Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHẤM DỨT SỰ TỰ LỪA DỐI


 Phần IV: LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHẤM DỨT SỰ TỰ LỪA DỐI




10

Thiền Tập Trên Chính Mình Trước Nhất


Qua một người mà biết tất cả
Qua một người mà cũng thấy tất cả

--BUDDHA—

Vì là cá nhân mỗi người thụ hưởng hoan hỉ hay đớn đau, tạo rắc rối và tích tập nghiệp báo – tất cả sự ồn  náo và rối rắm được làm ra bởi tự ngã – phân tích quán chiếu nên bắt đầu từ chính mình.  Rồi thì khi chúng ta thấu hiểu rằng con người này là không có sự tồn tại cố hữu, chúng ta có thể mở rộng nhận thức này đến những việc mà chúng ta vui mừng, chịu đựng, và hãy làm quen thuộc với chúng.  Trong ý nghĩa này, cá nhân con người là chính yếu.

Đây là tại sao đầu tiên Long Thọ trình bày về vô ngã của con người (nhân vô ngã) và rồi thì sử dụng nó như một thí dụ cho vô ngã của hiện tượng (pháp vô ngã).  Tràng Hoa Quý Báu của ngài nói:

Con người không phải là đất, không phải là nước,
Không phải lửa, không phải gió, không phải không gian,
Không phải thức, và không phải tất cả những thứ ấy.
Con người là gì ở đấy khác hơn những thứ này?

Giống như qua sự thiết lập trong sự tùy thuộc trên một
 tập họp của sáu đại [ [1]]
con người không được thành lập như thực tại của chính nó
vì thế qua sự thiết lập trong sự tùy thuộc trên một tập hợp
Mỗi một đại cũng không được thiết lập như thực tại của chính nó.

Giống như một người không tồn tại một cách cố hữu (vô tự tính) bởi vì người ấy lệ thuộc trên một tích tập của sáu đại – đất (chất cứng của thân thể), nước (chất lỏng), lửa (hơi nóng), gió (năng lượng, chuyển động), không gian (những chỗ rỗng trong thân thể), và thức – vì rằng mỗi đại cũng không có sự tồn tại cố hữu (vô tự tính) bởi vì, đến lượt chúng, cũng là sự thiết lập tùy thuộc trên chính những phẩn tử của nó.

Những thí dụ là dễ hiểu hơn những gì chúng minh họa.  Đức Phật đối với điều này đã nói trong kinh Vua của Thiền Quán:

Giống như con đã biết sự phân biệt sai lầm của chính con
Hãy áp dụng tinh thần  này đến tất cả mọi hiện tượng
Tất cả mọi hiện tượng là hoàn toàn trống rỗng
Đối với sự tồn tại cố hữu của chính chúng, như không gian.
Qua một người tất cả được biết
Qua một người tất cả cũng được thấy.

Khi chúng ta biết rõ cái “tôi” thật sự như thế nào, chúng ta có thể thấu hiểu tất cả những hiện tượng nội tại và ngoại tại với việc sử dụng cùng lý luận.  Thấy một hiện tượng – chính mình – tồn tại như thế nào, chúng ta cũng có thể biết tính tự nhiên của những hiện tượng khác.  Đây là tại sao tiến trình thiền quán là trước nhất phải cố gắng đẻ phát sinh nhận thức chính sự thiếu vắng sự tồn tại cố hữu của chúng chúng ta và rồi thì hành động với cùng nhận thức ấy với sự quan tâm đến những hiện tượng khác.

Thiền quán phản chiếu

Quan tâm đến:

1-    Một cá nhân đang ở tại trung tâm của tất cả những rắc rối.
2-    Do thế, tốt nhất là hành động trong sự thấu hiểu bản chất tự nhiên thật sự của chúng ta trước nhất.
3-    Sau đấy, nhận thức này có thể được áp dụng đến tâm thức, thân thể, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, và tất cả những hiện tượng khác.









11

Nhận Thức Rằng Mình Không Thể Tồn Tại Trong Chính Mình Và Tự Chính Mình

***


Như chiếc xe ngựa được diễn đạt bằng lời nói
Trong việc tùy thuộc trên những tập hợp của những bộ phận,
Vì thế một cách quy ước thế gian, một chúng sinh
Được thiết lập trên những tập hợp uẩn của tinh thần và thân thể

-BUDDHA-


Trong Đạo Phật thuật ngữ tự ngã có hai ý nghĩa phải được phân biệt nhẳm để tránh nhầm lẫn.  Một ý nghĩa của tự ngã là ‘cá thể’ hay ‘chúng sinh’.   Đây là một con người, yêu thương và thù hận, kẻ thực hiện những hành động và tích lũy nghiệp tốt hoặc xấu, kẻ trãi nghiệm những kết quả của những hành vi ấy, kẻ tái sinh trong vòng sinh tử luân hồi, kẻ trau dồi những con đường tâm linh, và v.v…

Ý nghĩa khác của tự ngã xãy ra trong thuật ngữ tính ích kỷ, nơi nó được liên hệ đến một vị thế tưởng tượng, quá cụ thể cứng chắc một cách sai lầm của sự tồn tại gọi là “sự tồn tại cố hữu” hay tự tính.  Vô minh bám chặc đến một sự phóng đại như vậy thật sự là cội nguồn của sự phá hoại, bà mẹ của tất cả những thái độ sai lầm - có lẻ chúng ta ngay cả có thể gọi là gian tà hiểm ác.  Để quan chiếu “cái tôi” lệ thuộc trên những thuộc tính tâm lý và vật lý, tâm thức này phóng đại nó thành sự tồn tại cố hữu, mặc dù thật sự những yếu tố tâm lý và vật lý được quán chiếu không hàm chứa bất cứ một đối tượng phóng đại như vậy.

Điều gì là vị thế thật sự của một chúng sinh?  Giống như một chiếc xe trong sự tùy thuộc trên những bộ phận của nó, chẳng hạn như bánh xe, trục xe, và v.v…, vì thế một chúng sinh được thiết lập một cách quy ước trong sự tùy thuộc trên tâm thức và thân thể.  Không có một cá thể được tìm thấy hoặc là tách rời khỏi tâm thức và thân thể hay trong tâm thức và thân thể.

CHỈ LÀ DANH XƯNG

Điều này là lý do tại sao “cái tôi” và tất cả những hiện tượng khác được diễn tả trong Đạo Phật như “chỉ là danh tự”.  Ý nghĩa của điều này không phải là “cái tôi” và tất cả những hiện tượng khác chỉ là chữ nghĩa, vì chữ nghĩa cho những hiện tượng này thật liên hệ đến những đối tượng thật sự.  Đúng hơn, những đối tượng này không tồn tại trong chúng và tự chúng; thuật ngữ ‘chỉ là danh tự’ xóa tan khả năng chúng được thiết lập từ tự chính phía đối tượng.  Chúng ta cần sự nhắc nhở này bởi vì “cái tôi” và những hiện tượng khác không hiện hữu đơn thuần bởi sự thiết lập của danh tự và tư tưởng.  Hoàn toàn mâu thuẩn.

Thí dụ, chúng ta nói rằng Đạt Lai Lạt Ma là một ông thầy tu, một con người, và một người Tây Tạng.  Có phải dường như rằng chúng ta đang nói về điều này không với sự liên hệ đến thân thể hay tâm thức của ngài mà chỉ về điều gì đấy riêng lẻ?  Suy nghĩ liên tục về điều này, dường như có một Đạt Lai Lạt Ma tách rời khỏi thân thể của ngài, và riêng biệt ngay cả tâm thức của ngài.  Hay tự quan tâm.  Nếu tên bạn là Jane, thí dụ thế, chúng ta nói, “thân thể của Jane, tâm thức của Jane,”  thế dường như đối với chúng ta là có một Jane người sở hữu tâm thức và thân thể của cô, và một thân thể và tâm thức mà Jane làm chủ.

Làm thế nào chúng ta thấu hiểu rằng nhận thức này là sai lầm?  Tập trung trên sự kiện rằng không có điều gì trong tâm thức và thân thể có thể là “cái tôi”.  Tâm thức và thân thể là trống rỗng một “cái tôi” thực chất.  Đúng hơn, giống như chiếc xe hơi được thiết lập trong sự lệ thuộc trên những bộ phận của nó và và ngay cả không phải là nội dung của những bộ phận của nó, vì thế “cái tôi” lệ thuộc trên tâm thức và thân thể. Một “cái tôi”  không lệ thuộc trên thân thể và tâm thức là không tồn tại, trái lại một “cái tôi” được hiểu lệ thuộc trên thân thể và tâm thức hiện hữu phù hợp với những quy ước của thế gian.  Thấu hiểu “cái tôi” loại này hoàn toàn không thể tìm thấy trong tâm thức và thân thể, và ngay cả không là nội dung của tâm thức và thân thể nhưng tồn tại chỉ qua năng lực của danh xưng của nó và tư tưởng của chúng ta, là hữu ích khi chúng ta cố gắng để thấy chính chúng ta như chúng ta thật sự là.

BỐN BƯỚC ĐỂ THÂN CHỨNG

Có bốn bước quan trọng đối với việc nhận thức rằng chúng ta không hiện hữu trong cách mà chúng ta nghĩ chúng ta như thế.  Tôi sẽ thảo luận những điều này trước tiên, và rồi thì trong chi tiết.

Bước thứ nhất là xác định những tin tưởng si mê phải được phản bác lại. Chúng ta cần làm điều này bởi vì khi chúng ta thực hiện những sự phân tích tìm kiếm chính mình trong tâm thức và thân thể hay riêng biệt khỏi tâm thức hay thân thể, và chúng ta không thể tìm thấy nó, chúng ta có thể kết luận một cách sai lầm rằng chúng ta không hoàn toàn tồn tại.

Bởi vì “cái tôi” hiện hữu trong tâm thức chúng ta được thiết lập trong nó và tự nó, nên khi chúng ta sử dụng những sự phân tích cố gắng để tìm nó và không thể tìm ra nó, nên dường như “cái tôi” hoàn toàn không hiện hữu, trái lại nó chỉ là “cái tôi” độc lập, sự tồn tại một cách cố hữu của “cái tôi”, mà nó không tồn tại.  Bời vì có một hiểm họa ở đây về sự sai lầm đến sự phủ nhận và hư vô chủ nghĩa, thế nên điều thiết yếu như bước đầu tiên là để hiểu những gì bị phủ nhận trong vô ngã.

“Cái tôi”  xuất hiện trong tâm thức chúng ta như thế nào?  Nó không xuất hiện để tồn tại qua năng lực của tư tưởng; đúng hơn, nó xuất hiện để hiện hữu một cách cụ thể.  Chúng ta cần chú ý và xác định kiểu mẫu của sự lĩnh hội này.  Nó là mục tiêu của chúng ta.

Bước thứ hai là quyết định, nếu “cái tôi” tồn tại trong cung cách mà dường như nó là, nó phải hoặc là một với tâm thức và thân thể hay riêng biệt khỏi tâm thức và thân thể.  Sau khi thừa nhận rằng không có khả năng nào khác, trong hai bước còn lại chúng ta phân tích để thấy hoặc là “cái tôi” và phức hợp thân/tâm có thể hoặc là một thực thể được thiết lập một cách cố hữu hay là những thực thể được thiết lập khác biệt một cách cố hữu.

Khi chúng ta thảo luận trong những phần tiếp theo, qua thiền quán chúng ta dần dần đi đến thấu hiểu rằng có những ảo tưởng với “cái tôi” thể hiện trong những thứ  này.  Tại điểm ấy, chúng ta có thể sẳn sàng nhận ra rằng một “cái tôi” tồn tại cố hữu không thể tìm thấy.  Đây là nhận thức thực chứng về vô ngã.  Rồi thì, khi chúng ta đã nhận ra rằng “cái tôi” không tồn tại một cách cố hữu, thì dễ dàng để nhận ra những gì là “của tôi” cũng không tồn tại một cách cố hữu(vô tự tính).

BƯỚC THỨ NHẤT:  XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU

Thông thường bất chấp điều gì xuất hiện trong tâm thức chúng ta, nó dường như hiện hữu từ chính phía của nó, một tư tưởng độc lập.  Khi chúng ta chú tâm đến một đối tượng – cho dù nó là chính chúng ta, một người khác, thân thể, tâm thức, hay một thứ vật chất – chúng ta chấp nhận nó xuất hiện giống như điều này là điều kiện tối hậu, nội tại, thật sự như thế nào ấy.Điều này có thể được thấy một cách rõ ràng những lúc căng thẳng, chẳng hạn khi ai đấy bình phẩm về điều đấy mà ta không từng làm:  “Ông/bà làm hư hỏng như vậy – và – như vậy.”  Chúng ta đột nhiên nghĩ một cách rất mạnh mẽ “tôi đã không làm như vậy!”  Và chúng ta thậm chí có thể hét vào kẻ vu cáo.

“Cái tôi” xuất hiện như thế nào trong tâm thức chúng ta vào lúc ấy?  “Cái tôi” này mà chúng ta hãnh diện và yêu mến quá chừng dường như hiện hữu như thế nào? Làm sao chúng ta nhận thức thấu đáo nó?  Bằng việc phản chiếu trên những câu hỏi này chúng ta có thể đạt đến một ý thức về cung cách mà tâm thức lĩnh hội một cách tự nhiên và bẩm sinh “cái tôi” như hiện hữu từ chính phía của nó, một cách cố hữu.

Chúng ta hãy lấy một thí dụ khác.  Khi có một điều gì đấy quan trọng mà chúng ta đáng lẻ phải làm và chúng ta chực nhớ ra là chúng ta đã quên mất, chúng ta có thể nổi giận ngay trong tâm thức chúng ta:  “Ôi, cái trí nhớ tồi của tôi!”  Khi chúng ta nổi giận với tâm tư của chính mình, và “cái tôi” giận dữ ấy và tâm tư mà chúng ta giận dữ xuất hiện riêng biệt với nhau.

Điều cũng giống như thế xãy ra khi chúng ta cảm thấy khó chịu với thân thể chúng ta, hay một phần của thân thể, chẳng hạn như bàn tay của chúng ta.  “Cái tôi” giận dữ dường như có sự biểu hiện riêng của nó, trong nó và tự nó, riêng biệt khỏi thân thể mà chúng ta giận dữ.  Trên một trường hợp như thế chúng ta có thể quán sát làm thế nào mà “cái tôi” dường như tự nó đứng riêng biệt, như tự nó tiến hành, tự nó thành lập bởi cung cách của đặc tính riêng của nó.  Đối với ý thức như vậy, “cái tôi” không xuất hiện được thiết lập trong sự tùy thuộc trên tâm thức và thân thể.

Quý vị có nhớ lần nào khi chúng ta làm một việc tệ hại và tâm tư chúng ta nghĩ, “tôi thật sự đã làm mọi thứ rối rắm”?  Vào lúc ấy chúng ta đồng nhất với “cái tôi” có thực thể cụ thể, mà nó không phải tâm thức cũng như thân thể mà là điều gì đấy xuất hiện một cách mạnh mẽ hơn.

Hay nhớ lại thời gian khi chúng ta làm điều gì đấy thật tuyệt diệu hay điều gì đấy thật dễ thương xãy ra cho chúng ta, và chúng ta cảm thấy thật tự hào trong ấy.  “Cái tôi” này thật đáng giá, quá mến yêu, thật thích thú, và là đối tượng của sự tự quan trọng như vậy thật là rõ ràng một cách cụ thể và sinh động.  Vào những lúc như vậy, ý nghĩa của “cái tôi” là đăc biệt rõ ràng.

Một khi chúng ta nắm bắt một sự biểu hiện hiển nhiên như vậy, chúng ta có thể làm nên một cảm giác sai lầm của “cái tôi” xuất hiện trong tâm thức chúng ta, và không để cho cung cách làm cho nó sức mạnh của nó nhỏ lại, chúng ta có thể thẩm tra, giống như từ một góc, nó có tồn tại trong một cách cụ thể hay không, nhưng nó xuất hiện.  Trong thế kỷ mười bảy, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm đã nói về điều này với sự trong sáng vô cùng:

Đôi khi “cái tôi” sẽ dường như hiện hữu trong phạm vi của thân thể.  Đôi khi nó dường như tồn tại trong phạm vi của tâm thức.  Đôi khi nó dường như hiện hữu trong phạm vi của cảm giác, phân biệt, hay những nhân tố khác.  Vào lúc chung cuộc của những kiểu mẫu đa dạng của hiện tướng, chúng ta sẽ kết luận một “cái tôi” đã tồn tại từ trong bản chất của chính nó, đấy là nó tồn tại một cách cố hữu (từ tự tính), rằng tự khởi đầu nó là tự thành lập, tồn tại một cách không khác biệt với tâm thức và thân thể, là thứ cũng được phối hợp như nước và sửa.  Đây là sự thực tập đầu tiên, sự xác định đối tượng bị phủ nhận trong quan điểm của vô ngã.  Chúng ta nên hành động với nó cho đến khi kinh nghiệm sâu sắc sinh khởi.

Ba bước còn lại, được thảo luận trong ba chương tiếp theo, được hướng tới một loại thấu hiểu “cái tôi” loại này, mà chúng ta tin tưởng quá nhiều và là điều chi phối  quá nhiều đến thái độ của chúng ta, thật sự chỉ là một sự giả dối của sự tưởng tượng.  “Cái tôi” cụ thể này, hoàn toàn không tồn tại.  Để hành động đối với những bước tiếp theo,  điều thiết yếu là nhận ra và trụ với cảm giác mạnh mẽ về một “cái tôi” tự thiết lập.


Thiền Tập Quán Chiếu

1-    Tưởng tượng ai đấy chỉ trích quý vị điều gì đấy mà thật sự quý vị đã không có làm, chỉ một ngón tay vào quý vị và nói, “Ngươi đã làm hư hại như thế - như thế.”
2-    Hãy nhìn sự phản ứng của quý vị.  “Cái tôi” xuất hiện như thế nào trong tâm thức quý vị?
3-    Quý vị lĩnh hội trong cách nào?
4-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.

Cũng:

1-    Hãy nhớ lại một thuở khi quý  vị buồn nãn với tâm thức quý vị, chẳng hạn khi quý vị thất bại trong việc nhớ lại điều gì đấy.
2-    Ôn lại cảm giác của quý vị.  “Cái tôi” xuất hiện đến tâm thức quý vị lúc ấy như thế nào?
3-    Quý vị lĩnh hội nó bằng cách nào?
4-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.

Cũng:

1-    Hãy nhớ lại một thuở khi quý vị chán nãn với thân thể quý vị hay với một đặc trưng nào đấy của thân thể quý vị, chẳng hạn như tóc quý v ị.
2-    Hãy nhìn vào cảm giác quý vị, “cái tôi” xuất hiện đến tâm thức quý vị như thế nào lúc ấy?
3-    Quý vị lĩnh hội nó bằng cách nào?
4-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.

Cũng:

1-    Hãy nhớ lại một thuở khi quý vị làm điều gì đấy tệ hại và quý vị đã nghĩ, “tôi đã thật sự làm ra một đống xà bần.”
2-    Lưu tâm đến cảm giác của quý vị.  “Cái tôi” xuất hiện đến tâm thức quý vị lúc ấy như thế nào?
3-    Quý vị lĩnh hội nó bằng cách nào?
4-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.

Cũng:

1-    Hãy nhớ lại một thuở khi quý vị làm điều gì đấy thật tuyệt vời và quý vị nhận lấy niềm tự hào trong ấy.
2-    Thẩm tra cảm giác của quý vị.  “Cái tôi” xuất hiện đến tâm thức quý vị lúc ấy như thế nào?
3-    Quý vị lĩnh hội nó bằng cách nào?
4-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.

Cũng:

1-    Hãy nhớ lại một thuở khi điều gì đấy diệu kỳ xãy đến cho quý vị và quý vị nhận niềm vui sướng ấy.
5-    Hãy nhìn cảm giác của quý vị .  “Cái tôi” xuất hiện đến tâm thức quý vị lúc ấy như thế nào?
6-    Quý vị lĩnh hội nó bằng cách nào?
7-    Hãy chú ý “cái tôi” dường như tự hiện hữu như thế nào, tự cấu thành, tự thiết lập bằng cung cách của chính đặc trưng của nó.



                                                              




12

 

 

Quyết Định Những Sự Lựa Chọn





Khi những hiện tượng được phân tích một cách riêng lẻ như vô ngã
Và những gì đã từng được phân tích trên thiền quán,
Đấy là nguyên nhân cho việc đạt đến hoa trái, niết bàn.
Các con không đi đến hòa bình qua bất cứ nguyên nhân nào khác.

-      Đức Phật   -


Trong bước thứ nhất, chúng ta đã thấy chúng ta xuất hiện đến tâm thức của chúng ta như thế nào.  Nhận thức này là cần thiết bởi vì nếu chúng ta không có một cảm nhận về tồn tại cố hữu hay tự tính là gì, bất chấp chúng ta nói về vô ngã và tính không nhiều như thế nào, nó sẽ chỉ là chữ nghĩa.  Sau khi chúng ta đã xác định rõ ý nghĩa mà những đối tượng hiện hữu từ năng lực trong chính chúng, rồi thì chúng ta nghiên cứu và thiền quán về vô ngã và tính không, cung cách mở ra cho điều thông hiểu gì đây về sự vắng mặt của sự tồn tại quá cụ thể hé rạng đến tâm thức chúng ta.  Tuy thế, không biết đối tượng xuất hiện để có một vị thế như vậy và sự tán thành của chúng ta đến nó như thế nào, chúng ta có thể có ấn tượng rằng những đại luận giải về tính không chỉ là sự cố gắng để thúc đẩy chúng ta chấp nhận những gì chúng nói đến.  Do thế, hãy liên tục quán chiếu trên bước đầu tiên, như một sự thẩm thấu kiến thức, sự lượng định của mục tiêu được khảo sát sẽ trở nên vi tế và vi tế hơn.

BƯỚC THỨ HAI:
GIỚI HẠN NHỮNG KHẢ NĂNG

Bây giờ chúng ta cần thiết lập một cấu trúc hợp lý cho sự phân tích theo sau.  Trong tổng quát, bất cứ điều gì mà chúng ta tiếp nhận đến tâm thức phải hoặc là một hay hơn một, số ít hay số nhiều.  Thí dụ, rõ ràng là một cột đá và một cái nồi sắt là số nhiều; một cái tô là một thứ, số ít.

Bởi vì đây là trường hợp, những gì được thiết lập một cách cố hữu cũng hoặc là một thực thể hay những thực thể khác nhau; không có khả năng nào khác.  Điều này có nghĩa là nếu “cái tôi” là tồn tại một cách cố hữu, nó phải hoặc là một với tâm thức và thân thể hay hoàn toàn khác biệt  với thân thể và tâm thức.

Chúng ta cần cân nhắc về những thông số này.  Chúng là những phạm vi để thẩm nghiệm trong hai bước sau cùng mục tiêu mà chúng ta xác định trong bước thứ nhất có thật sự tồn tại một cách thật cụ thể hay không.  Nếu nó là như thế, nó phải có thể đứng vững với sự phân tích này.

Thiền Quán Phản Chiếu

1-    Phân tích “cái tôi” có tự thiết lập một cách cố hữu trong phạm vi của phức hợp thân-tâm có thể có một cách tồn tại khác hơn là biểu hiện là một phần hay tách biệt với thân thể và tâm thức không?
2-    Lấy một hiện tượng khác, chẳng hạn như một cái cốc và một cái bàn, hay một ngôi nhà và một ngọn núi, như một thí dụ.  Hãy thấy rằng không có đặc trưng tồn tại thứ ba.  Chúng hoặc là giống nhau hoặc khác nhau.
3-    Quyết định rằng nếu “cái tôi” tồn tại một cách cố hữu như nó dường như là, nó phải hoặc là một hay tách biệt với tâm thức và thân thể.









13


Phân Tích Tính Chất Đồng Nhất



Giáo thuyết tối thượng tịnh hóa tâm thức
Là việc vắng mặt sự tồn tại cố hữu.
(Vô tự tính)

-LONG THỌ TÁN DƯƠNG THỰC TẠI –


Bây giờ chúng ta sẳn sàng để phân tích “cái tôi” có thể là một với tâm thức và thân thể hay không.  Quan tâm những ngụ ý sau.  Nếu “cái tôi” được thiết lập trong tự nó và của chính nó, như nó hiện diện đến tâm thức chúng ta, và nếu nó cũng là một với tâm – thân, thế thì “cái tôi” và tâm – thân hoàn toàn không thể khác biệt.  Chúng sẽ phải là hoàn toàn và luôn luôn là giống nhau là một với nhau.  Những hiện tượng xuất hiện một cách nhưng tồn tại trong một cách khác là sai lạc, nhưng không thể cho những gì là thật sự được thiết lập có một sự đối kháng giữa sự xuất hiện và sự kiện thực tế.  Điều gì thật sự phải xuất hiện cung cách nó tồn tại và phải tồn tại trong cung cách nó xuất hiện.

Nếu “cái tôi” là một với tâm – thân, thậm chí có hợp lý để thừa nhận sự tồn tại của “cái tôi” không?  Như Long Thọ nói trong Trung Quán Luận:

Khi được xem như là vô ngã
Ngoại trừ phức hợp tâm – thân,
Thế thì phức hợp tâm – thân tự nó sẽ là tự ngã
Nếu như thế, tự ngã của bạn không tồn tại

Nếu “cái tôi” và phức hợp tâm – thân là giống nhau một cách chính xác, sẽ không thể nghĩ về “thân thể tôi” hay “cái đầu tôi” hay “tâm thức tôi” hay phỏng đoán rằng “thân thể tôi đang mạnh mẽ hơn.”  Cũng thế, nếu tự ngã và tâm – thân là một, thế thì tâm thức và thân thể không tồn tại nữa, tự ngã cũng sẽ không tồn tại.

Vấn đề thứ hai là, vì tâm thức và thân thể là số nhiều, những tự ngã của một người sẽ phải là nhiều vẻ.  Như Nguyệt Xứng nói:

Nếu tâm thức và thân thể là tự ngã,
Thế thì bởi vì tâm thức và thân thể là số nhiều
Những tự ngã sẽ phải đúng là số nhiều

Hay, như tự ngã là một, tâm thức và thân thể cũng sẽ là một (số ít), một cách vô lý.

Vấn đề thứ ba là, giống như tâm thức và thân thể được sản sinh và suy tàn, “cái tôi” cũng phải được sản sinh một cách cố hữu và suy tàn một cách cố hữu.  Mặc dù Phật Giáo thừa nhận rằng tự ngã được sản sinh và suy tàn, chúng tôi cho rằng điều này thật là quy ước tục đế, không phải một cách cố hữu từ chính phía nó.  Trong việc vắng mặt của sự tồn tại cố hữu (vô tự tính), có thể cho một chuỗi thời khắc, ngay cả sự sống, hình thành một sự tương tục mà trong ấy cái sau tùy thuộc vào cái trước.  Tuy nhiên, nếu tự ngã được sản sinh một cách cố hữu và tan rả một cách cố hữu, thì không thể có những thời khắc hiện tại của đời sống của quý vị tùy thuộc trên những thời khắc trước, vì mỗi thời khắc vì mỗi thời khắc được sản sinh và tan rã trong tự nó và của chính nó, mà không tùy thuộc trên bất cứ điều gì khác.  Trong trường hợp này, những đời sống quá khứ sẽ không thể có, vì mỗi đời sống sẽ tồn tại trong tự nó và của chính nó [mà không liên hệ với bất cứ điều gì khác].

Đức Phật nói về việc nhớ lại những đời sống quá khứ, và một số người tiếp nhận một cách sai lầm rằng  điều này có nghĩa là Đức Phật sau sự giác ngộ và cá nhân, Ngài ở trong một cuộc đời quá khứ là một và giống nhau, và vì thế  là thường còn.  Tuy nhiên, khi Đức Phật diễn tả những đời sống trước đây, Ngài đã cẩn thận không đồng nhất rằng con người của đời sống hiện tại của Ngài trong một nơi đặc thù tại một thời điểm đặc thù là con người trong một nơi đặc thù tại một thời điểm đặc thù của quá khứ.  Ngài đã nói trong dạng thức tổng quát, nói một cách đơn thuần rằng, “Trong quá khứ ta đã là một con người như thế như thế,” những Ngài đã không nói, “Trong quá khứ Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người như vậy như vậy.”

Trong cách này, chủ thể của hành động (nghiệp) trong một đời sống quá khứ và tác nhân trãi nghiệm những kết quả của những nghiệp chướng đó được bao gồm trong sự tương tục của điều mà Phật Giáo gọi là “cái tôi tồn tại không cố hữu” (hay “chỉ là – cái tôi” đã du hành từ đời này sang đời khác.  Nói cách khác, nếu “cái tôi” được sản sinh một cách cố hữu và tan rã một cách cố hữu, sự tương tục như thế sẽ không thể có, vì hai kiếp sống – con người làm những hành động và con người chịu đựng những hậu quả - sẽ không liên hệ với nhau.  Điều này sẽ đưa đến kết quả vô lý rằng những hiệu quả an lạc của những hành vi đạo đức và những hậu quả khổ đau của những hành động vô đạo đức sẽ không sinh hoa trái cho chúng ta; những hậu quả của những hành động đó sẽ là lãng phí, chúng ta sẽ trãi nghiệm những hậu quả mà chính chúng ta đã không tạo tác.

Thiền Quán Phản Chiếu

Quan tâm những hậu quả nếu “cái tôi” được thiết lập trong tự nó và của chính nó [không liên hệ với bất cứ thứ gì khác] phù hợp với việc nó xuất hiện như thế nào trong tâm thức chúng ta và nếu nó cũng là một với tâm – thân chúng ta:

1-    “Cái tôi” và tâm – thân sẽ hoàn toàn và tuyệt đối là một.
2-    Trong trường hợp đó, thừa nhận một “cái tôi” sẽ vô nghĩa.
3-    Sẽ không thể nghĩ về “thân thể tôi” hay “cái đầu tôi” hay “tâm thức tôi”.
4-    Khi tâm thức và thân thể không tồn tại nữa, tự ngã cũng sẽ không tồn tại.
5-    Vì tâm thức và thân thể là số nhiều, những tự ngã của một người cũng sẽ là số nhiều.
6-    Vì “cái tôi” chỉ là một (số ít), tâm thức vả thân thể cũng sẽ là một (số ít).
7-    Giống như tâm thức và thân thể được sản sinh và tan rã vì thế sẽ phải thừa nhận rằng “cái tôi” được sản sinh một cách cố hữu và tan rã một cách cố hữu.   Trong trường hợp này, không có hiệu quả an lạc của những hành động đạo đức , cũng không có hậu quả khổ đau của những hành động phi đạo dức sản sinh hoa trái cho chúng ta, hay chúng ta sẽ trãi nghiệm hậu quả của những hành vi mà chúng ta đã không tạo tác.

Hãy nhớ rằng, những gì được thiết lập một cách cố hữu không thể được bao gồm trong cùng sự tương tục mà phải là khác biệt một cách không liên hệ.  Thấu hiểu rằng điều này lệ thuộc trên việc tiếp nhận một ý nghĩa đúng đắn của việc “cái tôi” và những hiện tượng khác thường xuất hiện đến chúng ta là sự tự cấu thành [[2]] và chúng ta thường chấp nhận sự xuất hiện đó và rồi hành động trên căn bản của nó như thế nào.  Đây là loại hiện hữu phóng đại mà chúng ta đang khảo sát.









14

Phân Tích Sự Khác Biệt




Giống như điều được biết
Rằng hình tướng khuôn mặt của một người được thấy
Tùy thuộc trên tấm gương soi
Nhưng không phải thật sự tồn tại như là một khuôn mặt
Do thế khái niệm “cái tôi” hiện hữu
Tùy thuộc trên tâm thức và thân thể
Nhưng giống như hình tướng của khuôn mặt
“Cái tôi” hoàn toàn không tồn tại như thực tại của chính nó.

Tràng Hoa Quý Báu - LONG THỌ ĐẠI SĨ

 

Bây giờ, hãy phân tích “cái tôi” và tâm- thân có thể là khác nhau hay không?  Quan tâm đến những điều đề cập sau đây.  Những thứ tinh thần và vật lý được gọi là “những hiện tượng phức hợp” bởi vì chúng được sản sinh, tồn tại và tan hoại qua từng thời khắc.  Những đặc trưng này cho thấy rằng những nhân tố tinh thần và vật lý tồn tại qua những nguyên nhân và điều kiện đặc thù, và vì thế chúng là vô thường.

Nếu “cái tôi” và toàn bộ những loại những lĩnh vực của những hiện tượng vô thường là khác nhau một cách cố hữu, thì “cái tôi” sẽ vô lý không có những đặc trưng của những hiện tượng vô thường ấy là, được sản sinh, tồn tại, và tan hoại, giống như một con ngựa, bởi vì nó hoàn toàn khác biệt với con voi, nên nó không có những khía cạnh đặc thù của con voi.  Như Nguyệt Xứng nói:

Nếu tự ngã được thừa nhận là khác biệt với tâm thức và thân thể, thế thì giống như ý thức là khác biệt với thân thể, tự ngã sẽ được thiết lập như có một đặc trưng khác biệt hoàn toàn với tâm thức và thân thể.

Một lần nữa, nếu “cái tôi” và tâm –thân là khác biệt một cách cố hữu, thì “cái tôi” phải là điều gì đó được tưởng tượng một cách sai lầm hay là một hiện tượng thường tại.  Nó cũng không thể có những đặc trưng đặc thù của hoặc là tâm thức hay thân thể, và vì thế sẽ phải được quán chiếu riêng biệt một cách hoàn toàn với thân thể và tâm thức.  Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” là gì, chúng ta sẽ phải liên hệ đến điều gì đấy riêng biệt với thân thể và tâm thức, nhưng chúng ta không thể làm như thế.  “Cái tôi” chỉ được nhận thức trong phạm vi của thân thể và tâm thức.  Như Nguyệt Xứng nói:

Không có tự ngã nào khác hơn là phức hợp của tâm thức và thân thể bởi vì
Tách rời khỏi phức hợp tâm-thân, khái niệm của nó không tồn tại. 

Thiền Quán Phản Chiếu

Quan tâm đến những hệ quả nếu “cái tôi” được thiết lập trong chính nó và tự chính nó phù hợp với việc nó xuất hiện như thế nào đến tâm thức chúng ta và nếu có cũng khác biệt một cách cố hữu với tâm-thân:

1-    “Cái tôi” và tâm-thân phải là tách biệt một cách hoàn toàn.
2-    Trong trường hợp ấy, “cái tôi” phải được tìm thấy sau khi xóa sạch tâm thức vả thân thể.
3-    “Cái tôi” sẽ không có những đặc trưng về sự sản sinh, không đổi, tàn hoại, mà đấy là vô lý.
4-    “Cái tôi” sẽ ngớ ngẫn phải chỉ là một điều bịa đặt của sự tưởng tượng hay thường tại.
5-    Một cách vô lý, “cái tôi” sẽ không có bất cứ đặc trưng nào của vật lý hay tinh thần.








15



Đi đến một kết luận





Thực tại được biết chắc sau này
Của những gì trước đây được tưởng tượng bởi vô minh

-Tràng Hoa Quý Báu – LONG THỌ ĐẠI SĨ-


Vào giữa thế kỷ thứ mười bảy, Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh tầm quan trọng như thế nào để việc phân tích không trở thành một bài học thuộc lòng như vẹt mà phải là sống động.  Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” tồn tại cụ thể như vậy mà không thể tìm kiếm được nó hoặc là cùng giống hay khác biệt với tâm thức và thân thể, điều thiết yếu là phải tìm kiếm cùng khắp; bằng khác đi chúng ta sẽ không cảm thấy tác động của việc không tìm thấy nó.  Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã viết:

Cái kiễu thức của sự không khám phá ra chỉ là sự lập lại nghèo nàn của mệnh đề “không tìm thấy.”  Thí dụ, khi một con bò bị mất, người ta không chỉ chấp nhận như thật sự bởi một lời tuyên bố, “Nó không ở trong một vùng như thê như thế.”  Đúng hơn bằng sự tìm kiếm nó khắp mọi nơi trên vùng đất cao, trong vùng trung du, và ở vùng đất thấp, rồi thì chúng ta mới đi đến kết luận chắc chắn rằng nó không thể tìm thấy nó được.  Ở đây cũng thế, qua sự thiền quán cho đến khi mà đi đến một kết luận, chúng ta đạt được một niềm tin.

Một khi chúng ta dấn thân trong sự phân tích qua cách này, chúng ta sẽ bắt nghi ngờ về cái cảm giác mạnh mẽ của của một “cái tôi” tự cấu thành mà trước đây dường như hiện hữu vô cùng rõ ràng.  Chúng ta dần dần bắt đầu nghĩ, “Aha!  Trước đây điều này dường như vô cùng chân thật, nhưng có lẽ nó không thật sự như thế.”  Rồi thì, khi chúng ta phân tích nhiều hơn nữa, chúng ta sẽ trở nên chắc chắn hơn (không chỉ một cách giả tạo mà từ trong sâu thẩm) rằng một “cái tôi” như vậy hoàn toàn không tồn tại.  Chúng ta sẽ vượt khỏi cái giới hạn của ngôn ngữ và đạt đến sự chăc chắn về điều ấy, mặc dù nó xuất hiện thật cụ thể, nhưng nó không tồn tại trong cách ấy.  Đây là ấn tượng trãi rộng  của sự phân tích:  một quyết định từ trong tâm thức của chính chúng ta rằng “cái tôi” loại này thật sự không tồn tại.

Thông thường khi tôi sắp thuyết pháp cho một đám đông, tôi chú ý rằng đối với tâm thức của tôi, mỗi người trong thính chúng dường như hiện hữu riêng biệt tương ứng trên từng vị trí của chính họ qua năng lực của chính họ, hơn là tồn tại chỉ qua năng lực của tư tưởng, chỉ tồn tại một cách quy ước của thế gian.  Tất cả họ dường như tồn tại trong một điều kiện rắn chắc cường điệu; đấy là họ có vẻ như thế nào, họ xuất hiện như thế nào, họ lóe ra trong tâm thức tôi như thế nào.  Nhưng nếu họ thật sự hiện hữu trong cách này, họ sẽ có thể tìm thấy được qua loại thẩm tra mà tôi vừa diễn tả, trái lại không thể tìm thấy họ được.  Có một sự mâu thuẩn giữa việc họ xuất hiện như thế nào và họ thật sự tồn tại như thế nào.  Do vậy, tôi đánh thức tâm thức tôi bất cứ điều gì tôi biết về vô ngã, phản chiếu, thí dụ, qua lời tuyên bố của Long Thọ Đại Sĩ trong Căn Bản Trung Quán Luận -“Tuệ Trí”, ở đấy ngài đã thẩm tra Đức Phật có tồn tại một cách cố hữu hay không:

Đức Phật không phải là phức hợp của tâm-thân ngài.
Ngài không khác hơn phức hợp thân-tâm ngài
Phức hợp tâm-thân không phải là ngài; ngài không ở trong ấy.
Ngài không sở hữu nó.  Đức Phật là gì ở đấy?

Long Thọ nên Đức Phật như một thí dụ của biểu hiện vô ngã, của sự vắng mặt một con người tồn tại cố hữu (có tự tính).  Trong cùng cách, chúng ta cần phản chiếu trên sự vô ngã của chính chúng ta.  Khi chúng ta áp dụng  sự phản chiếu này đến chính tôi, tôi nghĩ:

Thầy tu Tenzin Gyatso không phức hợp thân- tâm của ông ta.
Ông không gì khác hơn là phức hợp thân-tâm của ông ta.
Phức hợp thân-tâm không phải ở trong ông; ông ta cũng không ở trong nó.
Ông không sở hữu nó.  Tenzin Gyatso là gì ở đấy?

Tu sĩ Tenzin Gyatso không là gì trong phức hợp thân-tâm, từ đỉnh đầu cho đến gót chân.  Khi tôi tìm ông đạo Tenzin Gyatso, không thể tìm ra điều gì – không phải là cái thấy, không phải là cái nghe, không phải là cái ngửi, không phải cái nếm, không phải cái xúc chạm, và không phải cái suy tư; không phải ý thức lúc thức, không phải ý thức trong mộng, không phải ý thức ngủ sâu, và cuối cùng ngay cả không phải linh quang lúc lâm chung.  Có bất điều gì ở đây là Tenzin Gyatso không?  Không điều gì có thể tìm thấy là Tenzin Gyatso.

Cũng thế, không có điều gì bên ngoài phức hợp thân-tâm là Tenzin Gyatso.  Thêm nữa, Tenzin Gyatso không tùy thuộc trên phức hợp thân-tâm như một thực thể riêng biệt, như một rừng cây trên tuyết; cũng thế, cả hai thứ ấy sẽ đòi hỏi Tenzin Gyatso và phức hợp thân-tâm hoàn toàn khác biệt, và điều ấy là không thể được.  Cũng thế Tenzin Gyatso không sở hữu phức hợp thân-tâm, giống như con người sở hữu con bò, mà điều ấy đòi hỏi những thực thể khác biệt hoàn toàn, hay như một thân cây sở hữu cái lõi của nó, mà chúng sẽ là hoàn toàn giống nhau.

Thế thì Tenzin Gyatso là gì ở đấy?  Chắc chắn, không có điều gì có thể tìm thấy – không có một bộ phận nào của phức hợp thân-tâm, không lệ thuộc trên phức hợp thân-tâm như một thực thể riêng lẻ, không trong sự sở hữu của phức hợp thân-tâm, và không ngay cả sự tương tục của phức hợp thân-tâm.  Rõ ràng rằng tự ngã chỉ đơn thuần được thiết lập trong sự lệ thuộc trên phức hợp của thân-tâm.

Sự phân tích này giữ quan điểm trong một sự đối lập với cung cách mà chúng ta thường suy nghĩ.  Khi tôi nghĩ, “tôi là một tu sĩ”, có một sự xuất hiện trong tâm thức tôi về một thầy tu với sở hữu thân thể và tâm thức.  Tất cả con người chúng ta, điều ấy là chắc chắn, nhưng khi chúng ta xác định chính chúng ta như một con người và khi chúng ta nhận dạng một người nào khác như một kẻ khác biệt ở đấy, hai điều này xuất hiện hầu như một cách cụ thể.  Tuy nhiên, khi chúng ta áp dụng sự phân tích để quyết định con người thật sự là gì – khi chúng ta phân tích con người này là một loại tâm thức và thân thể nào đấy – chúng ta không bắt được bất cứ điều gì là cá nhân ấy.  Cũng thế, không thể có điều gì đấy hoàn toàn riêng biệt với thân thể và tâm thức là cá thể ấy.  Đây là trường hợp, đây là hệ thống Phật Giáo thậm thâm dạy chúng ta rằng một cá thể chỉ được thiết lập trong sự lệ thuộc trên thân thể và tâm thức.

Khi tôi sử dụng sự phân tích, tôi hiểu rằng những gì lúc khởi đầu dường như rõ ràng sờ mó được thì hoàn toàn không hiện hữu trong cách này.  Con người xuất hiện để hiện hữu vô cùng quả quyết lại rõ ràng không thể tìm thấy.  Điều này dường như hiện hữu trong tự chính nó được thấy phụ thuộc trên tư tưởng.

Phản chiếu trên điều này, khi tôi nhìn vào thính chúng, tôi thấy rằng tất cả hàng chục nghìn người đang nghĩ “tôi”, “tôi”, “tôi” trong một cách mà thật tế là sai lạc, đưa đẩy chính họ vào trong rắc rối.  Nhìn họ trong cách này giúp cho tôi – và sẽ giúp quý vị - kêu gọi từ lòng yêu thương quan tâm cho chúng sinh bị vướng trong bẩy sập của nhận thức sai lầm.  Đây là việc tôi thường bắt đầu những buổi thuyết giảng của tôi như thế nào.

Bằng việc thiền quán và trau dồi dần dần bốn bước này, chúng ta sẽ phát triển một năng lực để thẩm tra bất cứ điều gì và mọi thứ trong cách này – thấy sự xung đột của hiện tướng và thực tại, và sự lừa dối từ những chiều sâu mà con người và sự vật không hiện hữu trong cách mà chúng xuất hiện.  Điều được hiểu bằng tâm thức hoàn toàn quả quyết như thế là việc vắng bóng sự tồn tại cố hữu của “cái tôi”, mặc dù chúng ta thường tin tưởng nó một cách rất mạnh mẽ.  Chúng ta hoàn toàn thấu hiểu sự tồn tại cố hữu hoàn toàn không có.  Tâm thức chúng ta trở nên hòa nhập trong tính không ấy.

Thiền Quán Phản Chiếu

Ôn tập lại bốn bước đối với nhận thức:

1-    Số  không trên mục tiêu, sự xuất hiện của “cái tôi” giống như nó được thành lập trong tự nó và từ chính nó.
2-    Quả quyết rằng nếu “cái tôi” tồn tại trong cung cách dường như thế, nó phải hoặc là một với tâm thức và thân thể hay tách biệt khỏi tâm thức và thân thể.
3-    Quán chiếu một cách hoàn toàn những rắc rối với “cái tôi” và phức hợp tâm-thân giống như vậy.
a.     “Cái tôi” và thân-tâm sẽ phải là một hoàn toàn và trong mọi cách .
b.     Thừa nhận rằng một “cái tôi” sẽ là vô nghĩa.
c.      Sẽ không thể nghĩ về “thân thể tôi”, hay “cái đầu tôi” hay “tâm thức tôi”
d.     Khi tâm thức và thân thể không tồn tại nữa, tự ngã cũng sẽ không tồn tại.
e.      Vì thân thể và tâm thức là số nhiều, tự ngã một người cũng phải là số nhiều.
f.       Vì “cái tôi” chỉ là một, thân thể và tâm thức cũng phải là một.
g.     Giống như tâm thức và thân thể được sản sinh và tan rả, “cái tôi” được sản sinh một cách cố hữu và tan rả một cách cố hữu. Trong trường hợp này, không có những tác động toại ý của các hành động đạo đức cũng không có những ảnh hưởng đớn đau của các hành vi phi đạo đức sẽ sinh ra kết quả cho chúng ta, hay chúng ta sẽ trãi nghiệm những ảnh hưởng của các hành vi mà chính chúng ta không phạm phải.
4-    Quán chiếu một cách hoàn toàn những rắc rối của “cái tôi” và phức hợp thân-tâm hiện hữu khác biệt một cách cố hữu.
a.     “Cái tôi” và thân-tâm sẽ phải là hoàn toàn tách biệt.
b.     Trong trường hợp ấy, “cái tôi” sẽ có thể được tìm thấy sau khi dẹp hết tâm thức và thân thể.
c.      “Cái tôi” sẽ không có những đặc trưng của sản sinh, vĩnh cửu, và hư hoại, là điều vô lý.
d.     “Cái tôi” một cách ngớ ngẫn sẽ phải chỉ là một điều bịa đặt của sự tưởng tượng hay thường còn.
e.      Một cách phi lý, “cái tôi” sẽ không có bất cứ những đặc trưng vật chất và tinh thần.








16

Thử Nghiệm Sự Thân Chứng Của Chúng Ta


Giống như một người đi đến tàn hoại qua sự ăn uống sai lạc
Nhưng giành được
Sự trường thọ, tự do khỏi bệnh tật,
Sức mạnh và niềm sướng vui qua ăn uống đúng đắn
Vì thể một người đi đến tàn hoại
Qua thấu hiểu sai lạc,
Nhưng đạt được hạnh phúc và giác ngộ tối thượng
Qua sự thấu hiểu đúng đắn.

-      LONG THỌ, Tràng Hoa Quý Báu.



Khi chúng ta đã hoàn tất sự phân tích với sự quan tâm đến chính mình, tìm kiếm cho một sự tồn tại cố hữu của “cái tôi”, cuối cùng chúng ta hiểu biết rằng một “cái tôi” không thể tìm thấy, nhưng có phải điều này là tính không của sự tồn tại cố hữu hay điều gì thô thiển hơn?  Chúng ta gọi trình độ thô thiển "không tồn tại về thực chất trong ý nghĩa độc lập của con người" (duyên sinh) và trình độ vi tế "không tồn tại một cách cố hữu" (vô tự tính).  Có thể kết luận một cách sai lầm rằng chúng ta đã hiểu tính không vi tế hơn khi chúng ta đã thật sự thấu hiểu chỉ trên trình độ thô thiển.

Cả hai sự thực chứng đều hữu ích, và sự thấu hiểu về trình độ thô thiển chắc chắn sẽ hổ trợ đối với sự thực chứng ở trình độ vi tế, nhưng quan trọng là không được lẫn lộn hai thứ.  Để nói về sự khác biệt, đầu tiên đi qua sự tóm tắt lập luận trong Chương 15: rồi thì sự cảm nhận là "cái tôi" tự cấu thành rơi thành từng mảnh, và nó biến mất trong tâm thức vì tâm thức chúng ta ở trong chân không, chuyển chủ đề chúng ta khảo sát từ "cái tôi" đến thân thể chúng ta  hay một bộ phận nào đấy của thân thể, chẳng hạn như cánh tay của chúng tôi.

Nếu chúng ta cảm nhận rằng thân thể hay cánh tay của chúng ta là tự cấu thành lập tức biến mất, và sự vắng bóng của một vị thế như vậy xuất hiện trong tâm thức chúng ta, đây là một dấu hiệu rằng sự thấu hiểu về tính không của "cái tôi" đã ở trên một trình độ vi tế hơn.  Tuy nhiên, nếu năng lực của lập luận trước không lập tức áp dụng cho thân thể hay cánh tay chúng ta, điều này cho thấy rằng sự thấu hiểu về tính không của "cái tôi" không quá sâu mà còn ở trình độ thô thiển.

Nếu một cảm giác nào đấy của sự tồn tại cụ thể của hiện tượng khác này còn lại, sự phân tích trước đây của chúng ta không sâu như nó có thể dường như.  Đây là tại sao Long Thọ nói:

Cho đến khi thân và tâm được lĩnh hội một cách sai lầm,
Do thế, cho đến lúc ấy sự lĩnh hội của "cái tôi" sai lầm tồn tại.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÓI VỀ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT
GIỮA NHỮNG NHẬN THỨC SAI LẦM THÔ THIỂN VÀ VI TẾ

Một lý do có thể cho sự thấu hiểu về "cái tôi" không mở rộng đến những hiện tượng khác là sự nhận dạng ban đầu về một "cái tôi" tự cấu thành được hoàn tất trong phạm vi của một thí dụ rõ ràng về sự thổi phồng tự ngã, mà với nó chúng ta phản ứng với tham dục, thù hận, phòng thủ, hay những thứ như thế.  Căn cứ trên sự nhận dạng thô thiển ấy, có thể dường như rằng trong những trạng huống bình thường, sự cảm nhận về "cái tôi" không lẫn lộn với hiện tướng của một "cái tôi" tự cấu thành.  Nhưng trong thực tế nó là như thế, mặc dù ở một trình độ vi tế hơn.  Đó là tại sao sự thực chứng ban đầu, mặc dù hữu ích, nhưng không có nhiều năng lực như nó có thể.

Tôi muốn đi vào một số chi tiết về điểm này, vì thế hãy vui lòng cố gắng với tôi.  Trước tiên chúng ta cần quan tâm đến câu hỏi thú vị này: Nếu một cá nhân không phải là thân cũng không phải là tâm, hay một sự phối hợp của hai thứ này, vậy thì chúng ta nhìn vào gì khi chúng ta lưu ý "cái tôi"?  Những kinh luận của chúng tôi nói với chúng tôi rằng những gì chúng ta đang chú ý đến là một "cái tôi" hay con người được thiết lập một cách lệ thuộc.  Chúng ta đang chú ý đến, mặc dù không hiểu một cách thích đáng, chỉ là "cái tôi", mà Đạo Phật gọi là "chỉ là- cái tôi" đơn thuần .  Bởi vì một sự hiểu sai tâm thức và thân thể như tồn tại cố hữu (có tự tính) quá nhanh chóng đứng trước sự lãnh hội sai lầm về "cái tôi", có thể dường như rằng những gì chúng ta đang chú ý đến khi chúng ta xem "cái tôi" là thân thể và tâm thức, nhưng thật sự chỉ là tự chính "cái tôi" mà thôi.

Tuy  nhiên, sự thật là, bất chấp những gì xuất hiện trong tâm thức chúng ta bây giờ, cho dù đến những giác quan hay đến thức tinh thần chúng ta, nó trộn lẩn với một sự thổi phồng điều kiện của nó.  Tất cả những hiện tướng của những hiện tượng ngoại và nội tại, kể cả "cái tôi", bị trộn lẫn với một cảm giác rằng những đối tượng hiện hữu từ phía chính chúng; vì lý do này, tất cả những thức của chúng ta bị sai lầm với sự quan tâm đến những gì xuất hiện đến chúng, ngay cả khi chúng là đúng về những quán sát nào đấy, chẳng hạn thấy đối tượng xanh dương là xanh dương, hay xác định cánh cửa là cánh cửa.  Những tâm thức như vậy là đúng với những đối tượng ngoại tại nhưng sai lầm trong đó, do bởi khuynh hướng thiên kiến của chúng ta, các đối tượng được thấy với một màn bao phủ của sự tồn tại cố hữu (có tự tính).

Do thế, nếu khi thiền quán, chúng ta chấp nhận sự xuất hiện của chúng ta như nó là và tiến hành bác bẻ một cảm nhận phụ trội nào đó của sự tồn tại cố hữu, thì chúng ta đã nhìn được vào thí dụ chính của sự tồn tại cố hữu mà chúng ta đang tìm kiếm sự bác bẻ.  Vâng, chúng ta thật sự hiện hữu, nhưng "cái tôi" không tồn tại trong cách nó xuất hiện trong tâm thức chúng ta.  Đây là tại sao vào thế kỷ mười bảy Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng sự tồn tại cố hữu (tự tính) phải bị bác bẻ với việc quan tâm đến chính "cái tôi" đầu tiên thường xuất hiện.

"Cái tôi" này không tồn tại.  Khi sự kiện này được thấy, nhận thức sai lầm gốc rể bị làm mất tác dụng, trái lại nếu chúng ta để "cái tôi" ấy giống như nó hiện hữu và tiếp tục với sự phân tích của chúng ta, thì chúng ta sẽ không đi vào trình độ của vấn đề gốc rể.  Đây là bởi vì "cái tôi - đơn thuần" ("Cái tôi" không tồn tại cố hữu, "cái tôi" vô tự tính) và "cái tôi" tồn tại một cách cố hữu, hay có tự tính bị trộn lẫn với nhau.  Do vậy, chúng ta phải lưu ý rằng "cái tôi" này mà chúng ta chú ý đến không tồn tại như nó xuất hiện.  Bằng khác đi, nếu chúng ta cho "cái tôi" này là thật sự và chỉ tìm kiếm để chứng minh rằng nó không tồn tại một cách cơ bản, chúng ta sẽ hiểu sai bản chất tình không của nó, như được giải thích trong chương 7.

NHẪN NẠI LÀ CẦN THIẾT

Sự cần thiết để tiến hành đến trình độ sâu xa hơn này là tại sao chúng ta phải duy trì thực tập tại sự luân phiên giữa việc xác định một cảm nhận ngày càng vi tế hơn về việc "cái tôi" xuất hiện và sử dụng  lý trí để thấy "cái tôi" xuất hiện ấy có thể được phân tích hay không.  Qua tiến trình này, chúng ta sẽ dần dần sâu sắc hơn trong sự lãnh hội của cả những gì là ý nghĩa cảm nhận sự thổi phồng của tự ngã và tính không vững chãi trong nền tảng của nó.

Giống như luận điển đại thừa nói, chúng ta sẽ bắt đầu thực hiện một sự phân biệt giữa sự tồn tại và sự tồn tại cố hữu qua chính kinh nghiệm của chúng ta.  Những luận điển đại thừa đòi hỏi chúng ta tránh cả cực đoan của việc thổi phồng bản chất của con người và sự vật và cực đoan đối kháng - rằng con người và sự vật hoàn toàn không tồn tại.  Chúng thật sự tồn tại một cách chắc chắn; nhưng chúng tồn tại  như thế nào mới là vấn đề.


Khi chúng ta tiến tới thấu hiểu rằng con người và sự vật không thể tìm thấy dưới sự phân tích nhưng tâm tư nhận thức rằng chúng thật tồn tại, chúng ta có thể bắt đầu cảm thấy tác động về tuyên bố rằng chúng tồn tại qua năng lực của tư tưởng.  Điều này, hóa ra, sẽ đòi hỏi chúng ta quan tâm xa hơn với việc con người và sự vật xuất hiện đến tâm thức chúng ta như thế nào và sẽ xói mòn sự vững tin trong điều tốt lành hay tệ hại trong hiện tướng của những thứ này, là những thứ trước đây chúng ta chấp nhận tự động như thực chất của những đối tượng.  Chúng ta sẽ bắt đầu lưu ý việc chúng ta tán thành đối với hiện tướng của các đối tượng như thế nào và việc chúng ta đạt được chúng như thế nào.

Trong cách này, thiền quán là một hành trình dài lâu, không là tuệ giác đơn độc hay ngay cả vài tuệ giác.  Nó sẽ trở nên ngày càng thậm thâm hơn khi ngày ngày, tháng tháng, năm năm trôi qua.  Hãy đọc tiếp và suy nghĩ cùng thiền quán.


Thiền quán


1- Đi qua bốn bước của phân tích được diễn tả trong Chương 15

2- Khi cảm nhận rằng "cái tôi" là tự cấu thành vở thành từng mãnh và tan biến trong trống không, chuyển sang quan tâm đến cái tay của hành giả, thí dụ thế.

3- Hãy thấy, cảm nhận mà cánh tay của hành giả tồn tại cố hữu lập tức tan biến qua những lý trí phía trước.

4- Nếu sự phân tích trước không lập tức áp dụng vào cánh tay của hành giả, thì sự thấu hiểu của hành giả vẫn còn ở trình độ thô thiển.


TIẾP TỤC THỰC TẬP VỚI NÓ

Dấu hiệu mà chúng ta đã thật sự trở nên ấn tượng với sự vắng mặt sự hiện hữu của "cái tôi' cụ thể, thuần nhất xảy ra khi chúng ta xem thân thể hay tâm thức và không xem hiện tướng của nó là thật sự. Chúng ta chấm dứt việc dành cho nó quá nhiều sự tin cậy trong những hiện tướng thổi phồng của nó bởi vì chúng ta đã trở nên ấn tượng với việc vắng bóng sự tồn tại cố hữu được khám phá qua thiền phân tích (quán).  Sự giảm bớt niềm tin trong sự thật của những hiện tướng là một dấu hiệu của thành công, và qua việc thiền quán tiếp tục nó có thể ngày càng lớn mạnh hơn.  Tiến trình này là việc chúng ta đi đến càng ngày càng gần hơn để thấy chính chúng ta thật sự như thế nào.

Thực chứng tính không là khó khăn, nhưng nếu chúng ta kiên trì thực hành - phân tích và phân tích - sự lĩnh hội chắc chắn sẽ đến.  Chúng ta sẽ thấu hiểu ý nghĩa của việc tìm kiếm cho sự tồn tại cố hữu (tự tính) là gì nhưng không tìm ra nó - việc tìm kiếm cho những gì được hình dung vô cùng mạnh mẽ và không tìm ra nó.  Sự không tìm ra xuất hiện đến tâm thức như tính không, đầu tiên yếu ớt và rồi thì ngày càng rõ ràng hơn.  Mặc dù tuệ giác ban đầu  không sâu sắc lắm, nhưng khi chúng ta kiên trì trong tiến trình này, chúng ta sẽ thâm nhập ngày càng sâu hơn.

Qua ý nghĩa sơ bộ của tính không, chúng ta sẽ đạt được một ý nghĩa rõ ràng hơn về si mê là gì; điều này sẽ đưa đến một kinh nghiệm khá hơn về tính không.  Sự hiểu biết về tính không tốt hơn, đến lượt chính nó, sẽ làm nổi bật sự nhận diện ra si mê ám chướng của chúng ta, và điều gì đang bị phủ nhận.  Sự nhận diện này sẽ làm sâu sắc hơn tác động của lý trí khi chúng ta sử dụng nó hết lần này đến lần khác, bao hàm sự thấu hiểu  và sự xói mòn sự tin tưởng của chúng ta trong những gì bị thổi phồng.  Đây là việc chúng ta tháo gở những rắc rối như thế  nào.


Ẩn Tâm Lộ ngày 17/10/2011







17

Mở Rộng Tuệ Giác Này đến Những Gì Chúng Ta Có



Giống như  con tỉnh ngộ biết
Sự phân biệt sai lầm của chính con,
Hãy áp dụng tinh thần này đến tất cả mọi hiện tượng.

- ĐỨC PHẬT


Để ôn lại:  Nếu có một "cái tôi" cụ thể, thế thì nó phải hoặc là một với thân-tâm hay khác biệt với thân-tâm.  Vì cả hải khả năng ấy được giải thích với những ảo tưởng hợp lý, chúng ta phải đi đến kết luận rằng một "cái tôi" cụ thể như vậy là hoàn toàn không tồn tại.

Nó dễ thuyết phục một cách tương đối, một khi chúng ta đã thấu hiểu rằng "cái tôi" có tự tính không hiện hữu, để nhận ra rằng ý nghĩa của tự tính sở hữu là sai lầm.  Tâm thức và thân thể là những đối tượng được sử dụng bởi "cái tôi" ấy. "Cái tôi" giống như một chủ nhân, mà thân thể và tâm thức thuộc về nó.  Thực tế, chúng ta nói, "Thân thể tôi hơi xuống dốc", Hay "Thân thể tôi vừa vặn".  Những lời tuyên bố như vậy là có ý nghĩa.  Mặc dù chúng ta không nghĩ "Đấy là 'cái tôi' khi chúng ta nhìn vào cánh tay chúng ta, khi cánh tay chúng ta đau đớn, chúng ta chắc chắn nghĩ thực rằng "tôi trong cơn đau, tôi không khỏe".  Tuy thế, rõ ràng rằng "cái tôi" và thân thể là khác biệt; thân thể thuộc về "cái tôi".

Tương tự thế, chúng ta nói về "tâm thức tôi", và chúng ta có thể nói, "Trí nhớ của tôi yếu, có điều gì đấy sai lạc".  Chúng ta là người huấn luyện của tâm thức, tâm thức như một học trò ngang ngạnh, sẽ được dạy bảo để làm những gì chúng ta muốn.

Trong cách này, thân thể và tâm thức thuộc về "cái tôi", và "cái tôi" là chủ nhân của chúng.  Mặc dù không thể phủ nhận rằng mỗi thứ biểu diễn những chức năng tương ứng của nó, tuy nhiên không có "cái tôi" độc lập khỏi thân thể và tâm thức sở hữu chúng.  Đôi mắt, đôi tai chúng ta, v.v... thật sự là những đối tượng mà chúng ta thấy có lý như "của tôi", nhưng chúng không tồn tại trong cung cách mà chúng xuất hiện thật năng động đến tâm thức chúng ta, những thứ bị làm chủ bởi một "cái tôi" tồn tại cố hữu.  Như Long Thọ đã nói trong Tràng Hoa Quý Báu của ngài:

Đức Phật thuyết giảng chỉ để cứu giúp chúng sinh

nói rằng tất cả chúng sinh

Đã phát sinh từ sự nhận thứ sai lầm của "cái tôi"

Và bị bao phủ với nhận thức "của tôi".

Khi chúng ta nhận ra rằng tự ngã không tồn tại một cách cố hữu, rồi thì "của tôi" cũng không thể có tự tính.


THIỀN QUÁN

Quan tâm:

1- Những hiện tượng nội tại, chẳng hạn như tâm thức chúng ta và thân thể chúng ta, thuộc về chúng ta và vì thế là "của ta".

2- Những đồ vật bên ngoài, như áo quần, hay xe cộ mà chúng ta có cũng là "của ta".

3- Nếu "cái tôi" không tồn tại một cách cố hữu, thì những gì là 'của tôi" cũng không thể tồn tại một cách cố hữu ('cái tôi' và 'của tôi' đều vô tự tính).







18

Cân Bằng Tịch Tĩnh và Tuệ Giác

(Định - Tuệ)



Trau dồi thiền ổn định mà thôi
Sẽ không tiêu trừ sự phân biệt tồn tại cố hữu
Những cảm xúc phiền não có thể trở lại,
Làm nên tất cả những loại quấy rầy.

- ĐỨC PHẬT

Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng.  Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng.  Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau.  Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.

Sự trong sáng và ổn định của tịch tĩnh bất động mở ra đường hướng cho phân tích để cung ứng một tuệ giác chân thật đầy năng lực vào trong tính không của sự tồn tại cố hữu (tự tính không).  Với nhận thức trực tiếp về tính không của những hiện tượng ấy - chính chúng ta, người khác, và mọi sự vật - đưa chúng ta vào trong những cảm xúc tàn phá, các rắc rối có thể chiến thắng tại gốc rể của chúng.

Để phối hợp tịch tĩnh bất biến và tuệ giác đặc biệt (định tuệ song hành), chúng ta cần luân phiên thiền tập trung (chỉ) với thiền phân tích (quán) và đưa cả hai thứ đến sự hòa hiệp.  Quá nhiều phân tích sẽ thúc đẩy trạo cử xao động, làm tâm thức không ổn định một cách nhẹ nhàng, nhưng quá nhiều ổn định sẽ làm cho chúng ta không muốn phân tích.  Như hiền nhân Tây Tạng Tông Khách Ba nói:

Nếu chúng ta chỉ đơn thuần diễn tập thiền phân tích, tịch tĩnh bất biến phát sinh trước đây sẽ suy giảm.  Do thế, đã leo lên con ngựa tịch tĩnh bất biến, chúng ta phải duy trì với phân tích và sau đó luân phiên điều này với thiền ổn định một cách định kỳ.

LIÊN HỢP TỊCH TĨNH BẤT BIẾN VÀ TUỆ GIÁC ĐẶC BIỆT
(Định Tuệ Hiệp Nhất)

Trước tiên, tịch tĩnh bất biến và phân tích như hai đầu của một cái cân, cái này trở nên hơi sáng suốt hơn khi cái kia trở nên rõ ràng.  Nhưng bây giờ, khi chúng ta đã luân phiên thiện nghệ giữa thiền ổn định và phân tích (chỉ và quán), năng lực của chính phân tích làm cho tinh thần và thân thể uyển chuyển rộng sâu hơn trước đây, khi tịch tĩnh bất biến được đạt đến qua thiền ổn định.  Khi tịch tĩnh bất biến và tuệ giác hoạt động trong cách này, đồng thời với năng lưc tương ứng, nó được gọi là "sự hợp nhất của tịch tĩnh bất biến và tuệ giác đặc biệt" (định tuệ bất nhị).  Nó cũng được gọi là "tuệ trí phát sinh từ thiền quán", như một sự tương phản với tuệ trí sinh khởi từ nghe, đọc, học, hay suy nghĩ.

Trước đây, trong khi đọc và suy nghĩ về tính không, ý thức của chúng ta hướng tới tính không như một đối tượng vận dụng trí óc của điều tra, vì thế tâm thức chúng ta và tính không tách rời và  phân biệt.  Nhưng bây giờ chúng ta đã có kinh nghiệm về việc thẩm thấu tính không mà không có cảm giác rằng chủ thể và đối tượng là xa cách với nhau.  Chúng ta đang tiếp cận một thể trạng mà trong ấy tuệ giác và tính không giống như nước để vào trong nước.

Dần dần, cảm giác vi tế duy trì của chủ thể và đối tượng tan biến, với chủ thể và đối tượng hoàn toàn hiệp nhất vào trong vô thức hay vô phân biệt.  Như Đức Phật nói, "Khi ngọn lửa của sự hiểu biết về thực tại giống như nó phát sinh từ sự tự phân tích đúng đắn, gỗ của khái niệm được đốt cháy, giống như lửa của gỗ cọ xát với nhau."

THIỀN QUÁN PHẢN CHIẾU

Đối với người mới bắt đầu, thật hữu ích để học hỏi việc lên kế hoạch này cho tiến trình tâm linh, bởi vì nó sẽ duy trì một ảnh hưởng đầy năng lực trên sự phát triển của chúng ta.  Trong thời gian thực tập, chúng ta có thể luân phiên một ít thiền ổn định (chỉ) với một chút thiền phân tích (quán) nhằm để cho cả hai trải qua tiến trình và để làm mạnh sự thiền tập hiện tại.

1- Đầu tiên tập trung tâm thức chúng ta trên một đối tượng, thí dụ như một hình tượng của Đức Phật hay hơi thở.

2- Sử dụng thiền phân tích như được diễn tả trong bốn bước thiền quán về bản chất của "cái tôi". Quán chiếu sự không thể hợp lý của việc quả quyết rằng tự ngã và thân/tâm hoặc là giống nhau hay khác biệt:

TÍNH ĐỒNG NHẤT

          *"Cái tôi" và thân/tâm phải là hoàn toàn và trong mọi cách là một.
          * Trong trường hợp ấy, thừa nhận một "cái tôi" sẽ là vô nghĩa.
          * Sẽ là không thể để nghĩ về "thân thể tôi" hay "cái đầu tôi" hay "tâm thức         tôi".
          * Khi tâm thức và thân thể không còn tồn tại nữa, tự ngã cũng sẽ không tồn       tại nữa.
          * Vì thân thể và tâm thức là số nhiều, những cái ngã của một người cũng là      
số  nhiều.
          * Vì "cái tôi" chỉ là một, tâm thức và thân thể cũng là một.
          * Giống như thân thể và tâm thức được sản sinh và tan rả, vì thể phải thừa nhận rằng "cái tôi" cũng được sản sinh một cách cố hữu và tan rả một cách cố hữu.  Trong trường hợp này, không phải các ảnh hưởng thỏa lòng của các hành vi đạo đức cũng không phải các tác động đau đớn của các hành động không đạo đức sẽ chịu kết quả cho chúng ta, hay chúng ta sẽ trải nghiệm những ảnh hưởng của những hành vi mà chính chúng ta đã chẳng từng làm.

TÍNH KHÁC BIỆT

          * "Cái tôi" và thân/tâm sẽ phải là riêng biệt hoàn toàn.
          * Trong trường hợp ấy, "cái tôi" phải tìm ra được sau khi tẩy trừ sạch tâm thức và thân thể.
          * "Cái tôi" sẽ phải có những đặc trưng của sản sinh, bất động, và tan rả, là những thứ không hợp lý.
          * "Cái tôi" một cách ngớ ngẩn phải chỉ là một thứ ảo ảnh của tưởng tượng hay thường còn.
          * Một cách không hợp lý, "cái tôi" sẽ phải có những đặc trưng thân thể hay tinh thần.

3- Khi chúng ta phát triển một ít tuệ giác, trụ với tuệ giác ấy trong thiền ổn định (chỉ), thưởng thức tác động của nó.

4- Rồi thì, khi cảm giác giảm bớt một ít, hãy trở lại thiền phân tích (quán) để khôi phục cảm giác và phát triển tuệ giác hơn nữa.


Luân phiên giữa việc tập trung trên một chủ đề và phân tích trực tiếp về nó sẽ đẩy mạnh kinh nghiệm sâu sắc hơn.

Trích từ quyển How to See Yourself as You Really Are của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Ẩn Tâm Lộ ngày 27/10/2011






[1][ ] sáu cầu thành – sáu đại :  không, đất, nước, gió, lửa, và thức
[2] Không liên hệ đến những thứ khác, tức là sự xuất hiện độc lập, không do nhân duyên, mà đấy là điều không thể có.  Và chúng ta phải thấu hiểu điều này một cách rõ ràng, mới có thể có chính kiến về sự liên hệ hổ tương hay duyên sinh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét