Bangladesh – trước khi đổ vào Biển Ả Rập, và Vịnh Bengal. Cuối cùng dòng Salween và Cửu Long chảy theo hướng đông nam Á châu và vào Ấn Độ Dương cùng Biển Đông Nam Á, một cách tương ứng. Cùng nhau, nguồn nước từ những dòng sông này vốn bắt nguồn từ Tây Tạng nuôi sống 40% dân số của thế giới


Sau khi Thupten Gyatso qua đời, các lạt ma bắt đầu tìm kiếm Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 ngay khi những dấu hiện xuất hiện. Một cách truyền thống, những ảo mộng và điềm lành hướng dẫn các lạt ma đến vị hóa thân tiếp theo. Dấu hiệu thứ nhất sau khi Thupten Gyatso viên tịch đã đến từ nhục thân của chính Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mặc dù, nhục thân của ngài được đặt hướng mặt về phương nam, nhưng đầu của ngài đã quay về phía đông bắc một cách kỳ bí. Do thế, các lạt ma đã tìm kiếm vị kế nghiệp ở hướng đông bắc.

Dấu hiệu tiếp theo trong hình thức của một ảo mộng đã đến từ một lạt ma cao cấp, Reting Rinpoché. Rinpoché là danh hiệu được ban cho những bậc thầy tâm linh. Nó có nghĩa là “Bậc Tôn Quý.” Reting Rinpoché đã thăm hồ thiêng Lhamo Lahtso và thấy những mẫu tự Tây Tạng Ah, Ka, và Ma nổi trên mặt hồ. Ngài chắc chắn Ah liên hệ đến tỉnh Amdo ở vùng đông bắc Tây Tạng. Ngài cũng thấy một ảo tượng của của một tu viện ba tầng với một mái ngọc lam và vàng kim và một ngôi nhà nhỏ với những chiếc máng nước mưa có hình thù kỳ lạ. Một đoàn tu sĩ được gửi tới Amdo. Sau bốn năm tìm kiếm, họ đã đến tu viện Kumbum, vốn cao ba tầng và có mái ngọc lam cùng vàng kim. Điều này, họ chắc chắn, biểu hiện cho Ka đến từ ảo tượng của của hồ nước. Gần đó, họ thấy một ngôi nhà với những máng xối làm từ cành cây bách xù. Bên trong, họ thấy một gia đình nông dân với cậu bé mới biết đi — Lhamo Thondup.

Lãnh đạo của đoàn, Khetsang Rinpoché, một tu sĩ cao cấp từ tu viện Sera gần Lhasa, cải trang thành một nông dân, tuy thế Lhamo chưa đầy hai tuổi vẫn chạy đến chào đón ông, và gọi, “lạt ma Sera, lạt ma Sera!” Các tu sĩ không nói gì. Họ ở lại đêm và cảm ơn lòng mến khách của gia đình, và họ rời đi sáng hôm sau. Họ trở lại ba tuần sau và một lần nữa ở lại với gia đình, quan sát đứa bé. Họ từ giả mà không cho gia đình biết mục đích của một trong hai chuyến thăm viếng.

Trong cuộc viếng thăm lần thứ ba, hai tuần sau, họ mang theo một chiếc bát, một chiếc trống lễ, một xâu chuỗi, và áo quần nào đó của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, cùng với những vật dụng tương tự mà không phải thuộc về ngài. Họ đưa chúng cho Lhamo để thấy hài nhi thích thứ nào hơn. Mỗi lần như vậy, đứa bé nhanh chóng chọn những thứ sở hữu của Đức Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm, và nói, “nó là của tôi. Nó là của tôi.” Mẹ của Đức Đạt Lai Lạt Ma nhớ lại một cách sống động một trong những thử nghiệm như vậy: “Khetsang Rinpoché mang theo hai cây quyền trượng khi ngài đi vào hiên nhà, nơi Lhamo … đang nô đùa. Rinpoché để hai cây quyền trượng ở trong một góc. Con trai của tôi đi tới những cây quyền trượng, đặt một cây nằm xuống và cầm lấy một cây khác. Ngài đập nhẹ cây quyền trượng vào lưng Rinpoché và nói của ngài và tại sao Khetsang Rinpoché lấy nó.”

Chi đến lúc ấy, các tu sĩ mới cho biết mục đích chính của họ — để xác định đúng hóa thân vị lãnh đạo quá cố của họ. Họ đã thử nghiệm vài ứng viên có thể trong vùng nhưng được thuyết phục đây là hài nhi mà họ tìm kiếm. Sau khi thăm hỏi Lhamo riêng tư trong ba giờ nữa, các tu sĩ nói với bà mẹ là con trai bà đã nói chuyện với họ, mà không khó khăn gì với phương ngữ Lhasa của chính họ. Ngài chưa bao giờ nghe phương ngữ đó lần nào.

Họ đã bị thuyết phục. Sau khi cho gia đình biết, họ đã gửi một sứ giả đến Lhasa để thông báo cho chính quyền lâm thời — quan nhiếp chính vương — rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma mới đã được tìm thấy. Biết rằng việc này sẽ mất vài tuần để nhận được trả lời, nên họ đã quyết định rằng Lhamo nên đến tu viện Kumbum để được làm lễ nhập môn và bắt đầu việc tu tập của ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhớ lại, “Tôi được làm lễ nhập đạo trong một buổi lễ xảy ra vào lúc rạng đông. Tôi nhớ sự kiện này đặc biệt khi tôi ngạc nhiên vì bị đánh thức và mặc áo quần trước khi mặt trời mọc. Tôi cũng nhớ được ngồi trên một trên một chiếc ngai.” Như vậy đã bắt đầu cuộc hành trình đã đưa Đức Đạt Lai Lạt Ma vượt xa Tây Tạng.

Chờ Đợi Lâu tại Kumbum

Không có gì bất thường trong những ngày đó cho một nhi đồng rất nhỏ – một em bé khoảng hai tuổi – được thừa nhận đến những tu viện Tây Tạng để rèn luyện như những tu sĩ Phật giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhớ những tháng đầu tiên đó tại Kumbum như một thời gian đặc biệt phiền muộn cho cuộc đời của ngài vì cha mẹ ngài không có ở đó với ngài. Nhưng một vài nhân tố làm cho việc ở lại Kumbum của Lhamo hơi dễ dàng hơn để chịu đựng. Một người anh của ngài, Lobsang Samten, đã được xác nhận là một tulku sớm hơn, sự tái sanh của một lạt ma cao cấp, và đã được rèn luyện tại tu viện. Mặc dù Lobsang chỉ ba tuổi, nhưng ngài chăm sóc cho Lhamo, và họ trở thành không thể tách rời. Một việc khác vốn giúp cậu bé chập chửng trải qua thời gian này của việc chia cách là tính cách của vị thầy được chỉ định cho việc rèn luyện khởi đầu của ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhớ lại vị thầy ấy là một tu sĩ già rất ân cần, người an ủi ngài cũng như dạy dỗ cho ngài, đôi khi đắp ngài với áo choàng của thầy và ban cho ngài những đối xử đặc biệt. Cuối cùng, khi rõ ràng rằng Lhamo sẽ được đoàn tụ với cha mẹ của ngài ngay khi những chuẩn bị cho chuyến hành trình của ngài đến Lhasa được thực hiện, thì ngài có thể dễ dàng hơn trong việc chịu đựng sự cô đơn ngài.

 


***

Ẩn Tâm Lộ, Sunday, March 7, 2021


Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

GIỚI THIỆU QUYỂN NHỮNG GIAI TẦNG THIỀN TẬP


 


Nguyên tác: Stages of Meditation

Nhà xuất bản: Snow Lion Publication - 2003

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch: Venerable Geshe Lobsang Jordhen

 Losang Choephel Ganchenpa

 Jeremy Russel

Việt dịch: Tuệ Uyển – 07/05/2011

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

Trước khi đọc vào nội dung chính của quyển sách này chúng ta lại biết thêm rằng với cương vị là nguyên thủ Tây Tạng - quốc chủ một nước và Pháp Vương Hay Tăng Thống, một Đức Đạt Lai Lạt Ma của Phật Giáo Tây Tạng tức là lãnh tụ thế quyền lẫn giáo quyền của Tây Tạng, bản thân ngài lại có bằng Geshe Lharampa, bằng tiến sĩ Phật giáo cao nhất của Tây Tạng nhưng tinh thần tham cầu học hỏi của ngài không ngừng nghĩ. Dù đã sống lưu vong ở Ấn Độ, bận rộn trăm bề với quốc sự và Phật sự, đi khắp nơi trên thế giới để vận động cho vấn đề Tây Tạng, giảng dạy Phật Pháp cho Phật tử và hoạt động vì hòa bình thế giới nhưng ngài vẫn luôn luôn tìm hiểu để thấy những bộ luận nào của Tây Tạng mà ngài vẫn chưa biết để tham cầu học hỏi như bộ luận Những Giai Tầng Thiền Tập này. Khi những trưởng lão giáo thọ trong tông phái Gelugpa có truyền thừa về bộ luận này viên tịch ngài không ngần ngại tìm cầu học hỏi đến những vị truyền nhân của các tông phái khác những có truyền thừa bộ luận này như trưởng lão Khenpo Sangye Tenzin Rinpoche của tông phái Sakya. Thường thì khi học hỏi một tài liệu mới ngài thỉnh thị ý kiến trưởng lão giáo thọ của ngài là Yongzin Ling Rinpoche. Nhưng Ling Rinpoche đã viên tịch. Nên ngài cũng cẩn thận trước khi học bộ luận này ngài đã hỏi ý kiến trước với Trưởng lão Gen Nyima và khi được trả lời, đấy là một ý tưởng tốt thì ngài mới bắt đầu học hỏi bộ luận này truyền khẩu (vì dường như không có bản chữ viết) từ trưởng lão thủ tọa Khenpo Sangye Tenzin Rinpoche của tông phái Sakya (có tiểu sử ở phía sau quyển sách này). Chúng ta thật phải cực kỳ tôn kính với tính tham cầu học hỏi và cẩn mật của Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhờ thế chúng ta mới có cơ duyên để học hỏi những lời luận giải Những Giai Tầng Thiền Tập từ quyển sách này do Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng.

Đây là một quyển sách khác mà thầy Viện Trưởng đã trao cho tôi. Sau một bửa ăn tại nhà Đại Bi Tu viện Kim Sơn, thầy đến trước mặt tôi, đưa cao quyển sách này lên cho tôi thấy bìa trước quyển sách và nói, "Nè Từ Đức!" và đưa quyển sách cho tôi. Tôi chỉ mĩm cười lẵng lặng nâng hai tay nhận quyển sách này.

Xin trích một lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong quyển sách này: " Tôi khuyên quý vị hãy lắng nghe với động cơ lành mạnh, hãy nghĩ "tôi sẽ lắng nghe Những Giai Tầng Thiền Tập bộ trung của Đại sư Liên Hoa Giới nhằm để đạt đến Quả Phật vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh bao la như hư không vô biên".

Xin thành kính dâng tất cả phước đức của việc chuyển dịch quyển sách này lên Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy Viện Trưởng,Cha Mẹ tôi và đạo hữu Làng Đậu Võ Quang Nhân đã cung cấp cho tôi tên những bộ kinh bằng chữ Nho có trong quyển sách này cũng vô vàn giúp đở khác trong việc chuyển ngữ những tác phẩm của Đức Đạt Lai Lạt Ma và tất cả những ai đã góp phần cho quyển sách này hiện diện và những ai được lợi lạc từ dịch phẩm này.

Nam mô A Di Đà Phật

Tu Viện Kim Sơn ngày 7-11-2012

Tuệ -Uyển

Thích Từ-Đức

 



LỜI MỞ ĐẦU

 

Chúng tôi vui mừng vì có thể giới thiệu ở đây một bản dịch Những Giai tầng Thiền Quán của Liên Hoa Giới (Kamalashila) với lời luận giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi Đức Thánh Thiện thuyết giảng tác phẩm này tại Manali vào năm 1989, chúng tôi được truyền cảm hứng với một nguyện ước làm cho nó có thể hiện diện như một quyển sách. Kể từ ấy, chúng tôi đã hành động trong mục tiêu ấy khi chúng tôi có thể và thật vui mừng rằng cuối cùng nó đã đi đến kết quả hiện thực.

A xà lê[1] Liên Hoa Giới là một đại học giả thánh thiện của thế kỷ thứ chín và là một đệ tử của đại viện trưởng Tịch Hộ [2]. Qua những hành động từ bi của những đại đạo sư như thế này một hình thức hoàn thiện và không sai sót những giáo huấn của Đức Phật đã rộ nở ở Tây Tạng. Liên Hoa Giới đã đóng một vai trò đặc biệt trong điều này bởi vì ngài là một học giả Ấn Độ đầu tiên đã sáng tác một tác phẩm nổi tiếng ở Tây Tạng với một quan điểm đáp ứng những nhu cầu của người Tây Tạng và với khuynh hướng xóa tan những sự hiểu biết sai lầm đang lan tràn lúc ấy. Bất hạnh thay, qua xáo trộn trong thời gian của chúng ta, và đặc biệt thảm họa đã xãy đến ở Tây Tạng, những học nhân và hành giả chân chính từ lâu đã bị cướp mất cơ hội nghe, đọc, và tư duy, hay thiền quán về những tác phẩm quan trọng như thế. Nhận ra điều này, mặc dù có nhiều thứ đòi hỏi cấp bách, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực hiện những nổ lực quan trọng đề bảo tồn truyền thống này, mà điều ấy đã nuôi dưỡng việc học hỏi và đưa vào trong thực tập những ý nghĩa quan trọng và hiếm hoi của những luận điển như tác phẩm này. Kết quả, ngài dã giảng dạy Những Giai tầng Thiền Tập trong một vài cơ hội.

Chúng tôi vui mừng đã cho hiện diện những lời luận giải mà ngài đã thuyết giảng ở Manali, một thành phố nhỏ ở địa đầu Thung Lũng Kullu trong tiểu bang Himachal Pradesh đã từng liên hệ lâu đời với người Tây Tạng và người dân Ấn-Tạng ở vùng biên giới. Nguyện ước chân thành của chúng tôi là nổ lực khiêm tốn của chúng tôi sẽ cống hiến cho việc bảo tồn những giáo huấn không chút nhiễm ô của A xà lê Liên Hoa Giới. Chúng tôi hy vọng rằng bất cứ ấn tượng tích cực nào mà độc giả có thể phát sinh từ điều này có thể cống hiến cho tất cả chúng sinh trong việc đạt đến hạnh phúc tối thượng của Phật quả.

Chúng tôi xin hồi hướng bất cứ công đức nào có thể hình thành qua công việc này đến việc phát triển Phật Pháp, đến hòa bình trong chúng sinh, và đến sự trường thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng những đại đạo sư và hành giả tâm linh. Chúng tôi biết ơn Susan Kyser, chủ bút của chúng tôi tại Snow Lion, vì những đề nghị vô giá của bà đã cải thiện cho bản thảo cuối cùng, và đến mọi người đã trực tiếp và gián tiếp đóng góp làm cho chương trình này được hoàn thành.

Quyển sách này đã được phiên dịch và nhuận sắc bởi đội ngũ của: Geshe Lobsang Jordhen, tốt nghiệp từ Học Viện Biện Chứng Phật Giáo, Dharamsala, người từ năm 1968 đã là phụ tá tôn giáo và thông dịch viên cá nhân cho Đức Đạt Lai Lạt Ma; Losang Choephel Ganchenpa, người cũng đã được rèn luyện tại Học Viện Biện Chứng Phật Giáo và đã làm việc như một thông dịch viên hơn một thập niên, đầu tiên tại Thư Viện Hoạt Động và Lưu Trử Tây Tạng, Dharamsala, và sau này ở Úc Đại Lợi; và Jeremy Russell, là chủ bút của Cho-Yang, Tiếng Nói của Tôn Giáo và Văn Hóa Tây Tạng, xuất bản bởi Học Viện Norbulingka, Dharamsala.

***

 

DẪN NHẬP

 

Trong Phạn ngữ là Bhavanakrama, trong Tạng ngữ là Gompai Rimpa, trong Hoa ngữ là Quảng Thích Bồ Đề Tâm Luận, và trong Việt ngữ là Giảng Rộng Luận Tâm Giác Ngộ:

Kính lễ Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử, con sẽ giảng giải tóm tắt những Giai tầng Thiền Tập cho những ai đi theo hệ thống kinh điển Đại Thừa. Những người thông tuệ với nguyện ước thân chứng toàn tri toàn giác một cách cực kỳ nhanh chóng nên thi hành những nổ lực thận trọng để hoàn thành những nguyên nhân và điều kiện của việc này.

Đại đạo sư tâm linh Liên Hoa Giới đã sáng tác tác phẩm này gọi là Những Giai tầng Thiền Tập trong ba phần: Những Giai tầng Sơ Khởi của Thiền Tập, Những Giai tầng Trung Cấp của Thiền Tập, và Những Giai tầng Cuối Cùng của Thiền Tập. Ở đây tôi sẽ giải thích Những Giai tầng Trung Cấp của Thiền Tập. Những chủ đề căn bản của luận điển này là tư tưởng tỉnh thức của tâm giác ngộ và quan điểm hoàn thiện. Những con đường tâm linh đưa đến mục tiêu tối hậu của Phật quả là hai phương diện: phương pháp và trí huệ. Hai phẩm chất này sản sinh thân thể vật lý, sắc thân (rupakaya), và thân thể trí huệ, pháp thân (dharmakaya), tương ứng từng thứ. Sắc thân đại diện cho sự hoàn thiện của hành động vì lợi ích người khác, và pháp thân biểu thị sự toàn hảo cho mục tiêu của chính mình. Những phương pháp cho việc phát sinh tâm giác ngộ cùng trí huệ thân chứng tính không hình thành nền tảng những giáo huấn của Đạo Phật, và luận văn này cung cấp một sự trình bày rõ ràng hai phương diện này trong lộ trình Phật Giáo đến giác ngộ.

Khi chúng ta có một cái nhìn gần gũi hơn những giáo huấn này, chúng ta đi đến thấu hiểu rằng tư tưởng từ bi là gốc rể của tâm giác ngộ, hay tư tưởng tỉnh thức. Tư tưởng giác ngộ này phải được đặt vào thực hành trong sự kết hợp với trí huệ thân chứng tính bản nhiên tối hậu của mọi hiện tượng, là tính không. Trí huệ này phải là một sự nhất thống của tuệ giác đặc biệt và tâm tịch tĩnh bất biến tập trung nhất niệm trên đối tượng của nó, là tính không.

Hầu hết quý vị đang nghe điều này đến từ những vùng Lahaul, Kinnaur, Spiti của Ấn Độ, và hầu hết quý vị đã có một trình độ học vấn nào đấy. Tuy thế, kỷ thuật giảng dạy tôi sẽ thực hiện ở đây được hướng một cách chính yếu đến những người không tin tưởng trong tôn giáo. Trong chương trình, tôi muốn chỉ cho thấy làm thế nào người ta có thể phát sinh sự thích thú trong tôn giáo một cách phổ quát và với Phật Giáo trong đặc thù. Có nhiều nguyên tắc lý trí có thể giúp chúng ta phát triển sự hấp dẫn trong tôn giáo. Trong cách này chúng ta có thể nhận ra rằng tôn giáo không đặt nền tảng trên sự tin tưởng đơn thuần, nhưng là tin tưởng sinh khởi trong sự kết hợp với lý trí và lý luận hợp lý (logic). Một cách cơ bản có hai loại tín ngưỡng: một là không căn cứ trên bất cứ lý trí nào và hai là được ủng hộ bởi lý trí. Trong trường hợp của loại tín ngưỡng thứ hai, chúng ta thẩm tra đối tượng tin tưởng của mình và khảo sát sự liên hệ của nó đến nhu cầu và đòi hỏi của mình. Tín ngưỡng được phát sinh sau khi thấy những lý do và tại sao nó thuận lợi. Trong Đạo Phật, tổng quát,và trong con đường Đại Thừa đặc thù, chúng ta thẩm tra nội dung của giáo huấn và chấp nhận những thứ hợp lý và có lý trí và từ chối những thứ vô lý. Đối với những trường hợp như vậy khi những giáo huấn là từ chính kim khẩu của Đức Phật không nên được tiếp nhận theo từng chữ, mà phải được diễn giải. Giáo huấn kinh điển không thể đứng vững với sự phân tích hợp lý không nên được tiếp nhận từ chữ một, nhưng đòi hỏi sự diễn giải. Về mặt khác, giáo huấn kinh điển có thể đứng vững với sự phân tích hợp lý nên được tiếp nhận từ chương. Tuy thế, nếu chúng ta tìm kiếm cho một thẩm quyền kinh điển khác để phân biệt những kinh điển nào được thấu hiểu từ chương và những kinh điển nào phải được diễn giải, chúng ta sẽ rơi vào ý tưởng sai lầm của sự thoái bộ vô tận. Chúng ta phải thẩm tra cả hai loại giáo huấn kinh điển với luận lý (logic). Do thế, chúng ta có thể thấy rằng trong nghiên cứu về kinh điền Phật Giáo, hợp lý và phân tích là một chỗ rất quan trọng.

Trước khi chúng ta bắt tay vào sự khảo sát, điều cần yếu là chúng ta học hỏi những kỷ thuật để thẩm tra đối tượng sự phân tích của chúng ta. Đối với những người muốn tiếp nhận giáo huấn của Đạo Phật trong thực hành, tín ngưỡng đơn thuần không đủ. Tín ngưỡng nên được hổ trợ bởi lý trí. Khi chúng ta nghiên cứu, hãy đi theo một phương pháp hợp lý. Trong khi tôi đang giảng dạy, tôi muốn quý vị hãy đặt sự toàn tâm toàn ý; ghi chú hay dùng những phương tiện khác để có thể ghi nhớ những gì tôi giảng dạy.

Hãy để tôi bắt đầu bằng việc giải thích những gì tôi muốn nói về gia hộ, khi chúng tôi nói về sự gia hộ của đạo sư hay của Giáo Pháp trong phạm vi Đạo Phật. Sự gia hộ phải sinh khởi từ trong tâm thức của chính chúng ta. Không phải là điều gì đến từ bên ngoài, mặc dù chúng tôi nói về sự gia hộ của một đạo sư hay của Tam Bảo. Khi những phẩm chất tích cực trong tâm thức chúng ta tăng trưởng và điều tiêu cực giảm thiểu, đấy là ý nghĩa của gia hộ. Tạng ngữ cho sự gia hộ là byin rlab có hai phần – byin có nghĩa là “năng lực siêu việt” và rlab có nghĩa là “chuyển hóa”. Vì thế gia hộ có nghĩa là sự chuyển hóa thành năng lực siêu việt. Do thế, gia hộ liên hệ đến việc phát triển những phẩm chất tinh thần mà chúng ta không có trước đây và cải thiện những phẩm chất mà chúng ta đã khai triển rồi. Nó cũng có nghĩa là giảm thiều những ô nhiễm của tâm thức đã làm chướng ngại sự phát sinh các phẩm chất thánh thiện. Vì vậy, sự gia hộ thật sự được tiếp nhận khi những đức tính tốt đẹp đạt được sức mạnh và những đặc trưng khiếm khuyết của nó bị yếu đi hay giảm xuống.

Luận điển nói, “Những người thông tuệ nguyện ước thực chứng toàn tri toàn giác cực kỳ nhanh chóng nên thực hiện một nổ lực thận trọng để hoàn thành nguyên nhân và điều kiện của nó.” Những gì điều này muốn nói là quyển sách này chủ yếu đối phó với đề tài bị bác bẻ hay được trình bày trong một hành động triết lý hơn. Không phải có hai hệ thống luận điển Phật Giáo riêng rẻ và không liên hệ - mà một số luận điển chỉ là chủ đề của nghị luận và những thứ khác toàn là thực hành. Tất cả mọi kinh luận chứa đựng giáo huấn giúp để thuần hóa và kiểm soát tâm thức. Tuy nhiên, chắc chắn có thể có những trình độ nhấn mạnh khác nhau. Những sự thực tập và tài liệu nào đấy là thích hợp một cách chính yếu đến sự học tập và quán chiếu, và có những luận điển nào đấy được dạy với sự nhấn mạnh đặc biệt về những trình tự thiền quán. Luận điển này thuộc về bộ phận thứ hai. Do vậy, như tựa đề đã nói lên, tài liệu này diễn tả con đường tâm linh có thể được phát triển như thế nào trong dòng suối tâm của hành giả trong một hệ quả đúng đắn, chứ không phải trong kiểu từng mãng rãi rác.

Trong ba phần của Những Giai Tầng Thiền Tập, đây là phần giữa. A xà lê Liên Hoa Giới đã dạy một cách tóm tắt trong chính Ấn ngữ của ngài. Luận điển bắt đầu với đầu đề Phạn ngữ, đề cập mục tiêu làm lợi ích người đọc bằng việc tạo nên khuynh hướng của ngôn ngữ thánh thiện này trong tâm thức độc giả. Trích dẫn chuẩn độ trong ngôn ngữ văn học Ấn Độ cũng có một không gian lịch sử. Vì bình minh của nền văn hóa Tuyết Sơn và với sự phát triển dần dần của quốc gia Tây Tạng, có một sự phối hợp tự nhiên với các xứ sở láng giềng. Trong việc nhìn lại thì thấy rằng đồng bào Tây Tạng đã tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa xã hội từ láng giềng của họ. Thí dụ, Ấn Độ, láng giềng phương Nam của chúng tôi, là nguồn gốc của những hệ thống và chủ đề văn hóa và tôn giáo làm phong phú tâm thức. Tương tự thế, những yếu tố văn hóa và khoa học cổ xưa như y dược, triết lý Đạo Phật, Phạn ngữ, v.v… được đưa vào từ Ấn Độ, quê hương của nhiều đại học giả. Vì vậy, đồng bào Tây Tạng có một truyền thống tôn kính Ấn Độ như Linh Địa. Trung Hoa cũng được biết vì thức ăn khoái khẩu và sự phong phú về rau trái. Trong ngôn ngữ Tây Tạng, chúng tôi dùng cùng một chữ cho rau trái như người Trung Hoa, và ngay cả ngày nay, chúng tôi tiếp tục sử dụng những từ ngữ cho nhiều rau trái. Đây là những gì chúng tôi nhập cảng từ Trung Hoa. Tương tự thế, vì áo quần Mongolia rất thích hợp khí hậu lạnh giá, cho nên đồng bào Tây Tạng đã sao chép một số kiễu mẫu của họ. Do thế, qua nhiều thế kỷ, đồng bào Tây Tạng đã từng tiếp xúc với những láng giềng của họ, chúng tôi đã nhập cảng nhiều thứ tốt đẹp và đã phát triển những đặc trưng văn hóa xã hội cá biệt của riêng chúng tôi. Khi luận điển bắt đầu với câu, "Trong Ấn ngữ, " nó biểu thị sự chính thống xác thực của tài liệu - rằng nó phát nguồn trong những luận điển của các đạo sư Ấn Độ.

Rồi luận điển nói, "Trong Tạng ngữ," và tựa đề Tây Tạng được đưa ra. Điều này cho biết rằng luận điển được chuyển dịch sang ngôn ngữ của một quốc gia khác, Tây Tạng. Tạng ngữ giàu có đủ để truyền đạt một cách chính xác những luận điển lớn, kể cả kinh điển và những luận giải. Qua hàng thế kỷ, Tạng ngữ đà là một môi giới quan trọng cho cả những khía cạnh phạm trù và thực hành Phật Pháp. Ngay cả ngày nay, đã thấy rằng Tạng ngữ hầu như là một ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có thể trao đổi toàn bộ tam tạng giáo điển Đạo Phật bao gồm Tiểu Thừa, Đại Thừa, và Mật Thừa. Tạng ngữ vì thế là một ngôn ngữ rất quan trọng và một cách đặc biệt giá trị trong mối liên hệ với Đạo Phật.

"Kính lễ Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử ". Đây là câu kệ tôn kính và thỉnh cầu của dịch giả. Các dịch giả bắt đầu công việc của họ bằng việc bày tỏ lòng tôn kính vì thế họ có thể hoàn tất công việc của họ mà không phải đối diện với những chướng ngại. Nó cũng tượng trưng cho sự ngưỡng mộ để hoàn thành những mục tiêu tạm thời và rốt ráo của họ. Sự thỉnh cầu được hướng đến Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi theo sau một chiếu chỉ được ban bố bởi những vị vua Phật Giáo trước đây. Xu hướng biểu thị một cách rõ ràng đến ba tạng giáo điển của Đức Phật hay những luận giải liên quan. Lời thỉnh cầu được hướng đến chư Phật và Bồ tát nếu một tài liệu thuộc Kinh tạng. Và nếu một tài liệu thuộc về Luận tạng, lời thỉnh cầu được hướng đến Mạn Thù Thất Lợi Bồ tát. Nhằm để biểu thị rằng một tài liệu nào đó thuộc Luật tạng, lời thỉnh cầu hướng đến Đấng Toàn Giác. Vì vậy, lời thỉnh cầu bởi dịch giả thích ứng với sự thực tập truyền thống. Chính đề của luận điển này quan tâm đến việc thiết lập vô ngã bằng việc dựa vào sự tập trung nhất tâm là một sự hợp nhất của tuệ giác nội quán (tuệ) và tịch tĩnh bất động (định) và như nó thuộc về tạng Luận (tập hợp của tri thức), nên lời thỉnh cầu được hướng đến Mạn Thù Thất Lợi Bồ tát.

Với câu, "Cho những ai đi theo hệ thống kinh điển Đại Thừa." tác giả bộc lộ tiến trình thiền tập cho những ai học hỏi luận điển này. Bây giờ câu hỏi sinh khởi: Mục tiêu cứu kính của những ai thực hành giáo huấn Đại Thừa là gì? Và câu trả lời là Quả Phật. Quả Phật có nghĩa là gì? Bậc sở hữu trí huệ siêu việt tất cả là một Đức Phật, và thể trạng này được liên hệ như Quả Phật. Vì mục tiêu cuối cùng của giáo huấn Đại Thừa là để đạt đến thể trạng toàn tri toàn giác, cho nên hành giả cần khảo sát một cách thân cận phương tiện và phương pháp đưa đến sự thực chứng này. Qua sự khảo sát như vậy, hành giả phải cố gắng để theo đuổi quy trình đúng đắn và hoàn toàn cho việc thực chứng thể trạng toàn tri toàn giác. Đây là tóm lược về chủ đề của quyển sách này.

***

 

GIỚI THIỆU

 

Trong từ ngữ của Bồ tát Long Thọ,

Nếu con muốn đạt đến thể trạng Giác Ngộ vô thượng

Cho chính con và thế giới,

Gốc rể là sự phát tâm vị tha

Điều ấy vững vàng và kiên cố như một ngọn núi,

Một lòng bi mẫn ôm ấp tất cả,

Và một trí huệ siêu việt thoát khỏi nhị nguyên.

Những ai trong chúng ta khao khát hạnh phúc cho người khác và chính mình tạm thời và lâu dài nên được động viên để đạt đến thể trạng toàn tri toàn giác. Lòng bi mẫn, tâm vị tha, và quan điểm hoàn thiện là những nền tảng và sự quyết định của con đường đến Giác Ngộ vô thượng. Ở việc này, chúng ta có niềm tin trong giáo thuyết của Đức Thế Tôn và đến gần với giáo huấn của Ngài. Chúng ta tự do khỏi những chướng ngại quan trọng và đã gặp những nhân tố bổ sung mà chúng ta có thể học hỏi những khía cạnh rộng lớn và thâm sâu của giáo huấn Đạo Phật, việc quán chiếu những nội dung, và thiền quán trên ý nghĩa ấy. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng tất cả những cơ hội vì thế chúng ta không phải hối hận trong tương lai và vì thế chúng ta không chứng tỏ tàn nhẫn với chính mình. Những gì mà Kadam Geshe Sangpuwa nói đánh thẳng vào trung tâm của chủ đề. Câu kệ này làm tôi xúc động mạnh từ trái tim:

Giảng dạy và lắng nghe là thích đáng khi chúng lợi lạc cho tâm. Thái độ kiểm soát và nguyên tắc là dấu hiệu của việc có lắng nghe giáo huấn. Phiền não được giảm thiểu như một dấu hiệu của thiền tập. Một hành giả du già là người thấu hiểu thực tại.

Một việc phải nên thật rõ ràng là Phật Pháp chỉ có một mục tiêu: rèn luyện tâm. Các giáo thọ phải chú ý và thấy nó rằng sự giảng dạy của họ làm lợi lạc cho tâm học nhân của họ. Sự hướng dẫn của họ phải căn cứ trên kinh nghiệm cá nhân của họ về việc thấu hiểu Phật Pháp. Các học nhân cũng vậy, phải chú tâm với giáo huấn với một lòng khao khát làm lợi ích cho tâm của họ. Họ phải thực hiện một cố gắng tổng lực để kiểm soát tâm vô nguyên tắc của họ. Vì thế, tôi khuyến nghị rằng chúng ta phải cần mẫn trong việc tuân theo những giáo huấn của những đại Geshe[3] Kadam[4]. Các ngài khuyên rằng phải có sự hợp nhất giữa tâm và giáo Pháp. Trái lại, nếu tri thức và thực hành được cư xử như những thực thể không liên hệ và khác biệt, thế thì sự rèn luyện có thể chứng tỏ là không tác dụng. Trong tiến trình thực tập tâm linh của chúng ta, chúng ta phải thẩm tra toàn bộ và sử dụng Phật Pháp như một tấm gương mà trong ấy để thấy phản chiếu những khuyết điểm của thân thể, lời nói và tâm ý. Cả những vị thầy và các học nhân phải được động viên để làm lợi lạc cho chính họ và người khác qua sự thực tập Phật Pháp. Như chúng ta thấy trong lời cầu nguyện của con đường tiệm tiến Lamrim:

Được động viên bởi lòng bi mẫn đầy năng lực,

Nguyện cho tôi có thể dẫn giải kho tàng Phật Pháp,

Chuyên chở nó đến những nơi chốn mới

Và phát triển nó những nơi mà nó đã bị suy tàn.

Giáo thuyết của Đức Phật không phải là điều gì đấy vật lý. Do thế, việc khôi phục và lan tỏa Phật Pháp tùy thuộc vào tâm linh nội tại của chúng ta, hay sự tương tục của tâm chúng ta. Khi chúng ta có thể giảm thiểu những nhược điểm của tâm, những phẩm hạnh của nó gia tăng. Thế nên, tác động của những chuyển hóa tích cực là là sự bảo tồn và thúc đẩy phương tiện giáo thuyết Phật Pháp. Rõ ràng rằng Phật Pháp không phải là một thực thể hữu hình, rằng nó không thể được bán hay mua trong siêu thị hay được xây dựng một cách vật thể. Chúng ta phải chú ý vào những nền tảng, như sự thực hành về ba phương diện chính yếu của con đường Giác Ngộ[5] - viễn ly, tâm giác ngộ (bodhicitta), và sự thực chứng trí huệ tánh không.

Trách nhiệm của việc bảo tồn và phát triển Phật Pháp thuộc về chúng ta những người có niềm tin trong giáo huấn ấy; điều này lại tùy thuộc vào sự hấp dẫn của chúng ta với Đức Phật và tôn kính Ngài. Nếu chúng ta không làm gì xây dựng mà mong đợi người khác làm, thế thì rõ ràng không điều gì có thể. Bước thứ nhất là trau dồi trong tâm ta những phẩm chất tích cực được dạy bởi Đức Phật. Sau việc rèn luyện một cách thích đáng tâm ta, sau đó chúng ta mới có thể hy vọng giúp đở rèn luyện tâm người khác. Đại sư Tông Khách Ba đã tuyên bố rõ ràng rằng những ai không tự rèn luyện thì khó mà có cơ hội cho việc rèn luyện người khác. A xà lê Pháp Xứng đã dạy những nguyên tắc này trong những dạng thức rất trong sáng:

Khi kỷ năng chướng ngại [đối với bạn].

Sự giải thích thì khó khăn một cách tự nhiên.

Chư Bồ tát với một mục tiêu hướng cứu kính như vậy để đạt đến thể trạng Giác Ngộ. Vì mục tiêu này, họ dấn thân trong những sự thực tập loại trừ những cảm xúc phiền não quấy nhiễu tâm. Cùng lúc các ngài nổ lực trau dồi những tuệ giác tâm linh. Do tuân theo một tiến trình loại trừ những phẩm chất tiêu cực và trau dồi những thứ tích cực như vậy mà chư Bồ tát trở thành có thể giúp đở những chúng sanh khác. Luận giải về Nhận Thức Luận cũng nói:

Những bậc bi mẫn áp dụng mọi phương tiện

Làm nhẹ bớt những nổi khốn khổ của chúng sanh.

Do vậy, ai trong chúng ta tin tưởng trong giáo huấn của Đức Phật phải cố gắng khả năng bậc nhất để phát sinh đức hạnh. Điều này cực kỳ quan trọng. Một cách đặc biệt liên hệ vào thời kỳ mạt pháp này. Những người Tây Tạng chúng tôi đang làm ồn ào và chỉ trích Trung Cộng vì những tàn phá mà họ đã làm ở quê hương chúng tôi. Nhưng điều quan trọng là như những Phật Giáo đồ chúng tôi phải tôn trọng triệt để những nguyên tắc của Đạo Phật một cách cẩn thận. Giáo huấn chỉ có ý nghĩa khi chúng ta thấy những thuận lợi của việc thực tập, tiếp nhận nguyên tắc, và nổ lực tích cực để chuyển hóa trong trái tim của chúng ta. Việc lắng nghe giáo huấn về những chủ đề khác nhau có một mục tiêu khác nhau - ở đấy chúng ta hướng để thu thập những ý tưởng và tài liệu.

Chúng ta có thể tự hỏi những gì là dấu hiệu của việc thực hành Phật Pháp đúng đắn. Việc thực hành nên được bắt đầu với những nguyên tắc đạo đức (giới luật) của việc kềm chế khỏi mười hành vi bất thiện. Mỗi hành vi tiêu cực của thân thể, lời nói và tâm ý phải được xác định một cách thích đáng và những đối trị phải được thấu hiểu một cách trọn vẹn. Với kiến thức căn bản này, hành giả nên loại trừ những hành vi tiêu cực như trộm cắp, dối trá, v.v… và thực hành lương thiện, tử tế, và những hành vi đức hạnh khác. Những sư thầy, sư cô thọ giới phải tuân theo giới luật xuất gia. Những điều này có nghĩa để rèn luyện cách đắp y, giao tiếp với người khác, v.v… Thậm chí thái độ ngắm nhìn người khác và những cung cách biểu lộ đến người khác cũng được dạy trong quy điều của giới luật xuất gia.

Đối với một hành giả Phật Pháp, một trong những thử thách quan trọng là để đối phó với những cảm xúc tiêu cực và cuối cùng tự giải thoát khỏi chúng. Sự khó khăn của điều này là qua sự thật đơn giản là những cảm xúc phiền não có từ thời vô thỉ làm cho chúng ta khốn khó đủ loại khổ sở. Nếu ai đấy bắt nạt chúng ta hay một kẻ thù ngược đãi chúng ta, thế thì chúng ta kêu la và than khóc. Tuy nhiên, những kẻ thù ngoại tại tàn bạo thì chỉ ảnh hưởng chúng ta trong kiếp sống này. Chúng không có năng lực để làm tổn hại chúng ta vượt khỏi kiếp sống này. Trái lại, những cảm xúc phiền não là những kẻ thù bên trong của chúng ta và chắc chắn có thể tạo nên thảm họa trong những kiếp sống tương lai. Trong thực tế, các thứ này là những kẻ thù tệ hại nhất của chúng ta.

Thử nghiệm thật sự đối với một hành giả Phật Pháp đến từ khía cạnh này: nếu những cảm xúc phiền não được giảm thiểu, thế thì sự thực hành của chúng ta đã tác động. Đây là tiêu chuẩn chính để quyết định một hành giả chân chính, bất chấp người ấy xuất hiện bên ngoài thánh thiện như thế nào. Toàn bộ mục tiêu của việc hành thiền là để làm giảm thiểu những phiền não lừa dối của tâm ta và cuối cùng loại trừ chúng từ gốc rể. Bằng việc học hỏi và thực hành những khía cạnh thậm thâm và rộng rãi của giáo huấn, một hành giả với sự quen thuộc lâu dài và hành thiền về vô ngã cuối cùng đạt đến một sự thấu hiểu về thực tại.

Chúng ta dấn thân trong việc giảng dạy và lắng nghe, và thật thiết yếu để biết những cung cách thích đáng, những phương pháp hiệu quả, của việc lắng nghe để giảng dạy. Điều này cấu thành sự loại trừ ba loại thất bại của một người lắng nghe (giống như một chiếc thùng), và trau dồi sáu xu hướng thuận lợi.

- Thất bại thứ nhất là lắng nghe như một chiếc thùng úp xuống. Điều này có nghĩa là một cách hình thức [thân thể] chúng ta có thể đang tham dự [học hỏi] đối với giáo lý nhưng một cách tinh thần [tâm ý] chúng ta đang bận rộn nơi nào khác. Cho nên khi ai đấy giảng dạy, trong thực tế chúng ta hoàn toàn không lắng nghe gì cả. Trong một trường hợp như vậy, chúng ta không hứng thú gì với sự giảng dạy, và trong thực tế không nghe bất cứ điều gì được giảng dạy. Điều này rõ ràng là một chướng ngại để học hỏi, và chúng ta phải loại trừ vấn nạn này và tham dự sự giảng dạy với sự say mê mãnh liệt.

- Thất bại thứ hai là lắng nghe trong một cách giống như chiếc thùng bị lủng. Điều này có nghĩa là mặc dù chúng ta đang lắng nghe giáo lý, nhưng chúng ta không ghi nhớ nội dung của chúng. Trong trường hợp này, chúng ta thiếu chánh niệm và ghi nhớ. Việc thực hành Phật Pháp có nghĩa là chúng ta phải có lợi ích từ những gì chúng ta đã nghe. Không phải là một trò tiêu khiển, như nghe một câu chuyện. Giáo huấn cho chúng ta sự hướng dẫn trên vấn đề chúng ta sống một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa như thế nào và phát triển những thái độ thích đáng như thế nào. Do vậy, nhằm để lợi lạc từ sự giảng dạy, chúng ta phải ghi nhớ chúng với chánh niệm. Trong tất cả mọi tiến trình học hỏi, lắng nghe, và đọc, v.v… phải hoàn toàn chú ý và phải cố gắng để ghi nhớ nội dung của chúng. Khi sự quan tâm của chúng ta là nửa trái tim, chúng ta chỉ nhớ một nửa, và chỉ nhớ trong một thời gian ngắn. Chúng ta phải quán chiếu và nghĩ về bất cứ điều gì chúng ta đã nghe, hết lần này đến lần khác. Trong cách này, kiến thức sẽ ở lại trong tâm ta trong một thời gian dài. Một kỷ năng khác để ghi nhớ những hướng dẫn là tranh luận giống như được thực hành trong những ngôi trường tranh luận truyền thống.

- Thất bại thứ ba của một người lắng nghe liên hệ đến động cơ, và giống như một chiếc lọ chứa thuốc độc. Khi chúng ta lắng nghe những sự giảng dạy, chúng ta phải tránh những động cơ lừa dối. Tất cả mọi hành vi, đặc biệt trong sự thực hành Phật Pháp chẳng hạn như lắng nghe và đọc kinh luận, phải được hoàn thành với một động cơ lành mạnh. Chúng ta phải hướng đến việc kiểm soát tâm vô nguyên tắc và rồi dần dần đạt đến thể trạng Quả Phật để làm lợi ích tất cả chúng sanh.

Tôi khuyên quý vị không nên xem kiến thức Phật Pháp giống như bất cứ loại tri thức nào chỉ để kiếm sống.

Bây giờ để tôi trở lại chủ đề chính, luận điển của Liên Hoa Giới được biết như Những Giai Tầng Thiền Tập. Tác giả ân cần vô hạn đối với Tây Tạng. Đại sư Tông Khách Ba liên hệ đến ngài như một học giả tôn quý và danh hiệu là thích hợp. Trong vài luận điển ngài viết, Bừng Sáng Con Đường Trung Đạo và luận điển này là được tôn trọng cao độ nhất.

Dòng truyền thừa của ba luận điển "Những Giai Tầng Thiền Tập" là rất hiếm hoi. Ở miền trung và tây nam Tây Tạng, sự truyền thừa này không được biết một cách rộng rãi. Có thể nó đã được biết đến ở những nơi cô lập và xa xôi. Khunnu Lama Tenzin Gyaltsen[6] đã tiếp nhận sự truyền thừa ở Kham, và Serkong Rinpoche tiếp nhận nó từ ngài. Vào lúc ấy, tôi không thể tiếp nhận sự truyền thừa, mặc dù tôi muốn. Tôi nghĩ rằng vì luận điển không quá dài nên sẽ không quá khó để tiếp nhận nó sau này. Thay vì thế, tôi đã đặt nổ lực của tôi vào việc tiếp nhận giáo huấn đến một số luận điển quan trọng như Đại Luận Giải Thời Luân[7] bởi Buton Rinchen Drup, Toát Yếu Mật thừa Tantra về Thời Luân[8], và sáu quyển Phụ thích Đại Luận Giải Tịnh Quang[9].

Tôi đã ở Thụy Sĩ khi tôi nhận một điện tín nói rằng Serkong Rinpoche đã viên tịch và Yongzin Ling Rinpoche đang bệnh nặng. Thế thì nó đã làm tôi ân hận, tôi đã phải trả giá cho sự lười biếng của tôi vì tôi đã không tiếp nhận giáo huấn Những Giai Tầng Thiền Tập. Tâm tư tôi đầy những đau buồn và một cảm giác mất mát. Sau này, tôi đã hỏi ai giữ dòng truyền thừa này bất cứ khi nào tôi gặp các vị Lạt Ma hay Geshe. Một lần nọ tôi ở Đạo Tràng Giác Ngộ, tôi đã gặp vị Thủ Tọa Sakya Sangye Tenzin[10]. Ông nói với tôi rằng ông đã tiếp nhận giáo huấn Những Giai Tầng Thiền Tập từ một vị lạt ma già từ Kham đang hành hương tại Lhasa. Sau này, tôi nghĩ rằng vì Khunnu Lama Rinpoche cũng tiếp nhận giáo huấn từ Kham, dòng truyền thừa phải là như nhau. Tôi cũng đã nghĩ rằng không có gì trở ngại để tiếp nhận giáo huấn.

Trước đây, khi tôi bắt tay vào một tài liệu mới, thì tôi sẽ thỉnh thị ý kiến của Yongzin Ling Rinpoche. Nhưng ngài đã viên tịch. Vào lúc ấy, Trưởng lão Gen Nyima cũng ở Đạo Tràng Giác Ngộ. Cho nên tôi nói với ngài hoàn cảnh và hỏi ý kiến của ngài. Ngài nói rằng đấy là một ý tưởng tốt. Trong trường hợp như vậy tôi đã tiếp nhận sự truyền thừa giáo huấn từ Thủ Tọa Sakya Sangye Tenzin. Tôi cảm thấy rất vui và may mắn, và tự động làm tôi thoát khỏi cảm giác hối hận. Vị Thủ Tọa Sakya này là một người rất nổi tiếng và là một đạo sư tôn kính trong chính dòng Sakya. Bây giờ ngài đã tám mươi tuổi. Dường như không có luận giải bằng chữ viết của tài liệu này; tối thiểu là tôi chưa từng thấy. Đại sư Tông Khách Ba đã trích dẫn nhiều trong Đại Luận Giải Những Giai Tầng của Con Đường[11], cho nên tôi nghĩ cũng thích hợp nếu tôi bổ sung lời luận giải của tôi từ đấy.

Liên Hoa Giới đã thực hiện một sự phụng sự diệu kỳ đối với giáo lý Đạo Phật. Với một động cơ vững chắc và ân cần, ngài đã thiết lập một nền tảng hoàn thiện đối với giáo huấn của Đức Phật trong thời gian ngài ở Tây Tạng. Phật tử Quốc vương Trisong Detsen đã mời thỉnh A xà lê Tịch Hộ và Đạo sư tôn quý Liên Hoa Sanh. Ba bậc đại sĩ này cực kỳ ân cần đối với Quê Hương Tuyết Sơn Tây Tạng. Chính qua sự phối hợp của các ngài mà một hình thức hoàn toàn của Đạo Phật, kể cả mật thừa tantra, được thiết lập một cách thích đáng ở Tây Tạng. A xà lê Tịch Hộ đã thấy khả năng của việc thấu hiểu sai và diễn dịch sai triết lý, và vì thế ngài rời những sự hướng dẫn và mời Liên Hoa Giới đến Tây Tạng và sáng tác Những Giai Tầng Thiền Tập. Vào lúc kết thúc phần đầu, tác giả tuyên bố rằng ngài viết luận điển này do lời thỉnh cầu của quốc vương Trisong Detsen.

Vì lợi ích của đồng bào Tây Tạng và để thiết lập giáo huấn Đức Phật giữa họ, đại sư Liên Hoa Giới đã vô cùng ân cần đến Tây Tạng. Ba phần của Những Giai Tầng Thiền Tập được viết ở Tây Tạng và tu sĩ Trung Hoa Hvashang[12] trở thành chất xúc tác cho việc trước tác. Nội dung triết lý phổ thông của ông là một vấn đề khác, nhưng sự diễn dịch của Hvashang về quan điểm của Đạo Phật hoàn toàn sai lầm. Đại sư Liên Hoa Giới đã viết văn bản này để chặn trước sự tiến triển của những quan điểm sai lầm ấy. Những gì chúng ta có thể chú ý ở đây là những bậc đại nhân của thời ấy đã biểu lộ nhiều sức mạnh học giả và đạo đức. Họ thường sử dụng những ngôn ngữ tinh lọc trong khi bác bẻ những quan điểm sai lầm và không nhằm vào các đối thủ của họ một cách cá nhân. Những gì các ngài thật sự làm là để phát biểu một cách có hệ thống như một sự trình bày rõ ràng và trong sáng về quan điểm triết lý nền tảng, thiền tập, và hạnh kiểm như được dạy bởi Đức Phật. Trong kiễu mẫu ấy, giáo lý Đức Phật chiếu sáng những quan điểm thấp kém và sai lầm, những thứ đã suy tàn trong chính chúng. Vì thế, luận điển quý giá này có một nối kết nghiệp quả đặc biệt với Tây Tạng, quê hương Tuyết Sơn.

Rõ ràng rằng tác giả Liên Hoa Giới ân cần vô hạn với đồng bào Tây Tạng. Nhưng lịch sử cho thấy rằng người Tây Tạng đã làm một số lỗi lầm thay vì biểu lộ lòng biết ơn thích đáng. Những việc ngẫu nhiên nào đó đã xảy ra. Nhìn vào nó từ một khía cạnh khác, đấy là một điều gì đó được nói trong người Tây Tạng, "Nơi Phật Pháp rộ nở, quỷ ma cũng năng động". Nhằm để những hướng dẫn trần gian và tâm linh được thiết lập vững vàng trường cửu ở Tây Tạng, Đạo sư quý báu Liên Hoa Sanh đã tạo những điều kiện thuận lợi và gia hộ môi trường. Ngay cả trong những lúc như vậy, có những người đã nói những thứ vô bổ. Dường như rằng vào những lúc ấy, ngay cả quốc vương cũng không hoàn thành tất cả những mong ước của ngài Liên Hoa Sanh.

Thật buồn để chú ý những điều này. Dĩ nhiên, có những phương cách khác để nhìn vào những việc ấy. Chư Phật và Bồ tát không làm gì để cứu độ trong sự mong mõi của chúng sanh. Đức Quán Thế Âm có một mối quan hệ đặc biệt với Tây Tạng và đã thực hiện những việc làm vô cùng ân cần qua vô số biểu hiện. Tuy nhiên, những người Tây Tạng chúng tôi đối diện những vấn nạn không dứt ngay cả cho đến thời hiện tại. Nhưng chúng tôi không đánh mất lòng tin. Hoàn cảnh thế giới uyển chuyển và thay đổi liên tục. Có sự hổ trợ cho sự thật và sự thật là quý giá. Chúng tôi đến bây giờ đã thiết lập những nền tảng cho tương lai của chúng tôi. Chúng ta phải làm việc một cách cần mẫn để hoàn thành những quan tâm riêng của chúng tôi cho kiếp sống này và những kiếp sống tương lai, chú ý một cách tương ứng, đến vấn đề thông thường. Tất cả chúng ta may mắn có thể học hỏi văn bản kỳ diệu này. Thật là thông tuệ để nghiên cứu những nguyên tắc hướng dẫn về phần chúng ta để chuyển hóa đời sống của chúng ta.

Trong phạm vi của giáo huấn nhà Phật, việc phát sanh thái độ tích cực là rất quan trọng. Tôi khuyên quý vị hãy lắng nghe với động cơ lành mạnh, hãy nghĩ "tôi sẽ lắng nghe Những Giai Tầng Thiền Tập bộ trung của Đại sư Liên Hoa Giới nhằm để đạt đến Quả Phật vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh bao la như hư không vô biên". Phẩm chất nào của bất cứ hành vi thân, miệng và ý một cách chính yếu được quyết định bởi động cơ. Vì vậy bất cứ hành động nào được hoàn thành bởi động cơ tích cực sẽ đem đến đạo đức và hạnh phúc và trở thành một nguyên nhân để đạt đến Quả Phật về lâu về dài. Trái lại, nếu một động cơ thánh thiện và lành mạnh bị vắng bóng, thế thì ngay cả những thực hành tâm linh rõ ràng có thể mang đến những hậu quả tiêu cực trong vị trí của đức hạnh. Vì ranh giới giữa chúng đôi khi có thể rất mõng manh, chúng ta cần phải chú ý rất nhiều đến khía cạnh này.

Trong luận điển này tác giả trình bày tinh hoa của con đường cả Tiểu Thừa và Đại Thừa. Ngài mở rộng kiểu mẫu thực hành tâm bồ đề quy ước và sáu ba la mật với sự nhấn mạnh đặc biệt trên thiền tịch tĩnh bất động (định) và tuệ giác nội quán (tuệ). Những ai trong các bạn là mới mẻ với Phật Giáo và không quen với kiễu mẫu và tiến trình thực hành giáo huấn phải cố gắng để định hình sự thấu hiểu mạch lạc luận điển này, bởi vì trên căn bản của kiến thức này chúng ta sẽ có thể thấu hiểu những luận điển khác mà không khó khăn lắm. Luận điển này có thể giống như một chìa khóa mở ra cánh cửa đến tất cả những kinh điển Phật Giáo quan trọng khác.

***

 

Tiểu sử của KHENPO SANGYE TENZIN RINPOCHE

 vị truyền miệng "Những Giai Tầng Thiền Tập" của Liên Hoa Giới cho
Đức Đạt Lai Lạt Ma 14

 

Thật không thể trình bày hết toàn thể những hành vi bao la của Khenpo Sangye Tenzin Rinpoche.

Ngài sinh ra ở Tây Tạng vào năm 1904, vào kỷ nguyên Sakya, theo cùng với nhiều dấu hiện cát tường. Vào lúc mười tuổi ngài trở thành một vị sa di, tiếp nhận những giới sa di từ Khenpo Rinzin Gyaltsen. Ngài cho hỏi Phật lý với nhiều vị thầy nổi tiếng, chẳng hạn như Drayab Thupten Zangpo, và trở thành được biết như một học nhân tò mò và cần mẫn. Khi ngài tốt nghiệp, ngài đã được tưởng thưởng với những bằng cấp cao nhất trong Kinh tạng và Mật tạng của nền giáo dục Sakya, và thêm nữa đã nhận những tặng phẩm công nhận từ chính quyền địa phương của tỉnh Sakya ở Tây Tạng.

Vào tuổi 37, ngài đã thọ Đại giới Cụ túc với sự hiện diện của Zimhog Rinpoche của dòng truyền thừa thuộc đại tu viện Sakya. Theo sự hướng dẫn của thầy ngài, sau đó ngài đã trở thành chủ trì của tu viện Ngor Ewam Choden trong ba năm, và rồi thì tiếp tục vào tu viện Tanak Thupten Namgyal, được khai sơn bởi Gho Ramjampa. Trong tu viện này ngài đã phục vụ như một vị viện trưởng trong 15 năm.

Đến ngày khi ngài phải bắt đầu chuẩn bị để tị nạn ở quốc gia láng giềng Ấn Độ. Đào thoát khỏi sự chính quyền Trung Cộng là một hành trình rất gian khó, nhưng ngài đã thành công và đến Ấn Độ, được hướng dẫn bởi giấc mơ về Đức Liên Hoa Sanh. Cuộc đào thoát của ngài đã đưa ngài đến Mustang và Nepal, nơi ngài đã thấy dấu chân nổi tiếng trên đá của Đạo sư Liên Hoa Sanh, được biết như Bậc Thầy của loài người. Sau đó ngài đã nhớ lại những tiên tri của Đạo sư Liên Hoa Sanh đã làm trong giấc mơ, và đã bắt đầu khóc với lòng biết ơn. Trái tim của ngài đã tuôn tràn với những lời cầu nguyện vì lợi ích của tất cả chúng sanh và quảng bá Phật Pháp toàn thế giới.

Năm 1961, theo sự gợi ý của His Holiness Sakya Trizin Rinpoche, ngài đã đến Darjeeling và được chỉ định làm viện trưởng của tu viện Sakya Guru ở Ghoom. Kể từ lúc ấy về sau ngài đã hướng dẫn tu viện với lòng nhiệt tình vô hạn. Với hoạt động của ngài vào năm 1979 một viện Cao Đẳng Triết Lý Phật Giáo đã được thành lập tại tu viện. Kiến thức của ngài về Phật lý là ngoại hạng, và ngài đã sáng tác nhiều luận giải. Căn cứ trên kinh nghiệm và kiến thức của ngài, ngài đã có thể làm sáng tỏ những tác phẩm như "Sự Minh Bạch của Ba Lời Nguyện" của Sakya Pandita, và "Kho Tàng Lời Hướng Dẫn Thánh Thiện" của ngài và nhiều tác phẩm khác về triết lý Phật Giáo.

Khenchen Sangye Tenzin là một học giả vượt khỏi ranh giới của những tông phái. Theo lời thỉnh cầu của chính phủ lưu vong Tây Tạng, ngài đã dạy cho những tu sĩ bất chấp tông phái của họ về triết lý và văn học Phật Giáo tại trung tâm Tôn Giáo Buxa, bang Tây Bengal.

Cùng với những viện trưởng của ba tu viện quan trọng của tông Gelug là Ganden, Sera, và Drepung, và vài rinpoche khác, ngài đã tham gia thảo luận liên hệ đến việc bảo tồn giáo huấn của Đức Thế Tôn trong lưu vong. Vì mục tiêu này ngài đã du hóa đến Mussoorie và Kushinagar,nơi mà để cảm ơn đến những tham luận của ngài về vấn đề làm thế nào để áp dụng một cách tốt nhất những phương tiện cho mục tiêu này, ngài đã được để cử làm người thuyết giảng chính ở 'the Mool Shastra',truyền thống của những đạo sư Ấn Độ ở Na Lan Đà, chẳng hạn như Long Thọ, Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Nguyệt Xứng, Trần Na và Pháp Xứng, tại Học Viện Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Giáo Cao Cấp ở Sarnath, Varanasi, thuộc bang Uttar Pradesh.

Những sự kiện nổi bật nhất trong sự nghiệp học giả của ngài kể cả việc giảng dạy "Sự Khác Biệt Minh Bạch của Ba Lời Nguyện", với luận giải của ngài, cho ngài His Eminence Chobgye Trichen Rinpoche, và truyền miệng "Những Giai Tầng Thiền Tập" của Liên Hoa Giới cho Đức Đạt Lai Lạt Ma 14. Cho đến ngày hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn bày tỏ lòng biết ơn của ngài đến Khenchen Sangye Tenzin vì đã ban cho sự trao truyền hiếm hoi này.

Vào ngày 11 tháng Mười Một, năm 1990, Khenchen Sangye Tenzin đã nhập niết bàn. Ngài đã duy trì trong trạng thái nhập định "Tug-Dam", của một bậc thầy trong thời gian chín ngày. Mặc dù trái tim của ngài đã ngừng đập, thân thể của ngài đã không có một biểu hiện nào của sự phân hủy, và tâm của ngài đã duy trì sự nhập định trong tâm linh quang.

Ẩn Tâm Lộ ngày 3-7-2013



VÀI NÉT VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

 

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA sinh ngày sáu tháng Bảy, năm 1935, trong một gia đình nông dân nghèo vùng Đông Bắc Tây Tạng. Vào năm hai tuổi, ngài được xác nhận là Đạt Lai Lạt Ma, lĩnh tụ tâm linh và thế tục của Tây Tạng, thứ mười bốn trong một sự kế tục trãi dài từ sáu trăm năm trước. Vào năm sáu tuổi, ngài đã bắt đầu sự rèn luyện kéo dài cả đời người như một tu sĩ Phật Giáo. Từ năm 1959, ngài đã sống lưu vong khỏi Tây Tạng ở Dharamsala, Ấn Độ. Nổ lực không mệt mõi của ngài vì quyền con người, hòa bình thế giới, và giá trị căn bản của loài người đã đưa ngài đến tầm vóc quốc tế. Ngài là người nhận nhiều sự vinh danh và phần thưởng, trong ấy có giải Nobel Hòa Bình năm 1989 và Huân Chương Vàng Quốc Hội Hoa Kỳ.

Khi được hỏi về vai trò của ngài trong đời sống, Đức Đạt Lai Lạt Ma thường liên hệ chính ngài như một "thầy tu giản dị". Nhiều người khác xem ngài là một trong những lãnh tụ tâm linh nổi tiếng nhất của thời đại chúng ta và một trong những học giả và đạo sư Phật Giáo hàng đầu của thế giới. Trong phạm vi những cuộc du hành rộng rãi, ngài cũng nói cũng biện hộ cho chí nguyện của ngài trong đời sống. Thứ nhất, ngài nguyện cố gắng để thúc đẩy cho những giá trị căn bản của con người, hay những gì ngài thường liên hệ như những "đạo đức thế tục". Thứ hai, ngài nguyện thúc đẩy hòa hiệp và thông hiểu trong những truyền thống tôn giáo quan trọng của thế giới. Và thứ ba, ngài nguyện đối với "vấn đề Tây Tạng", dâng hiến đến những lợi ích của đồng bào Tây Tạng, hành động như một phát ngôn viên trong sự đấu tranh của họ vì nhân quyền, sự tự trị, và tự do rộng rãi hơn. Bất cứ nơi nào ngài đến, Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài đã biểu hiện một sự cởi mở chân thành đến thính chúng cho lòng ân cần từ tế, từ bi, bao dung và trách nhiệm phổ quát.

Đề tìm hiểu thêm về Đức Đạt Lai Lạt Ma, kể cả chường trình giảng dạy của ngài, xin hãy thăm trang www.dalailama.com

 

BÀI LIÊN HỆ

Giới Thiệu Quyển Những Giai Tầng Thiền Tập

https://hoavouu.com/a25491/gioi-thieu-quyen-sach-nhung-giai-tang-thien-tap

Tâm Là Thế Nào?

https://thuvienhoasen.org/a16427/tam-la-the-nao

Rèn Luyện Tâm

https://thuvienhoasen.org/p26a18889/14/ren-luyen-tam

 

Trình Tự Tu Thiền

http://www.hongnhu.org/files/pdf/0-ALL/dg-dl-07_giang-ve-trinh-tu-tu-thien%5Bteachings-stages-of-meditation%5D_viet_260p_20161128.pdf

 


Stages of Meditation

TRÌNH TỰ TU THIỀN

https://thuvienhoasen.org/a8552/trinh-tu-tu-thien