Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

THỜI GIAN: BERGSON, ĐỨC PHẬT VÀ SINH NHẬT BỊ QUÊN CỦA CHỒNG TÔI

 Temporal : Bergson, the Buddha, and My Husband’s Missing Birthday 

Tác giả: Linda Leaming
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Namgay with the astrological chart related to his birth. Image courtesy of the author
***

Khi Namgay và tôi kết hôn 26 năm trước, chúng tôi đã có kế hoạch đến thăm Hoa Kỳ. Vì vậy anh ấy cần một hộ chiếu. Tôi ngồi cùng anh ấy để giúp điền các giấy tờ cần thiết. Chúng tôi làm khá suôn sẻ cho đến khi đến phần ngày sinh của anh ấy, vốn thực ra là câu hỏi ngay sau tên.

Namgay không biết sinh nhật của mình là khi nào.

Người đàn ông tôi kết hôn không biết ngày sinh của chính mình. Namgay nói rằng nó đã được viết ở đâu đó trên một tờ giấy, được một nhà chiêm tinh ghi lại khi anh ấy được sinh ra, ghi chi tiết tất cả những sự kiện quan trọng trong cuộc đời anh ấy và, có lẽ, cả khi anh ấy sẽ chết.

Liệu anh ấy có thể lấy tờ giấy không?

Anh ấy không nhớ nó ở đâu.

Điều này không phải là hiếm ở Bhutan. Nhiều người ở đây không biết chính xác họ được sinh ra khi nào. Họ không được sinh ra trong các bệnh viện nơi ngày tháng được ghi lại, đó là lý do tại sao rất nhiều người Bhutan tổ chức sinh nhật của họ vào ngày 1 tháng 1, thời điểm bắt đầu của lịch dương. Thực ra ở Bhutan có năm lễ đón năm mới lớn, gắn với lịch nông nghiệp và có lẽ là với các điểm chí, hoặc các ngày đó cũng có thể hoàn toàn ngẫu nhiên. Chúng diễn ra từ tháng 12 đến tháng 2 và tất cả, trừ ngày 1 tháng 1 theo lịch Gregorian, đều là các ngày lễ di động—những ngày lễ tôn giáo diễn ra vào một ngày khác nhau mỗi năm thay vì một ngày cố định trong lịch, giống như Lễ Phục Sinh, vốn thay đổi dựa trên lịch âm và luôn rơi vào Chủ nhật đầu tiên sau trăng tròn đầu tiên sau điểm xuân phân.

Ernest Hemingway đã thổi một đời sống thứ hai cho cụm từ này, khi đặt tên cuốn hồi ký về Paris những năm 1920 của ông là *A Moveable Feast* (Lễ Di Động). Khi nhắc đến Paris, ông muốn nói rằng bạn có thể mang theo ý niệm về nó đến bất cứ nơi đâu trong cuộc đời.

À, đó đúng là một sự lạc đề thật sự.

Tôi đề nghị rằng chúng tôi chỉ cần cho Namgay một ngày sinh mới. Hộ chiếu cần ngày sinh, và chúng tôi cần tiếp tục hồ sơ. Ngày đó tình cờ là 17 tháng 2, nên tôi đã ghi nó xuống. Và trong 26 năm tiếp theo, ngày 17 tháng 2 là ngày sinh của Namgay. Nó được ghi trong hộ chiếu của anh ấy, trên thẻ căn cước, và trong mọi giấy tờ khác mà anh ấy sở hữu. Chúng tôi tổ chức sinh nhật vào ngày đó.

Vài tuần trước, vào buổi sáng ngày 17 tháng 2, tôi đánh thức anh ấy bằng một câu vui vẻ “Chúc mừng sinh nhật!” Anh ấy mỉm cười. Chúng tôi uống cà phê. Đó là khởi đầu của một ngày sinh nhật hoàn toàn dễ chịu.

Sau đó ông ấy đi đến một chiếc hộp kim loại nhỏ ông giữ trong tủ và lục tìm. Ông lấy ra một tờ giấy được gấp lại. Đó là loại giấy Bhutan làm từ vỏ cây Daphne, đã cũ, mềm, phủ đầy những ký tự tượng hình thanh nhã của chữ Choki. Đó là những ghi chép của nhà chiêm tinh—tờ được viết khi Namgay ra đời; tờ mà ông đã không thể tìm thấy suốt 26 năm trước. Hay bất kỳ năm nào kể từ đó.

Ông nhìn nó một lúc rồi đưa nó ra trước mặt để tôi có thể thấy.

Sinh nhật của Namgay, hóa ra, là ngày 27 tháng 4. Không phải ngày 17 tháng 2. Chúng tôi đã tổ chức nhầm sinh nhật suốt 26 năm, mặc dù Namgay chỉ hơi quan tâm đến sự thật này. Tôi có rất nhiều câu hỏi, trong đó điều quan trọng nhất là tại sao anh ấy lại chờ lâu đến vậy? Tại sao năm nay? Tại sao bây giờ?

Đó là lúc tôi bắt đầu nghĩ về Bergson.

Nhà triết học người Pháp, Henri Bergson, viết vào thời điểm chuyển giao thế kỷ 20, đã đề xuất ý tưởng lớn của ông—ý tưởng đã giúp ông giành Giải Nobel Văn học năm 1927—về thời gian. Cụ thể, ông cho rằng chúng ta, những người hiện đại, đã hiểu sai nghiêm trọng về khái niệm thời gian.

Trong cuốn sách Time and Free Will (Thời Gian và Tự Do Ý Chí) của mình, Bergson đã phân biệt hai loại thời gian. Có thời gian đồng hồ: thời gian của lịch, hộ chiếu và sinh nhật, mà ông xem như một ẩn dụ không gian, thời gian được trải ra như một chiếc thước, được chia thành các đơn vị đo lường bằng nhau. Và sau đó là điều ông gọi là durée, hay thời lượng: thời gian như chúng ta thực sự trải nghiệm, từ bên trong.

Thời lượng không thể đo lường một cách chặt chẽ. Nó mang tính định tính, không phải định lượng. Nó chảy trong “những sắc thái của tồn tại.” Nó liên tục, linh hoạt, tích lũy; nó ít giống một chiếc thước đo hơn và giống một bản nhạc hơn, nơi mỗi nốt nhạc mang ký ức của tất cả những nốt trước đó và dự đoán tất cả những nốt sẽ đến. Bạn không thể bước ra ngoài thời lượng để đo nó mà không phá hủy chính thứ bạn đang cố đo. Một ngày sinh nhật, trong thời gian đồng hồ, là một điểm cố định. Trong thời lượng, nó là một giọt nước trong một dòng sông đang chảy.

Lập luận của Bergson là tư duy phương Tây đã trở nên quá say mê thời gian đồng hồ, với ý niệm về số lượng, đo lường, và ý tưởng rằng thời gian là thứ có thể được chia cắt và xác định rõ ràng, đến mức chúng ta đã đánh mất sự tiếp xúc với thời gian như nó thực sự được trải nghiệm. Chúng ta đã nhầm bản đồ với lãnh thổ.

Triết học Phật giáo đã đưa ra một phiên bản của lập luận này trong hơn 2.500 năm.

Khái niệm Phật giáo về anitya, tính vô thường, cho rằng không có gì là cố định, không có gì đứng yên, mọi thứ sinh khởi và tan biến trong một dòng trở thành liên tục. Cái mà chúng ta gọi là bản ngã không phải là một đối tượng ổn định di chuyển trong thời gian mà là một quá trình đang triển khai trong thời gian, từng khoảnh khắc một. Bản ngã được sinh ra vào một ngày nào đó trong tháng Tư hoặc tháng Hai (chúng ta vẫn đang xác định điều này), không phải là cùng một bản ngã đang uống cà phê sáng nay. Cả hai đều tồn tại trong dòng chảy và dòng chảy thì luôn chuyển động (hằng chuyển như bộc lưu).

Những quan niệm của Phật giáo Tây Tạng về thời gian còn đi xa hơn. Thời gian là tuần hoàn, không phải tuyến tính. Nó xoắn ốc. Nó tự gấp lại chính nó. Lịch Bhutan, với chín tháng cũng như năm năm mới theo vùng của chúng ta, và việc các nhà chiêm tinh của họ vẽ nên hình dạng của một đời người tại thời điểm sinh ra, không phải là những nỗ lực thất bại nhằm tuân theo lịch Gregorian. Đó là một mối quan hệ hoàn toàn khác với thời gian, và là mối quan hệ quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và tính chất của một khoảnh khắc hơn là các tọa độ của nó.

Giấy của một nhà chiêm tinh và một tờ đơn xin hộ chiếu không khác nhau là mấy—cả hai đều là những nỗ lực nhằm cố định một đời người trên trang giấy. Chỉ có một cái là đẹp hơn và mang rủi ro cao hơn.

Về phần mình, Namgay không thực sự bận tâm đến bất kỳ điều nào trong số này. Anh là một Phật tử, một người Bhutan, và một nghệ sĩ, vì vậy anh luôn có một mối quan hệ rất dễ dàng với thời gian. Anh không xem ngày sinh của mình như một mốc cố định phải được xác định chính xác và kỷ niệm hàng năm. Tôi nghĩ anh trải nghiệm nó theo cách mà Bergson hẳn đã muốn tất cả chúng ta trải nghiệm thời gian: như một thứ chảy qua và bao quanh chúng ta, chứ không phải một thứ mà chúng ta đứng trên đó.

Tờ giấy của nhà chiêm tinh lại được đặt trở vào trong chiếc hộp kim loại. Chúng ta có thể tổ chức sinh nhật của Namgay vào tháng Tư, hoặc bất cứ khi nào chúng ta rảnh để chuyển ngày trong lịch Bhutan sang lịch Gregorian, hoặc chúng ta cũng có thể chỉ để nguyên vào tháng Hai. Con gái chúng tôi Kinlay đã lên tiếng, cho rằng điều đó không công bằng. Cô bé nói rằng chúng ta phải giữ ngày 17 tháng Hai vì anh ấy không thể được ăn mừng hai lần.

Thói quen cũ cố định những ý niệm của chúng ta theo thời gian. Đáng để dừng lại, ít nhất trong khoảng thời gian cần để đọc đoạn này, để suy ngẫm về chất lượng hơn là số lượng. Hai mươi sáu năm là một khoảng thời gian dài. Sinh nhật sai giờ đây có thời lượng riêng của nó. Nó đã tích lũy. Nó đã trở thành, theo cách riêng của nó, có thật và, dám nói rằng, một bữa tiệc có thể di chuyển./.

https://www.buddhistdoor.net/features/temporal-rules-bergson-the-buddha-and-my-husbands-missing-birthday/

 





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét