Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

KHAI THÁC NĂNG LỰC CỦA ĐỊNH VÀ TUỆ

Phần III:  KHAI THÁC NĂNG LỰC CỦA ĐỊNH VÀ TUỆ   





8

Tập Trung Tâm Thức của Chúng Ta


Hãy để những sự xao lãng tan rả như những đám mây
biến mất trong bầu trời.

          -MILAREPA-


Trong mọi lĩnh vực của tư tưởng, chúng ta cần phải có khả năng phân tích, và rồi thì, khi chúng ta đi đến một quyết định, chúng ta cần có phải có thể đặt để tâm trí chúng ta đến điều ấy mà không dao động.  Hai khả năng này – phân tích và duy trì tập trung (tuệ và định) – là cần yếu để thấy chúng ta thật sự như chúng ta là.  Trong tất cả mọi lĩnh vực phát triển tâm linh, không kể trình độ của chúng ta là gì, chúng ta cần cả sự phân tích và tập trung để đạt đến những thể trạng mà chúng ta tìm cầu, thứ tự từ việc tìm cầu một tương lai tốt đẹp hơn, đến việc phát triển niềm tin trong nguyên nhân và hiệu quả của những hành động (nghiệp), đến việc phát triển một khuynh hướng thoát ly khỏi chu kỳ của khổ đau được gọi là vòng sinh tử luân hồi, đến việc trau dồi từ ái và bi mẫn, đến việc nhận ra tính tự nhiên thật sự của con người sự vật.  Tất cả những sự cải thiện này được thực hiện trong tâm thức bằng sự thay đổi việc chúng ta suy nghĩ như thế nào, chuyển hóa quan điểm của chúng ta qua những sự phân tích và tập trung.  Tất cả những loại thiền tập này chiếm những đặc trưng phổ biến của quán và chỉ, hay thiền quán và thiền định, hoặc liễu biệt thiền và tam muội thiền, cũng còn gọi là thiền tuệ giác nội quán và thiền nhất tâm bất loạn.

Nếu tâm thức chúng ta phân tán rải rác, nó hoàn toàn bất lực.  Xao lãng ở đây, đãng trí ở kia mở ra những lối mòn cho những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng đưa đến nhiều loại rắc rối.  Không có sự tập trung vững vàng, trong sáng, tuệ giác nội quán không thể biết bàn chất tự nhiên của những hiện tượng trong toàn bộ năng lực của nó. Thí dụ, để thấy một bức họa trong bóng tối, chúng ta cần một cây đèn bàn thật sáng.  Ngay cả có một cây đèn như thế, nhưng nếu nó bập bùng hay lung linh chúng ta không thể thấy bức họa một cách rõ ràng với chi tiết.  Cũng thế, nếu cây đèn với ánh sáng ổn định nhưng yếu ớt chúng ta cũng không thể thấy rõ ràng.  Chúng ta cần cả sự trong sáng và vững vàng rộng lớn của tâm thức, cả tuệ giác nội quán và sự tập trung (tuệ và định), như một cây đèn dầu không bị xao động bởi bất cứ làn gió nào.  Như Đức Phật nói, “Khi tâm thức của con được thiết lập trong thiền quán cân bằng [giữa tuệ và định], con có thể thấy thực tại một cách thực sự như nó là.”

Chúng ta không có gì ngoài tâm thức hiện tại của chúng ta để hoàn thành điều này, vì thế chúng ta phải thúc đẩy những khả năng này của tâm thức này hợp tác với nhau để tăng cường tâm thức.  Một thương vụ buôn bán từng tí một nhằm để tích lũy hàng khối tiền; những khả năng của tâm thức để lĩnh hội thấu đáo những sự kiện cần thiết để phối hợp với nhau và tập trung trong cùng cách như thế do vậy chân lý có thể được thân chứng trong toàn bộ sự trong sáng của nó.  Tuy nhiên, trong thể trạng thông thường của chúng ta, chúng ta bị xao lãng, giống như nước chảy khắp mọi nơi, tán mõng năng lực bẩm sinh của tâm thức trong những phương hướng phức tạp, làm cho chúng ta không thể nhận thức rõ ràng sự thật.  Khi tâm thức không được tập trung, ngay khi điều gì đấy xuất hiện, nó đánh cắp mất tâm tư chúng ta; chúng ta chạy trước chạy theo tư tưởng này và rồi chạy theo tư tưởng kia, dao động và không ổn định; bất lực trong việc tập trung trên những gì chúng ta muốn trước khi bị lôi đi qua những thứ khác, sẳn sàng tàn phá chính chúng ta.  Như học giả - hành giả du già Ấn Độ, Tịch Thiên nói: 

Một người tâm tư bị xao lãng
Sống giữa những nanh vuốt của những cảm xúc phiền não.

TẬP TRUNG

Mặc dù sự kiện rằng xao lãng là hiện trạng của chúng ta, những năng lực cho sự nhận biết mà tất cả chúng ta sở hữu có thể phối hợp với nhau và tập trung trên một đối tượng mà chúng ta muốn hiểu biết, khi chúng ta thực hiện trong lúc lắng nghe đến những chỉ dẫn quan  trọng.  Qua sự tập trung như thế, tất cả những sự thực tập – cho dù từ ái, bi mẫn, xu hướng vị tha để trở nên giác ngộ, hay tuệ giác thẩm thấu vào trong tự tính bản nhiên của chúng ta và những nhân duyên của tất cả mọi hiện tượng khác – được làm nổi bật một cách đột ngột, vì thế tiến trình của chúng ta nhanh chóng hơn và thậm thâm hơn nhiều.

Đạo Phật cung ứnng nhiều kỷ năng cho việc phát triển một  hình thức tập trung gọi là “tịch tĩnh bất biến” hay ‘nhất tâm bất loạn’.  Thể trạng hùng mạnh này của sự tập trung được mang danh xưng như thế là bởi vì trong nó tất cả những sự xao lãng, rối rắm đã được làm cho tĩnh lặng và tâm thức chúng ta - sự phù hợp của chính nó – là bất loạn một cách tương tục, an lạc, và uyển chuyển trên đối tượng nội tại lựa chọn với khuynh hướng trong sáng và ổn định vững vàng.  Tại trình độ này của sự phát triền tinh thần, sự tập trung hoàn toàn không đòi hỏi bất cứ nổ lực nào nữa.

VƯỢT THẮNG GIẢI ĐẢI LƯỜI BIẾNG

Lười biếng hiện diện trong nhiều hình thức, tất cả đều đưa đến sự chần chừ, lần lựa sự thực tập đến một thời gian khác.  Đôi khi là một vấn đề thể hiện việc xao lãng đối với thiền quán bằng những hành vi đạo đức trung tính, may vá hay nghĩ đến việc làm thế nào lái xe từ nơi này đến  nơi khác, loại giải đải này có thể độc hại một cách đặc biệt bởi vì những tư tưởng và  hành vi này không được nhận thức như những vấn nạn.

Vào những lúc khác, lười biếng biểu hiện như sự xao lãng để suy nghĩ về những  hành động phi đạo đức, như một đối tượng của tham dục hay làm thế nào để trả thù.  Một loại khác của giải đải là cảm giác rằng chúng ta không tương xứng với nhiệm vụ thiền quán, cảm thấy thấp kém và ngã lòng:  “Làm thế nào một người như tôi có thể đạt được điều này!”  Trong trường hợp này chúng ta bị hụt hẩng quên nhận ra khả năng to lớn của tâm thức con người và năng lực của sự rèn luyện dần dần từng bước một.

Tất cả những sự giải đải này liên hệ đến việc không nhiệt tình với thiền tập.  Làm thế nào có thể vượt thắng chúng?  Sự quán chiếu về những thuận lợi của việc đạt đến tính linh động của tinh thần và thân thể sẽ phát sinh nhiệt tình cho thiền quán và làm mất tác dụng của lười biếng.  Một khi chúng ta đã đạt được niểm hỉ và lạc của thiền tập của sự linh động thân thể và tinh thần chúng ta có thể trụ thiền lâu dài bao nhiều tùy ý chúng ta muốn.  Vào lúc ấy tâm thức chúng ta hoàn toàn được thuần hóa vì thế chúng ta có thể trực tiếp hướng nó đến bất cứ hành vi đạo đức nào; tất cả những tình trạng rối loạn chức năng của thân thể và tâm thức sẽ bị xóa sạch.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HÀNH

Đối với những người mới bắt đầu, những nhân tố bên ngoài có thể xem như tác động đối với thiền quán bởi vì năng lực tinh thần nội tại không đặc biệt mạnh mẽ.  Điều này là tại sao giới hạn những hành vi ồn ào và có một nơi yên tĩnh để thiền tập là rất hữu ích.  Khi kinh nghiệm nội tại của chúng ta được phát triển thuận lợi, những điều kiện ngoại tại sẽ không ảnh hưởng nhiều.

Ở mức độ sơ khởi này của việc trau dồi tịch tĩnh bất biến - nhất tâm bất loạn hay thiền chỉ - chúng ta cần một nơi lành mạnh để thực tập, tránh xa những hành vi bận rộn và những người thúc đẩy tham dục hay sân hận.  Bên trong, chúng ta cần biết toại nguyện, không có những khát vọng mạnh mẽ vì thực phẩm, áo quần, và v.v… nhưng hài lòng với sự điều độ.  Chúng ta cần giới hạn những hành vi của chúng ta, từ bỏ bạo động hay chấn động.  Tình trạng bận rộn nên được bỏ lại sau lưng.  Điều quan trọng đặc biệt là thái độ đạo đức, là điều mang đến sự thư thái, hòa bình, và chu toàn tận tình.  Tất cả những điều chuẩn bị sơ bộ này sẽ giúp chúng ta giảm thiểu những sự xao lãng thô thiển.

Khi tôi trở thành một vị tu sĩ, thệ nguyện hay giới luật của tôi đòi hỏi giới hạn những hành vi bên ngoài, mà nó đặt sự nhấn mạnh hơn trên sự phát triển tâm linh.  Sự thận trọng giản dị làm cho tôi tỉnh thức về thái độ và đưa tôi vào trong việc quan tâm đến những gì xãy ra trong tâm thức tôi nhằm để làm chắc chắn rằng tôi không bị lạc hướng với những thệ nguyện hay giới luật của tôi.  Điều này có nghĩa là ngay cả khi tôi không thực hiện một nổ lực có ý thức lúc thiền quán, tôi thu thúc tâm thức của tôi không bị lang thang và vì thế liên tục đưa vào phương hướng của thiền quán nhất niệm nội tại.

Người ta đôi khi nhìn vào những thệ nguyện đạo đức (giới luật) như sự kềm hảm hay ngược đãi, nhưng điều đó hoàn toàn sai.   Giống như chúng ta thực hiện sự kiêng khem để cải thiện sức khỏe chúng ta và không phải hành hạ chính chúng ta, vì thế những quy tắc mà Đức Phật thiết lập có khuynh hướng để kiểm soát những thái độ chướng ngại ẩn tàng và chiến thắng những cảm xúc phiền não bởi vì những điều này là tai hại.  Vì lợi ích của chính chúng ta, chúng ta kiềm chế những động cơ và hành vi có thể sản sinh khổ đau.  Thí dụ, qua một vụ nhiễm trùng dạ dày mà tôi đã có một vài năm trước đây, bây giờ tôi tránh những thực phẩm chua và thức uống lạnh mà nếu không thì tôi sẽ thưởng thức chúng.  Chế độ dinh dưỡng như vậy cung ứng cho tôi một sự bảo vệ, chứ không phải là trừng phạt.

Đức Phật thiết lập những thể loại phong cách nhằm để cải thiện lợi ích của chúng ta, không phải trao cho chúng ta một kỳ hạn khó khăn.  Những quy luật tự chúng làm cho tâm thức có lợi cho tiến trình tâm linh.

TƯ THẾ

Tư thế thiền quán là quan trọng, vì nếu chúng ta làm thân thể chúng ta thẳng lên, những kinh mạch năng lượng trong thân thể cũng sẽ trở nên thẳng, cho phép năng lượng tuôn chảy trong những kinh mạch này cân bằng, là điều có chiều hướng sẽ giúp đở trong việc quân bình tâm thức chúng ta và đặt nó trong sự phục vụ chúng ta.  Mặc dù thiền quán có thể ngay cả tiến hành bằng cách nằm xuống, nhưng ngồi tréo chân với bảy đặc trưng sau đây là lợi ích: 

1-    Ngồi tréo chân (xếp bằng), với một chiếc gối riêng bên dưới.
2-    Tịch tĩnh bất biến (thiền chỉ hay nhất tâm bất loạn) được trau dồi bằng việc tập trung tâm thức không phải trên một đối tượng ngoại tại mà trên một đối tượng nội tại.  Với đôi mắt chúng ta không mở rộng cũng không khép kín lại mà hơi mở ra một tí, nhìn xuống phía trước đầu mũi nhưng không căng thẳng; nếu điều này không thoãi mái, hãy nhìn xuống sàn nhà phía trước chúng ta.  Để đôi mắt chúng ta mở ra nhẹ nhàng.  Tác dụng của cái nhìn sẽ không làm chán nãn tâm ý của chúng ta.  Sau này, nếu đôi mắt chúng ta nhắm lại theo ý muốn của chúng cũng không sao.
3-    Làm thẳng xương sống chúng ta, giống như một mũi tên hay một chồng tiền xu, mà không uốn cong lưng hay ưởn ra phía trước.
4-    Giữ đôi vai cân bằng, với những bàn tay bốn ngón bề ngang để ngang rốn, với bàn tay trái ngửa lên, và bàn tay phải ở phía bên trên nó, cũng ngửa lên, hai ngón cái giao nhau thành hình tam giác.
5-    Giữ đầu chúng ta cân bằng và thẳng, vì thế mũi chúng ta cùng đường thẳng với rốn, nhưng hơi cong cổ chúng ta, như một con công.
6-    Để đầu lưỡi chúng ta chạm đốc vọng gần răng cửa, sau này có thể cho phép chúng ta chịu đựng một thời gian dài trong thiền tập mà không chảy nước mũi.  Nó cũng sẽ giữ cho chúng ta khỏi thở quá mạnh, có thể làm khô miệng và cổ chúng ta.
7-    Thở vào và thở ra yên tĩnh, nhẹ nhàng, và bằng thẳng.

THỰC TẬP HƠI THỞ ĐẶC BIỆT

Vào lúc bắt đầu buổi thực tập, thật hữu ích để loại trừ năng lượng của những luồng chướng ngại ẩn tàng, được gọi là “những luồng khí” hay “gió”, từ thân thể chúng ta.  Giống như vứt bỏ rác rưởi, đây là những chuỗi của chín hơi thở vào và  thở ra giúp chúng ta dọn sạch những thôi thúc đối với tham dục hay thù hận mà chúng ta có thể có trước buổi thực tập.

Đầu tiên, thở vào sâu qua lỗ mũi phải bằng việc ấn lên lỗ mũi trái để đóng nó lại với ngón tay cái trái của chúng ta; rồi thì mở lỗ mũi trái và ấn lên lỗ mũi phải  để đóng nó lại với ngón tay giữa trái, thở ra qua lỗ mũi trái.  Làm việc này ba lần.  Sau đấy, thở vào sâu qua lỗ mũi trái bằng việc tiếp tục ấn đóng lỗ mũi phải với ngón tay phải trái; rồi mở lỗ mũi phải và ấn đóng lỗ mũi trái với ngón tay cái trái, thở ra qua lỗ mũi phải.  Làm điều này ba lần.  Sau cùng, đặt lưng tay trái trong lòng chúng ta như được diễn tả trong mục trước và thở vào sau qua cả hai lỗ mũi, rồi thì thở ra qua hai lỗ mũi.  Làm điều này ba lần, trong tổng cộng chín hơi thở.  Khi thở vào và thở ra, tập trung tất cả tư tưởng trên hơi thở vào và hơi thở ra, suy nghĩ, “thở vào” và “thở ra”, hay đếm mỗi cặp của hơi thở vào và thở ra từ một đến mười và rồi trở lại một.  Giữ sự tập trung trên hơi thở của chúng ta, và điều này tự nó sẽ làm cho tâm thức chúng ta trong sáng hơn và rộng rãi  hơn, tạm thời tự do khỏi bất cứ đối tượng nào của tham dục hay thù hận mà chúng ta có thể có, để cho tâm tư chúng ta tươi tắn khỏe khoắn.

Tại lúc này, hãy đem động cơ vị tha của chúng ta, niểm khát vọng hổ trợ người khát, đầy sức sống trong tâm thức; nếu chúng ta đã cố gắng đặt một quan điểm đạo đức trước đấy, trong khi dưới sự ảnh hưởng của tham dục hay thù hận, nó sẽ khó khăn, nhưng bây giờ nó dễ dàng hơn.   Sự thực tập hơi thở này giống như đang chuẩn bị một tấm vải để nhuộm; sau khi giặt, nó sẽ thấm thuốc nhuộm dễ dàng hơn.

Tập trung tất cả tâm tư chúng ta chỉ trên hơi thở, là điều mà chúng ta luôn luôn có với mình và không cần tưởng tượng điều gì mới mẻ, sẽ làm cho những tư tưởng trước đây hòa tan đi, làm cho sự tập hợp tư tưởng của chúng ta trong những bước tiếp theo dễ dàng hơn.

ĐỐI TƯỢNG

Bây giờ hãy để chúng ta lưu tâm đến đối tượng nào mà chúng ta nên tập trung trong khi thực tập tịch tĩnh bất động (tam muội thiền, nhất tâm hay thiền chỉ).  Vì hậu quả của những cảm xúc tàn phá trước đây có khuynh hướng nấn ná tiềm tàng trong tâm thức, cho nên bất cứ cố gắng nào đề tập trung tâm tư, chúng ta dễ dàng bị ngắt quảng bời những năng lực này.   Nếu chúng ta đã tìm hiểu tính không của sự tồn tại cố hữu một cách mạnh mẽ, chúng ta có thể đem hình tượng của tính không như chủ đề tập trung của chúng ta, nhưng khởi đầu thật khó khăn để tập trung trên một đề mục sâu sắc như vậy.  Thông thường hơn, chúng ta cần một đối tượng đề chú ý mà nó sẽ làm yếu cảm xúc tàn phá trước đây của chúng ta, cho dù điều này là tham dục hay thù hận, mê muội, tự hào, hay tư tưởng thừa thãi.  Những điểm tập trung thường đối lập với những khuynh hướng này được gọi là “những tư tưởng cho việc tịnh hóa thái độ.”

Nếu cảm xúc tàn phá vượt trội của chúng ta là tham dục, chúng ta phải cân bằng một người hay một vật hấp dẫn tương tợ với sự tham muốn ngay lúc ấy.  Trong trường hợp này, chúng ta có thể thiền quán trên những cấu thành thân thể chúng ta từ đỉnh đầu đến bàn chân của chúng ta – da, thịt, máu, xương, tủy, nước tiểu, phân, và v.v… Hãy thấy một cách nông cạn, thân thể có thể xem như xinh đẹp, nhưng nếu chúng ta quan tâm một cách gần gũi những bộ phận của nó cho những mục tiêu của những bài tập  này, nó không quá đẹp.  Một tròng con mắt thôi có thể là dễ sợ.  Hãy lưu tâm đến mọi thứ từ tóc chúng ta đến móng tay và móng chân của chúng ta.

Một lần nọ, khi tôi đang viếng thăm Thái Lan, gần cổng của một tu viện có những tấm hình của một xác chết trãi qua ngày này đến ngày khác trong nhiều ngày.  Những giai đoạn của phân hủy là rõ ràng; những tấm hình thật sự rất hữu ích.  Thân thể chúng ta có thể dường như xinh đẹp, với sức khỏe tốt, chắc nịch và mềm mại để xúc chạm; tuy thế, khi nhìn những thành phần cấu thành nó một cách gần gũi và sự tan rã mà nó có thể phải chịu, chúng ta thấy bản chất tự nhiên của nó là khác biệt.

Nếu cảm xúc tàn phá nổi bật của chúng ta theo thái độ quá khứ trãi qua nhiều kiếp sống là thù hận và thất vọng, có nghĩa là chúng ta nổi giận rất nhanh chóng, và ngay cả mất sự tự chủ  với người khác, chúng ta có thể trau dồi yêu thương qua nguyện ước rằng những người đánh mất hạnh phúc được ban cho hạnh phúc và những nguyên nhân hạnh phúc.

Nếu cảm xúc tàn phá nổi bật của chúng ta là si mê và tăm tối, có lẽ, qua sự tin tưởng rằng mọi hiện tượng xãy ra không có nguyên nhân và điều kiện (không nhân duyên), hay rằng tự ngã hoạt động dưới năng lực của chính nó, chúng ta có thể thiền quán trên sự sinh khởi tương duyên của mọi hiện tượng (quán duyên sinh), sự tùy thuộc của chúng trên những nguyên nhân.  Chúng ta cũng có thể quán chiếu tiến trình tái sinh trong vòng luân hồi , [mười hai nhân duyên], bắt đầu với vô minh si ám và chấm dứt với già và chết.  Một trong hai thứ này sẽ xói mòn sự mê muội của những ý tưởng sai lầm cùng vô minh và làm tăng tiến sự thông minh.

Nếu cảm xúc nổi bật của chúng ta mang theo từ quá khứ là tự kiêu, chúng ta có thể thiền quán trên những đặc trưng của hiện tượng trong phức hệ thân – tâm.  Chú ý đến nhiều nhân tố này làm xói mòn cảm giác của một tự ngã riêng biệt với chúng.  Cũng thế, khi chúng ta lưu tâm những điều này trong chi tiết, chúng ta sẽ nhận thấy rằng có nhiều thứ mà chúng ta không biết, do vậy đánh thủng cảm giác phóng đại của chúng ta về tự ngã.  Ngày nay, những nhà khoa học, chẳng hạn như những nhà vật lý, có những đặc trưng của họ về những hiện tượng, chẳng hạn như sáu loại vi lượng – ngữa, úp, hấp dẫn, kỳ lạ, đỉnh và đáy – và bốn năng lực - điện từ, lực hấp dẫn, hạt nhân mạnh, hạt nhân yếu – những thứ, mà nếu chúng ta nghĩ chúng ta biết tất cả, sẽ đánh thủng lòng tự kiêu khi chúng ta quan tâm về chúng.   Chúng ta sẽ chấm dứt sự suy nghĩ, “Tôi không biết gì cả.”

Nếu cảm xúc phiền não nổi bật của chúng ta là phát sinh quá nhiều tư tưởng, vì thế chúng ta quẩn quanh suy nghĩ về điều này và điều kia, chúng ta có thể thiền quán với hơi thở ra và hơi thở vào như được diễn tả trong phần trước.  Khi chúng ta tập trung tâm thức của chúng ta trên hơi thở, dòng suối dường như không ngừng của những tư tưởng rong ruỗi ở đây và ở kia sẽ lập tức giảm bớt.

Nếu chúng ta không có những tư tưởng tàn phá nổi bật, chúng ta có thể chọn bất cứ đề mục nào trên đây.

ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT

Một đối tượng hữu ích của thiền quán cho tất cả mọi loại cá nhân là một hình tượng của Đức Phật, hay một biểu tượng tôn giáo nào khác, vì việc tập trung trên đấy sẽ thấm nhuần tâm thức chúng ta với những phẩm chất đạo đức.  Nếu bằng vào việc đưa biểu tượng này đến tâm thức chúng ta liên tục, chúng ta sẽ hình dung điều ấy một cách rõ ràng, nó sẽ duy trì với chúng ta trong suốt những hành vi  hằng ngày, giống như chúng ta ở trong sự hiện diện của một Đức Phật.  Khi chúng ta bệnh tật hay trong cơn đau đớn, chúng ta sẽ có thể đánh thức sự hiện diện diệu kỳ này.  Ngay cả khi chúng ta lâm chung, một Đức Phật sẽ xuất hiện liên tục trong tâm thức chúng ta, và tâm thức của kiếp sồng này sẽ kết thúc trong một thái độ sùng mộ sinh động.  Điều này sẽ hữu ích, có phải không?

Trong thiền quán của chúng ta, hình dung một Đức Phật thật sự, không phải là một bức hình hay một bức tượng cứng nhắc.  Đầu tiên chúng ta cần phải biết hình dáng của một vị Phật đặc thù rõ rệt qua nghe đến một Đức Phật được diễn tả hay nhìn vào một bức hình hay một bức tượng, làm cho trở nên quen thuộc với hình dáng ấy vì thế một hình tướng của Đức Phật có thể xuất hiện trong tâm thức chúng ta.  Đối với người mới bắt đầu, tâm ý dễ dàng bị rải rác nơi này và nơi  kia đến đủ loại đối tượng, nhưng chúng ta biết từ kinh nghiệm của chính chúng ta rằng nếu chúng ta nhìn chăm chăm vào một đối tượng như một bông hoa, sự lang thang này sẽ giảm bớt.  Trong cùng cách như thế, khi chúng ta nhìn chăm chăm vào một hình tượng Phật với đôi mắt của chúng ta, sự tán loạn sẽ nhỏ dần, và rồi dần dần chúng ta có thể làm cho hình tượng xuất hiện trong tâm thức chúng ta.

Hãy tưởng tượng đối tượng tôn giáo ngang bằng với chân mày của chúng ta, khoảng năm hay sáu bộ (1,5m – 1,8m) phía trước chúng ta; cao khoảng một đến bốn inch (3cm – 10 cm).  Đối tượng càng nhỏ nó càng dễ tập trung trong tâm thức, nó phải rõ ràng và sáng rở, phát ra ánh sáng nhưng dày chặc.  Sự tỏa sáng của nó sẽ giúp chúng ta giữ mô thức tâm ý của nhận thức khỏi bị quá lõng lẽo; sự dày chặc của nó sẽ giúp chúng ta giữ tâm ý khỏi bị dàn trãi qua những đối tượng khác.

Nếu chúng ta quá cố gắng để làm cho đối tượng sáng rở và rõ ràng, điều này sẽ gây trở ngại, liên tục điều chỉnh độ sáng của nó sẽ ngăn trở việc ổn định đối với sự tiến bộ.  Vừa phải là cần thiết.  Một khi đối tượng xuất hiện ngay cả lờ mờ, hãy bám nó.  Sau này, khi đối tượng ổn định rõ ràng, chúng ta có thể dần dần điều chỉnh ánh sáng và sự rõ ràng của nó mà không đánh mất hình tượng ban đầu.

Phản Chiếu Thiền Quán

1-    Hãy nhìn kỷ vào một hình tượng của Đức Phật, hay những tranh ảnh tôn giáo khác hay một biểu tượng, chú ý hình dáng, màu sắc, và những chi tiết.
2-    Hành động làm cho hình tượng này xuất hiện trong ý thức nội tại của chúng ta, tưởng tượng nó cùng mức độ ngang chân mày của chúng ta, khoảng năm hay sáu bộ  (1,5m – 1,8m) phía trước chúng ta, cao khoảng một đến bốn inch (3cm – 10 cm) – càng nhỏ càng tốt, và chói lọi rở ràng.
3-    Xem hình tượng là thật sự, được phú cho với những phẩm chất tuyệt diệu của thân thể, lời nói, và tâm ý.








9

Hướng Tâm Thức Chúng Ta cho Thiền Quán



Một vị tu sĩ tên là Shrona đang cố gắng đề thiền quán, nhưng tâm ý ông thì hoặc là quá căng thẳng hoặc là quá giải đải.  Ông hỏi Đức Phật để được dạy bảo.   Đức Phật hỏi, “Khi con là ở nhà, con đã có đánh đàn một cách tuyệt diệu chứ?”
“Bạch Thế Tôn, thực sự như thế.”
“Âm thinh có hay ho khi con căng dây quá thẳng hay khi con để dây đàn quá chùng không?”
“Không như thế.  Con phải căng dây  đàn vừa phải.”
“Cũng giống như ở đây.  Để thiền quán con phải có làm cho ôn hòa sự căng thẳng và sự giải đải trong tâm thức của con.”

    THÁNH NGỮ CỦA PALTRUL RINPOCHE


Chúng ta đang tìm kiếm để phát triển một tâm thức thiền quán mà tự nó là trong sáng một cách nhiệt tình, nơi mà ý thức là quang minh và tỉnh giác. Chúng ta cũng tìm kiếm một sự ổn định cho việc có thể tập trung sự nhất tâm trên đối tượng.  Đây là hai phẩm chất của tâm thức mà chúng ta cần:  sáng sủa nhiệt thành và ổn định không giao động.

Những gì ngăn cản sự phát sinh hai điều này?  Phóng dật – tâm ý quá lỏng lẻo, quá xao lãng – ngăn cản việc phát triển sự trong sáng , và trạo cử - tâm ý quá căng thẳng, quá kich thích – ngăn cản việc liên tục tập trung trên đối tượng.

PHÓNG DẬT (lỏng lẻo, uể oải, bơ phờ)

Phóng dật có những hình thức thô, vi tế, và rất vi tế. Trong phóng dật thô, đối tượng hoàn toàn không rõ ràng, và tâm thức cảm thấy chìm đắm, hay trì nặng xuống.  Trong phóng dật vi tế, chúng ta duy trì trên đối tượng, nhưng tâm thức thiếu sự trong sáng.  Trong phóng dật rất vi tế, tính mãnh liệt chỉ hơi thiếu, tâm ý thể hiện hơi lõng lẽo.

Phóng dật xãy ra khi tâm thức bị rút lui bên trong tiến trình phát triển thiền quán.  Điều này không phải hôn trầm, mà là sự nặng nề và không làm việc của tâm thức và thân thể đối với mê mờ và là điều có thể xãy ra ngay cả khi chú trọng đến một đối tượng ngoại tại.  Trong sự hôn trầm của thân thể, đấy là sự nặng nề, và tâm thức chúng ta là nặng nề, bị vướng trong tăm tối.  Nghe có vẻ như thuận tiện cho việc nghĩ ngơi, đúng không?  Đùa thôi nhé.

TRẠO CỬ (kích thích,náo động, sôi nổi)

Trạo cử là một thể trạng rung động của tâm thức, hầu hết thường qua sự hấp dẫn đến một đối tượng ngoại tại của tham dục.  Nó cũng có thể bất cứ sự tán tâm nào của ý thức, cho dù đối tượng mới là đạo đức, chẳng hạn như từ thiện; không đạo đức như tham dục; hay trung tính như may vá.   Có những hình thức thô và vi tế của trạo cử.  Trong thô trạo cử, chúng ta quên đối tượng thiền quán của chúng ta và lạc vào trong những tư tưởng khác.  Mặc dù trong trạo cử thô, đối tượng không mất, một góc của tâm thức chúng ta liên hệ trong tư tưởng di chuyển nhanh, như nước chảy dưới mặt đóng băng của con sông.

Giữa những buổi thiền quán, điều quan trọng là phải điều tiết những giác quan của chúng ta, ăn một khối lượng trung bình thức ăn, và  duy trì sự quán sát thân thể và tâm thức.  Trái lại, những điều này có thể hoạt động như những nguyên nhân của phóng dật và trạo cử.  Ngủ quá nhiều thông thường đưa đến phóng dật, trái lại những dự đoán không thực tế về những khoái lạc của đời sống có khuynh hướng đưa đến trạo cử.

CHIỀU DÀI CỦA NHỮNG BUỔI THIỀN TẬP

Nếu chúng ta đang gặp phải việc trở ngại để tập trung với phóng dật và trạo cử và không thể vượt qua, thay vì ngoan cố khăng khăng trong những buổi thiền tập dài lâu, hãy cố gắng những buổi tập ngắn ngủi nhưng thường xuyên.  Khi việc thực hiện của chúng ta cải thiện và những vấn nạn này giảm thiểu, hãy thực hiện những buổi thiền tập lâu hơn.

Nó sẽ hổ trợ để thiền tập ở những nơi cao ráo nếu phóng dật là vấn đề, và thực hiện vào buổi sáng.  Ngay sau khi chúng ta thức dậy, các giác quan của chúng ta chưa hoạt động, nhưng năng lực của tư tưởng đã hiện diện.  Và bởi vì cơ quan cảm giác chưa hoạt động, chúng ta sẽ có những sự xao lãng ít hơn.  Trong kinh nghiệm của riêng tôi, bình minh là khi tâm thức của tôi trong sáng nhất và bén nhạy nhất.

CHÍNH NIỆM VÀ NỘI QUÁN

Chính niệm là một kỷ thuật để giữ cho tâm thức chúng ta liên tục trên đối tượng cho sự thiền quán của chúng ta.  Nó là thuốc giải cho sự quên lãng.  Vì những người bắt đầu có khả năng này chi trong một mức độ nhỏ nhoi, chúng ta cần rèn luyện và làm tăng trưởng nó bằng việc lập đi lập lại trong việc đặt tâm thức trở lại trên đối tượng.

Thông thường, hãy kiểm soát để thấy tâm thức chúng ta có ở trên đối tượng hay không.  Bằng việc làm điều này qua nhiều lần, chúng ta sẽ đi đến chú ý một cách  lập tức khi tâm thức chúng ta đã trở nên bị xao lãng với điều gì khác.  Cuối cùng chúng ta sẽ chú ý khi tâm thức chúng ta sắp lạc khỏi đối tượng hay đề mục, và chúng ta sẽ có thể giữ nó ở đấy.  Khả năng này là chính niệm.

Kỷ năng cho việc nhận ra phóng dật hay trạo cử đang ngăn chặn tâm thức khỏi việc củng cố trong sáng và ổn định được gọi là “nội quán”.   Sự nội quán thường xuyên này về việc đối tượng trong sáng hay ổn định không được hoàn thành không phải với toàn bộ năng lực của tâm thức nhưng giống như từ phần phụ, vì thế không làm chướng ngại đến sự tập trung của tâm thức trên đối tượng.

Thật sự, để đạt được năng lực chính niệm mạnh mẽ, chúng ta cần giám sát chúng ta có đang ở trong sự tập trung trên đối tượng hay không, nhưng chức năng đặc biệt của nội quán tại thời điểm này là để thấy tâm thức có ở dưới sự ảnh hưởng của phóng dật và trạo cử hay không, chứ không chỉ xem nó có trụ trên đối tượng hay không.  Như học giả du già Ấn Độ Thanh Biện đã nói:

Con voi của tâm thức rong ruỗi một hoang dã
Được quy định giới hạn một cách an toàn bởi sợi dây chính niệm
Đến cột trụ của một đối tượng của thiền quán
Dần dần được thuần hóa bởi cái neo của tuệ trí.

Với kinh nghiệm của chính mình, chúng ta cần nhận ra khi nào mô thức thiền quán của chúng ta trở nên quá hứng thú hay quá giải đải và quyết định sự thực tập tốt nhất để điều chỉnh nó, như được giải thích trong hai phần tới.  Khi khả năng nội quán phát triển, chúng ta sẽ cần đạt đến một cảm nhận nội tại đúng đắn về mức độ căng thẳng, giống như lên dây đàn tây ban cầm cho đến khi sự quân bình đúng mức được thấy, không quá bổng cũng không quá trầm.  Cuối cùng, như một kết quả của sự tích tập kinh nghiệm, chúng ta sẽ có thể nhận ra phóng dật hay trạo cử ngay trước khi chúng phát sinh và thực hiện những kỷ năng để ngăn ngừa chúng trổi dậy, xiết chặc hay nới lỏng mô thức tâm ý của việc quán sát đối tượng.

Thiền Quán Phản Chiếu

1-     Đặt tâm thức chúng ta trên đối tượng thiền quán
2-    Sử dụng nội quán, từ lúc này đến lúc khác kiểm soát để thấy tâm thức chúng ta có trụ trên đối tượng hay không.
3-    Khi chúng ta thấy rằng sự tập trung của chúng ta bị lạc lối, hãy gợi lại đối tượng và đặt tâm thức chúng ta trở lại trên ấy thường xuyên nhất khi cần đến.

Trong cách này chúng ta sẽ phát triển những khả năng của chính niệm và nội quán.

 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH

Khi qua nội quán chúng ta nhận ra rằng tâm thức chúng ta đã đến dưới sự ảnh hưởng của phóng dật hay trạo cử hay chúng ta có một cảm giác rằng những điều này sắp sinh khởi, chúng ta cần áp dụng những phương pháp sửa chửa ngay lập tức.  Chỉ chú ý với những vấn đề này thì không đủ nếu không làm mất tác dụng của chúng.  Hãy nhớ rằng thất bại trong việc đưa vào thi hành những phương pháp điều chỉnh tự nó là một vấn đề, hãy chắc chắn thực hiện chúng đầy đủ.  Đừng làm sai sót giả vờ rằng cả hai vấn đề này là không quan trọng hay chúng ta không có thể ngăn chúng lại.

Phương Pháp Điều Chỉnh đối với Phóng Dật

Trong phóng dật, điều làm nên bởi sự rút lui nội tại quá mức, tâm thức trở nên quá lỏng lẻo, thiếu cường độ, sự căng thẳng yếu kém.  Sự nặng nề của tâm thức và thân thể có thể đưa đến việc trở nên lỏng lẻo, là điều có thể đưa đến việc đánh mất đối tượng quán chiếu, giống như chúng ta rơi vào trong tối tăm; điều này ngay cả có thể làm biến thành giấc ngủ.  Khi phóng dật bắt đầu xãy ra, cần thiết phải nâng cao tâm thức bằng việc làm nó căng thẳng hơn.

Nếu cần một kỷ năng xa hơn đến cường độ của tâm thức, làm sáng sủa hơn hay nâng cao đối tượng thiền quán hay chú ý cận kề hơn những chi tiết của nó; chú ý vòng cung những chân mày trên hình tượng Đức Phật nếu đấy là đối tượng của chúng ta.  Nếu điều này không thành công, thế thì trong khi duy trì thiền quán, lìa đối tượng chú ý tạm thời và nghĩ về một đề mục làm cho chúng ta vui vẻ, chẳng hạn như những phẩm chất diệu kỳ của từ ái và bi mẫn, hay cơ hội tuyệt vời mà một đời sống của con người đã ban cho sự thực hành tâm linh.  Nếu điều này cũng không có hiệu quả và chúng ta vẫn bị phóng dật thô làm khó hay hôn trầm (ngủ gục), chúng ta có thể ngay cả rời buổi thiền quán và đi tới một nơi cao hơn, hay một vị trí với một phong cảnh rộng rãi.  Những kỷ năng như vậy sẽ làm cho tâm thức xì hơi của chúng ta nâng cao và sắc bén.

Phương Pháp Điều Chỉnh đối với Trạo Cử

Trong thời gian khi tâm thức chúng ta bị kích thích và chúng ta đã cố gắng để làm thư giản sự căng thẳng của tâm thức, nhưng điều này không có hiệu quả, chúng ta cần một kỷ thuật xa hơn để rút lui sự trạo cử của tâm thức.  Tại điểm này, làm đối tượng thấp hơn hình dung nó nặng nề hơn có thể hổ trợ.  Nếu điều này không thành công , thế thì trong khi tiếp tục thiền tập, hãy rời đối tượng chú ý một cách tạm thời và nghĩ về một chủ đề làm cho chúng ta điềm đạm hơn, chẳng hạn như vô minh si ám gây ra khổ đau của vòng sinh tử luân hồi như thế nào bằng việc đặt chúng ta dưới ảnh hưởng của những cảm xúc tàn phá.  Hay chúng ta có thể phản chiếu trên điều nhất định sẽ đến của cái chết.  Cũng hữu ích để nghĩ về những bất lợi của đối tượng mà vì nó chúng ta đã lạc lối, và những tổn hại của chính sự xao lãng.  Những phản chiếu như thế sẽ làm cho tính chất căng thẳng quá đáng của tâm thức lơi lõng một ít, làm cho chúng ta có thể duy trì tâm thức trên đối tượng quán chiếu.  Khi điều ấy xãy ra, lập tức trở lại đối tượng ban đầu.  Đôi khi, tôi thấy rằng nếu thời gian thiền tập của tôi giới hạn do bởi công việc phải làm, ý nghĩa khẩn trương này sẽ thúc đẩy sự nổ lực lớn hơn trong một cách làm mạnh mẽ chính niệm.

NGƯNG NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH

Khi chúng ta đã áp dụng phương pháp điều chỉnh một cách thành công, điều quan trọng là chấm dứt việc áp dụng nó và trở lại sự chú ý hoàn toàn đến đối tượng thiền quán.  Việc sử dụng quá mức những phương pháp đối trị đến phóng dật và trạo cử khi những khuyết điểm này đã được loại trừ tự nó sẽ làm đổ vở sự ổn định mà chúng ta đang tìm kiếm để đạt đến.  Tại điểm này, điều thiết yếu để dừng lại việc áp dụng những phương pháp sửa chửa  và chỉ trụ trên đối tượng, kiểm soát từ lúc này đến lúc khác để thấy hoặc là phóng dật hay trạo cử có sắp trổi dậy hay không.

Sau này, khi chúng ta đã trở nên thiện xảo cao độ trong thiền quán và không còn bất cứ hiểm họa về việc trở nên quá lõng lẽo hay quá căng thẳng, ngay cả duy trì việc quan tâm về khả năng cần thiết để áp dụng những phương pháp điều chỉnh sẽ quấy rầy với việc phát triển nhất tâm bất loạn.  Nhưng đừng dừng lại biểu hiện cảnh giác đến những vấn nạn này quá sớm.  Tôi sẽ diễn tả trong phần tới khi điều này là thích hợp.

NHỮNG TRÌNH ĐỘ CỦA TIẾN TRÌNH ĐỐI VỚI TỊCH TĨNH BẤT ĐỘNG

Giáo huấn Đạo Phật diễn tả chiến trình độ của tiến trình đối với tịch tĩnh bất động thật sự; chúng là một bản đồ thiền quán, nói với chúng ta nơi nào chúng ta đang đứng và những gì chúng ta cần làm để tiến bộ.

TRÌNH ĐỘ 1:  ĐẶT TÂM THỨC TRÊN ĐỐI TƯỢNG

Sau khi nghe hay đọc những lời hướng dẫn về việc chúng ta thiết lập tâm thức thế nào trên một đối tượng hay đề mục thiền quán, khởi đầu chúng ta đưa tâm thức vào bên trong và cố gắng để đặt nó ở đấy, có thể rằng chúng ta sẽ không thể giữ tâm thức chúng ta trên đối tượng và sẽ khó tránh đến một dòng thác của tư tưởng, hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác.  Nếu như thế, chúng ta đang ở trên trình độ thứ nhất. Chúng ta có thể ngay cả có rất nhiều tư tưởng mà dường giống như sự cố gắng thiền quán làm chúng gia tăng, nhưng chúng ta chỉ chú ý đến phạm vi chưa tìm ra được nguồn gốc trước kia của tâm tưởng lang thang của chúng ta.  Chúng ta cố gắng chính niệm là nguyên nhân làm cho chúng ta chú tâm đến những gì đang xãy ra.

TRÌNH ĐỘ 2: ĐẶT MỘT CHU KỲ THÍCH HỢP

Khi chúng ta áp dụng chính niệm một cách nhiệt thành và hỏi chính mình lần này lần nữa, “Có phải tôi đang trụ trên đối tượng?”  Chúng ta trở nên có thể đặt tâm thức chính mình trên đối tượng trong một thời gian ngắn, mặc dù vẫn có sự xao lãng hơn nhưng có sự chú tâm trên đối tượng.  Đây là trình độ thứ hai, trong mỗi tư tưởng lang thang đôi khi nó ngừng lại và thỉnh thoảng nó đột nhiên khởi lên.  Những rắc rối chính trong hai trình độ đầu tiên đến từ sự giải đải (lười biếng) và thất niệm (quên lãng) đối tượng, nhưng phóng dật và trạo cử cũng ngăn cản một sự tương tục vững vàng của sự chú tâm thiền quán.  Trong hai trình độ đầu tiên chúng ta đang hoạt động ở việc đưa tâm thức chúng ta trên đối tượng, sau này chúng ta sẽ làm việc trên giữ tâm thức chúng ta ở đấy.

TRÌNH ĐỘ 3:  RÚT LUI VÀ THIẾT LẬP LẠI

Khi chúng ta dần dần đi đến việc nhận ra sự xao lãng nhanh hơn và nhanh hơn qua việc chính niệm hơn, chúng ta trở nên có thể đặt sự chú tâm của chúng ta trở lại trên đối tượng khi nó lang thang, giống như đặt một miếng vá trên áo quần.  Chính niệm bây giờ đã trưởng thành đến điểm mà chúng ta lập tức nhận ra sự xao lãng.

TRÌNH ĐỘ 4:  CẬN TRỤ

 Khi qua sự trưởng thành toàn diện của chính niệm, chúng ta có thể lập tức chống lại giải đải và thất niệm, chúng ta đi qua trình độ thứ tư, mà trong ấy chúng ta không đánh mất đối tượng trong thất niệm.  Trạo cử thô đã qua. Nhưng tâm phá hoại lì lợm, tức là những thành phần vi tế vẫn còn dai dẵng, xen vào quấy rầy tử lúc này sang lúc khác mặc dù không làm chúng ta đánh mất đối tượng.  Trên ba trình độ đầu tiên, giải đải và thất niệm là rắc rối chính, nhưng bây giờ phóng dật và trạo cử đã trở thành sự quan tâm chính.

TRÌNH ĐỘ 5:  KỶ LUẬT TÂM THỨC

Sự nội quán bây giờ trở nên mạnh mẽ hơn và qua kinh nghiệm của chính mình, chúng ta nhận ra những thuận lợi của thiền quán một cách ổn định; phóng dật thô không còn sinh khởi nữa.  Sự rút lui tâm thức từ những đối tượng bắt nguồn ở ngoài bây giờ tiến hành quá xa, vì thế điều trở nên cần thiết để áp dụng những sự chửa trị đến phóng dật vi tế và do thế nâng cao tâm thức.

TRÌNH ĐỘ 6: BÌNH LẶNG TÂM THỨC

Bằng việc áp dụng những phương thức chửa trị đến phóng dật vi tế, chúng ta đạt đến trình độ thứ sáu.  Nội quán đã phát triển toàn vẹn, và qua kinh nghiệm chính mình, chúng ta biết những lỗi lầm của sự tán tâm rãi rác đến những tư tưởng và những cảm xúc tiêu cực; phóng dật vi tế đứng ở tư thế không còn nguy hại lớn nữa.  Tuy thế, chính những phương thức đối trị cho việc vượt thắng phóng dật vi tế bằng việc nâng cao tâm thức có thể đưa đến một tâm thức quá hăng hái, và bây giờ có một hiểm họa của việc phát sinh trạo cử vi tế.

TRÌNH ĐỘ 7:  BÌNH LẶNG TÂM THỨC MỘT CÁCH TRIỆT ĐỂ

Bằng việc áp dụng những phương thức đối trị đến trạo cử vi tế, chúng ta đi đến trình độ thứ bảy.  Ngay khi tham dục, tán tâm, phóng dật, hôn trầm, và những thứ như thế được sản sinh trong ngay cả hình thức vi tế, chúng ta từ bỏ chúng qua  cố gắng. Bây giờ, chúng ta không cần quan tâm về việc ở dưới sự ảnh hưởng của phóng dật và trạo cử vi tế.  Nổ lực bây giờ có thể dừng phóng dật và trạo cử vì thế  chúng không thể làm tổn hại sự tập trung của chúng ta, ngay cả nếu chúng ta làm những sự quấy rầy nhẹ nhàng.

TRÌNH ĐỘ 8:  THỰC HIỆN NHẤT TÂM

Bây giờ năng lực của sự cố gắng đã trưởng thành hoàn toàn do thế, với một sự gắng sức nhỏ vào lúc khởi đầu của buổi tập, toàn buổi thiền quán  sẽ được duy trì với sự trống vắng phóng dật và trạo cử, và chúng ta có thể duy trì sự thiền tập ổn định mà không có sự quấy rầy.  Sự phân tích hoặc là phóng dật hay trạo cử có sắp sinh khởi hay không là không cần nữa trong buổi tu tập.  Bây giờ một sự cố gắng như vậy có thể được bỏ qua một bên, nhưng điều này không có nghĩa là đánh mất kiễu mẫu sôi nổi rõ ràng của việc cảm nhận đối tượng.

TRÌNH ĐỘ 9: TÂM THỨC ĐƯỢC TRỤ TRON G SỰ CÂN BẰNG

Bây giờ chúng ta đã đạt được năng lực quen thuộc từ việc rèn luyện này, sự cố gắng của phương tiện chính niệm và nội quán không cần nữa, và tâm thức trụ chính nó trên đối tượng  trong sự phù hợp của chính nó; trình độ thứ chín là tự phát.  Khi tại lúc bắt đầu của một buổi tu tập chúng ta thiết lập tâm thức trên đối tượng, thiền tập một cách ổn định được kéo dài mà không bị quấy rầy qua năng lực của chính nó, không cần dựa trên ngay cả một sự cố gắng nhẹ nhàng lúc đầu đòi hỏi trên trình độ trước kia.  Chúng ta bây giờ biết không cần áp dụng những phương pháp đối trị đến bất cứ loại phóng dật hay trạo cử nào.

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA TỊCH TĨNH BẤT ĐỘNG

Trình độ thứ chín, mặc dù là biểu hiện tự phát, vẫn đến trước trình độ tịch tĩnh bất động (nhất tâm bất loạn).  Qua sự trau dồi xa hơn của chú tâm nhất điểm tự do khỏi những nhược điểm của phóng dật và trạo cử, sự uyển chuyển của tâm thức và thân thể được phát sinh.

Đầu tiên, não bộ chúng ta cảm thấy nặng nề, mặc dù không trong một cung cách thoãi mái.  Cũng thế, một cảm giác ting ting được cảm nhận trên đỉnh đầu, giống như cảm giác của một bàn tay ấm đặt trên đỉnh đầu sau khi nó được cạo.  Đây là một dấu hiệu của tính nhu nhuyến tinh thần mà nó xóa đi những sự bất thường của tâm tư ngăn cản sự tập trung hoàn toàn dễ dàng sắp được phát sinh.  Đấy là sự nhẹ nhàng khinh an của tinh thần được phát sinh chỉ từ thiền quán khi tâm thức trụ một cách vui vẻ trên đối tượng của nó.

Sự nhu nhuyến tinh thần này làm cho một năng lượng thuận lợi lưu chuyển khắp thân thể, sản sinh tính nhu nhuyến vật lý xóa đi tất cả những sự lúng túng và bất thường của thân thể có thể đưa đến sự mệt mõi và thiếu nhiệt tình đối với thiền quán.  Thân thể chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng như bông.  Sự nhu nhuyến vật lý này lập tức sinh ra một niềm diệu lạc nhu nhuyến vật lý, một cảm giác thoãi mái lan tỏa khắp thân thể.  Bây giờ chúng ta có thể sử dụng thân thể chúng ta trong những hành vi đạo đức phù hợp với nguyện ước của chúng ta.

Niềm an lạc vật lý này đưa đến một sự an lạc tinh thần, gọi là ‘diệu lạc nhu nhuyến tinh thần,’ làm tâm thức tràn đầy hân hoan mà vào lúc đầu hơi quá sôi nổi một tí nhưng dần dần trở nên vững vàng đều đặn hơn.  Ở tại giao điểm này chúng ta đạt được sự nhu nhuyến bất biến.  Điều này đánh dấu sự đạt được tịch tĩnh bất biến thật sự (nhất tâm bất loạn).  Trước điều này, chúng ta chỉ có một trạng thái tương tợ của tịch tĩnh bất động.

Với tịch tĩnh bất đông trọn vẹn phẩm chất, tâm thức chúng ta được năng lực tập trung tròn đầy đủ để tịnh hóa những cảm xúc tàn phá khi nó kết hợp với tuệ giác nội quán.  Khi chúng ta thâm nhập vào trong sự quân bình thiền tập, sự nhu nhuyến của tâm lý và vật lý được phát sinh một cách nhanh chóng, và nó giống như tâm thức chúng ta được tự hòa lẫn với khoảng không.  Khi chúng ta xuất thiền, thân thể chúng ta giống như mới đối với chúng ta, và những khía cạnh nhu nhuyến của tinh thần và thân thể được duy trì.  Bên ngoài thiền quán, tâm thức chúng ta vững vàng như một ngọn núi và rất trong sáng dường như chúng ta có thể đếm những hạt bụi trên bức tường, và chúng ta có ít hơn những cảm xúc chường ngại ẩn tàng, biểu hiện tự do đối với tham dục vì những khoái lạc của hình sắc, âm thinh, mùi hương, vị nếm, và xúc chạm, cũng như tự do với ý định tổn hại, hôn trầm, uể oải, trạo cử, hối hận, và nghi ngờ [1].  Cũng thế, giấc ngủ dễ dàng biến thành thiền tập, mà trong ấy chúng ta có nhiều kinh nghiệm diệu kỳ.

Thiền Tập Phản Chiếu

1-    Để đối trị phóng dật, đấy là một cung cách quá lỏng lẻo của nhận thức trên đối tượng thiền quán:

      Đầu tiên cố gắng nhiệt thành hơn một tí cung cách mà chúng ta tập trung với đối tượng.
      Nếu điều ấy không thành công, hãy làm sáng sủa hay nâng cao đối tượng hay chú tâm gần hơn đến những chi tiết của tối tượng.
      Nếu việc này cũng không có kết quả, rời đối tượng quán chiếu và tạm thời nghĩ về những chủ đề vui vẻ, chẳng hạn như những phẩm chất tốt đẹp của từ ái và bi mẫn hay cơ hội diệu kỳ mà đời sống con người cung ứng cho việc thực tập tâm linh.
      Nếu điều này cũng không hiệu quả, hãy rời buổi thiền tập và đi đến một nơi cao ráo hay một nơi có khung cảnh rộng rãi.


2-    Để đối trị với trạo cử, là điều quá căng thẳng trong việc tập trung trên đối tượng:

      Đầu tiên cố gắng nới lỏng một tí cung cách mà chúng ta quán chiếu đối tượng.
      Nếu điều này không thành công, hạ thấp đối tượng trong tâm thức chúng ta và tưởng tượng nó như nặng nề hơn.
      Nếu điều này không có kết quả, rời đối tượng quán chiếu và tạm thời  nghĩ về một chủ đề làm chúng ta mềm mõng hơn, chẳng hạn như si mê đã đem đến khổ đau như thế nào trong vòng sinh tử luân hồi, cái chết sắp xãy ra, hay những bất lợi của đối tượng làm tâm chúng ta lang thang và những bất lợi của chính sự xao lãng.
Bằng việc học hỏi những kỷ năng này chúng ta sẽ phát triển dần dần khả năng để áp dụng chúng  khi chúng ta lưu tâm đến những vấn đề với khả năng tập trung của chúng ta trong khi thiền tập.

Trích từ quyển How to See Yourself as You Really Are của Đức Đạt Lai Lạt Ma





[1][ ] Tương tự với năm món chường ngại:  tham dục, sân nhuế, trạo cử, điệu hối, nghi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét