Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO CHO AI ÍT NHÂN TẠO VÀ THÔNG MINH HƠN

 




Nguyên tác: Buddhist Wisdom For Less Artificial And Intelligent AI
Tác giả:
Subodh Saxena
Việt dịch: Quảng Cơ
Sưu tập: Tuệ Uyển

***

Trí tuệ Phật giáo (prajna) bao gồm ba công cụ là nghe (sutras), quán chiếu (Cinta) và thiền định (Bhavana). Để hiểu biết về mặt trí tuệ, chúng ta phải nghe, học và nghiên cứu (sutras). Chúng ta có thể tiếp thu kiến ​​thức này thông qua trí tuệ quán chiếu và phản chiếu (Cinta).

Đó là một buổi sáng mùa hè tươi sáng. Những tia nắng đỏ thắm của mặt trời mỉm cười đang hôn lên ngọn cây và tòa tháp cao. Một làn gió tươi mát và một dàn hợp xướng chim chóc vui nhộn đang tràn ngập bầu không khí tại trung tâm thiền định ở Dharamshala ở dãy Himalaya. Sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa AI Học sâu và trí tuệ Phật giáo đã xuất hiện trong tôi khi tham dự chương trình thiền định Phật giáo tại trung tâm. Trong hơn 2.500 năm, Phật giáo đã nghiên cứu về tâm, vốn không phải là vật chất và khác với não bộ mặc dù cả hai đều có sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau. Trí tuệ Phật giáo là chìa khóa của tâm. Mặc dù các nhà khoa học thần kinh đã nghiên cứu sâu rộng về giải phẫu và chức năng của não bộ, nhưng có rất ít hiểu biết về tâm, tư duy, ý thức, trực giác và trí thông minh. Mạng Thần kinh nhân tạo bỏ lỡ quá trình thông dịch trên bộ não sang tâm. Hiệu suất của AI Học sâu, mô phỏng bộ não sinh học, có thể được tăng cường bằng cách đồng hóa việc học Phật giáo.

Học sâu, tên gọi của Mạng thần kinh nhân tạo, được hình thành vào những năm 1940. Tuy nhiên, chỉ vài năm trước, hệ thống tri giác trực quan (học thông qua kinh nghiệm) sử dụng toán học liên tục đã bổ sung cho Trí tuệ nhân tạo cổ điển dựa trên hệ thống tri giác hợp lý (được lập trình). Sự cho phép này là nguồn gốc cho những thành tựu ngoạn mục của AI trong nửa thập niên qua. Nhưng hiện tại có một số thất vọng. Đã có những kỳ tích gần như con người hoặc siêu phàm của AI trong các lĩnh vực khác nhau như trò chơi cờ bàn & chiến lược, nhận dạng hình ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và xe hơi tự hành. Học sâu sử dụng toán học nặng, giống thuật giả kim hơn là hóa học. Chỉ một phần trong các giải pháp hiệu suất cao của nó có thể được giải thích một cách hợp lý, phần còn lại là bản năng, một con đường khác biệt với sự thông minh của con người. Nhưng do khả năng xử lý dữ liệu khổng lồ, hoạt động hộp đen khó hiểu, không có khả năng áp dụng các khái niệm trừu tượng vào các tình huống khác nhau và khó thiết kế các mô hình, nên người ta lo sợ Học sâu sẽ gặp trở ngại.

Quá Trình AI Học Sâu Vấp Phải Công Cụ Trí Tuệ Phật Giáo



Học sâu, một quá trình thống kê, mô phỏng bộ não động vật có vú. Các tế bào thần kinh nhân tạo (perceptron) là phiên bản kỹ thuật số đồng nhất được đơn giản hóa của các tế bào thần kinh sinh học (Hình 1). Bộ não con người có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh và 1000 nghìn tỷ khớp thần kinh (kết nối thần kinh). Các mạng lưới thần kinh nhân tạo khác biệt rất nhiều so với cấu trúc não ở số lượng tế bào thần kinh & khớp thần kinh, hình dạng, kích thước & kiểu kích hoạt tế bào thần kinh, cấu trúc bẩm sinh, tạo ra và chèn các tế bào thần kinh mới vào các mạch hiện có và sử dụng có chọn lọc các khu vực cụ thể.

Trong Mạng thần kinh nhân tạo, các tế bào thần kinh (perceptron) được sắp xếp theo các lớp đầu vào, ẩn và đầu ra. Dữ liệu đầu vào được gán trọng số và độ lệch khi nó đến một tế bào thần kinh khác trong lớp liền kề. Đầu vào này đi qua một hàm kích hoạt và đầu ra đi đến các tế bào thần kinh lớp tiếp theo. Quá trình này tiếp tục cho đến khi các kích hoạt tế bào thần kinh nhân tạo đạt đến lớp đầu ra. Tại đây, chúng phải chịu các thuật toán tối ưu hóa (mất mát) và lan truyền ngược. Đầu ra thực tế và mong muốn được so sánh và sự khác biệt được lan truyền trở lại lớp đầu vào để tối ưu hóa trọng số và độ lệch. Quá trình lặp lại tiếp tục cho đến khi đạt được đầu ra gần như mong muốn. Cấu trúc của mạng thần kinh 'Nông' và 'Sâu' được minh họa trong Hình 2. Sau khi tối ưu hóa trọng số và độ lệch, mô hình Mạng Thần Kinh nhân tạo cung cấp các tham số đầu ra chính xác hơn để đào tạo, xác thực và kiểm tra mô hình. Các tác vụ dưới tuần tự có thể học từ việc học chuyển giao. Các thuật toán Học sâu yêu cầu hàng triệu ví dụ đào tạo. Thu thập hàng tấn dữ liệu chất lượng, AI Học sâu vẫn còn kém xa khả năng lý luận, hiểu biết và ý thức chung của con người.



Trí tuệ Phật giáo (prajna) bao gồm ba công cụ là nghe (sutras), quán chiếu (Cinta), và thiền định (Bhavana). Để hiểu biết về mặt trí tuệ, chúng ta phải nghe, học và nghiên cứu (sutras). Chúng ta có thể tiếp thu kiến thức này thông qua trí tuệ quán chiếu và phản chiếu (Cinta). Dựa trên hai viên ngọc trí tuệ này, chúng ta bắt đầu thực hành thiền định (Bhavana) để đánh thức thêm sự hiểu biết bên trong của chúng ta. Trong quá trình thiền định (Samatha) và thiền quán (vipassana), não là đối tượng của một quá trình nhận thức hướng vào bên trong thay vì hướng ra bên ngoài. Các giá trị được gán cho một số trạng thái nhất định để tăng mức độ phổ biến của chúng. Kết nối tiếp hợp (synap) thay đổi theo đó. Nó có phần giống với những gì xảy ra trong quá trình học tập thông qua các tương tác với thế giới bên ngoài. Ba công cụ trí tuệ Phật giáo được biểu diễn tượng trưng trong Hình 3.



Học sâu dường như đã học theo trí tuệ Phật giáo. Thực hành Học sâu bao gồm đầu vào, chỉ định trọng số & độ lệch, tối ưu hóa và đầu ra tương tự như các công cụ trí tuệ Phật giáo về nghe, chiêm nghiệm, thiền định (Samatha) và thiền quán vipassana). Trong khi thiền định bao gồm chức năng mất mát và nhiễu loạn lan truyền ngược cho đến khi tối ưu hóa, thiền quán giống như nhận đầu ra cung cấp đầu vào cho một mô hình đã được đào tạo. Sự tương ứng này, các bước trong quá trình, được minh họa trong Hình 4 bên dưới.



Học Phật Để Củng Cố Học Sâu

Học sâu Sự phụ thuộc của AI vào dữ liệu khổng lồ và các phép tính phức tạp là nguồn gốc của những tai ương như bản chất 'hộp đen' (không biết đầu vào hoặc liên kết nào là quan trọng), không có khả năng sử dụng các khái niệm trừu tượng cho các ứng dụng khác nhau (do mê cung dữ liệu) và khó thiết kế các mô hình (số lượng lớp và nơ-ron cồng kềnh trong mỗi lớp và khó khăn trong việc lựa chọn các thuật toán hàm kích hoạt và mất mát, đặc biệt là trong trường hợp các vấn đề phức tạp). Tích hợp học Phật, AI sẽ sử dụng ít dữ liệu hơn, giảm thiểu các phép toán lớn và kết hợp các thuật toán với kinh nghiệm và trực giác của con người để giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu và các bệnh nan y mà nhân loại đang phải đối mặt. Phát hiện sau đây được đặt theo tên của nhà nghiên cứu AI Hans Moravec có liên quan trong bối cảnh này.

Nghịch lý Moravec - Trái ngược với các giả định truyền thống, lý luận cấp cao đòi hỏi rất ít tính toán, nhưng các kỹ năng cảm biến vận động cấp thấp đòi hỏi các nguồn tài nguyên tính toán khổng lồ.

Việc đồng hóa các kiến thức Phật giáo trong AI là một chủ đề phức tạp. Nó sẽ đòi hỏi nỗ lực phối hợp của các học giả Phật giáo, các nhà khoa học thần kinh và các chuyên gia AI để xác định cách thức các kiến thức Phật giáo sẽ có lợi cho cách tiếp cận hiện tại mà chúng ta đang áp dụng trong AI và đưa ra các phương pháp luận để tích hợp chúng. Một số ví dụ tiêu biểu được liệt kê dưới đây.

• Kết hợp Cấu trúc Não bẩm sinh: Một đứa trẻ, không quen với các thực hành Phật giáo, có khả năng lý luận và hiểu kinh sách bằng cách sử dụng dữ liệu nhỏ. Cấu trúc não bẩm sinh này có sẵn khi mới sinh trong não của đứa trẻ. AI phải có được sự tương đồng với nó để gần gũi hơn với thiên nhiên thay vì phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng. Mạch não chỉ ra nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau để định hình quá trình truyền thần kinh và xử lý thông tin. Có nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau như tế bào thần kinh vận động, tế bào thần kinh cảm giác và tế bào thần kinh trung gian, và những loại có kết nối thần kinh (synap) với các tế bào thần kinh lân cận, cục bộ và xa. Ngoài các giai đoạn xử lý ban đầu trong nhận thức, thị giác, thính giác, v.v., để nắm bắt các bước nhận thức ở giai đoạn sau, một số tính không đồng nhất trong các loại tế bào thần kinh và khả năng kết nối phải được đưa vào các tế bào thần kinh đồng nhất quá đơn giản trong mạng lưới thần kinh nhân tạo.


• Ưu tiên của các lớp ngoài sử dụng Topology thưa thớt: Các nhà khoa học thần kinh đã nghiên cứu cấu trúc não của những người thực hành lâu năm các công cụ trí tuệ Phật giáo. Vỏ não, lớp ngoài cùng của mạng lưới sinh học của não, có các tế bào thần kinh có kết nối cục bộ và tầm xa. Người ta đã quan sát thấy các nhà sư phát triển lớp vỏ dày liên quan đến mật độ tế bào thần kinh tăng lên và số lượng khớp thần kinh trong các vùng não liên quan đến sự chú ý và xử lý cảm giác. Trong topology mạng AI, nó sẽ chuyển thành ưu tiên cho các lớp ngoài hơn các lớp ẩn. Kiến trúc tiêu chuẩn của Mạng thần kinh nhân tạo với các lớp được kết nối đầy đủ nên được sửa đổi. Các khớp thần kinh giữa các lớp truyền tiếp sẽ bị loại bỏ (bỏ cấu trúc thưa thớt) và các khớp thần kinh nhảy qua nhiều lớp có thể được tạo ra. Một topology mạng hoàn toàn chung cho phép bất kỳ nút nào được kết nối với bất kỳ nút nào khác có khớp thần kinh, sẽ tạo điều kiện cho các lớp ngoài được ưu tiên hơn các lớp ẩn.


• Sử dụng một phần của Kiến trúc thần kinh sâu: Những người thiền Phật giáo phát triển sự kích hoạt não trái đáng kể. Điều này có nghĩa là chỉ một khu vực cụ thể thay vì một vùng não rộng hơn hoặc toàn bộ não được sử dụng để giải quyết hầu hết các vấn đề. Khác với cấu trúc truyền động trực tiếp truyền thống, Mạng thần kinh nhân tạo có thể sử dụng các mạng kết nối chung cho phép sử dụng một khu vực cụ thể của mạng. Các đơn vị xử lý cho Cấu trúc thần kinh sâu thưa thớt như vậy đang được phát triển.

Việc tích hợp các lợi ích từ các công cụ trí tuệ Phật giáo vào AI Học sâu là khả thi với các bộ xử lý có sẵn và trong một số trường hợp đang được phát triển. Ví dụ, như bằng chứng cho khái niệm 'Ưu tiên của các lớp ngoài sử dụng Topology thưa thớt thần kinh sâu' có thể được triển khai để giải quyết một vấn đề thực tế đơn giản bằng công nghệ hiện tại. Do đó, chúng ta có thể so sánh các giải pháp thu được thông qua AI tích hợp các công cụ trí tuệ Phật giáo với kết quả từ AI Học sâu truyền thống và các phép đo thực tế. Một cỗ máy lý luận trực quan được chuyển đổi như vậy, sử dụng học tập Phật giáo, sẽ có khả năng mở rộng để giải quyết các vấn đề lớn hơn như biến đổi khí hậu bằng cách sử dụng dữ liệu tối thiểu, chứng thực cho quan sát của Moravec rằng khả năng tính toán lớn hơn không dẫn đến các hệ thống thông minh hơn.

Kết Luận

AI học sâu ở dạng hiện tại thu thập và phân tích một lượng lớn dữ liệu trong các lớp ẩn của nó để đào tạo một mô hình. Khi độ phức tạp của các mô hình tăng lên, việc diễn giải cách chúng hoạt động trở nên khó khăn. Không thực tế khi giải quyết các vấn đề phức tạp bằng các mô hình mờ đục. AI học sâu giống với việc học của Phật giáo và có thể tự trao quyền cho chính nó bằng cách đồng hóa các công cụ trí tuệ Phật giáo. Kiến trúc, thuật toán chính, tối ưu hóa và phân tích của mô hình lấy cảm hứng từ trí tuệ Phật giáo sẽ yêu cầu ít dữ liệu hơn và xây dựng các giải pháp kỹ thuật toàn diện và có thể giải thích được cho các vấn đề lớn như bệnh tật và biến đổi khí hậu. AI ít nhân tạo và thông minh hơn này sẽ xoa dịu nỗi sợ về một mùa đông AI khác và AI gây ra mối đe dọa hiện hữu đối với con người.


Author
Subodh Saxena
Expertise in deploying smart technologies. Knowledgeable on 5G, IoT, AI, smart mobility, technology for fuel efficiency, reduced emissions and safety of vehicles. Associated with projects involving optimizing vehicle performance, telecom services, connected & shared mobility. Woked on smarter AI using Buddhist wisdom tools to solve complex problems.

https://www.researchgate.net/publication/334899640_Buddhist_Wisdom_for_less_Artificial_more_Intelligent_AI

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2025

Chương 3 TÂM LÝ HỌC CỦA VÒNG LUÂN HỒI

 




ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA Ở HAVARD
Diến Thuyết Về Con Đường Của Phật Giáo Đến Hòa Bỉnh
Nguyên bản:  3-
 The Psychology of Cyclic Existence
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Việt dịch: Quảng Cơ
Hiệu đính: Tuệ Uyển
***


Sáng Thứ Ba: TÂM LÝ HỌC CỦA VÒNG LUÂN HỒI

HỎI VÀ TRẢ LỜI

Câu hỏi: Nếu hiện tượng là vô ngã nhưng đau khổ là có thật, thì ai phải chịu đau khổ?

Trả lời: Câu hỏi này xuất phát từ việc không hiểu rằng vô ngã không có nghĩa là không tồn tại mà ám chỉ sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu. Điểm này sẽ được giải thích sau khi thảo luận về các cuộc tranh luận giữa Trường phái Duy Thức (Duy tâm) và Trường phái Trung đạo và các cuộc tranh luận trong Trường phái Trung đạo. Các trường phái khác cáo buộc Trường phái Hệ quả là hư vô, nhưng những người theo Chủ nghĩa Hệ quả không chấp nhận điều này; họ chỉ ra rằng họ phân biệt giữa sự tồn tại và sự tồn tại cố hữu và rằng họ không phải là những người theo chủ nghĩa hư vô vì mặc dù họ bác bỏ sự tồn tại cố hữu, họ khẳng định rằng mọi hiện tượng đều là sự phát sinh phụ thuộc nhân duyên và do đó tồn tại.

Câu hỏi: Ngài vui lòng định nghĩa tâm
thức (consciousness`)?

Trả lời: Định nghĩa về tâm
thức là thứ sáng tỏ và hiểu biết, nhưng điều này không dễ hiểu. Trong mọi trường hợp, tâm thức không phải là thứ vật chất; nó không có hình dạng hay màu sắc nào cả. Giống như không gian chỉ là sự vắng mặt sự cản trở tiếp xúc, nó là mở. Bản chất của nó là rực rỡ, trong sáng và có khả năng biết bất kỳ đối tượng nào thông qua việc phản ánh khía cạnh của thứ mà nó tiếp xúc. Tuy nhiên, nó có thước đo riêng về sự tồn tại vượt ra ngoài sự diễn đạt. Nếu bạn thúc đẩy tâm (mind) vào bên trong và dần dần có được cảm giác về bản chất của tâm thức, trở nên quen thuộc với nó, cảm nhận tâm thức bạn sẽ trở nên rõ ràng hơn và sáng tỏ hơn

Khi một tâm
thức chưa gặp một đối tượng, khả năng hiểu đối tượng đó của nó là không biểu hiện. Ví dụ, khi một thức chưa tiếp xúc với những bông hoa ở trước mặt tôi, một tâm thức nắm bắt những bông hoa này vẫn chưa được tạo ra, nhưng nó có khả năng biết chúng. Khi các đối tượng được tiếp xúc, tâm thức sẽ biết chúng thông qua tác dụng nắm bắt khía cạnh của riêng mình về phía tâm thức. Trường phái Đại Diễn Giải khẳng định rằng tâm thức biết các đối tượng của chúng một cách trần trụi mà không tạo ra khía cạnh của các đối tượng đó, nhưng các hệ thống giáo lý cao hơn lại cho rằng tâm thức biết các đối tượng của chúng bên trong được tạo ra trong khía cạnh của các đối tượng đó. Do đó, khi chúng ta nói rằng ý thức (mental consciousness: thức thứ 6) của chúng ta nhìn thấy một bông hoa, thì cần phải phân tích xem nó nhìn thấy bông hoa bên ngoài hay một khía cạnh, một hình ảnh phản chiếu của bông hoa. Khi một người nghĩ về nó theo cách này, người đó sẽ tiến gần đến quan điểm của Trường phái Duy Thức. Trong trường phái đó, nhận thức về các đối tượng được tạo ra thông qua việc kích hoạt các khuynh hướng nằm trong tâm thức, và do đó các đối tượng của tâm thức không phải là một thực thể thực chất khác biệt với tâm nhận thức chúng. Giống như thể mỗi người đều có thế giới riêng của mình. Ngày nay, các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu tương tự liệu ý thức [thứ 6] có nhìn thấy một đối tượng bên ngoài thực tế hay không hay liệu nó có nhìn thấy một hình ảnh phản chiếu trong các tế bào que và tế bào nón bên trong mắt hay không. Ngoài ra, điều thú vị là xem xét chứng mù màu, trong đó, do một số dây thần kinh bị thiếu hụt, nhận thức về đối tượng thay đổi.

Khi một người vừa mới tiếp xúc với đối tượng, nhưng khái niệm xem xét đối tượng là tốt, xấu, v.v. vẫn chưa bắt đầu, thì bản chất sáng suốt và hiểu biết đơn thuần bản chất sáng tỏ và hiểu biết
của tâm rõ ràng hơn. Vào thời điểm đó, nó vượt ra ngoài trạng thái không biểu hiện nhưng vẫn chưa đạt đến điểm nhận thức khái niệm. Đó là thời điểm chỉ có sự sáng tỏ và hiểu biết. Trong hệ thống của Đại Hoàn Thiện, điều này được cho là sự nhận dạng bản chất của tâm. Khi lần đầu tiên hoàn thành điều này trong trải nghiệm của chính mình, người ta chỉ có thể làm được nó một cách ngắn gọn.

Khi chúng ta nói về việc biết bản chất thật sự của các hiện tượng, liên quan đến yếu tố xác định của tâm
thức, phương thức nhận thức của tâm chỉ đơn thuần là xác định sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu. Tuy thế, khi chúng ta nói về việc ở trong trạng thái cân bằng thiền tập (giữa chỉ-quán) , người mới bắt đầu có lẽ vẫn tập trung vào bản chất sáng tỏ và hiểu biết của tâm đang nhận ra bản chất thật sự của các hiện tượng. Chánh niệm của ta đang được giữ trên tự chính tâm. Chúng ta sẽ thảo luận về điều này về sau.

Câu hỏi: Làm thế nào chúng ta có thể nhận thức hoặc biết được sự thật về vòng luân hồi?

Trả lời: Điều này thì khó. Có một chuỗi liên tục các tập hợp uẩn tinh thần và vật lý chịu ảnh hưởng của các hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não và đóng vai trò là căn bản của đau khổ. Đây là vòng luân hồi. Để thiết lập sự tồn tại của nó, trước tiên ta phải hiểu cách các uẩn tinh thần và vật lý này trở thành cơ sở của đau khổ thông qua các hành động trước đó. Để làm được điều này, ta phải hiểu cách các hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não xuất hiện như thế nào. Ta phải hiểu cách một chuỗi liên tục không bị gián đoạn của những sự tồn tại như vậy. Nếu ta chứng minh một cách hợp lý sự tồn tại của luân hồi, ta sẽ nêu ra những lý do sau đây mà sau đó phải được thiết lập riêng lẻ - rằng các hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não tồn tại nói chung, rằng chúng có mối liên hệ với tâm của chúng ta và với trải nghiệm của chúng ta về những tác động vui sướng và đau khổ, rằng có một chuỗi liên tục không bị gián đoạn và vô thủy của thức giữa các kiếp sống, rằng các uẩn tinh thần và vật lý bị thúc đẩy bởi các hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não, chuỗi liên tục của chúng đã tồn tại không gián đoạn
từ kiếp này sang kiếp khác, có bản chất khổ đau và là cơ sở của đau khổ, và gốc rễ của tất cả những điều này lại gặp nhau trở lại với hiểu biết sai quấy vốn nhận thức bản chất của hiện tượng một cách lỗi lầm.

Một khi đã xác định rằng những hiện tượng phiền não này hoàn toàn được tạo ra với một tâm
thức sai lầm làm gốc rễ của chúng, thì có thể hiểu rằng khi tâm thức sai lầm này bị loại bỏ, những cảm xúc đau khổ phát sinh phụ thuộc vào nó cũng bị loại bỏ, theo đó những hành động ô nhiễm phát sinh phụ thuộc vào chúng cũng bị loại bỏ. Thông qua đó, sự tái sinh trong luân hồi được tạo ra phụ thuộc vào những hành động ô nhiễm được khắc phục. Theo cách này, mười hai nhân duyên của luân hồi được khắc phục. Chính thông qua sự kết hợp của những hiểu biết như vậy mà ta có thể đạt được sự xác định với sự thừa nhận quá trình luân hồi; đó không phải là điều có thể giải thích tất cả cùng một lúc.

Câu hỏi: Miễn là ta có thể sống một cuộc sống chánh niệm, tử tế và từ bi với tất cả chúng sinh, thì có cần thiết phải biết tất cả hoặc thậm chí bất kỳ sự phân chia và mở rộng khái niệm nào có vẻ phức tạp vô tận này không?

Trả lời: Chúng sinh có vô số loại tính cách và sở thích khác nhau, và về cơ bản có hai loại giáo lý dành cho những người thực tập này. Một là loại giáo lý được Đức Phật truyền đạt cho công chúng cũng như Sáu Đức Trang Nghiêm của thế giới nói
trong giáo lý chung của họ. Vì trong số những người nghe có nhiều tính cách và sở thích khác nhau, nên những giáo lý này có nhiều loại và phức tạp. Tuy nhiên, cũng có những phương thức giảng dạy trực tiếp của những bậc thầy vĩ đại dành cho những người cụ thể trong những tình huống cụ thể mà không phức tạp như vậy.

Có một câu chuyện kể rằng một triết gia đã tranh luận nhà yogi vĩ đại Milarepa về logic và nhận thức luận, xem xét các chủ đề như những biểu hiện logic, mâu thuẫn, mối quan hệ và những hiện tướng mà không có sự xác định. Milarepa nói, "Tôi không biết logic và nhận thức luận. Nhưng tôi biết rằng thực tế là
tâm của triết gia này pha trộn với những cảm xúc phiền não là một biểu hiện tác động; rằng sự mâu thuẫn của nó với Phật giáo là một dấu hiệu của sự mâu thuẫn; và rằng thực tế là bên ngoài bạn có vẻ là một hành giả nhưng bên trong không nhất thiết là một hành giả là một trường hợp hiện tướng mà không có sự xác định." Những người như Milarepa đã tiếp thu tất cả các giáo lý thật sự - suy nghĩ chắc chắn để thoát khỏi luân hồi, lòng vị tha và trí tuệ nhận ra tính không của sự tồn tại cố hữu theo Trường phái Hệ quả.

Đã có một thời điểm khi một thế lực tà ác đang cố gắng tiếp cận Milarepa. Sau khi nói chuyện qua lại với linh thức, Milarepa cuối cùng đã trả lời, "Về mặt tối thượng, đừng nói đến một kẻ cản trở như bạn, ngay cả một vị Phật cũng không tồn tại cố hữu. Giáo lý của Đức Phật không tồn tại cố hữu. Cộng đồng Tâm linh không tồn tại cố hữu. Đó được cho là chân lý tối thượng. Tuy nhiên, Đức Phật toàn trí, khi cân nhắc đến những suy nghĩ của học trò, đã nói rằng mọi thứ đều tồn tại, sự tồn tại này theo nghĩa là một tâm thức hợp lệ thông thường [của thế đế]”. Đây là một sự trình bày chính xác về quan điểm của Trường phái Hệ quả. Do đó, những người như Milarepa không cần phải biết siêu hình học phức tạp nhưng biết ý nghĩa cốt lõi. Như vậy là đủ.

Ví dụ, ngay cả khi bạn đến một cửa hàng nhỏ ở nông thôn, nó có thể không có nhiều loại, nhưng nó có tất cả những nhu cầu cơ bản. Nếu bạn đến một siêu thị lớn ở Thành phố New York, có rất nhiều loại nhưng về mặt nhu cầu cơ bản, nó giống như cửa hàng ở nông thôn. Tuy nhiên, vẫn có một sự khác biệt; trong cửa hàng lớn có nhiều lựa chọn.

Câu hỏi: Có thể đạt được giải thoát mà không chấp nhận thế giới quan cụ thể này bao gồm các cõi khác nhau, tái sinh, v.v. không?

Trả lời: Tôi thường nói rằng nếu một người dành cuộc đời mình một cách khôn ngoan, ngay cả khi người đó không chú ý nhiều đến tái sinh, thì vẫn sẽ có một hiệu ứng tốt. Nó sẽ tích lũy thành một sự phát triển tốt, một năng lực tốt; do đó, không có câu hỏi nào rằng nó sẽ giúp ích.

Ngay cả khi một người không biết tất cả mọi thứ, người đó vẫn có thể tiến bộ trên
con đường. Nói một cách đại khái, không thể biết mọi thứ có thể biết cho đến khi một người trở nên toàn tri, toàn giác. Do đó, nếu một người không thể tiến triển trên con đường mà không biết mọi thứ, thế thì sẽ không thể trở thành một vị Phật.

Câu hỏi: Con đường[1]
tâm thức là gì?

Trả lời: Một con đường, hay một
chiếc xe (thừa), có nghĩa là một phương tiện để tiến bộ. Khi chúng ta nói con đường tâm thức, nó không giống như một siêu xa lộ có thể đưa một người đến với Phật quả. Phật quả đạt được thông qua sự phát triển tinh thần; do đó, con đường tâm thức đề cập đến các phẩm chất tinh thần. Tuy nhiên, về mặt những con đường cao cấp, có một số là vật chất, nhưng điều này có nghĩa là chúng có mối liên hệ với các luồng gió năng lượng bên trong; không có nghĩa là người ta đang đi từ nơi này đến nơi khác.

Câu hỏi: Ý nghĩa của chủ nghĩa nhị nguyên đối với tâm thức phi nhị nguyên cao cả là gì?

Trả lời: Có nhiều loại hình thức nhị nguyên. Một là hình thức của các hiện tượng thông thường. Một điều nữa là sự xuất hiện của chủ thể và đối tượng như thể xa cách và bị cắt đứt. Một điều nữa là sự xuất hiện của một ý tưởng khái niệm. Một điều nữa là sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu. Trong sự cân bằng thiền tập sâu xa về tính không, không có sự xuất hiện của các hiện tượng thông thường, cũng không có sự xuất hiện của chủ thể và đối tượng như thể xa cách và bị cắt đứt, cũng không có sự xuất hiện của các ý tưởng khái niệm, cũng không có sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu. Tuy nhiên, đối với tâm thức toàn tri[2] của Đức Phật trong khía cạnh biết các loại hiện tượng khác nhau, có sự xuất hiện nhị nguyên của các hiện tượng thông thường. Theo quan điểm của chính Đức Phật, một Đức Phật không có cảm giác về các đối tượng là xa cách và bị cắt đứt thông qua sức mạnh của bất kỳ sự nhầm lẫn nào; tuy thế, trong những hệ thống mà các đối tượng bên ngoài được khẳng định, có thể là một Đức Phật có một số cảm giác về các đối tượng là xa cách và bị cắt đứt. Trong mọi trường hợp, một Đức Phật không có bất kỳ cảm giác nào về sự xuất hiện nhị nguyên của các đối tượng do các ô nhiễm khiến không thể trực tiếp nhận thức được hai chân lý, chân lý thông thường (thế đế) và chân lý tối hậu (chân đế), đồng thời.
Trong số các khẳng định của các học giả, có nhiều sự bất đồng về tâm thức toàn tri của Đức Phật về khía cạnh biết các hiện tượng thông thường. Phương thức biết của Đức Phật phải được phân biệt thành hai loại, một loại là từ quan điểm của chính Đức Phật và loại kia chỉ thông qua sự xuất hiện của những chúng sinh khác. Ví dụ, nếu một người mù màu giải thích nhận thức của mình cho những người trong chúng ta không mù màu, thì chúng ta không thể nói về nhận thức của họ theo quan điểm của riêng mình mà theo quan điểm về cách mọi thứ xuất hiện với một người mù màu. Điều này không được biết thông qua sức mạnh của chính mình, mà thông qua sức mạnh xuất hiện theo cách đó với người khác. Tương tự như vậy, nói chung, có sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu, và vì một vị Phật phải biết mọi thứ tồn tại, nên một vị Phật phải biết sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu. Tuy nhiên, vì một vị Phật đã vượt qua và xóa bỏ sự xuất hiện của bản thể, nên sự hiểu biết của một vị Phật về sự xuất hiện của bản thể chỉ xuất phát từ quan điểm của sự xuất hiện đó đối với những người chưa vượt qua nó.

Ngoài ra, cả kinh điển và mật điển đều giải thích rằng bất cứ điều gì xuất hiện với một vị Phật đều xuất hiện như trò huyễn hóa của hạnh phúc. Sau đó, người ta có thể hỏi liệu những đau khổ của chúng sinh có xuất hiện như trò huyễn hóa của hạnh phúc đối với một vị Phật không? Nếu những đau khổ của chúng sinh xuất hiện với một vị Phật là trò huyễn hóa của hạnh phúc, thì tâm thức của Đức Phật sẽ là một tâm thức sai lầm.

Ngoài ra, nếu những đau khổ của chúng sinh không xuất hiện với một vị Phật, thì một vị Phật sẽ không phải là toàn trí. Vậy, những điều như vậy xuất hiện như thế nào? Chúng xuất hiện như trò huyễn hóa của hạnh phúc theo quan điểm của chính một vị Phật; tuy nhiên, chúng cũng xuất hiện như đau khổ, nhưng chỉ từ quan điểm, chỉ thông qua năng lực, chúng xuất hiện với những chúng sinh khác như đau khổ.

Câu hỏi
: Sự khác biệt giữa giác ngộ, niết bàn và bắt niết bàn (parinirvana) là gì?

Trả lời:
Những điều này sẽ được thảo luận sau, nhưng tôi sẽ nói một chút ở đây. Có những khác biệt giữa cách mà niết bàn
được cho là đã hiện thực hóa theo các Trường phái Thanh Văn (Đại Diễn Giải và Kinh Lượng bộ) và các trường phái cao hơn (Duy Tâm và Trung Đạo). Trong các Trường phái Thanh Văn, người ta giải thích rằng khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đạt được giác ngộ dưới gốc cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, ngài thật sự đã giác ngộ vào thời điểm đó và trước đó thật sự là một chúng sinh bình thường. Do đó, theo các trường phái này, ngài đã không chế ngự được cả bốn con quỷ khi ngài giác ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng.

Để thảo luận về điều này, chúng ta phải xác định bốn con quỷ. Đầu tiên là con quỷ của các uẩn (ngũ ấm ma), là các uẩn tinh thần và thể chất bị chiếm đoạt thông qua các hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não. Lý do tại sao các uẩn tinh thần và thể chất như vậy được gọi là ma quỷ là vì chúng đóng vai trò là cơ sở của đau khổ và do đó là không mong muốn. Nhóm ma quỷ thứ hai là chính những cảm xúc phiền não (phiền não ma), được gọi là ma quỷ vì chúng là những gì phát sinh đau khổ. Ma quỷ thứ ba là Chúa tể của Tử thần (tử ma), cái chết bất lực, được gọi là ma quỷ vì nỗi đau khổ chính và nỗi đau khổ gốc rễ là cái chết. Nhóm ma quỷ thứ tư bao gồm những chúng sinh cố tình tạo ra chướng ngại cho những người muốn vượt qua ba con quỷ kia; chúng được gọi là quỷ devaputra [thiên ma - tức là những con quỷ là con của các vị thần]. Có lẽ, những con quỷ có sừng trên đầu sẽ nằm trong lớp này!

Đức Phật đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề vào lúc bình minh. Đêm hôm trước, ngài đã chế ngự thiên ma; vào lúc bình minh, khi ngài giác ngộ, ngài đã chế ngự phiền não ma. Tuy nhiên, theo các Trường phái Thanh văn, ngài đã không chế ngự được ngũ ấm ma và tử ma mà ngài chỉ chế ngự được tại Kushinagara khi ngài viên tịch. Do đó, thân xác của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được các hệ thống này coi là một nỗi đau khổ thật sự.

Theo các hệ thống thấp hơn này, khi Đức Phật thực hiện vô dư y niết bàn tức là đại bát niết bàn, sự liên tục của các tập hợp uẩn tinh thần và thể chất của Ngài đã bị cắt đứt. Theo khẳng định của họ, tâm của Đức Phật tại
điểm đó đã hoàn toàn giác ngộ nhưng đã hoàn toàn chấm dứt. Không còn tâm thức nữa. Có vẻ như một giáo lý như vậy có thể khiến người ta nản lòng hơn; với tôi thì có vẻ tốt hơn nhiều khi có một tâm thức sống động hơn là biến mất hoàn toàn, nhưng đó là lời giải thích theo hệ thống Thanh Văn.

Tuy nhiên, theo các văn bản của Di Lặc, từ thời điểm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rời khỏi Cõi Tịnh Độ Đâu Suất ngay trước khi giáng sinh trên thế giới này, ngài đã thực hiện các hoạt động của một vị Phật, của một bậc đã giác ngộ, và đang thể hiện cách để trở thành giác ngộ như thế nào; thật ra ngài đã giác ngộ từ nhiều a tăng kỳ kiếp trước. Do đó, việc thể hiện
mười hai hành động của một vị Phật ở Ấn Độ là vì lợi ích của các đệ tử, để họ có thể biết cách một người mới trở thành giác ngộ như thế nào. Theo cách này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nằm trong phạm trù của một Hóa Thân Tối Cao (hóa thân) và bậc hóa thân của sự hóa thân đó là một Thân Hưởng Thụ Toàn Diện (báo thân) mà sự liên tục của nó kéo dài mãi mãi. Cần phân biệt rằng thực thể của một Thân Hưởng Thụ Toàn Diện là vô thường nhưng sự liên tục của nó là thường trụ. Thứ mà từ đó một Thân Hưởng Thụ Toàn Diện xuất hiện là Thân Chân Lý của Đức Phật (pháp thân). Đó là Ba Thân của một Đức Phật được mô tả trong Đại Thừa.

Do đó, theo các hệ thống Đại Thừa, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ cách đây nhiều a tăng kỳ kiếp, ngài đã hoàn toàn chế ngự bốn con quỷ ở cả dạng thô và dạng vi tế của chúng. Niết bàn sẽ được thảo luận chi tiết hơn sau.

NGUỒN GỐC CỦA KHỔ ĐAU - TẬP ĐẾ

Hôm qua, chúng ta đã thảo luận về những khổ đau thật sự - khổ đế; hôm nay, chúng ta hãy thảo luận về những nguồn gốc thật sự của đau khổ. Sự kiện là đau khổ không phải lúc nào cũng được tạo ra mà được tạo ra ở một số nơi vào một số thời điểm và chấm dứt ở một số thời điểm và ở một số nơi cho thấy rằng chúng được tạo ra. Về mặt logic, có thể nói rằng đau khổ được tạo ra vì được tạo ra thỉnh thoảng. Nếu đau khổ được tạo ra một cách vô nhân, thì chúng sẽ không bao giờ tồn tại hoặc chúng
luôn tồn tại.

Vì đau khổ là do nguyên nhân, thế nên ta cần phải xem xét nguyên nhân của chúng là gì. Trong các hệ thống Phật giáo, nguyên nhân được giải thích là những hành động ô nhiễm và cảm xúc phiền não. Trong các hệ thống phi Phật giáo của Ấn Độ, có nhiều cách trình bày khác nhau về nguyên nhân của đau khổ. Nhìn chung, có nhiều hệ thống phi Phật giáo, được cô đọng thành năm hệ thống chính; trong số đó, hệ thống chính có vẻ là phái Số Luận (Samkhyas) và và Kỳ Na Giáo (Jainas). Samkhyas liệt kê hai mươi lăm phạm trù đối tượng của tri thức - về những điều hiện hữu; theo họ, nguyên nhân cơ bản của cả khoái lạc và đau khổ là bản chất nền tảng (Prakrit - tự tính) còn được gọi là nguyên lý chung (đại hữu tính- samanyapradhana) và người trải nghiệm khoái lạc và đau khổ là con người (purusa). Họ nói rằng thông qua sự hiểu biết rằng các loại khoái lạc và đau khổ được tạo ra bởi nguyên lý chung, nguyên lý chung, có thể nói, xúc động vì xấu hổ và ngừng các chuyển đổi của nó với sự tôn trọng đến con người đó, nhờ đó con người đạt được sự giải thoát.

Mặt khác, người theo đạo Jaina đưa ra một trạng thái giải thoát giống như một chiếc ô dù úp ngược trên đỉnh của hệ thống thế giới. Có nhiều hệ thống giải thích như vậy, tham gia vào cuộc thảo luận phê phán với nhau. Trong các hệ thống Phật giáo, một khi các hiệu quả-khổ đau thực sự là hiện tượng phức tạp, thì nguyên nhân của chúng phải phức tạp, hiện tượng vô thường và không thể là các yếu tố thường còn.

Ví dụ, nếu tôi có cảm giác tức giận, điều này có thể đóng vai trò là động lực dẫn đến thái độ khắc nghiệt, lời nói khắc nghiệt và cử chỉ thô lỗ. Vì cơn giận đóng vai trò là động lực thúc đẩy là một sự ô nhiễm, một cảm xúc phiền não- các hành động về thể chất và lời nói được thực hiện thông qua động lực thúc đẩy đó là nghiệp tiêu cực, hành động tiêu cực. Thông qua chúng, bầu không khí ngay lập tức chuyển sang căng thẳng. Ngay lập tức, tôi có thể không cảm thấy tác động của những hành động đó, thậm chí có thể cảm thấy rằng tôi đã giành được chiến thắng trước ai đó, thậm chí hét lên, "Tôi đã chiến thắng". Tuy nhiên, sau đó tôi sẽ cảm thấy rất hối hận và xấu hổ, sâu thẳm trong tôi trải qua một lương tâm tội lỗi. Tương tự như vậy, những người xung quanh tôi sẽ ngay lập tức mất đi sự lặng tĩnh và
hòa bình. Đây là những kết quả đau khổ của những hành động được thúc đẩy bởi động cơ xấu. Đây là quy luật của nghiệp - động cơ, hành động, kết quả.

Ngược lại, một động cơ tốt, cởi mở, chân thành như lòng từ bi với sự tôn trọng sâu sắc đối với người khác thúc đẩy các hành động bằng lời nói và thân thể ngay lập tức tạo ra bầu không khí yên bình, hài hòa, thú vị. Nhờ đó, tôi cảm thấy hạnh phúc và bình an, tận hưởng bầu không khí đó, và những người xung quanh tôi cũng tận hưởng như vậy. Do vậy, động cơ xấu tạo ra các vấn nạn, khổ sở và đau thương, trong khi động cơ tốt tạo ra hạnh phúc và sự bình yên - điều gì đó tốt đẹp.

Đây là lời giải thích chung. Ở cấp độ sâu hơn, ngay tại thời điểm hành động, các năng lực đưa đến được truyền vào tâm thức. Việc thực hiện một hành động thiết lập một năng lực tiền định trong tâm, trong tương lai, sẽ đóng vai trò là điều kiện nhân quả để ta trải nghiệm một tác động tốt hay xấu.

NGHIỆP

Về hành động, nghiệp, có hai loại - chủ ý hành động và hành động cố ý, tức là động cơ và hành động có động lực. Về hành động cố ý, những người ủng hộ Đại Diễn Giải và những người theo Trung Đạo Hệ quả đưa ra các hành động về thể chất, lời nói và tinh thần, trong khi những người ủng hộ Kinh Lượng Bộ và những người ủng hộ Duy Thức cho rằng mọi hành động cố ý chỉ là tinh thần vì đối với họ, hành động về thể chất và lời nói là yếu tố tinh thần của chủ ý tại thời điểm thực hiện các hành động này.

Về mặt con đường mà hành động được thể hiện, có hành động của thân, lời nói và tâm ý. Về mặt tác động của chúng, có hai loại, hành động có đức hạnh và hành động không có đức hạnh. Trong phạm vi đức hạnh, lại có hai loại, hành động có công đức thúc đẩy sự tái sinh trong các cõi luân hồi hạnh phúc ở Cõi Dục và hành động không dao động thúc đẩy sự tái sinh ở các Cõi Sắc và Cõi Vô Sắc.

Về mặt trải nghiệm hoặc không trải nghiệm hiệu ứng
có hai loại - loại mà hiệu ứng chắc chắn sẽ được trải nghiệm và loại mà hiệu ứng không chắc chắn sẽ được trải nghiệm. Những điều này có thể được hiểu thông qua việc thảo luận về một sự phân chia khác thành bốn loại theo động lực và thành tựu - những hành động được thực hiện một cách có chủ ý, những hành động được cân nhắc nhưng không thực hiện, những hành động được thực hiện nhưng không cố ý và những hành động không cân nhắc cũng không thực hiện. Một ví dụ về loại đầu tiên là cố ý giết một con muỗi. Sau đó, chúng ta hãy giả sử rằng một con côn trùng đang làm phiền bạn và bạn rất muốn giết nó. nhưng có ai đó làm bạn mất tập trung. Trong trường hợp này, bạn đã tích lũy động lực về mặt nghiệp chướng nhưng bạn không thực hiện hành động đó; bạn đã giết một con muỗi bằng cách chỉ di chuyển bàn tay mà không có ý định làm như vậy; bạn đã giết nó, nhưng không cố ý. Loại thứ tư là khi một người không có động lực cũng không thực hiện hành động đó.

Trong bốn loại này, hai loại đầu tiên - loại được thực hiện một cách có chủ ý và loại được cân nhắc nhưng không thực hiện - là những hành động mà hậu quả chắc chắn sẽ được trải nghiệm. Hai loại còn lại - loại được thực hiện mà không cân nhắc và loại không cân nhắc cũng không thực hiện - là những hành động mà hậu quả không chắc chắn sẽ được trải nghiệm. Ví dụ, nếu một người muốn giết người được đưa vào quân đội và được lệnh giết, ngay cả khi người đó giết ai đó, miễn là người đó có cảm giác hối hận rất mạnh mẽ ngay lập tức, thì hành động đó là một trong những hành động mà trải nghiệm về hậu quả của nó là không xác định.

Từ điều này, người ta có thể thấy rằng hành động không quan trọng bằng động cơ. Do đó, một vị tướng lớn hoặc nhà lãnh đạo của một quốc gia, người, vì động cơ tiêu diệt tất cả các lực lượng đối địch, thật sự ra lệnh tiến hành chiến tranh, sẽ tích lũy tất cả tội lỗi giết người xảy ra trong chiến tranh, ngay cả khi cơ thể vật lý của người ấy không tham gia vào việc thực hiện hành động mà người ấy ra lệnh. Tương tự như vậy, nếu mười người lập kế hoạch cho một bữa tiệc bao gồm việc mua một con vật và giết nó, thì chỉ có một con vật bị giết, nhưng vì cả mười người đều có động cơ giết và ăn con vật, nên mỗi người trong mười người đều tích lũy toàn bộ tội giết chúng sinh ấy.
61

61 Tâm lý học về sự tồn tại tuần hoàn 61

chúng sinh hữu tình đó.

Một lần nữa, đối với những hành động mà kết quả chắc chắn sẽ được trải nghiệm, có những sự phân chia khác nhau theo quan điểm về thời điểm kết quả được trải nghiệm. Với một số hành động, kết quả của chúng bắt đầu được trải nghiệm ngay trong kiếp này. Đối với những hành động khác, kết quả của chúng bắt đầu được trải nghiệm trong kiếp sau. Thêm nữa, có những hành động khác mà kết quả bắt đầu được trải nghiệm trong những kiếp sau kiếp sau nữa.

Ngoài ra, đối với các đức tính, có nhiều loại. Ví dụ, sự chấm dứt thật sự của một mức độ đau khổ, thí dụ, là một đạo đức tối thượng. Ví dụ, niềm tin và lòng từ bi là các đức tính theo bản chất của chúng. Các yếu tố tinh thần như chánh niệm và nội quán đi kèm với tâm thức đạo đức là các đức tính theo cách liên kết. Nếu, với động cơ hữu ích, một người đi từ vùng này sang vùng khác, mặc dù bản thân việc đi bộ không phải là một hoạt động đức hạnh, nhưng mỗi bước đi sẽ là một đức tính theo động cơ. Ngoài ra, các khuynh hướng đức hạnh được thiết lập bởi tâm đạo đức và các yếu tố tinh thần là các đức tính thông qua mối quan hệ tiếp theo.

Như vậy là kết thúc một cuộc thảo luận ngắn về nghiệp. Đối với một hành giả Phật giáo, nền tảng của các loại thực hành đạo đức khác nhau là từ bỏ mười điều bất thiện, nhiều điều trong số đó giống như mười điều răn.

TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Bởi vì những hành động này, hay nghiệp, được thúc đẩy bởi những cảm xúc phiền não, vậy thì những cảm xúc phiền não là gì? Đầu tiên, vì yếu tố chính liên quan đến các hành động là yếu tố tinh thần của ý định, đây là một loại tâm thức (consciousness), và vì những cảm xúc phiền não cũng là các loại tâm thức, nên điều quan trọng là phải hiểu về tâm lý học Phật giáo.

Như đã giải thích trước đó trong phần hỏi đáp, định nghĩa về tâm thức là thứ sáng suốt và hiểu biết. Để thúc đẩy nhiều hiểu biết và nhận thức khác nhau liên quan đến tâm thức, nó được chia thành nhiều loại
quan điểm khác nhau. Đầu tiên, tâm thức được chia thành những thứ nhận ra đối tượng của chúng và thứ không nhận ra. Những tâm thức nhận ra, đến lượt chúng, được chia thành những thứ nhận ra đối tượng của chúng một cách rõ ràng và ý thứ nhận ra đối tượng của chúng một cách ngầm định. Trong trường hợp những những tâm thức nhận ra đối tượng của chúng một cách rõ ràng, khía cạnh đối tượng của chúng thật sự xuất hiện đến tâm thức, trong khi trong trường hợp nhận ra ngầm định, khía cạnh của đối tượng không xuất hiện với tâm thức.

Ngoài ra còn có sự phân chia thành tâm thức khái niệm và phi khái niệm. Tâm thức khái niệm là tâm thức nắm bắt đối tượng của chúng thông qua trung gian phương tiện là hình ảnh khái niệm, về mặt kỹ thuật được gọi là "tổng quát âm thanh" (thanh ngữ - sabdasamanya) hoặc "tổng quát ý nghĩa" (nghĩa hữu- arthasamanya). Tâm thức phi khái niệm nắm bắt đối tượng của chúng một cách trực tiếp, không thông qua phương tiện trung gian là hình ảnh khái niệm.

Một lần nữa, có sự phân chia thành tâm thức hợp lệ và không hợp lệ cũng như sự phân chia thành cái gọi là bảy loại kiến thức và nhận thức - nhận thức trực tiếp, suy luận, tri giác tiếp theo, tâm thức giả định đúng đắn, tâm thức mà đối tượng xuất hiện nhưng không được chú ý, nghi ngờ và tâm thức sai lầm. Chúng ta hãy bắt đầu với tâm thức giả định đúng đắn. Ví dụ, khi, từ việc nghe thông tin chính xác về bốn chân lý cao quý, người ta chỉ nghĩ về chúng như đã được dạy, thì tâm thức này là tâm thức giả định đúng đắn. Một tâm thức như vậy chưa phát triển thành một thực thể là tri giác hợp lệ xác định bốn chân lý cao quý một cách không thể chối cãi, nhưng nó giữ chúng đúng đắn hoặc đúng đắn như chúng vốn có. Tâm thức giả định đúng đắn cũng có nhiều phân nhóm mà tôi sẽ không giải thích.

Một trong bảy loại kiến thức và nhận thức khác là một tâm thức thức mà đối tượng xuất hiện nhưng không được xác định. Ví dụ, khi tâm thức của mắt đặc biệt hấp thụ vào một hình dạng hữu hình, mặc dù tâm thức của tai nghe thấy một âm thanh, nó không được xác định. Tâm thức của tai là tâm thức mà một đối tượng xuất hiện nhưng không được xác định. Theo quan điểm của Trường phái Kinh Lượng Bộ và Trường Phái Duy Thức, những tâm thức như vậy có thể xảy ra giữa các nhận thức trực tiếp giác quan, nhận thức trực tiếp tinh thần và những tâm thức tự biết. Do đó, trong số bốn loại nhận thức trực tiếp, tâm thức mà một đối tượng xuất hiện nhưng không được xác định rõ ràng không thể xảy ra trong các nhận thức trực tiếp của yogic, vì những nhận thức này cần thiết phải xác định rõ đối tượng của chúng,

Kế đến là tri giác tiếp theo - một tâm thức thấy rõ một đối tượng đã được nhận ra. Trong Trường phái Hệ Quả, tri giác tiếp theo có thể là một tri giác chính (prime cognition) trong khi ở các hệ thống khác, điều đó là không thể vì trong Trường phái Duy thức , chẳng hạn, "tri giác chính" được hiểu là một người biết “mới”không thể chối cãi và do đó tri giác tiếp theo không thể là tri giác chính. Tuy nhiên, trong Trường phái Hệ quả, thuật ngữ “chính” (prime- pramana: Lượng) trong "tri giác chính" không được hiểu theo nghĩa "mới" mà được hiểu theo nghĩa "chính", và do đó họ coi "tri giác chính" là một tâm thức không thể chối cãi đối với đối tượng chính của nó. Lý do đằng sau việc các trường phái khác coi "tri giác chính" có nghĩa là một người biết “mới”không thể chối cãi là họ khẳng định rằng mọi hiện tượng đều tồn tại cố hữu và do đó, khi đối tượng được chỉ định là "tri giác chính" được tìm kiếm theo phương pháp phân tích, thì nó phải được tìm thấy là không thể chối cãi đối với sự tồn tại cố hữu như vậy. Tuy nhiên, trong hệ thống của Trường phái Hệ quả, người ta cho rằng khi các đối tượng được chỉ định được tìm kiếm theo phương pháp phân tích, thì chúng không thể tìm thấy được, và do đó các hiện tượng, bao gồm cả các tri giác chính, không được đặt ra trong bối cảnh được tìm thấy theo phương pháp phân tích như vậy. Do đó, họ đặt ra "tri giác chính" theo cách nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới, vì thế giới không sử dụng thuật ngữ "tri giác chính" [hoặc "tri giác hợp lệ"] trong bối cảnh của tri giác không thể chối cãi “mới” và thay vào đó chỉ sử dụng tri giác hợp lệ khi tham chiếu đến nhận thức không thể chối cãi. Do thế, vì các tri giác tiếp theo và một số phân chia của chúng là không thể chối cãi và hợp lệ, chúng là tri giác chính hoặc hợp lệ trong Trường phái Hệ quả.

Sau đó, tiếp theo là một tâm thức sai lầm, hiểu đối tượng một cách sai lệch. Có hai phân chia, khái niệm
và những tâm thức sai lầm phi khái niệm. Sau đó, có sự nghi ngờ, là một yếu tố tinh thần có những nghi ngại theo hai hướng liên quan đến đối tượng của nó.

Hai loại kiến thức và nhận thức còn lại là nhận thức trực tiếp và suy luận. Trong Trường phái Kinh Lượng Bộ, nhận thức trực tiếp là nhận thức lấy một hiện tượng được đặc trưng cụ thể (tự tướng- svalaksana) làm đối tượng xuất hiện của nó, và tâm thức khái niệm là nhận thức lấy một hiện tượng được đặc trưng chung (cộng tướng - samanyalaksana) làm đối tượng xuất hiện của nó. Có một số cách giải thích về chủ đề này mà không cần phải giải thích ở đây.

Về cơ bản, một tâm thức nhận thức trực tiếp - ví dụ, tâm thức mắt (nhãn thức) thấy rõ một bông hoa - là như vậy mà tất cả các thuộc tính thuộc về một thực thể có thật với bông hoa xuất hiện với tâm thức mắt, nhưng nó không nhất thiết phải xác định tất cả chúng. Sự vô thường của bông hoa cũng như tính sản phẩm của nó, sự tan rã nhất thời của nó, sự tồn tại của nó được hình thành do các nguyên nhân và điều kiện, v.v. xuất hiện với tâm thức của con mắt đó, nhưng nó không nhất thiết phải nhận thấy hoặc xác định chúng. Do đó, một nhận thức trực tiếp thâm nhập đối tượng của nó một cách toàn diện. Tuy nhiên, các tâm thức và quan hệ khái niệm thâm nhập đối tượng của chúng theo cách cục bộ. Ví dụ, khi một tâm thức khái niệm nắm bắt một bông hoa, nó gạt bỏ nhiều thuộc tính này sang một bên và chỉ tập trung vào một yếu tố và nắm bắt bông hoa theo cách độc quyền và cục bộ này. Khi một tâm thức phi khái niệm đã truyền tải thông tin của nó, một tâm thức khái niệm có thể, từng cái một, nhìn vào các thuộc tính đó, phân biệt chúng.

Để hiểu được sự khác biệt giữa một tâm thức phi khái niệm và một tâm thức khái niệm, việc phân biệt giữa các đối tượng của những tâm thức đó là rất hữu ích. Người ta phải phân biệt giữa đối tượng xuất hiện (hiện trần - pratibhasavisaya) và đối tượng của hoạt động (chuyển trần- pravrttivisaya). Trong Trường phái Hệ quả, đối với tâm thức của mắt thấy rõ một hình tướng, hình tướng xuất hiện cũng như sự tồn tại cố hữu có vẻ như của hình tướng. Tâm thức của mắt thấy rõ hình tướng là một tri giác hợp lệ với sự lưu tâm đến hình tướng, và đó là một tri giác hợp lệ đối với sự xuất hiện của hình tướng như là tồn tại cố hữu, nhưng nó không phải là một tri giác hợp lệ
liên quan đến sự tồn tại cố hữu của hình tướng, vì hình tướng thực tế không tồn tại cố hữu.

Theo quan điểm cho rằng đối tượng của nó có vẻ sai lầm là tồn tại cố hữu, tâm thức của mắt này được cho là một tâm thức nhầm lẫn, nhưng điều này không có nghĩa là nó phải bị hiểu sai trong mọi khía cạnh. Vì, liên quan đến việc nắm bắt hoặc nhận ra hình tướng, nó không bị nhầm lẫn và do đó có thể được đưa ra như một tri giác hợp lệ xác nhận [sự tồn tại của] hình tướng. Do đó, nó vừa là một tâm thức nhầm lẫn vừa là một tri giác hợp lệ, cả hai đều được giải thích liên quan đến các đối tượng khác nhau. Một tâm thức không thể vừa nhầm lẫn vừa hợp lệ liên quan đến cùng một đối tượng, nhưng đối với hai đối tượng, một ý thức có thể được mô tả là một tâm thức nhầm lẫn và một tri giác hợp lệ; nó bị nhầm lẫn liên quan đến đối tượng xuất hiện của nó và là một tri giác hợp lệ liên quan đến đối tượng hoạt động của nó.

Đây là một giáo lý độc đáo của Trường phái Hệ quả, bắt nguồn từ thực tế là những người ủng hộ trường phái này không chấp nhận rằng các hiện tượng, ngay cả theo cách thông thường, tồn tại theo cách riêng của chúng. Trong một phân ngành khác của Trường phái Trung đạo, Trường phái Tự quản, người ta nói rằng đối tượng phủ định trong quan điểm vô ngã không xuất hiện với ý thức giác quan, nhưng trong Trường phái Hệ quả, đối tượng phủ định, sự tồn tại cố hữu, thậm chí xuất hiện với tâm thức giác quan. Do đó, trong hệ thống này, ngay cả một tri
giác hợp lệ cũng có thể được cho là sai lầm so với yếu tố xuất hiện của đối tượng của nó như thể nó tồn tại theo đúng nghĩa của nó. Do đó, tất cả các tâm thức ngoại trừ tâm thức trí tuệ trực tiếp nhận ra tính không trong sự cân bằng thiền định đều sai lầm đối với các đối tượng xuất hiện của chúng.

Thế
thì, ai đó có thể phản đối rằng một tâm thức sai lầm không thể chứng nhận [sự tồn tại của] các hiện tượng thông thường như các hình tướng. Quả thật là nếu một hình tướng được thiết lập thật sự được chứng nhận, thì nó phải được chứng nhận bởi một tâm thức không thể nhầm lẫn liên quan đến sự xuất hiện của hình tướng như là sự tồn tại cố hữu. Tuy nhiên, vì các hình tướng được thiết lập thật sự không được khẳng định ngay cả theo thông thường, nên các hình tướng được đặt ra giống như những điều sai trái hơn - có vẻ như được thiết lập thật sự nhưng thực tế không phải vậy, và một khi điều này xảy ra, một tâm thức sai lầm là thích hợp để chứng thực cho một điều sai lầm. Đây là một điểm rất quan trọng để xác định quan điểm về tính không. Nguyên lý cơ bản là, ngoại trừ sự cân bằng thiền định của một vị siêu nhân (tức là bậc chứng đạo) trực tiếp nhận ra tính không, còn trái lại tất cả các tâm thức đều nhất thiết phải sai lầm.

Ngoài ra, một tâm thức được đặt ra thông qua năng
lực của sự xuất hiện của một đối tượng, cho dù sự xuất hiện của đối tượng đó là đúng hay sai. Ví dụ, sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu xảy ra với một tâm thức nhận thức nên sự tồn tại cố hữu và qua đó xuất hiện sự tồn tại cố hữu mà tâm thức nhận thức sự tồn tại cố hữu. Vì hiện tượng đó xuất hiện với tâm thức, nên người ta cho rằng tâm thức là hợp lệ đối với sự xuất hiện đó và thậm chí là một tri giác hợp lệ trực tiếp đối với sự xuất hiện đó. Thế nên, ngay cả một tâm thức sai lầm quan niệm về sự tồn tại cố hữu cũng có giá trị liên quan đến sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu và là một tri giác có giá trị trực tiếp liên quan đến sự xuất hiện của sự tồn tại cố hữu vì nó có giá trị liên quan đến thực tế đơn thuần là sự tồn tại cố hữu xuất hiện với nó. Tuy nhiên, vì sự tồn tại cố hữu không bao giờ xảy ra và sẽ không bao giờ xảy ra, nên nó là sai./.

 

 

 

 

 

 



[1] Trong Phật giáo, con đường tâm thức (Thức Đạo) là nhận thức về hành trình tâm linh của một người hướng tới Niết bàn, bao gồm sự hiểu biết và các yếu tố tinh thần cần thiết để vượt qua phiền não và đạt được giác ngộ.

[2] Thật ra ở một vị Phật thì 8 tâm thức đã biến thành 4 trí, trong đó alaya thức thứ 8: Đại Viên Cảnh Trí, mạt na thức thứ 7: Bình Đẳng Tính Trí, ý thức thứ 6: Diệu Quan Sát Trí, và 5 thức của nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân:  Thành Sở Tác Trí.